Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý chất lượng dạy học của giảng viên trường đại học ngoại ngữ – tin học Thành Phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát chung về Trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học thành phố Hồ Chí Minh

Trường Đại học dân lập NN-TH thành phố HCM được thành lập ngày 26-10-1994 theo Quyết định Số 616/TTg của Thủ tướng Chính phủ, tiền thân là Trường Ngoại ngữ và Tin học Sài Gòn (1992). Ngày 29-5-2019, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định chuyển Trường thành Trường Đại học tư thục NN-TH thành phố HCM theo Quyết định Số 122/2019/QĐ-TTg, với tên mới là Trường Đại học NN-TH thành phố HCM.

Nhà trường có 9 khoa với 23 chuyên ngành đào tạo, 6 phòng, ban, thư viện và trung tâm trực thuộc. Tổng số cán bộ, nhân viên của nhà trường hiện nay có 183 người và trên 400 GV (78% GV có trình độ sau đại học). Tính đến năm học 2016 – 2017, nhà trường đã đào tạo được gần 4000 cử nhân khoa học, chuyên viên các ngành, bao gồm: Ngành ngoại ngữ (chuyên ngành sư phạm, biên – phiên dịch, hành chính văn phòng); ngành công nghệ thông tin (hệ thống thông tin, mạng viễn thông); ngành Đông Phương học (Trung Quốc học, Nhật Bản, Hàn Quốc học và Việt Nam học dành cho người nước ngoài); ngành Du lịch – Khách sạn, Quản trị kinh doanh. Từ năm học 2017, nhà trường mở hệ đào tạo ngành Quan hệ quốc tế và tiếng Anh (theo kiểu song ngành), hướng tới mở chuyên ngành Thái Lan học. Là một trường đại học chuyên ngành ngoài công lập, với mục tiêu là đào tạo SV ngành ngoại ngữ, tin học, cung cấp nhân lực chất lượng cao về ngoại ngữ, công nghệ thông tin đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố. Sinh viên đào tạo tại nhà trường sau khi tốt nghiệp được trang bị kiến thức nghề nghiệp, phương pháp giao tiếp và hai công cụ chiến lược là ngoại ngữ và tin học, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đồng thời, thông qua hoạt động đối ngoại, nhà trường đã, đang và sẽ tạo điều kiện cho cán bộ, giảng viên và sinh viên có nhiều cơ hội đi du học nước ngoài, tham dự các hội thảo, hội nghị quốc tế ở tất cả các chuyên ngành đào tạo.

ĐNGV của nhà trường đại đa số được đào tạo chính quy theo chuyên ngành; có phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp và kinh nghiệm giảng dạy từ 5  năm trở lên, được bồi dưỡng thường xuyên về nghiệp vụ quản lý nhà nước, quản lý giáo dục và đào tạo về ngoại ngữ – tin học. Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường.

SV đào tạo tại Trường Đại học NN-TH thành phố HCM hầu hết là những học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông trải qua thi tuyển sinh của trường và tham gia xét tuyển nguyện vọng 2 theo chỉ tiêu quy định của Bộ GD&ĐT, được đào tạo chính quy 4 năm các ngành tin học – ngoại ngữ. Sau khi ra trường, SV được cấp bằng cử nhân theo từng chuyên ngành đào tạo.

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của nhà trường được tổ chức theo Luật Giáo dục và quy chế, quy định của Bộ GD&ĐT, bao gồm: Ban Giám Hiệu, các phòng, ban chức năng, các khoa giáo viên, thư viện, trung tâm trực thuộc (ngoại ngữ – tin học) và đội ngũ cán bộ, GV, nhân viên tham gia vào quá trình giáo dục, đào tạo của nhà trường. Đồng thời, nhà trường có Đảng bộ cơ sở, Hội đồng quản trị (có các ban trực thuộc), Hội đồng Khoa học và Đào tạo và các Hội đồng Tư vấn khác.

Kể từ ngày thành lập đến nay, nhà trường luôn là một trong những điểm sáng đào tạo nguồn nhân lực ngoại ngữ – tin học cho thành phố và cho cả nước. Chất lượng dạy học của nhà trường ngày càng được nâng lên rõ rệt; công tác quản lý giáo dục, đào tạo thường xuyên được đổi mới ngày càng tốt hơn, nhất là việc quản lý Chất lượng dạy học trong quá trình đào tạo; nhiều SV sau khi tốt nghiệp đã có việc làm và hoàn thành tốt nhiệm vụ trên cương vị được giao. Với những thành tích đã đạt được, nhà trường đã được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về thành tích xuất sắc trong công tác chỉ đạo và nhiều Bằng khen, Giấy khen của các Bộ, Ngành Trung ương và thành phố Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, nhà trường đã được tặng 04 Bằng khen về phong trào NCKH trong SV (1999, 2014, 2018, 2019); Bằng khen của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về kết quả 10 năm NCKH trong SV giai đoạn 1995 – 2018. Từ năm 1998 đến năm 2025, nhà trường đã có 42 SV được nhận giải SV NCKH của Bộ GD&ĐT (01 giải nhất, 08 giải nhì, 10 giải ba và 32 giải khuyến khích).

Từ 1999 đến nay, SV của trường đã dự thi Olympic Quốc gia Tin học và đã đạt được các giải thưởng gồm: Khối chuyên: 1 giải nhất, 1 giải nhì, 5 giải ba và 7 giải khuyến khích; khối không chuyên: 2 giải nhì, 6 giải ba, 2 giải khuyến khích, 2 giải tập thể, 2 giải ngoại ngữ và 1 giải trắc nghiệm; khối cao đẳng: 4 giải ba, 3 giải khuyến khích, 1 giải ba đồng đội. Trong 04 năm liên tiếp (2023 – 2026), SV nhà trường tham gia Cuộc thi “Microsoft Office World Champion” tại Việt Nam đều đạt giải Nhất và được đại diện Việt Nam tham dự vòng chung kết thế giới tại Hoa Kỳ.

Đảng bộ cơ sở nhà trường có 62 đảng viên, 9 năm liên tiếp (1998 – 2020) và luôn được công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh, trong đó 6 năm liền được Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh công nhận Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu (2015 – 2020). Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường.

Nhà trường có tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên… Nhà trường đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học, trong đó có 6 hội thảo cấp quốc gia và quốc tế. Về quan hệ quốc tế, trường đã được kết nạp vào Tổ chức quốc tế Pháp ngữ (AUF), Đại học không biên giới (USF), Hội mùa Xuân của Pháp (A.P); hiện nay nhà trường có 12 Chi hội hữu nghị. Đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế, đến nay nhà trường đã có quan hệ với hơn 30 trường đại học và tổ chức nghiên cứu trên thế giới, ký 32 Thoả thuận hợp tác đào tạo quốc tế với nhiều trường và viện đại học ở Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp, Tân Tây Lan, Ba Lan, CH Séc, Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia…

2.2. Thực trạng và nguyên nhân quản lý chất lượng dạy học của giảng viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học thành phố Hồ Chí Minh

2.2.1. Thực trạng quản lý chất lượng dạy học của giảng viên Trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học thành phố Hồ Chí Minh

Thực trạng đội ngũ

  • Bảng 2.1: Thực trạng số lượng GV trong biên chế của nhà trường

Năm học 2025-2026, nhà trường có 152 GV, đội ngũ GV được bổ sung đáp ứng khá đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, có năng lực chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu giáo dục, đào tạo. Số GV có trình độ đạt chuẩn 100%, trên chuẩn chiếm tỷ lệ 80,8% (tiến sĩ 15,3; thạc sĩ 19,3%, ĐH, CĐ: 43,3%; trung cấp: 21,3%). Nhà trường chủ trương, phấn đấu đến năm 2028 có đủ GV theo biên chế.Đội ngũ giảng viên được đào tạo cơ bản, có trình độ ngoại ngữ, tin học theo quy định của Bộ GD&ĐT, có khả năng nghiên cứu khoa học, cập nhật kiến thức, thông tin mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy của trường trong tình hình mới.

Đảng uỷ, Ban Giám hiệu nhà trường đã nhận thức đúng đắn và đầy đủ về vai trò của công tác xây dựng, nâng cao chất lượng GV, xác định đây là nội dung quan trọng trong công tác lãnh đạo của cấp uỷ các cấp. Bởi vì, chất lượng đội ngũ cán bộ, GV có ý nghĩa quyết định đến kết quả giáo dục, đào tạo và uy tín của nhà trường. Trường đã thường xuyên tiến hành tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống, quan điểm của Đảng về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới cho các lực lượng giáo dục. Nội dung tuyên truyền, giáo dục thiết thực, cụ thể, đáp ứng yêu cầu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, phong cách lối sống cho cán bộ, đảng viên, GV. Cấp uỷ các cấp thường xuyên tổ chức quán triệt các nghị quyết của Đảng, của cấp uỷ cấp trên thông qua các đợt sinh hoạt chính trị như: Hội thi bí thư chi bộ giỏi, báo cáo viên giỏi, kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh…

Nhà trường đã tiến hành tốt công tác chuyên môn như: Thanh tra, kiểm tra toàn diện hoạt động của tổ chuyên môn và hồ sơ giáo án cá nhân, dự giờ, thao giảng, thi GV dạy giỏi, chủ nhiệm giỏi nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, trình độ và kỹ năng nghề nghiệp cho GV. Thực tiễn cho thấy, giai đoạn từ năm 2019 – 2023, nhà trường đã bồi dưỡng được nhiều Cán bộ quản lý các cấp, GV. Trong những năm qua, Đảng uỷ, Ban Giám hiệu đã cử 4 Cán bộ quản lý lãnh đạo học lớp cao cấp lý luận chính trị, 5 cán bộ đào tạo nghiên cứu sinh; đồng thời, liên tục cử 100% cán bộ, GV theo học các lớp bồi dưỡng ngắn hạn do Trường cán bộ thành phố HCM và Học viện Quản lý giáo dục tổ chức. Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường.

Công tác quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên và GV được Đảng bộ, Ban Giám hiệu thực hiện chặt chẽ, kết hợp giữa quản lý hành chính và quản lý nội dung chuyên môn (lấy quản lý chất lượng chuyên môn là chính), kết hợp chặt chẽ giữa quản lý tại trường và tại nơi cư trú; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng và các đoàn thể nhân dân.

Chất lượng hoạt động dạy học, hoạt động giảng dạy của GV còn có những mặt hạn chế, bấp cập.

  • Bảng 2.2: Thực trạng chất lượng giảng dạy của GV ở nhà trường

Kết quả khảo sát cho thấy, nhà trường đã có nhiều cố gắng trong xây dựng và phát triển Đội ngũ giảng viên, song hiện nay chất lượng Đội ngũ giảng viên mới đạt 50%. Tỷ lệ GV đạt trên chuẩn còn thấp so với yêu cầu, hẫng hụt Đội ngũ giảng viên kế cận, nhất là GV môn cơ bản. Việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn của GV còn hạn chế, sự cải tiến Phương pháp dạy học của GV có kinh nghiệm chững lại do một phần vì chế độ chính sách chưa tạo ra động lực khuyến khích họ; bên cạnh đó, bản thân thừng GV cũng có hạn chế về năng lực tiếp thu kiến thức khoa học mới. Bên cạnh đó, hoạt động dạy học của GV vẫn mang tính đơn điệu, độc thoại, lượng thông tin/giờ giảng còn ít, chưa tạo sự gia tăng kiến thức trong các môn học chuyên ngành và kích thích năng lực sáng tạo của SV. Trong dạy học, sự kết hợp giữa truyền đạt kiến thức và rèn luyện nhân cách SV còn hạn chế. Một bộ phận GV của nhà trường khả năng sử dụng thiết bị dạy học còn hạn chế. Công tác kiểm tra, đánh giá GV còn nặng về hành chính, chủ yếu dựa vào quy chế văn bản, tính thực tiễn hạn chế. Chất lượng giảng dạy và NCKH của GV nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu năng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Trình đọ kiến thức, tay nghề ứ phạm của GV chưa thật cao, chưa tương xứng với đào tạo trình độ đại học.

  • Thực trạng quản lý mục tiêu, nội dung và chương trình dạy học của GV

Đào tạo bậc đại học, cao đẳng, trung cấp, sơ cấp các ngành ngoại ngữ, công nghệ thông tin, ngôn ngữ và văn hoá phương Đông, du lịch – khách sạn, quản trị kinh doanh quốc tế, quan hệ quốc tế, lý luận chính trị và khoa văn bằng 2. Với mục tiêu đào tạo SV có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có ý thức phục vụ Tổ quốc và nhân dân, có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về một số ngành nghề, có khả năng phát hiện và giải quyết những tình huống chuyên môn về chuyên ngành đào tạo.

Thực hiện theo quy định chương trình khung của Bộ GD&ĐT đối với từng cấp học. Chương trình đào tạo được soạn thảo trên nguyên tắc: Cơ bản – hiện đại và phát triển năng lực thực hành, nhằm đảm bảo cho SV sau khi tốt nghiệp có khả năng thích nghi ngay với công việc theo chuyên ngành đào tạo tại các cơ quan, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất…Do đặc thù của ngành, đòi hỏi đào tạo nguồn lực phục vụ cho nhiều cấp như kế toán trưởng, kế toán viên, bậc sơ cấp, bồi dưỡng ngắn hạn…; vì vậy, khi thiết kế nội dung nhà trường đã phải tạo ra sự gia tăng về khối lượng kiến thức và số tiết môn học.

  • Bảng 2.3: Kết quả điều tra đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về thực hiện chương trình đào tạo hệ đại học của GV (100 cán bộ, GV nhà trường) Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường.

Từ kết quả đánh giá trên cho thấy, mặt mạnh trong chương trình đào tạo là: khối lượng kiến thức cơ bản, tỷ lệ giữa lý thuyết và thực hành, thực tập, khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước… tương đối phù hợp. Từ đó cho thấy, việc bố trí thời gian thực tập cho SV tại các cơ sở trong nội dung chương trình đào tạo của nhà trường có ý nghĩa rất quan trọng; từ đó cho phép đánh giá hiệu quả đào tạo thông qua mối quan hệ giữa mục tiêu đào tạo, kết quả đào tạo (đạt chất lượng bên trong) với nhu cầu xã hội (đạt chất lượng ngoài).

  • Thực trạng quản lý kế hoạch giảng dạy của GV

Việc lập kế hoạch của GV là khâu có tính chất tiền đề, định hướng cho toàn bộ quá trình hoạt động dạy học, đồng thời là cơ sở cho việc quản lý giáo viên. Quản lý kế hoạch hoạt động giảng dạy của GV nằm trong hệ thống quản lý hoạt động dạy học của nhà trường, chỉ tiêu nhiệm vụ năm học, kế hoạch giảng dạy của phòng, tổ bộ môn và từng GV. Vì vậy, để đánh giá thực trạng quản lý việc lập kế hoạch của GV trong nhà trường, tác giả đã xin ý kiến đánh giá của 100 Cán bộ quản lý và GV, kết quả như sau:

  • Bảng 2.4: Thực trạng QL hoạt động lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch dạy học của GV

Qua đó cho thấy, hai nội dung 1 và 2 được đánh giá thực hiện tốt; nội dung 3 được đánh giá khá, nội dung 4 được đánh giá là trung bình. Như vậy. quản ly việc lập kế hoạch của GV cần được các cấp quản lý nhà trường tăng cường thanh, kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm trong thời gian tới.

Đầu năm học, nhà trường xây dựng kế hoạch và chỉ tiêu chung cho cả năm; trên cơ sở đó, các phòng ban, tổ bộ môn xây dựng kế hoạch hoạt động cho cấp mình. Theo đó, từng GV quán triệt và xây dựng kế hoạch giảng dạy của mình theo sự phân công ngay từ đầu năm học (kế hoạch năm). Tiếp đó, kế hoạch của từng GV được báo cáo và phê duyệt của tổ bộ môn; kế hoạch của bộ môn báo cáo và được phê duyệt của Phòng đào tạo, Ban giám hiệu.

Mọi công tác điều hành giảng dạy, kiểm tra đánh giá GV của các cấp trong nhà trường đều theo kế hoạch. Trong kế hoạch đó, thể hiện tiến độ thực hiện chương trình dạy học, ý định thực hiện từng bài giảng bao gồm: Phương pháp dạy học, phương tiện và thiết bị dạy học, môi trường sư phạm… Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường.

  • Thực trạng quản lý kế hoạch NCKH và tự học của GV

Nhiệm vụ chính trị trung tâm của GV trong trường là giảng dạy và nghiên cứu khoa học; do đó, ngoài kế hoạch giảng dạy, từng GV phải xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học và tự học của mình dựa trên cơ sở kế hoạch của nhà trường, phòng, bộ môn. Tuỳ theo khả năng và nhiệm vụ, từng GV đăng ký trên các phương diện như: xây dựng hồ sơ bài giảng, kinh nghiệm giảng Trong thời gian qua, nhà trường đã chú trọng nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường. Hàng năm, nhà trường đã xác định chỉ tiêu nghiên cứu khoa học như: 100% GV có đề tài nghiên cứu khoa học; 20,0% tham gia đề tài cấp ngành; 80,0% tham gia đề tài cấp cơ sở.

Để thực hiện tốt chỉ tiêu nghiên cứu khoa học, nhà trường đã đề ra các giải pháp cụ thể, hiệu quả:

  • Ban Giám hiệu có hướng dẫn về công tác nghiên cứu khoa học trong toàn trường và từng GV trong năm học.
  • Tổ chức cho GV trao đổi, học tập, giao lưu với các đơn vị bạn trong công tác nghiên cứu khoa học nhằm học hỏi, nâng cao năng lực, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học cho GV.
  • Kết hợp giữa việc BGH giao đề tài với việc tự đăng ký đề tài trong nhà trường và Đội ngũ giảng viên.
  • Ứng dụng kết quả các đề tài nghiên cứu khoa học để GV và SV tham khảo phục vụ cho việc giảng dạy và học tập.

Trong năm học 2025-2026, công tác NCKH của nhà trường đã đạt được kết quả khá tốt: 13/57 đề tài của GV đạt cấp ngành (tỷ lệ 22,8%); 46/57 đề tài của GV đạt cấp cơ sở (tỷ lệ 80,7%).

Thực trạng quản lý tổ chức, chỉ đạo hoạt động dạy của GV Công tác tổ chức, chỉ đạo hoạt động dạy của GV được thực hiện thông qua các khâu sau:

Phân công giảng dạy: Chương trình nội dung các môn học, ngành học được sắp xếp, phân công tương đối ổn định về các phòng, tổ bộ môn trước khi bước vào năm học mới. Việc phân công GV được quán triệt và tổ chức chu đáo trên cơ sở phối hợp giữa các tổ bộ môn, phòng đào tạo và sự chỉ đạo của các cấp đối với tổ bộ môn và giáo viên. Cán bộ quản lý phòng đào tạo căn cứ số lượng giờ giảng, lịch giảng, định mức giờ giảng để phân công giảng dạy, trên nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp giữa chuyên môn giảng dạy với chuyên môn được đào tạo của GV.

Quản lý hoạt động giảng dạy của GV: Bảo đảm vừa mang tính phân cấp, vừa mang tính trực tiếp; GV chịu sự quản lý trực tiếp của trưởng bộ môn; phòng đào tạo phân phối chương trình các môn học, tiến độ, nội dung bài giảng, đối tượng lên lớp, địa điểm, thời gian giảng dạy; là cơ quan tham mưu giúp Hiệu trưởng về công tác quản lý, điều hành giảng dạy của GV trong toàn trường thông qua kế hoạch, chương trình môn học, thời gian biểu, cụ thể như: Quản lý việc lập kế hoạch và ghi chép hồ sơ chuyên môn; hướng dẫn GV trong việc sử dụng giáo trình; giáo án của GV; giờ giấc lên lớp; kiểm tra việc cho điểm, sổ theo dõi và đánh giá xếp loại SV; kiểm tra sổ tự học, bồi dưỡng của GV; công tác NCKH trong năm. Kết quả hoạt động dạy học của đội ngũ GV trong nhà trường được thể hiện ở bảng sau: Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường.

  • Bảng 2.5: Kết quả quản lý hoạt động dạy học của GV ở trường

Qua đó cho thấy, các nội dung có đánh giá thực hiện tốt nhất đó là quản lý thực hiện về hồ sơ chuyên môn, quản lý chương trình giảng dạy và quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV. Còn các nội dung quản lý nề nếp lên lớp của GV, xây dựng kế hoạch công tác của GV được đánh giá  khá tốt. Các hoạt động còn lại chỉ được đánh giá trung bình khá.

Quản lý việc đổi mới Phương pháp dạy học: Nhà trường thường xuyên chú trọng quán triệt và tổ chức việc đổi mới Phương pháp dạy học của GV; thực hiện quy trình mới trong việc đổi mới Phương pháp dạy học ở từng bộ môn thông qua các hoạt động như: Trao đổi, hội thảo, các lớp bồi dưỡng do Bộ GD&ĐT tổ chức…; từ đó nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải đổi mới Phương pháp dạy học cho GV. Thông qua đó, nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của GV và và SV; kích thích sự tham gia tích cực của SV vào bài giảng; tạo ý tưởng và khám phá các cách giải quyết mới, vận dụng khả năng, kinh nghiệm của các thành viên khác vào việc giảng dạy cho GV và SV.

Việc đổi mới Phương pháp dạy học của nhà trường hiện nay đã và đang tập trung vào một số vấn đề như: Đổi mới cách soạn giáo án, tập trung phần phương pháp thực hiện; đẩy mạnh việc tự làm và sử dụng đồ dùng dạy học; đưa các phương Phương pháp dạy học tích cực vào bài giảng để phát huy tính chủ động, sáng tạo của SV. Quá trình đó, nhà trường đã kết hợp thực hiện thông qua các hình thức như: hội giảng, thi GV giỏi, các đợt thi đua nhân dịp ngày lễ lớn, đưa GV đi tập huấn về đổi mới Phương pháp dạy học do Bộ GD&ĐT tổ chức hàng năm.

Kết quả khảo sát việc vận dụng và đổi mới Phương pháp giảng dạy của GV ở nhà trường được thể hiện như sau:

  • Bảng 2.6: Thực trạng quản lý hoạt động đổi mới Phương pháp dạy học và đánh giá giờ dạy của GV.

Qua kết quả điều tra cho thấy, mặc dù nhà trường đã xây dựng được hệ thống các biện pháp khá phong phú để quản lý nội dung vận dụng cải tiến Phương pháp dạy học và đánh giá giờ dạy, nhưng trong thực tế vẫn còn hạn chế như: Tổ chức dự giờ đột xuất còn ít; tổ chức hội thảo vận dụng đổi mới Phương pháp dạy học hiệu quả còn hạn chế, còn mang tính hình thức

  • Thực trạng quản lý khâu kiểm tra, đánh giá GV Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường.

Nhà trường xác định rõ việc kiểm tra đánh giá GV với mục đích làm công cụ đo lường và điều chỉnh hoạt động của GV; quá trình đó phải bảo đảm vừa theo quy chế của Bộ GD&ĐT, vừa mang tính đặc thù của trường. Trong thời gian qua, nội dung, hình thức kiểm tra (quy chế giảng dạy, giờ giấc lên lớp, soạn giáo án…) được nhà trường tiến hành thông qua các hình thức như:

  • Trước hết, kiểm tra chất lượng dạy và học bằng cách dự giờ dạy của GV, tập trung chỉ rõ hiệu quả và động viên khuyến khích GV tích cực đổi mới phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của SV.
  • Hai là, kiểm tra việc lập kế hoạch giảng dạy, kế hoạch hoạt động phương pháp, kế hoạch tự học, kế hoạch nghiên cứu khoa học.
  • Ba là, kiểm tra nhận thức của GV về các quan điểm, chủ trương phát triển giáo dục đào tạo.
  • Bốn là, kiểm tra trực tiếp hoạt động dạy học GV.
  • Năm là, tổ chức kiểm tra, đánh giá GV theo phân cấp và có sự phối hợp giữa các tổ chức; theo kế hoạch và đột xuất trong quá trình giảng dạy.

Kết quả điều tra cho thấy, có 80 GV được hỏi về công tác kiểm tra, đánh giá thì công tác kiểm tra giáo án có trước khi lên lớp là 75/80 (tỷ lệ 93,75%). Công tác kiểm tra đánh giá có đủ nội dung, phong phú về hình thức do vậy tình trạng GV chậm giờ, giảng không theo kế hoạch, sai nội dung hiếm khi xảy ra và những hạn chế đó đã được GV, cán bộ quản lý tìm các giải pháp khắc phục thông qua sinh hoạt phòng, tổ bộ môn.

Kết quả kiểm tra GV được chấm điểm cụ thể; làm cơ sở chính để đánh giá phẩm chất, năng lực, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của GV hàng năm; từ đó nhà trường xác định nội dung bồi dưỡng GV định kỳ và hàng năm.

  • Bảng 2.7: Thực trạng Chất lượng dạy học của GV của nhà trường

Tác giả đề tài đã lấy ý kiến của 100 GV theo mẫu phiếu, kết quả như sau:

Kết quả điều tra cho thấy, GV của nhà trường đã thực hiện khá tốt các hoạt động dạy học, cụ thể: Thực hiện chương trình; có tri thức, trình độ, năng lực sư phạm; tích cực trong đổi mới Phương pháp dạy học; có kỹ năng phân tích chương trình, sách giáo khoa và đánh giá kết quả học tập của SV. Tuy vậy, mức độ đạt được chưa cao, cụ thể: Kỹ năng dạy học; đổi mới phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học; kiến thức tổng hợp; kỹ năng phân tích chương trình. Những tồn tại này cần được khắc phục trong giai đoạn tới để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.

  • Thực trạng chỉ đạo hoạt động học tập của sinh viên Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường.

Các cấp quản lý và các tổ chức trong nhà trường đã ổn định tổ chức cho SV ngay từ khi nhập học, cụ thể:

Kiểm tra lại sức khoẻ SV; ổn định sĩ số, sắp xếp chuyên ngành, lớp, bổ nhiệm cán bộ lớp; tuần đầu nhà trường tổ chức tuần lễ “Công dân – Học sinh, sinh viên”, nhằm quán triệt quy chế GD&ĐT, nội quy của nhà trường cho SV. Đồng thời, tổ chức giới thiệu cho SV về truyền thống nhà trường, những thành tích của nhà trường, giúp SV hiểu và nhận thức rõ quyền lợi, nghĩa vụ của mình; từ đó tạo môi trường giáo dục có văn hoá, duy trì tốt các mối quan hệ trong nhà trường, giữa nhà trường – gia đình – xã hội.

Cán bộ quản lý, SV, GV chủ nhiệm lớp quán triệt nhiệm vụ, chỉ thị năm học; đồng thời, hướng dẫn SV xây dựng kế hoạch học tập, kế hoạch rèn luyện, phấn đấu của cá nhân và tập thể SV trong quá trình đào tạo tại trường.

Về quản lý học tập: Tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá theo thang bậc Quy chế của Bộ GD&ĐT.

Về quản lý rèn luyện: Dựa trên cơ sở tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành kỷ luật; các khâu này được đánh giá thông qua phiếu đánh giá điểm rèn luyện được công khai, công bằng, dân chủ; làm cơ sở cho việc xét chế độ học bổng khuyến khích học tập và khen thưởng cho SV.

Để có được đánh giá khách quan thực trạng quản lý HĐHT của SV, tác giả đề tài đã lấy ý kiến đánh giá của 100 Cán bộ quản lý và GV, kết quả được thể hiện ở bảng sau:

  • Bảng 2.8: Thực trạng quản lý HĐHT của SV

Kết quả trên cho thấy, các biện pháp QL vẫn còn nặng về biện pháp hành chính. Một số biện pháp đánh giá hiệu quả chưa cao như: việc giáo dục, động cơ thái độ học tập cho SV, xây dựng nề nếp tự học cho SV, chỉ đạo của giáo viên chủ nhiệm; khen thưởng và duy trì kỷ luật đối với SV.

2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế về quản lý chất lượng dạy học của giảng viên Trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường.

  • Về  xã hội

Do sự tác động của tình hình chính trị, kinh tế thế giới và tình hình khó khăn trong nước, cùng với các nguy cơ, thách thức trong thời kỳ mới ở nước hiện nay đã tác động nhất định đến tư tưởng một bộ phận cán bộ, GV của nhà trường. Sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung, quan liêu, bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, thực hiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, bên cạnh những mặt tích cực thì mặt trái kinh tế thị trường đã có một số tác động tiêu cực tới tư tưởng, tâm lý, đời sống một bộ phận cán bộ, GV.

  • Về giảng viên

ĐNGV phần lớn là lực lượng còn trẻ, tỷ lệ trên chuẩn còn ít. Việc bố trí và sắp xếp GV chưa cơ bản, thường xuyên và đồng bộ; chưa có quy định rõ ràng về chức danh, quyền lợi của GV, nên họ chưa thực sự say sưa tâm huyết với công việc. Công tác đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ quản lý về phương pháp quản lý chung và quản lý với đối tượng đặc thù của nhà trường chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Vận dụng các văn bản có tính pháp quy về quản lý Chất lượng dạy học, về kiểm tra chưa đồng bộ và chưa trở thành một quy trình thống nhất. Một số cán bộ, GV chưa phát huy tốt tính tự giác phấn đấu học tập, nghiên cứu, rèn luyện, thiếu tính chủ động, tư tưởng ỷ lại vào tổ chức; thậm chí có lúc còn biều hiện thiếu trách nhiệm, ý thức kỷ luật còn hạn chế, chất lượng và hiệu quả công tác chưa cao.

Thực tiễn kết quả điều tra, có 40,0% GV cho rằng, chế độ chính sách, mức lương của GV còn thấp trong điều kiện ở thành phố, chưa đảm bảo được cuộc sống tối thiểu; từ đó dẫn đến một số GV chưa nêu cao ý thức trách nhiệm, gắn bó với công việc, nghề nghiệp. Các phòng chưa chú trọng, quan tâm thoả đáng việc tổ chức, chỉ đạo, động viên GV tham gia NCKH, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; qua điều tra 20 GV về công tác NCKH cho thấy: Do kinh phí hạn hẹp 52,0%, chưa có phong trào 28,0%, chế độ động viên khuyến khích chưa kịp thời, thoả đáng 20,0%.

Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, đánh giá GV của trường, của phòng, tổ bộ môn chưa thực sự sát kế hoạch của từng GV trong từng giai đoạn, từng   công việc cụ thể. Việc tổ chức, phân công nội dung giảng dạy cho GV hàng năm thường biến động, có trường hợp còn xáo trộn. Số lượng GV còn thiếu theo Quy định của liên Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ; vì vậy, cường độ làm việc của GV cao hơn định mức quy định mới đáp ứng yêu cầu công việc, nên ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả Chất lượng dạy học.

Cơ cấu GV trong các môn học không cân đối, còn tình trạng môn thừa, môn thiếu. Một số ít GV ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao, chưa thực sự tâm huyết yêu nghề, chưa thực sự gương mẫu trong công việc. Sự chỉ đạo đổi mới Phương pháp dạy học của nhà trường chưa triệt để, chưa tạo ra phong trào sâu, rộng; nhận thức và việc vận dụng Phương pháp dạy học tích cực của GV chưa thống nhất, đồng bộ. Việc bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ sư phạm, tin học, ngoại ngữ cho GV chưa thường xuyên, còn nặng về hình thức, hiệu quả thấp. Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường.

Công tác quản lý SV chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, chưa sát với yêu cầu và tình hình thực tế. Qua điều tra cho thấy, Cán bộ quản lý đều cho rằng, các hình thức tổ chức giáo dục chưa hấp dẫn; khâu tổ chức, quản lý việc tự học của SV còn yếu do Cán bộ quản lý thiếu kiến thức và kinh nghiệm, ít được bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý; cơ chế quản lý, chính sách đối với Cán bộ quản lý chưa phù hợp, thoả đáng. Mặt khác, một số Cán bộ quản lý mới được bổ nhiệm nên kinh nghiệm quản lý chưa nhiều, hiệu quả công tác quản lý chưa cao, có lúc có nơi chưa quy tụ được sức mạnh quần chúng, phối hợp với các đoàn thể chưa linh hoạt.

Để làm rõ vấn đề này, tác giả đề tài đã lấy ý kiến của 100 GV, kết quả như sau:

  • Bảng 2.9: Nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động dạy học của GV

Số liệu điều tra cho thấy, các nguyên nhân cơ bản làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động dạy học của GV trong nhà trường, đó là: 61,0% ý kiến cho rằng do điều kiện phương tiện dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu; 78,0% ý kiến cho rằng điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, nhận thức của một bộ phận nhân dân về giáo dục còn hạn chế, nhận thức của SV không đồng đều; 53,0% ý kiến cho rằng do đời sống của GV còn khó khăn.

Qua bảng trên cho thấy, các nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng dạy học của GV trường Đại học NN-TN thành phố HCM phù hợp với kết quả khảo sát nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng quản lý hoạt động dạy học. Những nguyên nhân đó cần được xem xét và đề xuất giải pháp khắc phục trong giai đoạn tiếp theo đối với các cấp quản lý.

Do những nguyên nhân chủ quan và khách quan, việc quản lý Chất lượng dạy học ở nhà trường còn bộc lộ những hạn chế cần được khắc phục kịp thời, nhằm nâng cao Chất lượng dạy học trong thời gian tới. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tổng hợp các tài liệu hiện có và kết quả trưng cầu ý kiến của GV và Cán bộ quản lý để phân tích và đánh giá những tồn tại trong quản lý Chất lượng dạy học của trường trên một số nội dung chủ yếu sau:

  • Về  quản lý điều hành của  tổ bộ môn Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường.

 Công tác quản lý hoạt động dạy học của GV còn nặng về hành chính. Các quy định về hồ sơ giảng dạy, nề nếp dạy học tuy đủ nhưng còn mang tính hình thức, GV chấp hành có lúc còn đối phó, gò ép. Việc đổi mới Phương pháp dạy học ở các tổ bộ môn chưa thường xuyên, chủ yếu chỉ được tiến hành vào dịp hội thi, hội giảng. Tổ chức các cuộc hội nghị trao đổi, toạ đàm về Phương pháp dạy học cấp phòng, khoa, tổ bộ môn còn ít. Một bộ phận GV ngại cải tiến Phương pháp dạy học và sử dụng thiết bị dạy học hiện đại trong dạy học, chưa đầu tư sâu nội dung và phương pháp sư phạm cho bài giảng, 20,0% số người được hỏi cho rằng bài giảng của GV đảm bảo tính hệ thống, tính khoa học, tính thực tiễn, song chưa có tính chuyên sâu và cập nhật thông tin mới, không thường xuyên sử dụng đổi mới Phương pháp dạy học trong giờ lên lớp. Bên cạnh đó, việc phân công GV giảng dạy và chỉ đạo hoạt động dạy của GV của các cấp quản lý chưa sâu sát, phù hợp với năng lực GV, một số GV dạy không đúng chuyên ngành đào tạo; sinh hoạt tổ bộ môn và nhóm chuyên môn còn ít; việc giúp đỡ, kèm cặp, bồi dưỡng GV mới còn hạn chế. Mặt khác, GV chưa đồng đều về chất lượng, quản lý hành chính của nhà trường còn biểu hiện chồng chéo với quản lý chuyên môn.

  • Về vật chất, trang thiết bị dạy học

Hiện nay, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của trường đã bị lạc hậu và hư hao nhiều so với thực tế nhu cầu sử dụng, nên ảnh hưởng đáng kể đến Chất lượng dạy học của GV. Mặt khác, cơ sở vật chất thư viện còn hạn chế so với yêu cầu giảng dạy, nghiên cứu, tham khảo của GV và SV.

Chất lượng đầu vào của SV còn thấp, điểm chuẩn chưa cao, chủ yếu là học sinh có lực học trung bình khá. Tuy nhiên về lứa tuổi, tâm lý và khả năng nhận thức không đồng đều, có không ít SV thi vào trường không vì động cơ nghề nghiệp. Điều này sẽ là hạn chế đến tính tích cực và động cơ phấn đấu học tập của họ trong quá trình đào tạo. Hoạt động tự học của SV còn nhiều hạn chế, công tác quản lý về nội dung và phương pháp học tập của các cấp còn hạn chế, lỏng lẻo; việc tự quản, tự điều chỉnh của SV còn yếu so với yêu cầu; một bộ phận SV có tư tưởng ỷ lại, thiếu tích cực, tư tưởng trung bình chủ nghĩa; quá điều tra cho thấy, 35,0% SV được hỏi cho rằng SV chưa tích cực học tập; vai trò của cán sự bộ môn, tổ nhóm học tập, sự giúp đỡ của Cán bộ quản lý mờ nhạt.

Bên cạnh những nguyên nhân trên, còn có một số nguyên nhân khác đó là: Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan chức năng (phòng đào tạo) với các phòng trong việc xây dựng nội dung, chương trình, tổ chức học tập chưa chặt chẽ, thiết kế nội dung chương trình chưa theo kịp xu hướng phát triển hiện đại; kiểm tra việc thực hiện nội dung chương trình chưa nghiêm ngặt đúng quy trình sư phạm. Các cơ quan chức năng trong nhà trường chưa chủ động, chưa nắm bắt kịp với yêu cầu phát triển của kinh tế – xã hội. Kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu nâng cao Chất lượng dạy học.

Những quan niệm, đặc điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp yếu tố tác động và đánh giá thực trạng về công tác quản lý Chất lượng dạy học của GV là cơ sở để xác định rõ những yêu cầu và quản lý phù hợp hơn, hiệu quả hơn, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo những SV đầy đủ phẩm chất, năng lực, “vừa hồng vừa chuyên”, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Công tác quản lý Chất lượng dạy học ở Trường Đại học NN-TH thành phố HCM trong những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến tích cực; tuy nhiên, Chất lượng dạy học thực tế chưa cao, công tác quản lý Chất lượng dạy học còn gặp khó khăn và bộc lộ những hạn chế với những nguyên nhân chủ quan và khách quan. Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp chất lượng dạy học của giảng viên trường

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng chất lượng dạy học của giảng viên trường […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993