Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về tình hình kinh tế – xã hội và tình hình giáo dục của tỉnh Ninh Thuận

2.1.1 Khái quát chung về tỉnh Ninh Thu¾n

Ninh Thuận là tỉnh ven biển Duyên hải Nam Trung bộ: phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp Biển Đông; có vị trí thuận lợi nằm trên giao điểm 3 trục giao thông chiến lược là Quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc Nam và Quốc lộ 27 lên Nam Tây Nguyên. Ninh Thuận có 07 đơn vị hành chính (06 huyện và 01 thành phố). Đây là cửa ngõ nối vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam bộ với các tỉnh Tây nguyên và Nam Trung bộ.

Ninh Thuận có diện tích tự nhiên 3.358 km2; dân số hiện nay gần 600 nghìn người, mật độ dân số trung bình 176,79 người/km2. Với 34 dân tộc anh em cùng sinh sống, cộng đồng dân cư gồm 03 dân tộc chính là dân tộc Kinh chiếm 75,6%, dân tộc Chăm chiếm 13%, dân tộc Răglây chiếm 11%, còn lại là các dân tộc khác.

2.1.2 Kinh tế và xã hội

2.1.2.1 Phát triển về kinh tế

Kinh tế của tỉnh luôn giữ được ổn định và phát triển khá, tốc độ tăng trưởng bình quân trong 30 năm qua tăng 8,14%/năm; tổng sản phẩm nội tỉnh năm 2024 tăng gấp 69,6 lần so năm 1992; thu ngân sách duy trì ở mức tăng cao, tăng từ 33,3 tỷ đồng năm 1992 lên 4.343 tỷ đồng vào năm 2024, tăng trên 130 lần, bình quân tăng 19%/năm. Trong 03 năm gần đây, mặc dù đối diện với nhiều khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19 nhưng tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh thuộc nhóm đứng đầu cả nước (năm 2022 tăng 14,69% đứng thứ 4; năm 2023 tăng 10,02% đứng thứ 4; năm 2024 tăng 9% đứng thứ 4). Đến cuối năm 2024, GRDP bình quân đầu người đạt 68,4 triệu đồng/người, bằng 88,5% trung bình cả nước. (Đinh Thị Bích Liên, 2025)

2.1.2.2 Văn hóa xã hội

Ninh Thuận là nơi sinh sống của 34 dân tộc anh em dẫn đến sự giao thoa của nhiều nền văn hóa khác nhau. Chính sự giao thoa đã tạo nên một xã hội với nhiều bản sắc văn hóa khác nhau, đa dạng về ngôn ngữ, ẩm thực và tín ngưỡng. Bên cạnh đó, Ninh Thuận là một trong những địa bàn sinh sống của người Việt cổ, là nơi gìn giữ nhiều di sản quý báu của nền văn hóa Chămpa bao gồm chữ viết, dân ca và nghệ thuật múa, trang phục và nghề dệt thổ cẩm, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc.

Tình hình đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận trong năm 2025 cơ bản ổn định, sản xuất ở hầu hết các ngành, lĩnh vực đều đạt kết quả tích cực. Tình hình thời tiết và nước tưới khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng khá, hoạt động chăn nuôi ổn định, giá cả sản phẩm thịt hơi các loại vật nuôi ổn định và tăng khá đối với trâu, bò, heo, dê, cừu.

2.1.3 Tình hình phát triển giáo dục mầm non tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, hiện có 88 trường MN, trong đó có 63 trường MN công lập và 25 trường MN ngoài công lập. Năm học 2025-2026, có 148 CBQL trường mầm non, 100% CBQL đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó có 96,43% CBQL đạt trình độ đào tạo trên chuẩn. Tuy nhiên, thực tế còn mất cân đối về cơ cấu trong bố trí đội ngũ CBQL, chưa đảm bảo yêu cầu đổi mới . Các vấn đề tạo nguồn, quy hoạch, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường mầm non chưa được nghiên cứu và triển khai thực hiện một cách khoa học, hợp lý để đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh nhà (Sở GD&ĐT Ninh Thuận, 2026)

Đối với nhà trẻ: Có 249 nhóm trẻ và huy động trẻ nhà trẻ ra lớp là 4.166/18.787 trẻ, đạt tỉ lệ 22,17%. Trong đó, công lập là 16 nhóm trẻ và huy động được 294 trẻ ra lớp; ngoài công lập là 233 nhóm trẻ và huy động được 3.872 trẻ ra lớp.

Đối với mẫu giáo: Có 850 lớp và huy động trẻ mẫu giáo ra lớp là 21.759/32.686 trẻ, đạt tỉ lệ 66,57%. Trong đó, công lập là 561 lớp và huy động được 15.418 trẻ ra lớp; ngoài công lập là 289 lớp và huy động được 3.043 trẻ ra lớp.

Nhìn chung, chất lượng đội ngũ CBQL có nhiều chuyển biến tích cực, được bố trí phù hợp với năng lực thực tiễn đáp ứng chất lượng quản lý điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý giáo dục. Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức bộ máy cho các cơ sở GDMN hiện nay còn thiếu nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ điều hành trong công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ.

2.2. Khái quát tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

2.2.1 Mục đích khảo sát

Tác giả tìm hiểu và thu thập thông tin, dữ liệu để đánh giá chính xác, khách quan về thực trạng đội ngũ CBQL và thực trạng phát triển đội ngũ CBQL các trường MN công lập tỉnh Ninh Thuận; trên cơ sở đó đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ CBQL các trường MN công lập tỉnh Ninh Thuận.

2.2.2 Nội dung khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát những nội dung sau:

  • Nhận thức của CBQL, GV về vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non; MN;
  • Thực trạng thực hiện các yêu cầu về cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý trường
  • Thực trạng thực hiện các yêu cầu về chất lượng đội ngũ CBQL trường MN (theo Chuẩn hiệu trưởng cơ sở GDMN);
  • Thực trạng quy hoạch đội ngũ CBQL trường MN;
  • Thực trạng tuyển chọn và bổ nhiệm; luân chuyển, miễn nhiệm đội ngũ CBQL các trường MN;
  • Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường MN;
  • Thực trạng kiểm tra, đánh giá đội ngũ CBQL các trường MN;
  • Thực trạng xây dựng môi trường làm việc, thực hiện thi đua, khen thưởng; chế độ, chính sách đối với đội ngũ CBQL các trường MN;
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường MN;

2.2.3 Phương pháp khảo sát

Sau khi nghiên cứu cơ sở lý luận trong chương 1, tác giả sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và kết hợp phương pháp phỏng vấn, phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động để thu thập thêm thông tin định tính làm sáng tỏ thêm cho dữ liệu định lượng.

2.2.3.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Đề tài thiết kế bảng hỏi dành cho nhóm khách thể là chuyên viên phụ trách giáo dục mầm non của Sở , Phòng , Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng và giáo viên cốt cán các trường MN trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Quy trình thiết kế bảng hỏi được thực hiện qua 03 giai đoạn.

  • Giai đoạn 01: Thiết kế bảng hỏi
  • Giai đoạn 02: Thiết kế và hoàn thiện bảng khảo sát chính thức
  • Giai đoạn 03: Tiến hành khảo sát chính thức

2.2.3.2 Phương pháp phỏng vấn

Tiến hành phỏng vấn gồm 01 lãnh đạo Sở , 03 lãnh đạo Phòng GD&ĐT, 03 Hiệu trưởng, 03 Phó hiệu trưởng và 03 cán bộ Phòng Nội vụ các huyện, thành phố nhằm bổ sung thêm thông tin để góp phần làm sáng tỏ kết quả khảo sát; kiểm tra độ trung thực của các kết quả trả lời phiếu điều tra ý kiến; tìm hiểu sâu hơn về đối tượng nghiên cứu qua một số CBQL điển hình.

2.2.3.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, sản phẩm hoạt động

Tập hợp, phân loại, nghiên cứu hồ sơ quản lý như kế hoạch thực hiện quy hoạch, thi tuyển, đào tạo, bồi dưỡng; quyết định bổ nhiệm, luân chuyển, miễn nhiệm; biên bản đánh giá, xếp loại cuối năm; báo cáo sơ kết, tổng kết; kết quả thi đua, khen thưởng; bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn của CBQL có liên quan đến công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường MN công lập tỉnh Ninh Thuận.

2.2.4 Đối tượng khảo sát

Để tiến hành khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và quản lý công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường MN công lập tỉnh Ninh Thuận, chúng tôi đã hỏi ý kiến chuyên viên phụ trách GDMN của Sở , Phòng , Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng và giáo viên cốt cán các trường MN trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (các đối tượng này được lựa chọn một cách ngẫu nhiên). Số lượng đối tượng khảo sát được trình bày cụ thể ở bảng 2.1, sau đây:

Bảng 2.1: Bảng thống kê số lượng khảo sát

Chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến 03/07 (42,8%) chuyên viên phụ trách GDMN của Sở , Phòng ; 62/62 (100%) Hiệu trưởng; 84/86 (97,6%) Phó hiệu trưởng và 106/109 (97,2%) giáo viên cốt cán các trường MN trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận theo tỉ lệ % so với tổng số đối tượng khảo sát được trình bày trong bảng 2.1 để tìm hiểu thực trạng phát triển đội ngũ CBQL các trường MN hiện nay. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Đặc điểm của đối tượng khảo sát như sau:

  • Đặc điểm đối tượng được khảo sát

Bảng 2.2: Đặc điểm đối tượng được khảo sát

Đặc điểm các đối tượng khảo sát, về thâm niên công tác tập trung khoảng thời gian từ 10 đến 20 năm chiếm nhiều nhất với 115 đối tượng, tỉ lệ 45,0%. Bên cạnh đó, số lượng CBQL, GVMN cốt cán công tác trên 20 năm cũng chiếm khá đông với 95 đối tượng với tỉ lệ tương ứng là 37,3%. Điều này phản ánh độ tuổi của lực lượng CBQL, GVMN cốt cán chủ yếu từ 40 tuổi trở lên, 157 đối tượng khảo sát với tỉ lệ 61,6%. Trình độ chuyên môn của đội ngũ CBQL, GVMN cốt cán đạt chuẩn và vượt chuẩn 100% so với quy định của Bộ hiện nay.

2.2.5 Xử lí kết quả khảo sát

Sau khi thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20 và Microsoft Excel 2013 để xử lí thông tin mang tính định lượng. Đối với thông tin định tính (từ phỏng vấn, phân tích hồ sơ), chúng tôi tiến hành trích lọc các ý kiến để phân tích thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

2.2.6 Quy ước thang đo

Thang đo sử dụng trong phiếu khảo sát chủ yếu là thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để xác định các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần số, tỉ lệ %,…Ngoài ra, chúng tôi sử dụng thang đo danh nghĩa để xác định tên gọi và đặc điểm của đối tượng khảo sát.

Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert với 5 mức độ. Giá trị trung bình các khoảng= (Max – Min)/N = (5-1)/5 = 0.8

Do đó, ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng cụ thể trong bảng sau:

Bảng 2.3: Quy ước múc đánh giá, phân tích số liệu

Những quy ước này sẽ được sử dụng để phân tích kết quả khảo sát thực trạng.

2.3. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non công lập tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

2.3.1 Nhận thúc của cán bộ quản lý, giáo viên về vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non

Cán bộ quản lý trường MN thực hiện công tác quản lý, điều hành các hoạt động trong trường MN đồng thời phải luôn sẵn sàng tâm thế để xử lý các tình huống phức tạp trong mọi hoạt động của nhà trường, giao tiếp với các ban ngành địa phương cũng như các hoạt động xã hội ngoài nhà trường. Tác giả tiến hành khảo sát 255 đối tượng, bao gồm CBQL của Sở/phòng và Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, GVMN cốt cán của tất cả các trường MN trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận về vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non. Kết quả khảo sát như sau:

Bảng 2.4: Ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non về vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non

Bảng 2.4 cho thấy, nhìn chung các đối tượng khảo sát nhận thức được vai trò của đội ngũ CBQL MN trong vai trò là người lãnh đạo trường mầm non; vai trò quản trị trường mầm non; vai trò của nhà hoạt động xã hội và vai trò của nhà giáo. Cụ thể như sau: Mức đánh giá “Đồng ý” thể hiện ở vai trò lãnh đạo nhà trường: “Hướng dẫn, đôn đốc, động viên và thu hút các nguồn nhân lực, vật lực và tài lực để nhà trường phát triển bền vững” (ĐTB: 3,53); vai trò quản trị nhà trường thể hiện ở “Điều hành các hoạt động của nhà trường để nhà trường thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ theo chương trình GDMN” (ĐTB: 3,55). Vai trò của nhà hoạt động xã hội được đánh giá mức “Đồng ý”: “Xây dựng tốt các mối quan hệ với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường, thực hiện xã hội hoá giáo dục”; “Huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng” có điểm trung bình từ 3.53 đến 3.72.

Đối với vai trò lãnh đạo trường mầm non, vai trò của nhà giáo, các đối tượng khảo sát chỉ đánh giá “Đồng ý một phần”: Nội dung “Hoạch định chiến lược phát triển nhà trường” có điểm trung bình: 3.36 và “Có hiểu biết và kỹ năng dạy học ở trường mầm non, tham gia sinh hoạt cùng tổ chuyên môn, trực tiếp tham gia các hoạt động giáo dục.” có điểm trung bình: 3.27.

Tuy nhiên, độ lệch chuẩn cao cho thấy các ý kiến còn phân tán, thể hiện sự chưa đồng thuận của CBQL, GV trong nhận thức về vai trò của CBQL trường MN.

Như vậy, cần nâng cao nhận thức cho CBQL, GV để họ có hiểu biết đầy đủ và đúng đắn về các vai trò của đội ngũ CBQL trường MN. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

2.3.2 Thực trạng về số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non

Đội ngũ CBQL trường MN cần đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo, có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu thời kỳ hội nhập quốc tế. Sau đây là thực trạng số lượng và cơ cấu đội ngũ CBQL các trường MN tỉnh Ninh Thuận.

Về số lượng đội ngũ CBQL: Qua nghiên cứu hồ sơ tổ chức về đội ngũ CBQL trường MN tỉnh Ninh Thuận cho thấy, 100% CBQL trường MN là nữ.

  • Cơ cấu theo độ tuổi và thâm niên quản lý

Độ tuổi 40-50 chiếm số đông trong đội ngũ CBQL các trường MN tỉnh Ninh Thuận với 82 CBQL, chiếm tỉ lệ 55,4%; trên 50 tuổi chiếm tỉ lệ 23%; chỉ có 21,6% CBQL có độ tuổi từ 30 – 39, dẫn đến sự thiếu cân đối về độ tuổi của CBQL. Thâm niên quản lý của các CBQL dưới 10 năm với 43 CBQL, chiếm tỉ lệ 29,1%; Từ 10 đến 20 năm có 56 CBQL chiếm 37,8%. Với tỉ lệ thâm niên quản lý như trên đảm bảo tính liên tục và kế thừa đối với công tác quản lý của nhà trường (phụ lục 6)..

  • Trình độ lý luận chính trị, nghiệp vụ quản lý giáo dục, Tin học, Ngoại ngữ

Trong công tác quản lý, CBQL giáo dục phải là những người sẵn sàng đổi mới và có tầm nhìn chiến lược; có năng lực sáng tạo, năng lực thích ứng và hội nhập, năng lực tiếp thu nhanh trong lĩnh vực quản lý hiện đại, năng lực kiểm tra, đánh giá.

Trong đội ngũ lãnh đạo hầu hết đều có trình độ trung cấp lý luận chính trị (86,5%) và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục (100%) cũng như đạt các yêu cầu về kỹ năng tin học, ngoại ngữ (100%) (phṇ lṇc 6)..

Trình độ đào tạo của đội ngũ CBQL: Kết quả nghiên cứu hồ sơ tổ chức của Sở Ninh Thuận cho thấy, có 100% CBQL các trường MN tỉnh Ninh Thuận đạt chuẩn, trong đó trên chuẩn chiếm tỉ lệ 96,43% theo khoản 1 Điều 72 Luật Giáo dục 2022 quy định. Với trình độ đào tạo hiện nay của đội ngũ CBQL đủ khả năng đáp ứng tốt nhiệm vụ được phân công.

Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, người nghiên cứu khảo sát thực trạng cơ cấu đội ngũ CBQL trường MN tỉnh Ninh Thuận. Kết quả khảo sát trình bày ở bảng 2.5:

  • Bảng 2.5: Ý kiến của CBQL, GV về sự cân đối, hợp lí về độ tuổi, thâm niên công tác, trình độ, thành phần dân tộc của đội ngũ CBQL

Bảng 2.5 cho thấy, ý kiến của các đối tượng khảo sát cho rằng cơ cấu đội ngũ CBQL các trường MN có sự cân đối, hợp lý về trình độ đào tạo, nghiệp vụ quản lý, thành phần dân tộc nhưng lại chưa hợp lí về độ tuổi và thâm niên công tác của đội ngũ CBQL trường MN hiện nay của tỉnh Ninh Thuận. Điều này phù hợp với kết quả phân tích hồ sơ tổ chức mà tác giả luận văn trình bày ở trên.

2.3.3 Thực trạng về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Chất lượng đội ngũ CBQL trường MN được thể hiện qua kết quả đánh giá CBQL dựa vào 5 tiêu chuẩn: Phẩm chất nghề nghiệp; Quản trị nhà trường; Xây dựng môi trường giáo dục; Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội; Sử dụng ngoại ngữ (hoặc tiếng dân tộc) và công nghệ thông tin được qui định ở Chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục mầm non ban hành theo Thông tư 25/2021/TT-B ngày 8 tháng 10 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo văn bản này, các mức đánh giá CBQL gồm: đạt; khá; tốt.

Tác giả luận văn tiến hành khảo sát ý kiến của CBQL, GV cốt cán về chất lượng đội ngũ CBQL trường MN theo thang đo 4 mức từ 1 đến 4.

Giá trị trung bình giữa các khoảng = (Max – Min)/N = (4-1)/4 = 0.75

  • Bảng 2.6: Quy ước thang đo đánh giá CBQL theo Chuẩn Hiệu trưởng

Để đánh giá chất lượng đội ngũ CBQL trường MN, tác giả đã tiến hành khảo sát 255 người, đối tượng là chuyên viên Sở/phòng , HT, PHT, GVMN cốt cán các trường MN trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Kết quả thể hiện ở bảng 2.10 như sau:

  • Bảng 2.7: Ý kiến của CBQL, GVMN về chất lượng đội ngũ CBQL các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận

Với 05 tiêu chuẩn và 18 tiêu chí được dùng để đo lường chất lượng đội ngũ CBQL trường MN, kết quả khảo sát cho thấy tất cả các tiêu chí đều được đánh giá ở mức Khá, Tốt. Những tiêu chí chưa được đánh giá tốt và cần phải lưu ý đó là: “Tổ chức xây dựng kế hoạch phát triển nhà trường” có điểm trung bình: 3.15; “Quản trị tổ chức, hành chính nhà trường” có điểm trung bình: 3.23; ” Quản trị tài chính nhà trường” có điểm trung bình: 3.10; “Quản trị cơ sở vật chất, đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học của nhà trường” có điểm trung bình: 3.19; “Phối hợp giữa nhà trường, gia đình, địa phương trong huy động và sử dụng nguồn lực để phát triển nhà trường” có điểm trung bình: 3.20; “Sử dụng ngoại ngữ” có điểm trung bình: 3.11.. Kết quả đánh giá đội ngũ CBQL trường MN tỉnh Ninh Thuận theo Chuẩn Hiệu trưởng cơ sở GDMN trong 02 năm học 2024 – 2025 và 2025 – 2026 như sau:

  • Bảng 2. 8: Số liệu kết quả đánh giá chuẩn Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng

Bảng 2.8 cho thấy, Hiệu trưởng các trường MN tỉnh Ninh Thuận được cấp trên đánh giá đạt chuẩn Hiệu trưởng ở mức Tốt chiếm tỉ lệ từ 68,7% đến 71,4%; mức Khá đạt tỷ lệ từ 28,6% đến 31,3%. Phó Hiệu trưởng được đánh giá mức Tốt đạt tỷ lệ từ 74,4% đến 77,6%, mức Khá chiếm tỷ lệ từ 20,9% đến 22,4%, mức Đạt chiếm tỷ lệ 4,7%. Với kết quả trên, có thể nói đội ngũ CBQL trường MN cơ bản đáp ứng nhiệm vụ được phân công. Tuy nhiên, cần tiếp tục phấn đấu, rèn luyện để thực hiện tốt trách nhiệm được giao, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

2.4. Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non công lập tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

2.4.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non về sự cần thiết phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non

Nhận thức của CBQL, GVMN về vai trò, mục đích của công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường MN là điều cần thiết để thiết lập nên chuỗi giá trị khi thực hiện nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường MN. Nếu CBQL, GVMN có cái nhìn đầy đủ, chính xác và đặt ra mục tiêu cụ thể cho cả quá trình giáo dục thì sẽ giúp các cấp quản lý nâng cao được hiệu quả công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường MN và ngược lại. Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL, GV về sự cần thiết của công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường MN được thể hiện ở biểu đồ 2.1 sau đây:

  • Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ % ý kiến đánh giá về sự cần thiết của công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường mầm non

Kết quả khảo sát cho thấy 90, 3% số người được hỏi ý kiến khẳng định sự cần thiết của phát triển đội ngũ CBQL trường MN. Tuy nhiên có 7,5% cho rằng ít cần thiết và 2,4% ý kiến cho rằng công tác phát triển đội ngũ CBQL trường mầm non là không cần thiết.

Đề tài đã phỏng vấn lãnh đạo Sở , lãnh đạo Phòng , Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng và cán bộ Phòng Nội vụ các huyện, thành phố trực thuộc tỉnh Ninh Thuận về sự cần thiết, tầm quan trọng của phát triển đội ngũ CBQL trường MN. Các ý kiến trả lời phỏng vấn như sau:

Phát triển đội ngũ CBQL trường mầm non nhằm tạo ra nguồn CBQL chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội và xu thế phát triển giáo dục hiện đại, giúp họ có thể thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lí được giao (LĐ2, LĐ4).

Công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường MN công lập là rất quan trọng bởi đội ngũ CBQL các trường MN là những người hoạch định mọi chiến lược phát triển nhà trường, điều hành các hoạt động của nhà trường, đồng thời là người kết nối việc huy động các nguồn lực, tổ chức xã hội để thực hiện công tác phát triển nhà trường và đặc biệt phải có kiến thức, kỹ năng về công tác chăm sóc giáo dục trẻ (QL1, QL3).

Công tác phát triển đội ngũ CBQL trường MN công lập giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác cán bộ nhằm xây dựng đội ngũ CBQL, GVMN đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ phát triển chuyên môn, nghiệp vụ trong nhà trường. Vì đội ngũ CBQL là then chốt trong công cuộc đổi mới đất nước nên giáo dục là tầm quan trọng cho thế hệ mai sau. (QL4, QL5).

Như vậy, từ kết quả khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng vấn cho thấy, đa số CBQL, GV cốt cán đã nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của phát triển đội ngũ CBQL trường MN. Tuy nhiên, vẫn còn số lượng ít CBQL, GV chưa nhận thức đầy đủ về vấn đề này nên cần tiếp tục tổ chức nâng cao nhận thức cho CBQL, GV.

2.4.2. Thực trạng phát triển về số lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Để phát triển về số lượng và cơ cấu đội ngũ CBQL trường mầm non, chủ thể quản lý là UBND cấp huyện, đứng đầu là chủ tịch UBND huyện và các cơ quan chức năng là Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Nội vụ cần tổ chức tốt công tác qui hoạch đội ngũ; công tác tuyển chọn và bổ nhiệm; luân chuyển, miễn nhiệm đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non.

  • Thực trạng quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các trwờng mầm non

Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL nói chung, đội ngũ CBQL các trường mầm non nói riêng là công việc cốt lõi của công tác cán bộ, công tác quy hoạch phải đi trước, phải thực hiện thường xuyên, đúng quy trình, phải được kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện, so sánh với yêu cầu đặt ra để có sự điều chỉnh quy hoạch kịp thời.

Tác giả đã tiến hành khảo sát 255 người và phỏng vấn 04 lãnh đạo Sở/Phòng , 03 Hiệu trưởng, 03 Phó Hiệu trưởng và 03 cán bộ phòng Nội vụ các huyện/thành phố trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Kết quả khảo sát như sau:

  • Bảng 2.9:Ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non về công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận

Về múc độ thực hiện: Bảng 2.9 cho thấy, các nội dung “Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của Đảng ủy cấp trên và các văn bản pháp lý về công tác quy hoạch đội ngũ CBQL cho nhiệm kì tới và định hướng cho nhiệm kì tiếp theo”; “Dự báo tình hình phát triển mạng lưới trường, lớp mầm non, nhà trẻ, mẫu giáo tại địa phương trong những năm sắp tới”; “Xác định quy trình và cách thức thực hiện từng bước trong quy hoạch CBQL”; “Xác định trách nhiệm quản lý của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc thực hiện quy hoạch CBQL trường MN”; “Xác định trách nhiệm của các phòng tham mưu (Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Nội vụ)”; “Xác định trách nhiệm của trường MN (bao gồm cấp ủy Đảng, tập thể lãnh đạo trường MN, Ban chấp hành các đoàn thể trong nhà trường và hội đồng sư phạm nhà trường)”; “Quán triệt mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, hướng dẫn thực hiện đúng quy trình quy hoạch CBQL trường MN”; “Chỉ đạo bằng văn bản hoặc chỉ đạo trực tiếp tại các cuộc họp, hội nghị về công tác quy hoạch cán bộ”; “Kết hợp các hình thức kiểm tra: nghe báo cáo, nghiên cứu hồ sơ quy hoạch…” có điểm trung bình từ 3.53 đến 3.92 đạt mức thực hiện “thường xuyên”. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Về kết quả đạt được: các nội dung chỉ được đánh giá ở mức “trung bình” tập trung các nội dung “Khảo sát, đánh giá đội ngũ CBQL trường mầm non hiện có (số lượng, cơ cấu, chất lượng)”; “Xác định mục tiêu phát triển đội ngũ CBQL trường MN trong từng giai đoạn căn cứ vào chiến lược phát triển của nhà trường, căn cứ vào các điều kiện thực tế của trường và các yếu tố bên ngoài như nhu cầu nguồn nhân lực, tình hình KT-XH”.

Phân tích mức độ thực hiện và kết quả thực hiện của các nội dung về công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận cho thấy, đa số nội dung thực hiện thường xuyên được đánh giá kết quả thực hiện khá. Các nội dung thỉnh thoảng thực hiện trong l¾p kế hoạch quy hoạch chỉ đạt kết quả thực hiện trung bình. Các nội dung tổ chúc thực hiện quy hoạch đều được thực hiện thường xuyên và kết quả thực hiện khá. Các nội dung chỉ đạo thực hiện quy hoạch được thực hiện thường xuyên song kết quả thực hiện chỉ ở mức trung bình. Các nội dung kiểm tra việc thực hiện quy hoạch đều đạt kết quả khá.

  • Kết quả phỏng vấn như sau:

Việc quy hoạch đội ngũ CBQL kế cận được thực hiện hàng năm theo từng giai đoạn và từng bước thực hiện theo quy trình, được Phòng giáo dục và UBND thành phố, huyện phê duyệt. (LĐ1, LĐ2, LĐ4).

Số lượng đội ngũ dự nguồn CBQL kế cận mỗi vị trí không quá 3 người, có thể điều chỉnh hàng năm, nếu cá nhân nào đã được dự nguồn trong giai đoạn mà vi phạm đạo đức nghề nghiệp hoặc không có ý chí phấn đấu thì nhà trường có thể đưa ra ngoài nguồn (LĐ3, QL2).

Cán bộ quy hoạch nguồn gồm hai nguồn (tại chỗ và từ nơi khác); Cán bộ quy hoạch nguồn đáp ứng theo quy định của Đảng và các quy định liên quan đến chức danh HT, PHT và được lấy ý kiến, bỏ phiếu tín nhiệm tại Chi bộ và CBQL, giáo viên, nhân viên trong trường. (QL1). Để thực hiện và đảm bảo tốt các công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý của nhà trường, nhà trường đã thực hiện công tác quy hoạch nguồn CBQL của nhà trường theo từng giai đoạn, sau đó tiến hành phổ biến, quán triệt đầy đủ các văn bản của các cấp trong công tác rà soát, thực hiện quy hoạch cán bộ sâu rộng đến tập thể CBQL, giáo viên, nhân viên của đơn vị (QL1, QL3).

Công tác quy hoạch đội ngũ CBQL trường MN tại đơn vị thực hiện theo hướng dẫn, chỉ đạo của Phòng (QL3, QL4). Dựa trên số liệu điều tra phổ cập giáo dục mầm non trẻ em năm tuổi hàng năm của địa phương để dự báo quy mô phát triển trường, lớp mẫu giáo hàng năm, trong 5 năm tới. (QL5, QL6).

Công tác quy hoạch đội ngũ CBQL trường học phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và thực tế đội ngũ CBQL; phải gắn liền với các khâu khác trong công tác cán bộ, bảo đảm sự liên thông quy hoạch của cả đội ngũ cán bộ trong hệ thống của ngành giáo dục và đào tạo (NV2). Quy hoạch đội ngũ CBQL trường học là kế hoạch tổng thể, dài hạn về đội ngũ cán bộ có triển vọng đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng số cán bộ đó theo quy hoạch. (NV2, NV3). Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Quy hoạch đội ngũ CBQL trường MN là khâu quan trọng, nhiệm vụ thường xuyên nhằm phát hiện sớm nguồn cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, có triển vọng phát triển để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm, tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý đáp ứng nhiệm vụ chính trị được giao.

Khi tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu về kế hoạch thực hiện quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL của các Phòng Nội vụ và nhà trường cho thấy: kế hoạch đã nêu rõ các văn bản chỉ đạo và các văn bản pháp lý về công tác quy hoạch đội ngũ CBQL. Căn cứ tình hình trường, lớp trong những năm tiếp theo để xác định số lượng CBQL cần thiết cho nhiệm kỳ tới và định hướng cho nhiệm kỳ tiếp theo. Tuy nhiên, kế hoạch chưa thể hiện việc khảo sát, đánh giá đội ngũ CBQL trường MN hiện có về số lượng, cơ cấu, chất lượng. Kế hoạch cũng chưa xác định được mục tiêu phát triển đội ngũ CBQL trường MN trong từng giai đoạn căn cứ vào chiến lược phát triển của nhà trường, căn cứ vào các điều kiện thực tế của trường và các yếu tố bên ngoài như nhu cầu nguồn nhân lực, tình hình KT-XH. Ngoài ra, kế hoạch chưa thể hiện công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch quy hoạch, việc thực hiện nguyên tắc, mục đích, yêu cầu và quy trình thực hiện quy hoạch đội ngũ CBQL trường MN.

  • Thực trạng tuyển chọn và bổ nhiệm; luân chuyển, miễn nhiệm đội ngũ cán bộ quản lý các trwờng mầm non

Việc tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm và luân chuyển đội ngũ CBQL trường MN cần dựa vào yêu cầu công tác của các đơn vị giáo dục và phẩm chất, năng lực của đội ngũ CBQL nhằm phát huy năng lực của đội ngũ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của nhà trường.

Tác giả đã tiến hành khảo sát 03 nhóm đối tượng với 255 phiếu (Lãnh đạo Sở/phòng , CBQL, GVMN cốt cán) để tìm hiểu thực trạng công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, miễn nhiệm đội ngũ CBQL các trường MN tỉnh Ninh Thuận và thu được kết quả trình bày ở bảng 2.10 như sau:

  • Bảng 2.10: Ý kiến cán bộ quản lý, giáo viên mầm non về công tác tuyển chọn và bổ nhiệm; luân chuyển, miễn nhiệm đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non

Công tác tuyển chọn và bổ nhiệm, luân chuyển, miễn nhiệm đội ngũ CBQL trường mầm non luôn được quan tâm, rà soát và bổ sung quy hoạch nhằm chủ động tạo nguồn, chuẩn bị tốt nhân sự CBQL các trường học nói chung và các trường MN nói riêng; đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu; đảm bảo tính kế thừa, phát triển và chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ CBQL. Qua phỏng vấn một số cán bộ Phòng Nội vụ cho biết: Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển CBQL là khâu quan trọng trong công tác quản lý cán bộ. Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển CBQL đúng người đúng vị trí sẽ phát huy được vai trò của cá nhân cũng như thúc đẩy sự phát triển của tập thể, công tác tuyển chọn và bổ nhiệm; luân chuyển, miễn nhiệm đội ngũ CBQL trường MN được thực hiện theo Quyết định 15/2023/QĐ-UBND ngày 20/5/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận (NV2). Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Nhìn vào bảng 2.10 cho thấy, các nội dung L¾p kế hoạch tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển CBQL đều được thực hiện thường xuyên và kết quả thực hiện ở mức khá (ĐTB từ 3,47 đến 3,69). Các CBQL giáo dục cho biết: Công tác tuyển chọn và bổ nhiệm được xác định là tuyển chọn và bổ nhiệm những người có năng lực, có đủ tiêu chuẩn, có trách nhiệm, gương mẫu trong mọi hoạt động (QL3, QL5).

Tổ chúc thực hiện kế hoạch tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển CBQL được các đối tượng khảo sát đánh giá thấp nhất trong các chức năng quản lý về công tác tuyển chọn và bổ nhiệm; luân chuyển, miễn nhiệm đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non. 3/4 nội dung được đối tượng khảo sát đánh giá chỉ thỉnh thoảng thực hiện và kết quả thực hiện ở mức trung bình. Đặc biệt, nội dung “Phát huy dân chủ công khai, công bằng trong quá trình tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển” được đánh giá ở mức độ thực hiện là “Hiếm khi” với điểm trung bình: 2.36.

Đối với chỉ đạo thực hiện kế hoạch tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển CBQL trường MN, các cơ quan quản lý đã thường xuyên “hướng dẫn tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển phải dựa trên quy mô trường, lớp loại trường, phẩm chất năng lực cán bộ”; “Chỉ đạo thực hiện đúng quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển theo quy định của pháp luật”. Các nội dung này được đánh giá thực hiện khá. Tuy nhiên, các nội dung Chỉ đạo tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển đúng người, đúng vị trí, đúng công việc”; “Dự báo tình hình đội ngũ CBQL và chủ động trong việc bố trí, sắp xếpchỉ thỉnh thoảng thực hiện và kết quả thực hiện ở mức trung bình. Kết quả phỏng vấn, người nghiên cứu nhận được thông tin: Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển CBQL là khâu quan trọng trong công tác quản lý cán bộ. Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển CBQL đúng người, đúng vị trí sẽ phát huy được vai trò của cá nhân, thúc đẩy sự phát triển của tập thể (LĐ1, LĐ3). Việc điều động, luân chuyển được thực hiện theo chỉ đạo của Phòng . Việc tuyển chọn và bổ nhiệm; luân chuyển, miễn nhiệm cũng được rà soát thực hiện thường xuyên hàng năm theo quy định (QL1, QL4).

Đối với kiểm tra thực hiện tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển CBQL, các nội dung đều được đánh giá kết quả thực hiện khá. Tuy nhiên, các nội dung “Giám sát tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển phù hợp, tránh gây mất ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho CBQL về địa lí, quan hệ xã hội, quan hệ công tác”; “Điều chỉnh sai sót, lệch lạc trong công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển (bất cập trì trệ, sai phạm). Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển” chỉ thỉnh thoảng thực hiện.

Như vậy, địa phương đã thực hiện chủ trương luân chuyển, bố trí chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt theo đúng quy định của trung ương; kết hợp bố trí, sắp xếp hợp lí đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các trường học; khắc phục tình trạng thiếu CBQL và hiện tượng cục bộ, bè phái, trì trệ, quan liêu, tiêu cực góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước (NV1, NV3). Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Trong quá trình tìm hiểu kế hoạch thi tuyển HT, PHT, các quyết định bổ nhiệm, luân chuyển, miễn nhiệm CBQL đã lựa chọn số lượng thực tế về vị trí HT, PHT trên địa bàn; nội dung kế hoạch chủ yếu hướng dẫn quy trình, cách thức thực hiện tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển, miễn nhiệm CBQL. Tuy nhiên, kế hoạch vẫn chưa thể hiện việc phân công trách nhiệm cụ thể, rõ ràng phù hợp đối với các thành viên thực hiện tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển dẫn đến không phát huy dân chủ, công khai, công bằng trong quá trình tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển CBQL. Công tác bổ nhiệm còn chậm do lộ trình thu hồi biên chế hàng năm.

Ngoài ra, một số trường MN chưa mạnh dạn, quyết đoán đề nghị miễn nhiệm đối với một số CBQL thiếu tâm huyết, thiếu năng lực quản lý do tập thể còn nể nang, tình cảm. Các cấp quản lý cũng chưa tìm hiểu, phát hiện sở trường, sở đoản và năng lực cá nhân của CBQL sẽ được tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển. Việc giám sát công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển chưa phù hợp; chưa tạo điều kiện thuận lợi cho CBQL về địa lí, quan hệ xã hội, quan hệ công tác trong quá trình thực hiện luân chuyển CBQL. Đây là các hạn chế trong tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển CBQL trường MN cần được khắc phục trong thời gian tới.

2.4.3. Thực trạng phát triển về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận

Phát triển chất lượng đội ngũ CBQL trường MN cần thực hiện đào tạo, bồi dưỡng CBQL; Đánh giá đội ngũ CBQL; Xây dựng môi trường làm việc thuận lợi, thực hiện thi đua, khen thưởng; chế độ, chính sách đối với đội ngũ CBQL trường mầm non. Kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, người nghiên cứu đã thu thập được các thông tin cụ thể như sau:

  • Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non

Yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đòi hỏi phải có đội ngũ CBQL giáo dục các cấp đủ năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh mới. Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL mầm non cần thực hiện một cách có hệ thống, từ xác định mục tiêu, nội dung, chương trình đến phương thức đào tạo, bồi dưỡng theo hướng phát triển năng lực thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ CBQL.

Bảng 2.11: Ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non về công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Về múc độ thực hiện: Bảng 2.11 cho thấy, hầu hết các nội dung của Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường mầm non đều được các đối tượng khảo sát đánh giá là thực hiện thường xuyên. Chỉ có nội dung “Dự trù kinh phí và chế độ chính sách cho CBQL đi học” được đánh giá là thỉnh thoảng thực hiện. Phỏng vấn cán bộ lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo đều khẳng định tầm quan trọng của đào tạo, bồi dưỡng CBQL, nêu rõ việc lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBQL được thực hiện với việc xác định mục tiêu, nội dung, hình thức cụ thể. LĐ1 cho biết: Mục tiêu của ngành là thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng cho CBQL và GVMN đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục. Tăng cường các điều kiện để nâng cao chất lượng thực hiện chương trình giáo dục mầm non, đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm”.

LĐ3, LĐ4 cho biết thêm: Hàng năm Sở, Phòng lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL theo mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của từng năm học. Hình thức đào tạo bồi dưỡng có thể trực tiếp hoặc trực tuyến, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh. Sau khoá đào tạo, bồi dưỡng thường có bài tập kiểm tra, đánh giá học viên để có điều chỉnh, bổ sung. ( LĐ3, LĐ4)

Nhìn vào bảng 2.11 cho thấy, các nội dung của Tổ chúc thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường mầm non Chỉ đạo thực hiện đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường mầm non được CBQL, GV tham gia khảo sát đánh giá là thực hiện thường xuyên (ĐTB từ 3,42 đến 3,83). Đối với chức năng Kiểm tra, đánh giá thực hiện đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường mầm non, nội dung Giám sát, đánh giá tác động các khóa đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng, hành vi của CBQL” được thực hiện thường xuyên song các nội dung “Kiểm tra thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBQL trường MN”; “Điều chỉnh, bổ sung nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng” được đánh giá là chỉ thỉnh thoảng thực hiện.

Phỏng vấn các CBQL trường MN và chuyên viên Phòng Nội vụ các huyện, người nghiên cứu nhận được các phản hồi như sau:

Nhà trường xây dựng kế hoạch Phát triển đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên theo giai đoạn trên cơ sở đặc điểm tình hình, thực trạng hiện có của đơn vị về số lượng, cơ cấu, trình độ đào tạo đáp ứng yêu cầu thực hiện Chương trình giáo dục mầm non cho từng năm học; phân tích điểm mạnh, điểm yếu của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, thời cơ, thách thức và các vấn đề về phát triển đội ngũ giáo viên, nhân viên, cán bộ quản lý cần tập trung giải quyết trong giai đoạn đặt ra. Từ đó xác định mục tiêu và đề ra giải pháp để phát triển đội ngũ (QL2, QL3).

Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường MN tại đơn vị dưới nhiều hình thức như: tự học, tự nâng cao năng lực; đào tạo, bồi dưỡng theo kế hoạch (QL5). Ban Giám hiệu nhà trường luôn chú trọng và tạo mọi điều kiện để CBQL được tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và lí luận chính trị để phục vụ cho công tác quản lý nhà trường phát triển (QL6). Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường MN luôn được quan tâm và tạo điều kiện đối với đội ngũ CBQL tại các trường MN công lập trên địa bàn huyện (NV1).

Đội ngũ CBQL các trường MN thực hiện nghiêm túc việc đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp được quy định tại Thông tư số 25/2021/TT-B ngày 08/10/2021 của Bộ (NV1). Trước khi bổ nhiệm: cán bộ được cử tham gia bồi dưỡng, đào tạo Lớp quản lý giáo dục mầm non; Trung cấp Lí luận chính trị; Tự bồi dưỡng: Ngoại ngữ, tin học, chức danh nghề nghiệp,…theo quy định. (NV2).

Như vậy, qua kết quả khảo sát bằng bảng hỏi và ý kiến trả lời phỏng vấn cho thấy, công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQL MN được các cấp quản lý thực hiện theo đúng qui trình: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Hầu hết nội dung được thực hiện thwờng xuyên, đúng qui định.

Về kết quả thực hiện: Hầu hết nội dung khảo sát về công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận được CBQL, GV đánh giá kết quả thực hiện khá. Chỉ 2 nội dung “Xác định nội dung, chương trình bồi dưỡng hợp lí, thiết thực, sát với thực tiễn”; “Giám sát, đánh giá tác động các khóa đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng, hành vi của CBQL” có điểm trung bình 3.29 đến 3.34 đạt kết quả mức “trung bình”.

Như vậy, nhìn chung công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQL trường MN đã được thực hiện song kết quả chưa cao. Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBQL, GVMN cốt cán được Phòng Nội vụ, Phòng , nhà trường thiếp lập hàng năm với mục tiêu, hình thức đào tạo, bồi dưỡng; cách thức lựa chọn đối tượng dự nguồn kèm những tiêu chuẩn để cử đi đào tạo, bồi dưỡng theo Chuẩn HT trường MN. Tuy nhiên, vấn đề dự trù kinh phí và chế độ chính sách cho CBQL đi học lại chưa được quan tâm. Do nguồn kinh phí hạn hẹp nên việc đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý chưa đáp ứng được so với yêu cầu đổi mới giáo dục. Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBQL trường MN chưa được chú trọng. Vì vậy, cần thường xuyên rà soát bổ sung nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị. Đặc biệt, cần tăng cường công tác đánh giá tác động các khóa đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng, hành vi của CBQL để điều chỉnh nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, góp phần phát triển đội ngũ CBQL trường MN.

  • Thực trạng kiểm tra, đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non

Đánh giá chất lượng đội ngũ CBQL để thấy rõ thực trạng của đội ngũ CBQL trường MN, qua đó giúp nhà quản lý nhận biết để dự báo về tình hình chất lượng đội ngũ CBQL nhằm xây dựng kế hoạch, đề ra các giải pháp đảm bảo tính khả thi đối với hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ. Kết quả đánh giá CBQL còn là cơ sở cho việc mỗi cá nhân tự điều chỉnh bản thân để đáp ứng với chuẩn hiệu trưởng. Đánh giá đội ngũ CBQL có vai trò là một giải pháp phát triển đội ngũ CBQL.

  • Bảng 2.12: Ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non về công tác kiểm tra, đánh giá phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Bảng 2.12 cho thấy, tất cả nội dung của công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ CBQL các trường MN tỉnh Ninh Thuận được thực hiện một cách thường xuyên và kết  quả thực hiện khá. Hiện nay tại các trường mầm non công lập tỉnh Ninh Thuận công tác kiểm tra, đánh giá CBQL được thực hiện theo các văn bản pháp lý. Cụ thể là:

Kiểm tra, đánh giá CBQL trường MN được thực hiện theo Chuẩn hiệu trưởng trường MN ban hành theo Thông tư 25/2021/TT-B ngày 08/10/2021. Chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục MN gồm có 05 tiêu chuẩn 18 tiêu chí với 03 mức đánh giá: mức đạt, mức khá, mức tốt.

Phỏng vấn lãnh đạo Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục và Đào tạo cho biết: Thực hiện theo đúng quy trình đã được hướng dẫn: Trên cơ sở đánh giá, xếp loại hàng tháng, hàng quý theo những nội dung thực hiện nhiệm vụ được phân công theo 4 mức: A (hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ); B (hoàn thành tốt nhiệm vụ); C (hoàn thành nhiệm vụ); D (không hoàn thành nhiệm vụ). Sau đó tổng hợp đánh giá, xếp loại chất lượng năm. Kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng các mức A, B, C, D là căn cứ để tổng hợp, đánh giá, nhận xét và xếp loại chất lượng cuối năm của cán bộ, viên chức (LĐ1, LĐ3, LĐ4, QL2).

Qua trao đổi với một số CBQL trường MN được biết Nhà trường luôn chú trọng khâu đánh giá cán bộ trước khi tiến hành rà soát, bổ sung, thực hiện quy hoạch nguồn, đánh giá cán bộ bằng văn bản theo quy trình: cá nhân tự đánh giá, nhà trường đánh giá, cấp uỷ nơi công tác, cấp ủy chính quyền địa phương nơi cư trú đánh giá, lãnh đạo quản lý cấp trên đánh giá (QL1). Về công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ CBQL được thực hiện thường xuyên vào cuối mỗi năm học. Trong đó có đánh giá theo chuẩn hiệu trưởng và phó hiệu trưởng, đánh giá xếp loại công chức, viên chức hằng năm do chủ tịch Công đoàn chủ trì thực hiện, báo cáo kết quả kiểm tra, đánh giá về Phòng (QL3).

Phỏng vấn một số CBQL trường MN cho biết: Thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ CBQL các trường MN tại nơi đang công tác, được thực hiện đúng quy trình đánh giá, xếp loại (tù tổ đến nhà trwờng) và được công khai hàng tháng, hàng quý và hàng năm trên bảng thông tin của nhà trường. Trước hết người CBQL phải tự kiểm tra đánh giá bản thân mình hàng tháng. Cán bộ, viên chức trong đơn vị nhận xét đánh giá xếp loại hàng tháng, hàng quý (từ tổ đến nhà trường). Cuối năm nhà trường cho lấy ý kiến nhận xét, đánh giá của cấp ủy Đảng đơn vị nơi CBQL công tác, sau đó nhà trường tổng hợp kết quả, văn bản đề nghị đánh giá xếp loại CBQL. Hàng năm Phòng hoặc các cơ quan chức năng khác đều có kế hoạch đi kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của HT hoặc PHT thông qua các cuộc kiểm tra theo kế hoạch (QL4, QL5, QL6).

Như vậy, việc kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ CBQL giáo dục được thực hiện dựa trên quan điểm phát triển đội ngũ CBQL, coi trọng tính thống nhất giữa các khâu trong phát triển đội ngũ CBQL.

NV1 cho biết: Trước hết, việc kiểm tra, đánh giá dựa trên các chuẩn mực yêu cầu đối với đội ngũ CBQL giáo dục như Chuẩn HT đối với các cấp học và bậc học do Bộ ban hành và các quy định về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức của Chính phủ. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ CBQL thực hiện theo Quyết định 44/2023/QĐ-UBND và Thông tư 25/2021/TT-BGĐĐT và các hướng dẫn của Phòng . (NV1, NV2).

Hàng tháng nhà trường thực hiện đánh giá theo các nhiệm vụ trong tháng cũng như các quy định về tiêu chuẩn của từng vị trí việc làm. Có tổng hợp theo quý, năm và đánh giá viên chức cuối năm. Hằng năm có các đợt kiểm tra chuyên đề của các cấp lãnh đạo về đơn vị để kiểm tra công tác quản lý, điều hành về các mặt hoạt động của trường. Ngoài ra, thực hiện kiểm tra CBQL thông qua kiểm tra nội bộ với bộ quy chuẩn cụ thể, rõ ràng giúp CBQL đáp ứng các tiêu chí cần của người CBQL(NV3).

Như vậy, kết hợp phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn và nghiên cứu hồ sơ cho thấy, công tác kiểm tra, đánh giá CBQL trường MN tỉnh Ninh Thuận được thực hiện nghiêm túc, theo đúng qui trình đã xác định trong các văn bản pháp lý của Nhà nước, của ngành và địa phương. Cần tiếp tục phát huy các ưu điểm và nâng cao hơn nữa tác dụng của kiểm tra, đánh giá CBQL cơ sở giáo dục mầm non theo Chuẩn hiệu trưởng để hiệu trưởng cơ sở giáo dục mầm non tiếp tục rèn luyện phẩm chất, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản trị nhà trường đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Đây là căn cứ để các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cơ sở giáo dục mầm non.

  • Thực trạng xây dựng môi trường làm việc, thực hiện thi đua, khen thưởng; chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non

Thực hiện chế độ chính sách, tạo môi trường, tạo động lực cho hoạt động của đội ngũ CBQL trường MN là quá trình tạo lập những điều kiện tốt nhất để cho CBQL phát triển được phẩm chất và các năng lực ở mức độ cao và thực hiện công việc đạt hiệu quả tốt nhất. Đó là việc xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách theo quy định của pháp luật, phù hợp đặc điểm tình hình địa phương, tạo hành lang tốt nhất cho CBQL thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Đồng thời, có chế độ thích hợp, khích lệ sự phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với giáo viên nói chung và CBQL nói riêng. Kết quả khảo sát ý kiến CBQL, GV mầm non về xây dựng môi trường, tạo động lực làm việc cho đội ngũ CBQL các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận được trình bày ở bảng 2.16.

  • Bảng 2.13: Ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non về xây dựng môi trường, tạo động lực làm việc cho đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận

Về múc độ thực hiện: các nội dung “Đề ra các biện pháp xây dựng và ban hành cơ chế chính sách, tạo động lực cho đội ngũ CBQL trường MN”; “Khích lệ sự phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với CBQL trường MN”; “Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho công tác giáo dục nói chung và công tác quản lý trường MN nói riêng”; có điểm trung bình từ 3.33 đến 3.40 đạt mức thực hiện “thỉnh thoảng”; các nội dung còn lại được đánh giá ở mức “thường xuyên”.

Về kết quả đạt đwợc: các nội dung “Đề ra các biện pháp xây dựng và ban hành cơ chế chính sách, tạo động lực cho đội ngũ CBQL trường MN”; “Khích lệ sự phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với CBQL trường MN” có điểm trung bình 3.38 đến 3.40 đạt kết quả mức “Trung bình”; các nội dung còn lại được đánh giá ở mức “Khá”.

Người nghiên cứu nhận thấy, các nội dung được CBQL, GV đánh giá thỉnh thoảng thực hiện thì cũng đánh giá kết quả thực hiện ở mức trung bình. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

  • Kết quả phỏng vấn như sau:

Về công tác thi đua, khen thưởng: Việc thi đua, khen thưởng được thực hiện thường xuyên theo hàng năm hoặc khen thưởng đột xuất theo phong trào. Quá trình thực hiện đúng quy định, có bình xét lựa chọn CBQL hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong năm học và được tiến hành một cách dân chủ, công khai(QL4, QL6).

Về chế độ, chính sách: CBQL nắm rõ và thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định về lương, thưởng, ưu đãi, phụ cấp nghề (QL1, QL2).

Xây dựng môi trường làm việc: Nhà trường có xây dựng quy chế làm việc, phân công cụ thể cho từng thành viên; riêng đối với CBQL tại trường làm việc trên tinh thần giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, hỗ trợ, bồi dưỡng lẫn nhau giúp nhau hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được phân công, có tinh thần lắng nghe và khắc phục thiếu sót trong công việc. Xây dựng môi trường làm việc dân chủ, đoàn kết thống nhất từ Chi bộ đến Chính quyền và các đoàn thể trong nhà trường, thân thiện, trách nhiệm. Có quy chế làm việc, Quy tắc ứng xử, … (QL2, QL3, NV1).

Hiện nay môi trường làm việc của đội ngũ CBQL ở nhà trường tương đối tốt so với trước kia, CBQL đều đã có phòng làm việc riêng, có máy tính để thực hiện trong công việc. Công tác Thi đua-Khen thưởng được các nhà trường luôn động viên, khuyến khích CBQL trong công việc để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Động viên tham gia viết sáng kiến để đạt được các danh hiệu về Thi đua-Khen thưởng theo quy định. Các chế độ, chính sách về tiền lương thực hiện theo quy định hiện hành (NV2, NV3).

Các cấp quản lý cũng cần xây dựng những biện pháp và ban hành cơ chế chính sách, tạo động lực cho đội ngũ CBQL trường MN. Thường xuyên khích lệ và có những hành động thiết thực thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với CBQL trường MN. Tập trung quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho công tác giáo dục nói chung và công tác quản lý trường MN nói riêng.

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non công lập tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Việc phát triển đội ngũ CBQL trường MN theo quan điểm nhà trường hiệu quả thường tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng như: kinh tế-xã hội; văn hóa, khoa học-công nghệ; Quy mô trẻ; số lượng và chất lượng đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên; mạng lưới trường lớp của cấp học; các loại hình đào tạo; loại hình trường; sự phân cấp quản lý nhà nước; Điều kiện cơ sở vật chất và tài chính; Nhận thức của các đối tượng có liên quan và năng lực quản lý.

Kết quả khảo sát những yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến việc phát triển đội ngũ CBQL các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận như sau:

Bảng 2.14: Ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên đánh giá yếu tố tác động đến phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non

  • Yếu tố khách quan

Qua bảng số liệu 2.14 cho thấy các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường MN được các đối tượng tham gia khảo sát đánh giá là “thúc đẩy” chiếm tỉ lệ cao, từ 78.8% đến 85.1%; với mức độ “Ảnh hưởng mức khá” (Điểm trung bình từ 3.84 đến 4.24).

Riêng yếu tố về “Điều kiện cơ sở vật chất và tài chính đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch phát triển đội ngũ” được đánh giá là “Rất ảnh hưởng” đối với công tác phát triển đội ngũ CBQL trường MN. Đây cũng là yếu tố tác động có tỷ lệ % “rào cản” cao nhất trong tất cả các yếu tố khảo sát.

Sự phát triển kinh tế của địa phương là cơ sở quan trọng để phát triển quy mô giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng, việc này ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường mầm non về số lượng. Mặt khác, kinh tế phát triển kéo theo đòi hỏi sự phát triển về chất lượng giáo dục dẫn đến chất lượng quản lý của CBQL cần phải được nâng lên để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển về kinh tế, xã hội. Kinh tế phát triển cũng tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng và đời sống đội ngũ CBQL.

  • Yếu tố chủ quan Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non công lập tỉnh Ninh Thuận được các đối tượng tham gia khảo sát đánh giá là thúc đẩy chiếm tỉ lệ từ 85,1 đến 86,7%; với mức độ ảnh hưởng múc khá (ĐTB từ 3.96 đến 4.16).

Để thực hiện đổi mới giáo dục thì vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục có vai trò quyết định. Trước những yêu cầu ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi phải nâng cao năng lực cho CBQL để giúp họ có thể thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý được giao ở nhà trường. Trong đó, nhận thức của các đối tượng có liên quan, năng lực quản lý và thực hiện tốt các nội dung phát triển đội ngũ CBQL trường MN chính là mấu chốt của việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non công lập tỉnh Ninh Thuận

Kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, đề tài đã khảo sát thực trạng phát triển đội ngũ CBQL các trường mầm non công lập tỉnh Ninh Thuận để có cái nhìn khách quan, đa chiều về vấn đề này. Qua đó, người nghiên cứu có thể khái quát được nhận thức của CBQL, GV; nắm rõ số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ CBQL. Bên cạnh đó, tác giả hiểu rõ hơn những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân những hạn chế của công tác quy hoạch; tuyển chọn và bổ nhiệm, luân chuyển, miễn nhiệm; đào tạo, bồi dưỡng; kiểm tra, đánh giá và tạo động lực cho đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận.

  • ưu điểm

Đội ngũ CBQL các trường MN tỉnh Ninh Thuận không ngừng được phát triển cả về số lượng và chất lượng; đa số CBQL các trường MN có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt; 100% đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo, có kinh nghiệm trong công tác quản lý giáo dục, tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về giáo dục.

Chất lượng đội ngũ CBQL đạt chuẩn ở mức Khá, Tốt ở các tiêu chuẩn phẩm chất nghề nghiệp; Quản trị nhà trường; Xây dựng môi trường giáo dục; Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; Sử dụng ngoại ngữ (tiếng dân tộc) và công nghệ thông tin.

Đa số CBQL, GV cốt cán đã nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của phát triển đội ngũ CBQL trường MN.

Đối với công tác quy hoạch: các cấp đã nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của Đảng ủy cấp trên, dự báo được tình hình phát triển mạng lưới trường, lớp mầm non; xác định được quy trình và cách thức thực hiện từng bước trong quy hoạch CBQL; thường xuyên tổ chức thực hiện quy hoạch. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Việc tuyển chọn và bổ nhiệm; luân chuyển, miễn nhiệm; đào tạo, bồi dưỡng; kiểm tra, đánh giá đội ngũ CBQL trường mầm non được đánh giá cao đối với công tác lập kế hoạch. Song song đó, công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường mầm non được thực hiện thường xuyên.

  • Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm đã nêu, việc khảo sát, đánh giá đội ngũ CBQL trường mầm non hiện có (số lượng, cơ cấu, chất lượng) chưa được thực hiện thường xuyên dẫn đến số lượng CBQL còn thiếu so với quy định. Vẫn còn số lượng ít CBQL, GV chưa nhận thức đầy đủ về vấn đề này nên cần tiếp tục tổ chức nâng cao nhận thức cho CBQL, GV. Vì vậy, một số trường chưa quan tâm đến việc xác định mục tiêu phát triển đội ngũ CBQL của nhà trường trong từng giai đoạn căn cứ vào chiến lược phát triển của nhà trường. Công tác quy hoạch ở một số trường chưa thực hiện đúng quy trình, còn mang nặng tính hình thức, số lượng đối tượng quy hoạch ít, việc phê duyệt quy hoạch còn chậm. Các cơ sở giáo dục chưa mạnh dạn trong việc quy hoạch động về cán bộ dự nguồn. Công tác quy hoạch đội ngũ CBQL trường học phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và thực tế đội ngũ CBQL; phải gắn liền với các khâu khác trong công tác cán bộ, bảo đảm sự liên thông quy hoạch của cả đội ngũ cán bộ trong hệ thống của ngành giáo dục và đào tạo.

Quy trình bổ nhiệm chưa thật sự hợp lý, vai trò của tập thể lãnh đạo nhà trường trong công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ còn mờ nhạt, thiếu công khai, dân chủ; CBQL được bổ nhiệm chủ yếu từ nguồn nhân sự tại chỗ, có rất ít sự lựa chọn cho mỗi vị trí.

Công tác xác định nội dung, chương trình đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ CBQL các trường MN chưa thật hợp lí, chưa sát với thực tiễn. Việc giám sát, đánh giá tác động các khóa đào tạo bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng, hành vi của CBQL chưa đạt hiệu quả. Bên cạnh đó, việc xây dựng biện pháp và ban hành cơ chế chính sách, tạo động lực cho đội ngũ CBQL trường MN chưa đạt kết quả cao. Đặc biệt, các cấp quản lý chưa quan tâm nhiều đến việc khích lệ sự phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với CBQL trường MN.

Các cấp quản lý chưa xác định cụ thể quy trình đánh giá và cách thức xếp loại kết quả đánh giá đội ngũ CBQL trường MN theo Chuẩn hiệu trưởng. Việc xác định chu kỳ và thẩm quyền đánh giá đội ngũ CBQL trường MN chưa hợp lí. Mặt khác, trách nhiệm của Phòng Giáo dục và Đào tạo, trách nhiệm của hiệu trưởng và tập thể cán bộ, giáo viên trường MN trong đánh giá CBQL theo Chuẩn hiệu trưởng cũng cần phải được xác định rõ.

  • Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Công tác phát triển đội ngũ CBQL mầm non tỉnh Ninh Thuận đạt được một số thành tựu trong thời gian qua là do sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp của Sở , Phòng , Phòng Nội vụ các huyện, thành phố đối với nhiệm vụ phát triển đội ngũ CBQL. Đội ngũ CBQL mầm non có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, gương mẫu, nhiệt huyết, tận tâm thực hiện công việc được giao.

Tuy nhiên, các cấp quản lý chưa quan tâm nhiều đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL mầm non. Năng lực của đội ngũ CBQL mầm non chưa đáp ứng yêu cầu công tác QLGD trong giai đoạn đổi mới. Điều kiện cơ sở vật chất và tài chính hạn hẹp, không đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ CBQL mầm non.

Nhiều CBQL, GV cốt cán, GV dự nguồn chưa đầu tư thỏa đáng cho việc tự bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học nên chưa đủ khả năng trực tiếp tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, các khóa học ứng dụng CNTT, thực hiện chuyển đổi số của ngành. Một số CBQL, GV thiếu nhạy bén, thiếu chủ động trong quá trình tiếp cận những tri thức, thông tin mới để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; một bộ phận CBQL tuổi đã cao, không được đào tạo bài bản trước đây, vẫn tư duy theo kiểu bị động, đối phó, chưa thích ứng kịp thời với yêu cầu giáo dục trong thời kì đổi mới.

Nhiều hiệu trưởng chưa thực sự tâm huyết với công tác chuyên môn, nắm văn bản chỉ đạo chuyên môn chưa sâu, kỹ; một số CBQL còn thiếu tinh thần tự giác và ý thức trách nhiệm của bản thân trong việc nâng cao năng lực, kỹ năng quản trị trường học.

Biên chế CBQL mầm non còn thiếu so với nhu cầu phát triển của thực tiễn. Chính sách hỗ trợ về kinh tế đối với đội ngũ CBQL nói riêng và giáo dục mầm non chậm được ban hành. Một số văn bản của địa phương về công tác bổ nhiệm điều động công chức, viên chức chưa đồng bộ và chưa sát với thực tiễn giáo dục.

Bên cạnh đó, năng lực quản lý và thực hiện các nội dung phát triển đội ngũ CBQL trường MN còn nhiều vấn đề phải xem xét, đánh giá. Mặt khác, Ninh Thuận là một tỉnh thuần nông, điều kiện kinh tế khó khăn nên các khoản chi từ ngân sách cho phát triển đội ngũ CBQL mầm non rất hạn hẹp.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, hiện có 88 trường MN, trong đó có 63 trường MN công lập và 25 trường MN ngoài công lập. Kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn và nghiên cứu sản phẩm hoạt động, tác giả luận văn đã khảo sát thực trạng đội ngũ CBQL và phát triển đội ngũ CBQL trường MN tỉnh Ninh Thuận. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cần nâng cao nhận thức cho CBQL, GV để họ có hiểu biết đầy đủ và đúng đắn về các vai trò của đội ngũ CBQL trường MN; Về số lượng, CBQL hiện nay còn thiếu nhiều; cơ cấu đội ngũ CBQL các trường MN có sự cân đối, hợp lý về trình độ đào tạo, nghiệp vụ quản lý, thành phần dân tộc nhưng lại chưa hợp lí về độ tuổi và thâm niên công tác của đội ngũ CBQL trường MN hiện nay của tỉnh Ninh Thuận.

Phát triển đội ngũ CBQL trường MN là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến lực lượng CBQL trường mầm non trên địa bàn, làm cho đội ngũ này đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng được quy định trong Chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục mầm non. Theo tiếp cận quản lý nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ CBQL trường MN bao gồm phát triển về số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn và xử lý dữ liệu, đề tài đã phân tích thực trạng phát triển đội ngũ CBQL các trường mầm non tỉnh Ninh Thuận. Kết quả nghiên cứu đã nhận định: đa số CBQL, GV cốt cán đã nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của phát triển đội ngũ CBQL trường MN. Tuy nhiên, vẫn còn số lượng ít CBQL, GV chưa nhận thức đầy đủ về vấn đề này nên cần tiếp tục tổ chức nâng cao nhận thức cho CBQL, GV.

Kế hoạch quy hoạch đội ngũ CBQL chưa thể hiện việc khảo sát, đánh giá đội ngũ CBQL trường MN hiện có về số lượng, cơ cấu, chất lượng. Kế hoạch cũng chưa xác định được mục tiêu phát triển đội ngũ CBQL trường MN trong từng giai đoạn căn cứ vào chiến lược phát triển của nhà trường, căn cứ vào các điều kiện thực tế của trường và các yếu tố bên ngoài như nhu cầu nguồn nhân lực, tình hình KT-XH. Ngoài ra, kế hoạch chưa thể hiện công tác kiếm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch quy hoạch, việc thực hiện nguyên tắc, mục đích, yêu cầu và quy trình thực hiện quy hoạch đội ngũ CBQL trường MN.

Nội dung kế hoạch tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển, miễn nhiệm CBQL chủ yếu hướng dẫn quy trình, cách thức thực hiện tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển, miễn nhiệm CBQL. Tuy nhiên, kế hoạch vẫn chưa thể hiện việc phân công trách nhiệm cụ thể, rõ ràng phù hợp đối với các thành viên thực hiện tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển dẫn đến không phát huy dân chủ, công khai, công bằng trong quá trình tuyển chọn, bổ nhiệm, luân chuyển CBQL. Công tác bổ nhiệm còn chậm do lộ trình thu hồi biên chế hàng năm. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQL trường MN đã được thực hiện song kết quả chưa cao. Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBQL, GVMN cốt cán được Phòng Nội vụ, Phòng , nhà trường thiếp lập hàng năm với mục tiêu, hình thức đào tạo, bồi dưỡng; cách thức lựa chọn đối tượng dự nguồn kèm những tiêu chuẩn để cử đi đào tạo, bồi dưỡng theo Chuẩn HT trường MN. Tuy nhiên, vấn đề dự trù kinh phí và chế độ chính sách cho CBQL đi học lại chưa được quan tâm. Vì vậy, cần thường xuyên rà soát bổ sung nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị. Đặc biệt, cần tăng cường công tác đánh giá tác động các khóa đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng, hành vi của CBQL để điều chỉnh nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, góp phần phát triển đội ngũ CBQL trường MN.

Công tác kiểm tra, đánh giá CBQL trường MN tỉnh Ninh Thuận được thực hiện nghiêm túc, theo đúng qui trình đã xác định trong các văn bản pháp lý của Nhà nước, của ngành và địa phương. Đối với việc xây dựng môi trường làm việc, thực hiện thi đua, khen thưởng; chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non thì cần xây dựng những biện pháp và ban hành cơ chế chính sách, tạo động lực cho đội ngũ CBQL trường MN. Thường xuyên khích lệ và có những hành động thiết thực thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với CBQL trường MN. Tập trung quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho công tác giáo dục nói chung và công tác quản lý trường MN nói riêng.

Kết quả nghiên cứu thực trạng đội ngũ CBQL và phát triển đội ngũ CBQL trường MN tỉnh Ninh Thuận trình bày ở chương 2 là cơ sở thực tiễn để người nghiên cứu đề xuất các biện pháp tiếp tục phát triển đội ngũ CBQL ở địa phương trong chương 3 của luận văn. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993