Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Giới thiệu chung về huyện Ba Vì – Hà Nội
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Ba Vì là huyện bán sơn địa, nằm giáp ranh phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thành phố Hà Nội 60 km. Huyện Ba Vì có diện tích tự nhiên là 428,0 km2, trên địa bàn huyện có một phần lớn của dãy núi Ba Vì chạy qua phía Nam huyện, phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, một phần phía Đông Nam giáp huyện Thạnh Thất. Phía Nam giáp các huyện: Lương Sơn (về phía Đông Nam huyện) và Kỳ Sơn của Hòa Bình (về phía Tây Nam huyện). Phía Tây và phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ, và ranh giới là sông Đà (ở phía Tây) và sông Hồng (sông Thao) (ở phía Bắc). Phía Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Tường thành phố Vĩnh Phúc, ranh giới là sông Hồng.
Huyện Ba Vì có các điểm cực: cực Bắc là xã Phú Cường, cực Tây là xã Thuần Mỹ, cực Nam là xã Khánh Thượng, cực Đông là xã Cam Thượng.
2.1.1.2. Địa hình
Thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chia thành 3 tiểu vùng khác nhau: Vùng núi, vùng đồi, vùng đồng bằng ven sông Hồng. Vùng núi chiếm 47,5% diện tích, có các núi cao trên 700m, trong đó cao nhất là Tản Viên cao 1.296m, đỉnh Vua và Ngọc Hoa cao trên 1000m. Vùng đồng bằng lại được bao bọc và bồi đắp bởi hai con sông là sông Hồng và sông Đà nên đất đai rất phì nhiêu, màu mỡ.
Do địa hình núi cao có các dòng suối tự nhiên từ núi đổ về có độ dốc lớn, về mùa mưa suối nước chảy qua các tảng đá nhấp nhô dưới những lùm cây xanh tạo ra các thác nước ngoạn mục như; thác Khoang Xanh, Thác Ao Vua, Thác Mơ… Với rất nhiều con suối lớn nhỏ từ núi cao đổ về (suối Bóp, suối Ổi, suối Tiên) tạo cho Ba Vì phong cảnh sơn thủy hữu tình.
Khu vực sườn Tây núi Ba Vì có địa hình dốc với độ cao trung bình khoảng 500 – 600m gồm phần lớn diện tích núi Ba Vì và vùng đồi gò bao quanh chân núi có địa thế đẹp, một bên là núi nhìn ra sông Đà tạo ra sức hấp dẫn riêng.
2.1.1.3. Khí hậu Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Ba Vì nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có khí hậu trong lành mát mẻ. Thông qua trạm khí tượng Ba Vì hàng năm cho thấy; Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với nhiệt độ trung bình 23oC, về mùa hè nhiệt độ trung bình tại khu vực có độ cao 400m là 220C, ở độ cao 1.100m là 180C, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,6oc. Tổng lượng mưa là 1832,2mm (chiếm 90,87% lượng mưa cả năm). Lượng mưa các tháng đều vượt trên 100 mm với 104 ngày mưa và tháng mưa lớn nhất là tháng 8 (339,6mm). Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 với nhiệt độ xấp xỉ 20oC , tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15,8oC; Lượng mưa các tháng biến động từ 15,0 đến 64,4mm và tháng mưa ít nhất là tháng 12 chỉ đạt 15mm.
2.1.1.4. Thổ nhưỡng
Đất đai huyện Ba Vì được chia làm 2 nhóm, nhóm vùng đồng bằng và nhóm đất vùng đồi núi. Nhóm đất vùng đồng bằng có 12.892 ha bằng 41,1% diện tích đất đai toàn huyện. Nhóm đất vùng đồi núi: 18.478 ha bằng 58,9% đất đai của huyện. Gồm các loại đất chính sau:
- Đất Feralit mầu vàng phân bố ở độ cao >1000m.
- Đất Feralit mầu vàng nâu phát triển trên đá phiến thạch sét, sa thạch phân bố rộng tập trung ở độ cao 500m-1000m.
- Đất Feralit mầu vàng đỏ phát triển trên đá phiến thạch sét, sa thạch, phiến thạch mica và các loại đá trầm tích, phân bố ở sườn và vùng đồi thấp ở độ cao <500m.
- Đất phù sa cổ phân bố thành một dải hẹp kéo dài ven sông Đà thuộc 2 xã Khánh Thượng và Minh Quang loại đất này đang có chiều hướng thoái hoá bị rửa trôi.
2.1.1.5. Thủy văn
Ba Vì là nơi có mạng lưới thủy văn hết sức độc đáo, các con suối được bắt nguồn từ núi Tản Viên chạy qua các khe núi, tạo ra dòng suối uốn lượn xung quanh vườn quốc gia Ba Vì. Huyện Ba Vì gần như được bao bọc bởi hai dòng sông lớn là sông Hồng và sông Đà. Ngoài ra trong khu vực còn có nhiều các dòng suối nhỏ bắt nguồn từ trên đỉnh núi xuống, mùa mưa lượng nước lớn tạo ra các thác nước đẹp như thác Ao Vua, thác Ngà, thác Khoang Xanh… Đứng trên đỉnh núi Ba Vì ta có thể quan sát được toàn cảnh non nước của vùng. Phía Tây là dòng sông Đà chảy sát chân núi. Phía Đông là hồ Đồng Mô, phía Bắc là Hồ Suối Hai, xa hơn là dòng sông Hồng. Tất cả tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình thơ mộng hiếm có của vùng núi Ba Vì.
2.1.1.6. Sinh vật Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Theo số liệu thống kê năm 2017, diện tích rừng toàn huyện có 10.724,9 ha, trong đố rừng sản xuất 4.400,4 ha, rừng phòng hộ 78,4 ha và 6.246ha rừng đặc dụng. Diện tích rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở vùng núi Ba Vì từ độ cao 400m trở lên. Rừng tự nhiên được phủ xanh bằng các loại thảm thực vật phong phú, đa dạng, trong đó có nhiều loại cây đặc trưng của rừng nhiệt đới thuộc phạm vi Vườn quốc gia Ba Vì.
Động thực vật Ba Vì rất đa dạng, phong phú. Hiện nay các nhà thực vật học Việt Nam ước khoảng 2009 loại. Gồm thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới bước đầu kê được 812 loài thực vật bậc cao với 88 họ thực vật, 270 loài bậc cao gồm nhiều loại gỗ quý hiếm như lát hoa, kim giao, sến mật, sồi, dẻ gai…. Hai loại cây rất quý được ghi vào “Sách đỏ Việt Nam” là Bách xanh và Thông đỏ đang được bảo vệ nghiêm ngặt. Động vật cú 44 loài thú, 104 loại chim, 15 loại bò sát, 9 loại lưỡng cư (tài liệu quy hoạch Vườn quốc gia Ba Vì). Đây là nguồn tài nguyên rừng quý hiếm được bảo vệ nghiêm ngặt.
Huyện Ba Vì được thiên nhiên ban tặng bức tranh phong cảnh sơn thủy hữu tình, với hệ sinh thái phong phú, thảm thực vật đa dạng, được coi là “lá phổi xanh” phía Tây Thủ đô Hà Nội. Với những lợi thế về điều kiên tự nhiên, Ba Vì có điều kiện thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài, thu hút nhiều nhà đầu tư, nhất là phát triển đầu tư du lịch sinh thái và du lịch nghỉ dưỡng. Đã có hàng loạt các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng được xây dựng. Nhiều doanh nghiệp đã dựa vào điều kiện tự nhiên thuận lợi của huyện xây dựng khu du lịch, Reasort, nơi vui chơi, nghỉ dưỡng, tham quan cho du khách trong và ngoài nước.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội
Theo thống kê năm 2022, dân số huyện Ba Vì là 27 vạn người, gồm các dân tộc: Kinh, Mường, Dao.
Trước khi sát nhập vào Hà Nội, toàn huyện Ba Vì có 1 thị trấn và 31 xã.
Đến ngày 01 tháng 8 năm 2017, cũng như các huyện khác của thành phố Hà Nội, huyện Ba Vì đã chính thức sát nhập vào thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên, trước đó, ngày 10 tháng 7 năm 2017, toàn bộ diện tích tự nhiên là 454,08 ha và dân số 2.701 người của xã Tân Đức, thuộc huyện Ba Vì được sát nhập vào thành phố Việt Trì – Phú Thọ, theo Nghị quyết của kì họp thứ 3 Quốc hội khóa XII về điều chỉnh địa giới hành chính giữa thành phố Hà Nội và tỉnh Phú Thọ.
Hiện tại, Ba Vì có 1 thị trấn là Tây Đằng (huyện lị) và 30 xã: Thái Hòa, Cổ Đô, Phú Cường, Tản Hồng, Châu Sơn, Vạn Thắng, Phong Vân, Phú Đông, Phú Phương, Phú Châu, Phú Sơn, Đồng Thái, Đông Quang, Chu Minh, Minh Châu, Vật Lại, Cẩm Lĩnh, Tản Lĩnh, Tòng Bạt, Tiền Phong, Cam Thượng, Thụy An, Ba Trại, Ba Vì, Sơn Đà, Thuần Mỹ, Vân Hòa, Yên Bài, Khánh Thượng, Minh Quang. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Năm 2019 tổng giá trị sản xuất đạt 9.116 tỷ đồng, giá trị tăng thêm đạt 4.311 tỷ đồng tăng trưởng kinh tế đạt 16%. Sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản theo giá trị tăng thêm đạt 1.662 tỷ đồng, tăng 24,2% so với cùng kỳ. Nông nghiệp với hai sản phẩm đặc trưng Ba Vì đó là chè sản lượng đạt 12.800 tấn/năm và sản lượng sữa tươi đạt 9.750 tấn/năm.
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Giá trị tăng thêm đạt 340 tỷ đồng, tăng 34% so với cùng kỳ. Huyện có hai cụm công nghiệp (Cam Thượng và Đồng Giai xã Vật Lại) và 12 làng nghề đang hoạt động hiệu quả.
Chính sách xã hội, lao động việc làm, nông nghiệp, nông thôn, nông dân được quan tâm giải quyết việc làm mới cho 10.750 lao động; sự nghiệp giáo dục được quan tâm đã có 18 trường trên địa bàn đạt chuẩn quốc gia; Công tác y tế đã có 23/31 trạm có Bác sỹ, 30/31 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; Về văn hóa đã có 96 làng và 45 cơ quan đạt danh hiệu văn hóa, TDTT tiếp tục phát triển.
Cải cách hành chính có sự tiến bộ, an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể luôn có sự chỉ đạo tập trung; hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở được củng cố, đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết đề ra.
2.2. Điều kiện phát triển du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì
2.2.1. Tài nguyên du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì
Phong cảnh đẹp: Với địa hình đặc biệt, sự kết hợp phong cảnh hùng vĩ của núi non, sông suối, ao hồ và xen vào đó là cảnh trung du đồng bằng với những làng quê xinh đẹp đã tạo nên nhiều điểm du lịch có phong cảnh đẹp, hấp dẫn khách du lịch tới nghỉ dưỡng. Theo nguồn nghiên cứu thực địa hầu hết các khu du lịch tại huyện Ba Vì như: Khoang Xanh – Suối Tiên, Thiên Sơn – Suối Ngà, Ao Vua, Đầm Long, Hồ Tiên Sa, Khu nghỉ dưỡng Tản Đà Resort, Family Resort, Yên Bài Top Hill Resort… được hình thành bởi yếu tố địa hình với núi non, thung lũng và ao hồ. Chính các yếu tố trên đã tạo cho huyện Ba Vì có phong cảnh sơn thủy hữu tình, hùng vĩ, khác lạ và quyến rũ. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Điều kiện thủy văn thuận lợi tạo ra nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp như: Núi, rừng, thác, suối, Sông, Hồ rất phù hợp cho huyện Ba Vì phát triển du lịch nghỉ dưỡng và không thể không nhắc đến các điểm du lịch như:
Yên Bài Top Hill Resort: Khu nghỉ dưỡng này nằm sát sườn đồi và tựa lưng vào núi Tản thoáng đãng, hài hòa với thiên nhiên. Nơi đây có cảnh quan độc đáo, thế đất bám thoải theo triền đồi thấp, có hồ nước điều hòa khí hậu mát mẻ bốn mùa, Yên Bài Top Hill được bao bọc trong đại ngàn của núi rừng, với vẻ đẹp nguyên sơ của núi Ba Vì.
Tản Đà Spa Resort: Thuộc xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì. Khu du lịch này là vùng thung lũng nằm dưới chân núi Tản. Không gian nơi đây được sắp đặt bởi vùng đất thấp tương đối bằng phẳng cùng với hồ Suối Bơn bát ngát, tạo ra một không gian mở, yên bình và hiền hòa, một điển hình mới cho sự giao thoa giữa thiên nhiên và con người. Đây là khu nghỉ dưỡng khá mới, hiện đại và tiện nghi, thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước tới đây nghỉ dưỡng.
Khu du lịch Ao Vua: là một trong những địa điểm giữ được cảnh núi rừng hoang sơ hùng vĩ, không gian đậm chất nhân văn và đặc biệt không khí trong lành rất phù hợp với kì nghỉ cuối tuần, nghỉ dưỡng. Sự kết hợp giữa núi Tản, thác Ao Vua cùng với hệ thống suối và hồ rộng đã tạo cho khu du lịch này một bức tranh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, hài hòa và tuyệt đẹp. Tại đây du khách có thể leo lên đỉnh núi nghe tiếng nước chảy rì rào, chiêm ngưỡng cảnh vật trời mây, non nước mộng mơ và như có cảm giác đi du lịch mạo hiểm với những con đường đồi núi quanh co. Du khách cũng không khỏi bất ngờ trước một kiệt tác hoàn hảo của “đức mẹ tạo hóa” với cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, một món quà quý giá của thiên nhiên ban tặng cho con người.
Khu du lịch Khoang Xanh – Suối Tiên: Nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 50km về phía Tây, khu du lịch Khoang Xanh – Suối Tiên thuộc xã Vân Hòa – Ba Vì, là nơi có phong cảnh sơn thủy hữu tình, núi rừng trùng điệp, có dòng suối Tiên thơ mộng, nước suối trong mát với nhiều đàn thác dạt dào đổ xuống tạo nên những âm thanh kì diệu.
Khu du lịch Đầm Long: Khu du lịch rừng nguyên sinh Bằng Tạ – Đầm Long nằm trên một quả đồi thấp, thuộc xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, cách Hà Nội 65km về phía Tây, cách khu du lịch Ao Vua 14km và cách hồ suối Hai 3,8km.
Đây là khu du lịch được kết hợp bởi hai yếu tố đó là rừng nguyên sinh và hồ nước ngọt, hai yếu tố này đã tạo nên cảnh quan môi trường tự nhiên rất hấp dẫn.
Khu du lịch Thiên Sơn – Suối Ngà: Nằm dưới chân núi Tản Viên, khu du lịch Thiên Sơn – Suối Ngà là nơi có không khí trong lành và cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và thơ mộng của rừng, núi, suối, hồ, đầm và thác nước đã tạo nên một điểm đến hấp dẫn du khách tới nghỉ ngơi, đặc biệt trong những ngày hè… Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Ngoài ra một số khu du lịch khác như: Ba Vì Resort, Family Resort, Hồ Tiên Sa, Khu du lịch Suối Hai, Vườn cò Ngọc Nhị là những khu du lịch rất hấp dẫn du khách bởi các yếu tố núi rừng, thác, hồ…
Khí hậu thích hợp nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe: Địa hình đặc biệt của huyện Ba Vì tạo nên miền khí hậu ôn đới, là khí hậu đặc trưng của khu nghỉ dưỡng chất lượng với bầu không khí trong lành, mát mẻ, nơi lý tưởng cho du khách lựa chọn kỳ nghỉ dưỡng nhằm phục hồi sức khỏe. Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,4oC. Ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,7oC; nhiệt độ tối cao lên tới 42oC. Ở độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm 20,6oC; Từ độ cao 1000m trở lên nhiệt độ chỉ còn 16oC. Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,2o C. Nhiệt độ cao tuyệt đối 33,1oC. Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8. Độ ẩm không khí 86,1%. Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1. Từ độ cao 400m trở lên không có mùa khô. Mùa đông có gió Bắc với tần suất >40%. Mùa Hạ có gió Đông Nam với tần suất 25% và hướng Tây Nam.
Với đặc điểm khí hậu này, đối chiếu với các mức độ ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu đối với sức khỏe của con người và hoạt động du lịch cho thấy huyện Ba Vì hoàn toàn có điều kiện trở thành nơi nghỉ mát lý tưởng, Ba Vì có nhiều tháng thời tiết khí hậu rất thuận lợi cho sức khỏe con người và cho tổ chức hoạt động du lịch. Khí hậu tạo cho huyện Ba Vì có miền nhiệt đặc trưng riêng, là một miền khí hậu ôn đới thu nhỏ. Sự kết hợp của địa hình, khí hậu và hệ thực vật làm cho huyện Ba Vì có khí hậu trong lành, mát mẻ, là điều kiện khí hậu lý tưởng để xây dựng và phát triển du lịch nghỉ dưỡng.
2.2.2. Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật
a/ Hạ tầng giao thông
Ba Vì nằm cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 60 km về phía tây Bắc, Ba Vì có hệ thống giao thông thuận lợi liên kết với thủ đô và đi các tỉnh lân cận.
Từ trung tâm Hà Nội du khách có thể chạy theo Đại lộ Thăng Long với vận tốc thiết kế dành cho xe 4 bánh 80km/h nối trung tâm Hà Nội với Quốc lộ 21A, điểm đầu của đường Hồ Chí Minh. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Quốc lộ 32 chạy qua thị trấn Tây Đằng, nối Sơn Tây với Hưng Hóa tỉnh Phú Thọ và đi các tỉnh vùng Tây Bắc Bắc Bộ. Trên quốc lộ này, đoạn cuối tại xã Thái Hòa, huyện Ba Vì có cầu Trung Hà, bắc qua sông Hồng.
UBND TP Hà Nội đã nâng cấp, mở rộng tuyến đường tỉnh lộ 411, đoạn qua địa phận huyện Ba Vì. Tuyến đường này chạy qua các xã: Đồng Thái, Vạn Thắng, Phú Đông và Phong Vân, huyện Ba Vì có chiều dài 7,5 km. Điểm đầu Km 0+00 giao Quốc lộ 32 tại Km 57+250, điểm cuối tại Km 7+500 giao với đê sông Đà thuộc xã Cổ Đô, huyện Ba Vì.
Ba vì đã có nhiều đầu tư cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch và đặc biệt là hệ thống giao thông. Từ năm 2020 đến nay Ba Vì đã đầu tư xây dựng xong tuyến đường 415 đi Đền Hạ và Đền Trung thuộc xã Quang Minh với số vốn là 64 tỷ đồng. Đầu tư và nâng cấp 2 tuyến đường: tuyến đường từ đường 87 đi khu du lịch Ao Vua với tổng số vốn là 45 tỷ đồng, tuyến đường từ vườn Quốc Gia Ba Vì đi khu du lịch Thiên Sơn – Suối Ngà, khu du lịch Khoang Xanh với vốn đầu tư 38 tỷ đồng.
Huyện Ba Vì đã đầu tư nâng cấp và mở rộng tuyến đường Đại lộ Thăng Long nối Yên Bài đi Vân Hòa, đường vào khu du lịch Khoang Xanh, đường vườn Quốc Gia đi Ao Vua, đường vườn Quốc Gia đi Thiên Sơn Suối Ngà, đường ĐT 414B (Tỉnh lộ) từ Sơn Tây lên đền Thượng, tuyến đường ĐT 413 kết nối Sơn Tây – Hồ Suối Hai – Đá Chông, tuyến đường nối sườn Đông và sườn Tây núi Ba Vì.
Từ các khu du lịch nối với các đường quốc lộ, tỉnh lộ là đường bê tông và giải nhựa, cung đường này thường không chia làn nhưng khá thuận lợi và dễ di chuyển. Các phương tiện giao thông có thể dễ dàng tránh nhau. Đường vào các khu du lịch Ao Vua, Khoang Xanh, Thiên Sơn Suối Ngà, cung đường hơi hẹp nhưng tất cả các cung đường này đã được dải nhựa. Tuy nhiên một số điểm trên đường đã làm quá lâu và đang trong tình trạng xuống cấp. Riêng Ba Vì Resort là điểm du lịch nằm trong khu vực vườn quốc gia Ba Vì nên cung đường cuối đi khá quanh co và phải qua một số khúc cua nhỏ khi lên điểm cost400.
Nhìn chung hệ thống giao của các khu nghỉ dưỡng huyện Ba Vì so với các điển du lịch nghỉ dưỡng khác trong các tỉnh lân cận như: Kênh Gà Resort (Gia Viễn,Thái Bình), Đại Lải Resort (Phúc Yên, Vĩnh Phúc), V-Resort Hòa Bình (Kim Bôi, Hòa Bình) từ trung tâm Hà Nội tới các khu nghỉ dưỡng huyện Ba Vì gần và thuận tiện hơn. Huyện Ba Vì có những cung đường mới, tương đối thuận lợi cho việc di chuyển của khách du lịch. Đây chính là lợi thế của các điểm đến tại Ba Vì so với các điểm du lịch khác.
b/ Hạ tầng điện
Tương đối phát triển, tất cả các khu du lịch đều có đường điện vào. Hệ thống điện được sử dụng bằng hệ thống điện lưới quốc gia thông qua các trạm 220KV và trạm 110KV và trạm biến áp 35,22KV ổn định và an toàn. Đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp điện cho huyện Ba Vì. Điện lực Hà Nội hàng năm dự trù nguồn kinh phí lớn để nâng cấp và đảm bảo an toàn cho người dân khi sử dụng điện, đảm bảo tính ổn định cho các khu du lịch phục vụ khách trong mùa cao điểm. Vì vậy, những năm gần đây chất lượng nguồn điện ngày một nâng cao, sự cố về điện giảm, đây là điều kiện thuận lợi phục vụ nhu cầu kinh doanh, dịch vụ của các khu du lịch nghỉ dưỡng phục vụ khách du lịch được tốt hơn trong tương lai.
Tính từ năm 2020 đến tháng 2/2024 huyện Ba Vì đã đầu tư và xây dựng 28 trạm biến áp có công suất từ 100 đến 630KVA với tổng chiều dài đường dây là 16,21km. Trong đó có 23 trạm do tổng công ty điện lực Hà Nội đầu tư, 5 trạm biến áp còn lại do doanh nghiệp đầu tư. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Hiện tại tất cả các khu du lịch nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí của huyện Ba Vì đều sử dụng mạng điện lưới Quốc gia do tổng công ty điện lực Hà Nội phụ trách. Thông qua các trạm 220KV và trạm 110KV và trạm biến áp 35,22KV ổn định và an toàn. Tại các khu du lịch nghỉ dưỡng của huyện Ba Vì đều xây dựng trạm biến áp 0,4KV làm đường điện cung cấp và sử dụng cho khu du lịch.
Tuy trong mùa hè do nhiệt độ tăng cao, nhu cầu sử dụng điện của người dân Hà Nội và huyện Ba Vì ở mức cao, hiện nay vẫn còn tình trạng cắt điện luân phiện tại các khu vực huyện ngoại thành Hà Nội nhưng tất cả các khu du lịch nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí của huyện Ba Vì được điện lực Hà Nội ưu tiên cung cấp điện ổn định để phục vụ ngành du lịch (một trong ngành kinh tế mũi nhọn được huyện ưu tiên phát triển).
Đối với các khu du lịch nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí như: Khu du lịch Khoang Xanh – Suối Tiên, Đầm Long, Ao Vua, Thiên Sơn – Suối Ngà, Ba Vì Resort, Tản Đà Resort đã dự trù mày phát điện công nghiệp có công suất lớn để đối phó với các sự cố khi xảy ra sự cố về điện trong mùa cao điểm.
c/ Nguồn cấp nước và hệ thống xử lý rác thải
Nguồn nước khai thác và sử dụng chủ yếu hiện nay trên địa bàn huyện Ba Vì là nguồn nước mặt từ các sông suối, ao, hồ, chỉ có thị trấn Tây Đằng và vùng ven thị trấn được sử dụng hệ thống cấp nước sạch được xây dựng theo dự án “ Đầu tư xây dựng công trình hệ thống cấp nước khu vực thị trấn Tây Đằng huyện Ba Vì đến năm 2019” do Công ty Tư vấn nước và MTVN làm chủ thầu, còn tại các xã khác vẫn sử dụng nước sinh hoạt bằng nguồn nước giếng khoan hộ gia đình.
Tại các khu du lịch, nước sinh hoạt và phục vụ hoạt động du lịch do hệ thống cấp nước chủ yếu của các đơn vị kinh doanh du lich tự xây dựng. Do vậy, các khu du lịch rất thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống cung cấp nước, chủ động nguồn nước và quy hoạch.
Hiện tại tất cả khu nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí huyện Ba Vì đang sử dụng nguồn nước ngầm và nguồn nước mặt làm nước sinh hoạt.
Do điều kiện các khu nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí nằm ở vị trí khá xa so với các cụm dân cư, địa hình đồi núi nên khó xây dựng hệ thống đường ống cung cấp nước sạch. Do vậy tất cả các khu du lịch vẫn tự quy hoạch xây dựng và khai thác nguồn nước để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của khu du lịch. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Ba Vì là huyện miền núi, trong lòng đất có nhiều tầng đá ong. Loại đá này có thể lọc sạch nguồn nước và loại bỏ các chất độc hại trong nước, do vậy nguồn nước ngầm tại Ba Vì rất trong, vị ngọt mát đặc trưng, có thể khai thác và sử dụng trực tiếp không cần thông qua hệ thống lọc mà vẫn đảm bảo an toàn. Tại các khu nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí hiện tại đều sử dụng giếng khoan lấy nước trực tiếp từ trong lòng đất lên. Theo nghiên cứu thực tế, tất cả các khu nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí đều có 1 giếng khoan dùng để cung cấp nước sinh hoạt, 1 giếng khoan sử dụng cung cấp nước cho bể bơi. Riêng tại khu du lịch Khoang Xanh và Tản Đà Resort được xây dựng và lắp đặt thêm giếng khoan lấy nước khoáng từ trong lòng đất từ độ sâu trên 100m phục vụ dịch vụ tắm khoáng của du khách.
Nguồn nước ở đây dồi dào và rất ổn định. Vị trí của các khu nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí nằm ở vị trí thường cao và cách xa hơn khu nhà dân và các cụm khu công nghiệp, vì thế, nguồn nước ở đây rất an toàn và chưa bị ô nhiễm. Trong tương lai, Hà Nội phát triển và mở rộng về phía tây, do vậy, nguồn nước sạch này có thể bị đe dọa và bị ảnh hưởng…
d/ Hệ thống thông tin liên lạc
Sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ của ngành Bưu chính viễn thông Quốc gia và của thành phố Hà Nội đã có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển thông tin liên lạc của huyện Ba Vì. Việc phủ sóng điện thoại di động đến hầu hết địa bàn huyện đã góp phần phục vụ khách du lịch tốt hơn, tiện lợi hơn. Ngoài ra các loại hình dịch vụ như: điện hoa, chuyển tiền nhanh, giải pháp thông tin cho khách, dịch vụ internet, Wifi…. Cũng tạo thuận lợi cho khách khai thác, sử dụng trong thời gian nghỉ dưỡng. Tại các khu du lịch nghỉ dưỡng, hệ thống thông tin liên lạc rất phát triển. Mạng điện thoại hữu tuyến được phát triển đến tận các khu du lịch, điện thoại di động được phủ sóng đã đáp ứng được yêu cầu thông tin liên lạc của du khách. 100% các điểm du lịch đã sử dụng hệ thống internet, một số điểm đã có Wifi đặt trong phòng nghỉ đảm bảo các tiện ích cho khách du lịch khi tới nghỉ dưỡng như khu nghỉ dưỡng Tản Đà Spa Resort, Ba Vì Resort….
UBND huyện Ba Vì cùng với doanh nghiệp du lịch đã phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông phát triển các trạm BTS tại các đơn vị như: Thiên Sơn – Suối Ngà, Khoang Xanh – Suối Tiên, Đầm Long, Ao Vua… Đường truyền Internet bằng cáp quang đã được đầu tư đến 100% các xã có khu du lịch. Việc thông tin liên lạc của khách rất thuận lợi. Tại các khu nghỉ dưỡng như Tản Đà Resort, Family Resort, Ba Vì Resort đã mắc hệ thống Internet, Wifi phục vụ khách du lịch. Tại đây khách có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin, liên lạc bằng các thiết bị máy tính và điện thoại cá nhân.
Bảng 2.1. Mức độ hài lòng của du khách về dịch vụ thông tin, viễn thông
Theo điều tra thực tế có 9,3% khách du lịch không hài lòng với dịch vụ thông tin, viễn thông, 5,8% khách du lịch ít hài lòng về dịch vụ này. Nguyên nhân là do, tại một số khu du lịch nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí của huyện Ba Vì nằm trên vùng núi cao, bán sơn địa, hoặc do hệ sinh thái thực vật quá phát triển đã gây ra tình trạng sóng yếu, nhiễu sóng, mất sóng trong một thời gian ngắn. Tình trạng này thường xuyên xảy ra tại các khu du lịch Thiên Sơn – Suối Ngà, Hồ Tiên Sa, Ba Vì Resort, đặc biệt là khi đi lên cao hoặc vào rừng rậm.
Tình trạng mất sóng thường xuyên lặp đi lặp lại trong ngày gây cho du khách nhiều phiền toái khi sử dụng điện thoại và sử dụng internet không dây. Tuy nhiên có 43,7% khách du lịch cảm thấy bình thường với dịch vụ thông tin, viễn thông ở đây. Sự tác động của hiện tượng nhiễu và mất sóng không ảnh hưởng nhiều tới chuyến đi của họ. Có 50,2% khách du lịch họ đánh giá dịch vụ viễn thông ở đây đạt mức tốt trở lên. Đối với khách du lịch này họ có cảm nhận rằng, trong những chuyến đi du lịch nghỉ dưỡng, đây là thời gian thư dãn, nghỉ ngơi, họ cần không gian riêng bên gia đình, bạn bè. Vì vậy, vấn đề thông tin liên lạc đối với họ cũng không quá quan trọng trong kỳ nghỉ ngắn ngày.
2.2.3. Nguồn nhân lực phát triển du lịch Ba Vì Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Theo số liệu của UBND thành phố Hà Nội ngày 15/10/2023 dân số huyện Ba Vì khoảng trên 265 nghìn người, trong đó có hơn 64% dân số trong tuổi lao động nên Ba Vì có lực lượng lao động trẻ, dồi dào rất thuận lợi cho phát triển nguồn nhân lực du lịch nói riêng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung của huyện. Người dân địa phương rất nhiệt tình, thân thiện và cởi mở, có kỹ năng giao tiếp và tay nghề. UBND thành phố Hà Nội cũng như huyện Ba Vì cũng rất quan tâm tới vấn đề phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và lao động nghiệp vụ du lịch. Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2030, định hướng đến 2040 của UBND thành phố Hà Nội đã đề ra những quan điểm , mục tiêu phát triển du lịch nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực du lịch đảm bảo về chất lượng, số lượng và phù hợp với mục tiêu phát triển ngành. Ba Vì là một huyện ngoại thành của Hà Nội, cách thủ đô không xa (trung tâm đào tạo và phát triển du lịch lớn của cả nước). Đó là điều kiện rất thuận lợi để Ba Vì có thể xây dựng và phát triển nguồn nhân lực du lịch có chuyên môn cao đáp ứng nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng trong thời gian tới.
2.2.4. Chính sách phát triển du lịch
UBND huyện Ba Vì đã xác định “Phát triển du lịch Ba Vì theo hướng thân thiện, bền vững”. Hướng tới du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. UBND huyện Ba Vì cùng với thành phố Hà Nội đã dành một nguồn ngân sách lớn để đầu tư cơ sở hạ tầng, điện, đường, thông tin liên lạc, hệ thống cấp thoát nước… Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển.
UBND huyện Ba Vì cũng rất quan tâm tới vấn đề phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và lao động nghiệp vụ du lịch.
Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2030, định hướng đến 2040 của UBND thành phố Hà Nội đã đề ra những quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực du lịch đảm bảo về chất lượng, số lượng và phù hợp với mục tiêu phát triển ngành.
2.2.5. Bảo vệ tài nguyên môi trường
Huyện Ba Vì là một huyện bán sơn địa. là khu vực cao so với các vùng kinh tế phát triển, đặc biệt là khu công nghiệp. Vì vậy, môi trường ít chịu ảnh hưởng của các yếu tố gây ô nhiễm như khí thải, rác thải, nước thải của các nhà máy, khu công nghiệp. Công tác vệ sinh môi trường được chỉ đạo tốt, các đơn vị tổ chức tốt các phong trào tổng vệ sinh vào ngày cuối tuần, giữ gìn đường làng, ngõ phố luôn sạch đẹp. UBND huyện Ba Vì đã giao cho Xí nghiệp môi trường đô thị Ba Vì xây dựng phương án khoán đặt hàng để phối hợp với một số xã xây dựng và thu gom rác thải đem xử lý đảm bảo vệ sinh môi trường. Hơn nữa hiện nay tài nguyên thực vật huyện Ba Vì được coi như một “tấm lá phổi” của thủ đô Hà Nội. Vì vậy công tác bảo vệ, môi trường thiên nhiện được UBND huyện rất trú trọng, điển hình là vườn quốc gia Ba Vì trong những năm gần đây không còn xảy ra tình trạng chặt phá rừng, săn bắn trái phép. Hiện tượng cháy rừng không xảy ra trong nhiều năm qua. Vì vậy, điều kiện vệ sinh môi trường của Ba Vì rất thuận lợi cho khách du lịch đến đây nghỉ dưỡng và hít thở không khí trong lành.
Hiện nay, trong các khu du lịch tại huyện Ba Vì công tác bảo vệ môi trường rất được trú trọng. Tại các khu du lịch đã có thùng đựng rác thải, đặc biệt khu du lịch Tản Đà Resort theo khảo sát thực địa tại đây đã có thùng phân loại rác chuyên biệt, rác hữu cơ và rác vô cơ. Thùng rác được nhân viên vệ sinh tập kết và đưa đi xử lý luôn trong ngày, do vậy vấn đề vệ sinh môi trường tại đây được đảm bảo sạch sẽ và trong lành. Trong các khu du lịch đã sử dụng bảng chỉ dẫn cho du khách bảo vệ môi trường và giữ gìn cảnh quan khu du lịch. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Tuy nhiên tại các khu du lịch Đầm Long, Ao Vua, Khoang Xanh – Suối Tiên, Thiên Sơn – Suối Ngà vẫn xảy ra tình trạng ô nhiễm rác thải. Tình trạng ô nhiễm này phần lớn do ý thức và trách nhiệm của du khách chưa cao. Tình trạng vứt rác không đúng nơi quy định còn diễn ra khá phổ biến. Tại các khu du lịch này còn thiếu biển chỉ dẫn bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên và nhiều thùng rác để vị trí khuất làm cho du khách khó tìm kiếm nơi để rác. Do khu du lịch quá rộng nên thường thiếu nhân viên dọn vệ sinh, tình trạng rác thải gom lại và để lưu lại từ 3 đến 4 ngày rất phổ biến. Vấn đề rác thải tại các khu du lịch đã làm mất cảnh quan thiên nhiên, vẻ đẹp và sự hấp dẫn của điểm đến.
Hiện tại, các khu du lịch chưa có giải pháp bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách triệt để. Tại hệ thống nhà hàng, khách sạn trong các khu du lịch trên thực tế chưa có hệ thống xử lý chất thải riêng. Lượng chất thải rắn và lỏng được thải trực tiếp ra môi trường gây ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn nước ngầm và trong thời gian không xa có thể ảnh hưởng tới nguồn nước khoáng nóng có giá trị như tại khu du lịch Khoang Xanh. Nước tại các bể bơi được lấy trực tiếp từ nguồn nước ngầm, tuy nhiên, nguồn nước này chỉ được sử dụng trong ngày và sau đó được xả trực tiếp ra môi trường mà không được giữ lại xử lý để tái sử dụng. Hiện tượng này kéo dài sẽ gây lãng phí nguồn nước ngầm làm cạn kiệt tài nguyên nước, hơn nữa khi xả thải trực tiếp nước từ các bể bơi ra môi trường không qua xử lý sẽ làm ô nhiễm nguồn nước ngọt trên bề mặt.
Ở nhiều khu du lịch do yếu tố quy hoạch đầu tư và xây dựng thiếu đồng bộ cho nên tại các khu du lịch này luôn xảy ra hiện tượng xây dựng cơi nới gây phá hủy thiên nhiên, cảnh quan.
Bảng 2.2: Bảng đánh giá mức độ hài lòng của du khách về cảnh quan thiên nhiên và vệ sinh môi trường.
| Mức độ hài lòng của du khách | Không hài lòng | Ít hài lòng | Bình thường | Tốt | Rất tốt |
| Phong cảnh thiên nhiên | 10 | 24 | 153 | 38 | |
| Vệ sinh môi trường | 18 | 25 | 83 | 81 | 18 |
Nguồn: Theo số liệu điều tra thực tế Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Qua bảng số liệu khảo sát thực tế cho thấy rằng phong cảnh thiên nhiên được khách du lịch hài lòng và đánh giá khá tốt. Có 191 khách du lịch cảm thấy hài lòng và rất hài lòng đối với phong cảnh thiên nhiên tại khu du lịch tương đương 84,88% khách du lịch được hỏi. Chỉ có 4% khách du lịch cảm thấy ít hài lòng và 10,6% khách du lịch cho rằng phong cảnh bình thường và không có du khách nào không hài lòng với cảnh quan thiên nhiên nơi đây. Kết quả nghiên cứu cho chúng ta thấy rằng, phong cảnh thiên nhiên rất ưu đãi huyện Ba Vì và đặc biệt công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tại các khu du lịch là khá tốt do vậy phong cảnh nơi đây vẫn được khách du lịch rất cảm mến.
Về vấn đề vệ sinh môi trường tại các khu du lịch, có 18 khách du lịch không hài lòng tương đương với 8% , 25 khách du lịch ít hài lòng tương đương 11,11% , 83 khách du lịch hài lòng chiếm 36,88%, 99 khách du lịch hài lòng và lượng khách rất hài lòng chiếm 44% trên tổng số 225 khách được hỏi. Một trong những lý do khách du lịch không hài lòng về vấn đề vệ sinh môi trường chủ yếu: Số lượng thùng chứa rác ít và đặt tại các vị trí không hợp lý (góc khuất, xa trung tâm), rác thải không được xử lý ngay, không có bãi tập kết rác, biển chỉ dẫn còn thiếu…
2.2.6. An ninh trật tự, an toàn cho du khách
Tình hình an ninh, chính trị, Trật tự an toàn xã hội ổn định và được giữ vững, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội địa phương. Công tác an ninh trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn huyện thường xuyên được các cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể, tổ chức xã hội tập trung quan tâm thực hiện một cách nghiêm túc, đảm bảo an toàn cho nhân dân và khách du lịch khi đến nghỉ dưỡng tại Ba Vì.
Theo nghiên cứu và khảo sát thực tế, tất cả các khu du lịch tại Ba Vì đều có phòng y tế đảm bảo an toàn cho du khách khi gặp các vấn đề liên quan tới sức khỏe và tai nạn trong khi diễn ra chương trình du lịch. Phòng y tế của mỗi khu du lịch thường có y tá viên trực giờ hành chính và làm việc tất cả các ngày trong tuần. Y tá tại khu du lịch này thường là trình độ trung cấp, cao đẳng y chuyên ngành điều dưỡng. Mỗi trung tâm y tế thường có hai phòng, một phòng dành cho bệnh nhân nam, một phòng dành cho bệnh nhân nữ. Trang thiết bị tại các trung tâm y tế còn hạn chế về trang thiết thiết bị. Thiết bị trong phòng chủ yếu là dụng cụ sơ cứu cho bệnh nhân, do vậy, phòng y tế chỉ có chức năng sơ cứu bệnh nhân, không có chức năng điều trị khi gặp những trường hợp bệnh nhân mắc chứng bệnh hoặc tai nạn nguy hiểm.
Bảng 2.3:Tình hình an toàn y tế Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
| Điểm du lịch | Số lượng trung tâm y tế | Số lượng y tá | Trình độ y tá | Số phòng bệnh nhân |
| Khoang Xanh | 1 | 2 | Cao đẳng | 2 |
| Đầm Long | 1 | 2 | Trung cấp | 2 |
| Thiên Sơn – Suối Ngà | 1 | 1 | Trung cấp | 2 |
| Tản Đà Resort | 1 | 2 | Cao đẳng | 2 |
| Ba Vì Resort | 1 | 2 | Trung cấp | 2 |
| Family Resort | 1 | 2 | Cao đẳng | 2 |
Nguồn: Số liệu điều tra thực tế
Dịp hè là mùa du lịch tại các khu du lich của huyện Ba Vì, hầu hết du khách tới các điểm đến này đều sử dụng dịch vụ bể bơi và một số dịch vụ khác liên quan tới nước như: đạp vịt, bơi kayak. Đây cũng chính là vấn đề quan trọng liên quan đến sự an toàn của du khách trong chương trình du lịch. Vấn đề này được các khu du lịch chú trọng và đặc biệt quan tâm về sự an toàn. Theo khảo sát tại khu du lịch Đầm Long, Khoang Xanh – Suối Tiên, Ao Vua hay các khu nghỉ dưỡng khác vào dịp nghỉ lễ 30/4 và 1/5, mỗi khu bể bơi dành cho người lớn thường có từ 4 đến 6 nhân viên cứu hộ trực bể bơi và được bố trí khoảng cách hợp lý nhằm dễ dàng quan sát đảm bảo an toàn cho hoạt động của du khách và dễ dàng cứu hộ khi xảy ra các tình huống xấu. Tại bể bơi dành cho trẻ em thường có 1 đến 2 nhân viên cứu hộ trực theo giờ hoạt động của bể bơi. Tại khu du lịch Đầm Long, Ao Vua… hoạt động vui chơi giải trí đạp vịt của du khách chưa được quan tâm tới vấn đề an toàn. Du khách tham gia trò chơi thường không được sử dụng áo phao, không có nhân viên cứu hộ và thuyền cứu hộ. Đây là vấn đề hạn chế của hầu hết các khu du lịch tại huyện Ba Vì.
2.2.4. Đánh giá chung Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Đối với huyện Ba Vì là một huyện bán sơn địa của thủ đô Hà Nội. Với khoảng cách không xa, cách trung tâm Hà Nội 60km. Điều kiện giao thông thuận lợi nối liền các khu du lịch nghỉ dưỡng với trung tâm Hà Nội. Là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và lên chương trình nghỉ dưỡng cho khách du lịch trong những kỳ nghỉ ngắn ngày và cuối tuần. Tài nguyên du lịch tự nhiên của huyện Ba Vì được đánh giá rất cao, là một trong những điểm du lịch được thiên nhiên ưu đãi bậc nhất về phong cảnh, hệ sinh vật, thời tiết và nguồn nước khoáng. Các yếu tố tự nhiên đó tạo điều kiện cho huyện Ba Vì có thể đầu tư và xây dựng những khu du lịch nghỉ dưỡng mang tầm cỡ quốc gia để thu hút khách du lịch.
Nhà nước đang có những chính sách mở cửa, hội nhập thu hút khách quốc tế tới Việt Nam như: việc miễn thị thực cho một số quốc gia, chương trình hội chợ giới thiệu du lịch Việt Nam trong những hội chợ quốc tế. Điều này không những là tiềm năng để thu hút khách quốc tế tới Việt Nam và còn mang lại thuận lợi đáng kể cho du lịch Ba Vì.
Hiện nay UBND thành phố Hà Nội cùng với Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch đang rất chú trọng về vấn đề quy hoạch, phát triển nguồn nhân lực cho du lịch Ba Vì cũng như một số các dự án khu du lịch nghỉ dưỡng tầm cỡ quốc gia tại huyện. Đây là điều kiện để du lịch và du lịch nghỉ dưỡng huyện Ba Vì phát triển bền vững.
Tháng 3/2020 hội nghị UBND huyện Ba Vì, huyện Ba Vì đưa ra định hướng “Phát triển du lịch huyện Ba Vì theo hướng bền vững và thân thiện”, cũng đưa ra chiến lược phát triển du lịch đến năm 2030, tầm nhìn 2040. Đây chính là định hướng, là kim chỉ nam để dẫn đường cho ngành du lịch huyện Ba Vì trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện.
2.3. Hoạt động du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội
2.3.1. Số lượng khách và các thị trường khách du lịch đến huyện Ba Vì – Hà Nội
Trong 4 năm từ năm 2020 – 2023 du lịch Ba Vì đạt mức tăng trưởng ổn định: Tổng doanh thu đạt 753 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quan hàng năm đạt 12,8%/năm; tổng lượng khách đạt 8.986.000 lượt khách, tốc độ tăng bình quân là 3,3%. Trong đó năm 2023 tổng lượng khách đến thăm quan Ba Vì đạt xấp xỉ 2,4 triệu lượt khách.
a/ Khách du lịch nội địa
Nguồn khách du lịch tới Ba Vì nghỉ dưỡng chủ yếu là khách nội địa. Nguồn khách tập chung chủ yếu khu vực Hà Nội và một số tỉnh lân cận có bán kính không quá 100km. Khách du lịch ở các tỉnh xa tới chủ yếu là khách đi du lịch kết hợp với thăm thân.
Bảng 2.4: Số lượng khách du lịch nội địa tới Ba Vì Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Đơn vị tính: Lượt
| Năm | Lượng khách | Tỷ lệ tăng (%) |
| 2021 | 2.209.537 | – |
| 2022 | 2.290.229 | 3,5 |
| 2023 | 2.385.176. | 4,1 |
Nguồn: số liệu phòng Văn hóa – Thông tin huyện Ba Vì
Trong 3 năm qua (2021 – 2023) lượng khách du lịch tới Ba Vì đạt trên 2 triệu lượt khách/năm. Huyện Ba Vì đang là điểm đến thu hút khách du lịch nội địa của thành phố Hà Nội phục vụ nhu cầu thăm quan và nghỉ dưỡng của du khách. Lượng khách tăng trưởng ổn định đạt từ 3,5% – 4,1% so với năm trước. Với lượng khách tăng trưởng ổn định, đây chính là cơ sở để du lịch Ba Vì khai thác điều kiện tài nguyên sẵn có của mình, đầu tư khai thác phục vụ du lịch và đặc biệt là loại hình du lịch nghỉ dưỡng.
Bảng 2.5: Thị trường khách du lịch nội địa tới Ba Vì
| Các thị trường | Lượng khách | Tỷ lệ phần trăm |
| Hà Nội | 196 | 87,1 |
| Các tỉnh lân cận ( Bán kính dưới 200km) | 18 | 8 |
| Các tỉnh khác | 11 | 4,9 |
Nguồn: Theo số liệu điều tra thực tế
Theo số liệu điều tra thực tế, thị trường khách du lịch Hà Nội tới Ba Vì chiếm 87,1% trong tổng lượng khách. Khoảng cách địa lý là một phần lý do giải thích cho việc khách du lịch Hà Nội tại sao lại tới Ba Vì tham quan và nghỉ ngơi nhiều như vậy. Hơn thế nữa, do sức ép trong công việc nên người dân Hà Nội thường có thói quen đi du lịch và nghỉ dưỡng vào những kỳ nghỉ ngắn ngày như cuối tuần, nghỉ lễ, tết…Đây là thị trường nội địa chính của du lịch nghỉ dưỡng huyện Ba Vì. Với các tỉnh xa hơn, có bán kính dưới 200km tỷ lệ khách du lịch đạt 8% tổng lượng khách. Khách từ các tỉnh có bán kính trên 200km trở lên tỷ lệ khách chỉ đạt 4,9%. Chính vì vậy, thị trường chính của du lịch Ba Vì là thị trường khách tại thủ đô Hà Nội. Đây là một trong những ưu thế về thị trường khách du lịch của điểm đến huyện Ba Vì mà không phải điểm đến nào cũng có được. Qua đây huyện Ba Vì phải có chính sách marketing quảng bá sâu rộng vào thị trường chính là thành phố Hà Nội nhằm thu hút thị trường khách mục tiêu này.
Biểu đồ 2.1: Các thị trường khách nội địa tới Ba Vì Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Điều tra thực tế cho thấy, thị trường khách du lịch Hà Nội biết tới du lịch huyện Ba Vì nhiều hơn các thị trường khách khác. Hơn nữa, với khoảng cách địa lý gần và thuận lợi điểm du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì đã thu hút khách du lịch Hà Nội hơn các địa phương khác. Thị trường khách du lịch tại Hà Nội là thị trường tập trung nhiều cơ quan nhà nước, các trường học, bệnh viện, ngân hàng… theo số liệu nghiên cứu thực tế, khách du lịch là giáo viên, học sinh, sinh viên, cán bộ công nhân viên ngân hàng, cơ quan nhà nước chiếm khoảng 51,11% lượng khách tới huyện Ba Vì với thời gian nghỉ cuối tuần là 2 ngày. Đây cũng là cơ sở quan trọng để khách tổ chức chương trình du lịch nghỉ dưỡng ngắn ngày và hấp dẫn. Cho nên, điểm đến du lịch huyện Ba Vì là sự lựa chọn rất tốt cho thị trường khách du lịch Hà Nội. Các thị trường khách du lịch cách huyện Ba Vì bán kính trên 100km đây chính là thị trường tiềm năng cho du lịch Ba Vì khai thác. Bởi trên thực tế, đời sống người dân được nâng cao, nhu cầu du lịch và đặc biệt là nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng ngày càng nhiều. Cho nên, du lịch nghỉ dưỡng cần có một điểm nhấn và tạo ra sự khác biệt nhằm thu hút lượng khách tiềm năng này.
b/ Khách du lịch quốc tế
Bảng 2.6: Số lượng khách du lịch quốc tế tới Ba Vì – Hà Nội
Đơn vị tính: Lượt
| Năm | Lượng khách | Tỷ lệ tăng |
| 2021 | 7.713 | – |
| 2022 | 9.771 | 26,68% |
| 2023 | 14.824 | 51,7% |
Nguồn: số liệu phòng Văn hóa – Thông tin huyện Ba Vì
Tuy lượng khách du lịch quốc tế tới Ba Vì chưa bằng 0.5% lượng khách nội địa. Nhưng đây cũng chính là điểm du lịch tiềm năng thu hút khách du lịch quốc tế trong tương lai. Năm 2022 lượng khách quốc tế tới Ba Vì tăng 26,68% so với năm 2021. Năm 2023 lượng khách quốc tế tới Ba Vì tăng 51,7% so với năm 2022. Có thể thấy rằng, trong những năm gần đây, mức tăng trưởng của khách du lịch quốc tế tới Ba Vì là rất có khả quan. Khách quốc tế là tiềm năng cho các khu du lịch nghỉ dưỡng đầu tư vào sản phẩm và quảng bá giới thiệu sản phẩm du lịch tới thị trường khách quốc tế. Lượng khách quốc tế tới Ba Vì du lịch chủ yếu với hai loại hình chính đó là du lịch nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái.
Những điểm thu hút khách du lịch quốc tế nhất đó là: Khu du lịch Ao Vua, Đầm Long, Tản Đà Resort, Vườn quốc gia Ba Vì, Khoang Xanh – Suối Tiên.
2.3.2. Phân tích một số đặc điểm thị trường khách du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì qua kết quả điều tra thực tế Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
2.3.2.1. Mục đích của chuyến đi du lịch Ba Vì của du khách
Bảng 2.7: Mục đích chuyến đi của du khách.
| Mục đích chuyến đi | Số lượng khách | Tỷ lệ % |
| Nghỉ dưỡng kết hợp với chữa bệnh | 24 | 10.67 |
| Nghỉ dưỡng kết hợp vui chơi giải trí | 81 | 36 |
| Nghỉ dưỡng kết hợp du lịch tâm linh | 8 | 3.56 |
| Nghỉ dưỡng kết hợp với thăm thân | 10 | 4.44 |
| Nghỉ ngơi cuối tuần | 86 | 38.22 |
| Nghỉ dưỡng kết hợp với mục đích khác | 16 | 7.11 |
Nguồn: Số liệu điều tra thực tế
Theo số liệu điều tra, khách đi nghỉ dưỡng kết hợp với chữa bệnh là 24 khách chiếm 10,67% trong tổng số 225 khách du lịch được hỏi. Khách du lịch với mục đích nghỉ dưỡng kết hợp chữa bệnh chủ yếu là khách du lịch tham gia các chương trình tour tại các điểm du lịch Khoang Xanh, Tản Đà Resort. Đây là hai điểm du lịch có nguồn nước khoáng với tỷ lệ các chất khoáng phù hợp với việc chữa bệnh và phục hồi sức khỏe. Ngoài ra, tại Tản Đà Resort có trung tâm Spa lớn và hiện đại với tổng số 12 phòng, phục vụ khách 24/24 khi khách du lịch nghỉ dưỡng tại đây. Các phòng Spa được trang bị trang thiết bị tiện nghi và đặc biệt là các bài thuốc lá tắm dân gian để phục vụ tắm và xông hơi cho du khách, ngoài ra còn có các dịch vụ như massage foot, masage body, massage face…
Với nhóm du khách đi du lịch với mục đích nghỉ dưỡng kết hợp với vui chơi giải trí chiếm tỷ lệ 36%. Chủ yếu là nhóm gia đình, nhóm học sinh, sinh viên… Họ thường tổ chức các chương trình du lịch tại các điểm du lịch Đầm Long, Ao Vua với các trò chơi thú vị và cảm giác mạnh như; trò chơi tàu siêu tốc, đĩa bay, czary wave, ngoài ra các điểm du lịch này còn có bể bơi dành cho người lớn và trẻ em có sức chứa trên 500 du khách/1 ngày. Các điểm du lịch như Thiên Sơn – Suối Ngà, Khoang Xanh, Hồ Tiên Sa… cũng là những điểm du lịch thu hút khách bởi nhiên hoang sơ, phong cảnh ngoạn mục, không khí trong lành mát mẻ…
Nhóm khách với mục đích nghỉ dưỡng kết hợp với du lịch tâm linh chỉ có 8 du khách trong tổng 225 phiếu trả lời, tương đương 3,56%. Do điều kiện và thời gian nghiên cứu không phải là mùa du lịch tâm linh và du lịch lễ hội vì vậy con số này chỉ mang tính tương đối, chương trình lựa chọn của nhóm khách này chủ yếu là khu nghỉ dưỡng Ba Vì Resort kết hợp tham quan và lễ đền Thượng. Nhóm khách mục đích nghỉ dưỡng kết hợp với thăm thân là 4,44%.
Với nhóm khách du lịch với mục đích nghỉ ngơi cuối tuần là 86 phiếu tương đương với 38,22%. Đây là khách chủ yếu thuộc nhóm gia đình, đi với mục đích nghỉ ngơi cuối tuần với khoảng thời gian ngắn từ 1 đến 2 ngày và thường là tự tổ chức. Là nhóm khách có mức chi trả cao và thường lựa chọn các dịch vụ từ 3 sao trở lên. Đây là nhóm khách chủ yếu của các khu du lịch nghỉ dưỡng tại Ba Vì trong những ngày cuối tuần và dịp hè. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Ngoài ra nhóm khách du lịch kết hợp nghỉ dưỡng với các chương trình như: tổ chức hội nghị, hội thảo… chiếm 7,11%. Đây là nhóm khách không những đòi hỏi các dịch vụ nghỉ dưỡng cao cấp mà họ còn sử dụng những dịch vụ về tổ chức sự kiện cần sự chuyên nghiệp và chất lượng dịch vụ tốt. Địa điểm đối tượng khách này thường lựa chọn để tổ chức đó là khu du lịch Ao Vua, Đầm Long và đặc biệt là Ba Vì Resort là điểm đến tuyệt vời cho những chương trình hội thảo kết hợp với lửa trại. Đây là nhóm khách tiềm năng để những khu du lịch nghỉ dưỡng có thể thu hút nhóm khách này trong những mùa thấp điểm của du lịch.
2.3.2.2. Thời gian lưu trú
Biểu đồ 2.2 : Thời gian lưu trú của khách du lịch
Du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì vẫn là một điểm đến được nhiều khách du lịch lựa chọn khi tổ chức chương trình du lịch ngắn ngày. Lượng khách tổ chức đi du lịch trong ngày chiếm 61,33% trong tổng số 225 khách du lịch được hỏi. Một phần nguyên nhân là do điểm đến gần với nơi cư trú của khách. Nhưng nguyên nhân chính, dịch vụ bổ sung, dịch vụ vui chơi giải trí của điểm đến còn hạn chế, vì vậy, không thể giữ chân được du khách trong một thời gian dài. Số lượng khách nghỉ 1 đêm, 2 đêm tại khách sạn lần lượt là 31,11% và 7,56%. Lượng khách lưu đêm chiếm gần đến 1/3 lượng khách du lịch tới Ba Vì. Tuy nhiên, lượng khách lưu lại 2 đêm chỉ chiếm chưa tới 10%. Dịch vụ lưu trú là dịch vụ quan trọng trong du lịch, khách du lịch càng sử dụng nhiều ngày lưu trú thì doanh thu du lịch càng cao và mức độ giữ chân khách hàng càng lớn. Qua số liệu điều tra, có thể thấy rằng huyện Ba Vì là một điểm đến rất hấp dẫn khách du lịch tổ chức đi trong ngày. Dịch vụ chưa đáp ứng cho du khách muốn nghỉ ngơi, thư giãn trong thời gian dài. Lượng khách lưu trú lại từ 1 tới 2 đêm chủ yếu là lượng khách đi du lịch nghỉ dưỡng kết hợp tổ chức sự kiện hoặc khách du lịch đi lịch trình ít nhất từ hai điểm du lịch trở lên.
2.3.2.3. Thời gian tổ chức chuyến đi
Theo số liệu điều tra thực tế, đối với thời gian tổ chức đi du lịch của khách, lượng khách đi du lịch vào dịp cuối tuần là 95 khách trong tổng số 225 khách được hỏi, chiếm 42,22%. Khách tổ chức đi du lịch vào dịp hè là 81 phiếu chiếm 36% trong tổng số 225 khách được hỏi. Khách đi vào dịp nghỉ lễ trong năm là 32 phiếu chiếm 14,22%. Khách tổ chức đi du lịch tùy hứng là 17 khách chiếm 7,56% trong tổng số 225 khách được hỏi. Qua số liệu điều tra thực tế đối, lượng khách đi du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì chủ yếu là vào dịp cuối tuần và dịp nghỉ hè. Đặc biệt là vào dịp cuối tuần là ngày nghỉ ngắn từ 1- 2 ngày.
Bảng 2.8: Bảng thời gian khách tổ chức đi du lịch Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
| Thời gian khách đi | Số lượng khách | Tỷ lệ phần trăm (%) |
| Dịp cuối tuần | 95 | 42,22 |
| Dịp nghỉ hè | 81 | 36 |
| Dịp nghỉ lễ | 32 | 14,22 |
| Bất cứ lúc nào cảm thấy thích | 17 | 7,56 |
Nguồn: Theo số liệu điều tra thực tế
Khoảng cách trên dưới 60 km là phù hợp để du khách có thể tham gia những chương trình du lịch trong ngày nghỉ cuối tuần từ 1 đến 2 ngày. Mùa du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì tập trung vào thời gian từ 30/4 – 2/9 hàng năm. Đây là khoảng thời gian thu hút khách du lịch đến với Ba Vì nhiều nhất trong năm. Đặc biệt vào những ngày nghỉ cuối tuần hay dịp nghỉ lễ trong khoảng thời gian 40/4 – 2/9 luôn thu hút rất đông khách du lịch. Khách du lịch quá đông trong mùa cao điểm này ảnh hưởng nhiều tới sức chứa của điểm đến, an toàn vệ sinh thực phẩm, môi trường và an ninh… Trong mùa du lịch, đặc biệt là vào những ngày cuối tuần, các khu du lịch nghỉ dưỡng luôn luôn quá tải về lượng khách, dẫn tới tình trạng dịch vụ không đảm bảo cho khách du lịch. Đặc biệt là công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn bể bơi.
2.3.2.4.Hình thức tổ chức chuyến đi
Bảng 2.9: Bảng hình thức tổ chức chuyến đi của khách
| Hình thức tổ chức | Số lượng khách | Tỷ lệ phần trăm |
| Theo tour du lịch | 33 | 14,67 |
| Tự tổ chức | 186 | 82,67 |
| Hình thức khác | 6 | 2,66 |
Nguồn: Theo số liệu điều tra thực tế
Theo số liệu điều tra thực tế về hình thức tổ chức tour du lịch của du khách khi đi du lịch nghỉ dưỡng tại Ba Vì. Lượng khách tổ chức theo tour du lịch thông qua các công ty lữ hành tổ chức là 33 phiếu, chiếm 14,67% trong tổng số 225 khách du lịch được hỏi. Lượng khách tự tổ chức là 186 phiếu chiếm 82,67%. Khách đi du lịch theo các hình thức khác như: khách mời hội nghị, hội thảo kết hợp với du lịch nghỉ dưỡng, khách mời từ các đối tác… chiếm tỷ lệ rất nhỏ là 2,66%. Lượng khách tự tổ chức chiếm hơn 4/5 lượng khách du lịch. Nguyên nhân, do điểm du lịch gần, khoảng cách đi lại không quá xa, các gia đình hoặc nhóm khách là bạn bè (nhóm khách ít người) cũng có thể dễ dàng tổ chức mà không cần thông qua công ty du lịch. Các nhóm khách này hầu như muốn tự chủ động lên chương trình và đi theo những chương trình ngẫu hứng và không muốn bị gò bó vào chương trình như khi tổ chức đi theo tour du lịch. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Biểu đồ 2.3. Biểu đồ hình thức tổ chức chuyến đi của khách
Bảng 2.10: Nhóm tổ chức tour du lịch của khách
| Nhóm khách | Số lượng khách | Tỷ lệ phần trăm |
| Đi cùng gia đình | 89 | 39,56 |
| Đi cùng bạn bè | 112 | 49,78 |
| Đi cùng cơ quan | 24 | 10,66 |
Nguồn: Theo số liệu điều tra thực tế
Theo bảng số liệu điều tra thực tế, nhóm khách du lịch tổ chức tour du lịch là gia đình nhỏ gồm 3 đến 6 thành viên và thường đi các phương tiện xe ô tô từ 4 đến 7 chỗ. Lượng khách này chiếm 39,56% trong tổng số 225 khách du lịch được hỏi. Nhóm khách này thường tổ chức cho con cái đi nghỉ dưỡng, dã ngoại và vui chơi giải trí trong dịp nghỉ cuối tuần và nghỉ hè. Nhóm khách tổ chức đi du lịch cùng bạn bè là 49,78%, chủ yếu là nhóm học sinh, sinh viên, giáo viên…Nhóm khách này thường từ 10 đến 60 khách. Họ thường tổ chức vào các dịp cuối tuần, dịp nghỉ hè, dịp kỷ niệm ngày ra trường… Nhóm du khách tổ chức đi du lịch cùng cơ quan chiếm 10,66%. Lượng khách này tỷ lệ thấp hơn cả so với hai nhóm du khách trên. Họ tổ chức đi du lịch vào các ngày lễ kỷ niệm sinh nhật của công ty, dịp hội thảo, giới thiệu sản phẩm của công ty… Nhóm khách này đi du lịch chủ yếu với mục đích công vụ kết hợp với nghỉ dưỡng.
Có thể thấy rằng đối tượng khách đến các khu du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì là những đối tượng khách thường tự tổ chức theo nhóm nhỏ, chủ yếu đi cùng gia đình, bạn bè. Nhóm khách du lịch này đã mang lại nguồn thu chủ yếu cho du lịch Ba Vì trong những năm qua.
2.3.2.5. Nguồn thông tin về du lịch Ba Vì Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Bảng 2.11: Bảng thống kê sự khó khăn khi tiếp cận thông tin du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì
| Khó khăn | Không | Có | |||
| Lượng khách | 139 | 86 | |||
| Tỷ lệ % | 61,78 | 38,22 | |||
| Nguyên nhân | Wedsite của điểm đến thiếu thông tin | Không có chương trình giới thiệu điểm đến | Khó tìm kiếm thông tin | Lý do khác | |
| Số lượng | 26 | 33 | 12 | 15 | |
Nguồn: Số liệu điều tra thực tế
Theo nghiên cứu thực tế, 82,67% khách đi du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì với hình thức tự tổ chức ngoài nguyên nhân do quãng đường di chuyển ngắn, khách du lịch không muốn gò bó vào chương trình tour du lịch của các công ty lữ hành, thì nguyên nhân quan trọng nhất đó là du khách dễ tìm kiếm thông tin du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì. Du khách có thể đặt các dịch vụ thông qua số điện thoại của giám đốc hoặc quản lý trên các trang wed trực tuyến của khu du lịch. Sự tiện lợi và dễ dàng về thông tin làm du khách không phụ thuộc vào công ty lữ hành. Có 139 khách du lịch cảm thấy dễ tìm kiếm thông tin về du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì, chiếm 61,78% lượng khách được phỏng vấn. Thông tin khách du lịch đưa ra về lý do “dễ tìm kiếm thông tin” chủ yếu là được bạn bè, người thân đã đi và giới thiệu lại. Chính thông tin này là yếu tố tác động đến việc lựa chọn chương trình tour của khách bởi cái nhìn thực tế và kinh nghiệm du lịch của người thân. Trong khi đó có 86 khách du lịch cho rằng khó tìm kiếm thông tin về du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì, tương đương với 38,22% khách du lịch được hỏi. Trong đó 26 khách du lịch cho rằng các Website của khu du lịch nghỉ dưỡng thường rất thiếu thông tin, thông tin cũ và không được cập nhật kịp thời. Hình ảnh trên trang website không giống với thực tế. Họ không thể cảm nhận sức hút từ điểm đến khi xem hình ảnh trên website, hình ảnh họ được trải nghiệm đẹp hơn hình ảnh trên website rất nhiều. Có 33 khách, họ ít hoặc không tiếp xức với internet, cho rằng không có chương trình giới thiệu điểm đến qua truyền hình, phát thanh, sự kiện. Và 27 khách nói rằng họ quá bận bịu về công việc… nên không có thời gian tìm hiểu thông tin về điểm đến… Đây là điểm tồn tại của việc xúc tiến,quảng bá và giới thiệu sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng huyện Ba Vì tới khách du lịch. Bởi lẽ, huyện Ba Vì chưa tìm được đối tác tài trợ quảng cáo truyền hình, phát thanh và một phần là do thiếu kinh phí của doanh nghiệp du lịch.
2.3.3. Thực trạng kinh doanh các dịch vụ du lịch
2.3.3.1. Dịch vụ cơ sở lưu trú
Bảng 2.12 : Số phòng nghỉ tại các khu du lịch thống kê 2021 – 2023.
| Cơ sở lưu trú | 2021 | 2022 | 2023 |
| Ao vua | 50 | 50 | 50 |
| Đầm Long | 56 | 56 | 56 |
| Khoang Xanh | 156 | 156 | 156 |
| Thiên Sơn – Suối Ngà | 45 | 30 | 30 |
| Hồ Tiên Sa | 30 | 30 | 30 |
| Tản Đà Resort | 50 | 59 | 59 |
| Ba Vì Resort | 36 | 36 | 36 |
| Family Resort | 41 | 52 | 65 |
Nguồn: số liệu phòng Văn hóa – Thông tin huyện Ba Vì Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Theo tiêu chuẩn xếp hạng dịch vụ, các khu nghỉ dưỡng Tản Đà Resort, Ba Vì Resort, Family Resort, Yên Bài Top Hill Resort là những cơ sở lưu trú đạt mức dịch vụ 3 sao trở lên. Đây là những khu nghỉ dưỡng mới xây dựng nên điều kiện cơ sở vật chất rất tiện nghi. Tại các điểm du lịch này có nhiều loại phòng như: nhà việt cổ, nhà lạc việt, nhà sàn, nhà biệt thự…. Trong phòng được trang bị internet, đặc biệt khu nghỉ dưỡng Tản Đà Resort mỗi phòng đều có cổng phát Wifi để phục vụ nhu cầu thông tin cho khách du lịch. Tại các khu nghỉ dưỡng Ba Vì Resort, Family Resort khách du lịch có thể truy cập Wifi tổng của khu nghỉ dưỡng. Trong mỗi phòng đều có điều hòa hai chiều công suất 9000BTU tới 16000BTU tùy vào loại phòng rộng hẹp, trang bị ti vi 42 inch. Riêng khu nghỉ dưỡng Yên Bài Top Hill Resort là khu nghỉ dưỡng mới, vừa hoạt động từ tháng 3 – 2024, hiện tại ở đây mới hoàn thành xong 2 ngôi nhà biệt thự với tổng 4 phòng phục vụ khách du lịch. Chất lượng phòng đạt tiêu chuẩn 3 sao, mỗi khu nhà biệt thự đều có bể bơi mini riêng. Hệ thống internet mới được lắp đặt và khách du lịch sử dựng Wifi tổng. Khu nghỉ dưỡng Yên Bài Top Hill Resort vẫn đang trong quá trình xây dựng, vì vậy, số lượng phòng lưu trú còn rất thiếu so với nhu cầu của khách du lịch.
Khu du lịch Ao Vua, Khoang Xanh – Suối Tiên, Đầm Long là các phòng nghỉ khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao. Khu du lịch Thiên Sơn – Suối Ngà, Hồ Tiên Sa phòng nghỉ được thiết kế bằng khu nhà sàn chuyên biệt, có nhà sàn tập thể dành cho đoàn khách từ 10 – 30 người, phòng dành cho gia đình nhỏ và phòng riêng dành cho 2 người. Tất cả các khu nhà sàn được làm bằng gỗ và hướng ra hồ nước tạo sự mát mẻ cho phòng nghỉ. Tất cả phòng nghỉ ở đây đạt tiêu chuẩn 2 sao cho tới phòng Vip. Tại khu du lịch Hồ Tiên Sa có thêm khách sạn Viên Sơn, được thiết kế 3 tầng nhìn ra hồ, ở vị trí cao, thoáng mát được du khách rất thích thú.
Bảng 2.13: Mức độ hài lòng về tiện nghi các cơ sở lưu trú.
| Mức độ hài lòng | Số lượng khách lựa chọn | Tỷ lệ phần trăm |
| Không hài lòng | 19 | 8,4 |
| Ít hài lòng | 17 | 7,6 |
| Bình thường | 85 | 37,8 |
| Tốt | 94 | 41,8 |
| Rất tốt | 10 | 4,4 |
Nguồn: Theo số liệu điều tra thực tế
Nhìn chung du khách khá hài lòng về dịch vụ lưu trú tại các khu du lịch nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí của huyện Ba Vì. Có 104 khách du lịch cảm thấy dịch vụ lưu trú đạt mức độ tốt trở lên, tương đương với 46,2% khách du lịch được hỏi. Trong khi đó lượng khách ít và không hài lòng là 36 phiếu tương đương với 16% và có 37,8% khách du lịch cảm thấy bình thường khi sử dụng cơ sở lưu trú tại các điểm đến này. Đa số khách du lịch yêu thích không gian thoáng mát, yên tĩnh và gần gũi với thiên nhiên, kết hợp với kiến trúc dân gian cổ kính của người Việt và trang thiết bị tiện nghi của các khu nghỉ dưỡng. Đây là điểm nhấn thu hút khách du lịch quay trở lại trong những kỳ nghỉ dưỡng sau. Có 132 khách du lịch trong tổng số 225 khách du lịch được hỏi đã trả lời rằng “Lần tới, sẽ đưa gia đình trở lại Ba Vì để nghỉ dưỡng”. Lượng khách sẽ trở lại vào chương trình nghỉ dưỡng tới chiếm 58,7% tổng số khách được hỏi. Có 79 khách du lịch có thể quay trở lại Ba Vì nghỉ dưỡng trong những kỳ nghỉ sau, lượng khách này chiếm 35,1% trong tổng số khách được hỏi. Chỉ có 14 khách du lịch tương đương 6,2% tổng khách du lịch được hỏi lần tới có thể họ không trở lại Ba Vì trong chương trình nghỉ dưỡng. Với các lý do: đây là địa điểm khách đi quá nhiều hay địa điểm du lịch không có gì mới đối với họ. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Khi được hỏi về việc “Du khách sẽ giới thiệu khu du lịch này cho người thân, bạn bè ?”. Có 86 khách du lịch sẽ giới thiệu điểm đến này cho bạn bè và người thân, tương đương với 38,2% khách du lịch được hỏi, 121 khách du lịch tương đương với 53,8% khách du lịch được hỏi, họ có thể giới thiệu cho bạn bè và người thân. Trong đó có 18 khách du lịch họ có thể không giới thiệu khu du lịch nghỉ dưỡng này cho bạn bè và người thân, lượng khách này chiếm 8% trong tổng số khách du lịch được hỏi.
2.3.3.2. Dịch vụ ăn uống và vui chơi giải trí
a/ Dịch vụ ăn uống
Qua số liệu khảo sát của PVH&TT huyện Ba Vì, trên địa bàn huyện Ba Vì có 120 nhà hàng phục vụ ăn uống và được chia thành 3 loại.
Nhà hàng bình dân: Đây là các quán ăn nhỏ nằm dọc trục đường quốc lộ, tỉnh lộ và các trục đường vào các khu du lịch. Các quán ăn này thường phục vụ khách vãng lai, khách đi phượt và các nhóm khách nhỏ có khẳ năng chi trả thấp. Người chế biến món ăn và nhân viên phục vụ là người nhà và chủ quán ăn. Vì vậy chất lượng món ăn và sự đảm bảo về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm thường không đạt tiêu chuẩn theo quy định. Tuy nhiên các quán ăn này vẫn thu hút được lượng khách nhất định vì giá cả ở đây thường rẻ hơn các nhà hàng trong khu du lịch.
Nhà hàng phục vụ khách du lịch nằm ngoài khu lịch: Đây là các nhà hàng nằm gần các khu du lịch. Các nhà hàng này thường phục vụ khách trong nước, nước ngoài và cả người dân địa phương. Khách đến đây thường đi theo đoàn nhỏ. Cơ sở vật chất ở các nhà hàng này thường khang trang sạch đẹp: có không gian rộng rãi, cảnh đẹp, trang trí nội ngoại thất đẹp, có bãi trông giữ xe cho khách. Đội ngũ nhân viên tuy không được đào tạo qua các trường lớp nhưng có kinh nghiệm làm việc, đầu bếp được đào tạo nấu các món ăn dân tộc mang tính chất đồng quê.
Nhà hàng chuyên phục vụ khách du lịch nằm trong các khu du lịch: Tính đến 12/2023 Ba Vì có 18 nhà hàng nằm trong các đơn vị kinh doanh du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí. Các nhà hàng này phục vụ các món ăn dân tộc, đặc sản đồng quê. Vì nằm trong các khu du lịch nên cở sở vật chất của các nhà hàng này khang trang, sạch đẹp: có không gian rộng , xanh ,sạch, đẹp, có trang trí nội thất. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Đây là các nhà hàng chuyên phục vụ khách du lịch nên thực đơn các món ăn khác phong phú cho du khách lựa chọn và giá cả được niêm yết sẵn. Chất lượng các món ăn được đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Đội ngũ nhân viên phục vụ khá đông nhưng chưa chuyên nghiệp (do đa số làm việc mùa vụ). Đầu bếp có kinh nghiệm được đào tạo nấu các món ăn dân tộc mang tính chất vùng miền.
Tuy nhiên lượng khách du lịch tới huyện Ba Vì tham quan, nghỉ dưỡng và vui chơi thường tăng đột biến vào các ngày nghỉ lễ kéo dài. Do đó, dẫn đến tình trạng các nhà hàng không thể đáp ứng được nhu cầu ăn uống của khách du lịch. Hơn nữa, một thực trạng đầu tư xây dựng nhà hàng trong thời gian qua chủ yếu là tự phát, thiếu quy hoạch cụ thể, phần lớn các đơn vị tự thiết kế và không có tư vấn chuyên gia kinh tế du lịch dẫn tới chất lượng còn thấp. Hệ thống nhà hàng tuy nhiều nhưng chỉ có 5 nhà hàng có quy mô lớn tại các khu du lịch như: Tản Đà Resort, Khoang Xanh, Ao Vua, Đầm Long, Family Resort, ngoài các khu Resort các khu du lịch khác chất lượng phục vụ còn chưa cao nên chưa thể đáp ứng nhu cầu của khách, đặc biệt là khách có khả năng chi trả cao.
Bảng 2.14. Mức độ hài lòng về dịch vụ ăn uống
| Mức độ hài lòng | Ẩm thực | Tỷ lệ phần trăm | Chất lượng các dịch vụ ăn uống | Tỷ lệ phần trăm |
| Không hài lòng | 4 | 1,8 | 12 | 5,3 |
| Ít hài lòng | 23 | 10,2 | 28 | 12,4 |
| Bình thường | 113 | 50,2 | 86 | 38,2 |
| Tốt | 54 | 24 | 76 | 33,8 |
| Rất tốt | 31 | 13,8 | 23 | 10,3 |
Nguồn: Theo số liệu điều tra thực tế
Theo điều tra, có 4 khách du lịch trong tổng 225 khách được hỏi không hài lòng về ẩm thực tại điểm đến, tỷ lệ này chiếm 1,8%. Nguyên nhân, khách cho rằng các món ăn tại khu du lịch không có sự mới lạ, hấp dẫn, với món ăn bình thường của gia đình, 10,2% khách du lịch ít hài lòng về các món ăn tại điểm đến. Trong đó 50,2 % khách du lịch chấp nhận với các món ăn, 24% khách du lịch cảm thấy món ăn ở đây tốt, 13,8% khách yêu thích món ăn, với các lý do, tại đây có nguồn thức ăn sạch, không có hóa chất độc hại, không chất bảo quản, thức ăn được chế biến từ những thực phẩm tươi, xanh. Bên cạnh đó khách du lịch khá hài lòng với chất lượng dịch vụ ăn uống tại khu nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí của huyện Ba Vì. Chỉ có 17,7% khách du lịch không hài lòng và ít hài lòng với chất lượng dịch vụ ăn uống tại đây. Nguyên nhân tồn tại tình trạng này là do, nhân viên phục vụ chưa chuyên nghiệp, kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế, đó cũng là điểm yếu của các khu du lịch tại huyện Ba Vì vào mùa cao điểm khi phải tuyển thêm nhân viên partime, độ tuổi thấp, chưa có nghiệp vụ nghề và không được đào tạo bài bản. Khách du lịch có thái độ hài lòng với chất lượng dịch vụ là 38,2%. Lượng khách du lịch cảm nhận chất lượng dịch vụ ăn uống đạt mức tốt và rất tốt lần lượt ở đây là 33,8% và 10,3% . Khách du lịch cảm thấy hài lòng với thái độ thân thiện phục vụ của nhân viên, có không gian thoáng mát, tiện nghi, thỏa mái, thực phẩm sạch, an toàn hợp vệ sinh và phù hợp với khẩu vị khách du lịch.
b/ Dịch vụ vui chơi giải trí Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Hiện nay, tất cả các khu du lịch nghỉ dưỡng Tản Đà Resort, Family Resort, Ba Vì Resort và các khu du lịch Ao Vua, Khoang Xanh, Đầm Long, Thiên Sơn Suối Ngà, Hồ Tiên Sa đều có bể bơi. Mỗi khu du lịch này có ít nhất hai bể bơi, một bể bơi có độ sâu từ 1m đến 2,5m và có sức chứa trên 200 du khách, đây là bể bơi dành cho người lớn. Một bể bơi có sức chứa nhỏ hơn với độ sâu từ 70cm đến 100cm, là bể bơi dành cho trẻ em.
Ngoài ra các khu du lịch đều có những dịch vụ vui chơi giải trí phục vụ khách du lịch. Khu du lịch Ao Vua và Đầm Long là hai khu du lịch có dịch vụ vui chơi giải trí có thể nói tốt và hiện đại nhất huyện Ba Vì hiện nay. Hệ thống vui chơi giải trí được hai khu du lịch này mới nâng cấp từ năm 2021 – 2022. Do vậy hệ thống các dịch vụ vui chơi giải trí vẫn còn tương đối mới và hoạt động khá hiệu quả. Các trò chơi như: Tàu siêu tốc, vòng xoay vũ trụ, xe đụng, đạp vịt, crazy wave… Ngoài ra du khách còn được thăm quan khu rừng Bằng Tạ tại khu du lịch Đầm Long, đây là một thế giới thiên nhiên thu nhỏ, tại đây du khách có thể được chiêm ngưỡng những chú khỉ, hươu và nai được thả trong thế giới tự nhiên.
Tại khu du lịch Khoang Xanh, ngoài tắm bể bơi với hồ tạo sóng nhân tạo duy nhất tại Ba Vì có sức chứa hơn 1000 khách du lịch, du khách còn được thăm quan vườn thú tại thung lũng khủng long, thăm quan rừng trúc, đồi thông, khu nhà ma (âm cung huyền bí), khu thể thao (nhà đa năng)…
Khu du lịch Thiên Sơn – Suối Ngà, Hồ Tiên Sa, tại hai khu du lịch này dịch vụ giải trí vẫn còn khá đơn điệu và chưa được đầu tư. Tới đây du khách chủ yếu tham ra các chương trình dã ngoại, tham quan rừng, tắm hồ bơi, đạp vịt vào ban ngày, buổi tối đốt lửa trại. Tại khu du lịch Hồ Tiên Sa, hiện nay các dịch vụ vui chơi giải trí đang bị xuống cấp và đang trong quá trình cải tạo nâng cấp và làm mới dịch vụ.
Tại các khu nghỉ dưỡng như Tản Đà Resort, Family Resort. Khu nghỉ dưỡng này có sân teniss phục vụ khách du lịch ở đẳng cấp cao hơn, chèo thuyền Kayak tại Tản Đà Resort. Tại khu du lịch này còn có các dịch vụ cho thuê xe đạp đôi, phòng Karaoke, cắm trại và tổ chức các party. Đây cũng là điểm mạnh của các khu nghỉ dưỡng này.
Bảng 2.15: Đánh giá chất lượng dịch vụ vui chơi giải trí của khách du lịch
| Đánh giá hoạt động vui chơi giải trí | Số lượng đánh giá | Tỷ lệ phần trăm |
| Không hài lòng | 23 | 10,2 |
| Ít hài lòng | 40 | 17,8 |
| Bình thường | 92 | 40,9 |
| Tốt | 50 | 22,2 |
| Rất tốt | 20 | 8,9 |
Nguồn: Theo số liệu điều tra thực tế Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Theo điều tra, khách du lịch ít và không hài lòng với dịch vụ vui chơi giải trí là 63 phiếu trong tổng số 225 khách được hỏi chiếm 28%, tương đương gần 1/3 khách du lịch. Khách du lịch không hài lòng với dịch vụ vui chơi giải trí chủ yếu tập chung tại các điểm du lịch Thiên Sơn – Suối Ngà, Hồ Tiên Sa, do hai khu du lịch này có địa hình dốc, hẹp, thiếu vốn đầu tư, vì vậy dịch vụ vui chơi giải trí đơn điệu và chưa phát triển. Có 70 du khách cảm thấy dịch vụ vui chơi giải trí đạt mức tốt trở lên tương đương với 31,1%. Lượng khách đánh giá dịch vụ vui chơi giải trí đạt mức độ tốt trở lên chủ yếu là khách tập trung tại khu nghỉ dưỡng Tản Đà Resort, Khoang Xanh, Ao Vua. Trong đó có 92 phiếu lựa chọn dịch vụ vui chơi giải trí đạt mức độ bình thường, tương đương với 40,9% khách được hỏi. Khách du lịch cho rằng họ không thấy sự mới mẻ trong các dịch vụ vui chơi giải trí tại các khu du lịch. Với mức độ đánh giá sự hài lòng của du khách về dịch vụ vui chơi giải trí, một số khu du lịch huyện Ba Vì đang đặt trong cấp độ báo động. Vì vậy, các khu du lịch cần nhìn nhận lại về dịch vụ vui chơi giải trí của mình, qua đó đưa ra chính sách huy động, thu hút vốn nhằm nâng cấp và xây dựng mới dịch vụ vui chơi giải trí.
2.3.3.3. Dịch vụ bổ sung
Dịch vụ bổ sung tại các khu du lịch du lịch được du khách đánh giá cao nhất vẫn là dịch vụ tắm nước khoáng nóng và bùn khoáng. Tại các khu du lịch như Khoang Xanh – Suối Tiên, Tản Đà Resort là khu có dịch vụ tắm khoáng tốt nhất. Theo nghiên cứu thực địa tại điểm du lịch Khoang Xanh, hiện tại ở đây có một trung tâm tắm khoáng có tên gọi là “Spa bùn khoáng và nước suối khoáng”. Đây là khu du lịch có thể khai thác cả hai sản phẩm bùn khoáng và nước khoáng trên cùng một khu vực. Tại trung tâm này du khách được nhân viên trung tâm hướng dẫn tắm đúng quy trình của một liệu pháp tắm khoáng chữa bệnh. Liệu pháp bao gồm: tắm tráng – xông hơi – tắm bể bơi nước khoáng nóng – tắm thác nước suối nóng – ngâm nước khoáng nóng – ngâm bùn, tắm khoáng tập thể – ôn tuyền thủy liệu pháp – tắm phun mưa. Ngoài ra ở đây còn có các dịch vụ massage body, massage foot, ngâm thuốc bắc… Tại khu nghỉ dưỡng Tản Đà Resort có hai bể bơi, một bể bơi khoáng lạnh ngoài trời, một bể bơi nước khoáng nóng trong nhà và có mái che. Tại đây cũng có các liệu pháp tương tự như ở khu du lịch khoang Xanh có xông hơi, xục và tắm bùn. Riêng bùn sử dụng ở đây là loại bùn khô đặc biệt được nhập từ Phan Thiết. Trong khu nghỉ dưỡng còn có trung tâm Spa với tổng số 12 phòng, mỗi phòng 2 giường. Tại trung tâm có các dịch vụ như massage, ngâm thuốc bắc, vật lý trị liệu. Đây là trung tâm Spa có chất lượng dịch vụ tốt nhất tại khu nghỉ dưỡng huyện Ba Vì.
Tại các khu du lịch Đầm Long, Thiên Sơn Suối Ngà, Ao Vua, Hồ Tiên Sa… đều có các dịch vụ bổ sung như xông hơi, massage, bấm huyệt, ngâm thuốc bắc…Hiện tại khu du lịch Hồ Tiên Sa đang trong quá trình quy hoạch lại, công trình còn dang dở cho nên các dịch vụ giải trí và dịch vụ bổ sung gần như dừng lại hoàn toàn. Tại các khu du lịch, nhân viên được đào tạo bài bản và có kỹ năng nghiệp vụ tốt. Do nhu cầu của du khách về dịch vụ bổ sung chưa cao vì vậy trong những năm qua các trung tâm này hoạt động chưa hiệu quả. Do vậy mà chất lượng dịch vụ tại đây không được đảm bảo nên đã xảy ra tình trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ dịch vụ bổ sung bị xuống cấp như tại khu du lịch Hổ Tiên Sa. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Bảng 2.17: Mức độ hài lòng của du khách về dịch vụ bổ sung ( Masage/Spa…)
| Mức độ hài lòng | Số lượng khách lựa chọn | Tỷ lệ phần trăm |
| Không hài lòng | 21 | 9,4 |
| Ít hài lòng | 28 | 12,4 |
| Bình thường | 83 | 36,9 |
| Tốt | 66 | 29,3 |
| Rất tốt | 27 | 12 |
Nguồn: Theo số liệu điều tra thực tế
Theo điều tra thực tế, có 41,3% tương đương với 93 khách du lịch đã cảm thấy dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch đạt tốt trở lên. Dịch vụ bổ sung phù hợp với khách du lịch, mang tính thư giãn và phục hồi sức khỏe cho khách du lịch. Có 92% khách du lịch được hỏi thêm đều rất thích thú với dịch vụ tắm khoáng tại khu du lịch Khoang Xanh và Tản Đà Resort. Khách du lịch cũng rất thoải mái và thích thú khi sử dụng dịch vụ ngâm thuốc bắc tại khu du lịch Khoang Xanh và Đầm Long. Điểm hạn chế của dịch vụ ngâm thuốc bắc là không có tác dụng điều trị bệnh lý và đều làm theo quy trình giống nhau. Có 21,8% khách du lịch ít và không hài lòng về dịch vụ bổ sung tại các khu du lịch, nguyên nhân chủ yếu về vấn đề sức chứa và vệ sinh nguồn nước khoáng trong mùa cao điểm. Hơn nữa vào mùa cao điểm lượng khách du lịch đến đông dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường, vấn đề rác thải, an toàn cho du khách là vấn đề quan trọng và cần được giải quyết sớm nhằm hướng tới dịch vụ tốt nhất cho du khách.
Bảng 2.18: Mức hài lòng của du khách về dịch vụ mua sắm
| Mức độ hài lòng | Số lượng khách lựa chọn | Tỷ lệ phần trăm |
| Không hài lòng | 88 | 39,1 |
| Ít hài lòng | 61 | 27,1 |
| Bình thường | 57 | 25,3 |
| Tốt | 10 | 4,4 |
| Rất tốt | 9 | 4,1 |
Nguồn: Theo số liệu điều tra thực tế Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Dịch vụ mua sắm tại các khu du lịch huyện Ba Vì là tương đối an toàn, không có hiện tượng chèo kéo, không chặt chém du khách. Tất cả các quầy hàng bày bán trong khu du lịch đều là các quầy hàng của người dân trong vùng, quầy hàng được bày bán đúng nơi quy định theo quy hoạch của khu du lịch. Khi được hỏi về vấn đề đào tạo cách bán hàng cho khách du lịch, Cô Phương chủ quầy nước tại khu du lịch Đầm Long cho biết. “ Các quầy bán hàng ở đây mỗi năm được phổ biến quy chế và cam kết bán hàng theo quy định của khu du lịch vào dịp đầu mùa du lịch. Tất cả chủ quầy phải cam kết thực hiện các quy định của khu du lịch đưa ra. Bị xử phạt nếu sai phạm các quy định của khu du lịch”. Riêng vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm tại các quầy hàng ăn nhỏ tại các khu du lịch chưa được kiểm soát và quản lý. Dịch vụ mua sắm tại các khu du lịch và khu nghỉ dưỡng vẫn còn rất hạn chế chủ yếu là các quầy hàng lưu niệm nhỏ do người dân trong vùng tự làm và mang ra bầy bán và một số loại trái cây trong vùng.
Theo điều tra khách du lịch, có 66,2% khách du lịch ít hoặc không hài lòng với dịch vụ mua sắm. Du khách được hỏi thêm: “vì sao không hài lòng” đa số ý kiến của khách cho rằng “mang tiền đi và không có gì để mua”. 25,3% khách du lịch có thái độ bình thường về việc mua sắm tại đây, họ cho rằng “ mục đích đi du lịch là nghỉ ngơi, vấn đề mua sắm không quan trọng”. Có 8,5% khách du lịch cảm thấy hài lòng và thoải mái với thái độ của những người bán hàng. Và cảm thấy thoải mái khi không bị khách hàng chèo kéo như các điểm du lịch khác.
Dịch vụ mua sắm trong du lịch là một hoạt động không thể thiếu trong du lịch, hoạt động này nhằm thu hút khách và tăng doanh thu cho điểm đến. Hiện nay, hoạt động mua sắm tại các khu du lịch nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí huyện Ba Vì làm cho du khách nhàm chán, không kích thích sức tiêu tiền của khách du lịch trong chuyến đi.
2.3.4. Đội ngũ nhân viên du lịch
Bảng 2.19. Bảng số liệu lao động ngành du lịch tại Ba Vì.
| Năm | Ao Vua | Đầm Long | Khoang Xanh | Thiên Sơn Suối Ngà | Hồ Tiên Sa | Tản Đà Resort | Family Resort | Ba Vì Resort | Vườn cò | Tổng |
| 2021 | 80 | 50 | 150 | 72 | 30 | 121 | 116 | 98 | 10 | 727 |
| 2022 | 82 | 50 | 150 | 85 | 30 | 150 | 97 | 132 | 10 | 786 |
| 2023 | 95 | 105 | 155 | 80 | 38 | 152 | 112 | 144 | 14 | 895 |
Nguồn: Số liệu phòng Văn hóa – Thông tin huyện Ba Vì Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Theo số liệu thống kê của phòng Văn hóa – Thông tin huyện Ba Vì về lao động công tác trong ngành du lịch tại một số khu du lịch, năm 2021 tổng số lao động làm trong các khu du lịch huyện Ba Vì là 727 người. Năm 2022 số lượng lao động tăng 108,11% so với năm 2021 với 786 người. Năm 2023 tăng 113,87% so với năm 2022. Thu nhập của lao động tại các điểm du lịch này giao động từ 2,2 triệu đồng – 3 triệu đồng năm 2021. Năm 2022 thu nhập lao động giao động từ 2,5 triệu đồng – 3,5 triệu đồng. Năm 2023 thu nhập cao nhất của lao động là 3,8 triệu đồng. Trình độ học vấn của lao động được Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Ba Vì thống kê mới nhất trong năm 2023: Trình độ lao động trung học và trung học phổ thông 37,6%. Trình độ lao động trung cấp chuyên ngành du lịch & khách sạn 48%. Trình độ lao động tốt nghiệp cao đẳng và đại học chuyên ngành du lịch là 12,4%. Trình độ thạc sĩ là 2%. Lao động tốt nghiệp trung học và trung học phổ thông công việc chủ yếu là phục vụ nhà hàng, tạp vụ, kiểm soát vé, bảo vệ… tại khu du lịch. Lao động này được sử dụng nhiều tại các khu du lịch như: Thiên Sơn – Suối Ngà, Hồ Tiên Sa, Vườn Cò, Khoang Xanh. Lượng lao động này thường được tuyển thêm trong mùa cao điểm và 2/3 số lao động này không thuộc biên chế của khu du lịch. Vì vậy, họ không có trình độ và kỹ năng phục vụ du lịch, không được đào tạo bài bản. Họ chỉ được đào tạo và chỉ dẫn trong quá trình làm việc và được đào tạo bởi nhân viên vào trước họ, cho nên chất lượng lao động này thường thấp và còn nhiều hạn chế. Đối với lao động tốt nghiệp trung cấp chuyên ngành du lịch khách sạn, họ là những nhân viên thuộc biên chế của điểm du lịch. Họ được lựa chọn và đào tạo với nghiệp vụ như: Lễ tân phòng tắm khoáng, lễ tân Spa, buồng phòng, bếp, thu ngân…Số lao động này tương đối ổn định, ít có sự biến động, họ có kỹ năng giao tiếp và nghiệp vụ khá tốt. Nhưng 84% số lao động này họ không có trình độ ngoại ngữ, chỉ có 16% số lao động này có trình độ ngoại ngữ và tập chung chủ yếu tại các khu nghỉ dưỡng như Tản Đà Resort, Family Resort, Ba Vì Resort. Lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học chủ yếu là lao động công tác trong nghiệp vụ lễ tân khách sạn, quản lý tổ, nhóm…Đây là lực lượng lao động lòng cốt kết hợp với nhà quản lý thực hiện các chương trình đào tạo cho nhân viên. Các chương trình đào tạo tại các khu du lịch chủ yếu là kinh nghiệm của những người đi trước và được chỉ dẫn lại cho những người mới. Một số cán bộ chủ chốt của khu du lịch được doanh nghiệp du lịch kết hợp cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội mở lớp đào tạo nâng cao trình độ hoặc được cọ sát thực tế tại các khu nghỉ dưỡng cao cấp tại Nha Trang, Đà Nẵng…
Bảng 2.20 : Mức độ hài lòng của du khách về thái độ của nhân viên
| Thái độ của du khách | Số lượng phiếu | Tỷ lệ phần trăm |
| Không hài lòng | 25 | 11,1 |
| Ít hài lòng | 14 | 6,2 |
| Bình thường | 85 | 37,7 |
| Tốt | 78 | 34,7 |
| Rất tốt | 23 | 10,3 |
Nguồn: Số liệu điều tra thực tế Có 45% khách du lịch đánh giá thái độ của nhân viên phục vụ đạt tốt trở lên, 17,3% khách du lịch ít hài lòng và không hài lòng với thái độ phục vụ của nhân viên, 37,7% khách du lịch cảm thấy bình thường. Có thể thấy rằng 82,7% khách du lịch cảm thấy chấp nhận được với thái độ phục vụ của nhân viên phục vụ, là ưu thế của khu du lịch tại huyện Ba Vì. Trong số 17,3% khách du lịch chưa hài lòng với thái độ phục vụ của nhân viên, chủ yếu là do thái độ phục vụ của lao động được tuyển dụng bổ sung trong mùa cao điểm, họ chưa được đào tạo bài bản, chưa có nghiệp vụ và kỹ năng phục vụ du lịch. Đây là mặt hạn chế của các điểm du lịch tại Ba Vì do tính mùa vụ quy định.
2.3.5. Quảng bá và xúc tiến du lịch Ba Vì Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Xúc tiến quảng bá sản phẩm du lịch là hoạt động rất quan trọng để khách du lịch có thể tiếp cận sản phẩm du lịch và mừng tượng, hình dung về sự hấp dẫn của sản phẩm du lịch một cách tốt nhất trước khi lựa chọn và tổ chức chuyến đi. Từ những thông tin đó khách hàng có thể lựa chọn cho mình những chuyến đi phù hợp và có sự chuẩn bị trước về điểm đến. Chính vì vậy việc tiếp thị quảng bá điểm đến trong du lịch được những nhà quản lý đặc biệt quan tâm và chú trọng, họ luôn dành khoản kinh phí lớn cho hoạt động này.
Công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch được duy trì thường xuyên, có nhiều đổi mới cả về hình thức và nội dung như đăng tải hình ảnh du lịch Ba Vì trên Website của Tổng cục Du lịch Việt Nam, tổ chức truyền hình trực tiếp chương trình khai trương Du lịch hàng năm từ đó đã thu hút được nhiều du khách đến với Ba Vì.
Bảng 2.21. Bảng số liệu khách du lịch tiếp cận điểm đến
| Hình thức tiếp cận thông tin | Số lượng phiếu lựa chọn | Tỷ lệ phần trăm |
| Phim, phát thanh, truyền hình | 8 | 3.56 |
| Quảng cáo | 5 | 2.22 |
| Gia đình, bạn bè | 127 | 56.44 |
| Sách báo, tạp chí | 9 | 4.00 |
| Thông qua công ty lữ hành | 36 | 16.00 |
| Từ các trang Web | 27 | 12.00 |
| Khác | 13 | 5.78 |
Nguồn: Theo số liệu điều tra thực tế Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Thông qua khảo sát thực tế, hình thức tiếp cận điểm đến của du khách chủ yếu qua kênh thông tin “gia đình bạn bè”. Kênh gia đình và bạn bè được lựa chọn 127 phiếu trong tổng số 225 phiếu điều tra nghiên cứu, chiếm 56,44%. Số lượng khách du lịch biết về điểm đến chủ yếu lại không thông qua những hình thức quảng cáo và tiếp thị điểm đến của doanh nghiệp du lịch. Trên thực tế, khách du lịch tiếp cận thông tin các khu du lịch tại huyện Ba Vì chủ yếu thông qua kênh tiếp thị không chính thống. Kênh tiếp cận này giúp khách du lịch có cái nhìn tổng quan và chính xác nhất trước khi du khách lựa chọn điểm đến và tổ chức chuyến đi. Mặc dù vậy kênh tiếp cận này còn nhiều hạn chế đặc biệt là mức độ lan truyền thông tin chậm, độ phủ thông tin không rộng.
Ngoài ra kênh thông tin thông qua công ty lữ hành chiếm 16%, khách du lịch tiếp cận thông tin điểm đến từ các trang web là 27 phiếu chiếm 12%. Đây là hai kênh tiếp thị khá quan trọng nhưng trên thực tế lượng khách du lịch biết đến từ hai kênh này quá ít. Kênh thông tin qua phim, truyền hình, phát thanh có 8 phiếu, chiếm 3,56%. Kênh quảng cáo 5 phiếu, chiếm 2,22%. Kênh sách, táp chí 9 phiếu, chiếm 4%. Các kênh thông tin khác là 13 phiếu, chiếm 5,78%.
Bảng 2.22. Bảng thống kê mức độ khó khăn khi tìm kiếm thông tin điểm đến
| Khó khăn về tìm kiếm thông tin điểm đến | Số lượng phiếu lựa chọn | Tỷ lệ phần trăm số phiếu |
| Có | 86 | 38,22 |
| Không | 139 | 61,78 |
Nguồn: Theo số liệu điều tra thực tế
Nhìn chung du khách tìm kiếm thông tin du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì không quá khó khăn có 139 khách du lịch cảm thấy dễ tìm kiếm thông tin về du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì, chiếm 61,78% lượng khách được hỏi. Thông tin khách du lịch đưa ra về lý do “ dễ tìm kiếm thông tin” chủ yếu thông tin được bạn bè, người thân đã đi và giới thiệu. Chính thông tin này là yếu tố tác động trực tiếp đến chương trình tour của khách. Trong khi đó có 86 khách du lịch cho rằng khó tìm kiếm thông tin về du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì, tương đương với 38,22% khách du lịch được hỏi. Trong số 86 khách du lịch cho rằng khó tìm kiếm thông tin về du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì thì có 26 khách du lịch cho rằng các Wedsite của khu du lịch nghỉ dưỡng thường rất thiếu thông tin. Họ cho rằng các trên Wed của điểm đến thường rất thiếu thông tin và không được cập nhật kịp thời. Hình ảnh trên trang wed thường cũ và không giống với thực tế. Họ không thể cảm nhận sức hút từ điểm đến thông qua hình ảnh trên website, hình ảnh họ được trải nghiệm đẹp hơn hình ảnh trên website rất nhiều. Có 33 khách, họ ít hoặc không tiếp xức với internet, cho rằng không có chương trình giới thiệu điểm đến qua truyền hình, phát thanh, sự kiện. Và 27 khách nói rằng họ quá bận bịu về công việc… nên không có thời gian tìm hiểu thông tin về điểm đến… Đây là điểm tồn tại của việc xúc tiến,quảng bá và giới thiệu sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng huyện Ba Vì tới khách du lịch. Đây là điểm hạn chế đòi hỏi ngành du lịch của huyện Ba Vì cũng như các doanh nghiệp kinh doanh du lịch cần có những giải pháp nhằm giới thiệu sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng cho khách du lịch một cách sâu rộng.
2.3.6. Tổ chức quản lý và công tác quy hoạch
UBND huyện ba vì là cơ quan cao nhất của huyện thực hiện nhiệm vụ quản lý ngành du lịch huyện, đại diện là chủ tịch UBND. Cấp dưới của UBND là phòng Văn hóa – Thông tin, đại diện là trưởng phòng Văn hóa – Thông tin. Phòng văn hóa thông tin có chức năng là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, có chức năng tham mưu, giúp UBND huyện quản lý nhà nước về các vấn đề: Văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch, báo chí, xuất bản, bưu chính và chuyển phát, viễn thông và internet, công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng thông tin, phát thanh trên địa bàn huyện. Trưởng phòng Văn hóa – Thông tin có hai phó phòng thực hiện quản lý các ban riêng biệt trong đó có du lịch. Ban du lịch có nhiệm vụ rất quan trọng, là đơn vị theo dõi và quản lý một cách sâu sát nhất về tình hình hoạt động của ngành du lịch. Từ đó đơn vị này tham mưu lên cấp trên để nhằm thay đổi và đưa ra những chính sách phù hợp với việc phát triển ngành du lịch của huyện. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Công tác quản lý nhà nước về du lịch được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo, các đơn vị kinh doanh du lịch luôn chấp hành tốt các quy định của nhà nước về hoạt động du lịch. Hiện nay trên địa bàn huyện có 15 đơn vị kinh doanh du lịch với các sản phẩm chủ yếu như: Du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng, du lịch tâm linh và nghỉ dưỡng. Trong đó sản phẩm du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng đang là những loại hình du lịch có hiệu quả nhất, thu hút nhiều du khách tham gia. Điển hình một số đơn vị đang hoạt động có hiệu quả cao như: Du lịch Ao Vua, Du lịch Khoang Xanh, Khu Du lịch Thiên Sơn Suối Ngà, Khu du lịch Tản Đà Resort, Ba Vì Resort, Family Resort, Yên Bài Top Hill Resort. Một số đơn vị đạt hiệu quả khá là khu du lịch Đầm Long. Khu du lịch Hồ Tiên Sa năm 2023 vừa qua lượng khách du lịch tới đây giảm đáng kể, do một số hạng mục công trình xuống cấp và đang trong quá trình sửa chữa, nâng cấp và xây mới cơ sở vật chất. Cụ thể là, năm 2022 lượng khách tới Hồ Tiên Sa là 18.350 khách, tới năm 2023 lượng khách tới đây chỉ đạt 15.670 khách (số liệu phòng Văn hóa & Thông tin huyện Ba Vì). Một số đơn vị du lịch hoạt động hiệu quả chưa cao như: Nhà nghỉ Công Đoàn Suối Hai, Du lịch Cao Sơn, có hai đơn vị ngừng hoạt động: Công ty du lịch Suối Mơ, Công ty du lịch Thác Đa. Trung tâm dịch vụ du lịch Suối Hai ( trực thuộc công ty thủy lợi Sông Tích) do làm ăn không hiệu quả nên trên thực tế đã giao cho công ty tư nhân đấu thầu khai thác. Dự án khu du lịch cao cấp Tản Viên tại hồ Suối Hai của tập đoàn Dầu Khí Việt Nam gặp nhiều khó khăn về vốn, công tác GPMB…, nên chưa được triển khai xây dựng và khai thác.
Các hoạt động kinh doanh du lịch của các đơn vị du lịch đã góp phần tạo việc làm cho người lao động, giảm các tệ nạn xã hội, khôi phục và phát triển nhiều ngành nghề truyền thống của địa phương, nâng cao dân trí. Đặc biệt góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội chung của huyện.
Năm 2022, UBND huyện Ba Vì đã ký văn bản về việc đề nghị thỏa thuận đề cương nhiệm vụ lập quy hoạch phát triển khu du lịch Ba Vì – Suối Hai thành khu du lịch quốc gia đến năm 2030, định hướng đến năm 2040 với Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Hà Nội.
Tháng 2 năm 2023, Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch đã có văn bản đồng ý cho UBND Thành phố Hà Nội xây dựng quy hoạch phát triển khu du lịch Ba Vì – Suối Hai thành khu du lịch Quốc Gia đến năm 2030, định hướng 2040. Ngày 23/4/2023, Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch đã phê duyệt đề cương, nhiệm vụ dự án “ Quy hoạch phát triển khu du lịch Ba Vì – Suối Hai thành khu du lịch Quốc Gia đến năm 2030, định hướng 2040”. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Thực hiện chương trình số 04 – CTr/TU ngày 18/10/2020 của Thành ủy Hà Nội về phát triển văn hóa – xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thủ đô, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh giai đoạn 2020 – 2024, trong chương trình đề án phát triển văn hóa – xã hội có nhiệm vụ “hoàn thiện hạ tầng cơ sở khu du lịch Suối Hai – Tây Ba Vì”. Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Hà Nội đã phối hợp với UBND huyện Ba Vì xem xét kỹ điều kiện địa hình, địa vật và các yếu tố liên quan đến định hướng phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Ba Vì và thống nhất danh mục 5 tuyến đường nhằm hoàn thiện mạng lưới cơ sở hạ tầng khu du lịch quốc gia Ba Vì – hồ Suối Hai, báo cáo UBND Thành phố xem xét chấp nhận.
Trong khi đó một số các khu du lịch và khu nghỉ dưỡng đã quy hoạch và đang trong giai đoạn hoạt động đã thể hiện rõ một số những hạn chế. Quy hoạch tại các khu du lịch và khu nghỉ dưỡng không có tầm nhìn xa và thiếu tính tổng thể. Theo công tác quy hoạch cũ của khu du lịch thì hiện tại các hệ thống đường ống cấp thoát nước bị cắt xẻ bởi những công trình xây dựng mới. Nhiều công trình thoát nước đã bị lỗi thời và không thể sử dụng được. Hiện tượng ngập và ứ nước trong các khu du lịch vào mùa mưa là hiện tượng diễn ra phổ biến như khu du lịch Đầm Long, Family Resort, Yên Bài Top Hill Resort.. do một phần diện tích của các khu du lịch này là thung lũng thấp. Những công trình xây dựng mới mọc lên không theo dự án quy hoạch ban đầu nên nhiều khu du lịch và nghỉ dưỡng đã phá vỡ cảnh quan và hệ sinh thái như công trình xây dựng khu Spa tại khu du lịch Tản Đà Resort, toàn bộ 12 phòng khu dịch vụ Spa này được xây dựng trên mặt hồ, làm mất cân bằng không gian và cảnh quan hồ. Hay các khu vui chơi giải trí tại khu du lịch Đầm Long, Ao Vua… trong quá trình xây dựng thêm khu dịch vụ, khu vui chơi giải trí, hồ bơi…các khu du lịch này đã phá hủy một phần hệ sinh thái thực vật không nhỏ. Nhiều nhà dịch vụ, nhà hàng, xây dựng không theo tính toán và quy hoạch khi xây dựng xong bị bỏ hoang và thất thoát kinh tế như khu nhà dịch vụ tại khu du lịch Khoang Xanh…
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Trong chương 2 đã giải quyết toàn bộ các cơ sở lý luận khoa học đưa ra ở chương 1 bằng các nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực tế qua điều kiện và thực trạng du lịch nghỉ dưỡng huyện Ba Vì. Qua đó chỉ ra những hạn chế và tồn tại của du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì để đưa ra các giải pháp phát triển và kiến nghị trong chương 3.
Ba vì là một huyện miền núi của thủ đô Hà Nội, đây là huyện có nhiều tiềm năng phát triển du lịch và đăc biệt là loại hình du lịch nghỉ dưỡng. Thiên nhiên ưu đãi đã tạo cho du lịch Ba Vì có nhiều cảnh đẹp, thời tiết mát mẻ, động thực vật phong phú đa dạng rất phù hợp phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Hiện nay, tại Ba Vì có nhiều khu nghỉ dưỡng đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên như: Ba Vì Resort, Family Resort, Tản Đà Resort và Yên Bài Top Hill Resort là khu nghỉ dưỡng mới đưa vào khai thác từ tháng 3/2024. Các khu nghỉ dưỡng này trong một vài năm qua kinh doanh khá hiệu quả.Một số khu du lịch rất thu hút khách trong những năm gần đây như: Khu du lịch Đầm Long, khu du lịch Ao Vua, khu du lịch Khoang Xanh – Suối Tiên, Thiên Sơn – Suối Ngà…
Sau hội nghị 9 của UBND huyện Ba Vì năm 2020, huyện Ủy đã đặt ra định hướng phát triển du lịch thân thiện, bền vững và hướng ngành du lịch trong đó có du lịch nghỉ dưỡng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Trong 4 năm qua hoạt động du lịch huyện Ba Vì đặc biệt là du lịch nghỉ dưỡng đã có nhiều chuyển biến tích cực và trở thành ngành kinh tế quan trọng. Hàng năm UBND huyện Ba Vì đã dành nguồn kinh phí lớn nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng điện, đường, y tế, hệ thống cấp thoát nước phục vụ ngành du lịch.
Du lịch Ba Vì trong vài năm gần đây đã có nhiều thay đổi rõ rệt, có những thành tựu về lượng khách đến và doanh số. Tốc độ tăng trưởng bình quân về doanh thu hàng năm là 12,8%, tốc độ tăng trưởng về lượng khách bình quân hàng năm là 3,3%. Tuy nhiên, ngành du lịch Ba Vì vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng du lịch của huyện. Trong những năm qua du lịch nghỉ dưỡng của huyện vẫn còn nhiều hạn chế như; công tác quy hoạch chưa đồng bộ, cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất kỹ thuật xuống cấp và lạc hậu đang là nguy cơ hàng đầu, lao động trong ngành du lịch chưa chuyên nghiệp, kỹ năng nghề còn nhiều hạn chế, dịch vụ bổ sung chưa được đầu tư đúng mức, thiếu vốn, công tác môi trường, quảng bá du lịch còn bỏ ngỏ… Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội.
Để du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút không chỉ du khách nội địa mà còn hấp dẫn khách du lịch quốc tế, huyện Ba Vì cần đưa ra những định hướng, giải pháp kịp thời, hiệu quả nhằm phát triển du lịch Ba Vì và loại hình du lịch nghỉ dưỡng. Căn cứ vào thực trạng du lịch và du lịch nghỉ dưỡng huyện Ba Vì trong những năm gần đây, luận văn này sẽ đưa ra một số đề xuất nhằm đưa du lịch nghỉ dưỡng của huyện Ba Vì trở thành điểm đến bền vững trong tương lai…
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch nghỉ dưỡng Ba Vì – Hà Nội

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội […]