Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát tình hình kinh tế – xã hội và giáo dục của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

2.1.1. Về kinh tế – xã hội

Theo thông tin được đăng trên cổng thông tin điện tử chính thức của Ủy ban nhân dân thị xã Dĩ An với địa chỉ là dian.binhduong, Dĩ An là một thị xã của tỉnh Bình Dương, tiếp giáp với 2 thành phố là Biên Hòa và Thành phố Hồ Chí Minh đồng thời là cửa ngõ quan trọng để đi các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh phía Bắc. Thị xã Dĩ An là một trong những nơi tập trung nhiều khu chế xuất, với 7 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động là Sóng Thần 1, Sóng Thần 2, Bình Đường, Tân Đông Hiệp A, Tân Đông Hiệp B, KCN Tân Bình, Cụm công nghiệp may mặc Bình An.

Năm 2024, Thị xã Dĩ An tiếp tục xác định tập trung cao độ cho việc triển khai thực hiện mục tiêu, lộ trình xây dựng thành đô thị loại II. Theo đó, bên cạnh việc triển khai các nội dung theo chương trình công tác năm của tỉnh, thị xã Dĩ An cũng đã bổ sung nhiều nội dung cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Bà Ngô Ngọc Điệp, Phó Bí thư Thường trực Thị ủy Dĩ An cho biết: “Điển hình như đối với công tác xây dựng Đảng, thị xã đã kịp thời có các giải pháp cần thiết để nâng cao chất lượng quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Thị ủy chú trọng nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân thông qua đội ngũ báo cáo viên, đội ngũ cán bộ tuyên giáo cơ sở; gắn kết thường xuyên, chặt chẽ công tác tư tưởng với thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội; đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng phát huy dân chủ, có trọng tâm, trọng điểm và sát cơ sở; quan tâm giải quyết kịp thời từ sớm, từ gốc những vấn đề khó khăn, vướng mắc của các cấp các ngành và những vấn đề xã hội bức xúc”.

Đối với lĩnh vực kinh tế, thị xã tập trung khai thác hiệu quả những tiềm năng thế mạnh để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội để tạo bước đột phá; đồng thời đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh. Đặc biệt, hiện thị xã Dĩ An đã chấm dứt việc đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp ngoài khu, cụm công nghiệp.

Năm 2024, để triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả kế hoạch thực hiện chương trình phát triển đô thị Dĩ An giai đoạn 2022-2020, tầm nhìn 2025, thị xã Dĩ An tăng cường phối hợp xúc tiến, thu hút đầu tư vào các dự án trên địa bàn; tạo điều kiện thuận lợi, đồng hành cùng các nhà đầu tư để triển khai và hoàn thành các dự án trọng điểm đúng tiến độ; tích cực, chủ động phối hợp với sở, ngành của tỉnh sớm triển khai các dự án giao thông có tính động lực, như: Đường Mỹ Phước – Tân Vạn nối dài, mở rộng xa lộ Hà Nội giai đoạn 2, xây dựng đường Bắc Nam 3, đường ĐT743B và nút giao thông cầu vượt Sóng Thần…

2.1.2. Về giáo dục Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Toàn thị xã Dĩ An hiện có 38 trường từ bậc mầm non đến bậc THPT với tổng số 46.642 học sinh (HS). Hầu hết, các trường đã được xây dựng mới, đầu tư trang thiết bị theo hướng đạt chuẩn. Trong đó, có 31/38 (82%) trường được lầu hóa, 80,65% trường đạt chuẩn quốc gia. (Thư viên tỉnh Bình Dương, 2021)

Quy mô giáo dục của thị xã Dĩ An cũng liên tục được mở rộng, nâng chất, trình độ dân trí ngày càng nâng cao, các điều kiện bảo đảm giáo dục được tăng cường. Đặc biệt, công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng phát triển, góp phần thực hiện tốt mục tiêu và chương trình GD-ĐT, tạo sự công bằng trong GD-ĐT, tạo điều kiện cho mọi người được học tập thường xuyên, học tập suốt đời, cả thị xã là một xã hội học tập. Được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, sự ủng hộ của toàn dân và đặc biệt là sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, giáo viên trong những năm qua, ngành GD-ĐT thị xã Dĩ An đã thực sự góp phần vào những thắng lợi trong công tác PCGD ở tất cả các bậc học. Đến nay, tại thị xã Dĩ An có 100% phường đạt chuẩn phổ cập bậc THPT.

Thông qua báo cáo tổng kết năm học 2023 – 2024 và kế hoạch nhiệm vụ năm học 2024 – 2025 Số: 1742/BC-PGDĐT ngày 17/8/2024

Năm học 20232024, toàn ngành Giáo dục tiếp tục thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo đổi mới giáo dục và đào tạo tỉnh Bình Dương giai đoạn 2022 – 2020, là năm thứ ba toàn ngành thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2021-2020, tiếp tục thực hiện Chương trình hành động số 81- CTHĐ/TU ngày 03/4/2020 của Tỉnh ủy Bình Dương và kế hoạch số 3641/KH- UBND tỉnh Bình Dương về thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Trên cơ sở đó ngành Giáo dục và Đào tạo thị xã Dĩ An thực hiện chủ đề năm học 20232024 là “Đổi mới thực chất, hiệu quả nâng cao” cùng với phương châm hành động “Trách nhiệm -Năng động – Sáng tạo” và khẩu hiệu hành động “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Toàn ngành “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” tích cực thi đua học tập với 3 nội dung lớn: Trách nhiệm trong công việc, noi gương trong đời sống và dân chủ trong hoạt động. Gắn với việc tổ chức và thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo”.

Căn cứ vào các hoạt động thực tế của các đơn vị trường học trực thuộc thông qua báo cáo tổng kết, Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Dĩ An báo cáo kết quả và các thành tích đạt được trong năm học 2023 2024

  • Về đặc điểm tình hình Thuận lợi: Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Ngành Giáo dục và Đào tạo thị xã Dĩ An luôn có được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương, Thị uỷ, Uỷ ban nhân dân thị xã Dĩ An, cùng sự phối hợp, hỗ trợ tích cực của các Ban, Ngành, Đoàn thể, Hội cựu giáo chức, Hội khuyến học tạo mọi điều kiện để ngành hoàn thành nhiệm vụ năm học 2023-2024.

Mạng lưới trường lớp trong địa bàn thị xã Dĩ An được quy hoạch phù hợp với tình hình phát triển của địa phương, toàn thị xã có 37/42 trường lầu hoá, đạt tỷ lệ: 88,09%, nhiều trường được xây mới theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa, trang thiết bị được đầu tư tăng cường theo hướng đồng bộ và hiện đại, đáp ứng tốt nhu cầu dạy và học.

Đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên ở các bậc học mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở (MNMG, TH, THCS) đạt chuẩn trình độ, năng động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm cao, tận tâm với nghề và được bổ sung đầy đủ để thực hiện tốt công tác quản lí và giảng dạy.

Các em học sinh chăm ngoan, lễ phép với thầy cô, hòa đồng, thân thiện với bạn bè, tích cực tham gia các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, đa phần các em nhận thức được tầm quan trọng của việc học, các em đều có sự phấn đấu, rèn luyện, định hướng nghề nghiệp trong tương lai.

Trên địa bàn thị xã ngày càng có nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đóng góp, hỗ trợ kinh phí giúp đỡ cho các trường và con em học sinh có hoàn cảnh khó khăn, con em gia đình chính sách, cấp học bổng cho học sinh nghèo hiếu học, học sinh giỏi để các em học tập tốt.

  • Khó khăn:

Một bộ phận cán bộ quản lí, giáo viên còn chưa chủ động trong giảng dạy, chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp, chưa nhiệt tình giảng dạy và giáo dục học sinh. Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Một số phụ huynh học sinh chưa nhận thức hết tầm quan trọng của giáo dục nên còn chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em, đã ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và công tác phổ cập giáo dục ở địa phương.

Do việc tăng dân số cơ học quá mạnh nên lượng học sinh tăng hằng năm khá cao (khoảng trên 5.000 HS/1 năm học) đã ảnh hưởng lớn đến việc chuẩn bị cơ sở vật chất, công tác dạy 2 buổi/ngày và chất lượng giáo dục đào tạo.

Bên cạnh những biểu hiện tích cực vẫn còn một bộ phận học sinh đã bị sự tác động của lối sống thực dụng, hưởng thụ nên còn lười học tập, sinh hoạt thiếu lành mạnh đã ảnh hưởng đến việc học tập và công tác giáo dục đạo đức cho các em.

Cũng trong năm học 20232024, số lượng trường, lớp thị xã Dĩ An gồm: 23 trường tiểu học (trong đó có 20 trường công lập, 3 trường tư thục: Trường Trung – Tiểu Học Việt Anh 2, Trường Trung -Tiểu Học Phan Chu Trinh, MN-TH Quê Hương) với 817 lớp/ 34.204 Học sinh. Năm học 2023-2024 có 18/20 trường tổ chức dạy 2 buổi/ngày và bán trú (Trường TH Bùi Thị Xuân và TH Tân Đông Hiệp dạy 1 buổi/ngày). Tỷ lệ bán trú đạt 67,7%. Tổng số trẻ 6 tuổi huy động vào lớp 1 đạt 100% (8.644/ 8.644 trẻ). Số học sinh bỏ học là 15 em (15/ 34.219 – tỉ lệ 0,04%). Nguyên nhân bỏ học là do một số học sinh theo gia đình chuyển đi nơi khác, số ít còn lại do học lực yếu, còn mặc cảm với bạn bè hoặc do hoàn cảnh gia đình khó khăn, phụ huynh thiếu quan tâm nên đã bỏ học.

Với tổng số CB-GV-NV là 1.373 trong đó có 68 CBQL và 1.094 GV trực tiếp giảng dạy, nhân viên 211. Đạt chuẩn 100 %, trên chuẩn 1.075 /1.162 (92,51%).

  • Về kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học 2023 – 2024
  • Công tác phát triển giáo dục:

Năm học 2023-2024 có số học sinh đầu năm 34.219/817 lớp và cuối năm học 2023-2024 là 34.204 em (trong đó có 16.619 nữ), với 817 lớp. Trong năm số học sinh bỏ học là 15 em (15/ 34.219); tỉ lệ 0,04%. Tổng số trẻ 6 tuổi huy động vào lớp 1 đạt 100% (8.644/ 8.644).

Giáo viên, học sinh các trường đều thực hiện tốt quy chế chuyên môn về giảng dạy, học tập, thi cử, bảo đảm ngày giờ công đồng thời tham gia tốt các Hội thi giáo viên, học sinh cấp tỉnh đạt nhiều thành tích cao.

  • Về các mặt hoạt động, giáo dục: Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Ngành Giáo dục tiếp tục thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, đổi mới công tác quản lý chỉ đạo nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục; củng cố kết quả chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.

Thực hiện tốt cuộc vận động “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường”, 100 % trẻ 6 tuổi được huy động vào học lớp 1; 100% học sinh hoàn thành chương trình bậc tiểu học ở các trường tiểu học đều được tuyển vào học lớp 6 của các trường THCS trên địa bàn.

Các trường đều thực hiện chương trình thay sách, tổ chức cho giáo viên học chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học. Việc đánh giá xếp loại học sinh được thực hiện nghiêm túc đúng theo Thông tư số 22/2022/TT-BGDĐT về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 30/2020/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh được ổn định, tiết học nhẹ nhàng, sinh động. Tất cả các trường đều dạy đủ các môn học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các môn Thể dục, Hát-Nhạc, Mỹ thuật, Tin học, tiếng Anh đều có đủ giáo viên chuyên trách giảng dạy và dạy chất lượng.

Các trường có tổ chức cho học sinh học 2 buổi/ngày (có bán trú) đã bố trí giáo viên chủ nhiệm là những giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, yêu nghề – mến trẻ và có nhiều kinh nghiệm.

Việc giảng dạy 2 buổi/ngày có hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh được đa số phụ huynh đồng thuận và hưởng ứng tích cực. Các buổi dạy thứ hai (buổi chiều) được giáo viên thực hiện để ôn luyện giúp học sinh được nâng dần kiến thức, tăng cường các hoạt động giáo dục kỹ năng sống và trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường. Bên cạnh đó, việc tổ chức học 2 buổi/ ngày (hoặc bán trú) đã góp phần hạn chế tối đa việc dạy thêm, học thêm tràn lan không đúng quy định. Các trường đã tổ chức các lớp học linh hoạt, bồi khá, phụ kém nên chất lượng học tập, giáo dục ngày càng được nâng lên.

Số trường đạt chuẩn quốc gia là 12/20 trường (tỉ lệ 60 %). Kế hoạch năm học 2024-2025: Phấn đấu 2 trường đạt chuẩn Quốc gia gồm: TH Dĩ An B, TH Nhị Đồng.

Tổ chức thao giảng cấp Thị xã lần 1, ngày ngày 14/10/2023 (từ khối lớp 1 đến khối lớp 5 và các môn chuyên trách) tại trường tiểu học Tân Đông Hiệp B và Tiểu học Dĩ An C. Tổ chức thao giảng cấp Thị xã lần 2, ngày 24/3/2024 (từ khối lớp 1 đến khối lớp 5 và các khối chuyên trách) tại trường TH An Bình và TH Nguyễn Khuyến.

Cuối năm học, có 5,875/5,875 học sinh được công nhận hoàn thành chương trình Bậc tiểu học (tỉ lệ 100 %).

  • Bảng 2.1 Kết quả xếp loại Giáo dục cuối năm học 2023 – 2024
  • Bảng 2.2 Xếp loại Năng lực và Phẩm chất

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

2.2.1. Mục đích khảo sát

Thu thập số liệu, thông tin chính xác, cụ thể về thực tế quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2.2.2. Công cụ khảo sát

Nhằm hoàn thành mục tiêu nghiên cứu và khảo sát, tác giả thiết kế phiếu trưng cầu ý kiến dành cho cán bộ quản lí và giáo viên các trường tiểu học. Phiếu khảo sát gồm có 20 câu hỏi được chia thành 3 nhóm nội dung cụ thể là:

  1. Thông tin chung về người trả lời bao gồm đơn vị công tác, giới tính, chức vụ, thâm niên và trình độ chuyên môn.
  2. Khảo sát thực trạng sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Khảo sát thực trạng quản lí sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2.2.3. Nội dung khảo sát

Nội dung cụ thể của phiếu trưng cầu ý kiến như sau: Đầu tiên, về thực trạng sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, nội dung này được thể hiện thông qua các câu hỏi về thực trạng các lĩnh vực: Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

  • Mục tiêu sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Nội dung sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Phương pháp sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Hình thức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Kiểm tra, đánh giá sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Tiếp theo là nội dung chính của đề tài nghiên cứu, về thực trạng công tác quản lí sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, nội dung này được thể hiện thông qua những câu hỏi về thực trạng các lĩnh vực:

  • Nhận thức của Cán bộ quản lí trường tiểu học về tầm quan trọng của việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học.
  • Lập kế hoạch quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Tổ chức quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Lãnh đạo quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

  • Kiểm tra, đánh giá quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2.2.4. Cách thức khảo sát

  • Khảo sát qua phiếu hỏi, bảng biểu thống kê
  • Trao đổi phỏng vấn trực tiếp
  • Quan sát
  • Phân tích số liệu, tổng hợp báo cáo

2.2.5. Qui ước thang đo Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Tác giả sử dụng phần mềm SPSS for Windows 22.0 để xử lý số liệu và đánh giá các nội dung khảo sát từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, qui ước thang thứ bậc và thang định khoảng theo 5 mức độ tương ứng từ 1 – 5 như sau:

  1. Mức Không cần thiết/ Không thường xuyên/ Kém/ Không quan trọng (ĐTB: 1.00 – 1.49),
  2. Mức Ít cần thiết/ Ít thường xuyên/ Không tốt/ Ít quan trọng (ĐTB: 50 – 2.49),
  3. Mức Cần thiết/ Thường xuyên/ Trung bình/ Quan trọng (ĐTB: 50 – 3.49),
  4. Mức Khá cần thiết/ Khá thường xuyên/ Tốt/ Khá quan trọng (ĐTB: 3.50 – 4.49),
  5. Mức Rất cần thiết/ Rất thường xuyên/ Rất tốt/ Rất quan trọng (ĐTB: 50 – 5.00).

2.2.6. Mẫu nghiên cứu (quản lí và giáo viên)

Nghiên cứu được thực hiện chủ yếu qua phương pháp thu thập ý kiến bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS.

Trong đó, việc thu thập ý kiến bằng bảng hỏi được tiến hành trên 191 giáo viên và cán bộ quản lí (CBQL) ở các trường tiểu học thị xã Dĩ An, Tỉnh Bình Dương. Kết quả thu được dưới đây:

  • Bảng 2.3 Số liệu về mẫu nghiên cứu
  • Bảng 2.4 Trình độ, thâm niên công tác

Trong 191 giáo viên và cán bộ quản lí được tiến hành khảo sát thì 163 giáo viên có trình độ cử nhân chiếm 85.3%, có 10 giáo viên có trình độ khác chiếm 45.2%. Có 1 giáo viên được khảo sát có trình độ thạc sĩ. Và trong 17 cán bộ quản lí được khảo sát thì có 15 cán bộ quản lí có trình độ cử nhân chiếm 7.8%, có 2 cán bộ quản lí có trình độ thạc sĩ chiếm 1.05%. Không có cán bộ quản lí nào được khảo sát có trình độ tiến sĩ. Từ số liệu cho thấy, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí ở các trường tiểu học thị xã Dĩ An có trình độ học vấn cao, đáp ứng yêu cầu công tác.

Đối với thâm niên công tác trong ngành giáo dục thì trong 191 giáo viên và cán bộ quản lí có 32 giáo viên có thâm niên dưới 5 năm chiếm 16.7%, có 56 giáo viên có thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm chiếm 29.3%, 23 giáo viên có thâm niên công tác trên 10 năm chiếm 12.0%, trên 15 năm có 63 giáo viên chiếm 32.9%. Và trong 17 cán bộ quản lí thì tất cả đều có thâm niên công tác trên 5 năm. Số liệu cho thấy đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí ở các trường tiểu học ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đều có những kinh nghiệm công tác lâu năm. Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Như vậy, có thể thấy là đặc điểm mẫu khảo sát đa dạng, gồm nhiều thành phần khác nhau nên có thể thu được thông tin từ nhiều góc độ. Sự đa dạng của mẫu khảo sát sẽ làm kết quả nghiên cứu thêm phần chính xác.

2.3. Thực trạng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Đúc kết từ quá trình nghiên cứu hệ thống cơ sở lí luận, quan sát thực tế và hỏi ý kiến chuyên gia, chúng tôi nhận thấy thực trạng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương được thể hiện thông qua các nội dung là:

  1. Mục tiêu đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  2. Xây dựng kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  3. Nội dung đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  4. Quy trình hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  5. Hình thức tổ chức hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  6. Kiểm tra – đánh giá hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.

2.3.1.  Thực trạng về mục tiêu đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Mục tiêu tối quan trọng trong đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học nhằm nâng cao năng lực quản lí và năng lực hoạt động chuyên môn cho cán bộ quản lí và giáo viên là đảm bảo tính triết lí sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học. Nhờ đó, công tác này sẽ đổi mới trong tư duy và sinh hoạt chuyên môn theo xu hướng tiếp cận phương pháp dạy học tích cực ở CBQL và GV, giúp làm thay đổi căn bản về phương pháp thiết kế giờ dạy, tổ chức hoạt động trong giờ dạy, nội dung và hình thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn. Ngoài ra, nó còn phát huy tính tích cực của học sinh. Do đó, cần sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đảm bảo tính triết lí sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Chúng tôi nghiên cứu nhận thức của tập thể CBQL và GV về tầm quan trọng của đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đảm bảo tính triết lí sinh hoạt chuyên môn và mức độ thực hiện công tác này. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “Không quan trọng” đến 5 là “rất quan trọng” và từ 1 là “kém” đến 5 là “rất tốt”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây. Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

  • Bảng 2.5 Thực trạng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đảm bảo tính triết lí sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học

Số liệu thống kê cho thấy: Tập thể CBQL và GV đánh giá việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đảm bảo tính triết lí sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học tại thị xã Dĩ An có mức quan trọng thấp (ĐTB = 2.13); mặt khác, mức độ thực hiện của nó là không tốt (ĐTB = 1.83). Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy độ lệch chuẩn rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau. Như vậy, các thầy cô đánh giá tầm quan trọng của công tác này rất thấp nên cũng không chú trọng thực hiện nó. Trong đó, nội dung “SHCM theo NCBH đảm bảo tính triết lí SHCM qua đảm bảo cho mọi phụ huynh tham gia vào qúa trình học tập HS” có thứ hạng cao nhất và ngược lại, thứ hạng thấp nhất là nội dung “SHCM theo NCBH đảm bảo tính triết lí SHCM qua đảm bảo cơ hội phát triển chuyên môn cho mọi GV”.

Độ lệch chuẩn dùng để mô tả sự phân tán của điểm giá trị (điểm đánh giá của các giáo viên) so với giá trị trung bình (3) trong số liệu thống kê. Độ lệch chuẩn càng lớn thì số liệu thống kê thu được càng bị phân tán và ngược lại. Nghĩa là, độ lệch chuẩn đo tính biến động của điểm đánh giá của các giáo viên. Nó thể hiện sự chênh lệch về giá trị của điểm đánh giá so với giá trị trung bình. Nếu sự chênh lệch không đáng kể thì độ lệch chuẩn và tính biến động ở mức thấp. Do đó, điểm số của ĐLC thấp cho thấy các thầy cô có đánh giá tương đồng với nhau.

Tóm lại, kết quả khảo sát cho thấy thực trạng đáng buồn là các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An không coi trọng việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đảm bảo tính triết lí sinh hoạt chuyên môn. Đây là điều mà các nhà quản lí cần phải xem xét để cải thiện.

2.3.2. Thực trạng xây dựng kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Chúng tôi nghiên cứu nhận thức của tập thể CBQL và GV về tầm quan trọng của việc xây dựng kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học và mức độ thực hiện công tác này. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “Không quan trọng” đến 5 là “rất quan trọng” và từ 1 là “kém” đến 5 là “rất tốt”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây.

  • Bảng 2.6 Thực trạng về xây dựng kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

Số liệu thống kê cho thấy: ĐTB đánh giá mức độ nhận thức tầm quan trọng và mức độ thực hiện công tác xây dựng kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học thị xã Dĩ An của các tập thể CBQL, GV chỉ ở mức thấp với ĐTB mức quan trọng là 2.1 và ĐTB mức thực hiện còn thấp hơn, chỉ là 1.8. Ta có thể thấy rõ ràng hiện trạng: nhận thức không đánh giá cao thì có thể dẫn đến hành vi thực hiện công việc không tốt. Trong đó, việc “TCM phân công giáo viên cốt cán (hoặc GV tự nguyện) lựa chọn, nghiên cứu bài dạy” được đánh giá cao hơn “Lập kế hoạch dạy học của TCM và triển khai kế hoạch”.

Độ lệch chuẩn dùng để mô tả sự phân tán của điểm giá trị (điểm đánh giá của các giáo viên) so với giá trị trung bình (3) trong số liệu thống kê. Nghĩa là, độ lệch chuẩn đo tính biến động của điểm đánh giá của các giáo viên. Nếu sự chênh lệch không đáng kể thì độ lệch chuẩn và tính biến động ở mức thấp. Do đó, điểm số của ĐLC thấp cho thấy các thầy cô có đánh giá tương đồng với nhau. Qua trao đổi GV1, GV3 GV5 có cùng ý kiến “…nhiều giáo viên ngại dạy minh họa, thường là được chỉ định hoặc phân công của TTCM…”

Tóm lại, kết quả nghiên cứu thực trạng xây dựng kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học thị xã Dĩ An cho thấy nó đang không tốt và cần được cải thiện. ĐTB đánh giá đặc biệt thấp nên các CBQL cần chú ý hơn. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau.

2.3.3. Thực trạng nội dung đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Chúng tôi nghiên cứu đánh giá của tập thể CBQL và GV về mức độ thực hiện của nội dung sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “kém” đến 5 là “rất tốt”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây. Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Số liệu thống kê cho thấy: ĐTB mức độ thực hiện nội dung đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học thị xã Dĩ An là 1.84 (ở mức không tốt). Các nội dung có thứ hạng mức thực hiện cao nhất lần lượt là “Họp rút kinh nghiệm để điều chỉnh cho bài học”, “Chia nhóm nhỏ từ 4-6 người để tiến hành các hoạt động nghiên cứu bài học theo quy trình”, “Thu thập thông tin phản hồi từ người học”. Điều này có nghĩa chúng là những công việc mà các CBQL và GV tiểu học thực hiện tốt hơn so với những cái khác. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau.

Ngược lại, cần chú ý các nội dung “Giáo viên điều chỉnh bài học cho sát với thực tế” và “Nghiên cứu nắm vững đặc điểm học sinh”. Kết quả thống kê hoàn toàn phù hợp với quan sát thực tế và kết quả phỏng vấn các CBQL, GV tại địa bàn nghiên cứu. Vì cũng như bao trường học và cấp học khác ở nước ta, sĩ số lớp học tại các trường tiểu học ở Dĩ An rất cao mà số lượng giáo viên phụ trách một lớp lại rất ít, công việc nhiều nên các thầy cô khó có thể “Nghiên cứu nắm vững đặc điểm học sinh” trong lớp của mình. Bàn về vấn đề này, GV2 cho biết “… Trong giảng dạy, tôi luôn cố gắng tìm hiểu học sinh của mình và sau một năm làm việc với các em, tôi có thể phần nào đó hiểu được đa số học sinh của mình. Thế nhưng khi trực tiếp giảng dạy, rất khó có thể đáp ứng nhu cầu của từng học sinh do lớp quá đông. Tôi nghĩ điều này sẽ gây thiệt thòi cho một số em có học lực thấp, cần kèm thêm…”. Ngoài ra, khoảng cách giữa giảng dạy lí thuyết và ứng dụng vào thực tế cũng là điểm yếu chung của giáo dục nước ta mà giáo dục tiểu học cũng không phải là ngoại lệ.

Độ lệch chuẩn dùng để mô tả sự phân tán của điểm giá trị (điểm đánh giá của các giáo viên) so với giá trị trung bình (3) trong số liệu thống kê. Độ lệch chuẩn càng lớn thì số liệu thống kê thu được càng bị phân tán và ngược lại. Nghĩa là, độ lệch chuẩn đo tính biến động của điểm đánh giá của các giáo viên. Nó thể hiện sự chênh lệch về giá trị của điểm đánh giá so với giá trị trung bình. Nếu sự chênh lệch không đáng kể thì độ lệch chuẩn và tính biến động ở mức thấp. Do đó, điểm số của ĐLC thấp cho thấy các thầy cô có đánh giá tương đồng với nhau.

Tóm lại, nội dung cần đạt được trong đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học là đảm bảo cơ hội học tập, phát huy tính sáng tạo của tất cả các học sinh trong mỗi giờ học; Đảm bảo cơ hội phát triển năng lực chuyên môn cho mọi giáo viên; Đảm bảo cơ hội cho phụ huynh tham gia vào quá trình học tập; Luôn tạo ra sự kết nối giữa thầy và trò trong quá trình dạy và học;Tạo ra mối quan hệ thân thiện giữa GV – GV, QL – GV, GV – HS, GV với phụ huynh học sinh. Qua sinh hoạt chuyên môn theo NCBH nhằm phát triển nhà trường một cách bền vững. Từ kết quả khảo sát cho thấy, nội dung đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học thị xã Dĩ An chưa đáp ứng được yêu cầu trên.

  • Bảng 2.7 Thực trạng nội dung đổi mới hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

2.3.4. Thực trạng quy trình hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Chúng tôi nghiên cứu đánh giá của tập thể CBQL và GV về mức độ thực hiện quy trình hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường trường tiểu học. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “kém” đến 5 là “rất tốt”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây. Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

  • Bảng 2.8 Thực trạng thực hiện quy trình đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường trường tiểu học

Số liệu thống kê cho thấy: Các thầy cô đánh giá ĐTB mức độ thực hiện quy trình hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học thị xã Dĩ An chỉ ở mức không tốt với ĐTB chung là 1.76. Điểm số này thấp hơn cả ba lĩnh vực trước đó và có thể coi đây là lĩnh vực có ĐTB đánh giá mức thực hiện thấp nhất. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau. Vấn đề này GV1 GV3 cho biết “…Chuẩn bị tiết dạy tốn nhiều thời gian, HS hoạt động không tự nhiên, chưa thật sự hứng thú trong học tập. Đa phần còn mang tính hình thức.”

Như vậy, qui trình hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học là điểm yếu lớn mà các nhà chức trách cần phải nghiêm túc xem xét cải thiện. Trong qui trình này, nội dung “Áp dụng thực tế hàng ngày” có thứ hạng cao nhất và thấp nhất thuộc về nội dung “Dạy minh họa và dự giờ”. Riêng về vấn đề “Dạy minh họa và dự giờ”, tác giả có khảo sát sâu hơn về nó và trình bày kết quả nghiên cứu ở các mục sau.

2.3.5.  Thực trạng hình thức tổ chức hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học

Theo thực tế quan sát và kết hợp phỏng vấn các CBQL và GV tại các trường trong địa bàn nghiên cứu, tác giả nhận thấy: Hình thức tổ chức hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học ở thị xã Dĩ An rất đa dạng, có nhiều hình thức khác nhau. Cụ thể, gồm có: Các cá nhân thực hiện nghiên cứu bài dạy và soạn theo nhiệm vụ phân công; thực hiện giờ dạy minh họa của tổ chuyên môn ở trường tiểu học hiện nay; thảo luận, chia sẻ về bài học sau dự giờ mẫu ở tổ chuyên môn và đặc biệt là áp dụng bài học cho thực tế hàng ngày.

Trước hết, chúng tôi nghiên cứu nhận thức của tập thể CBQL và GV về tầm quan trọng của việc nghiên cứu bài dạy và soạn bài theo nhiệm vụ phân công tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học và mức độ thực hiện công tác này. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “Không quan trọng” đến 5 là “rất quan trọng” và từ 1 là “kém” đến 5 là “rất tốt”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây. Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Số liệu thống kê cho thấy: Công tác nghiên cứu bài dạy và soạn bài theo nhiệm vụ phân công tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học có ĐTB đánh mức độ quan trọng và mức độ thực hiện chung lần lượt là 2.03 và 1.81. Điều này cho thấy công tác này không được coi trọng và chất lượng thực hiện rất thấp. Cụ thể hơn, các thầy cô đánh giá nội dung “Bài học được soạn theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS” có thứ hạng mức quan trọng và mức thực hiện đều cao; “Tìm đọc các tài liệu liên quan nội dung các bài dạy” lại là nội dung có thứ hạng thấp nhất ở cả 2 tiêu chí. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau.

Độ lệch chuẩn đo tính biến động của điểm đánh giá của các giáo viên. Nó thể hiện sự chênh lệch về giá trị của điểm đánh giá so với giá trị trung bình. Nếu sự chênh lệch không đáng kể thì độ lệch chuẩn và tính biến động ở mức thấp. Do đó, điểm số của ĐLC thấp cho thấy các thầy cô có đánh giá tương đồng với nhau.

Mặt khác, các nội dung còn lại có sự bất đồng trong đánh giá. Nội dung “Các cá nhân giáo viên trong tổ CM soạn bài dạy được TCM thống nhất lựa chọn” có ĐTB mức quan trọng cao nhất nhưng chất lượng thực hiện ở mức thấp nhất. Kết quả khảo sát phản ánh đúng tình trạng giáo dục tiểu học thực tế trên địa bàn: chưa có sự thống nhất trong giảng dạy ở nhiều GV trong cùng một TCM. Nghĩa là, các thầy cô sẽ tự lập giảng dạy và chưa có sự thống nhất chung về bài soạn được TCM quản lí. GV4 cho biết thêm “… Chúng tôi dạy theo sách giáo khoa mà Bộ ban hành và nhà trường chỉ đạo… Mỗi người sẽ dựa vào chuẩn chung đó để soạn bài giảng và TCM cũng không có yêu cầu thống nhất…”

  • Bảng 2.9 Thực trạng nghiên cứu bài dạy và soạn bài theo nhiệm vụ phân công tại tổ chuyên môn ở trường tiểu học

Tiếp theo, chúng tôi nghiên cứu nhận thức của tập thể CBQL và GV về tầm quan trọng của việc thực hiện giờ dạy minh họa của tổ chuyên môn ở trường tiểu học và mức độ thực hiện công tác này. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “Không quan trọng” đến 5 là “rất quan trọng” và từ 1 là “kém” đến 5 là “rất tốt”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây.

  • Bảng 2.10. Thực trạng thực hiện giờ dạy minh họa của tổ chuyên môn ở trường tiểu học hiện nay

Số liệu thống kê cho thấy: ĐTB đánh giá chung về mức độ quan trọng và mức độ thực hiện của công tác thực hiện giờ dạy minh họa của tổ chuyên môn ở trường tiểu học hiện nay cũng ở mức thấp (dưới 2.49). Điều này có nghĩa là các GV đứng lớp giảng dạy lẫn GV tham gia dự giờ đều không coi trọng và không thực hiện tốt công tác này với ĐTB đánh giá chung của cả 2 nhóm gần như tương đồng. Trong đó, nội dung mà nhóm GV đảm nhận vai trò giảng dạy làm tốt là “Người dạy minh họa có thể là một GV tự nguyện hoặc một người được nhóm thiết kế lựa chọn”; và nhóm giáo viên dự giảng thực hiện tốt nhất việc “Đặt trọng tâm quan sát vào các biểu hiện tâm lí, hành vi trong các tình huống, hoạt động học tập cụ thể của học sinh”. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau.

Đặc biệt, cần chú ý đến nội dung “Quan tâm đến những khó khăn của học sinh, lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ đơn giản, gần gũi, dễ hiểu phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh” vì nó có thứ hạng mức quan trọng lẫn thực hiện đều thấp. Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với kết quả khảo sát ở phần trên. Điều này càng khẳng định thêm điểm yếu trong nền giáo dục tiểu học ở Dĩ An nói riêng và có thể là cả nước nói chung, đó chính là chưa chú ý đến đặc điểm cá nhân, nhu cầu riêng của từng học sinh để giảng dạy cho các em tốt nhất, phù hợp và đáp ứng nhu cầu của từng học sinh trong lớp.

Kế đến, chúng tôi nghiên cứu nhận thức của tập thể CBQL và GV về tầm quan trọng của việc thảo luận, chia sẻ về bài học sau dự giờ mẫu ở tổ chuyên môn tại trường tiểu học và mức độ thực hiện công tác này. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “Không quan trọng” đến 5 là “rất quan trọng” và từ 1 là “kém” đến 5 là “rất tốt”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây.

Số liệu thống kê cho thấy: Các thầy cô đánh giá thấp mức độ quan trọng cũng như hiệu quả thực hiện của công tác thảo luận, chia sẻ về bài học sau dự giờ mẫu ở tổ chuyên môn tại trường tiểu học với ĐTB chung của cả 2 mục đều thấp hơn mức 2.49 (mức ít quan trọng và không tốt). Trong đó, “Mọi người cùng phát hiện vấn đề học của HS, tìm nguyên nhân, giải pháp khắc phục” là việc mà các thầy cô làm tốt nhất vì có thứ hạng cao. Ngược lại, “Dựa trên kết quả học tập của học sinh rút kinh nghiệm” là nội dung có thứ hạng thấp nhất. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau. Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

  • Bảng 2.11 Thực trạng việc thảo luận, chia sẻ về bài học sau dự giờ mẫu ở tổ chuyên môn

Đặc biệt, cần chú ý 2 nội dung là “Tập trung phân tích việc học của HS, đưa ra minh chứng cụ thể” và “Người chủ trì tóm tắt vấn đề, tìm nguyên nhân và giải pháp. Mỗi GV tự rút ra bài học” vì nó có sự đối lập trong đánh giá. Nội dung “Tập trung phân tích việc học của HS, đưa ra minh chứng cụ thể” có mức độ quan trọng cao nhưng lại được thực hiện kém. Còn “Người chủ trì tóm tắt vấn đề, tìm nguyên nhân và giải pháp. Mỗi GV tự rút ra bài học” được đánh giá không quan trọng nhưng lại được chú trọng thực hiện và có điểm đánh giá kết quả cao.

Cuối cùng, chúng tôi nghiên cứu nhận thức của tập thể CBQL và GV về tầm quan trọng của việc áp dụng bài học cho thực tế hàng ngày tại trường tiểu học và mức độ thực hiện công tác này. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “Không quan trọng” đến 5 là “rất quan trọng” và từ 1 là “kém” đến 5 là “rất tốt”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây.

  • Bảng 2.12 Thực trạng áp dụng bài học cho thực tế hàng ngày

Số liệu thống kê cho thấy: Các thầy cô đánh giá việc áp dụng bài học cho thực tế hàng ngày tại trường tiểu học ít quan trọng (ĐTB = 2.07) và kết quả thực hiện không tốt (ĐTB = 1.79). Cụ thể hơn, “Giáo viên tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, kiểm nghiệm những gì đã học để dạy lại bài học đó, chuẩn bị bài minh hoạ tiếp theo hoặc áp dụng các giờ dạy hàng ngày của mình” là nội dung có thứ hạng cao nhất. Nó cho thấy các thầy cô quan tâm và chú ý thực hiện công việc này. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau.

Nhìn chung, theo đánh giá của các thầy cô thì hình thức tổ chức hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học dù có đa dạng nhưng đều có mức quan trọng thấp và kết quả thực hiện không cao. Trong đó, đặc biệt cần chú ý đến việc đáp ứng nhu cầu của từng học sinh trong lớp vì mỗi học sinh là một cá thể riêng biệt, có đặc điểm khác nhau và chú trọng đảm bảo tính thống nhất trong việc soạn giảng, giảng dạy giữa các GV trong TCM.

2.3.6. Thực trạng kiểm tra – đánh giá đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Chúng tôi nghiên cứu đánh giá của tập thể CBQL và GV về mức độ thường xuyên và mức độ thực hiện của công tác kiểm tra – đánh giá hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học tại trường tiểu học. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “Không thường xuyên” đến 5 là “rất thường xuyên” và từ 1 là “kém” đến 5 là “rất tốt”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây.

Số liệu thống kê cho thấy: Mức độ thường xuyên và mức độ thực hiện của công tác kiểm tra – đánh giá hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học tại trường tiểu học được các thầy cô và CBQL đánh giá không cao với ĐTB dưới mức 2.49. Trong đó, nội dung có thứ hạng cao nhất là “Tổ chuyên môn dự giờ tiết dạy minh hoạ” và “Tổ chuyên môn thảo luận”. Ngoài ra, cần đặc biệt cải thiện các nội dung sau “Tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch NCBH” và “Các cá nhân nghiên cứu bài dạy và soạn bài theo nhiệm vụ phân công” vì thứ hạng đều thấp nhất. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau.

Bên cạnh đó, các nội dung có sự mâu thuẫn trong đánh giá với thứ hạng quan trọng rất cao nhưng lại chưa được thực hiện tốt là “Tổ chuyên môn thảo luận mục tiêu, nội dung” và “Áp dụng cho thực tế dạy học hàng ngày”. Như vậy, cần tập trung cải thiện mức độ thực hiện của 2 nội dung này.

  • Bảng 2.13 Thực trạng kiểm tra – đánh giá hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

Độ lệch chuẩn dùng để mô tả sự phân tán của điểm giá trị (điểm đánh giá của các giáo viên) so với giá trị trung bình (3) trong số liệu thống kê. Độ lệch chuẩn càng lớn thì số liệu thống kê thu được càng bị phân tán và ngược lại.

Nghĩa là, độ lệch chuẩn đo tính biến động của điểm đánh giá của các giáo viên. Nó thể hiện sự chênh lệch về giá trị của điểm đánh giá so với giá trị trung bình. Nếu sự chênh lệch không đáng kể thì độ lệch chuẩn và tính biến động ở mức thấp. Do đó, điểm số của ĐLC thấp cho thấy các thầy cô có đánh giá tương đồng với nhau.

Tựu trung lại, thực trạng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương được các thầy cô và CBQL đánh giá có mức quan trọng và kết quả thực hiện thấp. Các thành tố là mục tiêu, xây dựng kế hoạch, nội dung, quy trình hoạt động, hình thức tổ chức, kiểm tra – đánh giá hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học đều có ĐTB đánh giá dưới 2.49. Đây là một thực tế đáng buồn nhưng là cũng là bài học và động lực cho những nhà chức trách cải thiện nó.

2.4. Thực trạng công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Đúc kết từ quá trình nghiên cứu hệ thống cơ sở lí luận, quan sát thực tế và hỏi ý kiến chuyên gia, chúng tôi nhận thấy thực trạng quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương được thể hiện thông qua các nội dung là:

  1. Quản lí xây dựng kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  2. Quản lí tổ chức thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học.
  3. Quản lí lãnh đạo đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học .
  4. Quản lí kiểm tra, đánh giá đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.

2.4.1. Nhận thức của cán bộ quản lí – giáo viên trường tiểu học về tầm quan trọng của việc quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

Trước khi khảo sát thực trạng quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học, chúng tôi nghiên cứu nhận thức của tập thể CBQL và GV về tầm quan trọng của việc quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học và mức độ thực hiện công tác này. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “Không quan trọng” đến 5 là “rất quan trọng”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây.

Số liệu thống kê cho thấy: Theo đánh giá của tập thể GV lẫn CBQL, việc quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học là ít cần thiết với ĐTB là 1.82. Như vậy, các kết quả khảo sát thống nhất với nhau khi tập thể các giáo viên đều đánh giá không cao về vấn đề này. Cũng vấn đề này GV5 cho biết “…Nhận thức chưa sâu ở từng giáo viên, giáo viên chưa thật sự hứng thú, đa phần mang nặng tính hình thức, thường sinh hoạt theo cách truyền thống…”. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau.

Rõ ràng, đây có thể là một trong những nguyên nhân khiến cho kết quả thực trạng hoạt động đổi mới và quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học kém hiệu quả. Vì theo các kết quả nghiên cứu tâm lí học, nhận thức chính là cơ sở đề ra hành vi phù hợp, nếu nhận thức vấn đề không quan trọng thì cũng sẽ không có những hành động, hành vi củng cố, cải thiện cho vấn đề. Thực tế nghiên cứu cho thấy kết quả tìm ra logic, khớp với nhau. Các CBQL và GV cho rằng việc đổi mới và quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học không quan trọng nên cũng không đầu tư phát triển, cải thiện nó và dẫn đến kết quả kém. Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

  • Bảng 2.14 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

2.4.2. Thực trạng công tác quản lí lập kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Chúng tôi nghiên cứu đánh giá của tập thể CBQL và GV về mức độ thực hiện của công tác quản lí lập kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “kém” đến 5 là “rất tốt”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây.

  • Bảng 2.15 Thực trạng về quản lí xây dựng kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học của trường tiểu học

Số liệu thống kê cho thấy: Việc quản lí xây dựng kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học của nhà trường tiểu học được đánh giá là có mức độ thực hiện không tốt, ĐTB chung là 1.85.

Độ lệch chuẩn thể hiện sự chênh lệch về giá trị của điểm đánh giá so với giá trị trung bình. Nếu sự chênh lệch không đáng kể thì độ lệch chuẩn và tính biến động ở mức thấp. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau.

Các nội dung được làm tốt nhất với thứ hạng cao là “Xác định các biện pháp chỉ số theo dõi, kiểm tra và đánh giá hoạt động NCBH của nhà trường” và “Trình bày kế hoạch NCBH của nhà trường trước Hội đồng sư phạm”. Theo quan sát của tác giả, đa số các trường tiểu học đều có thực hiện các công tác này theo chỉ đạo của cấp trên để nỗ lực nâng cao chất lượng giáo dục. CBQL1 cho biết: “…Hằng năm, nhà trường luôn chỉ đạo thực hiện các hoạt động kiểm tra đánh giá và báo cáo trước ban chuyên môn, ban lãnh đạo…”, CBQL2 cũng có cùng ý kiến.

Ngược lại, cần phải chú ý cải thiện “Xác định mục tiêu, chỉ tiêu cần đạt của hoạt động NCBH và đánh giá tính khả thi của chỉ tiêu, mục tiêu đó” và “Xác định các hoạt động NCBH của nhà trường tương ứng với các mục tiêu” vì đây là các nội dung có thứ hạng thấp nhất trong bảng khảo sát. Như vậy, điều này cho thấy các trường tiểu học tại Dĩ An vẫn còn lúng túng trong việc xác định các mục tiêu của hoạt động NCBH cũng như cách thức để thực hiện nó.

2.4.3. Thực trạng công tác quản lí tổ chức thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Chúng tôi nghiên cứu đánh giá của tập thể CBQL và GV về mức độ thực hiện của công tác quản lí tổ chức thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “kém” đến 5 là “rất tốt”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây.

Số liệu thống kê cho thấy: ĐTB đánh giá chung về mức độ thực hiện của công tác quản lí tổ chức thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học chỉ đạt mức 1.76, thấp hơn rất nhiều so với các công tác quản lí khác. Như vậy, đây là khâu yếu nhất trong công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau.

Trong đó, “Tổ trưởng tổ chuyên môn cần chỉ đạo thiết lập mối quan hệ tốt giữa tổ chuyên môn của mình và các bộ phận khác trong nhà trường (cơ sở vật chất, kinh phí,…) tạo điều kiện đảm bảo cho đổi mới hoạt động tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học” là nội dung có thứ hạng cao nhất. Ngược lại, thứ hạng mức độ thực hiện thấp nhất là của nội dung “Tổ chức phối hợp giữa tổ trưởng chuyên môn và giáo viên trong tổ thực hiện các hoạt động tổ chuyên môn (hình thức, nội dung, phương pháp) theo hướng NCBH”. Điểm hạn chế này cần phải được chú ý vì kết quả khảo sát ở mục trước cũng cho thấy sự lỏng lẻo trong việc hợp tác giữa các GV trong TCM.

  • Bảng 2.16 Thực trạng công tác quản lí tổ chức thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

2.4.4. Thực trạng công tác quản lí lãnh đạo đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Chúng tôi nghiên cứu đánh giá của tập thể CBQL và GV về mức độ thực hiện của công tác quản lí lãnh đạo đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “kém” đến 5 là “rất tốt”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây.

Số liệu thống kê cho thấy: Các thầy cô cũng đánh giá hiệu quả công tác quản lí ãnh đạo đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học tại địa phương không cao. ĐTB chung của lĩnh vực này là 1.79, ở mức thấp.

Độ lệch chuẩn dùng để mô tả sự phân tán của điểm giá trị (điểm đánh giá của các giáo viên) so với giá trị trung bình (3) trong số liệu thống kê. Độ lệch chuẩn càng lớn thì số liệu thống kê thu được càng bị phân tán và ngược lại. Nghĩa là, độ lệch chuẩn đo tính biến động của điểm đánh giá của các giáo viên. Nó thể hiện sự chênh lệch về giá trị của điểm đánh giá so với giá trị trung bình.

Nếu sự chênh lệch không đáng kể thì độ lệch chuẩn và tính biến động ở mức thấp. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau.

  • Bảng 2.17 Thực trạng lãnh đạo quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học

Ngoài ra, “Tổ chức các hoạt động chuyên môn của tổ (dạy học, bồi dưỡng giáo viên vv…) theo hướng nghiên cứu bài học” là nội dung có thứ hạng thực hiện cao nhất. Kết quả này phù hợp với nội dung phỏng vấn, đa số các GV và CBQL ở các trường đều cho biết TCM thường tổ chức những hoạt động, sinh hoạt theo chuyên môn của mình. Tuy nhiên, cần chú ý cải thiện “Điều chỉnh việc thực hiện các hoạt động chuyên môn của tổ phù hợp với kế hoạch” vì đây là nội dung có thứ hạng thấp. Một lần nữa, kết quả khảo sát phản ảnh sự hạn chế của các trường tiểu học trong địa bàn nghiên cứu về việc tổ chức các hoạt động để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu và kế hoạch đặt ra từ trước.

2.4.5. Thực trạng công tác quản lí kiểm tra, đánh giá đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Chúng tôi nghiên cứu đánh giá của tập thể CBQL và GV về mức độ thực hiện của công tác quản lí kiểm tra – đánh giá đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “kém” đến 5 là “rất tốt”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây. Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

  • Bảng 2.18 Thực trạng quản lí kiểm tra, đánh giá đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học

Số liệu thống kê cho thấy: Mức độ thực hiện của công tác quản lí kiểm tra – đánh giá đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học chỉ dừng ở mức 1.83. Các thầy cô đánh giá hiệu quả thực hiện của công tác này là không tốt với ĐTB chung dưới mốc 2.49.

Độ lệch chuẩn đo tính biến động của điểm đánh giá của các giáo viên. Nó thể hiện sự chênh lệch về giá trị của điểm đánh giá so với giá trị trung bình. Nếu sự chênh lệch không đáng kể thì độ lệch chuẩn và tính biến động ở mức thấp. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau.

“Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch các hoạt động tổ chuyên môn có đảm bảo mục tiêu nghiên cứu bài học hay không” là công tác có thứ hạng mức độ thực hiện cao nhất. Còn thứ hạng thấp nhất là “Xây dựng (xác định) các tiêu chí kiểm tra hoạt động tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học” và “Chỉ đạo lựa chọn các hình thức, phương pháp kiểm tra phù hợp để đánh giá đúng thực chất hoạt động của tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học”. Như vậy, kết quả khảo sát một lần nữa khẳng định điểm yếu chung của các trường trong khâu quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương là việc yếu kém trong xác định mục tiêu, chỉ tiêu cần đạt được và phương thức thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu này.

Bàn với vấn đề này, tác giả cho rằng nó có thể xuất phát từ nguyên nhân như lời chia sẻ của một CBQL1 “… Các trường thường thực hiện theo công văn chung của Sở và Bộ, ít khi tự ý thực hiện nếu chưa có chỉ đạo của cấp trên…”. Điều này có thể dẫn đến việc các trường phụ thuộc vào cấp trên trong việc xác định những mục tiêu cần đạt và cách thức đạt được mục tiêu và chỉ đơn giản là làm theo chỉ đạo từ trên xuống, thiếu tự chủ và sáng tạo.

2.4.6. Tổng kết thực trạng công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Sau khi nghiên cứu chi tiết thực trạng quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, chúng tôi tiến hành tổng kết thực trạng quản lí công tác này. Kết quả thu được ở biểu đồ bên dưới.

Số liệu thống kê cho thấy: Có 4 nội dung cần thực hiện trong việc quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học. Trong đó, “Quản lí xây dựng kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học” có mức độ thực hiện cao nhất; tiếp đến là “Quản lí kiểm tra, đánh giá đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ”; thứ 3 là “Quản lí lãnh đạo đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học” và cuối cùng là “Quản lí tổ chức thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

  • Biểu đồ 2.1. Thực trạng công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học

Tóm lại, công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương có ĐTB đánh giá mức độ thực hiện ở mức thấp. Các hạng mục đều có ĐTB chung dưới 2.49. Kết quả nghiên cứu cho thấy một yêu cầu cần thiết trong việc cải thiện chất lượng, hiệu quả hoạt động của công tác này để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau.

2.5. Yếu tố ảnh hưởng thực trạng công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Chúng tôi đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố thuận lợi và khó khăn tới quản lí hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học, người quản lí đề xuất các biện pháp đề điều chỉnh quá trình quản lí phù hợp với thực tế ở các trường. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm các điều kiện mang tính khách quan và chủ quan. Trong đó, cụ thể như sau: Có 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng, gồm có các yếu tố chủ quan về phía “người tổ trưởng chuyên môn ảnh hưởng tới quản lí hoạt động tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học tại trường tiểu học (nhóm 1)”; “Các yếu tố thuộc về giáo viên trong tổ chuyên môn ảnh hưởng tới quản lí tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học của tổ trưởng chuyên môn” (nhóm 2) và “Các yếu tố thuộc về môi trường khách quan ảnh hưởng tới quản lí tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học của tổ trưởng chuyên môn trong trường tiểu học” (nhóm 3).

Chúng tôi nghiên cứu đánh giá của tập thể CBQL và GV về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Thang đo được sử dụng có 5 mức độ từ 1 là “Không ảnh hưởng” đến 5 là “rất ảnh hưởng”. Kết quả nghiên cứu thu được dưới đây.

  • Bảng 2.19 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học

2.5.1. Yếu tố chủ quan

Nhóm 1 bao gồm các 2 yếu tố “Nhận thức của tổ trưởng chuyên môn về quản lí hoạt động tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học tại các trường tiểu học” và “Năng lực, trình độ, kĩ năng quản lí tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học của tổ trưởng chuyên môn”. Nhóm 2 gồm 2 yếu tố “Nhận thức của giáo viên về hoạt động tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học” và “Năng lực của giáo viên”.

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Các cán bộ quản lí và giáo viên đều đánh giá các nhóm yếu tố có ít ảnh hưởng tới quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học của tổ trưởng chuyên môn trong trường tiểu học, điểm trung bình chung là 1.73. Tuy nhiên, có những nội dung được cán bộ quản lí và giáo viên đánh giá ảnh hưởng ít như: “Nhận thức của tổ trưởng chuyên môn về quản lí hoạt động tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học tại các trường tiểu học.” (ĐTB = 1.65).

Độ lệch chuẩn dùng để mô tả sự phân tán của điểm giá trị (điểm đánh giá của các giáo viên) so với giá trị trung bình (3) trong số liệu thống kê. Độ lệch chuẩn càng lớn thì số liệu thống kê thu được càng bị phân tán và ngược lại. Nghĩa là, độ lệch chuẩn đo tính biến động của điểm đánh giá của các giáo viên. Nó thể hiện sự chênh lệch về giá trị của điểm đánh giá so với giá trị trung bình. Nếu sự chênh lệch không đáng kể thì độ lệch chuẩn và tính biến động ở mức thấp. Kết quả xử lí số liệu thống kê cho thấy điểm ĐLC rất thấp, điều này có nghĩa là các thầy cô trong mẫu khảo sát có ý kiến tương đồng nhau.

2.5.2. Yếu tố khách quan Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Nhóm 3 gồm có 2 yếu tố “Văn bản, nghị quyết, chính sách của các cấp quản lý đối với tiểu học; các văn bản nghị quyết, chính sách của nhà trường đối với tổ chuyên môn” và “Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường”. Các yếu tố được cán bộ quản lí và giáo viên đánh giá là có ảnh hưởng cao nhất và tác động lớn nhất đến công tác quản lí gồm: “Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường” (ĐTB = 1.77); “Văn bản, nghị quyết, chính sách của các cấp quản lí đối với tiểu học; các văn bản nghị quyết, chính sách của nhà trường đối với tổ chuyên môn” (ĐTB = 1.76).

Trao đổi với GV7 “… những văn bản, nghị quyết chỉ đạo các cấp liên quan đến vấn đề SHCM theo NCBH không đầy đủ đến từng giáo viên, chỉ dừng lại ở TTCM” GV5 đồng tình ý kiến trên. Do đó, người quản lí cần chú ý đến Văn bản, nghị quyết, chính sách của các cấp quản lí đối với tiểu học; các văn bản nghị quyết, chính sách của nhà trường đối với tổ chuyên môn, triển khai đầy đủ đến từng giáo viên. Thông qua các chủ trương, chính sách, các hội nghị, chuyên đề, các buổi sinh hoạt để trao đổi, định hướng cho các lực lượng giáo dục về tầm quan trọng của hoạt động sinh hoạt nghiên cứu bài học trong nhà trường.

Ngoài ra, kết hợp với quan sát và phỏng vấn, chúng tôi còn nhận thấy một số yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học của tổ trưởng chuyên môn trong trường tiểu học ở Dĩ An. Đó chính là đội ngũ giáo viên của nhà trường về trình độ, năng lực, ý thức của một số giáo viên còn hạn chế. Thậm chí có đồng chí giáo viên hoài nghi hiệu quả của giờ dạy theo hướng đổi mới, sợ mất thời gian họp hành một cách hình thức, vô bổ…; có giáo viên e ngại khi thấy đối tượng học sinh mình giảng dạy nhận thức yếu, thiếu nhiều kỹ năng, chưa có thói quen hợp tác, cơ sở vật chất chưa phù hợp… Theo lời một CBQL2 “Ban giám hiệu Nhà trường cũng nhận thấy, cơ sở vật chất của Nhà trường còn chưa đảm bảo được yêu cầu của hoạt động SHTCM theo hướng NCBH; sự hỗ trợ của các lực lượng trong và ngoài nhà trường chưa kịp thời…” cũng là các yếu tổ ảnh hưởng tiêu cực.

Tóm lại, kết quả khảo sát yếu tố ảnh hưởng công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương cho thấy: Nhóm 3 – “Các yếu tố thuộc về môi trường khách quan ảnh hưởng tới quản lí tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học của tổ trưởng chuyên môn trong trường tiểu học” có mức ảnh hưởng cao nhất. Trao đổi với CBQL1, CBQL 2 CBQL 3 cùng ý kiến “Cơ sở vật chất, trang thiết bị là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học. Vì lớp học quá đông, trang thiết bị chưa đáp ứng được nhu cầu giáo viên.”. Kế đến là nhóm 2 – “Các yếu tố thuộc về giáo viên trong tổ chuyên môn ảnh hưởng tới quản lí tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học của tổ trưởng chuyên môn” và cuối cùng là nhóm 1 – “các yếu tố chủ quan về phía người tổ trưởng chuyên môn ảnh hưởng tới quản lí hoạt động tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học tại trường tiểu học”.

2.6 Đánh giá chung về thực trạng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học và về thực trạng quản lí đổi mới đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học

2.6.1. Những mặt mạnh

Đa số cán bộ quản lí các nhà trường đều có trình độ trên chuẩn, đều được tập huấn qua các lớp bồi dưỡng cán bộ quản lí, có phẩm chất đạo đức tốt, yêu nghề, say chuyên môn và đa số có khả năng quản lí tốt.

Trong quá trình thực hiện mô hình quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học luôn được sự chỉ đạo, tham mưu của cấp ủy đảng, phối hợp với môi trường giáo dục: năng động và sáng tạo trong quản lí trường học, thực hiện quản lí nhà trường theo đúng quy chế. Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

Lực lượng giáo viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và luôn sẵn sàng đổi mới và phấn đấu thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Ủng hộ các chính sách, chiến lược của nhà trường.

Những thành tựu đạt được về chất lượng đội ngũ CBQL và giáo viên này là kết quả của nhiều năm đầu tư xây dựng nguồn nhân lực trong giáo dục của tỉnh Bình Dương nói chung và thị xã Dĩ An nói riêng. Các CBQL trong hệ thống giáo dục luôn luôn nỗ lực hoàn thành tốt các chỉ thị, chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phát triển đội ngũ giáo viên, đầu tư nhiều cho giáo dục về mặt nhân lực để đáp ứng các tiêu chí khắt khe được đưa ra nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu xã hội.

Trong quá trình thực hiện quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học dù có nhiều khó khăn, dẫn đến kết quả chưa cao và còn nhiều bất cập nhưng với tinh thần nỗ lực khắc phục mọi khó khăn trong giáo dục để góp phần nâng cao chất lượng dạy học các cấp, đặc biệt là cấp tiểu học, CBQL và tập thể giáo viên các trường tiểu học ở thị xã Dĩ An luôn luôn nghiêm chỉnh thực hiện chỉ đạo đổi mới, từng ngày nâng cao chất lượng quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học.

2.6.2. Những mặt hạn chế

Bên cạnh đó, một số cán bộ quản lí còn hạn chế về năng lực quản lí, chưa thật sự quan tâm chú trọng đến công tác quản lí nền nếp các hoạt động trong nhà trường, đặc biệt là trong việc đôn đốc, kiểm tra hoạt động dạy học nói chung và hoạt động nghiên cứu bài học nói riêng, chưa nắm bắt kịp thời để phát hiện, xử lý những vi phạm xảy ra.

Tâm lí ngại thay đổi của một số giáo viên trong tổ. Các thầy cô đã quen với cách soạn bài, lên lớp và cách sinh hoạt chuyên môn cũ, nên không mấy hào hứng với việc thảo luận cách dạy theo nghiên cứu bài học. Bên cạnh đó việc kiểm tra đánh giá hoạt đông sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học chưa được thường xuyên và sâu sát, cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lí và sự phấn đấu trong quá trình thực hiện của đội ngũ giáo viên.

Từ kết quả khảo sát, chúng tôi còn nhận thấy các hạn chế sau:

Các trường tiểu học trên địa bàn xã Dĩ An không coi trọng, không nhận thức được tầm quan trọng và đánh giá cao việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đảm bảo tính triết lí sinh hoạt chuyên môn.

Kết quả thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học không hiệu quả. Cụ thể:

  1. Xây dựng kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  2. Nội dung đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  3. Quy trình hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  4. Hình thức tổ chức hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  5. Kiểm tra – đánh giá hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.

Thêm vào đó, việc thực hiện quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học với các nội dung bên dưới cũng có kết quả rất thấp. Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

  1. Quản lí xây dựng kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  2. Quản lí tổ chức thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học.
  3. Quản lí lãnh đạo đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  4. Quản lí kiểm tra, đánh giá đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.

Như vậy, kết quả khảo sát cho thấy cần có một sự thay đổi toàn diện trong việc thực hiện và quản lí việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Trong quá trình khảo sát thực trạng quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, chúng tôi đã tìm ra được nhiều hạn chế và một vài nguyên nhân của các hạn chế này, liên quan đến các lí do về năng lực của CBQL, sỉ số lớp học quá đông, tâm lí ngại đổi mới của giáo viên, hạn chế về nguồn tài lực… Tuy nhiên, để hiểu sâu rõ hơn về nguyên nhân của các hạn chế này, việc tiến hành một nghiên cứu riêng về nó là điều hết sức cần thiết, giúp làm rõ vấn đề. Đây cũng là hướng mở ra, phát triển tiếp theo cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Qua chương 2, tác giả đã khảo sát và phân tích kết quả khảo sát bao gồm: thực trạng sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương; thực trạng công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Cụ thể, về thực trạng thì mục tiêu, xây dựng kế hoạch, nội dung, quy trình hoạt động, hình thức tổ chức hoạt động, kiểm tra – đánh giá đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học đều có ĐTB đánh giá rất thấp, trong khoảng ĐTB từ 1.50 đến 2.49 (ít quan trọng, ít hiệu quả…). Thêm vào đó, về thực trạng công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, quản lí xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo, kiểm tra, đánh giá chỉ đạt hiệu quả ở mức trung bình ( ĐTB từ 1.76 đến 1.85). Kết quả khảo sát cho thấy, nhóm yếu tố ảnh hưởng “Các yếu tố thuộc về môi trường khách quan” có mức ảnh hưởng cao nhất đến quản lí tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học của tổ trưởng chuyên môn trong trường tiểu học.

Nhận thấy công tác quản lí còn nhiều bất cập, hạn chế, việc quản lí SHCM theo hướng nghiên cứu bài học còn mang nặng tính hình thức, nhận thức của một số CBQL, GV chưa cao. Vì vậy cần thiết đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Vấn đề này được tác giả trình bày ở chương 3. Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993