Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản của các NHTM Cổ phần Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tiêu đề: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản của các NHTM Cổ phần Việt Nam.

Tóm tắt:

Lý do chọn đề tài: Rủi ro tín dụng và khả năng thanh khoản là những yếu tố quan trọng luôn hiện diện trong hoạt động kinh doanh của các NHTM vì nó ảnh hưởng đến lợi nhuận. Nghiên cứu, phân tích và đánh giá tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại.

Mục tiêu nghiên cứu: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

Phương pháp nghiên cứu: Bài viết sử dụng dữ liệu từ 16 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2011-2021, được phân tích và kiểm chứng bằng phương pháp thống kê mô tả và định lượng.

Kết quả nghiên cứu: Dựa vào kết quả nghiên cứu ở chương 4, khả năng thanh khoản chịu sự tác động cùng chiều của ROE và ngược chiều của TLA.

Kết luận và hàm ý: Nghiên cứu giúp các nhà quản trị đánh giá tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản. Từ đó đưa ra phương án kinh doanh phù hợp với môi trường hoạt động của ngân hàng.

Từ khóa: rủi ro tín dụng, khả năng thanh khoản, tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

THESIS SUMMARY

Title: Impact of credit risk on liquidity of joint stock commercial banks in Vietnam.

Abstract: Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

Reason for writing: Credit risk and liquidity are problems that are always present in the operation of commercial banks, especially it affects profits. Research, analyze and evaluate the impact of credit risk on liquidity, contributing to improving the operational efficiency of commercial banks.

Problem: the impact of credit risk on liquidity.

Methods: the topic uses data of 16 joint stock commercial banks in Vietnam in the period 2011 – 2021, analyzed and verified by descriptive statistics and quantitative methods.

Results: Based on the research results in Chapter 4, liquidity is positively affected by ROE and in the opposite direction of TLA.

Conclusion: The topic helps managers understand the importance of credit risk and liquidity risk on liquidity. From there, making a business plan suitable to the operating environment of the bank.

Keyword: Credit risk, Liquidity, The impact of credit risk on liquidity.

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Ngân hàng thương mại (NHTM) là định chế tài chính quan trọng, có vai trò luân chuyển vốn trong nền kinh tế. Mỗi quốc gia phát triển luôn có hệ thống ngân hàng bền vững, ổn định. Hiện nay, các NHTM đang cố gắng mở rộng hoạt động, cung cấp nhiều dịch vụ, chú trọng máy móc công nghệ hiện đại để đem đến sự hài lòng cho khách hàng. Đó là nguyên nhân dẫn đến cuộc cạnh tranh rất khốc liệt trong ngành.

Bảng 1.1: Số lượng và loại hình các NHTM Việt Nam từ 2013 – 2023

Năm 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2020 2021 2022 2023
Số lượng các NH (bao gồm tất cả các loại hình) 105 97 100 94 93 94 95 95 96 97

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước

Từ bảng số liệu trên có thể thấy, số lượng ngân hàng qua các năm có xu hướng giảm cụ thể năm 2013 là 105 ngân hàng nhưng đến năm 2023 giảm còn 97 ngân hàng, nguyên nhân có thể do áp lực cạnh tranh của ngành quá lớn, chứng tỏ các ngân hàng yếu kém không có khả năng quản lý, kinh doanh thua lỗ sẽ bị NHNN mua lại và chuyển giao cho một trong những NHTM Nhà nước điều hành và quản lý. Việc này giúp cho hệ thống ngân hàng không bị ảnh hưởng dây chuyền và nền kinh tế vẫn giữ vững. Điều này có thể thấy được trong những năm trở lại đây thì số lượng ngân hàng thương mại bị buộc phải sáp nhập càng tăng lên. Bên cạnh đó, cũng phản ánh sự cạnh tranh công bằng, minh bạch, là “sân chơi” cho các ngân hàng có thực lực.

Niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng có tầm quan trọng tạo nên uy tín của ngân hàng. Một ngân hàng có thể gây mất lòng tin và uy tín khi khách hàng đến rút tiền gửi nhưng lại không có khả năng đáp ứng được do khả năng thanh khoản thấp. Do đó, các nhà quản trị cần đảm bảo khả năng thanh khoản luôn giữ mức ổn định, thường xuyên và liên tục với chi phí thấp. Như chúng ta đều biết, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại nhiều lợi nhuận nhất của các NHTM. Dù vậy, hoạt động tín dụng phát sinh nhiều rủi ro. Cụ thể là khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng, bởi vì ngân hàng có vai trò là trung gian điều chuyển vốn từ nơi thừa vốn về nơi thiếu vốn, do đó dòng vốn luôn dịch chuyển xoay vòng. Vì vậy, duy trì thanh khoản tốt cũng là cách giúp hoạt động của ngân hàng ổn định.

Doanh thu chủ yếu mang lại cho các NHTM đến từ nghiệp vụ cấp tín dụng, ngoài ra các dịch vụ như thu phí, thu hộ, chi hộ cũng mang lại một khoản lợi nhuận không nhỏ. Vì vậy đòi hỏi các NHTM phải có giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tốt, cần xác định được những yếu tố nào dễ làm xảy ra rủi ro tín dụng. Do đó, các ngân hàng phải có đủ mức thanh khoản để đảm bảo khả năng thanh toán mọi lúc, mọi hoàn cảnh để không rơi vào trạng thái thiếu thanh khoản tạm thời ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế nói chung. Do đó, các ngân hàng phải duy trì đủ lượng thanh khoản để đảm bảo rằng họ luôn có thể thực hiện thanh toán bất kể tình huống nào. Hơn nữa còn để ngăn chặn tình trạng thiếu thanh khoản tạm thời có thể ảnh hưởng đến toàn ngành. Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đều ảnh hưởng lớn đến sự mất cân bằng thanh khoản và tính ổn định của ngân hàng. Rủi ro tín dụng làm giảm chất lượng tài sản, giảm lợi nhuận và ngân hàng buộc phải mất một khoản chi phí cho việc giải quyết các khoản nợ xấu. Rủi ro thanh khoản ảnh hưởng đến uy tín, vị thế của ngân hàng và nguồn cung tiền mặt đặc biệt đến nguồn vốn ngắn hạn. Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

Như các nghiên cứu của Cai và Zhang (2019) và Aspach và cộng sự (2007) đều đã chứng minh khả năng thanh khoản của ngân hàng chịu tác động của những yếu tố nào và tác động của chúng ra sao.

Xuất phát từ thực tế đã đề cập, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản của các NHTM Cổ phần Việt Nam” nhằm làm rõ những yếu tố tác động và mức độ ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến thanh khoản ngân hàng.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

1.2.1 Mục tiêu tổng quát:

Bài viết nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng (RRTD) đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin cần thiết cũng như định hướng cho các nhà quản trị trong tương lai giúp hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam ổn định và phát triển hơn.

1.2.2 Mục tiêu cụ thể:

  • Phân tích tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản của các NHTM Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2023.
  • Đo lường tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2023.
  • Đề xuất các hàm ý.

1.3 Câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Trong giai đoạn 2013-2023, rủi ro tín dụng tác động như thế nào đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng TMCP Việt Nam?
  • Câu hỏi 2: Rủi ro tín dụng tác động đến khả năng thanh khoản của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2013 – 2023 ở mức độ nào?
  • Câu hỏi 3: Từ phân tích trên có thể đưa ra đề xuất gì để giúp các ngân hàng thương mại hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao khả năng thanh khoản?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: ảnh hưởng của RRTD đến khả năng thanh khoản của các NHTM CP tại Việt Nam.

1.4.1 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

Không gian: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 16 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (không bao gồm ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh) niêm yết trên HOSE, HNX và UPCOM. Các ngân hàng thương mại này công bố tình trạng tài chính, hoạt động liên tục và dữ liệu từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán, làm cho chúng trở nên đáng tin cậy và được lập chỉ mục công khai.

Thời gian: giai đoạn : 2013 – 2023. Đây là giai đoạn nền kinh tế phục hồi sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2010 – 2011 và các số liệu mới nhất và công khai.

1.4.2 Nguồn dữ liệu:

Các biến được thu thập chủ yếu từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên được kiểm toán của các NHTM CP Việt Nam từ 2013 – 2023.

1.5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn phân tích theo quy trình sau:

Hình 1.1: Quy trình nghiên cứu

  • Bước 1: Xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của đề tài thông qua việc đưa ra câu hỏi phù hợp với các mục tiêu nghiên cứu.
  • Bước 2: Khảo lược các lý thuyết nền tảng và nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trước có cùng chủ đề tại Việt Nam và nước ngoài. Từ đó, đề xuất mô hình nghiên cứu.
  • Bước 3: Xây dựng được mô hình nghiên cứu, phương trình hồi quy dự kiến để giải thích cho các biến có trong mô hình thông qua cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm ở bước 1.
  • Bước 4: Khi đã có mô hình nghiên cứu dự kiến thì có thể xác định được mẫu nghiên cứu phù hợp với mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu.
  • Bước 5: Thu thập và xử lý dữ liệu phù hợp với mô hình nghiên cứu.
  • Bước 6: Sau khi xử lý dữ liệu thì sẽ sử dụng phần mềm STATA 16 để tiến hành hồi quy mô hình nghiên cứu, đánh giá chiều hướng tác động của RRTD đến khả năng thanh khoản, đưa ra kết luận kết quả hồi quy phù hợp nhất.
  • Bước 7: Đây là bước cuối cùng của quy trình, dựa vào kết quả hồi quy để thảo luận và đưa ra những hàm ý chính sách, giải quyết được các mục tiêu và câu hỏi đã đưa ra. Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

Đề tài kết hợp cả 2 phương pháp nghiên cứu là thống kê mô tả và phân tích hồi quy để trả lời cho các mục tiêu và câu hỏi đã được nêu phía trên.

Mẫu nghiên cứu gồm số liệu được công bố của 16 NHTM Việt Nam. Từ đó phân tích tác động ảnh hưởng yếu, mạnh của các biến độc lập bao gồm tỉ lệ nợ xấu (NPL), Tỷ lệ cho vay trên tổng vốn huy động (TLA), Tỷ lệ dự phòng rủi ro (LLA), Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAP) và quy mô NH (SIZE) đến biến phụ thuộc là khả năng thanh khoản của NH (LIQ). Bằng các phân tích định lượng FEM, REM, OLS và kiểm định Hausman chọn ra mô hình phù hợp nhất.

1.6 Kết cấu của đề tài:

Luận văn gồm có 5 chương:

  • Chương 1: Giới thiệu đề tài
  • Chương 2: Cơ sở lý thuyết
  • Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu
  • Chương 4: Kết quả nghiên cứu
  • Chương 5: Kết luận và đề xuất hàm ý, chính sách

1.7 Đóng góp của đề tài:

Thông qua việc tiếp cận cơ sở lý thuyết, đề tài đã hệ thống hóa lại các vấn đề về RRTD, thanh khoản và tác động của RRTD đến khả năng thanh khoản của NHTM có ý nghĩa về mặt thực tiễn. Cụ thể là nghiên cứu và phân tích RRTD tác động đến khả năng thanh khoản tại các NHTM CP Việt Nam được niêm yết trên sàn chứng khoán giai đoạn 2013-2023 với các nhân tố Tỷ lệ nợ xấu, Tỷ lệ dự phòng rủi ro, Tỷ lệ Cho vay / TTS, Tỷ lệ VCSH/ TTS, Tỷ suất sinh lời trên VCSH và quy mô ngân hàng.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

Giai đoạn 2013 – 2023, kinh tế toàn cầu sẽ quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng sau khủng hoảng kinh tế 2010 – 2011. Để có biện pháp phòng tránh và giảm thiểu rủi ro nhất có thể, cần phải xác định càng sớm càng tốt các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong ngành ngân hàng. Trên cơ sở này, các kế hoạch được đề xuất để quản lý tốt hơn, tăng trưởng hiệu quả và ổn định kinh tế. Vì vậy, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài này. Chương 1 trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, bố cục đề tài. Tổng quan này sẽ giúp hiểu rõ hơn về phân tích trong các chương sau.

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÓM TẮT CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

2.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng

2.1.1 Khái niệm Tín dụng và Rủi ro Tín dụng

2.1.1.1 Khái niệm Tín dụng

Theo Nguyễn Minh Kiều (2011) xác định quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định được gọi là tín dụng ngân hàng.

Theo cách hiểu khác, Bùi Diệu Anh (2014) cho rằng tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (là ngân hàng hoặc TCTD khác) chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng (là doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo quy tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

Có thể thấy tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả lợi tức, thỏa mãn nhu cầu của hai bên, công bằng và cùng có lợi.

Căn cứ vào chủ thể tham gia thì tín dụng có các loại hình như tín dụng ngân hàng, tín dụng Nhà nước, tín dụng thương mại và tín dụng tiêu dùng. Trong đó, tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế vì nó cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích, dễ tiếp cận và mang nhiều đặc trưng riêng.

Từ những nội dung trên, theo quan điểm của tác giả “Tín dụng là việc ngân hàng cho khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể khác) sử dụng một lượng giá trị (hàng hóa hoặc tiền tệ) trên nguyên tắc hoàn trả lại một lượng giá trị cao hơn ban đầu kèm theo một số điều kiện được 2 bên đồng ý thỏa thuận bằng văn bản, cam kết trong một thời gian nhất định”.

2.1.1.2 Ưu điểm nổi bật của tín dụng Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

Tính linh hoạt, khả năng thoả mãn nhu cầu vốn, khả năng phục vụ đa dạng các ngành kinh tế là những ưu điểm nổi bật nhất của tín dụng. Do đó, phạm vi tiếp cận của tín dụng rất rộng.

  • Cho vay chủ yếu bằng nguồn vốn đi vay trong nền kinh tế như tiền gửi của cá nhân, tổ chức…
  • Thời hạn cho vay và nhận tiền gửi rất đa dạng, bao gồm: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
  • Việc đáp ứng lượng vốn tối đa là khả thi vì các tổ chức tài chính đóng vai trò luân chuyển vốn trong nền kinh tế.

2.1.1.3 Khái niệm Rủi ro Tín dụng

Rủi ro có thể tồn tại dưới nhiều hình thức trong quá trình hoạt động của ngân hàng bao gồm rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro tiền mặt, rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá hối đoái. Theo Khoản 13 Điều 3 TT 13/2020/TT-NHNN ban hành ngày 18 tháng 5 năm 2020, rủi ro trọng yếu bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất trên số ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; rủi ro thanh khoản, rủi ro tập trung; các rủi ro phát sinh từ hoạt động trọng yếu.

Anthony Sauders (2012) định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”.

Theo Nguyễn Kim Anh (2012) “RRTD phải được hiểu ở cả 2 góc độ đó là rủi ro trong huy động vốn và rủi ro trong cho vay; trong đó rủi ro trong cho vay là khoản tổn thất phát sinh khi cấp tín dụng cho khách hàng mà chỉ thu được một phần gốc lãi hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn, hoặc không thu được gốc và lãi”

Ủy ban Basel quan niệm rủi ro tín dụng là khả năng người vay hoặc đối tác không đáp ứng được trách nhiệm của họ theo các điều khoản đã thỏa thuận.

Hoạt động tín dụng đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng cũng như uy tín và sự tồn tại của toàn bộ hệ thống NHTM. Do hoạt động tín dụng đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng cũng như uy tín và sự tồn tại liên tục của toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại nên quản trị rủi ro tín dụng là một vấn đề quan trọng và đáng quan tâm.

Với những thông tin nêu trên, nhận thức của tác giả về rủi ro tín dụng là khả năng ngân hàng sẽ bị thua lỗ nếu khách hàng không thực hiện đúng cam kết hoặc thực hiện không đầy đủ dẫn đến khoản vay khó thu hồi hoặc có khả năng mất vốn. Rủi ro tín dụng sẽ làm tăng chi phí và giảm thu nhập của ngân hàng. Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng còn là mối lo ngại cho hoạt động ngân hàng vì nó là một trong các rủi ro trọng yếu, ảnh hưởng đến sự tồn tại của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.

2.1.1.4 Phân loại rủi ro tín dụng Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

  • a) Căn cứ vào nguyên nhân

Rủi ro giao dịch: là loại rủi ro xảy ra trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay.

Rủi ro danh mục: là mối nguy hiểm do ngân hàng không có khả năng quản lý danh mục cho vay của mình.

Rủi ro tác nghiệp: Theo Hiệp ước vốn Basel II: “Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc thất bại hay do các sự kiện bên ngoài. Rủi ro tác nghiệp bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín”. b) Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng

Rủi ro không thanh toán đúng hạn là rủi ro này phát sinh khi khách hàng không thanh toán đúng hạn như cam kết ban đầu trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng vay, khế ước nhận nợ.

Rủi ro mất khả năng chi trả là rủi ro xảy ra khi khách hàng không còn khả năng trả nợ. Lúc này ngân hàng phải thanh lý tài sản đảm bảo để thu nợ vay.

Rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay xảy ra ở các nghiệp vụ bảo lãnh, cam kết, đồng tài trợ…

Rủi ro mất khả năng chi trả là rủi ro khách hàng không trả được nợ. Để thu nợ vào thời điểm này, ngân hàng phải thanh lý tài sản thế chấp.

2.1.1.5 Nguyên nhân gây ra Rủi ro Tín dụng

  • Các yếu tố bên ngoài ngân hàng

Bối cảnh kinh tế, xã hội và pháp lý: Khi nền kinh tế bất ổn, chẳng hạn như khi thay đổi chính sách, môi trường chính trị bất ổn hoặc thảm họa kinh tế, rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Trong quá trình hội nhập và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, nhiều doanh nghiệp buộc phải cạnh tranh khốc liệt, dẫn đến hoạt động không hiệu quả, thậm chí mất khả năng chi trả. Như vụ án Huỳnh Thị Huyền Như (2013) chiếm đoạt hơn 4.911 tỷ đồng của VietinBank là vụ án nghiêm trọng nhất trong lịch sử ngành ngân hàng Việt Nam, cho thấy lỗ hổng pháp luật và trình độ quản lý còn yếu kém.

Yếu tố thị trường: Khi giá cả hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt là các nguyên vật liệu đầu vào chủ lực biến động thì sẽ làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp khó khăn, có thể sẽ mất khả năng trả nợ gây rủi ro tín dụng. Trên thị trường chỉ cần một vài biến động nhỏ thôi cũng có thể gây ra những rủi ro cho ngân hàng vì ngân hàng là ngành nghề kinh doanh nhạy cảm liên quan đến hàng hóa – tiền. Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

Từ phía khách hàng: Khách hàng vay vốn và sử dụng sai mục đích ban đầu cam kết hoặc kế hoạch kinh doanh không hiệu quả dẫn đến nợ phải trả tăng lên, trong đó có nợ vay ngân hàng. Một công ty hoạt động kém hiệu quả có thể do kỹ năng, quản lý kém, công nghệ lạc hậu, thiếu vốn, tỷ lệ nợ trên vốn cao và sản phẩm không đáp ứng nhu cầu thị trường. Trong đó, thiện chí trả nợ là một yếu tố quan trọng bởi nếu DN có đủ tiềm lực tài chính nhưng không có ý định trả nợ sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng.

  • Các yếu tố bên trong ngân hàng

Nguồn lực (yếu tố con người và kỹ thuật): Kỹ năng và chuyên môn của cán bộ tín dụng là đặc trưng của yếu tố con người. Việc thẩm định, phân tích và lựa chọn đầu tư vào các dự án kém hiệu quả do không có đủ kỹ năng chuyên môn và bằng cấp sẽ gặp rủi ro tín dụng. Ngoài ra, kỹ năng phân tích kém và thiếu chuyên môn của nhân viên tín dụng khiến họ đưa ra những quyết định sai lầm liên quan đến các dự án lớn cần nhiều thời gian để thẩm định. Chất lượng của các quyết định cho vay cũng sẽ bị ảnh hưởng do thiếu nguồn nhân lực, nhiều tài liệu cần xử lý nhưng thời gian phản hồi của nhân viên chậm. Bên cạnh đó, một khía cạnh khác cần xem xét là đạo đức của cán bộ tín dụng.

Rủi ro tín dụng cũng là hậu quả của công nghệ thông tin và phương pháp lạc hậu. Rủi ro sẽ thấp hơn khi hệ thống cải tiến hiện đại hơn.

Chính sách tín dụng của ngân hàng: Các nỗ lực quản lý rủi ro đã bị hạn chế do năng lực kiểm soát nội bộ kém. Quy trình, pháp luật, chính sách tín dụng của Ngân hàng Nhà nước và NHTM là nền tảng cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng. Nguyên nhân xuất phát từ việc NHTM vi phạm các quy định, bao gồm trích lập dự phòng rủi ro không đúng cách, sai phương thức cho vay, phân loại nợ không đúng và sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn.

Chính sách tín dụng không hợp lý, chú trọng vào các khoản vay lớn nhiều rủi ro, chạy đua lợi nhuận chỉ chú trọng vào tài sản đảm bảo mà không cân nhắc đến khả năng tài chính và phương án kinh doanh của doanh nghiệp.

Thiếu kiểm tra, theo dõi sau khi cho vay: Sau khi đã giải ngân, phần lớn các NHTM ít quan tâm đến việc theo dõi, kiểm tra khoản vay. Do đó, khách hàng có thể sử dụng vốn không đúng mục đích, ngân hàng không kịp thời nhận diện rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng, dễ dẫn đến rủi ro sau cho vay. Hiện nay, các ngân hàng ngày càng gặp khó khăn trong việc quản lý rủi ro tín dụng vì cán bộ tín dụng chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt và ít quan tâm đến việc quản lý sau giải ngân.

2.1.1.6 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng

  • a) Tỉ lệ Nợ xấu

Nợ xấu là những khoản nợ khó đòi hoặc có khả năng không thu được khi người vay không có khả năng hoặc không thể trả nợ khi đến thời hạn thanh toán như đã thoả thuận với ngân hàng.

Theo quy định tại Điều 10 Thông tư 02/2015/TT-NHNN, sửa đổi bởi Điều 1 Thông tư 09/2016/TT-NHNN, các tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ theo 05 nhóm như sau:

Các khoản nợ đến hạn hoặc quá hạn dưới 10 ngày và được xác định là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi đã quá hạn gọi là nợ đủ tiêu chuẩn (Nợ nhóm 1);

Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày gọi là nợ cần chú ý (Nợ nhóm 2);

Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày hoặc nợ gia hạn nợ lần đầu và nợ miễn giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng gọi là nợ dưới tiêu chuẩn (Nợ nhóm 3);

Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày hoặc nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai gọi là nợ nghi ngờ (Nợ nhóm 4);

Khoản nợ quá hạn hơn 360 ngày, khoản nợ được gia hạn lần đầu từ 90 ngày trở lên, khoản nợ được gia hạn lần thứ hai trong khoảng thời gian gia hạn thứ hai, hoặc khoản nợ được gia hạn lần thứ ba và các lần tiếp theo Khoản nợ đã được thực hiện, ngay cả khi không bị truy thu, được gọi là nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5).

Nợ xấu là các khoản nợ nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 vì đây là những khoản tín dụng khó đòi và thậm chí là có khả năng không thu hồi được.

Những khách hàng bị nợ xấu sẽ bị liệt kê vào danh sách khách hàng nợ xấu trên hệ thống của Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC).

  • Tỷ lệ nợ xấu được đo lường như sau:%

Tỷ lệ nợ xấu càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp. Điều này tạo ra rủi ro tín dụng, tác động xấu đến hoạt động tín dụng của ngân hàng b) Tỉ lệ dự phòng rủi ro

Thông tư 02/2015/TT-NHNN quy định “Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung”.

Theo Thông tư số 11/2023/TT-NHNN, các tổ chức tín dụng phải trích lập dự phòng chung bằng 0,75% trên tổng dư nợ cho vay từ Nhóm 1 đến Nhóm 4 (không bao gồm tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, khoản cho vay, giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, mua kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do các tổ chức tín dụng trong nước phát hành, mua bán lại trái phiếu Chính phủ). Mức trích lập dự phòng cụ thể cho từng nhóm nợ như sau: Nhóm 1, 2, 3, 4, 5 lần lượt được trích 0%, 5%, 20%, 50% và 100% trên tổng số nợ.

  • Tỷ lệ dự phòng rủi ro được đo lường như sau: %

Nếu NHTM trích lập tỷ lệ DPRR càng nhiều thì RRTD càng lớn, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong quá trình hoạt động kinh doanh. Mặt khác, tỷ lệ DPRR thể hiện khả năng chi trả của ngân hàng khi xảy ra RRTD. Vì vậy, các NHTM cần xem xét tỷ lệ DPRR hợp lý. Tùy vào từng thời điểm và tình hình kinh tế, NHNN sẽ quy định một tỷ lệ trích lập DPRR cụ thể phù hợp đáp ứng được tình hình hoạt động của các NHTM.

  • Quy mô cấp tín dụng

Tuỳ theo lĩnh vực hoạt động, phân khúc khách hàng mà mục tiêu của nhà quản trị về quy mô tín dụng sẽ khác biệt. Khi quy mô tín dụng không phản ánh trực tiếp và rõ ràng về chất lượng tín dụng đó cũng là yếu tố tạo nên RRTD. Quy mô tín dụng được phản ánh bằng dư nợ trên tổng tài sản có thể được đo lường như sau:

Dư nợ trên tổng tài sản%

Quy mô cấp tín dụng rộng có thể khả năng rủi ro sẽ cao và ngược lại.

  • Nợ quá hạn

Một trong những chỉ số đánh giá rủi ro tài chính của ngân hàng là nợ quá hạn. Những khoản khách hàng nợ nhưng chưa trả đủ hoặc chưa trả đúng hạn được gọi là nợ quá hạn. Tùy theo mức độ mà ngân hàng sẽ chia nợ quá hạn vào cấp độ nào để có những biện pháp theo dõi và khắc phục cho phù hợp. Các ngân hàng sẽ có những chế tài cho những khách hàng phát sinh nợ quá hạn. Tóm lại, khi khách hàng có nợ quá hạn hay nợ xấu đều sẽ ảnh hưởng đến quan hệ tín dụng sau này.

Nợ quá hạn được đo lường như sau: Tỷ lệ nợ quá hạn

  • Tốc độ tăng trưởng tín dụng Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

Đây không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp RRTD nhưng cũng ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng. Nếu tốc độ tăng trưởng quá “nóng và nhanh” thì sẽ vượt quá tầm kiểm soát của nhà quản trị, nhà quản lý kinh tế dễ gây ra RRTD. Ngược lại, nếu tốc độ tăng tín dụng “chậm chạp” thì hoạt động của ngân hàng sẽ không có lãi, nền kinh tế không phục hồi khiến lượng tiền gửi bị dư thừa. Do đó, các nhà quản lý phải tìm ra phương pháp tăng tốc độ mở rộng tín dụng thích hợp và hiệu quả, mặc dù đây là một vấn đề rất khó quyết định.

Các chỉ tiêu tốc độ tăng dư nợ tín dụng trên tốc độ tăng tổng tài sản; tốc độ tăng dư nợ tín dụng trên tốc độ tăng trưởng kinh tế đều được áp dụng để tính toán tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng tín dụng của các NHTM VN từ 2018 – 2023

Nhận xét: Tăng trưởng tín dụng có xu hướng chậm lại từ 2018 đến 2023, giảm từ 18,25% xuống 12%. Năm 2018 và 2019 là thời kỳ tín dụng tăng trưởng cao nhất do Chính phủ nỗ lực cải cách thủ tục hành chính để thu hút đầu tư nước ngoài, kiểm soát lạm phát ở mức 3,53% và tỷ giá dự trữ tăng cao kỷ lục, các lĩnh vực rủi ro được kiểm soát chặt và tỷ giá hối đoái tỷ giá đã ổn định. Đặc biệt trong năm 2022 và 2023, nền kinh tế suy thoái do ảnh hưởng của dịch virus corona chủng mới, cho vay có xu hướng giảm nhưng vẫn có tốc độ tăng trưởng tốt.

  • f) Xây dựng cơ cấu tín dụng cho các lĩnh vực, ngành nghề có mức độ rủi ro cao

Các NHTM không nên tập trung cho vay đối với một lĩnh vực hoặc ngành cụ thể. Vì điều đó có thể mang lại rủi ro đáng kể, đặc biệt là đối với các ngành không ổn định và rủi ro. Vì vậy, việc đa dạng hóa danh mục cho vay sẽ giúp ngân hàng tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro.

2.2 Tổng quan về thanh khoản ngân hàng Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

2.2.1 Khái niệm về thanh khoản

Thanh khoản được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau như Ủy ban Basel ban hành “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản ngân hàng” tháng 9/2010 cho rằng “Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như: chi lãi tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn. Hay nói cách khác thanh khoản là khả năng ngân hàng vừa có thể tăng tài sản vừa đáp ứng nghĩa vụ trả nợ đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức cho phép”.

Ở góc độ kinh doanh, thanh khoản là khả năng thanh toán của một công ty bất cứ lúc nào. Các tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho, các khoản phải thu, chứng khoán và các tài sản ngắn hạn khác được sử dụng để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.

Tiền mặt, kim loại quý như vàng, bạc và đá quý, và các chứng khoán như thương phiếu, trái phiếu chính phủ và tín phiếu được coi là tài sản có tính thanh khoản cao trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Chứng khoán cũng là tài sản có tính thanh khoản cao. Bất động sản, dây chuyền sản xuất và máy móc là những tài sản kém thanh khoản.

Theo quan điểm của tác giả “Thanh khoản trong lĩnh vực ngân hàng là khả năng đáp ứng được nhu cầu tài chính kịp thời của khách hàng trong thời gian nhất định với chi phí hợp lý” hay hiểu một cách khác “Thanh khoản ngân hàng là khả năng đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời của ngân hàng như rút tiền, giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết, chi trả các chi phí và thanh toán các khoản bằng tiền mặt khác ”.

2.2.2 Cung thanh khoản, cầu thanh khoản và thanh khoản ròng Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

2.2.2.1 Cung thanh khoản

Khả năng NHTM cung cấp vốn để đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, bao gồm duy trì tính thanh khoản của tài sản và thúc đẩy huy động vốn mới, được gọi là cung thanh khoản.

  • Cung thanh khoản cho ngân hàng bao gồm:

Tiền gửi sẽ được nhận: đây là nguồn cung đáng kể nhất. Có thể xem đây là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Các biện pháp khuyến khích huy động tiền gửi như tăng lãi suất ngân hàng, đưa ra các dịch vụ phụ trợ, chạy các chương trình khuyến mãi…

Thu nhập từ việc cung cấp dịch vụ: Các ngân hàng thương mại có thể tạo ra lợi nhuận đáng kể từ việc cung cấp dịch vụ bên cạnh hoạt động tín dụng của họ. Điều này được xem là điểm đặc trưng của NHTM so với các tổ chức tín dụng khác.

Các khoản tín dụng sẽ thu về: Các khoản cho vay được coi là nguồn thanh khoản quan trọng thứ hai sau tiền gửi. Khi tất cả các khoản nợ được trả hết, ngân hàng có lãi, giảm thiểu rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng.

Vay từ thị trường tiền tệ: Trong thời điểm thiếu thanh khoản, các ngân hàng thương mại sẽ tìm đến thị trường tiền tệ để vay, đặc biệt là kênh NHNN.

Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng: trong trường hợp các NHTM không muốn đi vay trên thị trường tiền tệ thì có thể bán các tài sản của ngân hàng để đáp ứng cho nhu cầu thanh khoản.

2.2.2.2 Cầu thanh khoản Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

Cầu thanh khoản là nhu cầu thanh toán của khách hàng mà NHTM có nghĩa vụ đáp ứng. Cầu thanh khoản bao gồm những yêu cầu chi trả và vay mượn hợp pháp của khách hàng.

  • Những hoạt động tạo ra nhu cầu về thanh khoản của NHTM:

Khách hàng rút các khoản tiền gửi: khách hàng có thể thường xuyên yêu cầu rút tiền gửi của họ từ các NHTM. Ngân hàng phải dự trữ đủ tiền mặt để đáp ứng kịp thời nhu cầu rút tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi thanh toán của khách hàng.

Huy động vốn: các ngân hàng luôn có một lượng vốn nhất định để trang trải cho hoạt động tín dụng của mình. Số tiền khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu của khách hàng, quy mô của ngân hàng, mục tiêu kinh doanh và chính sách lãi suất.

Thanh toán các khoản phải trả khác: đây là các khoản mà ngân hàng phải trả cho các tổ chức kinh tế, cá nhân hay các TCTD khác.

Chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng: bao gồm các khoản tiền lãi trả cho tiền gửi, lãi phải trả khi phát hành giấy tờ có giá…

Thanh toán cổ tức cho cổ đông: đây là khoản thanh toán mà ngân hàng cam kết trả cho các cổ đông theo một tỷ lệ nhất định phụ thuộc vào lợi nhuận hàng năm mang lại có thể bằng tiền mặt hay cổ phiếu…

Vì vậy, tuỳ từng trường hợp và nhu cầu ngắn hạn hay dài hạn, các ngân hàng thương mại buộc phải giữ lại một lượng nhất định để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của mình. Để đạt được điều này, các ngân hàng thương mại cần phải nắm giữ một lượng lớn các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi tại NHNN và các tổ chức tín dụng khác, và cổ phiếu.

2.2.2.3 Trạng thái thanh khoản ròng

Các khoản cung thanh khoản phát sinh sẽ tạo thành tổng cung thanh khoản, tương tự, các khoản cầu thanh khoản phát sinh sẽ tạo thành tổng cầu thanh khoản. Chênh lệch giữa tổng cung và tổng cầu thanh khoản tạo nên trạng thái ròng thanh khoản. Ta có công thức tính : NPLt = St – Dt

  • NPLt: Trạng thái thanh khoản ròng tại thời điểm t
  • St: Tổng cung thanh khoản tại thời điểm t
  • Dt: Tổng cầu thanh khoản tại thời điểm t

Trang thái thanh khoản ròng có 3 trường hợp:

NPL > 0 => Các ngân hàng dư thừa thanh khoản. Các ngân hàng thừa thanh khoản cần xem xét kỹ cơ hội đầu tư. Nếu không, số tiền này sẽ không sinh lời và các ngân hàng sẽ chịu áp lực trả lãi huy động vốn.

NPL < 0 => Các ngân hàng thiếu thanh khoản. Ngân hàng phải tìm cách thu hẹp khoảng cách này để giảm rủi ro thanh khoản..

NPL = 0 => Ngân hàng ở trạng thái cân bằng thanh khoản. Về lý thuyết, đây là tình trạng thanh khoản lý tưởng, nhưng trên thực tế, điều này khó đạt được do nhu cầu của khách hàng khác nhau, do đó tổng cung và cầu thanh khoản sẽ luôn khác nhau..

Các ngân hàng thương mại phải liên tục huy động lượng vốn lớn theo yêu cầu và rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất nên thường xuyên phải cân đối thanh khoản. Trên thực tế, các ngân hàng khó có thể đồng thời duy trì sự cân bằng giữa cung và cầu thanh khoản, và các ngân hàng buộc phải thường xuyên đối phó với tình trạng thiếu hoặc thừa thanh khoản. Để giải quyết vấn đề thanh khoản, các tổ chức phải lựa chọn giữa “khả năng sinh lời” và “tính thanh khoản”.

2.2.3 Các chỉ tiêu đo lường khả năng thanh khoản Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

  • a) Tỉ lệ tài sản thanh khoản/ Tổng tài sản

Chỉ số này cho biết tỷ trọng tài sản thanh khoản trong tổng tài sản của NH là bao nhiêu. Tỷ trọng này càng cao thì khả năng thanh khoản của NH càng tốt.

  • b) Trạng thái tiền mặt
  • Trạng thái tiền mặt %

Các ngân hàng có nhiều thanh khoản hơn đáp ứng các cam kết tài chính ngay lập tức và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn. Điều này được phản ánh trong Chỉ số trạng thái tiền mặt cao hơn.

Quỹ tiền mặt của ngân hàng tăng hay giảm đều ảnh hưởng đến chỉ số tình hình tiền mặt của ngân hàng.

Lãi từ các khoản vay, thu phí dịch vụ, bán chứng khoán, thu hồi tiền gốc từ các tài khoản tín dụng quá hạn và nhận tiền gửi tiết kiệm là các hoạt động làm quỹ tiền mặt tăng.

Mua chứng khoán, trả nợ Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác, cấp tín dụng, trả lãi cho người gửi tiền, trang trải chi phí ngân hàng là một trong những nguyên nhân khiến quỹ tiền mặt giảm.

  • c) Năng lực cho vay

Chỉ số năng lực cho vay càng cao thể hiện khả năng thanh khoản của NH càng thấp.

  • Năng lực cho vay%

Chỉ số dựa trên tài sản ngân hàng, cổ phiếu và vốn huy động. Chỉ số này cao hơn đối với các ngân hàng thương mại có lượng khách hàng lớn và tiềm lực tài chính lớn. Nó còn chịu ảnh hưởng của chiến lược kinh doanh trong tương lai của ngân hàng.

  • Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản

Rủi ro của các tài sản tín dụng của ngân hàng được đánh giá bằng tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản. Lợi nhuận sẽ giảm và rủi ro tăng lên nếu ngân hàng sụt giảm tài sản và ngược lại. Do đó, xét về nguồn vốn tự có của ngân hàng, chỉ tiêu này góp phần trong việc xác định mức độ suy giảm tài sản.

Tỷ lệ vốn tự có trên tổng TS %

  • Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi

Chỉ số này đo lường số tiền ngân hàng cho vay so với tiền gửi của khách hàng. Thanh khoản giảm khi chỉ số này tăng và ngược lại.

  • Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi %

2.2.4 Nguyên nhân gây ra mất thanh khoản

2.2.4.1 Nguyên nhân bên trong ngân hàng

  • a) Hạ thấp tiêu chuẩn cấp tín dụng: Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

Tiêu chuẩn tín dụng là những yêu cầu mà ngân hàng đưa ra đối với khách hàng để thiết lập quan hệ tín dụng, chúng bao gồm các yêu cầu về pháp lý, tài chính và tài sản tối thiểu. Tiêu chuẩn này sẽ khác nhau tùy thuộc vào ngân hàng, nhưng nhìn chung nó vẫn phải giải quyết các điểm được đề cập ở trên. Để phân tích khả năng tài chính của KH, nguyên tắc “4C” được áp dụng:

Capital: khả năng thanh toán nợ của khách hàng được đánh giá qua khả năng thanh toán hiện tại hoặc chỉ số trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Collater: thẩm định TSBĐ, có thể là tài sản của chính khách hàng hoặc là tài sản bảo đảm của bên thứ 3. Đây được xem là nguồn thu hồi nợ chính của ngân hàng khi khách hàng không có khả năng chi trả nợ. Nhưng nếu thu hồi bằng cách này thì sẽ mất nhiều thời gian do có những tài sản không thể thanh lý ngay lập tức được và ngân hàng mất chi phí. Do đó phải trích lập thêm dự phòng cho món tín dụng này.

Character: xem xét tư cách tín dụng, tiềm năng thanh toán của khách hàng . Đối với những khách hàng có quan hệ cấp tín dụng lần đầu thì khó có thể đánh giá chính xác nhưng với những khách hàng cũ thì sẽ có dữ liệu vào những lần cấp tín dụng trước. Ngoài ra, cần chú trọng đến thiện chí và ý chí trả nợ của khách hàng, đây là điều rất khó xác định được.

Conditions: là những yếu tố nằm ngoài kiểm soát của ngân hàng như thiên tai, lũ lụt, cháy nổ…

Các tiêu chuẩn tín dụng này đôi khi có thể được điều chỉnh để giúp khách hàng vay vốn dễ dàng hơn nếu các ngân hàng theo đuổi tăng trưởng tín dụng “nóng”. Do đó, rủi ro tín dụng như nợ xấu tăng, chất lượng tín dụng giảm, thanh khoản giảm là rất dễ xảy ra. Để giảm rủi ro cho ngân hàng và ổn định hoạt động của công ty, các ngân hàng phải tập trung hơn vào các tiêu chuẩn tín dụng và tuân thủ đúng đắn các tiêu chuẩn này.

  • b) Hạn chế nguồn tài chính của ngân hàng Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

Tiềm lực tài chính được xem xét qua quy mô, khả năng tài chính và vốn điều lệ khi thành lập các ngân hàng. Hiện nay, NHNN yêu cầu các ngân hàng phải hoàn thành Basel 2 vào cuối 2024 nhưng chỉ có ít ngân hàng hoàn thành được. Chỉ số an toàn tối thiểu trong Basel 2 có quy định tối thiểu là 8% sẽ giúp các NH mở rộng kinh doanh, ổn định hoạt động, là tấm đệm khi xảy ra khủng hoảng kinh tế. Có thể thấy NH có vốn điều lệ lớn thì nguồn tài chính càng cao và có thể thuận lợi trong việc tìm kiếm nguồn vốn bù đắp khi thiếu hụt. Ngược lại, ngân hàng có vốn điều lệ nhỏ thì tiềm lực tài chính thấp và khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn vốn bù đắp khi thiếu hụt thanh khoản và còn phải mất chi phí cao hơn các ngân hàng lớn. c) Sự mất cân xứng kỳ hạn giữa Tài sản Có và Tài sản Nợ

Tài sản Có của ngân hàng bao gồm tiền gửi tại ngân hàng Trung ương, tiền mặt trong quỹ, tiền đang được thu, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác, chứng khoán, tín dụng và các tài sản khác như tài sản cố định.

Tài sản Nợ của ngân hàng là những khoản nợ phải trả bằng tiền hoặc giá trị tương đương.

Bằng cách sử dụng vốn nhàn rỗi của nền kinh tế để cấp các khoản tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, các ngân hàng đóng vai trò trung gian cho sự luân chuyển vốn.

Vì vậy, kỳ hạn của tiền gửi xuất hiện là ngắn hạn và nhu cầu tín dụng là dài hạn. Nói cách khác, kỳ hạn của tài sản cho vay dài hơn kỳ hạn của nợ phải trả. Với sự xuất hiện của bất đối xứng, các ngân hàng thương mại đang gặp khó khăn trong việc đáp ứng thanh khoản và tìm mọi cách để loại bỏ thâm hụt.

  • d) Cơ cấu tài sản không hợp lý

Bởi vì tín phiếu kho bạc và chứng khoán có tính thanh khoản cao như Trái phiếu chính phủ không mang lại nhiều lợi nhuận nên lợi nhuận của các ngân hàng sẽ giảm đi khi họ giữ lượng lớn các tài sản này. Trước áp lực lợi nhuận, phần lớn các ngân hàng nhỏ đã giảm nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao này mà không đảm bảo về số lượng, dẫn đến mất cân đối trong cơ cấu tài sản và làm tăng rủi ro tổn thất tài chính.

2.2.4.2 Nguyên nhân bên ngoài ngân hàng

  • a) Lãi suất

Khi lãi suất thị trường biến động sẽ tác động đến tiền gửi và cho vay. Nghịch lý đã cho thấy người gửi tiền luôn muốn hưởng lãi suất càng cao càng tốt trong khi người đi vay thì mong muốn lãi suất càng thấp càng tốt.

Khi lãi suất tăng thì lượng tiền huy động sẽ tăng lên trong khi việc cấp tín dụng sẽ giảm đi và ngược lại. Khi lãi suất giảm thì lượng tiền huy động sẽ giảm xuống trong khi việc cấp tín dụng sẽ tăng lên.

Ngoài ra, khi lãi suất tăng, các ngân hàng sẽ phải chịu thêm chi phí đi vay trên thị trường liên ngân hàng dẫn đến nguồn cung thanh khoản biến động. Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

  • b) Lạm phát

Lạm phát là sự gia tăng liên tục theo thời gian của mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ, phản ánh sự suy giảm sức mua của người dân. Tất cả các quốc gia đều có chính sách hoạt động để giữ lạm phát ở mức chấp nhận được. Trong nhiều năm Việt Nam đã cố gắng giữ lạm phát dưới 5%.

Khi tỷ lệ lạm phát tăng lên thì NHNN có thể tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và lãi suất chiết khấu làm cho lãi suất thị trường cũng tăng từ đó cung cầu thanh khoản sẽ bị thay đổi. Ngược lại khi tỷ lệ lạm phát giảm thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc và lãi suất chiết khấu giảm làm cho lãi suất thị trường cũng giảm, cung cầu thanh khoản biến động.

  • c) Tâm lý nhà đầu tư

Sự bất cân xứng thông tin là yếu tố chính dẫn đến tâm lý các nhà đầu tư bị ảnh hưởng. Chỉ cần trên thị trường xuất hiện thông tin như ngân hàng đó bị kiện tụng, sắp phá sản hay lừa đảo…nhưng chưa được kiểm chứng hay cơ quan nào kết luận thì khách hàng đã ồ ạt, lo lắng đến rút tiền gửi để đầu tư vào kênh khác. Ngân hàng sẽ gặp phải tình trạng thiếu thanh khoản ngắn hạn do động thái đó và sẽ phải chịu chi phí và tổn thất đáng kể nếu cho vay trên thị trường liên ngân hàng.

Một sự kiện xảy ra vào năm 2005, khi người dân đồng loạt rút tiền gửi do có tin đồn Tổng giám đốc Ngân hàng Á Châu (ACB) bỏ trốn khiến cho ACB rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản. Sự giúp đỡ của Ngân hàng Nhà nước và kinh nghiệm nội bộ đã giúp ACB vượt qua khó khăn này. Trường hợp này cho thấy thông tin xấu có thể gây tổn hại như thế nào đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế trong một ngành nhạy cảm như ngân hàng. d) Tình hình kinh tế vĩ mô

Khi nền kinh tế mở rộng, mọi người sẽ có nhu cầu gửi tiền nhiều hơn. Nhu cầu vay vốn tăng lên khi các doanh nghiệp tăng sản lượng và doanh thu. Mặt khác, khi nền kinh tế gặp khó khăn, tâm lý người dân có xu hướng muốn nắm giữ nhiều tiền hơn, khiến việc rút tiền trở nên cần thiết hơn. Phân tích trình bày ở trên chứng minh rằng môi trường kinh tế vĩ mô sẽ tác động đến thanh khoản của các ngân hàng bằng cách gây ra những thay đổi trong cung và cầu thanh khoản.

2.3 Lược khảo các nghiên cứu trước Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

2.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước

2.3.1.1 Delécha và cộng sự (2014) thực hiện nghiên cứu nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng trong khu vực Trung Mỹ, Panama và Cộng hòa Dominica (CAPDR). Mẫu nghiên cứu bao gồm số liệu của gần 96 ngân hàng CAPDR từ năm 2008 – 2012 lấy từ BankScope. Phương pháp GMM, OLS với các biến gồm quy mô NH, RRTD, GDP. Nhóm nghiên cứu cho thấy thanh khoản ngân hàng chịu tác động bởi quy mô, rủi ro tín dụng. Hạn chế của nghiên cứu này là thời gian nghiên cứu ngắn đã kiểm tra các biến số ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các ngân hàng ở Panama, Trung Mỹ và Cộng hòa Dominica (CAPDR). Dữ liệu từ khoảng 96 ngân hàng CAPDR từ năm 2008 đến 2012 được đưa vào mẫu nghiên cứu và được lấy từ BankScope. Bài viết sửa dụng phương pháp GMM và OLS. Nhóm nghiên cứu chứng minh rủi ro tín dụng và quy mô ngân hàng có tác động đến tính thanh khoản và nghiên cứu này sử dụng nguồn dữ liệu lớn nên tính khả thi cũng tăng lên.

2.3.1.2 Aspach và cộng sự (2007) phân tích các biến số bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng tư nhân Vương quốc Anh. Dữ liệu từ báo cáo tài chính của 57 ngân hàng tư nhân từ năm 1985 đến 2005 được đưa vào nghiên cứu. Tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản cao trên tổng tài sản và tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản cao trên nợ phải trả là hai mô hình có hai biến phụ thuộc trong kỹ thuật hồi quy. Do đó, lượng tín dụng lãi suất ngắn hạn, tốc độ tăng trưởng GDP và các chính sách trong nước đều có tác động đến thanh khoản. Điểm khác biệt của nghiên cứu này là rất phù hợp với các quốc gia có nhiều ngân hàng tư nhân và nền kinh tế phát triển. Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

2.3.1.3 Singh và cộng sự (2018) xác định những biến số vĩ mô và nội bộ nào ảnh hưởng đến nghiên cứu về tính thanh khoản của ngân hàng? Bộ dữ liệu bao gồm 59 ngân hàng Ấn Độ từ năm 2002 đến năm 2015 và được xử lý bằng kỹ thuật hồi quy OLS, FEM và REM để chọn mô hình tốt nhất. Kết luận là yếu tố tỷ suất sinh lời trên TTS (ROA), tỷ lệ an toàn vốn, tiền gửi và tỷ lệ lạm phát đều có tác động thuận lợi đến tính thanh khoản. Ngoài ra, nó bị ảnh hưởng bất lợi bởi quy mô và độ mở rộng của GDP. Đặc biệt, tỷ lệ thất nghiệp và chi phí vốn không ảnh hưởng đến thanh khoản.

2.3.1.4 Vodová, P. (2013) tìm hiểu xem những biến số nào đã ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của các NHTM Séc từ năm 2003 đến năm 2011. Tác giả thực hiện nghiên cứu bằng phần mềm Eviews và hồi quy dữ liệu bảng. Tác giả kết luận, tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản cao trên tổng tài sản và tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có tác động đến khả năng thanh khoản của ngân hàng; tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp, biên lợi nhuận và chính sách tiền tệ không tác động. Đây là nghiên cứu được xây dựng trên phần mềm Eviews và có xét đến yếu tố vĩ mô là chính sách tiền tệ mà ít có nghiên cứu nào đề cập đến.

2.3.1.5 Cai và Zhang (2019) nghiên cứu về RRTD tác động đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng Ukraina. Bằng số liệu của 176 NH từ 2011 – 2017, tác giả sử dụng biến độc lập là tỷ lệ tài sản thanh khoản cao trên tổng tài sản và 5 biến phụ thuộc gồm tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, quy mô, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA và VCSH trên tổng tài sản. Kết quả nghiên cứu cho thấy RRTD tác động ngược chiều đến khả năng thanh khoản và độ tin cậy cao do dữ liệu lớn.

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

2.3.2.1 Nguyễn Thanh Lâm – Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2018) nghiên cứu về khả năng thanh khoản của các NHTM Việt Nam chịu sự tác động của các nhân tố nào và mức độ chịu ảnh hưởng ra sao? Số liệu nghiên cứu được thu thập dựa trên Báo cáo tài chính đã kiểm toán của 23 NHTM của Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2015. Với sự trợ giúp của phần mềm Eviews, tác giả sử dụng mô hình hồi quy OLS. Quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA), tỷ lệ nợ ngắn hạn trên vốn chủ sở hữu (D/E), tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi khách hàng (L/A) và tỷ lệ VCSH trên tài sản có (CAP) là các biến độc lập. Các phát hiện chỉ ra rằng có ba biến số ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng: quy mô của ngân hàng ảnh hưởng tích cực; tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có và tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi tác động ngược chiều.

2.3.2.2 Lê Hoàng Vinh – Trần Phi Dũng (2022) tìm hiểu về các yếu tố tác động đến tính thanh khoản của các NHTM Việt Nam. Mẫu dữ liệu gồm 23 NHTM trong giai đoạn 2011 – 2020. Tác giả sử dụng các phương pháp như thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích hồi quy OLS, mô hình cố định FEM và mô hình ngẫu nhiên REM, sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát GLS nếu xảy ra đa cộng tuyến nghiêm trọng. Các biến trong mô hình bao gồm biến phụ thuộc là khả năng thanh khoản (LIQ), các biến độc lập bao gồm tăng trưởng tín dụng (LGR); Tiền gửi của khách hàng (DEP); Khả năng sinh lời (PROF); Quy mô (SIZE); Chất lượng tài sản (AQ); Vốn chủ sở hữu (CAP); Quản lý tài sản (AM); Hiệu quả hoạt động (EFF); Thu nhập ngoài lãi cận biên (NOM) và biến giả Niêm yết cổ phiếu (LIST) nhận 2 giá trị đã niêm yết là 1 và chưa niêm yết là 0. Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy các biến LGR, DEP, SIZE, AQ và AM ngược chiều với khả năng thanh khoản; PROF, EFF, NOM cùng chiều còn CAP không ảnh hưởng đến thanh khoản. Riêng biến giả thì nếu ngân hàng được niêm yết sẽ tăng cường thanh khoản tốt hơn. Nghiên cứu này có điểm khác biệt là các biến độc lập được đưa vào mô hình nhiều làm tăng tính ứng dụng cao hơn.

2.3.2.3 Nguyễn Thị Mỹ Linh (2018) xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của 24 NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2010 -2019. Tác giả tiến hành phân tích hồi quy dữ liệu panel bằng các mô hình Pooled OLS, FEM và REM. Biến phụ thuộc gồm tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản cao trên tổng tài sản (L1), tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản cao trên tiền gửi và vay ngắn hạn (L2), tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (L3); biến độc lập gồm tỷ lệ VCSH trên TTS (CAP), tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (NPL), quy mô ngân hàng (TOA), tỷ suất lợi nhuận trên VCSH (ROE), tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tỷ lệ lạm phát (INF). Kết quả chỉ ra CAP tỷ lệ nghịch với (L1) và (L2), NPL tỷ lệ nghịch với (L1), ROE tỷ lệ thuận với (L1), TOA tỷ lệ thuận với (L2) nhưng tỷ lệ nghịch với (L3) và INF tỷ lệ thuận với (L1). Điểm đặc biệt của nghiên cứu này là mô hình có nhiều biến độc lập.

2.3.2.4 Vũ Thị Hồng (2017) khám phá xem thanh khoản của 37 NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013 bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nào. Các mô hình OLS, REM và FEM được tác giả thực hiện. Biến phụ thuộc là khả năng thanh khoản (LIQ), biền độc lập gồm 6 biến: tỷ lệ VCSH (CAP), tỷ lệ lợi nhuận (ROE), quy mô (SIZE), tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR), tỷ lệ nợ xấu (NPL) và tỷ lệ dự phòng rủi ro (LLR). Kết quả thu được CAP, ROE và NPL chịu tác động dương lên khả năng thanh khoản. Ngược lại, các yếu tố LDR, SIZE có tác động ngược chiều với khả năng thanh khoản. Riêng tỷ lệ dự phòng rủi ro (LLR) là chỉ số được trích ra trước theo một tỷ lệ nhất định tùy thuộc vào chiến lược phát triển của các ngân hàng nên không ảnh hưởng đến thanh khoản.

2.3.2.5 Đàng Quang Vắng (2020) thực hiện nghiên cứu xem thanh khoản của các NHTM Việt Nam chịu tác động bởi các nhân tố nào? Bộ dữ liệu nghiên cứu gồm 37 NHTM VN giai đoạn 2007 – 2017. phương pháp định tính kết hợp phương pháp định lượng được tác giả sử dụng trong nghiên cứu. Mô hình có biến phụ thuộc là khả năng thanh khoản với 10 biến phụ thuộc gồm nguồn tài trợ bên ngoài (EFD), tỷ lệ VCSH trên TTS (ETA), chi phí dự phòng trên tổng dư nợ, tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE), quy mô NH (SIZE), tăng trưởng GDP, chỉ số lạm phát (INF), cung tiền M2 và sử dụng 2 biến phụ là ngân hàng được niêm yết trên sàn chứng khoán (có giá trị = 1), chưa niêm yết (có giá trị = 0) và biến khủng hoảng chính do đề tài nằm trong vào giai đoạn 2010 -2012 là thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Nếu là giai đoạn khủng hoảng sẽ nhận giá trị là 1, ngoài giai đoạn khủng hoảng sẽ có giá trị là 0. Kết quả chỉ ra GDP tác động ngược chiều với khả năng thanh khoản đối với các ngân hàng có quy mô lớn và tác động cùng chiều với các ngân hàng có quy mô nhỏ . Biến INF tác động cùng chiều với khả năng thanh khoản. Cung tiền M2 đóng vai trò như nguồn cung thanh khoản. Biến phụ khủng hoảng tài chính có tác động ngược chiều với thanh khoản ở nhóm ngân hàng có quy mô nhỏ. Nghiên cứu này sử dụng biến phụ phù hợp hơn với tình hình thực tế.

2.4 Khoảng trống nghiên cứu: Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

Có thể thấy các nghiên cứu trên đa số được thu thập dữ liệu từ cách đây rất lâu không còn phù hợp với thực tế hiện nay khi nền kinh tế toàn cầu có nhiều biến động, đặc biệt khi thế giới vừa trải qua đại dịch Covid 19. Bên cạnh đó, thời gian nghiên cứu cũng không dài, có những nghiên cứu chỉ dưới 10 năm. Đây cũng là khoảng trống để tác giả tiếp tục thực hiện đề tài này.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong chương 2 này, tác giả vận dụng những lý thuyết cơ bản về rủi ro tín dụng và thanh khoản, cũng như mối quan hệ cung cầu về thanh khoản để tìm ra các biến số ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Bằng cách xem xét cả công trình trong nước và ngoài nước, tác giả xác định các chỉ số về khả năng thanh toán. Tiếp đó, xây dựng các giả thuyết nghiên cứu phù hợp cho chương 3. Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: PPNC của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng thanh khoản […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993