Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Cơ Sở Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường trung cấp nghề Tỉnh Cà Mau dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát trường trung cấp nghề tỉnh Cà Mau
2.1.1 Sơ lược đặc điểm, tình hình đào tạo nghề ở tỉnh Cà Mau
- Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Cà Mau
Cà Mau là tỉnh ở cực Nam của Tổ quốc, Mũi Cà Mau là địa danh có ý nghĩa về kinh tế, chính trị; đồng thời có ý nghĩa thiêng liêng đối với nhân dân cả nước; có tiềm năng phát triển du lịch gắn với du lịch sinh thái. Tỉnh Cà Mau nằm cách TP Hồ Chí Minh 370 km, cách Cần Thơ 180 km về phía Nam; phía Bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, tỉnh Kiên Giang; ba hướng còn lại đều tiếp giáp với biển. Cà Mau là một tỉnh duy nhất của nước ta có ba mặt giáp biển; diện tích tự nhiên là 5.329 km2; có 09 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh (08 huyện và 01 thành phố); thành phố Cà Mau (đô thị loại 2) là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục của tỉnh.
Tỉnh Cà Mau được tái lập vào năm 1997 (tách ra từ tỉnh Minh Hải), cách xa các trung tâm kinh tế lớn, việc phát triển nguồn nhân lực trong thời gian qua còn chưa đồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao. Trước thực tế đòi hỏi phải có lực lượng lao động trình độ tay nghề, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương, năm 2001 tỉnh Cà Mau đã thành lập Trường Công nhân kỹ thuật, tiền thân của trường TCN tỉnh Cà Mau ngày nay.
Kết quả đào tạo nghề ở tỉnh Cà Mau trong thời gian qua
- Quy mô đào tạo nghề
Từ năm 2019-2023, toàn tỉnh đã đào tạo được 116.880 học viên, chủ yếu là đào tạo ngắn hạn (khoảng 109.000 người); ĐTN dưới 3 tháng chiếm tỷ trọng lớn, gần 60% số lượng lao động. Năm năm qua số lượng qua đào tạo ở bậc TCN và CĐN khoảng 3.500 người [32, tr.38]. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
- Công tác quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo
Mạng lưới đào tạo đã phát triển theo quy hoạch, khắc phục tình trạng mất cân đối về phân bố giữa các huyện, thành phố trong địa bàn tỉnh. Hiện nay, tổng số cơ sở đào tạo, dạy nghề trên địa bàn là 27 cơ sở. Trong đó, trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, TCN là 9 cơ sở; trung tâm dạy nghề có 10 cơ sở và 8 cơ sở ĐTN ngoài công lập [32, tr.31].
- Công tác tuyển sinh học nghề
Công tác tuyển sinh nhìn chung đều đạt chỉ tiêu tỉnh giao hằng năm. Tuy nhiên, ĐTN trình độ SCN và dưới 3 tháng là chủ yếu; trình độ TCN chỉ đạt khoảng 60% chỉ tiêu được giao, trình độ CĐN chủ yếu là liên kết đào tạo với các trường CĐN ngoài tỉnh [27, tr.4].
- Tình hình phát triển đội ngũ GV và CBQL
Tổng số GV và CBQL trong các cơ sở ĐTN là 223 người, trong đó GV 150 người. GV dạy nghề có trình độ trên đại học 04 người; đại học, cao đẳng 90 người; trung cấp 27 người; trình độ khác 29 người. Đội ngũ GV phần lớn có tâm huyết với sự nghiệp ĐTN, có khả năng nghiên cứu khoa học, tự học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ [27].
- Đầu tư CSVC, trang thiết bị đào tạo
Nhìn chung, các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh có quy mô nhỏ, phòng học, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, trang thiết bị,…còn hạn chế.
Để từng bước đáp ứng nhu cầu về CSVC, trang thiết bị phục vụ công tác đào tạo, tỉnh Cà Mau đã và đang đầu tư mở rộng và xây dựng mới thêm một số cơ sở đào tạo [32].
- Định hướng phát triển sự nghiệp đào tạo trong thời gian tới
Dạy nghề, bồi dưỡng, truyền nghề trong 5 năm (2024-2028) đạt khoảng 175.000 người; năm 2028, tỷ lệ lao động xã hội qua đào tạo, dạy nghề đạt khoảng 60% [31, tr.11];
Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 30% năm 2023 lên 50% năm 2028 và 70% năm 2035. Trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo SCN từ 69,07% năm 2023 giảm còn 65% năm 2028 và 58% năm 2035; lao động trình độ trung cấp từ 22,07% năm 2023 lên 23% năm 2028 và 27% năm 2035; lao động có trình độ cao đẳng, đại học tăng từ 8,87% năm 2023 lên 12% năm 2028 và 15% năm 2035 [32, tr.49].
2.1.2 Sơ lược trường trung cấp nghề tỉnh Cà Mau Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
- Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
Nhiệm vụ chính của nhà trường là tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở trình độ TCN, SCN nhằm trang bị cho HS năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng làm việc tại các doanh nghiệp, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động.
Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu đối với ngành nghề được phép đào tạo; xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề. Tổ chức các hoạt động dạy và học; thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng, chứng chỉ nghề theo quy định .
Tuyển dụng, quản lý đội ngũ GV, cán bộ, nhân viên của trường đủ về số lượng; phù hợp với ngành nghề, quy mô, trình độ đào tạo theo quy định của pháp luật. Tổ chức nghiên cứu khoa học; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; thực hiện sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khoa học, kỹ thuật theo quy định của pháp luật.
Thực hiện dân chủ, công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ ĐTN, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào ĐTN và hoạt động tài chính.
Quản lý, sử dụng đất đai, CSVC, thiết bị, tài chính và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Được chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển nhà trường phù hợp với chiến lược phát triển ĐTN và quy hoạch phát triển mạng lưới các trường TCN.
Quyết định thành lập các đơn vị trực thuộc trường theo cơ cấu tổ chức đã được phê duyệt trong Điều lệ của nhà trường; quyết định bổ nhiệm các chức vụ từ cấp trưởng phòng, khoa và tương đương trở xuống.
Phối hợp với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong hoạt động ĐTN về lập kế hoạch, xây dựng chương trình, giáo trình ĐTN, tổ chức thực tập nghề. Liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng ĐTN, gắn ĐTN với việc làm và thị trường lao động.
Sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng CSVC của trường, chi cho các hoạt động ĐTN và bổ sung nguồn tài chính của trường. Được Nhà nước giao đất, CSVC; được hỗ trợ ngân sách; được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng theo quy định của pháp luật.
(Nguồn: Điều lệ tổ chức và hoạt động của trường TCN tỉnh Cà Mau, ban hành kèm theo Quyết định số 1629/QĐ-UBND ngày 22/10/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau). Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
- Cơ cấu tổ chức của nhà trường
Hội đồng trường: gồm 09 thành viên
Ban giám hiệu: gồm 01 hiệu trưởng và 03 phó hiệu trưởng
Các hội đồng tư vấn: Hội đồng tuyển sinh, Hội đồng thi tốt nghiệp, Hội đồng xét thi đua khen thưởng…
02 Phòng nghiệp vụ: Phòng đào tạo, Phòng Hành chính – tổng hợp 02 Khoa chuyên môn: Khoa Tin học – kỹ thuật cơ sở, Khoa điện – cơ 01 Trung tâm Ngoại ngữ – Tin học 01 Chi bộ Đảng, 01 Đoàn cơ sở, 01 Công đoàn cơ sở thành viên.
Tổng số CBQL, GV, nhân viên của nhà trường là 50 người. Trong đó, lãnh đạo 04 người; Trưởng, phó phòng, khoa 11 người; GV chuyên nghiệp 27 người; chuyên viên và nhân viên là 10 người.
- Kết quả đào tạo của nhà trường trong thời gian qua
Trường TCN tỉnh Cà Mau được giao nhiệm vụ đào tạo chủ yếu hai cấp trình độ là TCN và SCN. Ngoài ra, nhà trường còn được giao liên kết đào tạo đại học, trung cấp chuyên nghiệp và các lớp bồi dưỡng khác.
Số lượng nghề được cấp phép đào tạo TCN, SCN gồm có 15 nghề:
- Hàn;
- Quản trị mạng máy tính;
- Lập trình máy tính;
- Quản trị cơ sở dữ liệu;
- Công nghệ thông tin;
- Kỹ thuật sửa chữa, lắp ráp máy tính;
- Điện dân dụng;
- Điện công nghiệp;
- Điện tử dân dụng;
- Điện tử công nghiệp;
- Vận hành, sửa chữa thiết bị lạnh;
- Kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí;
- May thời trang;
- Kế toán doanh nghiệp;
- Công tác xã hội.
Tất cả các nghề được phép đào tạo tại trường đều có chương trình đào tạo chi tiết, một số mô-đun, môn học đã có giáo trình và tài liệu giảng dạy hoàn chỉnh. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
Số liệu thống kê kết quả đào tạo và chất lượng đào tạo từ năm học 2020-2021 đến năm học 2025-2026 của nhà trường được thể hiện ở hai bảng tổng hợp như sau:
Bảng 2.1: Kết quả đào tạo từ năm học 2020-2021 đến năm học 2025-2026
|
Trình độ đào tạo |
Hình thức đào tạo | Số lượng học sinh, học viên | ||
| Tuyển sinh | Tốt nghiệp | Đang học | ||
| Trung cấp nghề | Chính quy | 1.546 | 597 | 215 |
| Sơ cấp nghề | Chính quy | 1.505 | 1.410 | 75 |
| Bồi dưỡng, cấp chứng chỉ Tin học, ngoại ngữ trình độ A, B quốc gia | Thường xuyên | 3.250 | 3.100 | 150 |
| Liên kết đào tạo, bồi dưỡng | ||||
| Đại học Quản trị nhân lực | Vừa làm, vừa học | 92 | 92 | |
| Đại học Công tác xã hội | Vừa làm, vừa học | 150 | 141 | |
| Trung cấp Lao động xã hội | Vừa làm, vừa học | 61 | 61 | |
| Trung cấp Kế toán doanh nghiệp | Vừa làm, vừa học | 35 | 35 | |
| Bồi dưỡng sư phạm dạy nghề | Vừa làm, vừa học | 275 | 275 | |
Bảng 2.2: Kết quả đào tạo trình độ TCN từ khóa học 2020-2022 đến khóa học 2025-2014
| Khóa học | Số lượng | Xếp loại | Tỷ lệ đỗ TN | ||||||
| Tuyển sinh | Đang học | Dự thi TN | Đỗ TN | Học tập | Rèn luyện | ||||
| Khá, giỏi | Trung bình | Khá, tốt | Trung bình | ||||||
| 2020-2022 | 398 | 282 | 259 | 65 | 196 | 236 | 25 | 91.8% | |
| 2021-2023 | 396 | 219 | 205 | 87 | 117 | 178 | 19 | 93.6% | |
| 2022-2024 | 206 | 94 | 88 | 50 | 43 | 76 | 11 | 93.6% | |
| 2023-2025 | 201 | 49 | 45 | 25 | 20 | 45 | 0 | 91.8% | |
| 2024-2026 | 211 | 117 | |||||||
| 2025-2014 | 134 | 98 | |||||||
| Tổng cộng | 1546 | 215 | 644 | 597 | 227 | 376 | 535 | 55 | 92.7% |
(Nguồn: Phòng đào tạo, trường TCN tỉnh Cà Mau) Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
Qua hai bảng số liệu thống kê trên, ta thấy được số lượng tuyển sinh trình độ TCN không tăng mà còn giảm theo thời gian; tỷ lệ bỏ học rất cao; tỷ lệ học tập được xếp loại khá, giỏi thấp. Đây là thực chung của rất nhiều trường TCN, có rất nhiều nguyên nhân khách quan tác động mà nhất là cơ chế chính sách. Đồng thời cũng không ít nguyên nhân chủ quan, một trong số đó do nhà trường chưa có một hệ thống giải pháp đồng bộ trong QLCL ĐTN.
Tuy nhiên, qua 10 năm xây dựng và phát triển với CSVC tạm, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập thiếu và lạc hậu (do đợi dự án). Nhưng tập thể lãnh đạo, CBQL, GV và HS nhà trường luôn cố gắng nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tập thể và nhiều cá nhân trong nhà trường vinh dự được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau tặng nhiều bằng khen và nhiều danh hiệu thi đua khác.
2.1.3 Đánh giá công tác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Ưu điểm
Những văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực đào tạo, ĐTN được các sở ngành khai kịp thời, tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo tiếp cận và từng bước thực hiện đúng theo quy định.
Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực ĐTN dần đi vào nề nếp; công tác thanh tra, kiểm tra được thực hiện thường xuyên.
Đội ngũ GV và CBQL đáp ứng được yêu cầu về chuẩn trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực, nhiệt tình, tích cực trong công tác giảng dạy, đào tạo nâng cao trình độ [32, tr.35].
Qui mô ĐTN trên địa bàn tỉnh tăng nhanh góp phần tăng tỉ lệ lao động qua đào tạo; các cơ sở ĐTN thực hiện đa dạng hoá hình thức và ngành nghề đào tạo, gắn đào tạo với tự tạo việc làm và giải quyết việc làm, góp phần đáp ứng yêu cầu lao động.
Công tác tuyển sinh thực hiện đúng quy trình và quy định; người học nghề sau khi tốt nghiệp, được các cơ sở ĐTN kết hợp với Trung tâm giới thiệu việc làm và Sàn giao dịch việc làm giới thiệu với các doanh nghiệp; đa số HS tốt nghiệp ra trường có việc làm và làm được việc [27], [29], [31], [32].
- Nguyên nhân của những ưu điểm nêu trên
Công tác đào tạo nói chung, ĐTN nói riêng của tỉnh Cà Mau trong thời gian qua đã được các cấp lãnh đạo tỉnh Cà Mau đặc biệt quan tâm.
Chủ trương xã hội hóa hoạt động ĐTN đã tạo được sự tham gia của nhiều thành phần xã hội.
Phong trào học tập nghề nghiệp được phát triển sâu rộng trong nhân dân nhất là lực lượng thanh niên.
- Tồn tại, hạn chế Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
Chưa phân rõ nhiệm vụ, chức năng của từng cơ sở đào tạo, nên còn chồng chéo. Đào tạo chưa gắn với nhu cầu thực tế của địa phương mà chỉ đào tạo những ngành nghề nào có nhiều người theo học. Đến thời điểm hiện tại, chưa có cơ sở đào tạo nào thực hiện cuộc khảo sát nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp, chỉ có một số ít doanh nghiệp tham gia đặt hàng tại các cơ sở đào tạo để đào tạo nguồn lao động cho doanh nghiệp. Không có sự liên kết giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, dẫn đến đào tạo không theo thực tế sử dụng lao động, phải đào tạo lại từ các đơn vị sử dụng lao động [32, tr.33].
Trong phạm vi ĐTN, các cơ sở ĐTN công lập trên địa bàn tỉnh còn ít, CSVC, trang thiết bị còn hạn chế, ít đào tạo các ngành nghề kỹ thuật cao. Đội ngũ CBQL và GV thiếu về số lượng và hạn chế về kỹ năng thực hành. Số lượng tuyển sinh trình độ TCN ngày càng giảm. Các điều kiện đảm bảo và nâng cao chất lượng ĐTN chưa được quan tâm đứng mức.
- Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, yếu kém đó là
Cà Mau là tỉnh vùng sâu, trình độ dân trí kém; các cơ sở ĐTN chỉ mới đầu tư xây dựng vào những năm gần đây; điều kiện kinh phí của tỉnh có hạn nên số cơ sở đào tạo đầu tư đúng thực chất chưa nhiều.
Nhận thức về ĐTN của một bộ phận nhân dân và thanh niên còn chưa thật sự sâu sắc; tư tưởng muốn làm thầy, ngại làm thợ trong một bộ phận thanh niên khá phổ biến, làm ảnh hưởng quá trình phát triển công tác ĐTN.
Công tác tổ chức, quản lý của các cơ sở ĐTN chưa theo kịp với yêu cầu phát triển của sự nghiệp ĐTN. Các điều kiện về CSVC, trang thiết bị ở các cơ sở ĐTN công lập đầu tư chưa đáp ứng kịp thời với yêu cầu và quy mô đào tạo. Số lượng cơ sở đào tạo trình độ CĐN, TCN quá khiêm tốn so với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH của tỉnh.
Chất lượng đầu vào của người học nghề thấp; đội ngũ GV dạy nghề còn thiếu về số lượng, một số lĩnh vực còn hạn chế về kỹ năng thực hành nên chất lượng ĐTN chưa tương xứng với yêu cầu hiện nay. Cơ chế liên thông giữa các trình độ nghề với cao đẳng, đại học khác thực hiện rất khó khăn và vẫn chưa nơi nào thực hiện được.
Quan hệ giữa các cơ sở ĐTN với doanh nghiệp còn thiếu chặt chẽ. Nhiều doanh nghiệp và người sử dụng lao động chưa thấy được trách nhiệm và lợi ích của mình trong công tác ĐTN nên ý thức hỗ trợ, hợp tác với cơ sở ĐTN còn hạn chế.
2.2. Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo ở trường trung cấp nghề tỉnh Cà Mau Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
2.2.1 Tổ chức khảo sát
- Mục đích, qui mô khảo sát
Mục đích khảo sát là xác định những vấn đề cần quan tâm trong công tác QLCL ĐTN hiện nay và đánh giá thực trạng công tác QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau, qua đó xây dựng các giải pháp QLCL ĐTN nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo tại ở trường TCN tỉnh Cà Mau.
Quy mô khảo sát với tổng số: 245 người. Đối tượng được khảo sát, bao gồm:
CBQL (bao gồm: CBQL dạy nghề thuộc Sở LĐ-TB&XH Cà Mau; lãnh đạo, trưởng, phó các khoa và chuyên viên của nhà trường): 18 người; GV chuyên nghiệp: 27 người; HS đang học TCN chính quy tại trường: 200 người.
- Nội dung và kỹ thuật tiến hành khảo sát
Trưng cầu ý kiến của CBQL, GV và HS về những vấn đề cần quan tâm trong QLCL ĐTN hiện nay và đánh giá thực trạng công tác QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau.
Những nội dung được khảo sát
- ND.1- Quản lý tuyển sinh học nghề;
- ND.2- Quản lý mục tiêu, chương trình đào tạo nghề;
- ND.3- Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên;
- ND.4- Quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của học sinh;
- ND.5- Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý;
- ND.6- Quản lý tài chính nhà trường;
- ND.7- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo nghề;
- ND.8- Quản lý cơ cấu tổ chức bộ máy nhà trường;
- ND.9- Quản lý công tác liên kết đào tạo;
- ND.10- Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo nghề;
- ND.11- Các vấn đề khác.
Kỹ thuật tiến hành: Sử dụng bộ câu hỏi như Phụ lục 1 và Phụ lục 2.
2.2.2. Kết quả khảo sát Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
Đây là đề tài về quản lý nên chúng tôi xác định ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý sẽ có trọng số gấp đôi so với ý kiến đánh giá của giáo viên và học sinh.
Thông qua phiếu trưng cầu ý kiến thu lại được chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá kết quả. Kết quả khảo sát được xử lý định tính ở mức độ cụ thể như sau:
Đánh giá của CBQL và GV về những nội dung cần phải quan tâm trong công tác quản lý chất lượng đào tạo trung cấp nghề hiện nay.
Hình thức đánh giá được chúng tôi số hóa bằng thang điểm như bảng dưới đây, sau đó tính giá trị bình quân cho mỗi nội dung và xếp thứ bậc:
| Đánh giá | Điểm | |
| CBQL | GV | |
| Rất quan tâm | 4 điểm | 2 điểm |
| Quan tâm | 2 điểm | 1 điểm |
| Không quan tâm | 0 điểm | 0 điểm |
Bình quân của mỗi nội dung khảo sát được tính toán theo công thức:
Trong đó:
- N1: Số lượng CBQL tham gia khảo sát (N1=18) N2: Số lượng GV tham gia khảo sát (N2=27)
- A1, A2, B1, B2, C1, C2: Mức độ quan tâm của CBQL và GV (xem Phụ lục 3)
Kết quả khảo sát được thể hiện ở Phụ lục 3: Bảng tổng hợp đánh giá của CBQL và GV về những vấn đề cần quan tâm trong công tác QLCL đào tạo TCN hiện nay. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
Đánh giá của CBQL, GV và HS về thực trạng công tác quản lý chất lượng đào tạo ở trường trung cấp nghề tỉnh Cà Mau
Hình thức đánh giá được chúng tôi số hóa bằng thang điểm như bảng dưới đây, sau đó tính giá trị bình quân cho mỗi nội dung và xếp thứ bậc:
| Đánh giá | Điểm | ||
| CBQL | GV | HS | |
| Rất tốt | 6 điểm | 3 điểm | 3 điểm |
| Tốt | 4 điểm | 2 điểm | 2 điểm |
| Trung bình | 2 điểm | 1 điểm | 1 điểm |
| Yếu kém | 0 điểm | 0 điểm | 0 điểm |
Bình quân của mỗi nội dung khảo sát được tính toán theo công thức:
Đối với CBQL và GV:
Trong đó:
- N1: Số lượng CBQL tham gia khảo sát (N1=18) N2: Số lượng GV tham gia khảo sát (N2=27)
- A1, A2, B1, B2, C1, C2: Mức độ đánh giá thực trạng của CBQL và GV (xem Phụ lục 4)
Đối với HS:
Trong đó:
- N: Số lượng HS tham gia khảo sát (N=200)
- A, B, C, D: Mức độ đánh giá thực trạng của HS (xem Phụ lục 5)
Kết quả khảo sát được thể hiện ở Phụ lục 4: Bảng tổng hợp đánh giá của CBQL và GV về thực trạng công tác QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau và Phụ lục 5: Bảng tổng hợp đánh giá của HS về thực trạng công tác QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau.
- Hệ số tương quan thứ bậc Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
Mục đích tính hệ số tương quan thứ bậc là xác định tính thống nhất giữa ý kiến đánh giá của CBQL và GV với ý kiến đánh giá của HS về thực trạng công tác QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau. Qua đó, xác định các giải pháp chủ yếu trong QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau trong thời gian tới.
Qua số liệu ở Phụ lục 6: Bảng tương quan đánh giá thực trạng công tác QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau của CBQL, GV và HS. Chúng tôi tiến hành xây dựng biểu đồ nhằm thể hiện rõ ràng hơn trong đánh giá sự tương quan của thực trạng công tác QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau:
Để tính hệ số tương quan thứ bậc, ta áp dụng công thức tính hệ số tương quan thứ bậc Spearman [34]:
Trong đó:
N: Số lượng các đơn vị được xếp thứ bậc (N=11) R: Hệ số tương quan (-1 ≤ R ≤ 1).
Nếu giá trị của R càng gần 1 thì chứng tỏ mối tương quan càng chặt (0.7 ≤ R <1: Tương quan chặt). Nếu R≥0 là tương quan thuận, ngược lại R<0 là tương quan nghịch.
Dựa vào bảng dữ liệu ở Phụ lục 6, thay số vào công thức trên ta sẽ có kết quả như sau:
Nhận xét: với R=0.90, điều này chứng tỏ mối tương quan giữa sự đánh giá của CBQL và GV với đánh giá của HS là thuận và chặt chẽ, nghĩa là đánh giá của CBQL, GV và HS về thực trạng công tác QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau là thống nhất.
2.2.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý chất lượng đào tạo ở trường trung cấp nghề tỉnh Cà Mau
- Kết quả đánh giá về sự quan tâm đến những nội dung trong QLCL ĐTN hiện nay
Trong các nội dung QLCL ĐTN thì việc quản lý phát triển đội ngũ GV và CBQL được quan tâm nhất, thứ tự tiếp đến là quản lý hoạt động giảng dạy của GV; hoạt động học tập và rèn luyện của HS; quản lý tuyển sinh học nghề; quản lý CSVC, trang thiết bị phục vụ ĐTN; quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả ĐTN; quản lý mục tiêu, chương trình ĐTN; quản lý tài chính nhà trường; quản lý cơ cấu tổ chức bộ máy nhà trường; cuối cùng là quản lý công tác liên kết đào tạo và một ý kiến đề xuất khác.
- Kết quả đánh giá về thực trạng QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau
Đại đa số những người được khảo sát đều đánh giá công tác QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau thời gian qua tương đối tốt. Tuy nhiên, cũng không ít ý kiến cho rằng công tác QLCL ĐTN của nhà trường chỉ đáp ứng ở mức độ trung bình, thậm chí có một số nội dung yếu kém. Minh chứng là một số lượng không nhỏ HS tốt nghiệp ra trường chưa có việc làm hoặc làm việc không đúng ngành nghề, chất lượng HS ra trường chưa đáp ứng phần lớn nhu cầu của thị trường lao động.
Qua kết quả khảo sát, chúng tôi xác định công tác QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau trong thời gian tới cần tập trung vào 06 vấn đề trọng tâm đã được quan tâm nhất và sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp:
- Một là, quản lý phát triển đội ngũ GV và CBQL;
- Hai là, quản lý hoạt động giảng dạy của GV;
- Ba là, quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của HS;
- Bốn là, quản lý tuyển sinh học nghề;
- Năm là, quản lý CSVC, trang thiết bị phục vụ ĐTN;
- Sáu là, quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả ĐTN.
Bên cạnh đó, chúng tôi có nhận định về một số mặt mạnh, ưu điểm và những hạn chế, yếu kém trong công tác đào tạo và QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau trong thời gian qua, như sau [28]:
- Những mặt mạnh, ưu điểm Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
Trường TCN tỉnh Cà Mau từ khi chính thức đi vào hoạt động cho đến nay đã được mười năm. Số lượng nhân sự ban đầu của nhà trường chỉ có 05 người (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, GV phụ trách đào tạo, kế toán và thủ quỹ). Tuy nhiên, qua mười năm xây dựng và phát triển đến nay (06/2026) toàn trường đã có 50 người. Trong đó, lãnh đạo có 04 người, 11 CBQL (trưởng, phó phòng, khoa); 27 GV chuyên nghiệp và 10 viên chức khác. (Nguồn: Phòng Hành chính – Tổng hợp, trường TCN tỉnh Cà Mau).
Hằng năm, nhà trường đều cử cán bộ, viên chức tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tạo điều kiện cho tất cả cán bộ, viên chức trong trường có cơ hội để học tập nâng cao trình độ.
Phần lớn GV, CBQL có trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, quản lý, chấp hành tốt các qui định của nhà trường thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. Việc quản lý hoạt động dạy và học đã dần đi vào nề nếp.
Phong trào thi đua dạy tốt được phát huy và có hiệu quả, GV bám sát chương trình môn học, mô-đun, kế hoạch giảng dạy, điều chỉnh và cập nhật kiến thức mới phù hợp thực tế để đáp ứng mục tiêu của bài học. GV khi lên lớp hầu hết đã thực hiện tương đối đầy đủ các khâu của quá trình dạy học. Trong quá trình giảng dạy, trong mỗi bài học GV đã có sự đầu tư cho cho bài giảng như đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học hiện đại, chuẩn bị phương tiện, mô hình học cụ, đồ dùng dạy học phù hợp, làm cho các bài học thực hành trở nên sinh động, giúp cho quá trình nhận thức của HS dược dễ dàng hơn, sâu sắc hơn.
Định kỳ hàng năm trường tổ chức Hội giảng GV dạy nghề, Hội thi thiết bị dạy nghề tự làm, tổ chức các hình thức đăng ký thi đua, nghiên cứu các đề tài khoa học đã trở thành phong trào rộng khắp trong tập thể GV của trường.
Phần lớn HS tích cực tham gia các phong trào thi đua, các hoạt động học tập và các hoạt động ngoại khoá do trường, lớp tổ chức. Quá trình học tập và rèn luyện của HS được đánh giá thường xuyên, phê bình, khen thưởng kịp thời. HS thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với trường, lớp và nơi cư trú.
Lãnh đạo nhà trường rất quan tâm tới công tác tuyển sinh nên ngay từ đầu năm, nhà trường đã thành lập Hội đồng tuyển sinh. Công tác tuyển sinh được thực hiện bằng nhiều hình thức, đúng quy chế tuyển sinh của Bộ LĐ- TB&XH và đảm bảo nghiêm túc, công bằng, khách quan.
Công tác quản lý CSVC, trang thiết bị ĐTN được Hiệu trưởng phân công cụ thể từng GV kiêm nhiệm quản lý từng thiết bị, dụng cụ, vật tư trong xưởng thực hành. Việc mua sắm thường xuyên để phục vụ giảng dạy đều được dự trù, dự toán, giao nhận cụ thể. CSVC, trang thiết bị từng bước đưa vào sử dụng phục vụ cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học một cách hợp lý và có hiệu quả. Công tác bảo quản bảo dưỡng cũng được thực hiện thường xuyên, nhà trường đã xây dựng được hệ thống văn bản qui định việc sử dụng và bảo quản, bảo dưỡng trang thiết bị phù hợp.
Kiểm tra, đánh giá kết quả ĐTN được Hiệu trưởng xem là khâu then chốt trong công tác quản lý và bảo đảm chất lượng đào tạo. Phòng đào tạo là đơn vị được giao nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện sổ sách chuyên môn của GV theo từng học kỳ, năm học, thường xuyên theo dõi, quản lý giờ lên lớp của từng GV. Các Khoa chuyên môn và từng GV tham gia giảng dạy thường xuyên đánh giá việc tiếp nhận kiến thức và kỹ năng, đồng thời đánh giá ý thức kỷ luật, thái độ học tập, đạo đức nghề nghiệp đối với từng HS. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
Mỗi môn học, mô-đun được GV giảng dạy đánh giá qua các lần kiểm tra định kỳ, kiểm tra hết môn. Mỗi tháng, GV chủ nhiệm cùng tập thể lớp đánh giá kết quả rèn luyện của từng HS. Cuối mỗi học kỳ, năm học, khóa học Hội đồng xét kết quả học tập và rèn luyện của nhà trường được thành lập và xem xét, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của HS.
- Nguyên nhân những ưu điểm nêu trên:
Được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo UBND tỉnh và các sở ban ngành, đoàn thể trong tỉnh nhất là lãnh đạo Sở LĐ-TB&XH.
Hàng năm nhà trường được Hội đồng đào tạo cấp tỉnh giao chỉ tiêu đào tạo sớm, tạo nên sự chủ động cho nhà trường.
Lãnh đạo nhà trường rất quan tâm đến chất lượng đào tạo nghề, quan tâm đến các khâu của quá trình đào tạo của nhà trường.
Đội ngũ GV, CBQL đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tâm huyết với nghề và yên tâm công tác.
- Những mặt hạn chế, yếu kém
Bên cạnh những ưu điểm, mặt mạnh được trình bày ở trên, theo tác giả vẫn còn một số mặt hạn chế, yếu kém như sau:
- Thứ nhất, đối với công tác quản lý phát triển đội ngũ GV và CBQL
Số lượng GV cơ hữu vừa thừa, lại vừa thiếu ở một số ngành nghề; CBQL ở các đơn vị trực thuộc chưa đủ về số lượng, một số chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý về chuẩn chức danh và các mặt năng lực, phẩm chất.
Kỹ năng nghề của phần lớn GV còn yếu, chưa đáp ứng được những tiến bộ của khoa học, công nghệ, đa phần những GV trẻ tuổi chưa vững về chuyên môn, nghiệp vụ, chưa cải tiến được phương pháp trong giảng dạy.
Đội ngũ CBQL nhà trường, một phần chưa biết cải tiến cách thức quản lý. Một số CBQL chưa nhiệt tâm trong công tác, xem công việc ở đơn vị chỉ là “tay trái”. Việc xây dựng, quy hoạch đội ngũ kế thừa còn nhiều bất cập. Một số GV, CBQL chưa thật sự yêu nghề, còn tồn tại tâm lý “đứng núi này trông núi nọ”, sự sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân chưa cao.
- Thứ hai, công tác quản lý hoạt động giảng dạy của GV Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
Trong công tác giảng dạy vẫn còn nhiều GV chuẩn bị các khâu lên lớp chưa được tốt, thời gian đầu tư cho soạn giáo án, đề cương bài giảng còn mang tính chất đối phó, việc nghiên cứu cập nhật kiến thức mới bổ sung cho bài giảng, sử dụng thiết bị học cụ trong giảng dạy còn ít. GV không thường xuyên luyện tập rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo của nghề đặc biệt là số GV trẻ dẫn đến khi dạy thực hành việc làm mẫu chưa chuẩn mực. Điều này đã làm cho HS ra trường tay nghề không cao, chưa đáp ứng ngay với các yêu cầu của thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Công tác quản lý của các bộ phận chuyên môn đối với các hoạt động giảng dạy của GV trong nhà trường đôi khi còn chưa được thường xuyên, chưa sâu sát tới từng GV, từng lớp học. Công tác dự giờ thăm lớp còn nhiều hạn chế đôi khi còn chạy theo hình thức, chỉ lấy đó làm cơ sở để đánh giá thi đua chứ chưa thực sự đi vào chiều sâu và có chất lượng. Việc thực hiện sổ sách chuyên môn còn nhiều bất cập.
Nhiều GV chỉ sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, chưa thực hiện các phương pháp hiện đại theo hướng tích cực hoá HS nhằm phát triển năng lực tự học và tinh thần hợp tác của HS. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng học tập của HS giảm sút, chất lượng không cao.
- Thứ ba, công tác quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của HS
Bộ phận công tác HS của nhà trường chưa thực hiện tốt nhiệm vụ; việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho HS chưa được thực hiện đúng quy định, công tác quản lý HS của bộ phận chuyên môn còn nhiều yếu kém.
Công tác chủ nhiệm lớp còn lỏng lẻo; GV trực tiếp giảng dạy quản lý giờ dạy chưa tốt, chưa bám lớp, chưa nắm bắt được thực trạng thực tế tâm lý và động cơ học tập của HS để có phương pháp sửa chữa, uốn nắn kịp thời.
Kết quả học tập, rèn luyện chưa cao, số HS đỗ tốt nghiệp đạt loại khá, giỏi còn thấp và còn nhiều HS bị cấm thi, lưu ban. Tình trạng HS vi phạm nội quy, bỏ giờ học ở một số lớp vẫn thường xuyên diễn ra chưa khắc phục được.
Phương pháp hướng dẫn học thực hành còn đơn điệu, đây là một trong các nguyên nhân dẫn đến kết quả học thực hành còn thấp. Việc hướng dẫn HS tự học và công tác kiểm tra tự học của HS làm chưa tốt, chưa thường xuyên, chưa được chú trọng đúng mức.
- Thứ tư, quản lý công tác tuyển sinh học và tư vấn nghề
Mặc dù nhà trường đã sử dụng rất nhiều phương pháp trong công tác tuyển sinh, tuy nhiên số lượng HS hàng năm không đạt chỉ tiêu, chất lượng HS vào học rất thấp.
Công tác tư vấn nghề cho người học chưa thực hiện tốt, chưa có cán bộ chuyên trách, chưa tổ chức bồi dưỡng về kỹ năng tư vấn nghề cho cán bộ.
- Thứ năm, quản lý CSVC, trang thiết bị phục vụ ĐTN Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
Hiện tại, nhà trường đang trong giai đoạn chờ dự án đầu tư nên hệ thống các phòng học lý thuyết và các xưởng thực hành đều được xây dựng tạm bợ và đang xuống cấp, chưa có thư viện và phòng thực nghiệm.
Hệ thống trang thiết bị phục vụ đào tạo lạc hậu và chưa đồng bộ, chỉ tập trung ở một số ngành nghề, các ngành nghề khác chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng thiếu thiết bị ở một số ngành nghề.
Trình độ tay nghề của GV chưa đáp ứng trong việc sử dụng các trang thiết bị, chưa khai thác sử dụng hết tính năng của máy móc, thiết bị dẫn đến tình trạng lãng phí và không hiệu quả. HS được tiếp cận với thiết bị hiện đại ít và sử dụng trang thiết bị còn hạn chế.
Thiết bị thực hành ở một số ngành nghề thiếu, phải bố trí nhiều HS trên một thiết bị, thời lượng HS tiếp cận chưa đáp ứng được yêu cầu. Điều này, dẫn đến kết quả rèn luyện tay nghề chưa cao.
- Thứ sáu, quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả ĐTN
Việc kiểm tra đánh giá đối với các khoa, tổ bộ môn và GV còn chưa thường xuyên. Điều này dẫn đến các tổ bộ môn chưa thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, công tác dự giờ thăm lớp còn bỏ ngỏ; một số GV thực hiện sổ sách chuyên môn chủ yếu để đối phó, thời gian lên lớp chưa đảm bảo.
Việc đánh giá, kiểm tra ở một số khâu của quá trình đào tạo còn chưa được lãnh đạo xem trọng. Công tác đánh giá cuối năm đối với cán bộ, GV chưa hợp lý và chưa thật sự khách quan.
Việc tổ chức thi, kiểm tra còn chưa được chú trọng đến quy trình, tính khoa học, tính vừa sức cũng như khả năng đánh giá chính xác đối với từng HS. Đánh giá còn theo cảm tính, thiếu khách quan và kết quả chưa thực sự chính xác. Quá trình tổ chức thi, kiểm tra chưa thật sự chặt chẽ.
- Nguyên nhân những hạn chế, yếu kém:
Công tác tuyên truyền về tầm quan trọng của ĐTN đối với yêu cầu nhân lực trong sự nghiệp CNH-HĐH chưa đến từng người dân.
Tâm lý của người dân về khoa cữ còn nặng, họ chỉ chú trọng đến bằng cấp cao nên xem việc học cao đẳng, đại học sẽ hấp dẫn hơn so với học nghề.
Chương trình đào tạo TCN có thời gian học quá dài (02 năm đối với người có trình độ THPT và 03 năm đối với người có trình độ THCS). Đối với đối tượng tuyển sinh đầu vào chưa tốt nghiệp THPT thì bắt buộc phải bổ túc văn hóa, điều này gây thêm chán nản cho HS.
Chính sách liên thông từ học nghề lên cao đẳng, đại học khác thực hiện rất khó khăn. Trình độ ĐTN cao nhất hiện nay là CĐN, điều này làm cho HS muốn nâng cao trình độ là rất khó. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
Chủ trương phân luồng HS sau THCS qua học nghề ở địa phương còn chưa thực hiện được.
Nhà trường chưa có chiến lược dài hạn, việc quy hoạch chức danh công việc chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống.
Đội ngũ GV và CBQL nhiều người có tuổi đời và tuổi nghề còn ít, kinh nghiệm trong công tác chưa nhiều. Công tác tổ chức tập huấn, bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho GV và CBQL không được các cấp có thẩm quyền và nhà trường thực hiện thường xuyên.
- HS đăng ký học nghề hiện nay có trình độ học vấn thấp, chủ yếu là những HS bỏ học văn hóa.
- CSVC, trang thiết bị thiếu và lạc hậu nhưng ít được đầu tư mua sắm mới, đầu tư sửa chữa.
- Nhà trường chưa có bộ phận chuyên trách về khảo thí và kiểm định chất lượng ĐTN.
Qua kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng công tác QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
Một số khâu của quá trình đào tạo đã dần đi vào nề nếp, đó là yếu tố quan trọng tạo nên hiệu quả đào tạo.
Công tác quản lý mục tiêu, chương trình đào tạo được đảm bảo. Đội ngũ GV và CBQL nhiệt tình, tận tâm với nghề và thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trong công việc chủ động sáng tạo, luôn đạt hiệu quả cao; công tác quản lý tài chính được thực hiện tốt.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì công tác QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau cũng còn không ít những hạn chế, yếu kém:
Tuyển sinh hàng năm chưa đạt chỉ tiêu trên giao, cần có nhiều biện pháp cải tiến trong công tác tuyển sinh của nhà trường.
Đội ngũ CBQL và GV còn thiếu, không đồng bộ; công tác quản lý hoạt động dạy học của GV chưa khoa học nhất là việc dạy thực hành nghề; công tác quản lý học tập và rèn luyện của HS chưa đáp ứng yêu cầu; CSVC, trang thiết bị phục vụ ĐTN còn nhiều bất cập.
Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả ĐTN chưa khoa học, kế hoạch chưa chủ động, chưa thật sự công bằng và khách quan.
Qua nghiên cứu lý luận ở chương 1 và khảo sát, đánh giá thực trạng QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau ở chương 2, chúng tôi xem đây là cơ sở quan trọng để tác giả đề xuất những giải pháp QLCL đào tạo ở trường TCN tỉnh Cà Mau trong thời gian tới ở chương 3. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý chất lượng đào tạo ở trường nghề

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
