Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý dạy học phân hóa theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát đặc điểm, tình hình huyện Quế Võ, Bắc Ninh
2.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội
Huyện Quế Võ có diện tích 15.484,82 ha, nằm ở phía Đông tỉnh Bắc Ninh, thuộc vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Bắc Ninh 10 km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 40 km về phía Tây Nam. Huyện Quế Võ có quốc lộ 18 từ Nội Bài đến Quảng Ninh chạy qua địa phận huyện dài 22 km, là cầu nối phát triển kinh tế xã hội giữa huyện với các tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,… [29].
Tổng sản phẩm GRDP ước thực hiện năm 2025 đạt 6.415,2 tỷ đồng (giá so sánh 2018), tăng 10,7% so với thực hiện năm 2024. Trong đó: Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản: 701,2 tỷ đồng, giảm 4,0% so với thực hiện năm 2024; Công nghiệp – xây dựng: 3.637 tỷ đồng, tăng 13,8% so với thực hiện năm 2024; Dịch vụ: 2.077 tỷ đồng, tăng 11,4% so với thực hiện năm 2024 [29].
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng: khu vực Công nghiệp – Xây dựng chiếm 52,8%; khu vực Dịch vụ chiếm 35,5%; khu vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 11,7% [29].
Thu nhập bình quân đầu người đạt 44,2 triệu đồng/người/năm, tương đương 2.009 USD/người/năm, tăng 4,7% so với thực hiện năm 2024 [29].
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2025 ước thực hiện: 387.733 triệu đồng, bằng 136,8% dự toán Tỉnh giao và bằng 93,5% so với thực hiện năm 2024.
Tổng chi ngân sách ước thực hiện 940.384 triệu đồng đạt 182,3% dự toán giao và bằng 93,2% so với thực hiện năm 2024 [29].
2.1.2. Tình hình giáo dục Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Sự nghiệp giáo dục – đào tạo của huyện Quế Võ ngày càng phát triển toàn diện. Mạng lưới trường, lớp được bố trí hợp lý và củng cố theo hướng đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Toàn huyện có 22 trường Mầm non, 22 trường Tiểu học, 22 trường Trung học cơ sở và 05 trường Trung học phổ thông; 01 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên và 21 Trung tâm học tập cộng đồng. Tỷ lệ huy động trẻ trong các độ tuổi đến lớp ở các cấp học đạt cao. Đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở được duy trì vững chắc (trong đó phổ cập Tiểu học mức 2 đạt 2/21 xã) [29].
Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, tỉ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Cơ sở vật chất trường học được quan tâm đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại hóa và chuẩn hóa. Đến nay tỉ lệ phòng học kiên cố đạt 96,9 % (THPT đạt 100%). Công tác xã hội hoá giáo dục, xây dựng xã hội học tập, khuyến học, khuyến tài được coi trọng và đẩy mạnh. Phong trào xây dựng gia đình, dòng họ, cộng đồng, đơn vị học tập và hiếu học được triển khai sâu rộng có kết quả [29].
Chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực, theo hướng thực chất. Giáo dục mũi nhọn có nhiều khởi sắc, năm 2025 đạt 11 giải Quốc gia, 125 giải cấp tỉnh (các môn thi văn hóa). Thực hiện tốt công tác kiểm định chất lượng giáo dục, kết thúc năm học 2024 – 2025 có thêm 11 trường học được công nhận cơ sở đạt chuẩn chất lượng giáo dục, nâng tổng số đơn vị đạt chuẩn chất lượng toàn huyện là 46/71, đạt tỉ lệ 64,8%, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia đảm bảo tiến độ, công nhận mới thêm 09 trường; nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia toàn huyện là 64/69, tỉ lệ 92,75%. Kết quả thi vào THPT được nâng lên điểm bình quân toàn huyện 28,40 (năm học 2023 – 2024 là 26,72) tăng 1,68 điểm; kết quả thi THPT quốc gia và xét tuyển vào đại học, cao đẳng liên tục phát triển (tỉ lệ HS đỗ tốt nghiệp THPT hàng năm đều đạt trên 99%, tỉ lệ HS đỗ đại học hàng năm đều đạt trên 65% trên tổng số HS dự thi) [29].
2.2. Thực trạng dạy học phân hóa ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Để đánh giá thực trạng DHPH ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, đề tài đã xây dựng 02 bộ phiếu hỏi (01 bộ phiếu hỏi HS, 01 bộ phiếu hỏi GV). Ngoài phần thông tin cá nhân của người trả lời phiếu hỏi, mỗi bộ phiếu hỏi tập trung vào các vấn đề sau: nhận thức về DHPH; việc thực hiện DHPH.
Các trường khảo sát gồm 05 trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh: THPT Quế Võ số 1, THPT Quế Võ số 2, THPT Quế Võ số 3, THPT Phố Mới và THPT Trần Hưng Đạo. Số GV được khảo sát là 100 người; số HS được khảo sát là 500 em.
2.2.1. Hoạt động giảng dạy của giáo viên
Để đánh giá thực trạng hoạt động giảng dạy của GV, tác giả dùng phiếu hỏi ý kiến của đội ngũ GV (phụ lục 2.1). Số phiếu phát ra là 100, số phiếu thu về là 100. Kết quả được tổng hợp trong Bảng 2.1 dưới đây:
- Bảng 2.1. Kết quả khảo sát về nhận thức và mức độ thực hiện các nội dung cơ bản trong giảng dạy phân hóa của GV
Nhận xét: Qua khảo sát cho thấy, GV các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay đã thực hiện việc giảng dạy theo DHPH. Tuy nhiên, việc nhận thức và mức độ thực hiện hoạt động giảng dạy theo DHPH của GV ở các trường khảo sát chưa được tốt; GV chưa thực sự quan tâm, đầu tư đúng mức. Thể hiện:
- Việc điều tra đối tượng HS trước khi dạy:
Xác định mức độ năng lực của HS: có 99% GV cho rằng là cần thiết và rất cần thiết, nhưng lại có tới 42% GV thực hiện chưa tốt và 2% GV chưa thực hiện; Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Khảo sát hứng thú của HS: có 97% GV cho rằng là cần thiết và rất cần thiết, nhưng lại có tới 44% GV cho rằng thực hiện chưa tốt và 20% GV chưa thực hiện;
Phát hiện phong cách học tập của HS: 94% GV cho rằng là cần thiết và rất cần thiết, nhưng lại có tới 43% GV thực hiện chưa tốt và 25% GV chưa thực hiện.
Việc Lập kế hoạch dạy học và thiết kế bài soạn dựa trên thang nhận thức của Bloom: có 58% GV cho rằng đây là nội dung rất cần thiết, 30% GV cho rằng đây là nội dung cần thiết và còn tới 12% GV cho rằng đây là nội dung không cần thiết; 27% GV trả lời đã thực hiện tốt, 55% GV trả lời thực hiện chưa tốt và còn tới 18% GV trả lời là chưa thực hiện.
- Việc sử dụng PPDH và các hình thức lên lớp:
Kết hợp nhiều PPDH, phối hợp các hình thức hoạt động chung của tập thể và hoạt động nhóm: có 99% GV cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 45% GV trả lời thực hiện chưa tốt và 2% GV trả lời là chưa thực hiện;
Sử dụng các kĩ thuật dạy học phù hợp với nhu cầu của HS, HS được tạo cơ hội để thể hiện mình: có 98% GV cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 46% GV trả lời thực hiện chưa tốt và 3% GV trả lời là chưa thực hiện.
- Việc kiểm tra, đánh giá tiến bộ của HS trong giờ học và trong suốt quá trình học:
Căn cứ vào mục tiêu dạy học, GV xây dựng các hình thức kiểm tra để đánh giá,…: có 99% GV cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 53% GV trả lời thực hiện chưa tốt và 2% GV trả lời là chưa thực hiện;
Nhiệm vụ học tập của HS được lập ra và điều chỉnh dựa trên số liệu đánh giá, HS được đánh giá theo các cách khác nhau: có 97% GV cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 59% GV trả lời thực hiện chưa tốt và 3% GV trả lời là chưa thực hiện.
- Xây dựng mối quan hệ GV – HS, HS – HS:
GV-HS, HS-HS chấp nhận và tôn trọng nhau, tạo mối quan hệ dân chủ trong nhà trường: có 99% GV cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 34% GV trả lời thực hiện chưa tốt và 3% GV trả lời là chưa thực hiện;
GV là người giúp HS trở thành người học tự tin vào chính mình: có 98% GV cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 52% GV trả lời thực hiện chưa tốt và 3% GV trả lời là chưa thực hiện;
- Ngoài kết quả trên, theo phân tích kết quả phiếu hỏi HS (Phụ lục 2.2) còn cho biết:
Về hình thức tổ chức dạy học của GV: Hầu hết HS trả lời GV chủ yếu dạy học chung cả lớp; việc dạy học theo từng nhóm trên lớp ít khi được GV thực hiện. Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Về thái độ của giáo viên trong giờ lên lớp: Đa số HS trả lời GV có lúc nhiệt tình giảng dạy, quan tâm và giúp đỡ được từng học sinh nhưng nhiều lúc thì chưa làm được.
Về phương pháp dạy học của giáo viên: Đa số HS trả lời GV đã có sự kết hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau nhưng phương pháp thuyết trình một chiều vẫn chiếm thời lượng nhiều, HS có lúc phát huy được tính tích cực nhưng có lúc thì lại bị thụ động.
Về việc kiểm tra đánh giá của giáo viên: Đa số HS trả lời GV kiểm tra đánh giá học sinh công bằng và nghiêm túc, phản ánh đúng năng lực của học sinh.
2.2.2. Hoạt động học tập của học sinh
Để điều tra, khảo sát về thực trạng học tập của HS các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, Bắc Ninh, tác giả dùng phiếu hỏi HS (Phụ lục 2.2). Số phiếu phát ra là 500, số phiếu thu về là 500. Kết quả như sau:
Về động cơ học tập chủ yếu: 11,4% HS trả lời để nâng cao kiến thức, thỏa mãn nhu cầu bản thân; 40,6% HS trả lời để vượt qua kì thi/xét tốt nghiệp THPT; 34,2% HS trả lời để đỗ vào các trường đại học, cao đẳng,.. ; 5,2% HS trả lời là do hứng thú học tập; 8,6% HS trả lời là do sức ép từ phía bố mẹ.
Về đáp ứng nhu cầu học tập của cá nhân: 30,2% HS trả lời được đáp ứng đầy đủ theo nhu cầu và năng lực của bản thân; 51,2% HS trả lời được đáp ứng một phần theo nhu cầu và năng lực của bản thân; 18,6% HS trả lời không được đáp ứng theo nhu cầu và năng lực của bản thân. Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Về cơ sở vật chất phục vụ học tập: 24,6% HS trả lời có đầy đủ, hiện đại, đồng bộ, sắp xếp hợp lý; 58,6% HS trả lời có đầy đủ, nhưng chưa hiện đại hoặc chưa đồng bộ hoặc sắp xếp chưa hợp lý; 16,8% HS trả lời còn thiếu so với nhu cầu học tập.
Việc tiếp thu kiến thức mới: 30,8% HS trả lời rất thuận lợi; 44,6% HS trả lời còn gặp một số khó khăn; 24,6% HS trả lời gặp rất nhiều khó khăn
Về phương pháp học tập chủ yếu: 61,4% HS trả lời nghe giáo viên giảng trên lớp; 30,2% HS trả lời học tập theo nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên; 4,6% HS trả lời học tập theo nhóm tự phát; 3,8% HS trả lời tự học, tự nghiên cứu.
Cảm nhận chung về chất lượng tổ chức quản lý và dạy học phân hóa: 32,6% HS được hỏi trả lời là hài lòng; 52,2% trả lời tạm hài lòng và 15,2% chưa hài lòng. Ngoài kết quả trên, theo kết quả phiếu hỏi GV (Phụ lục 2.1) được tổng hợp trong
Bảng 2.2 còn cho biết thêm về thực trạng hoạt động học tập của HS ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, Bắc Ninh:
- Bảng 2.2. Kết quả khảo sát về nhận thức của GV và mức độ thực hiện hoạt động học tập của HS theo DHPH
Nhận xét: Qua khảo sát cho thấy nhận thức của GV và mức độ thực hiện các nội dung về hoạt động học tập của HS theo DHPH ở các trường THPT huyện Quế Võ, Bắc Ninh còn chưa thực sự tốt. Thể hiện:
- Học tập theo DHPH tạo cơ hội để mỗi HS phát huy được khả năng của mình: có 99% GV cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 55% GV trả lời đã thực hiện chưa tốt và 7% GV trả lời là chưa thực hiện;
- Học tập theo DHPH, người học biết tôn trọng những khác biệt và nhu cầu của cá nhân: có 98% GV cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 53% GV trả lời thực hiện chưa tốt và 12% GV trả lời là chưa thực hiện;
- Học tập theo DHPH, tất cả HS tham gia vào bài học, nhằm tới các cấp độ khác nhau của tư duy: có 98% GV cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, van có tới 45% GV trả lời thực hiện chưa tốt và 8% GV trả lời là chưa thực hiện;
- Học tập theo DHPH, HS làm việc theo nhiều dạng nhóm khác nhau và biết làm việc độc lập: có 98% GV cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 53% GV trả lời thực hiện chưa tốt và 5% GV trả lời là chưa thực hiện;
- Học tập theo DHPH, mỗi HS đều được giao nhiệm vụ dựa trên kiến thức cơ bản sự hiểu biết…: có 99% GV cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 51% GV trả lời thực hiện chưa tốt và 6% GV trả lời là chưa thực hiện;
- Học tập theo DHPH, HS được đánh giá đầu vào và liên tục trong quá trình học: có 98% GV cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 44% GV trả lời thực hiện chưa tốt và 4% GV trả lời là chưa thực hiện.
2.3. Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Bắc Ninh là một tỉnh có diện tích nhỏ nhất nước, nhưng thu ngân sách lại đứng ở vị trí rất cao trong cả nước ( năm 2025 đứng thứ 10/63 tỉnh thành), là một trong số ít các tỉnh có ngân sách nộp về Trung ương. Trong những năm gần đây, tỉnh Bắc Ninh đã dành ra một khoản ngân sách đáng kể để thực hiện việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho Ngành giáo dục nhằm đáp ứng các yêu cầu của đổi mới giáo dục. Do đó, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của các trường THPT công lập trong tỉnh Bắc Ninh nói chung và huyện Quế Võ nói riêng là tương đối đầy đủ, hiện đại, cơ bản đáp ứng các yêu cầu của giáo dục hiện nay; còn đối với đa số các trường THPT ngoài công lập thì điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học lại còn thiếu so với nhu cầu dạy học hiện nay. Thực trạng này cũng được khẳng định thông qua kết quả khảo sát HS (Phụ lục 2.2) đã nêu ở trên.
Mặt khác, qua tìm hiểu và trao đổi với các trường THPT trong tỉnh nói chung và huyện Quế Võ nói riêng tác giả nhận thấy ở tất cả các trường đều không có phòng học nhạc họa, vườn thực nghiệm, xưởng thực tập, thực hành, … nhà tập đa năng đúng tiêu chuẩn, sân vận động đúng tiêu chuẩn, bể bơi đúng tiêu chuẩn và đặc biệt là không có nhân viên chuyên trách phụ trách phòng thiết bị và thí nghiệm. Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Như vậy, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của các trường THPT huyện Quế Võ, Bắc Ninh đã cơ bản đáp ứng các yêu cầu của giáo dục hiện nay. Song, muốn thực hiện thành công cuộc đổi mới giáo dục theo chủ trương của Đảng thì các trường cần tăng cường đầu tư xây dựng, mua sắm nhiều hơn nữa về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
2.4. Thực trạng quản lý dạy học phân hóa ở các trường THPT huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Để đánh giá thực trạng quản lý DHPH ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay, tác giả tiến hành phân tích kết quả phiếu hỏi GV (Phụ lục 2.1) và kết quả phiếu hỏi HS (Phụ lục 2.2), kết hợp với việc tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi cán bộ quản lý (Phụ lục 2.3); các trường khảo sát gồm 05 trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh: THPT Quế Võ số 1, THPT Quế Võ số 2, THPT Quế Võ số 3, THPT Phố Mới và THPT Trần Hưng Đạo; số cán bộ quản lý được khảo sát là 40 người (Hiệu trưởng 05, Phó hiệu trưởng 10, Tổ trưởng chuyên môn 25); số phiếu phát ra 40, số phiếu thu về 40.
- Kết quả cụ thể như sau:
2.4.1. Quản lý nâng cao nhận thức cho giáo viên, học sinh về dạy học phân hóa
Thông qua phân tích kết quả phiếu hỏi GV (Phụ lục 2.1) và kết quả phiếu hỏi HS (Phụ lục 2.2) đã nêu ở trên cho thấy: Nhận thức của nhiều GV và HS về DHPH còn chưa thực sự tốt; nhiều GV chưa thực sự quan tâm, đầu tư cho công tác DHPH; đa số HS chưa hiểu hết được những ưu điểm nổi trội của DHPH nên chưa tích cực, chủ động thực hiện các hoạt động học tập.
Như vậy, việc quản lý nâng cao nhận thức cho GV, HS về DHPH ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay là chưa thực sự tốt. Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
2.4.2. Quản lý thực hiện nội dung chương trình theo yêu cầu của dạy học phân hóa
- Bảng 2.3. Kết quả khảo sát nhận thức và mức độ thực hiện việc quản lý nội dung chương trình của cán bộ quản lý
Nhận xét: Qua kết quả thu được ở trên cho thấy việc quản lý nội dung chương trình theo dạy học phân hoá ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay là chưa thực sự tốt. Thể hiện:
Việc tổ chức cho GV nắm vững cấu trúc chương trình dạy học, chuẩn kiến thức kĩ năng…: có 95% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 42,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 2,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Việc tổ chức cho GV thiết kế những chương trình DH chi tiết theo những hướng khác nhau dựa vào năng lực người học…: có 92,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 42,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Việc chỉ đạo tổ chuyên môn thống nhất trong GV kế hoạch giảng dạy chi tiết, kế hoạch giảng dạy từng học kì, từng chương, từng bài: có 97,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 27,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 12,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Việc chỉ đạo thiết lập các quy định của nhà trường về thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình và tổ chức thực hiện hiệu quả các quy định đó: có 95% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 45% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 12,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Việc chỉ đạo bố trí tiết học theo giờ học, buổi học, môn học hợp lý, khoa học: có 97,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 15% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 2,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Việc kiểm tra và có biện pháp xử lý, điều chỉnh kịp thời các tình huống nhanh, chậm chương trình: có 92,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 20% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 2,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
2.4.3. Quản lý đổi mới phương pháp dạy học và quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
- Quản lý đổi mới phương pháp dạy học
Thông qua phân tích kết quả phiếu hỏi GV (Phụ lục 2.1) và kết quả phiếu hỏi HS (Phụ lục 2.2) đã nêu ở trên cho thấy: Nhiều GV vẫn còn sử dụng PPDH thuyết trình một chiều là chủ yếu, nhiều HS sử dụng phương pháp nghe GV giảng bài trên lớp là phương pháp học tập chủ yếu, trong giờ học đa số GV chưa phát huy được tính tích cực và năng lực sẵn có của HS.
Như vậy, việc quản lý công tác đổi mới PPDH cho GV để thực hiện DHPH ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh còn chưa thực sự tốt.
- Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Bảng 2.4. Kết quả khảo sát về nhận thức và mức độ thực hiện nội quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS đối với cán bộ quản lý
Nhận xét: Qua kết quả thu được ở trên cho thấy việc quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo dạy học phân hoá ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay là chưa thực sự tốt. Thể hiện:
Việc phổ biến cho GV các văn bản quy định về chế độ kiểm tra, cho điểm, xếp loại HS: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 25% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 2,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện; Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Việc chỉ đạo cải tiến đổi mới nội dung và phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục đích yêu cầu, năng lực nhận thức của HS,…: có 97,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 35% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Việc chỉ đạo tổ chuyên môn kiểm tra đột xuất sổ điểm, bài kiểm tra,…: có 92,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 40% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 15% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Việc chỉ đạo tổ chuyên môn phân công GV ra đề thi học kì đáp ứng dạy học phân hóa: có 95% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 40% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 7,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Việc tổ chức kiểm tra, thi một cách dân chủ, công khai và công bằng: có 97,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 17,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 2,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện.
2.4.4. Quản lý việc phân công giảng dạy cho giáo viên và quản lý việc soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên
- Quản lý việc phân công giảng dạy cho giáo viên
Bảng 2.5. Kết quả khảo sát về nhận thức và mức độ thực hiện quản lý việc phân công giảng dạy cho GV của cán bộ quản lý
Nhận xét: Qua kết quả thu được ở trên cho thấy việc quản lý công tác phân công giảng dạy cho GV theo dạy học phân hoá ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay còn chưa thực sự tốt. Thể hiện:
Phân công theo năng lực, trình độ: có 97,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 35% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 2,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Phân công theo nguyện vọng và đúng chuyên ngành đào tạo: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 30% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 25% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Phân công theo đề nghị của tổ bộ môn: có 95% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 40% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Phân công phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị: có 92,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 30% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện.
- Quản lý việc soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên
Bảng 2.6. Kết quả khảo sát về nhận thức và mức độ thực hiện quản lý việc soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của GV đối với cán bộ quản lý Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Nhận xét: Qua kết quả thu được ở trên cho thấy việc quản lý soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của GV theo dạy học phân hoá ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay còn chưa thực sự tốt. Thể hiện:
Việc đề ra những quy định cụ thể, thống nhất về việc soạn bài và chuẩn bị tiết dạy theo dạy học phân hóa, dạy học xuất phát từ tình hình thực tế của học sinh: có 97,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 55% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 10% trả lời là chưa thực hiện;
Chỉ đạo tổ chuyên môn thống nhất trong tổ về: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học bài học: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 35% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 7,5% trả lời là chưa thực hiện;
Giao tổ chuyên môn lập kế hoạch kiểm tra giáo án của GV theo yêu cầu dạy học phân hóa thường xuyên, định kỳ: có 97,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 37,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 10% trả lời là chưa thực hiện;
Dự giờ đánh giá soạn giảng qua bài dạy: có 97,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 35% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 2,5% trả lời là chưa thực hiện.
2.4.5. Quản lý giờ lên lớp của giáo viên Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
- Bảng 2.7. Kết quả khảo sát về nhận thức và mức độ thực hiện quản lý giờ lên lớp của GV đối với cán bộ quản lý
Nhận xét: Qua kết quả thu được ở trên cho thấy việc quản lý giờ lên lớp của GV theo dạy học phân hoá ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay còn chưa thực sự tốt. Thể hiện:
Việc chỉ đạo xây dựng tiêu chuẩn giờ lên lớp thể hiện dạy học phân hóa: có 97,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 32,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 15% trả lời là chưa thực hiện;
Việc quản lý giờ dạy thông qua thời khóa biểu, kế hoạch giảng dạy chi tiết, sổ báo giảng, sổ ghi đầu bài: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 30% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 5% trả lời là chưa thực hiện;
Việc tổ chức dự giờ định kỳ, đột xuất và có phân tích: có 95% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 45% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 12,5% trả lời là chưa thực hiện;
việc xây dựng nề nếp giảng dạy của GV theo dạy học phân hóa: có 92,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 55% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 7,5% trả lời là chưa thực hiện;
Việc chỉ đạo sử dụng kết quả thực hiện nề nếp trong đánh giá, xếp loại thi đua của GV: có 95% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng có tới 47,5% trả lời thực hiện chưa tốt và 7,5% trả lời là chưa thực hiện.
2.4.6. Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn, hồ sơ chuyên môn của giáo viên và quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên
- Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn, hồ sơ chuyên môn của giáo viên
Nhận xét: Qua kết quả thu được ở bảng 2.8 dưới đây cho thấy việc quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn và hồ sơ chuyên môn của GV theo dạy học phân hoá ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay còn chưa thực sự tốt. Thể hiện: Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Việc chỉ đạo xây dựng tiêu chuẩn hồ sơ chuyên môn đáp ứng dạy học theo dạy học phân hóa: có 95% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 37,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 15% trả lời là chưa thực hiện;
Việc chỉ đạo tổ chuyên môn lập kế hoạch, xây dựng nội dung sinh hoạt tổ,… đáp ứng theo dạy học phân hóa: có 97,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có 30% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 5% trả lời là chưa thực hiện;
- Bảng 2.8. Kết quả khảo sát về nhận thức và mức độ thực hiện việc quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn và hồ sơ chuyên môn GV của cán bộ quản lý
Yêu cầu tổ trưởng chuyên môn báo cáo thường xuyên nội dung, kết quả hoạt động chuyên môn của tổ: có 92,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 42,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 12,5% trả lời là chưa thực hiện;
Khen thưởng, động viên kịp thời GV có đầy đủ hồ sơ chuyên môn theo yêu cầu đặt ra: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng có tới 40% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 25% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện.
- Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên
Bảng 2.9. Kết quả khảo sát về nhận thức và mức độ thực hiện việc quản lý công tác bồi dưỡng GV về DHPH của cán bộ quản lý
Nhận xét: Qua kết quả thu được ở trên cho thấy việc quản lý bồi dưỡng GV về dạy học phân hoá ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay còn chưa thực sự tốt. Thể hiện:
Việc quán triệt cho toàn thể GV yêu cầu bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ: có 95% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng vẫn có 32,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 5% trả lời là chưa thực hiện; Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Tạo điều kiện tốt nhất để GV đi học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như đi học tập các lớp bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chu kì: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 37,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 2,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Phối hợp với các trường để GV trao đổi, học tập kinh nghiệm lẫn nhau: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có 37,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 10% trả lời là chưa thực hiện;
Nội dung bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu của GV, của nhà trường: có 97,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng có tới 42,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 2,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Lập kế hoạch bồi dưỡng và đảm bảo kịp thời kinh phí chi cho công tác bồi dưỡng: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng vẫn có 27,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 7,5% trả lời là chưa thực hiện.
2.4.7. Quản lý hoạt động học tập của học sinh
- Bảng 2.10. Kết quả khảo sát về nhận thức và mức độ thực hiện việc quản lý hoạt động học tập của HS đối với cán bộ quản lý
Nhận xét: Qua kết quả thu được ở trên cho thấy việc quản lý hoạt động học tập của HS theo dạy học phân hoá ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay còn chưa thực sự tốt. Thể hiện:
Chỉ đạo GVCN lớp xây dựng nề nếp, giáo dục ý thức, động cơ và phương pháp học tập cho HS: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng có tới 35% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt;
Chỉ đạo GVCN, kết hợp với Đoàn Thanh niên, GV bộ môn giám sát nề nếp tự học của HS: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng có 15% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 2,5% trả lời là chưa thực hiện;
Động viên, giúp đỡ, khen thưởng và kỷ luật kịp thời, công bằng để kích thích tinh thần, thái độ học tập của học sinh: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 17,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Quan tâm việc tổ chức hướng dẫn phương pháp học tập, rèn cho HS một số kỹ năng tự học, tự nghiên cứu: có 97,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 27,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 15% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Tổ chức bồi dưỡng HS giỏi, phụ đạo HS yếu: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 17,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 2,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện.
2.4.8. Quản lý các điều kiện hỗ trợ dạy học Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Bảng 2.11. Kết quả khảo sát về nhận thức và mức độ thực hiện việc quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của cán bộ quản lý
Nhận xét: Qua kết quả thu được ở trên cho thấy việc quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học theo dạy học phân hoá ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay còn chưa thực sự tốt. Thể hiện:
Có kế hoạch trang bị cơ sở vật chất trường học như phòng học bộ môn, nhà tập đa năng, đồ dùng dạy học…: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng vẫn có 32,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt;
Cung cấp đủ các điều kiện thiết yếu để GV thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy và HS đổi mới phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có 37,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 7,5 % cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Khuyến khích GV sáng tạo, thiết kế và sử dụng đồ dùng DH tự làm: có 95% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng có tới 52,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 12,5% trả lời là chưa thực hiện;
Yêu cầu tổ chuyên môn, xây dựng quy trình sử dụng phương tiện dạy học cho từng chuyên môn: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng có tới 35% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 7,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện; Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Chỉ đạo tổ chuyên môn kiểm tra việc sử dụng đồ dùng dạy học của GV: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng có tới 47,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 7,5% trả lời là chưa thực hiện;
Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, sử dụng đồ dùng DH cho cán bộ quản lý và GV: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng có tới 62,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 10% trả lời là chưa thực hiện;
Đầu tư đồng bộ, kiểm tra đánh giá, quản lý sử dụng cơ sở vật chất: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng có tới 47,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 15% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
Kiểm tra việc sử dụng đồ dùng dạy học của GV dựa vào sổ báo đồ dùng dạy học, báo cáo của nhân viên thí nghiệm; phản ánh của HS: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng có tới 47,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 7,5% cán bộ quản lý trả lời là chưa thực hiện;
- Quản lý môi trường sư phạm nhà trường
Bảng 2.12. Kết quả khảo sát về nhận thức và mức độ thực hiện việc quản lý môi trường sư phạm trong nhà trường theo DHPH của cán bộ quản lý
Nhận xét: Qua kết quả thu được ở trên cho thấy việc quản lý môi trường môi trường sư phạm trong nhà trường theo DHPH ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh hiện nay còn chưa thực sự tốt. Thể hiện:
Việc tạo môi trường dân chủ trong nhà trường trên cơ sở những nội quy, quy định,…: có 97,5% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có 40% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 25% trả lời là chưa thực hiện;
Việc tăng cường quyền chủ động của nhà trường, tạo thu nhập cho GV, công nhân viên…: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có 37,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt và 10% trả lời là chưa thực hiện;
Việc phát huy các mối quan hệ bên trong nhà trường; huy động cán bộ, GV, HS, cha mẹ học sinh tham gia quản lý nhà trường, xây dựng môi trường sư phạm thân thiện, HS tích cực: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng có tới 42,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt; Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Tăng cường cơ sở vật chất, xây dựng nhà trường xanh – sạch – đẹp – an toàn: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 55% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt;
Phối hợp thực hiện tốt giữa ba môi trường giáo dục: nhà trường – gia đình – xã hội: có 100% cán bộ quản lý cho rằng là nội dung rất cần thiết và cần thiết, nhưng lại có tới 57,5% cán bộ quản lý trả lời thực hiện chưa tốt.
2.5. Đánh giá chung quản lý dạy học phân hóa theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, Bắc Ninh
2.5.1. Những kết quả đã đạt được
Về nhận thức: Bằng sự say mê nghề nghiệp, hết lòng vì HS thân yêu, nhiều cán bộ quản lý và GV đã nhận thức được trong thời đại ngày nay việc DHPH là tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế chung của thế giới. Song, các GV vẫn thực hiện DHPH theo kinh nghiệm và cán bộ quản lý nhà trường vẫn quản lý theo kinh nghiệm, truyền thống.
Về công tác quản lý chương trình: Việc quản lý chương trình DH ở các trường được thực hiện nghiêm túc, có các biện pháp kiểm tra thường xuyên. Hầu hết các trường đều thực hiện đúng tiến độ, bám sát phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT.
Về công tác quản lý hoạt động dạy học của giáo viên: Hiệu trưởng đã đề ra kế hoạch chung ngay từ đầu năm học (được sở phê duyệt) phù hợp với thực tế của nhà trường, có những quyết định đúng kịp thời, tổ chức thực hiện kế hoạch tương đối hợp lý, khoa học. Hiệu trưởng các trường đều chú ý coi trọng việc phân công giảng dạy cho giáo viên trên cơ sở năng lực, hoàn cảnh, nguyện vọng của họ phù hợp với nhiệm vụ chính trị của nhà trường. Sự phân công giảng dạy đã thể hiện được tính dân chủ trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu, phù hợp với năng lực, sở trường, thâm niên nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình và nguyện vọng cá nhân của GV. Việc dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm bài giảng, đánh giá kết quả bài giảng theo quan điểm phân hóa đã được tổ chức. Hiệu trưởng đã phát huy vai trò của tổ chuyên môn trong việc hoạt động giảng dạy của giáo viên.
Về công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh: Thực hiện tốt việc phân công đội ngũ cán sự lớp là những em có phẩm chất đạo đức tốt, có thành tích học tập cao, nhiệt tình, có năng lực điều hành quản lý các hoạt động của lớp. Quản lý tốt việc thực hiện nề nếp của học Phần lớn học sinh ngoan ngoãn, lễ phép, có phẩm chất đạo đức tốt. Thực hiện tương đối tốt sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường; Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Về công tác quản lý xây dựng bảo quản cơ sở vật chất trường học: Đã có nhiều cố gắng trong việc chỉ đạo xây dựng và bảo quản cơ sở vật chất trường học, tích cực chỉ đạo làm đồ dùng dạy học của giáo viên;
Về công tác quản lý môi trường sư phạm nhà trường: Về cơ bản đã tạo được môi trường tâm lý lớp học tốt đáp ứng yêu cầu dạy học theo quan điểm phân hóa;
Về công tác bồi dưỡng GV: Hầu hết trước khi bước vào đầu năm học mới đội ngũ cán bộ quản lý và GV đều được tập huấn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, trong đó chú trọng vào đổi mới PPDH, trang bị cho GV một số kỹ thuật dạy học tích cựcđáp ứng yêu cầu DHPH.
2.5.2. Những hạn chế, bất cập
Về nhận thức: Một bộ phận cán bộ quản lý, GV, HS… chưa thực sự quan tâm đến DHPH. Chưa nhận thức được đầy đủ những ưu việt mà DH này mang lại…
Về quản lý chương trình: Chưa xây dựng được chương trình dạy học phù hợp với đặc điểm về nhận thức, về nhu cầu của từng đối tượng HS và đặc thù của địa phương. Nội dung mang nặng tính lý thuyết, thời lượng dành cho thực hành và các hoạt động trải nghiệm sáng tạo còn ít;
Về quản lý hoạt động dạy học của giáo viên: Việc quản lý hoạt động dạy như chuẩn bị bài lên lớp, quản lý sinh hoạt chuyên môn, việc thực hiện chương trình của giáo viên, giờ lên lớp chưa chặt chẽ, nặng về hình thức, chưa thực sự tích cực đổi mới, quan tâm đến người học. Vai trò của tổ chuyên môn chưa thể hiện đúng với vị trí và trách nhiệm của mình. Cụ thể: Việc xây dựng kế hoạch bộ môn, kế hoạch cá nhân… còn sơ sài, đối phó nên tính kết quả thực hiện kế hoạch còn hạn chế. Việc ký duyệt kế hoạch, giáo án thực chất chỉ mang tính hình thức. Việc soạn giáo án lên lớp mới chỉ quan tâm tới số lượng và hình thức chứ chưa quan tâm đến chất lượng của giáo án. Dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm giờ dạy theo quan điểm phân hóa còn ít. Giờ dạy vẫn thiên về thuyết trình kết hợp với vấn đáp, khiến giờ dạy nặng nề, chưa hấp dẫn; HS chưa thực sự được phát hiện, khám phá tri thức; việc hướng dẫn phương pháp tự học cho HS vẫn chưa được nhiều GV quan tâm đúng mức;
Về quản lý hoạt động học tập của học sinh: Sự phối hợp giữa HS, gia đình và nhà trường trong việc tìm hiểu năng lực và nguyện vọng của HS chưa được quan tâm đúng mức. Sự phối hợp giữa GVCN, GVBM, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong nhà trường trong việc quản lý hoạt động học tập của học sinh chưa đồng bộ. Việc đánh giá xếp loại chưa thực sự đổi mới, khách quan nên chưa thực sự phản ánh đúng chất lượng học tập của học sinh. HS còn lúng túng chưa quen với phương pháp học tập chủ động, tích cực. Một số nội dung của một số môn còn tương đối khó so với trình độ nhận thức của HS, điều này gây quá tải với HS, nhất là với những HS ở các trường THPT ngoài công lập;
Về CSVC trường học phục vụ cho dạy học: Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học mặc dù đã có sự đầu tư rất lớn từ ngân sách của Tỉnh và so với nhiều trường THPT ở các tỉnh khác thì đầy đủ hơn, hiện đại hơn nhiều. Song, trên thực tế vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của GV cũng như nhu cầu của HS trong dạy học hiện nay. Tất cả các trường được khảo sát đều không có phòng học nhạc họa, vườn thực nghiệm, xưởng thực tập, thực hành,… nhà tập đa năng đúng tiêu chuẩn, sân vận động đúng tiêu chuẩn, bể bơi đúng tiêu chuẩn và đặc biệt là không có nhân viên chuyên trách phụ trách phòng thiết bị và thí nghiệm. Công tác chỉ đạo tổ chuyên môn trong phong trào tự làm thiết bị dạy học và việc sử dụng thiết bị dạy học chưa hiệu quả. Việc sắp xếp trang thiết bị dạy học chưa thực sự hợp lý;
Về công tác bồi dưỡng GV: Mặc dù các cấp quản lý rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng GV hàng năm về các kỹ thuật dạy học tích cực, các phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm. Tuy nhiên, hiệu quả của công tác bồi dưỡng còn rất hạn chế và hình thức.
2.5.3. Nguyên nhân của hạn chế bất cập Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
Nguyên nhân chủ quan
- Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên chưa nhận thức được đầy đủ vai trò, vị trí của mình trong giai đoạn mới;
- Một số cán bộ quản lý còn hạn chế về năng lực, nghiệp vụ quản lý, chưa tích cực tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý, chưa thực sự dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục;
- Việc chỉ đạo đổi mới PPDH, quản lý giảng dạy, quản lý học tập chưa thực sự sâu sát, nặng về hình thức;
- Một số cán bộ quản lý, ít tham gia dự giờ, chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên môn còn chung chung nên chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn còn chưa thực sự cao;
- Một số cán bộ quản lý chưa quan tâm sâu sát đến môi trường làm việc của GV cũng như môi trường học tập của HS;
- Một số cán bộ quản lý và GV chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc DHPH.
Nguyên nhân khách quan
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học còn thiếu thốn rất nhiều;
- Nội dung chương trình còn thể hiện quá tải so với trình độ nhận thức của HS, chưa phù hợp với điều kiện kinh tế vùng , miền…;
- Các văn bản chỉ đạo, tài liệu dạy học có chỗ chưa hợp lý; một số quy định về chế độ chính sách đối với nhà trường, GV chưa đồng bộ với yêu cầu dạy học; Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
- Chưa có văn bản để tạo hành lang pháp lý, giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm cho tổ chuyên môn, GV;
- GV chưa được tập huấn bồi dưỡng về quy trình dạy học phân hóa một cách bài bản, hệ thống;
- Đời sống kinh tế của giáo viên còn khó khăn nên họ chưa dành nhiều thời gian cho việc soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp theo hướng quan tâm tới từng đối tượng học sinh do đó ảnh hưởng đến chất lượng dạy học;
- Đời sống của gia đình học sinh ở vùng nông thôn còn khó khăn nên chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình, chưa tạo được thuận lợi nhất về thời gian cũng như đầu tư phương tiện học tập cho HS;
- Xu thế vào đại học vẫn là lựa chọn của nhiều HS và cha mẹ học sinh nên việc dạy học phân hóa cũng gặp khó khăn nhất định;
- Hầu hết cán bộ quản lý đều không được đào đạo chính quy chuyên ngành quản lý giáo dục mà chỉ được bồi dưỡng qua các lớp quản lý giáo dục ngắn và trung hạn nên việc quản lý nhà trường chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của lớp trước truyền cho và dựa vào sự suy diễn của cá nhân.
Kết luận chương 2
Trong chương này, tôi đã điều tra, khảo sát thực trạng DHPH, cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học phục vụ cho DHPH và thực trạng quản lý DHPH ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Qua khảo sát cho thấy, trong những năm gần đây ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện việc DHPH và đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần vào sự phát triển chung Ngành giáo dục. Việc xây dựng đội ngũ GV cũng đạt được tiến bộ đáng kể, GV có ý thức hơn trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Cơ sở vật chất trường học được tăng cường. HS có trình độ THPT đáp ứng bước đầu về số lượng và chất lượng cho nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực.
Bên cạnh những thành công, việc DHPH ở các trường THPT trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh vẫn còn những tồn tại, hạn chế về các mặt sau: Nhận thức của giáo viên về vị trí, vai trò của DHPH chưa được đầy đủ; việc giảng dạy của giáo viên theo hướng DHPH và việc học tập của học sinh theo hướng DHPH chưa tốt; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, môi trường học tập chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của DHPH; và đặc biệt là việc quản lý dạy học phân hóa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục của đội ngũ cán bộ quản lý còn chưa được quan tâm đúng mức. Luận văn: Thực trạng dạy học phân hóa theo chương trình GDPT.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp dạy học phân hóa theo chương trình GDPT

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
