Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày ở các trường tiểu học trên địa bàn Thị Xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, văn hóa giáo dục trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương

Ngày 29 tháng 12 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 136/NQ- CP, tách huyện Bến Cát thành thị xã Bến Cát và huyện Bàu Bàng. Thị xã Bến Cát được thành lập từ thị trấn Mỹ Phước và 7 xã: Thới Hòa, Tân Định, Hòa Lợi, Chánh Phú Hòa, An Điền, Phú An, An Tây của huyện Bến Cát cũ. Đồng thời chuyển thị trấn Mỹ Phước và 4 xã Thới Hòa, Tân Định, Hòa Lợi, Chánh Phú Hòa thành 5 phường có tên tương ứng. Ngày 24 tháng 10 năm 2025, Bộ Xây dựng ban hành quyết định công nhận thị xã Bến Cát là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Bình Dương. Ngày 29 tháng 1 năm 2026, thị xã Bến Cát chính thức được công nhận là đô thị loại III.

Thị xã Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, cách thành phố Thủ Dầu Một 20km, cách TP Hồ Chí Minh khoảng 50km, có trục quốc lộ 13 đi qua. Phía bắc Thị xã Bến Cát giáp với huyện Bàu Bàng. Phía tây Thị xã Bến Cát là huyện Dầu Tiếng. Phía đông Thị xã Bến Cát là huyện Tân Uyên và huyện Phú Giáo. Phía nam Thị xã Bến Cát giáp thành phố Thủ Dầu Một và huyện Củ Chi (TP.HCM). Diện tích tự nhiên của Bến Cát là 23.442,24 ha và dân số năm 2025 là 269.998 người, trong đó dân nhập cư là 153.976 người (số liệu từ Phòng thống kê thị xã Bến Cát).

Năm 2025, tình hình kinh tế – xã hội của thị xã tiếp tục tăng trưởng và phát triển ổn định; tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã đạt 23,5%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp với tỷ trọng tương ứng: công nghiệp 78,83% – dịch vụ 20,72% – nông nghiệp 0,4%. Thu nhập bình quân đầu người đạt gần 115 triệu đồng/người/năm. Tổng giá trị sản xuất đạt trên 116.600 tỷ đồng, tăng 19,7 % so với năm 2024:trong đó giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 91.900 tỷ đồng, tăng 17,2% so cùng kỳ, đạt 100,8% Nghị quyết Hội đồng nhân dân thị xã giao. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ đạt 24.200 tỷ đồng, tăng 30,9% so cùng kỳ, đạt 100,7% Nghị quyết Hội đồng nhân dân thị xã giao. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 520 tỷ đồng, tăng 5,3% so cùng kỳ, đạt 100,8% Nghị quyết Hội đồng nhân dân thi xã giao. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt gần 1.978 tỷ đồng; tổng thu ngân sách địa phương đạt gần 930 tỷ đồng, đạt 100% chỉ tiêu Nghị quyết HĐND thị xã giao; tổng chi ngân sách địa phương gần 847 tỷ đồng đạt 100% chỉ tiêu Nghị quyết HĐND thị xã giao.

Lĩnh vực văn hóa xã hội tiếp tục chuyển biến tích cực. Bến Cát đã đầu tư xây mới một số trường học. Chủ trương xã hội hóa giáo dục y tế được mở rộng, góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng và nhu cầu khám chữa bệnh trong nhân dân. Công tác chính sách xã hội được thực hiện tốt, đời sống vật chất tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt. Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

Sau những thành công mô hình kinh tế khu công nghiệp ở phía Nam, từ năm 2001, tỉnh Bình Dương có chủ trương đưa công nghiệp về vùng nông thôn phía bắc, khởi đầu là hình thành khu công nghiệp Mỹ Phước. Như vậy mặc dù phát triển công nghiệp sau, nhưng Bến Cát đã vượt lên và trở thành địa điểm rất hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, và cũng trở thành địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp mạnh mẽ. Tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng doanh nghiệp chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động là các giải pháp được Bến Cát thực hiện trong thời gian tới, thúc đẩy sự phát triển KTXH ở địa phương.

Trên cơ sở những kết quả đạt được trong những năm qua, Bến Cát quyết tâm hoàn thành và thực hiện thắng lợi mục tiêu nhiệm vụ đề ra trong năm 2025, tạo thuận lợi cho các năm tiếp theo, đóng góp vào sự phát triển toàn diện nền KTXH của tỉnh Bình Dương.

2.1.2 Tình hình giáo dục tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương

Tính đến năm 2024 – 2025, mạng lưới trường lớp, các loại hình giáo dục đã được củng cố, phát triển, điều chỉnh gắn với địa bàn dân cư và bố trí tương đối hợp lý ở các địa phương, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người học, vừa thực hiện tốt mục tiêu giáo dục. Phải nói rằng quy mô giáo dục của thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong những năm gần đây đã không ngừng tăng lên. Ngành GD&ĐT đã góp phần phát triển đúng hướng theo mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho thị xã.

  • Bảng 2.1. Quy mô trường lớp năm học 2024 – 2025

Bảng 2.1 cho thấy, năm 2024 – 2025 mạng lưới trường lớp đã phát triển rộng khắp với 9 trường mầm non, mẫu giáo, 15 trường Tiểu học, 08 trường THCS. Đặc biệt khối TH hiện nay tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương có 15 trường với 441 lớp, dạy học cho 18.397 học sinh với 620 giáo viên và 38 cán bộ quản lý.

  • Bảng 2.2. Bảng thống kê qui mô trường lớp, học sinh, giáo viên, chất lượng GD các trường tiểu học công lập tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

Nhìn chung số lớp và số học sinh giữa các trường không đồng đều và đang có xu hướng tăng do dân nhập cư trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tăng qua các năm. Bảng 2.3 trình bày chất lượng giáo dục qua các năm.

  • Bảng 2.3. Chất lượng giáo dục tiểu học qua các năm

Bảng 2.3 cho thấy, hoàn thành chương trình tiểu học chiếm tỉ lệ 100%. Về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý: trong nhiều năm qua, ngành Giáo Dục thị xã Bến Cát đã xác định nhiệm vụ quan trọng là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các trường TH đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao về chất lượng. Việc sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ quản lý được thực hiện kịp thời, phù hợp với năng lực công tác và phẩm chất đạo đức. Tính đến năm học 2024 – 2025 tình hình đội ngũ cán bộ quản lý (Hiệu Trưởng, Phó hiệu Trưởng) các trường TH của thị xã Bến Cát có 38 cán bộ quản lý trong đó có 19 nữ và 19 nam. Tất cả CBQL đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, 38 cán bộ quản lý tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm (chiếm 100 %), có 4 CBQL đang theo học Cao học quản lý giáo dục. Về chất lượng đội ngũ giáo viên: Đội ngũ giáo viên của thị xã Bến Cát trong nhiều năm qua đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu là cơ sở để nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Hầu hết các giáo viên TH ở thị xã Bến Cát đều được đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn. Nhìn chung, giáo dục và đào tạo của thị xã Bến Cát có nhiều thuận lợi như sự đầu tư xây dựng mạng lưới trường lớp, chất lượng đội ngũ CBQL và GV đều đạt chuẩn và có tay nghề.

Từ thực tế địa phương, chúng tôi nhận thấy:

  • Mặt mạnh

Thị xã Bến Cát có tốc độ phát triển đô thị hóa nhanh, có tiềm lực về quỹ đất và sự đầu tư, là địa phương có phong trào giáo dục mạnh, nhân dân có truyền thống hiếu học. Đảng bộ và chính quyền các cấp rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đa số yêu nghề yêu trẻ, luôn nhiệt tình, tự trọng và tinh thần trách nhiệm cao. Cơ sở vật chất tại các trường, lớp và trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ, ngày càng đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học. Song song đó công tác xã hội hoá giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh, đã tạo ra các nguồn lực đầu tư cho giáo dục.

  • Hạn chế
  • Về phía giáo viên:

Số giáo viên biến động hàng năm. Việc sắp xếp và phân công thường lệ thuộc vào phân bổ người của PGD-ĐT. Giáo viên tìm hiểu học sinh và đưa ra các biện pháp giáo dục có khi chưa sát thực tế vì không có nhiều thời gian. Đời sống của cán bộ, giáo viên chưa được cải thiện nhiều, một số giáo viên chưa an tâm công tác và chưa dành hết tâm lực cho công tác giáo dục.

  • Về phía học sinh:

Vẫn còn nhiều học sinh con em gia đình lao động nghèo, buôn bán cá thể, một số em hoàn cảnh phức tạp cha mẹ ly hôn hoặc làm ăn xa, gửi con cho với ông, bà, chú, bác nuôi dưỡng ít được quan tâm chăm sóc, giáo dục tỉ mỉ. Một số học sinh cha mẹ chưa quan tâm sâu sát, thường lợi dụng các buổi không đến trường, tham gia vào các trò chơi trên mạng internet nên việc tiếp thu bài còn chậm. Ngoài ra một số học sinh ý thức học tập chưa cao, đến lớp không làm bài, không thuộc bài … rất khó khăn trong hoạt động dạy học.

  • Về phía Cha mẹ học sinh

Đa số CMHS thuộc thành phần buôn bán, lao động cá thể, công nhân viên chức, ít có thời gian kiểm tra việc học tập của học sinh. Một số gia đình chưa dành nhiều thời gian nhắc nhở, đôn đốc và kiểm tra việc học tập của con em mình, còn giao khoán cho nhà trường, do vậy việc phối hợp ba môi trường thiếu chặt chẽ, gây hạn chế cho công tác giáo dục và ảnh hưởng không tốt đến chất lượng học tập của học sinh.

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày ở các trường tiểu học trên địa bàn Thị Xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

2.2.1 Mục tiêu

Khảo sát thực trạng dạy hai buổi/ngày cũng như quản lý hoạt động này nhằm tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, xác định nguyên nhân của thành công cũng như chưa thành công trong quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày. Từ đó làm cơ sở đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng trong quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày của các trường tiểu học trên địa bàn Thị Xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

2.2.2 Nội dung

Khảo sát thực trạng hoạt động dạy hai buổi/ngày của các trường tiểu học trên địa bàn Thị Xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, bao gồm: thực trạng về nội dung dạy buổi thứ nhất và nội dung dạy buổi thứ hai của giáo viên; các điều kiện để đảm bảo dạy hai buổi/ngày; các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dạy hai buổi/ngày.

Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày của các trường tiểu học trên địa bàn Thị Xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

2.2.3 Phương pháp

Ngoài phương pháp điều tra khảo sát bằng bộ phiếu hỏi là cơ sở để định lượng, tác giả luận văn còn dùng phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động và phương pháp phỏng vấn nhằm so sánh, đối chiếu với kết quả định lượng, thu thập thông tin nhiều chiều để phân tích, đánh giá thực trạng.

2.2.4 Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng

Tác giả xây dựng bảng hỏi khảo sát thực trạng hoạt động dạy hai buổi/ngày và quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày ở trường TH trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương dành cho cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh theo phụ lục 1 và 2. Ngoài ra, tác giả còn xây dựng nội dung các câu hỏi để thực hiện phỏng vấn đội ngũ chuyên gia, cán bộ quản lý và giáo viên thể hiện trong phụ lục 4. Phiếu phỏng vấn được thực hiện với các đối tượng là CBQL và GV các trường TH trên địa bàn Thị Xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương gồm: 4 CBQL được mã hóa bằng ký hiệu QL1, QL2, QL3, QL4 và 6 GV được mã hóa bằng ký hiệu GV1, GV2…GV6.

2.2.5 Đối tượng khảo sát Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

Đối tượng khảo sát bằng bảng hỏi bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh. Trong đó, cán bộ quản lý, giáo viên là 300 phiếu của 10 trường: Trường TH Trần Quốc Tuấn, trường TH An Điền, trường TH An Tây A, trường TH Hồ Hảo Hớn, trường TH Võ Thị Sáu, trường TH Mỹ Phước, trường TH Duy Tân, trường TH Thới Hòa, trường TH Chánh Phú Hòa, trường TH Tân Định (mỗi trường 30 phiếu). Số lượng phiếu khảo dành cho cha mẹ học sinh là 200 phiếu, ứng với cha mẹ học sinh của 10 trường: Trường TH Trần Quốc Tuấn, trường TH An Điền, trường TH An Tây A, trường TH Hồ Hảo Hớn, trường TH Võ Thị Sáu, trường TH Mỹ Phước, trường TH Duy Tân, trường TH Thới Hòa, trường TH Chánh Phú Hòa, trường TH Tân Định (mỗi trường 20 phiếu).

Giáo viên và cán bộ quản lý: Số lượng phiếu thu về 290 đạt 290/300=96,6%. Về đặc điểm của đối tượng khảo sát được thể hiện trong bảng 2.4, cụ thể như sau:

Bảng 2.4. Thông tin về giáo viên và cán bộ quản lý tại các trường TH trên địa bàn TX Bến Cát tỉnh Bình Dương được khảo sát

Tỷ lệ nam nữ trong mẫu khảo sát cho thấy có sự chênh lệch cao, nữ chiếm 86.2%, trong khi nam là 13.8% và được thể hiện qua biểu đồ 2.1. Điều này phản ánh thực tế CBQL, GV ở bậc tiểu học.

Biểu đồ 2.1. Thực trạng giới tính của giáo viên và cán bộ quản lý tại các trường TH trên địa bàn TX Bến Cát tỉnh Bình Dương được khảo sát

Bảng 2.4 cho thấy, thâm niên làm việc trong ngành giáo dục của đối tượng khảo sát đa dạng: giáo viên và cán bộ quản lý có thâm niên lâu năm từ 10 đến 20 năm chiếm 12.8%, trên 20 năm là 21.7%, dưới 5 năm là 31.4%, thâm niên từ 5 đến dưới 10 năm chiếm 34.1%. Về trình độ đào tạo: CBQL, giáo viên có bằng đại học chiếm tỉ lệ 65.9%; cao đẳng chiếm 25.5%, trung cấp chiếm 8.6% . Biểu đồ 2.2 cụ thể trình độ đào tạo của đối tượng khảo sát:

Biểu đồ 2.2. Trình độ của giáo viên và cán bộ quản lý tại các trường TH trên địa bàn TX Bến Cát tỉnh Bình Dương được khảo sát

Đối với cha mẹ học sinh: Số phiếu phát ra là 200 phiếu được phân bố trong 10 trường TH trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương, số phiếu thu về là 200 đạt 200/200=100%, thông tin đối tượng khảo sát được thể hiện qua bảng 2.5 như sau:

Bảng 2.5: Đặc điểm cha mẹ học sinh các trường TH trên địa bàn TX Bến Cát tỉnh Bình Dương mà đề tài khảo sát

Qua phân tích các đối tượng khảo sát trình bày ở trên cho thấy, đối tượng khảo sát bao gồm cả HT, PHT, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, GV, cha mẹ học sinh với các đặc điểm đa dạng, phong phú. Điều đó, cho phép đề tài thu được các thông tin toàn diện về thực trạng hoạt động dạy hai buổi/ngày và thực trạng QL hoạt động dạy hai buổi/ngày tại các trường TH trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

2.2.6 Xử lý thông tin

Người nghiên cứu tiến hành thu thập các phiếu khảo sát từ giáo viên, cán bộ quản lý, học sinh và cha mẹ học sinh để tổng hợp và xử lý thống kê dữ liệu qua sự hỗ trợ từ phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để tính tỉ lệ %, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn. Đối với tính giá trị trung bình (TTB), ứng với mỗi mức độ được tính điểm như sau:

  • Rất thường xuyên/rất quan trọng/rất tốt: 5 điểm
  • Thường xuyên/quan trọng/ tốt: 4 điểm
  • Thỉnh thoảng/ít quan trọng/trung bình: 3 điểm
  • Không thường xuyên/không quan trọng/yếu: 2 điểm
  • Hoàn toàn không thường xuyên/hoàn toàn không quan trọng/kém:1 điểm Từ đó, thang đo được quy ước như sau: Điểm trung bình cộng: ĐTB = X

Bảng 2.6. Qui ước thang đo

  • Kết quả xử lý thống kê được thể hiện trong phụ lục 6.

2.3. Thực trạng hoạt động dạy hai buổi/ngày ở các trường tiểu học trên địa bàn Thị Xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

2.3.1 Thực trạng nhận thức về hoạt động dạy hai buổi/ngày trong trường tiểu học

Nhận thức có vai trò định hướng cho con người trong suy nghĩ, hành động. Nó có tác dụng điều chỉnh thái độ và hành vi của con người trong cuộc sống. Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu nhận thức của CBQL, GV và CM học sinh về sự cần thiết của dạy hai buổi/ngày và mục đích của hoạt động dạy hai buổi/ngày.

Nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý và CM học sinh về sự cần thiết của dạy hai buổi/ngày trong trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát được thể hiện trong bảng 2.7. Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

Bảng 2.7: Kết quả khảo sát nhận thức về sự cần thiết của dạy hai buổi/ngày của các đối tượng tham gia khảo sát

Từ bảng 2.7 cho thấy, đội ngũ giáo viên và phụ huynh trong các trường TH trên địa bàn thị xã Bến Cát có nhận thức khá tốt về sự cần thiết của hoạt động dạy hai buổi/ngày. Trong đó, đối với giáo viên, cán bộ quản lý đạt mức khá cao trong thang đo về mức độ cần thiết, ứng với điểm trung bình 4.12. Đối với phụ huynh học sinh, điểm trung bình là 4.01, ứng mức cần thiết. Độ lệch chuẩn giữa ý kiến của CBQL, GV và CM học sinh cho thấy, ý kiến của CBQL, GV tập trung hơn so với ý kiến của cha mẹ học sinh. Chúng tôi đã ghi nhận được một số ý kiến như sau: “Việc tổ chức dạy hai buổi/ngày ở bậc tiểu học rất quan trọng và rất cần thiết vì đây là điều kiện đảm bảo dạy học đủ thời gian, chất lượng học tập các môn bắt buộc sẽ tốt hơn; học sinh có điều kiện cân đối việc học tập, rèn luyện và tăng cường các hoạt động giáo dục sức khỏe, thẩm mĩ, thể chất, đồng thời được học thêm các môn năng khiếu, tăng cường phát triển năng lực qua các môn tự chọn, góp phần hình thành nhân cách và phát triển toàn diện.” (QL01), Tuy nhiên cũng có ý kiến khác như sau: “Việc tổ chức dạy hai buổi/ngày rất quan trọng và thật sự cần thiết, vì nó đáp ứng nhu cầu của PH và giảm thiểu bớt gánh nặng cho PH vì đa số học sinh ở địa phương đều là con em công nhân, CMHS đều đi làm không có thời gian chăm sóc con cái” (QL03), “Nhu cầu của việc tìm trường dạy hai buổi/ngày để gửi con em mình vào học của phụ huynh ngày càng cao và để đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó của hầu hết phụ huynh thì việc tổ chức dạy hai buổi/ngày là rất cần thiết.” là nhận xét của (GV03),“Việc tố chức dạy 2 buối/ngày là rất cần thiết vì dạy học hai buổi/ngày ở cấp tiểu học vừa là nhu cầu của xã hội, vừa là nhu cầu giáo dục của trẻ em, học sinh được học, được chơi, được tham gia các hoạt động giáo dục toàn diện.” (GV06).

Bên cạnh tìm hiểu nhận thức về sự cần thiết của dạy hai buổi/ngày, chúng tôi đã khảo sát nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý và cha mẹ học sinh về mục đích của dạy hai buổi/ngày trong trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát. Kết quả xử lý thông tin được thể hiện trong bảng 2.8, như sau:

Bảng 2.8. Kết quả khảo sát nhận thức về mục đích của dạy học hai buổi/ngày của các đối tượng tham gia khảo sát

Từ bảng 2.8 cho thấy CBQL, GV và cha mẹ học sinh đều thống nhất khá cao với mục đích của dạy học hai buổi/ngày, đặc biệt là nội dung: Giáo viên có thời gian bồi dưỡng và thực hành kiến thức cho các đối tượng học sinh; Mở rộng kiến thức thực tế trong nội dung bài học cho HS. Các nội dung còn lại: Quản lý học sinh giúp phụ huynh; Nhà trường và giáo viên có tăng thêm thu nhập để cải thiện cuộc sống; Giảm căng thẳng và mệt mỏi, giãn thời gian học tập để đảm bảo sức khoẻ và phát triển toàn diện cho học sinh; HS có cơ hội học môn tự chọn, phát huy năng khiếu HS cũng được CBQL, GV và CMHS rất đồng ý. Như vậy, việc triển khai thực hiện dạy hai buổi/ ngày nhận được sự đồng thuận của CBQL, GV và CMHS. Điều này đúng với các qui định của ngành. Đồng thời dạy học hai buổi/ngày tạo điều kiện cho phụ huynh trong việc quản lý con cái. Họ rất an tâm được gửi nhà trường vừa được học lại vừa đảm bảo an toàn. Kết quả học tập của HS học hai buổi/ngày được nâng lên về số lượng và chất lượng. Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học. 

Qua trao đổi phỏng vấn, chúng tôi đã ghi nhận được một số ý kiến về mục đích của dạy học hai buổi/ngày như sau: “Việc thực hiện chương trình dạy học buổi thứ hai nhằm: Góp phần thực hiện tốt chương trình chung, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Thực hiện tốt hơn dạy học phân hóa, HS có nhiều cơ hội để phát huy các khả năng và sở thích cá nhân; nhu cầu của cá nhân người học được đáp ứng tốt hơn; HS yếu có nhiều cơ hội được quan tâm giúp đỡ hơn để đạt Chuẩn của chương trình. Giúp giảm sức ép, tránh quá tải, làm cho việc học tập của HS ở trường hứng thú hơn. Xây dựng môi trường giáo dục thân thiện với HS ở trường và ở từng lớp học.” (QL03), “Dạy học buổi hai là thời gian dành để bổ sung chương trình và tổ chức ôn luyện kiến thức đã học, tăng cường nội dung các môn nghệ thuật, thể dục nhầm phát triển năng khiếu cho học sinh, tổ chức dạy học các môn tự chọn và các hoạt động tập thể.” (QL04), “Tăng cường các hoạt động giáo dục sức khoẻ, thẩm mỹ, lối sống, môi trường và phát triển các môn học năng khiếu. Tăng cường phát triển năng lực qua các môn tự chọn và qua hoạt động giáo dục ngoài giờ đây chính là mục đích của việc tổ chức dạy buổi hai.” (GV02).

Như vậy, qua kết quả khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng vấn cho thấy, đa số CBQL, GV và CMHS các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương có nhận thức khá cao và đầy đủ về sự cần thiết, mục đích của hoạt động dạy hai buổi/ngày. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận CBQL, GV và CMHS chưa nhận thức đúng và đầy đủ về tính cần thiết và mục đích của hoạt động dạy hai buổi/ngày.

2.3.2 Thực trạng hoạt động dạy buổi thứ nhất ở trường tiểu học Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

Thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy, đổi mới phương pháp dạy học và thực hiện kiểm tra, đánh giá học sinh là yêu cầu bắt buộc đối với hoạt động dạy học trong buổi thứ nhất ở trường tiểu học. Sau đây là kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV và CMHS về thực trạng hoạt động dạy buổi thứ nhất ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Cụ thể được thể hiện trong bảng 2.9 như sau:

Bảng 2.9. Kết quả khảo sát ý kiến về thực trạng hoạt động dạy buổi thứ nhất ở trường tiểu học

Nhìn vào bảng 2.9 cho thấy, nhìn tổng thể CBQL, GV và CMHS đánh giá thực trạng hoạt động dạy buổi thứ nhất ở trường tiểu học ở mức khá và có sự chênh lệch không nhiều. Đáng chú ý là, có tỉ lệ trong khoảng 28,3% đến 34% CBQL, GV và CMHS được hỏi nhận định hoạt động dạy buổi thứ nhất chỉ ở mức trung bình. Ý kiến của CBQL, GV và CMHS có sự chênh lệch ít. Cụ thể như sau: Nội dung “Giáo viên dạy đảm bảo nội dung chương trình chính khóa, chuẩn kiến thức kỹ năng” thì CMHS với điểm trung bình là 3.96 cao hơn so với các CBQL, GV là 3.94;

Nội dung “Giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học” thì CMHS với điểm trung bình là 3.96 cao hơn cao hơn so với các CBQL, GV là 3.94; Cuối cùng là nội dung “Giáo viên thực hiện kiểm tra, đánh giá học sinh đúng qui định của Ngành” thì CMHS với điểm trung bình là 3.89 thấp hơn so với các CBQL, GV là 3.95.

Qua đó cho thấy hoạt động dạy buổi thứ nhất ở trường tiểu học được CMHS đánh giá cao hơn so với CBQL, GV nhưng sự chênh lệch không nhiều vì CMHS không trực tiếp tham gia hoạt động dạy buổi thứ nhất nên nhận định chỉ ở mức tương đối.

2.3.3 Thực trạng hoạt động dạy buổi thứ hai ở trường tiểu học

Hoạt động dạy học buổi thứ hai phải thực hiện theo chỉ đạo của ngành và là nhu cầu lớn nên hiệu trưởng cần có mô hình, giải pháp tổ chức thực hiện mang lại hiệu quả cao, thiết thực tăng hứng thú cho học sinh khi tham gia. Sau đây là kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV về thực trạng hoạt động dạy buổi thứ hai ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Cụ thể được thể hiện trong bảng 2.10 như sau:

  • Bảng 2.10. Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL và GV về thực trạng hoạt động dạy buổi thứ hai ở trường tiểu học

Nhìn vào bảng khảo sát 2.10 cho thấy, nhìn chung thực trạng hoạt động dạy buổi thứ 2 ở trường tiểu học được các cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên đánh giá mức độ thực hiện khá với điểm trung bình chung  = 3.64, độ lệch chuẩn trung bình là 0.72 thể hiện sự thống nhất tương đối cao trong đánh giá. Cụ thể như sau:

Đối với mức độ thực hiện khá có các nội dung sau: “Bồi dưỡng HS có năng khiếu môn Toán” với điểm trung bình 4.02 xếp hạng 1, “Bồi dưỡng HS có năng khiếu môn Tiếng Việt” với điểm trung bình 4.00 xếp hạng 2, “Giáo viên giúp học sinh củng cố, luyện tập, nâng cao kiến thức” với điểm trung bình 3.99 xếp hạng 3, “Giúp đỡ HS yếu kém vươn lên hoàn thành yêu cầu học tập” với điểm trung bình 3.97 xếp hạng 4, “Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động thực tế, lịch sử địa phương” với điểm trung bình 3.87 xếp hạng 5, “Dạy học môn học tự chọn được quy định trong chương trình” với điểm trung bình 3.79 xếp hạng 6, “Bồi dưỡng HS có năng khiếu môn Ngoại ngữ” với điểm trung bình 3.56 xếp hạng 7 và “Bồi dưỡng HS có năng khiếu môn Mĩ thuật” với điểm trung bình 3.42 xếp hạng 8. Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

Đối với mức độ thực hiện trung bình có các nội dung sau: “Bồi dưỡng HS có năng khiếu môn Tin học” với điểm trung bình 3.38, “Bồi dưỡng HS có năng khiếu môn Thể dục” với điểm trung bình 3.36, “Bồi dưỡng HS có năng khiếu môn Âm nhạc” với điểm trung bình 3.33, “Tổ chức các hoạt động trải nghiệm” với điểm trung bình 3.32 và “Tổ chức dạy kỹ năng sống cho học sinh” với điểm trung bình 3.31 xếp hạng thấp nhất.

Điều này minh chứng rằng việc đánh giá thực trạng hoạt động dạy buổi thứ 2 ở trường tiểu học ở các nhà trường TH trên địa bàn thị xã Bến Cát hiện nay chủ yếu là Bồi dưỡng HS có năng khiếu môn Toán, Bồi dưỡng HS có năng khiếu môn Tiếng Việt, Giáo viên giúp học sinh củng cố, luyện tập, nâng cao kiến thức,… Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, Tổ chức dạy kỹ năng sống cho học sinh lại không được đánh giá cao.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày ở các trường tiểu học trên địa bàn Thị Xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

2.4.1 Nhận thức của Cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng của quản lý dạy hai buổi/ngày

Kết quả khảo sát từ cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày trong trường tiểu học được thể hiện trong biểu đồ 2.3, cụ thể như sau:

  • Biểu đồ 2.3. Kết quả khảo sát tầm quan trọng của quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày

Từ biểu đồ 2.3 cho thấy cán bộ quản lý, giáo viên đánh giá cao về tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động dạy học hai buổi/ngày. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận nhỏ CBQL, GV chưa nhận thức được tầm quan trọng của quản lý hoạt động dạy học hai buổi/ngày. Bởi vì, quản lý tốt hoạt động dạy học hai buổi/ngày sẽ là quyết định việc đảm bảo dạy học đủ thời gian, chất lượng học tập các môn bắt buộc sẽ tốt hơn. Quản lý hoạt động dạy hai buổi ngày tạo điều kiện cân đối việc học tập, rèn luyện và tăng cường các hoạt động giáo dục sức khoẻ, thẩm mỹ, thể chất. Đồng thời học thêm các môn năng khiếu, tăng cường phát triển năng lực qua các môn tự chọn, góp phần hình thành nhân cách và phát triển toàn diện cho học sinh. Bên cạnh đó cũng cần phải có sự quản lí chặt chẽ của các lực lượng giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục một cách toàn diện.

2.4.2 Thực trạng quản lý hoạt động dạy buổi thứ nhất ở trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

Quản lý hoạt động dạy buổi thứ nhất ở trường tiểu học được thực hiện ở các nội dung cơ bản sau:

  • Quản lý nội dung, chương trình chính khóa
  • Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên
  • Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của giáo viên đối với học sinh

2.4.2.1 Quản lý nội dung, chương trình

Quản lý thực hiện chương trình là yêu cầu bắt buộc đối với Hiệu trưởng nhà trường trong việc quản lý hoạt động dạy học. Như vậy, để quản lý tốt hoạt động dạy hai buổi/ngày thì trước hết cần phải quản lý việc thực hiện nội dung, chương trình chính khóa. Kết quả khảo sát ý kiến CBQL, GV các trường tiểu học thị xã Bến Cát được thể hiện thông qua bảng 2.11 cụ thể như sau:

Bảng 2.11. Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV về quản lý thực hiện nội dung, chương trình chính khóa ở trường tiểu học thị xã Bến Cát

Từ bảng số liệu 2.11 trên cho thấy, thực trạng thực hiện nội dung, chương trình chính khóa ở trường tiểu học ở mức khá với điểm trung bình chung 3.97, độ lệch chuẩn là 0.77 thể hiện sự thống nhất tương đối cao trong đánh giá và các nội dung này cũng được các giáo viên và các cán bộ quản lý giáo dục đánh giá tương đối đồng đều nhau. Cụ thể như sau:

Nội dung “Tổ chức cho GV dạy học đúng chuẩn kiến thức kỹ năng, phân phối chương trình” xếp hạng 1 (ĐTB: 4,10); “Hiệu trưởng yêu cầu GV nghiên cứu, nắm vững chương trình, nghiên cứu quan hệ liên môn giữa các môn học” với điểm trung bình 4.05 xếp hạng 2, “Điều kiện CSVC kỹ thuật đảm bảo phục vụ chương trình các môn học và “Hướng dẫn, giúp đỡ GV giải quyết những vấn đề khó khăn trong thực hiện” chương trình với điểm trung bình 3.98 xếp hạng 3.

Mặc dù nội dung quản lý “Hiệu trưởng chỉ đạo GV thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu đào tạo chung của Nhà trường” và “Thời khóa biểu của nhà trường đảm bảo hợp lý, đúng qui định” với điểm trung bình thấp nhất là 3.76 nhưng vẫn ở trong mức khá của thang đo.

Qua đó cho thấy trong thực tế các trường tiểu học hiện nay bám sát rất tốt vào chương trình của Bộ, sách giáo khoa mới, không có hiện tượng, tình trạng dồn ép, cắt xén chương trình. Nhà trường thực hiện kế hoạch giáo dục theo qui định của chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 đảm bảo yêu cầu tối thiểu về chuẩn kiến thức và kỹ năng theo các môn học. Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

2.4.2.2 Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên

Ở bậc tiểu học, vai trò của phương pháp dạy học rất quan trọng, phương pháp dạy học được thể hiện từ khâu lựa chọn và trình bày nội dung dạy học trong chương trình, sách giáo khoa đến khâu dạy học trên lớp và tự học của học sinh. Có thể nói phương pháp dạy học ở tiểu học trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng dạy học, do đó việc quản lý cải tiến phương pháp là yếu tố quan trọng trong việc quản lý hoạt động giảng dạy của người giáo viên. Biểu đồ 2.4 thể hiện ý kiến của CBQL và GV về quản lý hoạt động đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên ở trường tiểu học như sau:

Biểu đồ 2.4. Ý kiến của CBQL và GV về quản lý hoạt động đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên ở trường tiểu học (theo giá trị điểm trung bình)

Chú thích

  1. Phát động phong trào thi đua – đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học
  2. Tổ chức nghiên cứu, thảo luận PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS.
  3. Chỉ đạo GV ứng dụng CNTT, hỗ trợ phương tiện dạy học phục vụ tốt đổi mới PPDH
  4. Khuyến khích, động viên GV đổi mới PPDH phát huy tính tích cực HS
  5. Chỉ đạo GV thực hiện đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá HS
  6. Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm của GV

Qua biểu đồ trên cho thấy: CBQL và GV nhận định công tác quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên ở mức khá. Cụ thể là, “Phát động phong trào thi đua – đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học” được CBQL và GV đánh giá thực hiện ở mức khá (điểm trung bình là 3.9); “Khuyến khích, động viên GV đổi mới PPDH phát huy tính tích cực HS” có ĐTB là 3.87, mức khá; “Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm của GV” có ĐTB là 3.72; “Chỉ đạo GV ứng dụng CNTT, hỗ trợ phương tiện dạy học phục vụ tốt đổi mới PPDH” có ĐTB là 3.54; “Tổ chức nghiên cứu, thảo luận PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS” có ĐTB là 3.5 và “Chỉ đạo GV thực hiện đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá HS” có ĐTB là 3.41.

Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Bến Cát đã có chỉ đạo các trường thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Để thực hiện, lãnh đạo các trường tiểu học trước hết yêu cầu giáo viên nắm vững nội dung, chương trình sách giáo khoa mới; nội dung giảm tải ở Tiểu học, yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng môn học; tiến hành cải tiến phương pháp dạy học sao cho việc lên lớp diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên, chất lượng và hiệu quả. Trên khả năng kinh phí hiện có, các địa phương mua sắm và sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học theo danh mục quy định, khuyến khích giáo viên tự làm đồ dùng dạy học góp phần tích cực đổi mới phương pháp dạy học. Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

Tuy nhiên, theo nhận định của Phòng Giáo dục và Đào tạo thì việc đổi mới phương pháp chưa đi vào chiều sâu và trở thành yêu cầu trọng tâm của việc chuyển tải nội dung kiến thức môn học. Hiện nay phần lớn còn thể hiện ở các tiết thao giảng, minh họa chuyên đề hơn là ở các tiết thường ngày để đem lại hiệu quả thiết thực cho HS trong hoạt động học tập. Giáo viên còn lệ thuộc quá nhiều vào sách hướng dẫn giảng dạy, chưa mạnh dạn sáng tạo, bổ sung kiến thức, liên hệ thực tế. Còn ngại dạy khác với sách vở đã ghi… Tài liệu, sách tham khảo quá nhiều trên thị trường, giáo viên không có điều kiện chọn lọc khi sử dụng và hướng dẫn học sinh sử dụng. Những hạn chế, khó khăn trên đây ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát đòi hỏi vai trò chỉ đạo, hướng dẫn, tạo điều kiện của CBQL từ cấp trường đến tổ chuyên môn.

2.4.2.3 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của giáo viên đối với học sinh

Theo dõi, kiểm tra việc chấm bài trả bài cho học sinh được đánh giá chưa cao. Đây là thực trạng chung của nhiều trường tiểu học, Hiệu trưởng chưa quản lý chặt chẽ, giáo viên chưa nhận thức đầy đủ việc chấm bài và trả bài cho học sinh là yêu cầu bắt buộc trong việc thực hiện quy chế chuyên môn. Kết quả khảo sát cán bộ quản lý và GV về quản lý việc thực hiện kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát được thể hiện trong bảng 2.12, cụ thể như sau:

Bảng 2.12. Kết quả khảo sát CBQL, GV về quản lý thực hiện kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

Thông qua bảng 2.12 cho thấy đại đa số CBQL và GV thực hiện công tác tập huấn, hướng dẫn, quán triệt cho đội ngũ nắm vững các quy định về nội dung “kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh”; Nhà quản lý đã “Chỉ đạo GV thực hiện KTĐG kết quả học tập của HS công bằng, khách quan”. Điều này đã thể hiện qua thống kê có 57.3% ý kiến đánh giá khá tốt nội dung này.

Ban giám hiệu các trường đã quan tâm chỉ đạo sâu sát việc tổ chức kiểm tra, đánh giá học sinh: từ khâu ra đề kiểm tra, chấm chữa bài, đến việc trả bài đúng quy chế; đặc biệt, rất quan tâm đến công tác đổi mới cách kiểm tra, đánh giá học sinh.

Đối với nội dung “Kiểm tra việc thực hiện hoạt động KTĐG kết quả học tập của HS của GV” cũng đã thực hiện khá; có 50.7% số CBQL, GV đánh giá khá tốt nội dung này và xếp hạng 2 trong các nội dung của bảng 2.12.

Nhìn vào bảng 2.12 cũng cho thấy, quản lý thực hiện kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong các nội dung: Tổ chức cho GV nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng, chức năng, các yêu cầu KTĐG các môn học; Phổ biến cho GV các văn bản qui định về KTĐG học sinh của ngành GD; Yêu cầu GV lập kế hoạch KT- ĐG kết quả học tập của HS theo yêu cầu của chương trình mặc dù có ĐTB đánh giá ở mức khá nhưng có trên 50% CBQL, GV đánh giá việc thực hiện các nội dung này chỉ ở mức trung bình.

Điều vừa trình bày cho thấy rằng việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của giáo viên đối với học sinh cần phải được chú trọng nhiều hơn. Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

2.4.3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy buổi thứ hai ở trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Quản lý hoạt động dạy buổi thứ hai ở trường tiểu học được thực hiện ở các nội dung cơ bản sau:

  • Quản lý hoạt động củng cố, luyện tập và nâng cao kiến thức phát triển năng khiếu;
  • Quản lý việc thực hiện hoạt động dạy các môn tự chọn;
  • Quản lý hoạt động dạy kỹ năng sống.

2.4.3.1 Quản lý hoạt động củng cố, luyện tập và nâng cao kiến thức phát triển năng khiếu cho HS ở trường tiểu học

Hoạt động củng cố, luyện tập và nâng cao kiến thức phát triển năng khiếu cho HS là một hoạt động diễn ra trong buổi thứ hai, đòi hỏi người quản lý không thể xem nhẹ hoạt động này. Đây là nội dung quản lý quan trọng trong quản lý hoạt động dạy buổi thứ hai. Khảo sát thực trạng việc quản lý hoạt động củng cố, luyện tập và nâng cao kiến thức phát triển năng khiếu cho HS ở trường tiểu học thị xã Bến Cát, chúng tôi thu được kết quả thể hiện thông qua bảng 2.13, cụ thể như sau:

Bảng 2.13. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động củng cố, luyện tập và nâng cao kiến thức phát triển năng khiếu cho HS

Thông qua bảng 2.13 cho thấy công tác củng cố, luyện tập và nâng cao kiến thức phát triển năng khiếu cho HS ở trường tiểu học được đánh giá với mức điểm trung bình chung là 3.37, mức trung bình và độ lệch chuẩn trung bình là 0.65 thể hiện sự đồng nhất cao trong đánh giá. Tuy nhiên, phân tích từng nội dung trong bảng 2.13 ta thấy:

  • Các nội dung quản lý được CBQL, GV đánh giá khá là: Xây dựng kế hoạch dạy học buổi thứ hai phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường; Tổ chức, chỉ đạo GV dạy các môn tự chọn theo qui định của Ngành; Tổ chức, chỉ đạo GV củng cố, luyện tập và nâng cao kiến thức, kỹ năng cho học sinh.
  • Các nội dung quản lý được CBQL, GV đánh giá ở mức trung bình bao gồm: Tổ chức phân tích chất lượng học sinh, phân loại học sinh khá giỏi, năng khiếu và học sinh học chậm; Xây dựng thời khóa biểu cho các đối tượng học sinh để tổ chức dạy học buổi thứ hai; Tổ chức, chỉ đạo GV bồi dưỡng học sinh năng khiếu Toán, Âm nhạc, Mỹ thuật….; Tổ chức, chỉ đạo GV thực hiện các hoạt động trải nghiệm cho HS; Kiểm tra hoạt động củng cố, luyện tập và nâng cao kiến thức phát triển năng khiếu cho học sinh. Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

Như vậy, CBQL các trường tiểu học thị xã Bến Cát cần quan tâm quản lý, chỉ đạo tốt hơn hoạt động củng cố, luyện tập và nâng cao kiến thức phát triển năng khiếu cho HS nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.

2.4.3.2 Quản lý việc thực hiện hoạt động dạy các môn tự chọn cho HS ở trường tiểu học

Chúng tôi đã hỏi ý kiến CBQL, GV về mức độ thực hiện quản lý hoạt động dạy các môn tự chọn cho HS ở trường tiểu học thị xã Bến Cát. Qua xử lý thông tin trong phiếu điều tra, chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 2.14 sau đây:

Bảng 2.14. Kết quả khảo sát việc thực hiện quản lý hoạt động dạy các môn tự chọn cho HS ở trường tiểu học

Từ bảng 2.14 cho thấy, trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động dạy các môn tự chọn cho HS ở trường tiểu học, các nội dung được CBQL, GV đánh giá ở mức khá bao gồm các nội dung xếp thứ hạng từ thứ 1 đến thứ 5. Đó là: Kiểm tra, giám sát thực hiện kế hoạch dạy theo chủ đề tự chọn; Thảo luận rút kinh nghiệm trong nhóm, tổ, hội đồng về dạy môn tự chọn; Chuẩn bị CSVC cho dạy học tự chọn; Chỉ đạo GV nghiên cứu nội dung, lựa chọn tài liệu phù hợp đối tượng học sinh; Phân công giáo viên dạy tự chọn; Chỉ đạo giáo viên giảng dạy tự chọn.

Qua trao đổi, phỏng vấn về vấn đề quản lý dạy các môn tự chọn cho HS ở trường tiểu học, chúng tôi đã ghi nhận được một số ý kiến như sau: “Hàng năm chúng tôi tổ chức, chỉ đạo cụ thể GV bồi dưỡng học sinh năng khiếu như Toán, Âm nhạc, Mỹ thuật…và tuyên truyền đến GV, HS và CMHS về mục đích ý nghĩa dạy học tự chọn đã đi vào thực chất và hiệu quả.” (QL01), “Để phát triển năng khiếu hoặc hướng dẫn HS lựa chọn các môn học tự chọn ở buổi hai chúng tôi xây dựng kế hoạch, thời khóa biểu phù hợp cho các đối tượng học sinh và luôn được kiểm tra, giám sát thực hiện kế hoạch dạy học theo chủ đề tự chọn.” (GV01), “Việc tổ chức và chỉ đạo phát triển năng khiếu hoặc hướng dẫn HS lựa chọn các môn học tự chọn ở buổi hai của trường tôi thực hiện khá tốt dưới sự chỉ đạo cụ thể của BGH. Tuy nhiên vẫn gặp không ít khó khăn trong việc chuẩn bị CSVC cho việc dạy học tự chọn.” (GV06)

Như vậy, trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động dạy các môn tự chọn cho HS ở trường tiểu học cho học sinh các trường đã thực hiện tương đối tốt việc chỉ đạo giáo viên dạy tự chọn; kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch; tổ chức rút kinh nghiệm của giáo viên tại trường.

Tuy nhiên, các nội dung khác như: Hướng dẫn học sinh lựa chọn môn học chủ đề tự chọn cho phù hợp; Tuyên truyền đến giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh về mục đích ý nghĩa dạy học tự chọn được giáo viên được cán bộ quản lý, GV đánh giá thấp, có điểm trung bình dao động từ 3.26 đến 3.30 điểm, nghĩa là ở mức trung bình.

Chính vì vậy, trong thời gian tới để làm tốt việc dạy các môn tự chọn cán bộ quản lý nhà trường cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động từ tuyên truyền, phổ biến cho GV, HS và CMHS về dạy học tự chọn, đến tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra dạy học các môn tự chọn. Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

2.4.3.3 Quản lý hoạt động dạy kỹ năng sống cho Học sinh ở trường tiểu học

Giáo dục kỹ năng sống cho HS tiểu học là một nội dung quan trọng, giúp HS được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa như trẻ tự chuẩn bị thức ăn, vệ sinh, phản ứng với sự việc trong cuộc sống… Thực trạng quản lý hoạt động dạy kĩ năng sống cho HS ở trường tiểu học thị xã Bến Cát được CBQL, GV nhận định thông qua phiếu khảo sát. Kết quả xử lý thông tin thể hiện qua bảng 2.15 cụ thể như sau:

Bảng 2.15. Kết quả khảo sát CBQL, GV về quản lý thực hiện hoạt động dạy kỹ năng sống cho HS

Thông qua bảng 2.15 cho thấy quản lý công tác dạy kỹ năng sống cho HS ở trường tiểu học được đánh giá cao với mức điểm trung bình chung là 3.41 và độ lệch chuẩn là 0.86 thể hiện sự thống nhất tương đối cao trong đánh giá. Các nội dung “Nhà trường xây dựng kế hoạch giáo dục KNS cho HS” với điểm trung bình là 3.89 xếp thứ 1; “Nhà trường hỗ trợ phương pháp, phương tiện cho HS tiếp cận những KNS cần thiết” với điểm trung bình là 3.62 xếp thứ 2 là các nội dung được CBQL, GV đánh giá thực hiện ở mức khá. Các nội dung còn lại từ thứ hạng 3 đến 4 đều được CBQL, GV cho rằng thực hiện chỉ ở mức trung bình.

Qua trao đổi phỏng vấn về vấn đề dạy kỹ năng sống cho HS ở trường tiểu học, chúng tôi đã ghi nhận được một số ý kiến có đồng quan điểm với kết quả khảo sát như sau: “Nhà trường luôn xây dựng kế hoạch GD KNS cho HS, hỗ trợ phương pháp và phương tiện cho HS tiếp cận những KNS cần thiết và thường xuyên kiểm tra đánh giá việc thực hiện giáo dục KNS cho học sinh của GV.” (QL01), Tuy nhiên có ý kiến khác cho rằng “Chỉ đạo xây dựng nội dung, chương trình dạy học để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Kế hoạch, nội dung giáo dục cần phải hài hòa giữa kiến thức khoa học với vận dụng thực tiễn; giữa thời gian trên lớp – thời gian tự học, trải nghiệm – tự nghiên cứu; chú trọng rèn luyện cả thể chất và tinh thần cho học sinh; tổ chức các hoạt động ngoại khóa, thảo luận nhóm theo các chuyên đề.” (QL03), “Xác định các kỹ năng cần giáo dục cho các em, các kỹ năng giáo dục kỹ năng sống thiết yếu trong các môn học, trong các mặt giáo dục còn hạn chế” (GV01), “GV xác định những kỹ năng cần giáo dục cho HS, ngoài những tiết Ôn luyện riêng biệt cho từng phân môn mà GV linh hoạt chọn các phương pháp, đa dạng hóa các hình thức lên lớp tạo những sân chơi trí tuệ cho HS cũng vô cùng quan trọng, các em được ôn kiến thức, được luyện kỹ năng, được phát triển toàn diện trong không khí thi đua sôi nổi, vui tươi, lành mạnh.” (GV05)

Như vậy, trong thời gian tới để làm tốt việc dạy kỹ năng sống nhà trường cần đẩy mạnh các nội dung quản lý đối với công tác quản lý hoạt động dạy KNS cho học sinh. Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

2.4.4 Quản lý các điều kiện đảm bảo dạy hai buổi/ngày ở trường tiểu học

Chất lượng dạy học trong nhà trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố; trong đó, yếu tố về phương tiện, điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học giữ một vị trí hết sức quan trọng. Vì vậy, người quản lý cần phải có biện pháp quản lý tốt các điều kiện này. Trên thực tế ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát đã được CBQL, GV cho rằng mức độ thực hiện chỉ ở mức trung bình. Kết quả khảo sát CBQL, GV được thể hiện ở bảng 2.16 phản ảnh điều đó:

Bảng 2.16. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý các điều kiện đảm bảo dạy hai buổi/ngày ở trường tiểu học

Thông qua bảng 2.16 cho thấy cho thấy, hiệu trưởng đã có quan tâm đến điều kiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy của nhà trường, có kế hoạch đầu tư mua sắm tài liệu, đồ dùng dạy học, xây dựng môi trường dạy học. Tuy nhiên cơ sở vật chất nhà trường, chế độ chính sách cho giáo viên dạy buổi thứ hai còn nhiều khó khăn. Theo ý kiến của CBQL, GV thì các nội dung này thực hiện chỉ ở mức trung bình. Kết quả này phù hợp với thực tế còn nhiều vấn đề đáng bàn luận: việc mua sắm, trang bị thiết bị, đồ dùng dạy học chưa đáp ứng yêu cầu thực tế giảng dạy của nhà trường. Sách và thiết bị dạy học đã được bổ sung cho các nhà trường nhưng chưa thật đầy đủ, chưa đáp ứng được yêu cầu dạy học của giáo viên và học sinh trong việc đổi mới phương pháp dạy học, ảnh hưởng đến chất lượng dạy học trong nhà trường. Thiết bị, đồ dùng dạy học của các trường còn nhiều “khiêm tốn”, việc sử dụng có hiệu quả các thiết bị đồ dùng chưa được khai thác đúng mức. Một số thiết bị, đồ dùng được cấp trên phân phối, nhiều lúc không phù hợp thực tế đơn vị hoặc đã lỗi thời, giá trị sử dụng thấp. Nhiều trường có diện tích chật hẹp, thiếu sân chơi, các phòng chức năng, phòng thư viện – thiết bị được bố trí chung với phòng giáo viên, cán bộ chuyên trách thiếu,… nên chưa khai thác có hiệu quả hoạt động của phòng thư viện – thiết bị.

Qua trao đổi phỏng vấn về vấn đề các điều kiện đảm bảo việc dạy hai buổi/ngày, chúng tôi đã ghi nhận được một số ý kiến có đồng quan điểm với kết quả khảo sát như sau: “Đội ngũ giáo viên trẻ, năng động đó là thuận lợi ở trường tôi. Tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn như thiếu phòng học, chưa có phòng chức năng.” (QL03), Tuy nhiên cũng có chia sẻ: “Tài liệu tham khảo còn ít, thiết bị dạy học còn nghèo nàn, còn thiếu các phương tiện nghe, nhìn…đó là những khó khăn trường tôi đang gặp phải. Cần sự hỗ trợ và đầu tư của Ngành.” (QL04), còn theo chia sẻ của giáo viên như sau: “Điều khó khăn nhất tại trường tôi hiện nay là CSVC còn thiếu: phòng học, thiết bị DH, sân bãi, phòng thực hành…” (GV04)

Như vậy, để đảm bảo việc dạy hai buổi/ngày thì nhà trường cần đẩy mạnh hơn nữa các điều kiện: Tài liệu, đồ dùng dạy học; Cơ sở vật chất của nhà trường (phòng ốc, sân bãi, phòng thực hành…); môi trường dạy học; Chế độ chính sách cho GV dạy buổi thứ 2…

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày của các trường tiểu học trên địa bàn Thị Xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

2.5.1 Thực trạng ảnh hưởng bởi yếu tố khách quan

Kết quả khảo sát từ cán bộ quản lý và giáo viên về yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày tại các trường tiểu học được thể hiện trong bảng 2.17 như sau:

Bảng 2.17. Khảo sát thực trạng yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày

Từ bảng 2.17 cho thấy các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày cho học sinh. Chúng ta thấy, CBQL, GV cho rằng các yếu tố này ảnh hưởng nhiều, rất nhiều. Các yếu tố ảnh hưởng rất nhiều là: CSVC còn thiếu: phòng học, thiết bị DH, sân bãi, phòng thực hành…với giá trị trung bình 4.37, xếp hạng 1. Chế độ chính sách cho GV dạy buổi thứ hai chưa thỏa đáng với giá trị trung bình 4.23, xếp hạng 2, đạt mức rất nhiều trong thang đo mức độ ảnh hưởng. Văn bản chỉ đạo hoạt động dạy hai buổi/ngày chưa đầy đủ cũng là yếu tố có ảnh hưởng nhiều đến công tác quản lý dạy hai buổi/ngày. Yếu tố được đánh giá thấp nhất là Điều kiện kinh tế – Xã hội địa phương với giá trị trung bình 3.01, xếp hạng 5, đạt mức trung bình trong thang đo mức độ ảnh hưởng.

2.5.2 Thực trạng ảnh hưởng bởi yếu tố chủ quan

Kết quả khảo sát từ CBQL và GV về yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày tại các trường tiểu học được thể hiện trong bảng 2.18, cụ thể như sau:

Bảng 2.18. Khảo sát thực trạng yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày

Từ bảng 2.18 cho thấy, các yếu tố chủ quan đều ảnh hưởng đến quản lý của Hiệu trưởng trong công tác quản lý dạy hai buổi/ngày. Cụ thể như sau:

Yếu tố “Trình độ, năng lực của CBQL trong việc quản lý dạy học buổi thứ hai còn hạn chế” với điểm trung bình là 4.39 và yếu tố “Nhận thức của CBQL và giáo viên về dạy hai buổi/ngày” với điểm trung bình là 4.26 được xem là 2 yếu tố có ảnh hưởng rất nhiều đến quản lý hoạt động động dạy hai buổi/ngày cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương.

Bên cạnh đó, các yếu tố như: “Trình độ, năng lực của GV trong việc dạy học buổi thứ hai còn hạn chế” với điểm trung bình là 3.13; và “Nhận thức của cha mẹ HS về học hai buổi/ngày” là yếu tố ảnh hưởng ở mức trung bình trong quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày cho học sinh với điểm trung bình là 2.90. Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày của các trường tiểu học trên địa bàn Thị Xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

2.6.1 Ưu điểm trong công tác quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày

Các trường có đội ngũ giáo viên có thâm niên lâu năm trong ngành giáo dục và đều có bằng cử nhân, gắn bó với nghề. Bên cạnh đó, các em học sinh rất tôn trọng thầy cô giáo, ý thức tự học cao và biết lắng nghe, nghe lời thầy cô giáo. Đồng thời, đa số giáo viên và cán bộ quản lý, CMHS có nhận thức khá cao về hoạt động dạy hai buổi/ngày cũng như quản lý dạy hai buổi/ngày.

Từ nhận thức đúng đắn đó, nên trong thực tế các trường tiểu học thị xã Bến Cát hiện nay đã thực hiện khá tốt quản lý thực hiện nội dung, chương trình chính khóa. GV bám sát vào chương trình của Bộ, sách giáo khoa, không có hiện tượng, tình trạng dồn ép, cắt xén chương trình.

Đối với quản lý hoạt động dạy buổi thứ hai, ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, các CBQL đã thực hiện được các nội dung cơ bản sau: Quản lý hoạt động củng cố, luyện tập và nâng cao kiến thức phát triển năng khiếu; Quản lý việc thực hiện hoạt động dạy các môn tự chọn; Quản lý hoạt động dạy kỹ năng sống. Nhiều nội dung được CBQL, GV đánh giá thực hiện ở mức khá như: Xây dựng kế hoạch dạy học buổi thứ hai phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường; Tổ chức, chỉ đạo GV dạy các môn tự chọn theo qui định của Ngành; Tổ chức, chỉ đạo GV củng cố, luyện tập và nâng cao kiến thức, kỹ năng cho học sinh; Kiểm tra, giám sát thực hiện kế hoạch dạy theo chủ đề tự chọn; Thảo luận rút kinh nghiệm trong nhóm, tổ, hội đồng về dạy môn tự chọn…

2.6.2 Hạn chế trong công tác quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày

Trong công tác quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày nói riêng. Ngoài các ưu điểm cần tiếp tục phát huy, bên cạnh đó còn có các hạn chế sau:

Việc đổi mới phương pháp chưa đi vào chiều sâu và trở thành yêu cầu trọng tâm của việc chuyển tải nội dung kiến thức môn học. Hiện nay phần lớn còn thể hiện ở các tiết thao giảng, minh họa chuyên đề hơn là ở các tiết thường ngày để đem lại hiệu quả thiết thực cho HS trong hoạt động học tập. Giáo viên còn lệ thuộc quá nhiều vào sách hướng dẫn giảng dạy, chưa mạnh dạn sáng tạo, bổ sung kiến thức, liên hệ thực tế. Còn ngại dạy khác với sách vở đã ghi… Tài liệu, sách tham khảo quá nhiều trên thị trường, giáo viên không có điều kiện chọn lọc khi sử dụng và hướng dẫn học sinh sử dụng.

Một bộ phận CBQL, GV và CMHS chưa có nhận thức đầy đủ về dạy hai buổi/ngày, quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày. Đối với quản lý dạy học buổi thứ nhất, quản lý thực hiện đổi mới phương pháp dạy học còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu; công tác kiểm tra hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của giáo viên đối với học sinh cần phải được chú trọng nhiều hơn.

Đối với quản lý dạy buổi thứ hai còn một số hạn chế trong các nội dung: Tổ chức phân tích chất lượng học sinh, phân loại học sinh khá giỏi, năng khiếu và học sinh học chậm; Xây dựng thời khóa biểu cho các đối tượng học sinh để tổ chức dạy học buổi thứ hai; Tổ chức, chỉ đạo GV bồi dưỡng học sinh năng khiếu Toán, Âm nhạc, Mỹ thuật….; Tổ chức, chỉ đạo GV thực hiện các hoạt động trải nghiệm cho HS; Kiểm tra hoạt động củng cố, luyện tập và nâng cao kiến thức phát triển năng khiếu cho học sinh. Đối quản lý việc thực hiện hoạt động dạy các môn tự chọn cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động từ tuyên truyền, phổ biến cho GV, HS và CMHS về dạy học tự chọn, đến tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra dạy học các môn tự chọn. Quản lý hoạt động dạy kỹ năng sống cho HS cần chú trọng công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện dạy kỹ năng sống. Các nhà trường cần tăng cường quản lý việc sử dụng, bảo quản có hiệu quả các điều kiện phục vụ dạy hai buổi/ngày. Nhà trường cần đẩy mạnh việc mua sắm, trang bị tài liệu, đồ dùng dạy học, Cơ sở vật chất của nhà trường (phòng ốc, sân bãi, phòng thực hành…), quan tâm thực hiện chế độ chính sách cho CBGV.

2.6.3 Nguyên nhân của ưu, nhược điểm trong quản lý dạy hai buổi/ngày Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

Nhìn chung, đội ngũ CBQL giáo dục các trường có ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn sư phạm cao, có kinh nghiệm trong công tác quản lý giáo dục và đa số CBQL đều nhận thức rõ thực chất của công tác quản lí hoạt động trong nhà trường là quản lí hoạt động dạy học và đều khẳng định chất lượng giáo dục toàn diện của trường chủ yếu và căn bản thể hiện ở chất lượng dạy học. Dựa trên hệ thống các chế định về giáo dục và đào tạo, Hiệu trưởng đã xây dựng kế hoạch, đề ra biện pháp chỉ đạo để quản lí hoạt động dạy đạt mục tiêu đề ra ở mức độ cao nhất có thể trong điều kiện thực tế về kinh tế – xã hội địa phương của và các điều kiện hiện có của nhà trường.

Tuy nhiên, trong công tác quản lí nhà trường nói chung và quản lí hoạt động dạy hai buổi/ngày nói riêng, các CBQL đã sử dụng các biện pháp cơ bản để quản lí nhưng vẫn chưa thật sự đồng bộ và chưa thực hiện thường xuyên và kết quả thực hiện chỉ dừng lại ở mức khá hoặc trung bình. Trong quản lí hoạt động dạy buổi thứ hai chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, cảm tính, thiếu chủ động, sáng tạo trong quản lí. Bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục chưa tích cực, chủ động học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Một số CBQL, GV và CMHS chưa có nhận thức đầy đủ về dạy hai buổi/ngày, quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày. Dẫn đến tổ chức hoạt động dạy hai buổi/ngày và quản lý thực hiện dạy hai buổi/ngày chưa đi vào chiều sâu. Các văn bản hướng dẫn cụ thể về hoạt động dạy hai buổi/ngày chưa đầy đủ; điều kiện cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ dạy hai buổi/ngày còn thiếu thốn; chế độ chính sách cho giáo viên dạy buổi thứ hai chưa thỏa đáng là những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, khuyết điểm trong quản lí hoạt động dạy hai buổi/ngày ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương là đô thị có tốc độ phát triển khá nhanh, là địa phương có phong trào giáo dục mạnh, nhân dân có truyền thống hiếu học. Đảng bộ và chính quyền các cấp rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đa số yêu nghề yêu trẻ, luôn nhiệt tình, tự trọng và tinh thần trách nhiệm cao. Cơ sở vật chất tại các trường, lớp và trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ, ngày càng đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học.

Thông qua điều tra bằng bảng hỏi, kết hợp với nghiên cứu hồ sơ, sản phẩm hoạt động và phỏng vấn, đề tài đã tìm hiểu và phân tích thực trạng dạy hai buổi/ngày và quản lý dạy hai buổi/ngày ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Đề tài cũng tìm hiểu thực trạng các yếu tố chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến quản lý dạy hai buổi/ngày.

Kết quả nghiên cứu thực trạng ở chương 2 là cơ sở thực tiễn để tác giả đề xuất các biện pháp đưa ra nhằm khắc phục những hạn chế thiếu sót trong quá trình quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy cho học sinh trường tiểu học, cũng như trong quá trình quản lý hoạt động dạy hai buổi/ngày cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương. Các biện pháp đề xuất được trình bày trong chương 3 của luận văn. Luận văn: Thực trạng QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL dạy hai buổi ngày ở các trường tiểu học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993