Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phân tích, đánh giá thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng một số dự án trên địa bàn huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2020-2024 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Bối cảnh điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của huyện Hoành Bồ
2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế – xã hội của huyện Hoành Bồ
Huyện Hoành Bồ là huyện miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hạ Long khoảng 10 km về phía Nam, với toạ độ địa lý:
- Từ 20144’47” đến 21015’ vĩ độ Bắc
- Từ 106050’ đến 107015’ kinh độ Đông.
- Phía Đông Bắc giáp huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh và huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang;
- Phía Nam giáp vịnh Cửa Lục – thành phố Hạ Long,
- Phía Đông giáp thành phố Cẩm Phả,
- Phía Tây giáp thành phố Uông Bí và thị xã Quảng Yên
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí
Hoành Bồ có Diện tích tự nhiên là 84.463,22 ha chiếm 13,8% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đơn vị hành chính của huyện gồm 12 xã và 1 thị trấn, trong đó có 5 xã thuộc vùng cao với tổng diện tích tự nhiên 49.611,39 ha chiếm 58.8% diện tích tự nhiên của huyện.
Về giao thông đường bộ: Đi qua địa bàn huyện Hoành Bồ có quốc lộ 279 (đi Bắc Giang – Lạng Sơn); tỉnh lộ 326 (đi Cẩm Phả) phục vụ cho nhu cầu giao lưu kinh tế – xã hội của huyện với các địa phương lân cận. Tuyến đường Trới – Vũ Oai (tỉnh lộ 328) đã thi công xong, đấu nối thành tuyến đường vành đai phía Bắc Thành phố Hạ Long giữ vai trò quan trọng việc vận tải hàng hoá đường bộ trên tuyến Bắc Cửa Lục.
Toàn huyện có 330,6 km đường bộ bao gồm các đường tỉnh lộ, huyện lộ, đường giao thông nông thôn.
Với vị trí địa lý, giao thông khá thuận lợi, nằm liền kề với Vịnh Hạ Long kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới, các trung tâm du lịch lớn như: Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Khu du lịch Bãi Cháy, Tuần Châu, Khu di tích danh thắng Yên Tử – Uông Bí, thành phố Cẩm Phả, Quốc lộ 279, tỉnh lộ 326, đường Trới Vũ Oai đi qua… là điều kiện rất thuận lợi cho việc lưu thông, trao đổi hàng hoá và kết nối tour du lịch…
- Đặc điểm địa hình
Huyện Hoành Bồ có địa hình đa dạng, thuộc loại địa hình đồi núi tiếp giáp biển. Phần lớn diện tích của huyện nằm trong hệ thống cánh cung bình phong Đông Triều-Móng Cái, địa hình thấp dần từ bắc xuống Nam, càng gần biển thì đồi núi càng thấp dần và xen kẽ vùng đất bằng, tạo ra một sự đa dạng và kết hợp giữa phát triển kinh tế miền núi, trung du ven biển. Địa hình Hoành Bồ có thể chia thành 3 vùng chính sau:
Hình 2.2: Địa hình huyện Hoành Bồ
- Khí hậu
Cũng như các huyện thị khác của tỉnh Quảng Ninh, Hoành Bồ có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Ngoài ra, là một huyện miền núi với địa hình phức tạp, nằm sát vịnh Cửa Lục, chịu ảnh hưởng sâu sắc vùng khí hậu Đông Bắc đã tạo nên cho Hoành Bồ một kiểu khí hậu độc đáo, đa dạng, pha trộn giữa khí hậu vùng miền núi và vùng ven biển.
Nhiệt độ: Hoành Bồ có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình vào khoảng 22-290C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 36,60C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 5,50C, nhiệt độ không khí thấp thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, cao dần từ tháng 4 đến tháng 8. Nhìn chung, nhiệt độ không khí ở huyện Hoành Bồ tương đối đồng đều giữa các tháng, mùa hè nhiệt độ dao động từ 26,7oC – 28oC, mùa đông từ 15oC – 21oC. Có thể nói, đây là điều kiện nhiệt độ khá thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản, trồng các loại cây lương thực, rau màu… Tuy nhiên, đối với một số xã ở vùng cao như xã Đồng Sơn, Kỳ Thượng thì nhiệt độ có sự thay đổi mạnh, có năm lạnh nhất nhiệt độ không khí xuống tới 00C, sương muối xuất hiện gây ảnh hưởng đến sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp.
Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình hàng năm tại Hoành Bồ khá cao (khoảng 82%) và có sự thay đổi theo mùa. Sự chênh lệch về độ ẩm ở các tháng trong năm không lớn cho nên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, độ ẩm không khí cao cũng gây ảnh hưởng không tốt cho việc chế biến và bảo quản thức ăn gia súc, giống cây trồng,…
Chế độ mưa: Lượng mưa ở Hoành Bồ là khá lớn, trung bình năm từ 1.432,9mm, năm mưa cao nhất đạt 2.852mm, thấp nhất 870mm, nhưng phân bố rất không đều giữa hai mùa: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm tới 89% tổng lượng mưa trong năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tháng ít mưa nhất là tháng 12.
Nhìn chung, so với các địa phương khác trong tỉnh Quảng Ninh, thì khí hậu ở Hoành Bồ có thể nói là tương đối thuận lợi. Hoành Bồ có đủ lượng nhiệt, ánh sáng mặt trời, lượng mưa dồi dào thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng, cây lương thực (lúa, ngô, khoai, sắn…), cây thực phẩm (rau xanh, đậu…), cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương, lạc…), cây công nghiệp, cây đặc sản… Bên cạnh những thuận lợi, còn có những khó khăn như mùa đông có khả năng xảy ra sương muối, mùa hè mưa lớn, bão hoạt động mạnh có thể phá huỷ nhà cửa, đê điều, hoa màu gây lũ lụt, xói mòn đất…
- Thuỷ văn Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Hoành Bồ có nguồn nước mặt phân bố tương đối đồng đều theo không gian, có khả năng khai thác phục vụ đủ nước tưới cho cây trồng và sinh hoạt của con người, nguồn nước tập trung chủ yếu ở các sông suối sau:
- Sông Diễn Vọng: Có 3 nhánh chính: Suối Thác Cát: Bắt nguồn từ phía đông Bắc chân núi Thiên Sơn (Cao 1.090,6m) chạy theo hướng Bắc – Nam qua các xã Hoà Bình, Thống Nhất.
- Sông Mằn: Thượng nguồn gồm 2 nhánh hợp thành gặp nhau tại khu đập tràn Đá Trắng rồi đổ ra biển.
- Suối Lưỡng Kỳ: Bắt nguồn từ phía nam núi Đèo Kinh có độ cao 694m, chảy theo hướng Bắc – Nam qua Đồng Quặng và Thống Nhất rồi đổ ra biển. Diện tích lưu vực 81 km2, chiều dài 17 km, độ dốc trung bình 0,008%, lưu lượng trung bình 3 – 4 m/s.
- Suối Đồng Quặng: Bắt nguồn từ phía đông Bắc núi Khe Ru có độ cao 789m, chảy theo hướng Bắc – Nam đổ ra biển. Diện tích lưu vực 34 km2, chiều dài 11km, độ dốc trung bình 0,0075%, lưu lượng trung bình 1,5 m3/s.
- Tài nguyên đất
Đất đai trên địa bàn huyện Hoành Bồ được chia thành 5 nhóm đất, 7 đơn vị đất và 10 đơn vị phụ như sau:
- Nhóm đất mặn:
Diện tích 1.669,17ha chiếm 1,98% diện tích đất tự nhiên.
- Đất mặn sú vẹt, đước điển hình: Diện tích 136,28 ha,
- Đất mặn sú vẹt, đước đá lẫn nông: Diện tích 1.532,89 ha.
- Nhóm đất phù sa: Diện tích 736,28 ha chiếm 0,87% diện tích đất tự nhiên
- Đất phù sa không được bồi, chua điển hình: Diện tích 184,46 ha,
- Đất phù sa không được chua gây nông: Diện tích 472,78 ha,
- Đất phù sa không được bồi chua đá lẫn sâu: 79,04 ha.
- Nhóm đất vàng đỏ: Diện tích 74.272,66 ha chiếm 87,93% diện tích đất tự nhiên
- Tài nguyên rừng:
Hoành Bồ có 65.401,26 ha rừng chiếm 77,43% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó:
- Đất rừng sản xuất là 34.617,49 ha chủ yếu trồng các loại cây keo…
- Đất rừng phòng hộ 14.937,58 ha phòng hộ đầu nguồn các hồ, đập như Hồ Yên Lập, hồ Cao Vân, phòng hộ ven sông.
- Rừng đặc dụng: 15.846,19 ha chủ yếu thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng.
Tài nguyên khoáng sản:
Than đá phân bố chủ yếu ở các xã: Tân Dân, Quảng La, Vũ Oai, Hoà Bình, gồm nhiều vỉa khác nhau với quy mô lớn nhỏ có trữ lượng khoảng hàng trăm triệu tấn, hàng năm cho phép khai thác hàng chục nghìn tấn than. Đây là nguồn nhiên liệu quan trọng của các nhà máy xi măng và nhà máy điện của khu công nghiệp Bắc Cửa Lục trong tương lai.
- Nhóm vật liệu xây dựng: Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Nhóm này có chất lượng rất tốt và có trữ lượng lớn, đây là tài nguyên để làm nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp sản xuất xi măng và gạch ngói, bao gồm đá vôi, đất sét, cát sỏi…
Đá vôi: Có trữ lượng hàng tỷ tấn chất lượng tốt nằm ở xã Sơn Dương, Thống Nhất (đặc biệt là mỏ Đá Trắng) có thể làm nguyên liệu sản xuất xi măng cỡ vài chục triệu tấn/năm, bao gồm các loại Mác cao PC40 – PC50, xi măng Pooc lan và xi măng trắng.
Đất sét: Hiện tại ở Hoành Bồ có mỏ lớn là Yên Mỹ, Xích Thổ, Làng Bang có tổng trữ lượng trên 20 triệu m3, có thể sử dụng để sản xuất xi măng loại 13 mác PC 40 và gạch ngói cao cấp.
Đá vôi xây dựng: Phân bố dọc ven đường từ Quảng La đến Vũ Oai có trữ lượng rất lớn, loại này dùng cho nhu cầu nung vôi, làm đường, xây dựng dân dụng.
Bảng 2.1: Tổng hợp các loại đất chính trên địa bàn huyện Hoành Bồ
- Giao thông đường bộ
- Hệ thống quốc lộ: Gồm có quốc lộ 279 từ thị trấn Trới đến xã Tân Dân với chiều dài 34,72 km.
- Tỉnh lộ: Có 2 tuyến đi qua địa bàn huyện, gồm:
- Tỉnh lộ 326: Từ thị trấn Trới – xã Hoà Bình dài 28,31 km.
- Tỉnh lộ 337: Từ ngã 3 đò Bang đi Đồng Cao dài 5 km (địa bàn xã Thống Nhất).
Nhìn chung hệ thống đường giao thông ở huyện Hoành Bồ chủ yếu vẫn là đường đất hoặc cấp phối, nhất là các tuyến đường xã, thôn xóm gây khó khăn cho việc đi lại và sinh hoạt của nhân dân.
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2020-2024 Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
- Về tăng trưởng kinh tế.
Mục tiêu là phát triển nhanh, hiệu quả và biền vững từng bước xây dựng huyện Hoành Bồ trở thành trọng điểm thu hút đầu tư phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng (xi măng, gạch ngói…) công nghiệp sản xuất điện, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, xây dựng làng văn hoá dân tộc và trung tâm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Thu nhập bình quân đầu người năm 2024 ước đạt 45 triệu đồng (gấp 1,8 lần năm 2019).
Tổng giá trị sản xuất (tính theo giá cố định 1994) năm 2024 đạt 6.546 tỷ đồng. Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân 5 năm (2020-2024) đạt 14,4%, vượt 3,4%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; tỷ trọng các ngành dự kiến đến năm 2024: Công nghiệp – xây dựng chiếm 74,2%, Thương mại – dịch vụ 21,0%, nông – lâm – ngư nghiệp 4,8% (năm 2020: Công nghiệp – xây dựng 81,11%, dịch vụ – thương mại 12,06%, nông – lâm – ngư nghiệp 6,83%).
Công nghiệp – Xây dựng tiếp tục phát triển và tăng trưởng. Giá trị sản xuất năm 2020 là 3.691 tỷ đồng, năm 2024 là 5.270 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành Công nghiệp – Xây dựng bình quân (2020-2024) đạt 11,55%, trong đó, riêng sản xuất Công nghiệp bình quân 5 năm tăng 9,7%/năm.
Thương mại và dịch vụ phát triển mạnh. Giá trị sản xuất ngành Thương mại – dịch vụ năm 2020 đạt 512 tỷ đồng; năm 2024 đạt 1.095 tỷ đồng; tốc độ tăng bình quân 5 năm đạt tăng 24,45%, vượt 1,45%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ năm 2020 đạt 674 tỷ đồng; năm 2024 đạt 1.500 tỷ đồng. Huyện đã hoàn thành cải tạo, nâng cấp một số hạng mục chợ trung tâm thị trấn Trới; đầu tư bổ sung cơ sở vật chất chợ trung tâm xã Đồng Sơn được đưa vào sử dụng có hiệu quả, năm 2024 tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng chợ xã Quảng La; đang mời gọi, thu hút doanh nghiệp đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại huyện; tổ chức tốt hội chợ thương mại Hoành Bồ hàng năm.
Sản xuất nông nghiệp của huyện giai đoạn 2020- 2024 tiếp tục phát triển khá. Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp: năm 2020 đạt 142,6 tỷ đồng, năm 2024 đạt 181 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp bình quân 5 năm ước đạt 6,1%/năm. Nhiều mô hình mới trong kinh tế nông nghiệp có hiệu quả tiếp tục được nhân rộng theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung. Đến hết năm 2024, toàn huyện có 62 cánh đồng mẫu (bằng 302 ha) cho thu nhập 60 triệu đồng/ha/năm (trong đó: 14 cánh đồng (99,2 ha) thu nhập trên 100 triệu đồng/ha/năm; 37 cánh đồng (167,7 ha) thu nhập từ 70 – 100 triệu đồng/ha/năm, 11 trang trại được cấp giấy chứng nhận theo tiêu chí mới (09 chăn nuôi, 01 trồng trọt; 01 thủy sản). Dự kiến năm 2025 có 62 cánh đồng (bằng 303 ha) cho thu nhập trên 60 triệu đồng.
Hàng năm huyện đã xây dựng kế hoạch và giao chỉ tiêu thu ngân sách, đồng thời chỉ đạo các xã, thị trấn, cơ quan, đơn vị phấn đấu tăng thu để đáp ứng nhu cầu các nhiệm vụ chi của địa phương, đơn vị; thành lập và duy trì hoạt động của Ban chỉ đạo tăng cường thu ngân sách, thường xuyên rà soát các khoản thu, phân tích, làm rõ các khoản thu đạt thấp ở từng lĩnh vực, từng xã, thị trấn để có biện pháp chỉ đạo, thực hiện thu đúng, thu đủ các khoản thu phát sinh trên địa bàn. Tổng thu Ngân sách nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2020 – 2024 đạt 928.775 triệu đồng, thu ngân sách huyện được hưởng hàng năm vượt cao so với dự toán tỉnh giao từ 15% trở lên. Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
- Lao động, việc làm
Bảng 2.2: Hiện trạng dân số và lao động huyện Hoành Bồ năm 2023
Năm 2023, tổng số lao động trong các ngành kinh tế 25.839 người, trong giai đoạn 2020 – 2024, số người lao động ngành nông, lâm, thủy sản hàng năm có xu hướng giảm, còn các ngành kinh tế khác đều tăng: giai đoạn 2020 – 2024 công nghiệp, xây dựng tăng bình quân 5,15%; thương mại và dịch vụ tăng bình quân 13,95%.
Bảng 2.3: Thực trạng lao động làm việc trong các ngành kinh năm 2024
- Về văn hoá – xã hội
Các hoạt động văn hoá, thông tin; thể dục, thể thao có bước phát triển đồng bộ, góp phần quan trọng thực hiện các nhiệm vụ chính trị và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai sâu rộng và hiệu quả. Năm 2024, có 70/82 thôn, khu văn hóa cấp huyện (đạt 85%,); 11.000 hộ đạt gia đình văn hóa (đạt 88%); 98% số hộ dân được nghe đài và xem chương trình truyền hình Việt Nam. Chỉ đạo, tổ chức tốt các hoạt động thể dục, thể thao; thành lập các đội tuyển tham gia thi đấu và đạt thành tích cao tại các giải thể thao. Toàn huyện, có 22% hộ đạt gia đình thể thao, 28% dân số thường xuyên luyện tập thể thao (vượt chỉ tiêu nghị quyết đề ra). Các thiết chế văn hóa từ huyện đến cơ sở được đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp. Thực hiện tu bổ, tôn tạo 13 công trình di tích lịch sử văn hóa.
Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị trường học; giữ vững chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục THCS, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 13/13 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; tỷ lệ trẻ đi học đúng độ tuổi bậc tiểu học đạt 99%, bậc THCS đạt 95,9%. Đầu nhiệm kỳ (năm 2020) có 05 trường đạt chuẩn quốc gia, đến nay có 13/36 trường (đạt 36,11%). Tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 99%. Năm học 2023 – 2024 có 07 học sinh đạt giải cấp quốc gia (02 giải nhì, 03 giải ba, 02 giải khuyến khích).
Thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội. Năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo là 9,45% đến năm 2024 còn 2,02%. Tổng chi an sinh xã hội 5 năm đạt 40,229 tỷ đồng. Từ năm 2020 đến hết năm 2024, huyện mở 42 lớp đào tạo nghề cho 1.419 lao động nông thôn với tổng kinh phí 3,66 tỷ đồng; tạo việc làm cho 5.037 lao động. Tỷ lệ lao động thất nghiệp giảm 0,2% năm 2020, xuống 0,1 % năm 2024. Cơ cấu lao động chuyển dần sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ. Ưu tiên nguồn lực cho đầu tư phát triển hạ tầng các xã vùng cao. Đầu tư 738 tỷ đồng xây dựng hệ thống giao thông, điện, nước sạch, y tế, trường học và hỗ trợ phát triển sản xuất góp phần ổn định, cải thiện và nâng cao đời sống, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng. Từng bước thực hiện các tiêu chí hoàn thành mục tiêu chương trình 135 ở 03 xã: Đồng Lâm, Đồng Sơn, Kỳ Thượng. Tình hình tôn giáo, tín ngưỡng cơ bản ổn định. Nhiều công trình tôn giáo, tín ngưỡng được xây dựng và tu bổ.
- Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2029 Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Trên cơ sở những kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIV, căn cứ vào đặc điểm tình hình của huyện và những quan điểm, định hướng của tỉnh trong những năm tiếp theo, huyện Hoành Bồ xác định quan điểm, mục tiêu phát triển giai đoạn 2025 – 2029 là: “Đẩy mạnh hơn nữa công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế – xã hội huyện Hoành Bồ nhanh, bền vững, đủ năng lực hội nhập và cạnh tranh trong và ngoài tỉnh; thực hiện cơ cấu kinh tế: Công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp. Tiếp tục đầu tư đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng; giữ gìn môi trường; bản sắc văn hóa dân tộc được bảo tồn và phát huy; quốc phòng, an ninh, trật tự – an toàn xã hội được đảm bảo. Đổi mới mạnh mẽ và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức Đảng, đảng viên. Củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, sắp xếp lại tổ chức bộ máy đảm bảo đồng bộ, tinh gọn, hiệu quả, nâng cao chất lượng phục vụ xã hội và nhân dân. Phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, nội lực, tranh thủ sự quan tâm, giúp đỡ của trung ương, của tỉnh, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân bằng mức trung bình chung của toàn tỉnh”. [2, trang 2]
- Mục tiêu cụ thể:
Tập trung nguồn lực xây dựng hạ tầng thiết yếu làm cơ sở thu hút các nhà đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội địa phương, đầu tư để tạo nguồn thu cho ngân sách; Tăng cường hình thức hợp tác công – tư đối với một số ngành, lĩnh vực khối doanh nghiệp tư nhân có khả năng thực hiện, giảm áp lực vốn đầu tư ngân sách; Từng bước đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị loại IV thị trấn Trới theo qui hoạch phân khu chức năng đã phê duyệt trên cơ sở nguồn lực đầu tư được cân đối, nhằm hướng tới mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2025 – 2029 đạt khoảng 14 – 15%/năm;
Cơ cấu kinh tế trong GDP dự kiến năm 2025:
- Tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 67,0%.
- Dịch vụ – thương mại chiếm 26,7%.
- Nông – lâm – ngư nghiệp 6,3%.
Chỉ tiêu kinh tế xã hội giai đoạn 2025 – 2029:
- Tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 57,0%.
- Dịch vụ – thương mại chiếm 37,3%.
- Nông – lâm – ngư nghiệp 5,7%.
- Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân trên 10,0%/năm.
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 6.900 tỷ đồng
- Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số khoảng 1,2%/năm.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 70% tổng số lao động làm việc.
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1,5 – 2,0%/năm.
- Tỷ lệ trường phổ thông các cấp đạt chuẩn quốc gia đạt trên 80%.
- Phổ cập giáo dục mầm non cho nhóm trẻ 3 – 5 tuổi.
- 30% học sinh tốt nghiệp THCS vào học nghề.
Lĩnh vực sản xuất công nghiệp – xây dựng: Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thành khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện để tạo mũi đột phá phát triển công nghiệp của huyện; trước mắt tập trung ưu tiên GPMB, đất đai, thủ tục hành chính để đẩy nhanh xây dựng Nhà máy nhiệt điện Thăng Long, Nhà máy vôi cao cấp, tuyến đường cao tốc Hạ Long – Vân Đồn… Tăng cường quản lý nhà nước đối với sản xuất công nghiệp – xây dựng gắn với công tác tuyên truyền nâng cao ý thức chấp hành bảo vệ môi trường cho các chủ doanh nghiệp trên địa bàn.
Tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp với định hướng khai thác những lợi thế của Hoành Bồ như công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí sửa chữa, chế biến nông, lâm, thủy sản. Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Triển khai có hiệu quả những cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp; chú trọng xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ phục vụ trực tiếp cho công nghiệp gồm giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc, xử lý chất thải…
Lĩnh vực dịch vụ – thương mại: Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các siêu thị, trung tâm thương mại theo quy hoạch tại thị trấn trới, xã Thống Nhất. Tiếp tục kêu gọi, thu hút doanh nghiệp đầu tư Trung tâm thương mại huyện Hoành Bồ, nâng cấp chợ trung tâm thị trấn Trới là đầu mối cung cấp hàng hóa tiêu dùng trong huyện và các địa phương lân cận. Mở rộng và hoàn thiện hợp lý mạng lưới chợ nông thôn, tiếp tục nâng cấp các chợ xã, chợ khu vực tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên địa bàn huyện có cơ hội kinh doanh mở rộng thị trường.
Lĩnh vực giao thông: Đầu tư hoàn chỉnh hệ thống giao thông đường trục huyện, trục xã kết nối với đường tỉnh lộ và đường quốc lộ trên địa bàn: Nâng cấp tuyến đường Trại Me – Đồng Trà – Kỳ Thượng – Đạp Thanh huyện Ba Chẽ; Nâng cấp đường xuống cảng Cái món xã Vũ Oai, đoạn đấu nối Tỉnh lộ 326 đến đường Trới – Vũ Oai. Hoàn thành tuyến đường liên huyện Hoành Bồ – Uông Bí đoạn xã Bằng Cả đến phường Vàng Danh; hoàn thành các hạng mục còn lại của đường Cầu Cháy – Đồng Đặng, xã Sơn Dương; Kè kết hợp đường giao thông nội thị hai bên thượng, hạ lưu bờ sông Trới.
Lĩnh vực thủy lợi: Tiếp tục xây dựng mới 20 km kênh mương nội đồng theo quy hoạch xây dựng Nông thôn mới, đạt tiêu chí trên 50% kênh mương, đường nội đồng được kiên cố hoá; Xây dựng mới công trình thuỷ lợi hồ Khe Chùa khu 9, thị trấn Trới; sửa chữa hồ Khe chùa xã Sơn Dương (công trình đình hoãn đầu tư năm 2022-2024); Tiếp tục xử lý một số điểm xung yếu trên tuyến đê biển Bắc Cửa Lục và đê xã Thống Nhất. Quan tâm sửa chữa thường xuyên các công trình thuỷ lợi nhỏ, ổn định đời sống sản xuất cho nhân dân các xã miền núi, vùng cao.
Lĩnh vực bảo vệ môi trường: Xây dựng bãi (điểm) thu gom, xử lý rác thải tập trung của huyện, trong đó nhà nước hỗ trợ đầu tư thiết bị đốt (xử lý), phân loại rác thải, hạn chế tối đa việc chôn lấp gây ô nhiễm môi trường. Hỗ trợ nhà đầu tư xây dựng hạ tầng nghĩa trang nhân dân liên xã Trới – Lê Lợi. Tiếp tục lựa chọn nhà đầu tư có năng lực xây dựng mới Trung tâm thương mại huyện theo quy hoạch đã phê duyệt. Cân đối nguồn vốn đầu tư nâng cấp hạ tầng chợ xã Tân Dân, Vũ Oai, Đồng Sơn, Lê Lợi, Thống Nhất. Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Lĩnh vực quốc phòng – an ninh: Củng cố cơ sở vật chất quốc phòng-an ninh hiện có, quy hoạch xây dựng căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, công trình quốc phòng trong khu vực phòng thủ huyện phục vụ công tác quốc phòng an ninh địa phương, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giai đoạn 2025 – 2029.
Về văn hóa – thông tin – thể dục – thể thao: Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.Tăng cường đầu tư trang bị cơ sở vật chất, củng cố và xây dựng các thiết chế văn hoá – thông tin như các trung tâm văn hoá thông tin, thư viện, nhà truyền thống, câu lạc bộ, hệ thống loa truyền thanh; thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; Có biện pháp và cơ chế khuyến khích thực hiện xã hội hoá các loại hình hoạt động văn hoá, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân, ngăn chặn và đẩy lùi các tập tục lạc hậu và tệ nạn xã hội.
Về giáo dục và Đào tạo: Tiếp tục thực hiện mục tiêu xây dựng cao tầng, kiên cố 100% trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên. Đầu tư cơ sở vật chất xây dựng 10 trường học đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số có 24/36 trường của huyện đạt chuẩn. Đầu tư nâng cấp trung tâm giáo dục và hướng nghiệp thường xuyên của huyện đủ điều kiện phục vụ công tác hướng nghiệp và đào tạo nghề; triển khai có hiệu quả chương trình, kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn đáp ứng chuyển dịch cơ cấu ngành nghề cho lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Bảng 2.4: Chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2025 – 2029
2.2. Thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường GPMB một số dự án trọng điểm trên địa bàn huyện Hoành Bồ từ năm 2020 đến 2024 Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
2.2.1. Biến động đất đai của huyện Hoành Bồ từ năm 2020 đến năm 2024
Hiện trạng sử dụng đất và biến động đất đai của huyện Hoành Bồ năm 2020 so với năm 2024 được thể hiện qua bảng 2.5 dưới đây:
Bảng 2. 5: Tình hình sử dụng đất của huyện Hoành Bồ so sánh năm 2020 với năm 2024
Với việc thu hồi bồi thường GPMB các dự án trên địa bàn huyện thì diện tích các loại đất của huyện cũng có những biến động về các loại đất, cụ thể:
- Đất nông nghiệp tăng 946,11 ha, do chuyển từ đất đồi núi chưa sử dụng và đất núi đá không có rừng cây sang.
- Đất phi nông nghiệp tăng 311,05 ha. Trong đó, đất ở tăng 103,09 ha, đất chuyên dùng tăng 231,23 ha.
Hiện tại toàn bộ diện tích tự nhiên trên địa bàn huyện (84.463,22 ha) đã được đo đạc thành lập bản đồ địa chính. Đây là thuận lợi quan trọng trong công tác quản lý đất đai nói chung, là cơ sở cho việc lập hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, là cơ sở pháp lý để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiếp cận đất đai, phát triển kinh tế trên địa bàn.
Thực hiện các quy định của pháp luật, UBND huyện đã chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn và UBND các xã, thị trấn thực hiện công tác lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2020 – 2029 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2024 – 2029 trên địa bàn toàn Huyện. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn Huyện đã tuân thủ phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế dài hạn, tận dụng được lợi thế về địa lý và đầu mối giao thông để phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, coi trọng xây dựng kết cấu hạ tầng để chuẩn bị cho các bước phát triển sau này.
Từ đầu năm 2020 đến hết tháng năm 2024, toàn huyện đã cấp được 4.794 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đất ở 923 giấy; đất lâm nghiệp 3.683 giấy với diện tích 7.599,38 ha; đất trồng cây hàng năm 200 giấy với diện tích 42,46 ha). Tổng số Giấy chứng nhận đã cấp trên địa bàn huyện là 19.380 giấy cho 18.736 hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư (đạt 96,80% so với kế hoạch) với tổng diện tích 16.413,85 ha/17.401,24 ha (đạt 94,3% so với kế hoạch).
Trong đó: Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
- Đất lâm nghiệp:
Từ đầu năm 2020 đến hết năm 2024 cấp được 3.683 Giấy chứng nhận với diện tích 7.599,38 ha (nâng tổng số Giấy chứng nhận đã cấp được 5.299 giấy/5.610 giấy (đạt 94,45% so với kế hoạch) với tổng diện tích 14.288,08 ha/15.258,11 ha (đạt 93,64% so với kế hoạch).
- Đất ở:
Từ đầu năm 2020 đến hết năm 2024 cấp được 923 giấy (nâng tổng số Giấy chứng nhận đã cấp được 8.392 giấy/8.602 giấy (đạt 97,56% so với kế hoạch) với tổng diện tích 429,08 ha/435,72 ha (đạt 98,48% so với kế hoạch)).
- Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm:
Từ đầu năm 2020 đến hết năm 2024 cấp được 188 giấy với diện tích 39,46 ha (nâng tổng số Giấy chứng nhận đã cấp được 5.089 giấy/5.177 giấy (đạt 98,30% so với kế hoạch) với tổng diện tích 1.696,69 ha/1.707,41 ha (đạt 99,37% so với kế hoạch).
Việc thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai nhằm phục vụ cho việc quản lý Nhà nước về đất đai. Mục đích của việc thống kê, kiểm kê đất đai nhằm đánh giá đúng thực trạng tình hình sử dụng đất và biến động trong từ thời kỳ sử dụng đất; đánh giá việc thực hiện pháp luật về đất đai theo từng giai đoạn. Công tác thống kê, kiểm kê đất đai đã xác định rõ hiện trạng diện tích đất tự nhiên của các cấp hành chính; hiện trạng quỹ đất đang quản lý, sử dụng; quỹ đất đã đưa vào sử dụng nhưng còn để hoang hoá; quỹ đất chưa sử dụng. Đồng thời đã đánh giá được thực trạng tình hình quản lý, sử dụng đất và biến động đất đai so với kỳ kiểm kê trước; việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt; đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
2.2.2. Thực trạng thu hồi đất tại huyện Hoành Bồ giai đoạn 2020 -2024
Kết quả của công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và thu hồi đất trên địa bàn huyện Hoành Bồ từ năm 2020 đến hết năm 2024 được thể hiện qua bảng 2.6 dưới đây:
Bảng 2.6: Tổng hợp các dự án từ năm 2020 đến năm 2024 của huyện Hoành Bồ
Qua bảng số liệu 2.6 ta thấy: Từ năm 2020 đến năm 2024 trên địa bàn huyện Hoành Bồ đã thực hiện 47 dự án, với tổng diện tích là 940,8 ha trong đó: Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
- Các dự án đất sản xuất kinh doanh gồm 07 dự án; diện tích 469,39 ha:
Có 05/07 dự án đã bồi thường và giải phóng mặt bằng xong và đi vào hoạt động như: Dự án xây dựng nhà máy Xi măng Thăng Long của Công ty Cổ phần xi măng Thăng Long; dự án xây dựng nhà máy xi măng Hạ Long của Công ty Cổ phần xi măng Hạ Long…
Dự án đang thực hiện công tác bồi thường GPMB là: dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Thăng Long của công ty Cổ phần Nhiệt điện Thăng Long (từ năm 2023 chưa giải phóng mặt bằng xong) và Dự án cụm công nghiệp Hoành Bồ.
- Dự án xây dựng công trình công cộng gồm 31 dự án; diện tích ảnh hưởng phải thu hồi 457,03 ha:
Dự án đã thực hiện xây dựng xong: Có 29/31 dự án đã thực hiện xong công tác GPMB bàn giao cho đơn vị thi công. Đến nay số dự án trên đã đi vào hoạt động phục vụ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện.
Dự án đang được phê duyệt phương án bồi thường đang thực hiện chi trả bồi thường: Dự án Đường Tân Ốc – Khe Càn của Ban quản lý dự án công trình huyện Hoành Bồ và Dự án đường Cao tốc Hạ Long – Vân Đồn.
- Các dự án giao đất có thu tiền sử dụng đất và đấu giá đất gồm 09 dự án; diện tích 14,38 ha:
Dự án đã thực hiện xây dựng xong: Có 07/09 dự án đã thực hiện xong công tác GPMB bàn giao cho đơn vị thi công xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu dân cư.
Dự án xây khu đô thị Bắc sông Trới tại thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ và dự án xây dựng hạ tầng khu dân cư khu 5, thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ đang trong quá trình bồi thường GPMB.
2.2.3. Thực trạng chính sách đơn giá bồi thường Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Đối với các dự án thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói chung và huyện Hoành Bồ nói riêng thực hiện áp dụng bồi thường GPMB theo bộ đơn giá do UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành.
Năm 2021 đến năm 2024 bộ đơn giá cây trồng, vật nuôi, vật kiến trúc áp dụng theo Quyết định số 398/2021/QĐ-UBND ngày 27/02/2021 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc ban hành bộ đơn giá bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Năm 2025 áp dụng bộ đơn giá bồi thường tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Tỉnh theo Quyết định số 4234/2024/QĐ- UBND ngày 28/12/2024.
Bảng 2.7: So sánh đơn giá một số loại cây trồng từ năm 2020 – 2022; với năm 2023 – 2024
Qua bảng so sánh đơn giá của năm 2021-2024 với năm 2025 ta thấy giá một số loại cây trồng đều được tăng cao sát với giá của thị trường. Một số loại cây cho giá trị thấp đã được điều chỉnh giảm như cây nhãn từ 3.000.000đ/cây nay giảm xuống còn 2.750.000đ tương ứng với giảm 9%. Một số loại cây trồng có cùng đường kính, mật độ như nhau nhưng đơn giá mới tăng hơn so với đơn giá cũ. Tuy nhiên thực tế cho thấy đa phần người dân trồng theo ý của họ không theo mật độ quy định, có nhiều loại cây trồng mật độ vượt cao hơn so với quy định trên 20% như cây keo tai Tượng. Đến khi bồi thường thì số lượng cây vượt mật độ này chỉ được tính bằng 20% so với giá cây trong mật độ. Do đó người dân chưa đồng thuận đơn giá bồi thường cây vượt mật độ và yêu cầu tính bằng giá cây trong mật độ từ đó đã dẫn đến khó khăn trong công tác thu hồi đất.
Năm 2022 đến năm 2024 đơn giá bồi thường về đất thực hiện tại Quyết định số 3388/2021/QĐ-UBND ngày 21/12/2021 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc quy định các loại giá đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Năm 2025 áp dụng bộ đơn giá bồi thường tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Tỉnh theo Quyết định số 4234/2024/QĐ-UBND ngày 28/12/2024.
Năm 2024, UBND tỉnh ban hành bảng giá đất áp dụng thời kỳ 5 năm (2024-2028).
2.2.4. Thực trạng chính sách tái định cư
- Có hai loại chính sách đối với đất tái định cư: Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Đối với các hộ dân tự tìm đất ở tái định cư thì được Nhà nước hỗ trợ 120 triệu đồng/01 hộ. Nhà nước hiện khuyến khích các hộ dân tự tìm tái định cư cho phù hợp với điều kiện của người dân.
Đối với các hộ đăng ký đến ở khu tái định cư tập trung do Nhà nước đầu tư xây dựng thì giá thu tiền sử dụng đất tái định cư của các hộ dân dựa trên bảng giá đất hàng năm do UBND tỉnh quy định để tính giá.
Đối với chính sách tái định cư vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý, chưa tạo được sự đồng thuận của người dân.
Một số nguyên nhân dẫn đến người dân chậm bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư với lý do: Có nhiều hộ dân chỉ bị thu hồi đất ở không thu hồi đất nông nghiệp do đó khi đến khu tái định cư tập trung thường cách xa nơi ở cũ, không phù hợp với phong tục tập quán người dân địa phương (đất ở một nơi, đất sản xuất nông nghiệp một nơi). Mặt khác đất quy hoạch TĐC tập trung mỗi một ô đất thường có diện tích nhỏ, trong khi đó người nông dân cần có diện tích đủ rộng để chăn nuôi gia súc, gia cầm…. Một nguyên nhân khác nữa là đối với khu đất người dân đang ở khi thu hồi được bồi thường đơn giá thấp do ở vị trí không thuận lợi như xa đường giao thông, nay chuyển đến nơi tái định cư tập trung đơn giá do UBND tỉnh quy định thì người dân phải mua thường có giá đất cao hơn nên có nhiều hộ sau khi lĩnh tiền bồi thường xong không đủ tiền để mua, xây nhà tại nơi ở mới.
Từ thực tế trên dẫn đến người dân không đồng thuận trong công tác bồi thường GPMB thực hiện dự án.
2.2.5. Thực trạng giải quyết đơn thư khiếu nại, kiến nghị của người dân về công tác bồi thường GPMB
Công tác giải quyết đơn thư, khiếu nại còn chậm, chưa kịp thời và dứt điểm. Một số đơn thư được gửi đến nhưng chậm giải quyết hoặc đùn đẩy trách nhiệm cho nhau khi đơn thư khiếu nại, tố cáo đó có liên quan đến một số cán bộ quản lý Nhà nước về đất đai. Một số đơn thư trả lời còn chung chung thiếu thực tế, chưa được trả lời cụ thể rõ ràng, gây bức xúc cho người bị thu hồi đất.
Bảng 2.8: Thống kê nội dung đơn thư kiến nghị của người dân về công tác GPMB.
2.2.6. Thực trạng công tác cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất
Trên địa bàn huyện Hoành Bồ từ năm 2020 đến năm 2024 mới tổ chức cưỡng chế thu hồi đất của 2 dự án và bảo vệ thi công 01 dự án như: Dự án Nhà máy xi măng Thăng Long cưỡng chế thu hồi đất của 6 hộ dân; dự án khu quy hoạch phía Tây cầu Trới cưỡng chế thu hồi đất của 01 hộ dân; Dự án đường dây 500kV Quảng Ninh-Mông Dương đi qua địa bàn xã Thống Nhất bảo vệ thi công để kéo dây đối với 9 hộ dân. Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Dự án Nhiệt điện Thăng Long tại thôn Đè E, xã Lê Lợi triển khai từ năm 2023 với tổng số hộ dân bị ảnh hưởng là 53 hộ và 02 tổ chức. Tổng diện tích thu hồi đất vĩnh viễn là 1.251.558,9m2 . Quá trình giải phóng mặt bằng dự án này gặp rất nhiều khó khăn do không nhận được sự đồng thuận của người dân. UBND huyện cùng các ban ngành đoàn thể từ huyện đến xã đã nhiều lần tuyên truyền, vận động, đối thoại nhưng không thành. Hiện còn vướng mắc 7 hộ dân thuộc khu vực bãi thải xỉ đã nhận tiền nhưng chưa bàn giao mặt bằng với diện tích 124.408,7m2. Các hộ chủ yếu kiến nghị về giá giao đất TĐC.
Dự án Đầu tư xây dựng 02 cầu thay thế 02 đường tràn Đá Trắng 1 và Đá Trắng 2 trên đường TL 326 triển khai từ năm 2024 với tổng số hộ dân bị ảnh hưởng là 52 hộ. Tổng diện tích thu hồi đất vĩnh viễn là 20.299,56m2. Quá trình giải phóng mặt bằng dự án này gặp rất nhiều khó khăn do không nhận được sự đồng thuận của người dân. UBND huyện cùng các ban ngành đoàn thể từ huyện đến xã đã nhiều lần tuyên truyền, vận động, đối thoại nhưng không thành. Hiện còn vướng mắc 9 hộ dân chưa bàn giao mặt bằng với diện tích 6.561m2. Các hộ chủ yếu kiến nghị bồi thường về các công trình xây dựng lấn chiếm trên đất hành lang đường TL326 như bờ kè, cổng, tường rào.
Dự án tuyến đường cao tốc Hạ Long – Vân Đồn đoạn đi qua địa bàn huyện Hoành Bồ có chiều dài 28,5Km, được triển khai từ năm 2024 với tổng số hộ dân bị ảnh hưởng là 869 hộ. Trong đó có 185 hộ phải di chuyển nhà ở. Tổng diện tích thu hồi đất vĩnh viễn là 213,8Ha. Quá trình giải phóng mặt bằng dự án này gặp rất nhiều khó khăn do không nhận được sự đồng thuận của người dân. UBND huyện cùng các ban ngành đoàn thể từ huyện đến xã đã nhiều lần tuyên truyền, vận động, đối thoại nhưng không thành do các hộ dân này đều có kiến nghị đòi bồi thường cây hoa lili và vật kiến trúc xây dựng trái phép do không được bồi thường. Hiện còn vướng mắc 173 hộ dân chưa bàn giao mặt bằng với diện tích 86,9Ha. UBND huyện Hoành Bồ đã ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất để thực hiện công tác GPMB. Đây là một vấn đề hết sức phức tạp và nhậy cảm trong công tác GPMB.
2.2.7. Thực trạng thu hồi đất, giải phóng mặt bằng 02 dự án trọng điểm trên địa bàn huyện Hoành Bồ giai đoạn 2020-2024
2.2.7.1. Thực trạng dự án tuyến đường vành đai phía Bắc tránh thành phố Hạ Long, đoạn Vũ Oai – Quang Hanh
- Tên dự án: Tuyến đường vành đai phía Bắc tránh thành phố Hạ Long, đoạn Vũ Oai – Quang Hanh.
- Địa điểm đi qua: xã Thống Nhất và xã Vũ Oai, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.
Hình 2.4: Vị trí tuyến đường vành đai phía bắc tránh thành phố Hạ Long
Mục tiêu của dự án: Phân luồng xe tải và xe container tránh đi qua trung tâm thành phố Hạ Long để khắc phục tình trạng quá tải và nguy cơ mất an toàn giao thông trên địa bàn thành phố; giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường đô thị thành phố du lịch Hạ Long do bụi khí và khí thải các xe tải, xe container gây ra. Tạo quỹ đất để mở rộng không gian đô thị. Đồng thời, đây cũng là một công trình góp phần phát triển kinh tế xã hội của huyện Hoành Bồ, từng bước xây dựng khu Trung tâm của huyện ngày một phát triển, đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất ở cho người dân trong khu vực xã Thống Nhất, xã Vũ Oai.
Thời gian triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Dự án được triển khai từ tháng 11/2019 (theo Quyết định số 1586/QĐ-UBND ngày 31/5/2019 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình: Tuyến đường vành đai phía Bắc tránh Thành phố Hạ Long, đoạn Vũ Oai – Quang Hanh). Tổng mức đầu tư là 497.836 triệu đồng, chủ đầu tư, quản lý dự án: Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh. Theo Kế hoạch của dự án thì công tác bồi thường GPMB phải thực hiện đến tháng 11/2020 xong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thu hồi đất và bàn giao mặt bằng cho chủ dự án tiến hành thi công công trình. Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Tuy nhiên công tác bồi thường dự án này đã bị chậm trong công tác bồi thường GPMB do có 12 hộ dân chưa đồng tình và có một số kiến nghị về khối lượng tài sản (cống thủy sản) và nguồn gốc sử dụng đất nên công tác bồi thường kéo dài chậm 3 năm cho đến tháng 10 năm 2023 mới thực hiện xong.
Hình 2.5: Thi công đắp nền đường lớp tại dự án đường vành đai phía bắc tránh thành phồ Hạ Long, đoạn Vũ Oai-Quang Hanh
Diện tích đất thu hồi: để thực hiện dự án là 427.989,5 m2. Trong đó gồm 4.222,1m2 đất ở cho 14 hộ gia đình, cá nhân quản lý và sử dụng; 319.491,4 m2 đất sản xuất nông nghiệp do 44 hộ gia đình cá nhân quản lý và sử dụng; 104.276,0m2 do 04 tổ chức và UBND xã Vũ Oai, xã Thống Nhất quản lý. Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là 12.572.545.149 đồng.
Công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại dự án.
- Đối tượng và điều kiện được bồi thường
Trong bất cứ dự án GPMB bằng nào thì việc xác định đối tượng bồi thường rất quan trọng, vì vậy việc xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 499/2019/QĐ-UBND ngày 11 tháng 02 năm 2019 của UBND tỉnh Quảng Ninh và các văn bản liên quan cụ thể đối tượng đủ điều kiện được bồi thường và không được bồi thường của dự án nghiên cứu được thể hiện qua bảng 2.9 dưới đây.
Bảng 2.9: Xác định đối tượng được bồi thường và không được bồi thường trong phạm vi dự án
Qua bảng số liệu 2.9 ta thấy: Có tổng số 64 hộ gia đình, cá nhân và tổ chức nằm trong diện thu hồi đất để GPMB thực hiện dự án. Toàn bộ số hộ nói trên đều được bồi thường, hỗ trợ. Trong đó chủ yếu là bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp chiếm 68.75%, đất ở, đất vườn ao trong cùng thửa đất có nhà ở 21,87%. Tổng số tổ chức bị thu hồi đất là 6 tổ chức bao gồm đất do UBND xã Vũ Oai, UBND Thống Nhất, Công ty Cổ phần Cao Thắng, Nhà máy Nhiệt điện Hà Khánh, Công ty lâm nghiệp Hoành Bồ và Công ty kho vận Hòn Gai quản lý. Theo Khoản 1 điều 43 Luật đất đai 2012, đất của cả 6 tổ chức nêu trên đều do nhà nước giao quản lý, do vậy khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường.
- Kết quả thực hiện công tác Bồi thường GPMB tại dự án.
Căn cứ vào những văn bản pháp lý có liên quan đến dự án, phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất được thực hiện như sau: Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
- Tổng diện tích đất thu hồi 427.989,5 m2 (xã Vũ Oai 335.948,4 m2; xã
- Bồi thường thiệt hại về đất:
Diện tích đất thu hồi để thực hiện dự án là 427.989,5 m2. Trong đó gồm 4.222,1 m2 đất ở cho 14 hộ gia đình, cá nhân quản lý và sử dụng; 319.491,4 m2 đất sản xuất nông nghiệp do 44 hộ gia đình cá nhân quản lý và sử dụng; 104.276,0m2 do 04 tổ chức và UBND xã Vũ Oai, xã Thống Nhất quản lý. Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: 1.951.681.522 đồng. Đất nông nghiệp dự án thu hồi bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất rừng sản xuất và đất nuôi trồng thủy sản với tổng diện tích là 319.491,4 m2, chiếm 74,64% diện tích thu hồi của dự án. Đây là phần đất gắn liền với sản xuất của người dân từ trước đến nay, đem lại nguồn thu nhập chính cho gia đình và cung cấp những nhu cầu thiết yếu cho họ. Do đó, đây là phần ảnh hưởng và có tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân sau khi thu hồi đất.
- Bồi thường thiệt hại về hoa màu:
Bồi thường thiệt hại về hoa màu của dự án chủ yếu là bồi thường thiệt hại đối với cây trồng hàng năm.
Căn cứ quy định tại Nghị định số 22/1998/NĐ-CP của Chính phủ, Quyết định số 2366/2017/QĐ-UBND ngày 28/7/2017 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc quy định đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Quyết định số 574/2018/QĐ-UBND ngày 06/3/2018 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc điểu chỉnh, bổ sung đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Tổng số tiền bồi thường thiệt hại về hoa màu tại dựa án là 1.404.633.825 đồng.
- Chính sách hỗ trợ:
Dự án tuyến đường vành đai phía Bắc tránh Thành phố Hạ Long đoạn Vũ Oai – Quang Hanh, địa phận huyện Hoành Bồ sử dụng quỹ đất chủ yếu là từ thu hồi đất nông nghiệp. Căn cứ Quyết định số 499/2019/QĐ-UBND ngày 11 tháng 02 năm 2019 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc ban hành quy định thực hiện bồi dưỡng, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Vì vậy, người bị thu hồi đất tại dự án phải là người trực tiếp sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ các khoản cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
- Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất:
- Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì hỗ trợ bằng 180kg gạo trên một nhân khẩu,
- Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì hỗ trợ bằng 360kg gạo trên một nhân khẩu.
- Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm được xác đinh như sau: + Đối với đất trồng cây hàng năm: hỗ trợ bằng 2,5 lần giá của loại đất đó, + Đối với đất nông nghiệp còn lại: hỗ trợ bằng 2 lần giá đất của các loại đất nông nghiệp đó,
- Đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp được giao mà người đó trong độ tuổi lao động nếu có nhu cầu học nghề thì được hỗ trợ 1 lần kinh phí để học nghề bằng hình thức cấp thẻ học nghề.
- Bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất:
Bồi thường tài sản trên đất, di chuyển mộ, bồi thường di chuyển, chính sách hỗ trợ áp dụng theo đơn giá tại Quyết định số 4005/QĐ-UB ngày 04/11/2013 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc ban hành đơn giá bồi thường tài sản khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; Quyết định số 499/2019/QĐ-UBND ngày 11 tháng 02 năm 2019 của UBND tỉnh Quảng Ninh V/v ban hành quy định thực hiện bồi dưỡng, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; Tài sản trên đất tại dự án bao gồm nhà cửa, mồ mả của các hộ gia đình xây dựng để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp chứ không phải là đất ở. Tổng số tiền bồi thường là 5.404.061,512 đồng
Cụ thể chi phí bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản trên đất được thể hiện chi tiết ở bảng số 2.10 dưới đây.
- Bảng 2.10: Tổng hợp kết quả bồi thường tại dự án
Qua bảng 2.10 ta thấy: Tổng số tiền được bồi thường của dự án là 12.572.545.149 nghìn đồng. Các nội dung bồi thường bao gồm: Hỗ trợ về đất, hỗ trợ ổn định đời sống, việc làm và thưởng tiến độ bàn giao mặt bằng; Bồi thường đất nông nghiệp; bồi thường tài sản (cây trồng, vật nuôi); bồi thường vật kiến trúc và bồi thường di chuyển mộ.
2.2.7.2. Thực trạng dự án xây dựng đường dây 500 KV Quảng Ninh – Mông Dương
Đặc điểm dự án đường dây 500KV Quảng Ninh – Mông Dương Đường dây 500 KV Quảng Ninh – Mông Dương được xây dựng với các mục tiêu:
Đấu nối nhà máy nhiệt điện Mông Dương với quy mô công suất cuối cùng 2.200MW vào hệ thống điện toàn quốc.
Tạo mối liên kết mạnh giữa các vùng trong hệ thống điện miền Bắc, là cơ sở quan trọng để vận hành ổn định và tối ưu cho hệ thống điện miền Bắc nói riêng và hệ thống điện toàn quốc nói chung.
- Cơ sở pháp lý: Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Hồ sơ Thiết kế kỹ thuật công trình đường dây 500KV Quảng Ninh – Mông Dương được lập dựa trên các văn bản pháp lý sau:
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các đề án Quy hoạch Phát triển Điện lực Việt Nam và Hiệu chỉnh Quy hoạch Phát triển Điện lực Việt Nam giai đoạn 2001-2019 có xét triển vọng đến năm 2029 số 95/2001/QĐTTg ngày 22/6/2001 (TSĐ-V) và số 40/2012/QĐTTg ngày 21/3/2012 (TSĐ-V hiệu chỉnh).
Quyết định phê duyệt dự án đầu tư số 438/QĐ-EVN-HĐQT ngày 21/8/2015 của Hội đồng quản trị – Tổng Công Ty Điện Lực Việt Nam.
Quyết định số 0925/QĐ-EVNNPT ngày 20/8/2021 của Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia về việc phê duyệt hiệu chỉnh Thiết kế kỹ thuật – Tổng dự toán và Tổng mức đầu tư công trình đường dây 500KV Quảng Ninh – Mông Dương.
- Quy mô công trình
Công trình “Đường dây 500KV Quảng Ninh – Mông Dương” nằm trên địa phận Thị xã Cẩm Phả và huyện Hoành Bồ thuộc tỉnh Quảng Ninh sau khi điều chỉnh đoạn tuyến từ G10 đến điểm cuối đấu nối vào Nhà máy điện Mông Dương có đặc điểm kỹ thuật, quy mô cuối cùng như sau:
- Cấp điện áp 500KV.
- Điểm đầu: Tại thanh cái 500kV trạm 500KV Quảng Ninh.
- Điểm cuối: Tại thanh cái 500KV NMNĐ Mông Dương.
- Chiều dài tuyến: 24,916 km (kể cả 02 đoạn vào Trạm).
- Số mạch: 2 mạch
Các giải pháp chính về móng: Dùng móng bê tông cốt thép đúc tại chỗ. * Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường GPMB dự án:
- Các chế độ, chính sách, đơn giá của Nhà nước và các văn bản pháp lý liên quan.
- Việc xác định chính xác các loại đất được bồi thường.
- Tiến độ thẩm định và phê duyệt các phương án sử dụng vốn ngân sách của chủ đầu tư.
- Trình độ dân trí, nhận thức và hiểu biết của người dân
- Năng lực trình độ của chủ đầu tư và của những người làm công tác đền bù GPMB.
Số diện tích cần thu hồi cho dự án Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
- Tổng chiều dài tuyến đi qua địa bàn huyện Hoành Bồ là 9 km, bao gồm 21 vị trí móng cột bắt đầu từ vị trí móng cột VT1A, VT1 … đến VT20 qua địa bàn 03 xã: Thống Nhất, Vũ Oai và Hòa Bình.
- Tổng số hộ dân và tổ chức bị ảnh hưởng: 95 hộ dân và 03 tổ chức, trong đó:
Diện tích đất thu hồi vĩnh viễn để thi công móng cột là: 18.213,5 m2, Trong đó:
- Đất ở: 0 m2; Đất vườn: 380,4 m2;
- Đất trồng cây lâu năm, đất hàng năm; đất lâm nghiệp: 17.833,1 m2.
- Diện tích đất bị ảnh hưởng bởi hành lang an toàn là: 286.918,7 m2, Trong đó:
- Đất ở của 05 hộ với tổng diện tích 1.964,7 m2 Đất vườn: 1.419,9 m2;
- Đất trồng cây lâu năm, hàng năm; đất lâm nghiệp: 283.934,0 m2.
Theo Kế hoạch của dự án đến tháng 10/2022 xong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thu hồi đất và bàn giao mặt bằng cho chủ dự án tiến hành thi công công trình.
Tuy nhiên công tác bồi thường dự án này đã bị chậm trong công tác bồi thường GPMB do có 21 hộ dân chưa đồng tình và có một số kiến nghị về khối lượng tài sản do người dân xây dựng trái phép nằm dưới hành lang đường điện đã bị cơ quan Nhà nước lập biên bản vi phạm hành chính nên không được bồi thường nên các hộ dân không đồng ý. Mặt khác diện tích đất nằm dưới hành lang đường điện không được bồi thường 100% theo đơn giá quy định mà chỉ được hỗ trợ 30% đơn giá đất. Do đó các hộ dân đã không đồng thuận và cản trở không cho đơn vị thi công kéo dây điện qua đất của họ. Để đảm bảo tiến độ thi công của dự án, UBND huyện đã phải ban hành Kế hoạch bảo vệ thi công dự án để kéo dây. Công tác bồi thường đã kéo dài chậm 15 tháng so với kế hoạch ban đầu.
- Đối tượng được bồi thường GPMB
Trong bất cứ dự án GPMB nào thì việc xác định đối tượng bồi thường rất quan trọng vì vậy việc xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 499/2019/QĐ-UBND ngày 11 tháng 02 năm 2019 của UBND tỉnh Quảng Ninh và các văn bản liên quan cụ thể đối tượng đủ điều kiện được bồi thường và không được bồi thường của dự án nghiên cứu được thể hiện qua bảng 2.11 dưới đây :
- Bảng 2.11: Xác định đối tượng được bồi thường và không được bồi thường trong phạm vi dự án
Qua bảng 2.11 ta thấy: Có tổng số 95 hộ gia đình, cá nhân và tổ chức nằm trong diện thu hồi đất GPMB để thực hiện dự án. Toàn bộ số hộ nói trên đều được bồi thường, hỗ trợ. Trong đó chủ yếu là bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp chiếm 91,8%, đất ở, đất vườn ao trong cùng thửa đất có nhà ở 5,1%. Tổng số tổ chức bị thu hồi đất là 3 tổ chức bao gồm đất do UBND xã Thống Nhất, UBND xã Hoà Bình, công ty Lâm nghiệp Hoành Bồ theo Khoản 1 Điều 43 Luật đất đai 2012, đất của cả 3 tổ chức nêu trên đều do Nhà nước giao quản lý, do vậy khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường.
Số diện tích đã thu hồi cho dự án Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
- Diện tích đất thu hồi vĩnh viễn để thi công móng cột là: 18.213,5 m2; Trong đó:
- Đất ở: 0 m2; Đất vườn: 380,4 m2;
- Đất trồng cây lâu năm, hàng năm; đất lâm nghiệp: 17.833,1 m2.
- Đã bàn giao cho chủ dự án để triển khai thi công đúc móng và dựng cột xong 21/21 vị trí móng đi qua 3 xã: Thống Nhất, Vũ Oai, Hoà Bình.
- Diện tích đất bị ảnh hưởng bởi hành lang an toàn là: 286.918,7 m2;
- Trong đó: Đất ở của 05 hộ với tổng diện tích 1.964,7 m2
- Đến tháng 5/2023 mới thực hiện xong công tác bồi thuờng giải phóng mặt bằng với diện tích 286.918,7 m2/286.918,7 m2.
- Kết quả bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng
Bảng 2.12: Tổng hợp kết quả bồi thường tại dự án
Qua bảng 2.12 ta thấy: Tổng số tiền bồi thường của dự án là 7.955.795,422 nghìn đồng. Các nội dung bồi thường bao gồm: Bồi thường về đất; bồi thường cây trồng; bồi thường vật kiến trúc và chính sách hỗ trợ.
2.2.8. Kết quả giải phóng mặt bằng một số dự án trên địa bàn huyện Hoành Bồ từ năm 2020 đến năm 2024
Giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2024, UBND huyện Hoành Bồ đã và đang thực hiện 47 dự án, với tổng diện tích là 940,8Ha. Trong đó đã GPMB xong bàn giao cho chủ đầu tư được 41/47 dự án.
Bảng 2.13: Các dự án còn vướng mắc GPMB trên địa bàn huyện Hoành Bồ
- Nguyên nhân ảnh hưởng đến tiến độ giải phóng mặt bằng chậm của 06 dự án:
- Các hộ dân có kiến nghị về bồi thường đơn giá đất thấp chưa phù hợp với giá chuyển nhượng trên thị trường.
- Chính sách về đơn giá bồi thường của Tỉnh có sự thay đổi trong khi đó có dự án thực hiện công tác bồi thường GPMB kéo dài từ 1-2 năm. Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
- Việc bố trí đất tái định cư cho hộ dân phải di dời nhà ở chưa kịp thời, vị trí ô đất bố trí tái định cư không phù hợp với phong tục tập quán của người dân địa phương.
- Có hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi đến nơi ở tái định cư tập trung thường xa nơi sản xuất.
Giá đất ở khu tái định cư người dân thường phải mua với giá cao hơn đơn giá bồi thường nơi ở cũ nên rất khó khăn, khi mua được ô đất TĐC rồi nhưng không đủ tiền để xây nhà. Tiến độ xây dựng khu tái định cư còn chậm, chất lượng kém làm cho người dân không yên tâm vì vậy chưa chịu nhận tiền bồi thường. Việc bồi thường còn diễn ra chậm khiến người bị thu hồi đất lao đao trong việc ổn định lại cuộc sống, tâm lý trước và sau khi bị thu hồi đất.
Một số người dân có tuổi trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi hết đất sản xuất thì những người dân này không được đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm phù hợp với những người phải thay đổi nghề nghiệp khi bị thu hồi đất đây cũng là khó khăn do đó các hộ dân này thường chây ỳ không chịu bàn giao mặt bằng.
- Đơn giá bồi thường một số loại cây trồng thấp.
- Nhận thức của một số hộ dân còn hạn chế thường bị các đối tượng từ nơi khác lôi kéo, xúi giục đây cùng làm ảnh hưởng đến công tác bàn giao mặt bằng của dự án.
Khi thực hiện công tác kê khai phục vụ cho bồi thường GPMB đã xuất hiện nguồn gốc đất của một số hộ đang sử dụng là không hợp pháp, không rõ nguồn gốc. Qua thời gian sử dụng lâu dài và lấn thêm đất và họ nhầm tưởng mảnh đất đang sử dụng là hợp pháp, thực tế họ không có giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc các giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của thửa đất do đó khi bị thu hồi đất bồi thường GPMB mà không được bồi thường thiệt hại về đất thì cho rằng chính quyền đã cố tình làm sai.
Một số thửa đất khi bị thu hồi bồi thường GPMB đã xẩy ra tranh chấp về ranh giới, diện tích và một số tài sản gắn liền với đất giữa các hộ liền kề, giáp ranh. Một số hộ có diện tích thực tế lớn hơn diện tích trong hồ sơ địa chính do trong quá trình sử dụng đất đã lấn đất nhưng khi bồi thường lại yêu cầu các cấp chính quyền phải bồi thường theo đúng diện tích thực tế; trong quá trình sử dụng các hộ gia đình đã lấn đất nhưng không bị chính quyền cấp xã lập biên bản xử lý vi phạm hành chính. Một số hộ có công trình, vật kiến trúc, nhà ở mua qua nhiều chủ hoặc không trực tiếp sử dụng mà cho thuê lâu dài dẫn đến khi xác định chủ không chính xác. Đây chính là hậu quả của việc quản lý đất đai chưa chặt chẽ trong thời gian trước đây.
- Đất nằm dưới hành lang đường điện; đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm không cùng thửa đất có nhà ở Nhà nước không thu hồi đất và chỉ được hỗ trợ 30% đơn giá đất bồi thường có cùng vị trí.
- Những hộ dân có nhà ở nằm giáp với hành lang an toàn đường điện không được bồi thường.
- Người dân cố tình xây dựng, trồng cây có giá trị kinh tế cao trong ranh giới thu hồi đất để trục lợi tiền bồi thường GPMB như cây hoa lili, nhưng bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính nên không được bồi thường.
Một nguyên nhân khác nữa là do công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chưa thực sự có hiệu quả, còn hình thức. Có hộ nhất quyết không chịu bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư dự án. Một số hộ dân cho rằng các doanh nghiệp tư nhân phải bồi thường với mức giá cao hơn so với doanh nghiệp nhà nước. Trong khi đó quy định của Nhà nước là 5 thành phần kinh tế đều được hưởng chính sách đầu tư và phát triển như nhau. Dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài từ năm này qua năm khác.
Một số dự án lại không được công bố công khai hoặc công bố chưa rộng rãi đến người có đất thuộc diện bị thu hồi bồi thường GPMB. Một số chủ dự án cho rằng dự án đang thực hiện có quy mô nhỏ nên không cần công bố công khai chi tiết nên khi thực hiện việc thu hồi, giải phóng mặt bằng gặp sự phản kháng của người dân do chưa công bố, công khai quy hoạch, công khai đơn giá bồi thường GPMB, giải thích rõ ràng về các văn bản, chính sách có liên quan đến bồi thường GPMB cho từng hộ gia đình, cá nhân. Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Công tác giải quyết đơn thư, khiếu nại còn chậm, chưa kịp thời và dứt điểm. Một số đơn thư được gửi đến nhưng chậm giải quyết hoặc đùn đẩy trách nhiệm cho nhau khi đơn thư khiếu nại, tố cáo đó có liên quan đến một số cán bộ quản lý nhà nước về đất đai. Một số đơn thư trả lời còn chung chung thiếu thực tế, chưa được trả lời cụ thể rõ ràng, gây bức xúc cho người bị thu hồi đất.
Một số dự án có sử dụng đất đã thực hiện xong công tác bồi thường GPMB nhưng chủ dự án chưa thực hiện hoặc thực hiện chậm bị “treo” gây sự bức xúc trong nhân dân, hoặc sau đó chia nhỏ đất để bán lấy tiền sử dụng cho mục đích đền bù và “bỏ túi riêng” dẫn đến tình trạng thiếu tin tưởng của quần chúng nhân dân vào các cấp chính quyền, dẫn đến khiếu nại, tố cáo là tất yếu. Đạo đức của một số cán bộ trong đội ngũ cán bộ nhà nước chưa tạo được niềm tin với nhân dân, trong những năm gần đây đã được điểm mặt, chỉ tên trước công luận và pháp luật khiến cho người dân thiếu niềm tin vào các nhà lãnh đạo, chưa triển khai thực hiện dự án đã bị sự phản đối đa số trong quần chúng nhân dân.
2.3. Đánh giá chung công tác GPMB trên địa bàn huyện Hoành Bồ
2.3.1. Những kết quả đạt được trong công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Hoành Bồ
Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án trên địa bàn huyện được Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Quảng Ninh; Huyện uỷ, HĐND huyện, UBND huyện Hoành Bồ quan tâm chỉ đạo một cách quyết liệt. Một số địa bàn cấp cơ sở đã có sự tham gia tuyên truyền, vận động của các tổ chức chính trị, các đoàn thể xã hội như: Mặt trận tổ quốc cấp xã, thị trấn; Hội Nông dân; Hội cựu chiến binh; Hội phụ nữ; Đoàn thanh niên xã… đã góp phần không nhỏ trong công tác bồi thường GPMB. Ghi nhận sự hy sinh, tự giác, tự nguyện, những đóng góp to lớn của người dân, đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác bồi thường GPMB. Công tác phối hợp giữa các cơ quan, phòng ban, đoàn thể, chủ dự án, và UBND cấp xã nhịp nhàng và chặt chẽ. Đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích về cơ chế chính sách GPMB, chủ trương pháp luật của Nhà nước về công tác GPMB; tổ chức tốt việc đối thoại trực tiếp với các hộ dân đã góp phần tích cực trong giải quyết các nội dung kiến nghị của nhân dân. Một số vướng mắc về chính sách GPMB đã được huyện quan tâm, đề xuất với cấp có thẩm quyền để tháo gỡ kịp thời.
Trong quá trình thực hiện dự án chủ đầu tư và các cơ quan chức năng có thẩm quyền đã hỗ trợ kinh phí để đào tạo nghề và hướng nghiệp tạo điều kiện cho những hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống. Nhiều con em các gia đình bị thu hồi đất đã được một số các doanh nghiệp đưa đi đào tạo và bố trí vào làm việc trong doanh nghiệp.
Thực hiện tốt công tác bồi thường GPMB đã góp phần tích cực cải thiện diện mạo, hệ thống khu công nghiệp cũng như đô thị hóa phát triển theo hướng CNH, HĐH, phấn đấu đến năm 2029 huyện Hoành Bồ phấn đấu trở thành một huyện công nghiệp.
Các Chủ dự án và chính quyền các cấp đã coi trọng công tác công bố công khai chi tiết tới các hộ gia đình trong diện bị thu hồi đất trên các phương tiện thông tin như hệ thống loa truyền thanh ở địa phương.
Chính sách bồi thường đã thông thoáng và linh hoạt hơn, đã có xây dựng giá bồi thường cụ thể và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết việc bồi thường cơ bản phù hợp với giá thị trường đối với đất, tài sản trên đất cũng đã sát với giá thị trường hơn nhưng cần được điều chỉnh một số bất cập. Chủ động quỹ đất tái định cư cho người dân ổn định chỗ ở khi bị thu hồi đất. Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Chính quyền các cấp từ Tỉnh đến huyện đã chú trọng điều chỉnh, bổ sung các chính sách cho phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư tham gia dự án.
Công tác giải quyết các đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân đã kịp thời được giải quyết một cách dứt điểm hơn.
2.3.2. Hạn chế trong công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Hoành Bồ
- Chế độ chính sách về bồi thường thường xuyên thay đổi.
- Khi thực hiện công tác điều tra kê khai diện tích đất, tài sản gắn liền với đất chưa chính xác, việc xác định chủ sở hữu chưa chặt chẽ, một số trường hợp trên địa bàn còn xác định sai chủ sở hữu, xác định sai nguồn gốc sử dụng đất.
- Các văn bản, chính sách khi ban hành chưa chặt chẽ còn nhiều kẽ hở, từ ngữ khó hiểu, khó áp dụng ngay mà còn phải điều chỉnh nhiều. Sự điều chỉnh trong giá đền bù quá lớn hoặc chưa thực sự hợp lý với quy định của pháp luật hoặc không phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương. Chính sách hỗ trợ công trình, vật kiến trúc còn thấp không đáp ứng được giá trị của các hộ trước đó đã bỏ tiền ra xây dựng.
- Công tác công khai công bố dự án đầu tư chưa thực hiện tốt, mới thực hiện cho có mà không chú ý tới vai trò của quần chúng nhân dân – những người bị thu hồi đất.
- Công tác quản lý đất đai đối với chính quyền còn buông lỏng, chưa xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm trong sử dụng đất, công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở còn chậm.
- Một số cán bộ còn sách nhiều trong công tác quản lý đất đai, công tác bồi thường GPMB, còn xuất hiện các hiện tượng mắc ngoặc, tham ô, tham nhũng…
- Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn do tính chất phức tạp của nó. Có nhiều đơn thư khiếu nại được gửi đến các cấp chính quyền. Có đơn thư đã gửi vượt cấp.
Theo nguyên tắc công tác bồi thường giải phóng mặt bằng phải được triển khai thực hiện trong thời gian chuẩn bị đầu tư (đồng thời với việc lập dự án đầu tư), khi khởi công xây dựng thì công tác giải phóng mặt bằng phải hoàn tất. Thế nhưng, hầu hết các dự án sau khi tổ chức đấu thầu xong Chủ đầu tư mới triển khai công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, dẫn đến vừa thi công, vừa giải phóng mặt bằng cho nên một số công trình khi vướng mắc về giải phóng mặt bằng phải ngừng thi công hoặc thi công dở dang không triệt để. Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Một số phương án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước khi phương án được phê duyệt Chủ đầu tư giải quyết kinh phí để chi trả còn chậm, khi có kinh phí thì chính sách bồi thường thay đổi cho nên phải lập bổ sung phương án.
Công tác xây dựng các khu tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng phải được thực hiện trước khi lập phương án bồi thường giải phóng mặt bằng, thế nhưng trong thời gian vừa qua, việc chuẩn bị đất tái định cư không đáp ứng được yêu cầu, có nhiều dự án quá trình thực hiện việc giải phóng mặt bằng phải dừng lại do chưa bố trí được đất tái định cư hoặc có một số hộ muốn nhận tiền bồi thường nhưng không có chỗ để di chuyển đến.
Việc xây dựng bảng giá đất, tài sản phục vụ công tác giải phóng mặt bằng chưa phù hợp, không sát với giá thị trường (chỉ bằng 50% đến 70% giá trị trường) cho nên các hộ dân bị ảnh hưởng không chấp nhận, phát sinh nhiều kiến nghị, khiếu nại.
Trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, Hội đồng bồi thường hỗ trợ tái định cư còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như:
Về nhận thức tư tưởng và ý thức chấp hành pháp luật: Nhận thức, tư tưởng và ý thức chấp hành chính sách pháp luật của người dân nói chung và người bị thu hồi đất chưa cao. Một số hộ chưa chấp hành tốt việc thực hiện chủ trương chính sách của Nhà nước trong công tác giải phóng mặt bằng, không nhận tiền bồi thường, không chấp hành giao đất cho Nhà nước xây dựng công trình. Số hộ này tuy không nhiều nhưng lại là tồn tại rất lớn ảnh hưởng đến tiến độ giải phóng mặt bằng dẫn đến việc kéo dài thời gian, không bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi công làm ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Về đối tượng và điều kiện được bồi thường: Do trình độ quản lý còn nhiều bất cập cùng với tinh thần thực hiện pháp luật của người dân chưa cao dẫn đến gặp nhiều khó khăn. Khi thực hiện xác định điều kiện được bồi thường còn nhiều vướng mắc về việc xác định diện tích đất nông nghiệp có vị trí tiếp giáp với mặt tiền; diện tích đất vườn liền kề với đất ở để tính giá bồi thường.
Kết luận chương 2
Qua 02 dự án trọng điểm, điển hình về Công tác bồi thường GPMB gồm: Dự án đường vành đai phía Bắc tránh thành phố Hạ Long, đoạn Vũ Oai Quang Hanh và dự án xây dựng đường dây 500Kv Quảng Ninh – Mông Dương nhìn chung đã đạt được một số kết quả tích cực nhưng vẫn còn một số hạn chế như: Về tiến độ thực hiện tuy đã được tập trung chỉ đạo về cơ bản đã đạt được yêu cầu đề ra, bàn giao xong đưa dự án vào sử dụng tuy nhiên tiến độ thực hiện có chậm so với yêu cầu đặt ra. Một số trở ngại như vẫn bị những kiến nghị, khiếu nại nhưng cũng đã giải quyết ổn thỏa những thắc mắc của Người dân; Các chế độ chính sách được vận dụng một cách linh hoạt và đúng quy định. Qua việc thực hiện bồi thường GPMB đã rút ra được những hạn chế và nguyên nhân cơ bản, đó là: Về đơn giá bồi thường hiện còn thấp, chưa phù hợp, đặc biệt là có sự chênh lệch rất lớn giữa các địa phương gần nhau, đây là một bất hợp lý cần phải được nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi. Sự phối hợp giữa các phòng, ban chức năng của huyện với chủ đầu tư còn chưa kịp thời, nhịp nhàng và chủ đầu tư còn chưa quan tâm, còn ỷ lại cho đơn vị thực hiện bồi thường GPMB. Bên cạnh đó, trình độ nhận thức và hiểu biết của Người dân về pháp luật cũng như chế độ chính sách của Nhà nước còn rất hạn chế nên dẫn tới việc thực hiện công tác bồi thường GPMB phần nào bị ảnh hưởng đến kết quả thực hiện. Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp công tác bồi thường giải phóng mặt bằng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng […]