Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên theo các chuẩn nghề nghiệp trường trung học phổ thông Việt Bắc tỉnh Lạng Sơn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Đặc điểm địa phương và quá trình phát triển của trường Trung học phổ thông Việt Bắc

2.1.1. Đặc điểm tình hình Thành phố Lạng Sơn

  • Vị trí địa lý

Thành phố Lạng Sơn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội và khoa học- kỹ thuật của tỉnh, có 7.769,35 ha diện tích tự nhiên gồm 8 đơn vị hành chính cơ sở gồm 5 phường: Hoàng Văn Thụ, Tam Thanh, Chi Lăng, Đông Kinh, Vĩnh Trại và 3 xã: Hoàng Đồng, Mai Pha và Quảng Lạc.

Về vị trí tiếp giáp, phía Đông giáp các xã: Hợp Thành, Gia Cát, Tân Liên và thị trấn Cao Lộc (thuộc huyện Cao Lộc); phía Tây giáp các xã Đồng Giáp (huyện Văn Quan), Xuân Long (huyện Cao Lộc); phía Nam giáp các xã Tân Thành, Yên Trạch (huyện Cao Lộc) và xã Vân Thủy (huyện Chi Lăng); phía Bắc giáp các xã Thụy Hùng, Thạch Đạn (huyện Cao Lộc).

Thành phố Lạng Sơn có vị trí địa lý rất thuận tiện để giao thông phát triển kinh tế – xã hội như: Đường quốc lộ 1A đi Hà Nội, đường sắt liên vận quốc tế Việt- Trung, đường quốc lộ 1B đi Thái Nguyên, đường quốc lộ 4A đi Cao Bằng, quốc lộ 4B đi Quảng Ninh. Nằm liền kề với khu tam giác kinh tế năng động Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, do vậy thành phố Lạng Sơn trở thành đầu cầu của hành lang kinh tế Nam Ninh (Quảng Tây, Trung Quốc) – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải phòng – Quảng Ninh.

  • Điều kiện kinh tế – xã hội

Tính đến năm 2025, tổng dân số toàn thành phố là 89.382 người chiếm 12,5% dân số cả tỉnh, trong đó dân nội thành chiếm 78,5% tương đương với 70.165 người dân, dân số ngoại thành chiếm 21,5%. Là thành phố miền núi, nhưng thành phố Lạng Sơn có mật độ dân số trung bình khá cao với 1125,4 người/km2.

Trên địa bàn thành phố Lạng Sơn có các cộng đồng dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Cao Lan, Dao, Sán Dìu, Sán Chỉ, Ngái… sinh sống với những truyền thống văn hoá độc đáo, là điều kiện thuận lợi để thu hút khách thăm quan du lịch trong và ngoài nước đến với thành phố Lạng Sơn. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, năm 2025 đạt 16,5%. Trong đó, thương mại – dịch vụ tăng 23,85%, công nghiệp xây dựng tăng 13,24%, nông – lâm nghiệp tăng 3,65%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng tích cực: nông – lâm nghiệp chỉ chiếm 3,45%, công nghiêp – xây dựng chiếm 25,79%, còn lĩnh vực dịch vụ chiếm đến 70,76%.

Hoạt động thương mại – du lịch – dịch vụ trong nhiều năm qua diễn ra sôi động, đạt mức tăng trưởng khá. Mạng lưới chợ hoạt động ổn định, sức mua khá, tổng mức lưu chuyển hàng hoá 6 tháng đầu năm 2026 đạt 1318 tỉ đồng tăng 24,53% so với cùng kỳ năm 2025. Ngoài ra, doanh thu du lịch trên địa bàn đạt 560 tỉ đồng, tăng so với năm trước.

Bên cạnh đó, giá trị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp – xây dựng tăng thêm. Hoạt động sản xuất công nghiệp ổn định về quy mô, số cơ sở sản xuất, sản lượng, sản phẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn.

  • Giáo dục Về quy mô

Quy mô trường lớp ở các cấp học, ngành học ngày càng ổn định và phát triển, mở rộng phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, đáp ứng nhu cầu được học tập của con em nhân dân trên địa bàn Thành phố.

Bảng 2.1. Số liệu về giáo dục của thành phố Lạng Sơn năm 2025

  • Về chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục Mầm non: Tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ, mẫu giáo, trẻ 5 tuổi đến trường tăng so với năm học trước. Tiếp tục triển khai có hiệu quả Chương trình GDMN mới. Có biện pháp cụ thể, khắc phục khó khăn để triển khai thực hiện Chương trình; GV linh hoạt, sáng tạo trong đổi mới phương pháp, tạo môi trường phong phú cho trẻ tham gia tích cực các hoạt động. Chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ có những bước cải thiện tích cực: số trường, số trẻ được học bán trú 2 buổi/ngày, được ăn bán trú tăng so với năm học trước; Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở cả hai thể đều giảm đáng kể.

Chất lượng giáo dục Tiểu học: Chất lượng giáo dục chuyển biến tích cực, tỷ lệ khá, giỏi tăng, TB, yếu giảm so với năm học trước

Chất lượng giáo dục Trung học sơ sở và trung học phổ thông: Các giải pháp nâng cao chất lượng được triển khai đồng bộ đem lại hiệu quả rõ rệt. Chất lượng giáo dục trung học được chuyển biến tích cực, tỷ lệ học lực khá giỏi tăng cao. Giáo dục hạnh kiểm cấp học có chuyển biến tích cực, tỷ lệ hạnh kiểm tốt tăng 2,28% so với năm học trước, tỷ lệ hạnh kiểm trung bình giảm so với năm học trước.

Tuy nhiên, chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các trường, các phường xã trên địa bàn thành phố. Số HS tốt nghiệp Trung học phổ thông thi đỗ vào các trường đại học và cao đẳng hàng năm có tăng nhưng vẫn còn thấp so với các tỉnh Đồng bằng.

2.1.2. Sơ lược sự hình thành và phát triển của trường Trung học phổ thông Việt Bắc Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Trường Trung học phổ thông Việt Bắc được thành lập ngày 29 tháng 5 năm 1947 tại Phia Tráng tỉnh Cao Bằng. Trải qua các thời kỳ kháng chiến, nhà trường đã phải di chuyển địa điểm nhiều lần. Từ năm 1979 đến nay, trường được đặt tại số 72 đường Phai Vệ – Phường Đông Kinh – TP Lạng Sơn – Tỉnh Lạng Sơn.

Ngày đầu thành lập, trường chỉ có 60 HS và 5 thầy cô giáo. Trải qua 66 năm xây dựng và phát triển, trường đã đạt được nhiều thành tích trên các mặt hoạt động, góp phần đào tạo hàng vạn người lao động có trình độ, hàng ngàn CB có trình độ Cao đẳng, Đại học, trên đại học.

Thực hiện chủ đề năm học quyết tâm phấn đấu “quản lý tốt, giảng dạy tốt và học tập tốt” – Tiếp tục thực hiện hiệu quả, sáng tạo việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh “phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương, nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt”. Gắn với hành động, việc làm cụ thể: Phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương với đồng nghiệp, với phụ huynh học sinh và với nhân dân nơi cư trú; Gương mẫu trong lời nói, hành động, hiệu quả công tác .Tăng cường ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, trước yêu cầu bức thiết của việc nâng cao trình độ tin học, ứng dụng CNTT vào quản lý, soạn giảng, toàn thể CB quản lý và GV đã tích cực học tập, nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng ứng dụng CNTT.

Tiếp tục thực hiện các cuộc vận động Hai không với bốn nội dung, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”,

Với sự quan tâm của các cấp và sự nỗ lực của đội ngũ CB quản lý và Cán bộ giáo viên nhà trường, chất lượng GD toàn diện liên tục tăng, nhất là trong 5 năm trở lại đây: tỷ lệ HS đỗ tốt nghiệp luôn đạt trên 98%, tỷ lệ thi đỗ vào các trường Cao đẳng, Đại học đạt từ 35- 45%. Từ năm 1997 đến năm 2025, trường Trung học phổ thông Việt Bắc liên tục đạt danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh. Ngoài nhiệm vụ trọng tâm là dạy học những môn văn hóa cơ bản, công tác GD hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông được quan tâm đúng mức, các phong trào văn hóa, văn nghệ thể thao cũng được quan tâm đẩy mạnh, nhà trường thường xuyên tổ chức các hoạt động đa dạng, phong phú, bổ ích cho HS góp phần đẩy lùi tiêu cực, tệ nạn xã hội. Với những thành tích đã đạt được, nhà trường vinh dự được đón nhận những phần thưởng cao quý:

  • Năm 1951: Được Bác Hồ gửi thư khen ngợi
  • Năm 1958: Được UBHC khu Việt Bắc tặng Bằng khen
  • Năm 1990: Được nhà nước tặng Huân chương lao động hạng Ba
  • Năm 1997: Được nhà nước tặng Huân chương lao động hạng Nhì
  • Năm 2002: Được nhận Huân chương lao động hạng Nhất
  • Năm 2020: Được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng ba.
  • Năm 2025: Được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng nhì

2.1.3. Quy mô, chất lượng đào tạo của trường Trung học phổ thông Việt Bắc

2.1.3.1 Quy mô đào tạo Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

  • Bảng 2.2. Qui mô về học sinh Trường Trung học phổ thông Việt Bắc các năm học từ 2021 – 2026

Là trường Trung học phổ thông công lập duy nhất trên địa bàn TP Lạng Sơn, nên quy mô nhà trường tương đối lớn so với các trường Trung học phổ thông trong tỉnh Lạng Sơn. Tuy nhiên Cơ sở vật chất còn hạn chế (số phòng học 32, phòng học bộ môn: 03; phòng thực hành Tin: 02) nên nhà trường gặp khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động NGLL, số học sinh trong một lớp đông nên gặp khó khăn trong việc đổi mới phương pháp giang dạy. Đây cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục hai mặt của nhà trường.

2.1.3.2 Chất lượng

  • Bảng 2.3. Chất lượng giáo dục các năm học từ 2021-2026
  • Biểu đồ 2.1: Kết quả học tập của học sinh

Kết quả Học sinh giỏi toàn diện còn rất ít ( đạt 3%) và không ổn định, vẫn còn khá nhiều học sinh học lực yếu (2,95%). Để tiến tới đạt trường chuẩn quốc gia nhà trường cần cải thiện 2 chỉ số trên: tăng số học sinh khá, giỏi đặc biệt là học sinh giỏi toàn diện lên trên 3% và giảm số học sinh yếu xuống dưới 2%

  • Biểu đồ 2.2: Kết quả rèn luyện của học sinh

Qua kết quả thống kê và nghiên cứu thực tế tại nhà trường cho thấy: đa số học sinh nhà trường đã có nhận thức tốt (Hạnh kiểm Khá Tốt chiếm trên 95%) hạnh kiểm yếu giảm. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận học sinh chưa có ý thức tự giác cao, do đó còn thờ ơ xem thường kỷ cương nề nếp nhà trường dẫn tới vi phạm nội quy, quy chế (HK yếu 0,8 %) còn vi phạm luật an toàn giao thông, bạo lực học đường. Nhà trường đã có nhận thức khá cao về vai trò và tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, đã tổ chức các buổi hội thảo GVCN,tích cực thực hiện các biện pháp “Giáo dục kỉ luật tích cực” nhằm giáo dục học sinh phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của nhà trường do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan còn bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập chưa đáp ứng yêu cầu giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện nay.[ 39]. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Song song với việc duy trì chất lượng đại trà, chất lượng đào tạo của nhà trường còn thể hiện qua kết quả thi Học sinh giỏi các cấp, qua số lượng học sinh thi đỗ các trường ĐH-CĐ. Là một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn về kinh tế, trình độ phát triển giáo dục còn thấp nhưng trường Trung học phổ thông Việt Bắc đã quan tâm, chỉ đạo và tạo mọi điều kiện để học sinh tích cực học tập và giáo viên làm tốt công tác bồi dưỡng Học sinh giỏi và ôn luyện thi ĐH-CĐ nên số lượng đạt học sinh giỏi các cấp và học sinh thi đỗ ĐH-CĐ đều tăng thể hiện sự nỗ lực học tập của học sinh, sự tận tuỵ và trách nhiệm của giáo viên giảng dạy. Tuy nhiên chất lượng giải không cao, số giải nhất-nhì rất thấp và tập chung chủ yếu là giải khuyến khích (trên 50%).

  • Bảng 2.4: Số Học sinh giỏi giỏi và đỗ ĐH – CĐ

2.2. Thực trạng về đội ngũ giáo viên và năng lực dạy học của giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc

2.2.1. Số lượng, trình độ đào tạo

  • Bảng 2.5 : Cơ cấu và trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên Năm 2026

Số lượng giáo viên đạt tỉ lệ 2.22 GV/lớp, chưa đủ so với quy định tại TT 35/2019/ TTLT-BGD&ĐT-BNV, ngày 23/8/2019 là 2.25 GV/lớp, vì vậy khó khăn cho việc bố trí GV đi học nâng cao trình độ.

Qua thống kê về giới tính của giáo viên trong 03 năm học trở lại đây, số lượng giáo viên nữ nhiều hơn nam, năm học 2025 -2026, nữ: 78.7%, sự chênh lệch về giới tính khiến công việc quản lý gặp khó khăn trong duy trì thời gian, thời khóa biểu, do phụ nữ thường nghỉ chế độ như thai sản, ốm hoặc theo thiên chức người vợ, người mẹ trong gia đình nên việc tự đào tạo, bồi dưỡng chưa cao. Điều này đòi hỏi công tác quản lý đội ngũ giáo viên của nhà trường cần quan tâm chú ý đến các điều kiện, khả năng của giới tính để tìm ra những biện pháp quản lý, bố trí nhiệm vụ phù hợp và thuận lợi cho đội ngũ giáo viên.

Về trình độ đào tạo 100% đạt chuẩn đào tạo nhưng số lượng giáo viên đạt trình độ đào tạo trên chuẩn còn quá ít (7.7%) do đi đào tạo về thường chuyển công tác đến các vị trí thuận lợi hơn. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao năng lực đội ngũ và yêu cầu đạt trường chuẩn Quốc gia, trong thời gian tới nhà trường cần tạo điều kiện, khuyến khích và có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, có chính sách đãi ngộ hợp lý nhằm xây dựng đội ngũ ổn định về nhân sự, phát triển về chất lượng chuyên môn, năng lực nghề nghiệp.

2.2.2. Độ tuổi

  • Bảng 2.6: Thống kê độ tuổi của đội ngũ giáo viên

Nhìn vào cơ cấu theo độ tuổi của đội ngũ giáo viên của trường Trung học phổ thông Việt Bắc trong năm học 2025 – 2026 ta có nhận xét sau: về mặt mạnh của đội ngũ giáo viên: Giáo viên dưới 30 tuổi có 34 người, chiếm tỷ lệ 21.9%, đây là lực lượng giáo viên có sức khỏe tốt, được đào tạo cơ bản, có kiến thức về chuyên môn tốt, có khả năng nhận thức tiếp thu cái mới nhanh, năng nổ, nhiệt tình với công việc. Giáo viên từ 30 đến 45 tuổi có 113 người, chiếm tỷ lệ 72.9%. Giáo viên ở độ tuổi này có độ chính chắn nhất định về nhận thức xã hội và về nghề nghiệp, tự tin, có bản lĩnh nghề nghiệp, đã tích lũy được những vốn kiến thức và kinh nghiệm thực tế. Giáo viên trên 45 tuổi có 8 người, chiếm tỷ lệ 5.2%. Số giáo viên ở độ tuổi này họ được rèn luyện, phấn đấu với thời gian tương đối dài, có kinh nghiệm trong công tác, có uy tín trong đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh.

Về mặt hạn chế của đội ngũ GV: Trước thực tế nhìn vào tuổi đời của GV ta có thể nhận thấy rằng, giáo viên có tuổi đời trẻ, thâm niên giảng dạy còn mới, vốn sống thực tiễn chưa nhiều thiếu kinh nghiệm trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục học sinh, yếu về kỹ năng quản lý lớp học và cách ứng xử với các đồng nghiệp, phụ huynh. Còn số GV có tuổi đời ngoài 45 tuổi do thâm niên công tác nên một số GV hay dựa vào kinh nghiệm, thiếu sự năng động trong việc tiếp nhận, chọn lọc những tri thức mới, năng lực tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ.

2.2.3. Thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

  • Về phẩm chất chính trị, đạo đức

Kết quả đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của đội ngũ giáo viên trong các năm học từ 2021 đến 2026 như trong bảng 2.7.

  • Bảng 2.7: Tổng hợp đánh giá xếp loại phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc
  • Biểu đồ 2.3 : Xếp loại phẩm chất chính trị, đạo đức của giáo viên

Đội ngũ giáo viên của trường Trung học phổ thông Việt Bắc được đánh giá có lập trường tư tưởng vững vàng, phần lớn an tâm công tác, chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao, thực hiện tốt nề nếp kỷ cương trong nhà trường, có đạo đức tác phong, lối sống chuẩn mực. Đội ngũ giáo viên thể hiện khá rõ nét lòng yêu nghề, tinh thần hợp tác với đồng nghiệp, tận tuỵ với học sinh, bao dung và cư xử công bằng với học sinh, quan tâm giúp đỡ học sinh trong sinh hoạt và học tập, tạo được niềm tin yêu của học sinh và quí cha mẹ học sinh [39].

Tuy nhiên qua số liệu thống kê vẫn còn số ít GV bị đánh giá là TB và trong 2 năm học gần đây tỉ lệ xếp loại tố giảm và xuất hiện những giáo viên bị xếp loại kém vì lí do chưa chấp hành đúng quy chế chuyên môn, tắc trách, bê trễ trong công việc, 7 giáo viên bị xếp loại kém năm học 2025-2026 là do vi phạm quy chế chuyên môn.

  • Về trình độ năng lực chuyên môn và nghiệp vụ

Việc đánh giá xếp loại chuyên môn nghiệp vụ chủ yếu được đánh giá qua kết quả các giờ thao giảng, qua kết quả thi GV dạy giỏi hoặc giờ thanh tra với các tiêu chí đánh giá giờ dạy tại hướng dẫn số 10227/THPT ngày 11/9/2001 của Bộ GD&ĐT hướng dẫn đánh giá và xếp loại giờ dạy ở bậc Trung học phổ thông. Kết quả đánh giá tiết dạy của giáo viên được chia theo 4 loại: Tốt, Khá, Trung bình (đạt yêu cầu) và Kém (chưa đạt yêu cầu). Mỗi giáo viên được tổ chuyên môn, trường hoặc thanh tra dự giờ ít nhất hai tiết trong một học kỳ, trong trường hợp vẫn chưa quyết định được việc xếp loại thì dự tiết thứ ba để đánh giá xếp loại.

  • Bảng 2.8 : Tổng hợp kết quả đánh giá xếp loại chuyên môn
  • Biểu đồ 2.4 : Kết quả đánh giá xếp loại chuyên môn

Ưu điểm: Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Nhiều giáo viên có năng lực chuyên môn vững vàng, tích cực tự học và sang tạo, cải tiến phương pháp giảng dạy để không ngừng nâng cao năng lực nghề nghiệp của bản thân. Đây là đội ngũ cốt cán cho nhà trường trong việc đổi mới Phương pháp dạy học, đổi mới KTĐG nhằm phát huy tính tức cực học sinh để nâng cao chất lượng GD của nhà trường trong các năm học vừa qua.

Một số GV trẻ tuy kinh nghiệm thực tiễn chưa cao nhưng có trình độ vững vàng, tích cực học hỏi đồng nghiệp và mạnh dạn ứng dụng các Phương pháp dạy học mới nên được đánh giá cao trong nhà trường.

  • Nhược điểm:

Trong nhà trường còn một số ít giáo viên lớn tuổi, năng lực chuyên môn hạn chế, ngại đổi mới phương pháp, nhất là việc ƯD CNTT vào dạy học, chưa tích cực tham gia các lớp bồi dưỡng và tự bồi dưỡng. Tác phong lao động của số GV này ảnh hưởng ít nhiều đến sự quản lý điều hành chung của nhà trường.

Phần lớn GV trẻ được đào tạo cơ bản nhưng còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn nên trong quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh còn hạn chế về các kỹ năng: kỹ năng giải quyết các tình huống sư phạm, kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục,…

  • Nguyên nhân:

Công tác điều hành quản lý của nhà trường còn bị ảnh hưởng nếp nghĩ cũ, cách làm cũ. Cán bộ quản lý đa phần có năng lực về chuyên môn nhưng ít kinh nghiệm và chưa được đào tạo bồi dưỡng về công tác quản lý phát triển đội ngũ.

Số giáo viên tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng chuyên môn giảm do một số giáo viên Giỏi được Sở điều động công tác khác : lên Sở phụ trách bộ môn, sang trường Chuyên và điều động phần lớn số giáo viên mới là các SV mới ra trường

Công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cho GV chưa được quan tâm đúng mức, chưa có các biện pháp thiết thực và khả thi.

Công tác thanh tra, kiểm tra và đánh giá GV nhiều khi còn chưa chặt chẽ còn mang tính hình thức. Kết quả đánh giá còn nặng về thành tích hoặc mang tính cào bằng nên chưa tạo được động lực vươn lên thật sự của nhiều giáo viên.

Một bộ phận GV chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa tích cực, chủ động trong học tập và bồi dưỡng để nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Trong giai đoạn hiện nay do phân cấp quản lý nên nhà trường nhiều khi chưa có cơ chế đãi ngộ tương xứng và tạo điều kiện tốt nhất về chính sách, về tổ chức, về Cơ sở vật chất để GV yên tâm công tác, toàn tâm trong công việc của nhà trường.

2.2.4. Thực trạng về năng lực dạy học của giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc so với yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên

Để đánh giá đúng thực trạng về năng lực dạy học của giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc so với yêu cầu chuẩn hóa, tác giả đã thăm dò khảo sát thực trạng giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc theo 3 bước:

  • Bước 1: Giáo viên tự đánh giá, xếp loại (theo mẫu tại phụ lục 1)
  • Bước 2: Tổ chuyên môn đánh giá, xếp loại ( theo mẫu tại phụ lục 2, 3 )
  • Bước 3: Hiệu trưởng đánh giá xếp loại ( theo phụ lục 4 )

Kết quả cụ thể:

  • Bảng 2.9: Kết quả do Giáo viên tự đánh giá năm học 2025-2026
  • Bảng 2.10: Kết quả do Tổ chuyên môn và Hiệu trưởng đánh giá

Từ thực tiễn quản lý và qua kết quả điều tra, khảo sát trên cho thấy:

2.2.4.1 Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch dạy học

Tất cả giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc đều xây dựng kế hoạch dạy học trong năm học: kế hoạch thể hiện đủ các bước của quá trình xây dựng kế hoạch như căn cứ xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ chính cần thực hiện, kế hoach cụ thể theo thời gian và bổ sung rút kinh nghiệm. Trong kế hoạch đã nêu các phần công việc phải thực hiện theo thời gian, lực lượng phối hợp và điều kiện để thực hiện kế hoạch. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Ngoài kế hoạch theo năm, theo tháng thì giáo viên còn phải xây dựng kế hoạch giảng dạy của bài học (giáo án), kế hoạch dạy học theo bài cũng thể hiện rõ các bước: mục tiêu bài dạy, phương tiện, cần chuẩn bị kiểm tra bài cũ và những hoạt động chính kết hợp chặt chẽ giữa dạy và học, giữa dạy học và giáo dục, tiến độ thực hiện phù hợp, khả thi. Kế hoạch dạy học năm học, bài học luôn được bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế.

Việc lập kế hoạch bài học là việc làm thường xuyên liên tục và được giáo viên quan tâm và chuẩn bị hàng ngày trước khi lên lớp. Kế hoạch bài học cũng đã thể hiện được các yêu cầu về mục tiêu (Kiến thức, kỹ năng, thái độ), về phương pháp, về chuẩn bị đồ dùng phương tiện dạy học, đã thể hiện sự thồng nhất giữa dạy và học, giữa dạy học và giáo dục, đã tính đến đặc điểm học sinh và đồng thời có dự kiến được các tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách xử lý.

Nhiều giáo viên việc lập kế hoạch kỳ và năm còn mang tính hình thức và chưa được sự quan tâm sâu sắc và chưa thấy ý nghĩa của công tác lập kế hoạch. Mặt khác một số giáo viên cũng chưa có kỹ năng lập kế hoạch, đồng thời còn ngại có quan điểm chưa đúng về vai trò của việc lập kế hoạch.

2.2.4.2 Thực trạng việc đảm bảo kiến thức môn học, chương trình môn học so với yêu cầu chuẩn hóa

  • Đảm bảo kiến thức môn học

Phần lớn giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc nắm vững nội dung môn học được phân công, mạch kiến thức môn học, xuyên suốt cấp học để đảm bảo tính chính xác, lôgíc, hệ thống, nắm được mối liên hệ giữa kiến thức môn học được phân công dạy với các môn học khác đảm bảo quan hệ liên môn trong dạy học.

Mỗi môn có từ 3 đến 4 giáo viên có kiến thức chuyên sâu, rộng về môn học để có thể bồi dưỡng Học sinh giỏi, ôn thi Đại học cho học sinh có thể giúp đỡ đồng nghiệp những vấn đề chuyên môn mới và khó.

Tuy nhiên vẫn còn một vài giáo viên chỉ nắm vững nội dung môn học được phân công để đảm bảo dạy học chính xác, có hệ thống.

  • Đảm bảo chương trình môn học

Phần lớn giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc đảm bảo được chương trình môn học, thực hiện đúng và đủ các nội dung chương trình mà Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, không cắt bớt và dạy ngoài nội dung đã được quy định. Có bố trí thêm những tiết dạy tự chọn cho một số môn cơ bản.

Phần lớn giáo viên đảm bảo dạy học đúng theo chuẩn kiến thức kỹ năng của chương tình môn học, thực hiện đúng kế hoạch dạy học đã thiết kế, có chú ý thực hiện yêu cầu phân hóa.

Bên cạnh đó còn một số ít giáo viên còn dồn ép chương trình, một số bài chưa xác định được đúng mục tiêu trọng tâm của bài, chưa bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng . Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

2.2.4.3 Thực trạng việc vận dụng các phương pháp dạy học, sử dụng các phương tiện dạy học, xây dựng môi trường học tập

  • Vận dụng các phương pháp dạy học

Đa số giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc tiến hành một cách hợp lý các phương pháp dạy học đặc thù của môn học phù hợp với tình huống cụ thể trong giờ học theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức, chủ động học tập của học sinh, giúp học sinh biết cách tự học.

Mỗi bộ môn có khoảng 40% đến 50% giáo viên biết phối hợp linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học gây được hứng thú học tập, kích thích tính tích cực, chủ động học tập của học sinh và rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh.

Đặc biệt có một số giáo viên luôn tích cực, chủ động trong việc đổi mới cách tổ chức dạy học, phối hợp một cách thành thục, khoa học, sáng tạo các phương pháp dạy học đặc thù của môn học, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học theo hướng phân hóa, phát huy tính tích cực nhận thức và phát triển kỹ năng tự học của học sinh.

Tuy nhiên, vẫn còn có một số giáo viên chỉ vận dụng được một số phương pháp dạy học đặc thù của môn học theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh đã xác định trong kế hoạch bài học.

  • Sử dụng các phương tiện dạy học

Số đông các đồng chí giáo viên nhà trường sử dụng một cách thành thạo các phương tiện dạy học truyền thống và biết sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại làm tăng hiệu quả dạy học như: biết sử dụng thành thạo các thiết bị, thí nghiệm, các phương tiện hỗ trợ của bộ môn như: tranh, ảnh, mô hình … biết sử dụng máy tính, máy chiếu, internet, các thiết bị thí nghiệm mới hiện đại và các phương tiện khác.

Khoảng một 60% số giáo viên biết lựa chọn chuẩn bị và sử dụng phương tiện dạy học phù hợp với mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học của bài học. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Tiêu biểu có một số giáo viên biết sử dụng một cách sáng tạo các phương tiện dạy học truyền thống kết hợp với máy tính, mạng internet và các thiết bị dạy học khác, biết cải tiến phương tiện dạy học, biết sưu tầm, tự làm và sáng tạo những phương tiện dạy học mới.

Nhưng vẫn còn số đông giáo viên chỉ biết sử dụng những phương tiện dạy học quy định trong chương trình môn học, trong danh mục thiết bị dạy học môn học mà không có sự cải tiến hay linh hoạt.

Đặc biệt còn một vài giáo viên chưa thực sự thành thạo trong việc sử dụng các phương tiện dạy học, lười sử dụng các phương tiện dạy học trong quá trình giảng dạy và chưa biết cách lựa chọn, sử dụng các phương tiện dạy học phù hợp với mục tiêu, nội dung, phương pháp của bài học.

  • Xây dựng môi trường học tập

Phần lớn giáo viên đã biết tạo bầu không khí hăng say học tập, kích thích được tính tích cực chủ động của học sinh, lôi cuốn mọi học sinh tham gia vào các hoạt động học tập, tạo dựng được môi trường học tập dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh. Như biết khuyến khích học sinh mạnh dạn tự tin không chỉ trả lời câu hỏi của giáo viên mà còn nêu thắc mắc và trình bày ý kiến của mình. Tạo ra các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể trong quá trình dạy học để các em học sinh được tham gia nhiều hơn từ đó tạo nên sự tự tin, dân chủ và sự hợp tác trong quá trình dạy học.

Đặc biệt có một số giáo viên đã biết cách ứng xử khéo léo, linh hoạt trong quá trình giảng dạy. Như luôn giữ thái độ bình tĩnh trong mọi tình huống, tôn trọng ý kiến học sinh, biết tổ chức các hoạt động để học sinh chủ động phối hợp giữa làm việc cá nhân và nhóm tạo không khí thi đua lành mạnh trong lớp học, đảm bảo điều kiện học tập an toàn.

Tuy nhiên, vẫn còn một số ít giáo viên chưa tạo ra được bầu không khí học tập thân thiện, lành mạnh chưa khuyến khích được học sinh học tập sôi nổi, tiết dạy còn trầm hoặc không khí giờ dạy còn căng thẳng.

2.2.4.4 Thực trạng việc quản lý hồ sơ dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

  • Quản lý hồ sơ dạy học

Phần lớn giáo viên đã quan tâm tới việc xây dựng, bảo quản, sử dụng hồ sơ dạy học. Đầu năm học và trong quá trình dạy học hầu hết giáo viên luôn phải chuẩn bị, hoàn thiện, sử dụng và bảo quản hồ sơ dạy học.

Số đông giáo viên đã biết cách xây dựng, sử dụng và bảo quản hồ sơ phù hợp với nhiệm vụ công tác của mình, các tài liệu, tư liệu được sắp xếp một cách khoa học và dễ dàng sử dụng.

Một số đồng chí đã biết cách xây dựng, xử dụng, quản lý hồ sơ có hiệu quả, sáng tạo và khoa học. Biết ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xây dựng, lưu giữ và thu thập tư liệu bổ sung thường xuyên vào hồ sơ dạy học, phục vụ tốt cho việc dạy học.

Cá biệt vẫn còn một số giáo viên còn chưa cẩn thận, không khoa học trong việc xây dựng, sử dụng và bảo quản hồ sơ.

  • Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Đại bộ phận giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc vận dụng được chuẩn kiến thức kỹ năng môn học để xác định mục đích, nội dung kiểm tra đánh giá và lựa chọn các phương pháp, hình thức kiểm tra, đánh giá phù hợp. Giáo viên đã chủ động trong việc tự tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo quy định của môn học.

Phần lớn giáo viên sử dụng thành thạo các phương pháp truyền thống và hiện đại để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, đảm bảo tính công khai, khách quan, chính xác, toàn diện và công bằng, biết sử dụng kết quả kiểm tra đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy và học.

Đặc biệt có một số giáo viên biết sử một cách linh hoạt, sáng tạo các phương pháp truyền thống và hiện đại, biết tự thiết kế công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, đảm bảo tính công khai, khách quan,chính xác, toàn diện và công bằng, biết sử dụng kết quả, kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy học và phát triển năng lực học tự đánh giá của hoc sinh.

Một số giáo viên chưa thực sự nắm vững và hiểu sâu sắc các tiêu chí về năng lực dạy học của chuẩn nghề nghiệp giáo viên do Bộ GD&ĐT ban hành cho nên khi vận dụng nó vào việc tự đánh giá, xếp loại là chưa chính xác. Mặt khác khi tự đánh giá giáo viên chưa coi trọng các minh chứng.

2.3. Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học của giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc theo chuẩn của Bộ GD&ĐT Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

2.3.1. Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng giáo viên

Kết quả xin ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc về tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên THPT được cho trong bảng sau:

  • Bảng 2.11. Kết quả điều tra khảo sát về tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng Năng lực sư phạm cho GV Trung học phổ thông

Qua kết quả cho thấy:

Đa số giáo viên đã nhận thức được rằng việc bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên là rất cần thiết, đặc biệt là bồi dưỡng về năng lực dạy học

2.3.2. Thực trạng về lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực dạy học

Kết quả xin ý kiến về việc lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực dạy học giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc theo chuẩn nghề nghiệp được thể hiện ở bảng sau:

  • Bảng 2.12: Ý kiến đánh giá của giáo viên về việc lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực dạy học giáo viên của trường Trung học phổ thông Việt Bắc theo chuẩn nghề nghiệp

Qua kết quả trên cho thấy:

Việc lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực dạy học giáo viên đã được Ban giám hiệu nhà trường quan tâm triển khai thực hiện. Kế hoạch bồi dưỡng cũng đã xác định được mục tiêu, mục đích và chương trình hoạt động bồi dưỡng trong năm học của trường. Đồng thời chỉ ra phương án, xác định các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu đó. Tuy nhiên việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực cho giáo viên hiện nay vẫn còn chung chung, chưa cụ thể rõ ràng ,chưa vạch ra được mục tiêu và chương trình hoạt động trong thời gian tới của nhà trường. Đặc biệt tính khả thi và việc triển khai các nội dung mà kế hoạch vạch ra còn hạn chế. Kế hoạch đã xác định cụ thể được các mốc thời gian bắt đầu và kết thúc của các công việc, nhiệm vụ đề ra nhưng khi thực hiện còn phải điều chỉnh nhiều.

2.3.3. Nội dung bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Trong những năm qua, các trường Trung học phổ thông Việt Bắc Thành phố Lạng Sơn đã tích cực bồi dưỡng năng lực dạy học để nâng cao chất lượng đội ngũ. Ban giám hiệu nhà trường đã lựa chọn các nội dung phù hợp, thiết thực, mang tính đồng bộ để triển khai công tác bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên. Những nội dung đó bao gồm: Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm; Bồi dưỡng kiến thức chuyên môn; Bồi dưỡng phương pháp dạy học tiên tiến; Bồi dưỡng ứng xử sư phạm; Bồi dưỡng tác phong sư phạm; Bồi dưỡng tin học, ngoại ngữ.

2.3.4. Phương pháp bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên

Để thực hiện những nội dung bồi dưỡng nêu trên, tùy thuộc vào tình hình cụ thể về đội ngũ ngũ giáo viên các TCM của nhà trường, hiệu trưởng đã vận dụng các phương pháp bồi dưỡng sau: Phương pháp bồi dưỡng trực tiếp; Phương pháp bồi dưỡng gián tiếp; Phương pháp phân công giáo viên giỏi giúp đỡ giáo viên mới.

2.3.5. Hình thức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên

Dựa vào kế hoạch năm học của Bộ, của Sở, Hiệu trưởng sẽ thiết lập các hình thức bồi dưỡng giáo viên tương ứng về kế hoạch, phù hợp với điều kiện và nhu cầu phát triển đội ngũ để không ảnh hưởng tới việc triển khai các mặt hoạt động của nhà trường, đem lại hiệu quả thiết thực cho mỗi thầy, cô giáo. Những hình thức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên thường được hiệu trưởng áp dụng là: Bồi dưỡng dài hạn, ngắn hạn; Bồi dưỡng theo chuyên đề; Bồi dưỡng theo hình thức tự bồi dưỡng; Tham gia hội thảo, hội thi, hội giảng.

Để có được bức tranh cụ thể, phản ánh tính phù hợp của các nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mà hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Việt Bắc đã triển khai trong thực tế, đồng thời tạo cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên, chúng tôi đã điều tra thực trạng 155 cán bộ quản lý và giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc (trong đó có 11 cán bộ quản lý là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn, 144 giáo viên đang trực tiếp giảng dạy). Trong quá trình điều tra, để lượng hoá các mức độ đánh giá (mức độ cần thiết, mức độ thực hiện, mức động tác dụng …) chúng tôi đã tiến hành cho điểm tương ứng với các mức độ đó, cách tính điểm được thể hiện trên bảng số 2.13. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

  • Bảng 2.13. Xác định điểm số cho các mức độ đánh giá

2.4. Kết quả điều tra thực trạng về nhận thức đối với các nội dung bồi dưỡng của trường Trung học phổ thông Việt Bắc

Qua điều tra thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực day học cho đội ngũ giáo viên Trường Trung học phổ thông Việt Bắc cho thấy, hiệu trưởng nhà trường đã nhận thức vai trò, vị trí, tầm quan trọng của việc quản lý nội dung chương trình bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên.

Các đồng chí trong Ban giám hiệu và TTCM đều cho rằng cần phải có một nội dung chương trình bồi dưỡng cụ thể cho đội ngũ giáo viên với những nhiệm vụ trọng tâm nhằm tác động tốt tới khả năng và năng lực của mỗi giáo viên.

Khi công tác bồi dưỡng được thực hiện có kết quả sẽ góp phần xây dựng một đội ngũ vững mạnh về chuyên môn và tạo sức mạnh cho mọi hoạt động khác của các trường. Kết quả điều tra về vấn đề này được thể hiện qua số liệu thống kê ở bảng 2.14.

  • Bảng 2.14. Thực trạng nhận thức mức độ cần thiết của các nội dung bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên

Nhận xét:

  • Từ kết quả bảng 2.14. cho thấy:

Các nội dung bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên được cán bộ quản lý và giáo viên nhận thức mức độ cần thiết khá cao với điểm trung bình chung 2,6 so với điểm trung bình cao nhất Xmax= 3. Còn điểm trung bình chung của các biện pháp dao động từ 2,36 £ X £ 2,82.

  • Bảng 2.15. Thực trạng nhận thức mức độ thực hiện các nội dung bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên

So sánh mức độ nhận thức giữa cán bộ quản lý và giáo viên thì nhận thức về mức độ cần thiết của cán bộ quản lý cao hơn của giáo viên nhưng không đáng kể. Đối với cán bộ quản lý thì X1 = 2, 74 , còn đối với cán bộ giáo viên thì X 2 = 2, 60, điều đó cho thấy các nội dung bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Việt Bắc đã được cán bộ quản lý và giáo viên nhận thức rõ ràng và phù hợp với nhau. Trong đó nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và nội dung bồi dưỡng qui chế chuyên môn và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn được cán bộ quản lý quan tâm hơn nội dung bồi dưỡng ứng xử sư phạm có tỷ lệ thấp chứng tỏ hiệu trưởng chưa quan tâm đến nội dung bồi dưỡng ứng xử sư phạm. Đối với giáo viên, cả 7 nội dung đều có X  > 2.

Nhận xét:

  • Từ kết quả ở bảng 2.15 cho thấy:

Các biện pháp quản lý đã được các cán bộ quản lý và giáo viên nhận thức ở mức độ thực hiện khá cao, với điểm trung bình chung X = 2,52, so với điểm trung bình chung cao nhất là X max = 3 và điểm trung bình giao động từ 2,18 đến 2,91. Trong đó có 4 biện pháp có  X > 2,5 chiếm tỷ lệ 57%. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Nhóm biện pháp 5,6 và 7 được nhận thức là đôi khi mới thực hiện trong quá trình quản lý nội dung bồi dưỡng đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng.

So sánh mức độ nhận thức giữa cán bộ quản lý và giáo viên thì nhận thức về mức độ thực hiện của cán bộ quản lý cao hơn của giáo viên nhưng không đáng kể.

Đối với cán bộ quản lý và giáo viên thì 7 biện pháp đưa ra đều có X > 2. Điều đó chứng tỏ rằng các biện pháp quản lý nội dung bồi dưỡng của hiệu trưởng đã và đang được thực hiện thường xuyên tại trường Trung học phổ thông Việt Bắc

  • Bảng 2.16. Thực trạng nhận thức mức độ tác dụng nội dung bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên

Nhận xét từ bảng 2.16 ta thấy:

Tác dụng của các biện pháp quản lý nội dung bồi dưỡng cho giáo viên của hiệu trưởng được các nhà quản lý và giáo viên đánh giá tương đối cao, được thể hiện ở điểm trung bình chung là 2,56 so với giá trị điểm trung bình chung cực đại là X max = 3 và điểm trung bình chung giao động từ 2,26 đến 2,88. Trong đó có 4 biện pháp có điểm trung bình chung lớn hơn 2,5 chiếm tỷ lệ 57%, đó là các biện pháp 1, 2, 3, 4.

Nhóm biện pháp 5,6,7 được coi là có ít tác dụng trong công tác quản lý nội dung bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông.

So sánh mức độ nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên cho thấy nhận thức về mức độ tác dụng của các biện pháp quản lý của các cán bộ quản lý cao hơn của giáo viên (ở cán bộ quản lý có X 1 = 2,65 còn đối với giáo viên có X 2 = 2,55 ; độ chênh lệch giá trị trung bình chung là D X = 0,1).

Đối với cán bộ quản lý và giáo viên thì 7 biện pháp đưa ra đều có X > 2. Điều đó chứng tỏ rằng các biện pháp quản lý của hiệu trưởng đã có tác dụng đối với công tác quản lý nội dung bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên.

So sánh kết quả mức độ cần thiết và mức độ tác dụng ở bảng 2.14. và bảng 2.15, ta thấy những biện pháp được coi là rất cần thiết thì cũng đồng thời cũng có nhiều tác dụng trong quá trình quản lý nội dung bồi dưỡng cho giáo viên đó là các biện pháp:

  • Biện pháp 1: Bồi dưỡng quy chế chuyên môn
  • Biện pháp 2: Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
  • Biện pháp 3: Bồi dưỡng kiến thức chuyên môn
  • Biện pháp 4: Bồi dưỡng phương pháp dạy học tiên tiến

Những biện pháp được đề cập tới là cần thiết. Những biện pháp có ít tác dụng trong quá trình quản lý nội dung bồi dưỡng cho giáo viên đó là các biện pháp:

  • Biện pháp 5: Bồi dưỡng ứng xử sư phạm
  • Biện pháp 6: Bồi dưỡng tác phong sư phạm
  • Biện pháp 7: Bồi dưỡng tin học, ngoại ngữ.

2.5. Kết quả điều tra về sự đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên đối với phương pháp bồi dưỡng năng lực dạy học Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Quản lý phương pháp bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là nhiệm vụ cơ bản của hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông.

Do nhu cầu của cán bộ quản lý cũng như giáo viên các trường đều muốn khẳng định chính mình thông qua việc được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ sư phạm.

Sau khi điều tra 7 biện pháp quản lý nội dung bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên, chúng tôi tiến hành điều tra các biện pháp quản lý phương pháp bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc. Số liệu thu được như bảng 2.17.

  • Bảng 2.17. Kết quả nhận thức mức độ cần thiết của các phương pháp bồi dưỡng năng lực day học cho đội ngũ giáo viên

Nhận xét:

Tác dụng của các biện pháp quản lý phương pháp bồi dưỡng cho giáo viên của hiệu trưởng được cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá tương đối cao, được thể hiện ở điểm trung bình chung 2,68 và điểm trung bình chung giao động từ 2,54 đến 2,81.

So sánh về nhận thức quản lý phương pháp bồi dưỡng cho giáo viên của cán bộ quản lý cao hơn của giáo viên không nhiều, điểm trung bình chung của cán bộ quản lý là 2,76. Điểm trung bình chung nhận thức của giáo viên là 2,66. Độ giá trị chênh lệch điểm trung bình chung DX = 0,1.

  • Bảng 2.18. Thực trạng nhận thức mức độ thực hiện các phương pháp bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên

Nhận xét:

Nhận thức mức độ thực hiện của các biện pháp quản lý phương pháp bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng được các nhà quản lý và giáo viên đánh giá tương đối cao, được thể hiện ở điểm trung bình chung X = 2,70 và điểm trung bình chung giao động từ 2,55 đến 2,77. Trong đó cả 3 biện pháp có điểm trung bình chung X > 2,5 chiếm tỷ lệ 100% đó là các biện pháp:

So sánh về nhận thức quản lý phương pháp bồi dưỡng giáo viên của cán bộ quản lý cao hơn của giáo viên không nhiều, điểm trung bình chung của cán bộ quản lý X1 = 2,70. Điểm trung bình chung nhận thức của giáo viên X 2  = 2,61. Độ giá trị chênh lệch điểm trung bình chung D X = 0,04. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Tuy nhiên ở biện pháp thứ 2, các nhà quản lý cho rằng thường xuyên thực hiện, còn giáo viên thì đánh giá đôi khi thực hiện trong quá trình quản lý phương pháp bồi dưỡng cho giáo viên.

So sánh kết quả mức độ cần thiết và mức độ thực hiện ở bảng 2.16 và bảng 2.17 ta thấy cơ bản những biện pháp được nhận thức là rất cần thiết thì cũng được nhận thức là thường xuyên sử dụng trong quá trình quản lý phương pháp bồi dưỡng cho giáo viên đó là các biện pháp:

  • Biện pháp 1: Quản lí phương pháp bồi dưỡng trực tiếp.
  • Biện pháp 3: Quản lí phương pháp phân công giáo viên giỏi giúp đỡ giáo viên mới.

Những biện pháp được nhận thức là cần thiết thì cũng được nhận thức là đôi khi sử dụng trong quá trình quản lý phương pháp bồi dưỡng cho giáo viên đó là các biện pháp 2: Quản lí phương pháp bồi dưỡng gián tiếp

  • Bảng 2.19. Thực trạng nhận thức mức độ tác dụng các phương pháp bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên

Nhận xét:

Nhận thức mức độ tác dụng của các biện pháp quản lý phương pháp bồi dưỡng cho giáo viên của hiệu trưởng được các nhà quản lý và giáo viên đánh giá ở mức độ tương đối, được thể hiện ở điểm trung bình chung X = 2,49 và điểm trung bình chung giao động từ 2,23 đến 2,66. Trong đó có biện pháp có điểm trung bình chung  X > 2,5 chiếm tỷ lệ 67% đó là các biện pháp:

  • Biện pháp 1: Quản lí phương pháp bồi dưỡng trực tiếp.
  • Biện pháp 3: Quản lí Phương pháp phân công giáo viên giỏi giúp đỡ giáo viên mới.

Nhóm biện pháp 2: Quản lí phương pháp bồi dưỡng gián tiếp có điểm trung bình chung X < 2,5 được coi là tác dụng ít trong công tác quản lý phương pháp bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên

So sánh về nhận thức quản lý phương pháp bồi dưỡng cho giáo viên của cán bộ quản lý cao hơn của giáo viên không nhiều. Điểm trung bình chung của cán bộ quản lý X1 = 2,52. Điểm trung bình chung nhận thức của giáo viên là X 2 = 2,49. Độ giá trị chênh lệch điểm trung bình chung D X = 0,03.

Ở biện pháp thứ 2: Quản lí phương pháp bồi dưỡng gián tiếp các nhà quản lý và giáo viên đều cho rằng có tác dụng ít trong quá trình quản lý phương pháp bồi dưỡng cho giáo viên. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

So sánh kết quả mức độ cần thiết và mức độ tác dụng ở bảng 2.17 và bảng 2.19, ta thấy về cơ bản những biện pháp được nhận thức là rất cần thiết thì cũng được nhận thức là có nhiều tác dụng trong quá trình quản lý phương pháp bồi dưỡng cho giáo viên đó là các biện pháp:

  • Biện pháp 1: Quản lí phương pháp bồi dưỡng trực tiếp.
  • Biện pháp 3: Quản lí Phương pháp phân công giáo viên giỏi giúp đỡ giáo viên mới.

Những biện pháp được nhận thức là cần thiết thì cũng được nhận thức là có ít tác dụng trong quá trình quản lý nội dung bồi dưỡng cho giáo viên đó là biện pháp 2: Quản lí phương pháp bồi dưỡng gián tiếp

2.6. Kết quả điều tra về sự đánh giá của cán bộ, giáo viên đối với các hình thức bồi dưỡng của trường Trung học phổ thông Việt Bắc

Hình thức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên được Ban giám hiệu nhà trường đánh giá cao. Các đồng chí cán bộ quản lý đều cho rằng hình thức bồi dưỡng giáo viên nếu hợp lý sẽ góp phần đem lại hiệu quả về chất lượng giáo dục cho nhà trường. Ban giám hiệu nhà trường thường trong quản lý hoạt động nghiệp vụ từng ngày, từng tuần thông qua giám sát, kiểm tra các hoạt động nghiệp vụ của giáo viên như lên lớp, sinh hoạt tổ chuyên môn, quản lý thời gian bồi dưỡng thông qua các đợt tập huấn tập trung và bán tập trung do cơ quan chủ quan tổ chức, quản lý hoạt động bồi dưỡng đạt chuẩn và trên chuẩn bằng kết quả học tập của giáo viên.

Thực trạng điều tra 7 biện pháp quản lý hình thức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên của trường Trung học phổ thông Việt Bắc được phản ảnh trên bảng 2.20.

  • Bảng 2.20. Kết quả đánh giá về mức độ cần thiết của các hình thức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên Trường Trung học phổ thông Việt Bắc

Nhận xét:

Các biện pháp quản lý hình thức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên được các cán bộ quản lý và các giáo viên nhận thức ở mức độ tương đối cao được thể hiện ở điểm trung bình chung X = 2,59 và điểm trung bình chung giao động từ 2,35 đến 2,68. Trong đó có 4 hình thức có điểm trung bình chung X > 2,5 chiếm tỷ lệ 80%

Các biện pháp 2,3,4,5 đều có X > 2,5 điều đó chứng tỏ rằng các biện pháp này được cán bộ quản lý quan tâm hơn. Còn biện pháp 1: Bồi dưỡng dài hạn có tỷ lệ thấp chứng tỏ các cán bộ quản lý chưa quan tâm hoặc chưa đủ điều kiện để thực hiện đến hình thức bồi dưỡng dài hạn Đối với giáo viên cả 5 biện pháp đều có X > 2 và có điểm trung bình cao hơn việc nhận thức của cán bộ quản lý, chứng tỏ giáo viên có mục đích và nguyện vọng rất cần thiết được bồi dưỡng.

  • Bảng 2.21. Kết quả đánh giá về mức độ thực hiện của các hình thức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên Trường Trung học phổ thông Việt Bắc Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Từ kết quả thu được trên bảng 2.21 cho thấy:

Các biện pháp quản lý đã được các cán bộ quản lý và giáo viên nhận thức ở mức độ thực hiện khá cao, với điểm trung bình chung X = 2,56, so với điểm trung bình chung cao nhất X max = 3 và điểm trung bình chung giao động từ 2,32 đến 2,68. Trong đó có 4 hình thức có X > 2,5 chiếm tỷ lệ 80%.

So sánh mức độ nhận thức giữa cán bộ quản lý và giáo viên thì nhận thức về mức độ thực hiện của cán bộ quản lý thấp hơn của giáo viên nhưng không đáng kể. Đối với cán bộ quản lý thì X1 = 2,55, đối với giáo viên thì có X 2  = 2,57. Độ chênh lệch D X = 0,02.

  • Bảng 2.22. Kết quả đánh giá về mức độ tác dụng của các hình thức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên Trường Trung học phổ thông Việt Bắc

Nhận xét:

Tác dụng của các biện pháp quản lý hình thức bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng được các nhà quản lý và giáo viên đánh giá tương đối cao được thể hiện ở điểm trung bình chung X = 2,51 so với giá trị điểm trung bình chung cực đại là X max= 3 và điểm trung bình chung giao động từ 2,32 đến 2,68. Trong đó có 4 biện pháp có điểm trung bình chung lớn hơn 2,5 chiếm tỷ lệ 80%

So sánh mức độ nhận thức của cán bộ quản lý giáo viên thì nhận thức về mức độ tác dụng của các biện pháp quản lý của các cán bộ quản lý thấp hơn của giáo viên. Đối với cán bộ quản lý thì X 1 = 2,50 còn đối với giáo viên thì X 2 = 2,52 độ chênh lệch giá trị trung bình chung D X = 0,02.

Đối với cán bộ quản lý và giáo viên thì 5 biện pháp đưa ra đều có X > Điều đó chứng tỏ rằng các biện pháp quản lý của hiệu trưởng đã có tác dụng đối với công tác quản lý hình thức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên.

2.7. Thực trạng xây dựng đội ngũ cốt cán Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Kết quả xin ý kiến của cán bộ giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc về việc xây dựng đội ngũ cốt cán được thể hiện ở bảng sau:

  • Bảng 2.23 : Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về việc xây dựng đội ngũ cốt cán

Qua kết quả trên cho thấy

Để triển khai công tác bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên, từ cấp Sở đến các trường đều xây dựng mạng lưới đội ngũ giáo viên cốt cán. Với cấp Sở thì đội ngũ giáo viên cốt cán lấy từ các trường trong thành phố, đội ngũ này sẽ tham gia các khóa tập huấn của Bộ sau đó về triến khai cho giáo viên các trường tại các hội nghị do Sở tổ chức. Tại trường hiện nay cũng đã xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán, lòng cốt là các tổ trưởng hoặc nhóm trưởng các bộ môn. Đây là những giáo viên đạt giáo viên giỏi, có trình độ tay nghề và kinh nghiệm vững vàng hơn so với các giáo viên khác trong các nhóm bộ môn. Họ là những người tâm huyết, nhiệt tình, tích cực với công việc khi được nhà trường phân công tuy nhiên do trường là trường mới thành lập số đông giáo viên là trẻ nên đội ngũ giáo viên cốt cán nhà trường cũng còn trẻ do đó kinh nghiệm công tác và độ chín về kiến thức kỹ năng còn hạn chế. Chính vì vậy hiệu quả của công tác bồi dưỡng năng lực cho giáo viên cũng chưa đạt kết quả như mong muốn.

2.8. Thực trạng về các điều kiện cho công tác bồi dưỡng năng lực dạy học giáo viên

Kết quả xin ý kiến về các điều kiện cho công tác bồi dưỡng năng lực dạy học giáo viên được thể hiện ở bảng sau:

  • Bảng 2.24 : Ý kiến về các điều kiện cho công tác bồi dưỡng năng lực dạy học giáo viên

Qua kết quả trên cho thấy:

  • Về cơ sở vật chất :

Trường Trung học phổ thông Việt Bắc là trường có bề dày 66 năm xây dựng và trưởng thành về cơ sở vật chất trường lớp khang trang có phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, phòng ứng dụng công nghệ thông tin được trang bị tương đối đầy đủ. Hệ thống máy chiếu, máy tính, tăng âm loa đài, đồ dùng trực quan, phòng tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên cơ bản đạt yêu cầu phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên. Tuy nhiên thời gian dành cho cho hoạt động bồi dưỡng giáo viên còn ít, thường tổ chức vào trong hè nên thời gian nghỉ hè của giáo viên ngắn lại

  • Về cơ chế chính sách:

Mặc dù đã có phần quan tâm, động viên đối với đội ngũ cốt cán và giáo viên tham gia công tác bồi dưỡng năng lực dạy học giáo viên cũng như đã có dự chi phần kinh phí cho hoạt động bồi dưỡng. Tuy nhiên hiện nay các chính sách cho hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học giáo viên còn chưa rõ ràng và chưa mang tính khích lệ động viên, chưa có quy định cụ thể về quyền lợi và nghĩa vụ đối với những giáo viên tham gia hoạt động bồi dưỡng, chưa tạo thuận lợi về thời gian cũng như phần kinh phí hỗ trợ để lực lượng tham gia hoạt động bồi dưỡng được tập trung hơn và có sự động viên kịp thời .

2.9. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt đông bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo tại trường Trung học phổ thông Việt Bắc Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

2.9.1. Mặt mạnh

Qua thực trạng khảo sát về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và điều kiện cơ sở vất chất trong quá trình bồi dưỡng đội ngũ giáo viên do hiệu trưởng quản lý, chúng ta có thể rút ra những nhận định khái quát sau:

Trường đã thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của ngành và đúng luật giáo dục, triển khai hoạt động dạy và học theo đúng quy chế chuyên môn. Trong qúa trình chỉ đạo và quản lý công tác bồi dưỡng cho đội ngũ Đã cụ thể hoá các văn bản hướng dẫn để thực hiện trong quá trình quản lý và chỉ đạo tại đơn vị mình.

Công tác bồi dưỡng năng lực dạy học giáo viên đã được Ban giám hiệu, các lực lượng trong trường chú trọng, quan tâm và coi đây là nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên của đơn vị, luôn bám sát nội dung, chương trình của tất cả các môn học trong nhà trường, thể hiện đúng chủ trương của Đảng đó là giáo dục học sinh toàn diện. Nhà trường đã có định hướng về công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, coi đó là một định hướng lớn nhất trong việc thực hiện kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường đến năm 2032

Nhà trường đã triển khai bằng các văn bản cụ thể, được tổ chức chặt chẽ. Công tác bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ được thực hiện theo các con đường: Khuyến khích cá nhân tự học, tự bồi dưỡng; Tổ chức các lớp tập huấn cho giáo viên; Hàng năm Sở GD & ĐT tổ chức hội nghị, hội thảo, hội thi …

Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học trong các nhà trường đã được mua sắm và nâng cấp tương đối đầy đủ.

Các trường thực hiện tốt khẩu hiệu “Dân chủ – Kỷ cương – Tình thương -Trách nhiệm” trong công tác chỉ đạo và quản lý bồi dưỡng cho giáo viên. Việc bồi dưỡng giáo viên đổi mới phương pháp dạy học được tiến hành đồng bộ với việc đổi mới nội dung, chương trình, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học.

Việc thiết kế chương trình đã cơ bản phù hợp với điều kiện thực tế nhà trường, đã bám sát yêu cầu chuẩn nghề nghiệp và khi triển khai đã thu được kết quả đáng ghi nhận.

Đội ngũ giáo viên nhà trường có nhận thức tốt về ý nghĩa và tâm quan trọng trong hoạt động bồi dưỡng nên rất tích cực trong việc tiếp cận các phương pháp bồi dưỡng hiện đại, đáp ứng chuẩn nghề nghiệp quy định sẽ có nhiều thuận lợi. Nhiều giáo viên trẻ, giỏi công nghệ thông tin, biết sử dụng thành thạo các phương tiện hỗ trợ hiện đại, đồng thời tích cực, nhiệt tình, ham học hỏi và không ngại khó khăn.

2.9.2. Hạn chế: Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Nhà trường sử dụng các biện pháp Quản lí bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chưa hiệu quả, thiếu đồng bộ, linh hoạt.

Phân công nhiệm vụ đội ngũ chưa phù hợp, tổ chức sắp xếp giáo viên về khả năng chuyên môn, sở trường, hoàn cảnh chưa hợp lý, chưa phát huy tốt vai trò của giáo viên trong giảng dạy.

Hoạt động quản lý công tác bồi dưỡng chưa phát huy hết vai trò của cán bộ quản lý trong nhà trường như hiệu phó, các tổ trưởng chuyên môn …

Công tác kiểm tra chuyên môn hồ sơ, giáo án còn mang tính hình thức nên hiệu quả chưa cao.

Các nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn chưa tập trung vào việc bồi dưỡng giáo viên mà chủ yếu là các thủ tục hành chính, nội dung sinh hoạt nghèo nàn.

Việc tổ chức các chuyên để rút kinh nghiệm trong sinh hoạt chuyên môn thiếu tính hệ thống, khoa học, việc đổi mới phương pháp dạy học còn chậm vì thế tác dụng bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ còn bị hạn chế.

Hiệu trưởng chỉ đạo công tác đổi mới phương pháp dạy học hiệu quả chưa cao. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động bồi dưỡng chưa được phổ biến rộng rãi do thiếu thốn về thiết bị kỹ thuật và nguồn nhân lực sử dụng chúng.

Một bộ phận giáo viên còn chưa có ý thức đầy đủ về bồi dưỡng nâng cao trình độ, bảo thủ và ngại khó trong việc tiếp thu cái mới trong hoạt động giáo dục. còn tình trạng dạy chay, chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học,

Việc ứng xử sư phạm của một số giáo viên còn hạn chế, việc gặp gỡ trao đổi với phụ huynh để phát hiện những em có hoàn cảnh đặc biệt thiếu thường xuyên lên dẫn đến có trường hợp học sinh còn bỏ học.

Công tác kế hoạch hoá của nhà trường còn hạn chế, mặc dù hiệu trưởng đã có chủ trương và định hướng công tác bồi dưỡng giáo viên, nhưng công tác kế hoạch hoá chưa biểu hiện được sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp quản lý. Kế hoạch thường mang tính hình thức, chưa tính đến điều kiện và đặc điểm của nhà trường và nhu cầu nguyện vọng của mỗi cá nhân giáo viên. Kế hoạch bồi dưỡng giáo viên chưa thể hiện tính chủ động. Thời gian bồi dưỡng chưa hợp lý, nội dung bồi dưỡng chưa phong phú và trọng tâm. Khâu quản lý kế hoạch bồi dưỡng của giáo viên còn bỏ trống, chưa được quan tâm thoả đáng. Vẫn còn một bộ phận nhỏ giáo viên chưa thực hiện đúng quy chế chuyên môn, năng lực chuyên môn hạn chế.

2.9.3. Nguyên nhân:

Một số cán bộ quản lý chưa được qua đào tạo bồi dưỡng quản lí, công tác tự học, tự bồi dưỡng chưa tích cực.

Kế hoạch bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng chưa tính đến đặc điểm, điều kiện của nhà trường và nhu cầu nguyện vọng của mỗi cá nhân giáo viên. Hiệu trưởng rất ít dự giờ sinh hoạt của tổ chuyên môn mà còn phó mặc cho Hiệu phó và tổ trưởng bộ môn.

Đội ngũ giáo viên: Trình độ giáo viên chưa đồng đều, giáo viên trẻ thiếu kinh nghiệm, giáo viên cao tuổi áp dụng đổi mới phương pháp dạy học còn chậm.

Điều kiện phục vụ dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu của giáo viên.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Trong chương này chúng tôi đã khái quát tình hình phát triển kinh tế, chính trị và giáo dục của thành phố Lạng Sơn trong những năm gần đây. Qua điều tra thực trạng đội ngũ giáo viên ở các trường Trung học phổ thông Việt Bắc, kết quả đã cho thấy, ngành giáo dục trên địa bàn đang được đầu tư và phát triển mạnh mẽ, phù hợp với xu thế phát triển của đất nước. Đội ngũ giáo viên nhà trường trong những năm qua đã đáp ứng được phần nào những yêu cầu của đối mới giáo dục hiện nay.

Công tác bồi dưỡng giáo viên trong những năm qua đã đạt được thành tích trên là do những nguyên nhân chủ yếu sau: Lãnh đạo và nhân dân trong Thành phố đã nhận thức rõ về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của xã hội; Toàn ngành giáo dục đã được sự chỉ đạo chặt chẽ của các cấp lãnh đạo tỉnh Lạng Sơn nói chung và thành phố Lạng Sơn nói riêng; Sự đoàn kết, nhất trí cao của tập thể sư phạm nhà trường; Công tác bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, chuẩn hoá về trình độ đã đặc biệt được quan tâm; Hiệu trưởng đã bám sát các văn bản pháp qui của các cấp lãnh đạo trong quản lý nhà trường, quan tâm thường xuyên tới việc sinh hoạt chuyên môn, tổ chức bồi dưỡng các chuyên đề, dự giờ, tăng cường kiểm tra, đánh giá, giữ vững kỷ cương, nế nếp giáo dục; Việc quản lý công tác sử dụng thiết bị dạy học được quan tâm thích đáng đã đi vào nề nếp tốt; Cơ sở vật chất của nhà trường ngày một khang trang bằng công tác xã hội hoá giáo dục đặc biệt trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy ngày một đầy đủ hơn; Việc chỉ đạo kiểm tra hồ sơ sổ sách của hiệu trưởng đối với giáo viên đã thực hiện tương đối tốt. Đã sử dụng hết nguồn lực giáo viên vào hoạt động giảng dạy, tổ chức các hoạt động ngoài giờ hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy. Thông qua các hoạt động này tạo môi trường thân thiện giữa thầy và trò, phát huy tốt phong trào trường học thân thiệt, học sinh tích cực.

Chương 2 của luận văn đã tập trung nghiên cứu thực trạng về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông Việt Bắc – Thành Phố Lạng Sơn theo các chuẩn đối với giáo viên Trung học phổ thông đã được Bộ GD &ĐT ban hành. Trong chương 2 tác giả cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng triển khai việc quản lý công tác bồi dưỡng năng lực dạy học đội ngũ giáo viên của trường Trung học phổ thông Việt Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Cùng với cơ sở lí luận ở chương 1 và đánh giá thực trạng ở chương 2 sẽ là căn cứ khoa học để tác giả đề xuất các biện pháp cơ bản trong công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học ở chương tiếp theo. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993