Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật cho HS các trường THPT trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về vị trí địa lý, dân cư, Kinh tế – Chính trị, Văn hóa – Xã hội của thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

2.1.1. Vị trí địa lý – dân cư, tình hình Kinh tế – Chính trị, Văn hóa – Xã hội

Đồng Xoài là một thành phố thuộc tỉnh Bình Phước, được thành lập ngày 01 tháng 12 năm 2024 trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Đồng Xoài, nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh 110 km, cách đường biên giới Campuchia 110 km. Đồng Xoài được xem là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của tỉnh Bình Phước, có vị trí thuận lợi, nằm trên giao lộ giữa Quốc lộ 14 và Tỉnh lộ 741, nối liền với các tỉnh như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, … toàn thành phố có hơn 20 dân tộc anh em cùng sinh sống, có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

Thành phố Đồng Xoài có 6 phường và 2 xã với tổng diện tích tự nhiên 167,32 km2 và dân số là 150.052 người. Đồng Xoài là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, địa danh Đồng Xoài đã đi vào lịch sử với mốc son chói lọi “Đồng Xoài rực lửa chiến công” (09/6/1965) – là biểu hiện tinh thần anh dũng, ý chí quyết thắng của nhân dân Đồng Xoài nói riêng và miền Đông Nam Bộ nói chung. Khi mới giải phóng (26/12/1974), dân số của Đồng Xoài mới chỉ có 4.370 người. Theo thời gian, dân cư từ các nơi đến lập nghiệp ở Đồng Xoài ngày càng trở nên đông đúc, trong số đó có cả người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đã làm cho số lượng các thành phần dân tộc ở Đồng Xoài tăng lên rõ rệt và tạo nên sự phong phú, đa dạng trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam ở Đồng Xoài. Với điều kiện thuận lợi về tự nhiên và quá trình đô thị hóa nên Thành phố Đồng Xoài thu hút ngày càng có nhiều người dân tập trung về đây sinh sống. Kinh tế – Chính trị, Văn hóa – Xã hội có nhiều bước phát triển.

2.1.2. Tình hình giáo dục địa phương

Hiện trên địa bàn thành phố, ở bậc học phổ thông có 14 trường tiểu học; 08 trường THCS; 06 trường thuộc cấp THPT, trong đó có 01 trường THPT Chuyên. Trường THPT chuyên Quang Trung được thành lập và khai giảng khóa đầu tiên vào năm học 2003-2010, trường thật sự xứng đáng là nơi đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, luôn nằm trong nhóm đầu về chất lượng điểm thi đại học, trong đó có 1 lần đứng hạng nhất, 1 lần hạng nhì toàn quốc, có nhiều giải HS giỏi cấp quốc gia và có HS tham gia thi chọn đội tuyển HS giỏi quốc tế; 01 trường THPT Dân tộc nội trú Tỉnh. Trường nằm trong hệ thống các trường phổ thông công lập của Nhà nước, có trách nhiệm tạo mũi nhọn trong sự nghiệp giáo dục cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số, các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ người dân tộc trên địa bàn tỉnh. Trường có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển Kinh tế – Xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số; 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên Tỉnh. Nhiệm vụ trọng tâm của Trung tâm Giáo dục thường xuyên Tỉnh là đáp ứng tối đa nhu cầu học tập thường xuyên và đa dạng của mọi người trong cộng đồng nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội ở địa phương; 01 trường THPT chất lượng cao và 02 trường THPT đáp ứng đủ nhu cầu học tập của nhân dân trên địa bàn.

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng hoạt động tích hợp GDPL và quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS các trường THPT Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

2.2.1. Mục đích khảo sát

Tổ chức khảo sát thực trạng hoạt động tích hợp GDPL và quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS tại 04 trường THPT trên địa bàn thành phố Đồng Xoài nhằm thu thập số liệu xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tích hợp GDPL.

2.2.2. Nội dung khảo sát

Khảo sát thực trạng hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT tại 04 trường THPT trên địa bàn thành phố Đồng Xoài:

  • Nhận thức về tầm quan trọng của công tác tích hợp GDPL cho HS THPT;
  • Mức độ thực hiện và kết quả đạt được các mục tiêu, yêu cầu, nội dung, hình thức, phương pháp tích hợp GDPL cho HS trường THPT;
  • Những thuận lợi, khó khăn khi tổ chức hoạt động tích hợp GDPL cho HS trường THPT.

Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS trường THPT tại 04 trường THPT trên địa bàn thành phố Đồng Xoài:

  • Nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS ở các trường THPT;
  • Lập kế hoạch tích hợp GDPL cho HS;
  • Tổ chức thực hiện tích hợp GDPL cho HS ở trường THPT;
  • Chỉ đạo, phối kết hợp giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục; Kiểm tra, đánh giá hoạt động tích hợp GDPL cho HS.

Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS trường THPT:

Các yếu tố khách quan và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS;

Các yếu tố chủ quan và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến công tác quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS.

Những kết quả đạt được, cũng như tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế khi thực hiện quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS trường THPT. Đề xuất biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động tích hợp GDPL cho HS.

2.2.3. Phương pháp nghiên cứu thực trạng Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chính, các phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động và phỏng vấn là các phương pháp bổ trợ.

2.2.3.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:

  • Thiết kế 02 mẫu phiếu khảo sát:

Mẫu 1 dành cho CBQL và giáo viên gồm hai nhóm câu hỏi cho hai nội dung chính để điều tra thực trạng hoạt động tích hợp GDPL cho HS và thực trạng công tác quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS trường THPT. Nhóm 1 với 09 câu hỏi dành khảo sát về thực trạng hoạt động tích hợp GDPL cho HS. Nhóm 2 với 12 câu hỏi dành khảo sát về thực trạng công tác quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS. (Phụ lục 1)

Mẫu 2 dành cho HS gồm 12 câu hỏi để điều tra thực trạng hoạt động tích hợp GDPL cho HS trường THPT. (Phụ lục 2)

  • Thời gian phát và thu phiếu: 10/9/2025 đến 10/10/2025.
  • Tiến hành khảo sát tại 04 trường THPT; chính xác hóa phiếu điều tra trên các đối tượng khảo sát CBQL, GV và HS ở các trường THPT.
  • Thu phiếu về xử lý kết quả và định lượng lập các bảng số, số liệu nghiên cứu. Xử lý bằng cách tính tần số, tần suất, tính điểm trung bình và độ lệch chuẩn.

2.2.3.2 Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn CBQL và một số GV ở 04 trường THPT trên địa bàn về sự cần thiết, mức độ thực hiện và kết quả đạt được hoạt động tích hợp GDPL và quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS trường THPT nhằm khẳng định những vấn đề được trả lời trong phiếu khảo sát và thu thập thêm thông tin thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu mà chưa được trả lời rõ trong phiếu khảo sát. Tìm hiểu sâu hơn về đối tượng nghiên cứu qua một số khách thể điển hình. (Phụ lục 3)

2.2.3.3 Phương pháp nghiên cứu dữ liệu Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Sử dụng phần mềm SPSS, các công thức toán thống kê để lập bảng định lượng kết quả nghiên cứu, tổng kết số liệu điều tra của đề tài nghiên cứu, xác định được kết quả một cách khách quan. Từ đó, rút ra kết luận về các vấn đề nghiên cứu. (Phụ lục 5)

2.2.4. Mẫu khảo sát

2.2.4.1 Cỡ mẫu

Căn cứ vào phần mềm xác định cỡ mẫu trực tuyến.

  • Tổng số thống kê: CBQL và GV là 274; HS là 4056
  • Độ tin cậy: chọn mức 95%
  • Biên độ sai số: chọn mức 5%
  • Cỡ mẫu khảo sát: CBQL và GV là 160 và HS là 351

2.2.4.2 Phương pháp chọn mẫu

Trên địa bàn thành phố Đồng Xoài có 06 trường THPT. Trong đó, có 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên của Tỉnh, HS rất ít, nhà trường thực hiện công tác phổ cập là chủ yếu và phần lớn các lớp học đặt tại các thôn ấp nên không chọn khảo sát; Có 02 trường THPT có đặc điểm giống nhau nên chọn ngẫu nhiên 01 trường (Trường THPT Nguyễn Du); 01 trường THPT chất lượng cao (trường THPT Hùng Vương); 01 trường THPT chuyên (trường THPT chuyên Quang Trung); 01 trường THPT dân tộc nội trú (trường THPT DTNT Tỉnh Bình Phước).

Đối với CBQL: khảo sát toàn bộ 15 CBQL của 04 trường.

Đối với giáo viên, chọn mẫu theo phương pháp lấy mẫu phân tầng:

Cỡ mẫu khảo sát đối với GV được xác định là 160 (bao gồm cả CBQL, bằng 58,39% tổng số CBQL và GV). Để chọn ra đối tượng khảo sát từng tầng (theo trường) sẽ thực hiện theo nguyên tắc ngẫu nhiên đơn giản trên cơ sở danh sách CB, GV của các nhà trường.

Cỡ mẫu khảo sát đối với HS được xác định là 351 (bằng 8,65% tổng số HS). Để chọn đối tượng khảo sát cuối cùng sẽ thực hiện theo nguyên tắc phân tầng thấp hơn (theo khối lớp), sau đó thực hiện chọn ngẫu nhiên lớp tương ứng và cuối cùng là chọn ngẫu nhiên số HS tương ứng. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

2.2.4.3 Đặc điểm tổng thể điều tra

  • Bảng 2.1. Đặc điểm tổng thể điều tra nhóm đối tượng là CBQL và GV

Qua khảo sát 160 CBQL và GV tại 04 trường THPT trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tiến hành xử lý kết quả phiếu khảo sát đảm bảo yêu cầu, mẫu điều tra có những đặc điểm:

Về giới tính: Số lượng CBQL và GV tham gia khảo sát có sự chênh lệch giữa nam và nữ. Có 65 nam, chiếm tỷ lệ 40.6%; trong khi đó số lượng nữ là 95, chiếm tỷ lệ 59,4%. Điều này cũng phù hợp với tỷ lệ nam và nữ trong các trường THPT, nữ thường chiếm tỷ lệ nhiều hơn nam.

Về độ tuổi: Đa số CBQL và GV ở độ tuổi từ 30 đến dưới 50: Độ tuổi từ 30 đến dưới 40 có tới 96 CB, GV, chiếm 60% và Độ tuổi từ 40 đến dưới 50 có 54 CBQL và GV, chiếm 33,8%; Ngược lại, số CBQL và GV trẻ, dưới 30 tuổi chỉ có 6, chiếm 3,8% và ít nhất là số CB, GV có tuổi từ 50 trở lên chỉ có 4, chiếm 2,5%.

Về chức vụ: Số lượng giáo viên chiếm đa số: 102, chiếm tỷ lệ 63,8%; giáo viên quản lý tổ: 35, chiếm 21,9%; giáo viên làm công tác đoàn: 8, chiếm 5%; CBQL nhà trường: 15, chiếm 9,4%.

Về đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Du là 47, chiếm 29,4%; trường THPT Hùng Vương là 50, chiếm 31,3%; trường THPT chuyên Quang Trung là 40, chiếm 25,0%; trường THPT DTNT Tỉnh là 23, chiếm 14,4%.

Về thâm niên công tác: Đa số CB, GV có thời gian công tác từ 10 năm đến dưới 20 năm: 104, chiếm 65%; Tiếp theo là CB, GV có thời gian công tác từ 5 năm đến dưới 10 năm: 25, chiếm 15,6%; Tiếp theo là CB, GV có thời gian công tác hơn 20 năm: 21, chiếm 13,1%; Ít nhất là giáo viên trẻ có thời gian công tác dưới 5 năm: 10, chiếm 6,3%.

Về thâm niên quản lý: Có 15 CBQL được khảo sát, chiếm 9,4% tổng số CB, GV được khảo sát, trong đó, thâm niên quản lý 01 nhiệm kỳ có 02, chiếm 13,3% số CBQL và chiếm 1,2% tổng số CB, GV được khảo sát; Thâm niên quản lý 02 nhiệm kỳ có 07, chiếm 46,7% số CBQLvà chiếm 4,4% tổng số CB, GV được khảo sát; Thâm niên quản lý hơn 02 nhiệm kỳ có 06, chiếm 40% số CBQL và chiếm 3,8% tổng số CB, GV được khảo sát. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Về trình độ chuyên môn: Toàn bộ CBQL và GV đều có trình độ đại học trở lên, trong đó cử nhân có 132, chiếm 82,5% và thạc sỹ là 28, chiếm 17,5%.

Về bồi dưỡng kiến thức về hoạt động tích hợp GDPL cho HS: Có 43 CB QL và GV được tập huấn về hoạt động tích hợp GDPL, chiếm 26,9%; và có 117 CB QL và GV chưa được tập huấn về hoạt động tích hợp GDPL, chiếm 73,1%.

Bảng 2.2. Đặc điểm tổng thể điều tra nhóm đối tượng là HS

Qua cuộc khảo sát 351 HS tại 04 trường THPT trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tiến hành xử lý kết quả phiếu khảo sát đảm bảo yêu cầu, mẫu điều tra có những đặc điểm:

Về giới tính: Có sự chênh lệch giữa nam và nữ tham gia khảo sát. Có 150 nam, chiếm tỷ lệ 42,7%; trong khi đó, số lượng nữ là 201, chiếm tỷ lệ 57,3%.

Về trường học: trường THPT Nguyễn Du là 114, mỗi khối 38 HS, trường THPT Hùng Vương là 132, mỗi khối 44 HS, trường THPT chuyên Quang Trung là 72, mỗi khối 24 HS, trường THPT DTNT Tỉnh là 33 mỗi khối 11 HS.

2.2.5. Cách quy ước, điểm số

2.2.5.1 Tiêu chí đánh giá

Đánh giá tầm quan trọng của hoạt động tích hợp GDPL và quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS trường THPT được đánh giá theo 05 mức độ: không quan trọng, ít quan trọng, bình thường, quan trọng, rất quan trọng.

Đánh giá mức độ biểu hiện các hành vi vi phạm nội quy, vi phạm pháp luật của HS trường THPT theo mức biểu hiện với 03 mức độ: biểu hiện ít, biểu hiện rõ biểu hiện rất rõ.

Đánh giá mức độ hứng thú của HS khi tham gia tham gia học tập các nội dung tích hợp GDPL theo 5 mức độ: không hứng thú, ít hứng thú, bình thường, hứng thú rất hứng thú.

Đánh giá mức độ thực hiện của hoạt động tích hợp GDPL và quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS trường THPT theo tiêu chí thực hiện với 05 mức độ: không thực hiện, hiếm khi thực hiện, thỉnh thoảng thực hiện, thường xuyên thực hiện luôn luôn thực hiện; Theo tiêu chí kết quả đạt được cũng với 05 mức độ: kém, yếu, trung bình, khá tốt.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tích hợp GDPL và quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS truờng THPT được đánh giá theo tiêu chí ảnh hưởng với 05 mức độ: không ảnh hưởng, ít ảnh hưởng, bình thường, ảnh hưởng rất ảnh hưởng.

2.2.5.2 Thang đánh giá Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

  • Thang đánh giá theo điểm:

Không quan trọng. ít biểu hiện, không hứng thú, không thực hiện, thực hiện kém, không ảnh hưởng: 1 điểm Ít quan trọng, biểu hiện rõ, ít hứng thú, hiếm khi thực hiện, thực hiện yếu, ít ảnh hưởng: 2 điểm

Bình thường, biểu hiện rất rõ, thỉnh thoảng thực hiện, trung bình: 3 điểm Quan trọng, hứng thú, thường xuyên, thực hiện khá, ảnh hưởng: 4 điểm Rất quan trọng, rất hứng thú, luôn luôn thực hiện, thực hiện tốt, rất ảnh hưởng: 5 điểm

  • Quy ước điểm trung bình (theo thang đo Likert):
  • Đối với 3 mức: Mức 1: 𝑋̅ < 1,68; Mức 2: 1,68 ≤ 𝑋̅ < 2,34; Mức 3: 2,34 ≤ 𝑋̅ ≤ 3
  • Đối với 5 mức: Mức 1: 𝑋̅ < 1,81; Mức 2: 1,81 ≤ 𝑋̅ < 2,61; Mức 3: 2,61 ≤ 𝑋̅ < 3,41;
  • Mức 4: 3,41 ≤ 𝑋̅ < 4,21; Mức 5: 4,21 ≤ 𝑋̅ ≤ 5

2.3. Thực trạng hoạt động tích hợp GDPL cho HS các trường THPT

  • Bảng 2.3. Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về tầm quan trọng của hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT

Ý thức về tầm quan trọng của hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT được CB, GV đánh giá ở mức“bình thường” với điểm trung bình 𝑋̅ = 3,29. Nhiều CBQL và GV chưa đánh giá cao tầm quan trọng của hoạt động tích hợp GDPL cho HS. Có 20 CBQL và GV đánh giá mức “quan trọng” và 44 CBQL và GV đánh giá mức “rất quan trọng”. Trong khi đó, Có 96 CBQL và GV còn xem nhẹ vai trò của hoạt tích hợp GDPL cho HS: đánh giá mức “không quan trọng” là 29, chiếm 18,1% và đánh giá mức “ít quan trọng” là 4, chiếm 2,5%. Với độ lệch chuẩn 1,38, thể hiện độ phân tán cao, có sự đánh giá không giống nhau giữa các mức độ của CBQL, GV. Có sự chênh lệch trong nhận thức đối với đối tượng điều tra của các trường về “Tầm quan trọng của hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT”. Trường THPT Hùng Vương còn đến 10,6% ý kiến cho rằng vấn đề này là “không quan trọng”.

  • Bảng 2.4. Ý kiến đánh giá của HS về tầm quan trọng của hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT

Ý thức về tầm quan trọng của hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT được chính HS đánh giá có điểm trung bình 𝑋̅ = 3,15, mức “bình thường”. HS có đánh giá đa dạng ở các mức độ với một tỷ lệ tương đối đều với độ lệch chuẩn là 1,36: mức “không quan trọng” có 54, chiếm 15,4%; mức “ít quan trọng” có 67, chiếm 19,1%; mức “bình thường” có 72, chiếm 20,5%; mức “quan trọng” có 87, chiếm 24,8%; mức “rất quan trọng” có 71, chiếm 20,2%. Tuy nhiên, có sự khác nhau giữa các đơn vị trong đánh giá. HS trường THPT chuyên Quang Trung đều đánh giá cao tầm quan trọng của hoạt động tích hợp GDPL cho HS. Trong khi đó, 3 trường còn lại vẫn còn một số HS cho rằng vấn đề này là “không quan trọng” với tỷ lệ từ 1,7% đến 7,4%.

  • Bảng 2.5. Ý kiến của HS về hứng thú của bản thân khi tham gia học tập các nội dung tích hợp GDPL trong nhà trường

HS thể hiện sự hứng thú của bản thân khi tham gia học tập các nội dung tích hợp GDPL trong nhà trường được ghi nhận có điểm trung bình 𝑋̅ = 2,78, mức “bình thường”. HS có đánh giá đa dạng ở các mức độ với một tỷ lệ tương đối đều ở 4 mức độ đầu. Tuy nhiên mức độ cao “rất hứng thú” chiếm tỷ lệ ít nhất, điều này thể hiện ở độ lệch chuẩn lên đến 1,25; mức “không hứng thú” có 70, chiếm 19,9%; mức “ít hứng thú” có 79, chiếm 22,5%; mức “bình thường” có 91, chiếm 25,9%; mức “hứng thú” có 81, chiếm 23,1%; mức “rất hứng thú” có 30, chiếm 8,5%. Sự hứng thú của HS khi tham gia học tập các nội dung tích hợp GDPL tại từng trường cũng có sự khác nhau. Như vậy, vẫn còn 240 HS, chiếm 68,3% cho rằng chưa “hứng thú khi tham gia học tập các nội dung tích hợp GDPL trong nhà trường”. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

  • Bảng 2.6. Ý kiến đánh giá của CBQL, GV và của HS về biểu hiện các hành vi vi phạm pháp luật của HS THPT

Đánh giá của CBQL và GV về biểu hiện hành vi vi phạm nội quy, vi phạm pháp luật của HS THPT với điểm trung bình 𝑋̅ = 1,63. Trong đó, có 5 hành vi “biểu hiện rõ” và 3 hành vi “biểu hiện ít”. Các hành vi vi phạm nội quy, pháp luật của HS THPT rất đa dạng. Những biểu hiện hành vi vi phạm của HS THPT trong nhà trường biểu hiện rõ:“Hút thuốc trong trường” được đánh giá biểu hiện rõ nhất với 𝑋̅ = 1,87; Tiếp theo là lỗi “Vi phạm các quy định về an toàn giao thông” với 𝑋̅ = 1,82. Đây là hai lỗi vi phạm pháp luật nhưng lại được ghi nhận ở mức đầu. “Vi phạm về giữ gìn vệ sinh chung” “vi phạm về chuyên cần như nghỉ học không phép; bỏ giờ học; đi học trễ…” cũng được đánh giá “biểu hiện rõ” với 𝑋̅ = 1,76 và 1,75. Bốn lỗi vi phạm này đều có độ lệch chuẩn cao từ 0,78 đến 0,91, thể hiện có sự phân tán cao trong đánh giá của cán bộ, giáo viên đối với các mức độ các hành vi này. Hành vi vi phạm tiếp theo là “Vi phạm về ý thức học tập như không chú ý; không học bài và làm bài; gian lận trong kiểm tra và thi cử…” với 𝑋̅ = 1,68 và độ lệch chuẩn là 0,78 cũng được xếp vào mức “biểu hiện rõ”. Hai hành vi tiếp theo có mức đánh giá gần giống nhau là “Vi phạm về giữ gìn và bảo quản tài sản công” “Vi phạm về bạo lực học đường như có lời nói hoặc thái độ vô lễ đối với thầy cô giáo; gây gổ, đánh nhau…” với 𝑋̅ = 1,58 và 1,53 và độ lệch chuẩn là 0,68 và 0,61 được CBQL và GV đánh giá “biểu hiện ít”. Cuối cùng là hành vi “Sử dụng rượu bia và các chất gây kích thích bị cấm” được cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá rất giống nhau ở mức “biểu hiện ít” với 𝑋̅ = 1,08 và độ lệch chuẩn là 0,29.

Từ góc nhìn của mình, HS đánh giá về các biểu hiện hành vi vi phạm nội quy, pháp luật của chính HS tuy đánh giá có phần khác nhau về thứ bậc nhưng cũng ở mức độ như đánh giá của CBQL và GV, với điểm trung bình 𝑋̅ = 1,62. Với 8 biểu hiện hành vi vi phạm nội quy, pháp luật nhưng HS đánh giá hành vi vi phạm biểu hiện rõ nhất là “Vi phạm về ý thức học tập” với 𝑋̅ = 1,82, tiếp theo là “vi phạm về chuyên cần” với 𝑋̅ = 1,78. Đây là các lỗi thường ngày, liên quan trực tiếp đến hoạt động học của HS. Tiếp theo là “Vi phạm các quy định về an toàn giao thông”, “Vi phạm về bạo lực học đường” “Hút thuốc trong trường” với 𝑋̅ = 1,74, 1,69 và 1,68. “Vi phạm về giữ gìn vệ sinh chung” “Vi phạm về giữ gìn và bảo quản tài sản công” được HS đánh giá ở mức “biểu hiện ít”,với 𝑋̅ = 1,58 và 1,44. Độ lệch chuẩn của hai hành vi này từ 0,69 đến 0,83 thể hiện có sự đánh giá có phần tập trung ở hai mức đầu. Cũng như cán bộ quản lý và giáo viên, học sinh cũng cho rằng “Sử dụng rượu bia và các chất gây kích thích bị cấm” biểu hiện ít với 𝑋̅ = 1,26 nhưng độ lệch chuẩn là 0,56 thể hiện có sự phân tán hơn trong đánh giá so với đánh giá của CBQL và GV.

Qua phỏng vấn một giáo viên chủ nhiệm, công tác tại trường THPT Nguyễn Du, cô có nhận định rằng: “Mặt dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác giáo dục đạo đức, tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật trong nhà trường, tuy nhiên, vẫn còn HS vi phạm nề nếp, nội quy của nhà trường, đặc biệt là các lỗi thuộc về vi phạm pháp luật như hút thuốc, vi phạm luật giao thông, sử dụng pháo nổ . . . Tôi cho rằng trước hết là do đặc điểm tâm sinh lý của độ tuổi này, nhưng một phần cũng có thể là do công tác tuyên tuyền phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chưa thật hiệu quả, chưa có sự phối hợp tốt giữa các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường . . .”

2.3.1. Thực trạng mức độ đạt được các mục tiêu tích hợp GDPL cho HS THPT Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Bảng 2.7. Ý kiến đánh giá của CBQL, GV và HS về thực trạng mức độ đạt được các mục tiêu tích hợp GDPL cho HS THPT

Nhận thức về mức độ đạt được các mục tiêu tích hợp GDPL ở các trường THPT được CBQL, GV và HS đánh giá đạt được ở mức độ “khá”. Các hoạt động giáo dục cho HS đã đạt được mục tiêu xác định, thể hiện điểm trung bình 𝑋̅= 4,09 và 4,03. Mục tiêu của tích hợp GDPL bao gồm nhiều mục tiêu và các mục tiêu được nhận thức ở mức độ khá đồng đều nhau. Cụ thể thứ bậc đạt được của các mục tiêu tích hợp GDPL cho HS được CBQL, GV và HS đánh giá giống nhau: Mục tiêu “Nâng cao kiến thức pháp luật. Nhận thức giá trị, ý nghĩa, sự cần thiết của các qui định pháp luật phù hợp với HS” được đánh giá đạt được cao nhất với 𝑋̅= 4,17 và 4,05; Mục tiêu “Hình thành và nâng cao thái độ, tình cảm, tôn trọng pháp luật và niềm tin vào pháp luật của HS” ở mức độ thứ hai với 𝑋̅= 4,09 và 4,03; và cuối cùng là mục tiêu “Xây dựng cho HS thói quen, xử sự và thực hiện các hành vi đúng pháp luật, theo pháp luật.” với 𝑋̅= 4,02 và 4,01. Độ lệch chuẩn giao động từ mức 0,72 đến 1,08 thể hiện có sự phân tán trong đánh giá các mức độ từng mục tiêu, cũng như phân tán trong đánh giá các mục tiêu. Nhìn chung, giáo viên đánh giá mức độ đạt được về các mục tiêu có cao hơn một ít so với HS đánh giá, tuy nhiên về thứ bậc là như nhau.

2.3.2. Thực trạng mức độ thực hiện và kết quả đạt được các yêu cầu của tích hợp GDPL cho HS THPT

Bảng 2.8. Ý kiến đánh giá của CBQL, GV và HS về thực trạng mức độ thực hiện các yêu cầu tích hợp GDPL cho HS THPT

Đánh giá về mức độ thực hiện các yêu cầu tích hợp GDPL ở các trường THPT được CBQL, GV và HS đánh giá ở mức “thường xuyên”, với điểm trung bình 𝑋̅= 3,52 và 3,45. Yêu cầu của tích hợp GDPL đưa ra ba nội dung và mức độ thực hiện các yêu cầu được đánh giá ở mức độ tương đối đồng đều nhau. Yêu cầu về “trang bị kiến thức, hiểu biết về pháp luật” được CBQL và GV đánh giá ở mức cao nhất với 𝑋̅= 3,62. Tiếp theo là yêu cầu “sự phối kết hợp giữa các lực lượng xã hội hóa giáo dục: nhà trường – gia đình – xã hội” với 𝑋̅= 3,56. Ngược lại, đối với HS thì vị trí thứ nhất thuộc yêu cầu “sự phối kết hợp giữa các lực lượng xã hội hóa giáo dục: nhà trường – gia đình – xã hội” với 𝑋̅= 3,69 và xếp thứ hai là yêu cầu “trang bị kiến thức, hiểu biết về pháp luật”. Yêu cầu “thời lượng giành cho tích hợp GDPL” được cả CBQL, GV và HS đánh giá mức độ thực hiện thấp nhất với 𝑋̅= 3,38 và 3,08. Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao, từ 0,85 đến 1,03. Điều này thể hiện sự phân tán cao trong đánh giá các mức độ thực hiện các yêu cầu tích hợp GDPL, trong đó đánh giá của HS có phần đa dạng hơn đánh giá của CBQL, GV.

Bảng 2.9. Ý kiến đánh giá của CBQL, GV và HS về thực trạng kết quả đạt được các yêu cầu tích hợp GDPL cho HS THPT

Đánh giá về kết quả đạt được các yêu cầu tích hợp GDPL ở các trường THPT được CBQL, GV và HS đánh giá đạt được ở mức độ “khá”, với điểm trung bình 𝑋̅= 3,81 và 3,91. Yêu cầu của tích hợp GDPL đưa ra ba nội dung và kết quả đạt được các yêu cầu được đánh giá mức độ tương đối đồng đều nhau và đánh giá thứ bậc cũng giống nhau. Kết quả đạt được đồng thứ bậc cao nhất là hai yêu cầu về “trang bị kiến thức, hiểu biết về pháp luật” và yêu cầu về “sự phối kết hợp giữa các lực lượng xã hội hóa giáo dục: nhà trường – gia đình – xã hội” với 𝑋̅= 3,84 và 4,02. Và cuối cùng là yêu cầu về “thời lượng giành cho tích hợp GDPL” được cả CBQL, GV và HS đánh giá kết quả đạt được thấp nhất với 𝑋̅= 3,74 và 3,70.

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao, từ 0,8 đến 0,99. Điều này thể hiện sự phân tán khá cao trong đánh giá các kết quả đạt được các yêu cầu, trong đó đánh giá của HS có phần đa dạng hơn ở các mức độ so với cán bộ quản lý, giáo viên.

2.3.3. Thực trạng mức độ thực hiện và kết quả đạt được các nội dung tích hợp GDPL cho HS THPT

Bảng 2.10. Ý kiến đánh giá của CBQL, GV và HS về thực trạng mức độ thực hiện các nội dung tích hợp GDPL cho HS THPT

Các nội dung tích hợp GDPL cho HS THPT rất đa dạng và mức độ thực hiện các nội dung tích hợp GDPL nhìn tổng thể được đánh giá ở mức độ “thường xuyên” và tương đối ngang nhau giữa hai nhóm đối tượng khảo sát với điểm trung bình 𝑋̅= 3,61 và 3,57. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Mức độ thực hiện các nội dung tích hợp GDPL cho HS THPT được CBQL và GV tham gia khảo sát đánh giá không đồng đều nhau. Nội dung “Giáo dục cho HS THPT có kỹ năng sống dựa trên các giá trị sống đúng đắn” được đánh giá thực hiện thường xuyên nhất với 𝑋̅= 3,76, xếp bậc 1/5. Tiếp theo là nội dung “Giáo dục hành vi và chuẩn mực đạo đức cho HS THPT” được đánh giá thực hiện thường xuyên thứ hai với 𝑋̅= 3,72. Ngược lại, đối với HS thì vị trí thứ nhất thuộc nội dung “Giáo dục hành vi và chuẩn mực đạo đức cho HS THPT” với 𝑋̅= 3,89 và xếp thứ hai là nội dung“Giáo dục cho HS THPT có kỹ năng sống dựa trên các giá trị sống đúng đắn” với 𝑋̅= 3,72. Ba nội dung tiếp theo tuy điểm đánh giá có phần lệch nhau nhưng cả CBQL và GV lẫn HS đều đánh giá thứ bậc như nhau: nội dung Tích hợp GDPL cho HS THPT” xếp thứ ba với 𝑋̅= 3,68 và 3,70; xếp thứ tư là nội dung “Giáo dục về những hiểu biết ban đầu về chính trị thường gặp” với 𝑋̅= 3,53 và 3,38; cuối cùng là nội dung “Giáo dục cho HS THPT về một số những hiểu biết ban đầu về kinh doanh thường gặp” được đánh giá “thỉnh thoảng thực hiện” với 𝑋̅= 3,38 và 3,17.

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao. Nhóm CBQL và GV là từ 0,87 đến 0,96; nhóm HS là từ 0,97 đến 1,24. Điều này thể hiện sự phân tán rất cao trong đánh giá các mức độ thực hiện các nội dung, trong đó đánh giá của HS có phần đa dạng hơn nhiều ở các mức độ so với đánh giá của CBQL và GV.

Bảng 2.11. Ý kiến đánh giá của CBQL, GV và HS về kết quả đạt được các nội dung tích hợp GDPL cho HS THPT

Đánh giá kết quả đạt được các nội dung tích hợp GDPL cho HS THPT được CBQL, GV và HS ghi nhận ở mức “khá” và gần như ngang nhau với điểm trung bình 𝑋̅= 3,94 và 3,97.

Kết quả đạt được các nội dung tích hợp GDPL cho HS THPT được hai nhóm đối tượng khảo sát đánh giá không đồng đều nhau. Kết quả các nội dung “Giáo dục cho HS THPT có kỹ năng sống dựa trên các giá trị sống đúng đắn”, “Giáo dục hành vi và chuẩn mực đạo đức cho HS THPT” Tích hợp GDPL cho HS THPT” được cả CBQL và GV lẫn HS đánh giá cao và được xếp ba thứ bậc đầu dù trật tự thứ bậc có khác nhau. Kết quả đạt được thấp hơn, xếp thứ tư là “Giáo dục về những hiểu biết ban đầu về chính trị thường gặp” với 𝑋̅= 3,89 và 3,72; cuối cùng là nội dung“Giáo dục cho HS THPT về một số những hiểu biết ban đầu về kinh doanh thường gặp” với 𝑋̅= 3,79 và 3,69.

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao. Nhóm CBQL và GV là từ 0,80 đến 0,89; nhóm HS là từ 0,97 đến 1,16. Điều này thể hiện sự phân tán rất cao trong đánh giá các kết quả đạt được các nội dung, trong đó đánh giá của HS có phần đa dạng hơn nhiều ở các mức độ so với đánh giá của CBQL và GV.

2.3.4. Thực trạng mức độ thực hiện và kết quả đạt được các hình thức tích hợp GDPL cho HS THPT Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Bảng 2.12. Ý kiến đánh giá của CBQL, GV và HS về mức độ thực hiện các hình thức tích hợp GDPL cho HS THPT

Tích hợp GDPL cho HS THPT được diễn ra theo hai hình thức: thông qua dạy học trên lớp – tích hợp thông qua dạy học các môn học; Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, trải nghiệm sáng tạo cho HS. Nhìn một cách khái quát, các hình thức tích hợp GDPL cho HS THPT được đánh giá thực hiện ở mức độ “thường xuyên” với 𝑋̅= 3,72 và 3,65. Tuy điểm trung bình đánh giá của CBQL, GV và HS có khác nhau nhưng trật tự thứ bậc các hình thức thực hiện thì được đánh giá như nhau.

Hình thức “Tích hợp GDPL thông qua dạy học môn Giáo dục công dân cho HS” được cả CBQL và GV lẫn HS ghi nhận ở thứ bậc cao nhất, điểm trung bình 𝑋̅= 3,95 và 3,90, không ghi ghi nhận trường hợp nào là “không thực hiện”. Hình thức tiếp theo là “Tích hợp GDPL các hoạt động ngoại khóa” với 𝑋̅= 3,65 và 𝑋̅= 3,62. Thứ ba là hình thức “Tích hợp GDPL thông qua tích hợp qua các môn học” với 𝑋̅= 3,64 và 𝑋̅= 3,55. Xếp thứ bậc thấp nhất là hình thức “Tích hợp GDPL thông qua hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và các lực lượng xã hội” với 𝑋̅= 3,63 và 𝑋̅= 3,54.

Phỏng vấn một Hiệu trưởng về hình thức GDPL được ưu tiên lựa chọn tại nhà trường: “Nhìn chung, đối với hình thức tích hợp GDPL thông qua dạy học trên lớp thì dạy học tích hợp thông qua môn học GDCD được đánh giá cao hơn so với tích hợp thông qua dạy học các môn học khác. Đối với hình thức tích hợp GDPL thông qua tổ chức hoạt động thì tích hợp thông qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa của nhà trường được đánh giá cao hơn các hoạt động trải nghiệm phối hợp với các lực lượng khác.”

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao. Nhóm CBQL và GV là từ 0,89 đến 1,01; đối với nhóm HS là từ 0,96 đến 1,15, thể hiện sự phân tán rất cao trong đánh giá các mức độ thực hiện của hình thức tích hợp GDPL cho HS, trong đó đánh giá của HS có phần cao hơn một ít so với đánh giá của CBQL và GV.

Bảng 2.13. Ý kiến đánh giá của CBQL, GV và HS về kết quả đạt được các hình thức tích hợp GDPL cho HS THPT

Đánh giá kết quả đạt được các hình thức tích hợp GDPL cho HS THPT được CBQL, GV và HS ghi nhận ở mức độ “khá” và có độ lệch nhau nhất định với điểm trung bình 𝑋̅= 3,96 và 4,10. Tuy nhiên, thứ bậc đánh giá của hai nhóm lại tương đồng nhau. Xếp thứ nhất “Tích hợp GDPL thông qua dạy học môn GDCD cho HS” được cả CBQL và GV lẫn HS đánh giá với điểm trung bình 𝑋̅= 4,10 và 4,35. Tiếp theo là kết quả đạt được của hình thức “Tích hợp GDPL thông qua tích hợp qua các môn học” “Tích hợp GDPL các hoạt động ngoại khóa” được xếp ngang nhau cùng điểm trung bình 𝑋̅= 3,93 và 4,05. Xếp cuối cùng là kết quả đạt được của hình thức “Tích hợp GDPL thông qua hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và các lực lượng xã hội” với điểm trung bình 𝑋̅= 3,86 và 3,97. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao. Nhóm CBQL và GV là từ 0,79 đến 0,89; nhóm HS là từ 0,86 đến 1,05. Điều này thể hiện sự phân tán cao trong đánh giá các kết quả đạt được các hình thức của tích hợp GDPL cho HS, trong đó đánh giá của HS có phần đa dạng hơn nhiều ở các mức độ so với đánh giá của CBQL và GV.

2.3.5. Thực trạng mức độ thực hiện và kết quả đạt được các phương pháp tích hợp GDPL cho HS THPT

Bảng 2.14. Ý kiến đánh giá của CBQL, GV và HS về mức độ đạt được các phương pháp tích hợp GDPL cho HS THPT

Đánh giá về mức độ thực hiện các phương pháp tích hợp GDPL ở các trường THPT được CBQL, GV và HS đánh giá đạt được ở mức độ “thường xuyên”, với điểm trung bình 𝑋̅= 3,66 và 3,59. Có ba phương pháp tích hợp GDPL được đưa ra lấy ý kiến, mức độ thực hiện các phương pháp được đánh giá khác nhau.“Phương pháp kích thích hành vi (thi đua, khen thưởng, trách phạt…)” được CBQL, GV và HS đánh giá ở mức cao nhất với 𝑋̅= 3,76 và 3,95. Tuy nhiên, đối với thứ bậc thứ hai và thứ ba thì có sự khác nhau trong đánh giá giữa hai nhóm đối tượng: Nhóm CBQL và GV đánh giá “Phương pháp thuyết phục (đàm thoại, tranh luận, nêu gương…)” ở thứ bậc số hai, với 𝑋̅= 3,66 và cuối cùng là “Phương pháp tổ chức hoạt động (giao công việc, tạo dư luận xã hội, tạo tình huống giáo dục…)”, với 𝑋̅= 3,57. Ngược lại, đối với HS thì vị trí thứ hai thuộc“Phương pháp tổ chức hoạt động (giao công việc, tạo dư luận xã hội, tạo tình huống giáo dục…)”, với 𝑋̅= 3,48. Xếp cuối lại là “Phương pháp thuyết phục (đàm thoại, tranh luận, nêu gương…)”, với 𝑋̅= 3,36.

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao, từ 0,88 đến 1,11. Điều này thể hiện sự phân tán cao trong đánh giá các mức độ thực hiện các phương pháp, trong đó đánh giá của HS có phần đa dạng hơn ở các mức độ thực hiện so với đánh giá của CBQL và GV.

Bảng 2.15. Ý kiến đánh giá của CBQL, GV và HS về kết quả đạt được các phương pháp tích hợp GDPL cho HS THPT

Đánh giá kết quả đạt được các phương pháp tích hợp GDPL cho HS THPT được CBQL, GV và HS ghi nhận ở mức độ “khá” và có độ lệch nhau không đáng kể với điểm trung bình 𝑋̅= 3,94 và 4,0. Đồng thời, cả CBQL, GV và HS cũng có đánh giá thứ bậc tương đồng nhau. Xếp thứ nhất là kết quả đạt được của “Phương pháp kích thích hành vi (thi đua, khen thưởng, trách phạt…)” với 𝑋̅= 4,01 và 4,23. Tiếp theo là kết quả đạt được của“Phương pháp thuyết phục (đàm thoại, tranh luận, nêu gương…)” được CBQL, GV và HS đánh giá ngang nhau với 𝑋̅= 3,9. Xếp cuối cùng là kết quả đạt được của “Phương pháp tổ chức hoạt động (giao công việc, tạo dư luận xã hội, tạo tình huống giáo dục…)” cũng được CBQL, GV và HS đánh giá ngang nhau với 𝑋̅= 3,89.

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao. Nhóm CBQL và GV là từ 0,79 đến 0,85; nhóm HS là từ 1,05 đến 1,1, thể hiện sự phân tán cao trong đánh giá các kết quả đạt được các phương pháp tích hợp GDPL cho HS, trong đó đánh giá của HS có phần đa dạng hơn ở các mức độ so với đánh giá của CBQL và GV.

2.3.6. Thuận lợi và khó khăn trong công tác tích hợp GDPL cho HS các trường THPT Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Qua khảo sát và phỏng vấn thêm một số cán bộ quản lý và giáo viên tại các trường: Có nhiều ý kiến nhận định thuận lợi của các nhà trường trong thực hiện công tác tích hợp GDPL cho HS THPT. Trong đó, các nội dung được nhiều CBQL, GV và HS nêu ra như: 40/40 CBQL, GV và 9/72 HS trường chuyên Quang Trung được khảo sát cho rằng HS trường chuyên ngoan, lễ phép hiểu pháp luật; 124/160 CBQL và GV được khảo sát cho rằng có sự chỉ đạo của cấp trên và sự phối hợp các lực lượng giáo dục; 63/160 CBQL, GV và 68/351 HS được khảo sát cho rằng thuận lợi là HS ở tập trung ký túc xá; 76/160 CBQL, GV cho rằng: HS giỏi, đạo đức tốt, lãnh đạo nhà trường quan tâm; 172/511 CBQL, GV và HS cho rằng: HS tích cực hoạt động, hợp tác tốt; 183/511 CBQL, GV và HS ý kiến cho rằng: có sự phối hợp với công an…

Bên cạnh các thuận lợi được đề cập thì CBQL, GV và HS cũng đã nêu ra không ít khó khăn trong thực hiện công tác tích hợp GDPL cho HS THPT, trong đó, các nội dung được đề cập nhiều như: thiếu tài liệu thiết thực: 214 ý kiến; thời gian dành cho tích hợp GDPL các môn học còn ít: 197 ý kiến; GV chưa được tập huấn: 117 ý kiến; chưa có cơ chế khuyến khích, động viên: 47 ý kiến; hình thức chưa đa dạng, thu hút: 269 ý kiến; HS chưa thật hứng thú: 65 ý kiến; kiến thức bộ môn nhiều, không đủ thời lượng để tích hợp GDPL: 42 ý kiến . . .

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS các trường THPT Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

2.4.1. Thực trạng nhận thức về quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS ở các trường THPT

Bảng 2.16. Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT

Tầm quan trọng của quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT được CBQL và GV đánh giá ở mức “bình thường” với điểm trung bình 𝑋̅ = 3,3. Phần nhiều CBQL, GV chưa đánh giá cao tầm quan trọng của quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS. Chỉ có 53 CBQL và GV đánh giá từ mức “quan trọng” đến“rất quan trọng”, chiếm 33,2%. Cụ thể, có 26 CBQL và GV đánh giá ở mức “quan trọng”, chiếm 16,3%; 27 CBQL và GV đánh giá ở mức “rất quan trọng”, chiếm 16,9%. Độ lệch chuẩn trong đánh giá của CBQL và GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT là 1,04, thể hiện có sự phân tán cao trong đánh giá các mức, cho thấy ý thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tích hợp GDPL của CBQL và GV còn khác nhau.

2.4.2. Lập kế hoạch tích hợp GDPL cho HS THPT

Bảng 2.17. Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện việc lập kế hoạch tích hợp GDPL cho HS THPT

Công tác lập kế hoạch tích hợp GDPL cho HS được khách thể khảo sát đánh giá thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng”, thể hiện điểm trung bình chung 𝑋̅= 3,4 và điểm trung bình của các biện pháp lập kế hoạch thực hiện dao động: 3,32 ≤ 𝑋̅ ≤ 3,46. Hiệu trưởng các trường THPT đã thực hiện các biện pháp lập kế hoạch tích hợp GDPL, mức độ thực hiện các biện pháp được đánh giá không đồng đều nhau. Thực hiện thường xuyên, tốt nhất là các biện pháp“Xác định mục tiêu hoạt động tích hợp GDPL cho HS”, xếp bậc 1/7, với 𝑋̅= 3,46 ; biện pháp “Xây dựng các nội dung hoạt động tích hợp GDPL” xếp hạng 2/7, với 𝑋̅= 3,45. Đồng xếp hạng thứ ba là các biện pháp “Nghiên cứu các văn bản nghị quyết về hoạt động tích hợp GDPL cho HS” và “Lập kế hoạch thực hiện các nội dung hoạt động tích hợp GDPL”, với 𝑋̅= 3,41. Các biện pháp lập kế hoạch được đánh giá thực hiện thấp hơn, chỉ được đánh giá “thỉnh thoảng thực hiện” lần lượt là biện pháp “Xác định các biện pháp để thực hiện kế hoạch hoạt động tích hợp GDPL”, xếp thứ 5/7 với 𝑋̅= 3,39; biện pháp “Đánh giá thực trạng hoạt động tích hợp GDPL hiện nay (những mặt mạnh, mặt yếu, thời cơ và thách thức…)”, xếp hạng 6/7 với 𝑋̅= 3,37 và biện pháp “Lập kế hoạch về thời gian, tài chính, cơ sở vật chất cho việc hoạt động tích hợp GDPL.” xếp hạng 7/7, với 𝑋̅= 3,32. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Bảng 2.18. Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về kết quả đạt được việc lập kế hoạch tích hợp GDPL cho HS THPT

Đánh giá kết quả đạt được về lập kế hoạch hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT được CBQL và GV ghi nhận ở mức độ “khá” và có độ lệch nhau không đáng kể với điểm trung bình 𝑋̅= 3,82. Xếp thứ nhất là kết quả đạt được của nội dung lập kế hoạch là “Xác định mục tiêu hoạt động tích hợp GDPL cho HS” với 𝑋̅= 3,87. Tiếp theo lần lượt là kết quả đạt được của các nội dung “Xây dựng các nội dung hoạt động tích hợp GDPL” “Nghiên cứu các văn bản nghị quyết về hoạt động tích hợp GDPL cho HS” được CBQL và GV đánh giá gần ngang nhau, với 𝑋̅= 3,86 và 3,85. Nhóm các nội dung “Đánh giá thực trạng hoạt động tích hợp GDPL hiện nay (những mặt mạnh, mặt yếu, thời cơ và thách thức…)”, “Lập kế hoạch thực hiện các nội dung hoạt động tích hợp GDPL” “Xác định các biện pháp để thực hiện kế hoạch hoạt động tích hợp GDPL” cũng được CBQL và GV đánh giá gần ngang nhau, với 𝑋̅= 3,81 và 3,79. Xếp cuối cùng là kết quả đạt được của nội dung “Lập kế hoạch về thời gian, tài chính, cơ sở vật chất cho việc hoạt động tích hợp GDPL.”, với 𝑋̅= 3,74. Với 7 nội dung về “Đánh giá kết quả đạt được việc lập kế hoạch tích hợp GDPL cho HS THPT” chưa có nội dung nào được xếp mức “tốt”.

Độ lệch chuẩn trong đánh giá cao, từ 0,88 đến 0,97. Điều này thể hiện sự phân tán cao trong đánh giá các kết quả đạt được từng nội dung của lập kế hoạch hoạt động tích hợp GDPL cho HS nhưng lại giống nhau trong cách đánh giá kết quả đạt được của các nội dung.

Qua quan sát và phỏng vấn CBQL và GV tham gia tích hợp GDPL cho HS THPT có thể giải thích:

Xác định mục tiêu tích hợp GDPL được đánh giá thực hiện tốt nhất vì đây là khâu đầu tiên của lập kế hoạch. Xác định mục tiêu rõ ràng thì mới lập được kế hoạch chính xác và bản thân mục tiêu cũng được quán triệt rõ ràng trong các tài liệu, văn bản chỉ thị về tích hợp GDPL cho HS.

Lập kế hoạch tài chính cơ sở vật chất được đánh giá thấp hơn là vì trong nhà trường THPT hoạt động chuyên môn là hoạt động chính chiếm nhiều thời gian được chú ý nhiều hơn, còn hoạt động tích hợp GDPL thường được xem là hoạt động giáo dục lồng ghép. Vì vậy, thời gian, tài chính dành cho hoạt động tích hợp GDPL không được rõ ràng bằng hoạt động chuyên môn.

2.4.3. Tổ chức triển khai hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT

Bảng 2.19. Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện việc tổ chức triển khai hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT

Tổ chức triển khai hoạt động tích hợp GDPL cho HS trong nhà trường thuộc về cơ cấu tổ chức với nội dung cơ bản là xác định các bộ phận tham gia tích hợp GDPL cho HS trong nhà trường. Tổ chức triển khai hoạt động tích hợp GDPL cho HS được khách thể khảo sát đánh giá thực hiện ở mức độ “thường xuyên”, thể hiện điểm trung bình chung 𝑋̅=3,45 và điểm trung bình của các nội dung tổ chức triển khai hoạt động tích hợp GDPL cho HS trong nhà trường dao động: 3,37 ≤ 𝑋̅ ≤ 3,52.

Hiệu trưởng các trường THPT đã thực hiện nhiều nội dung tổ chức triển khai hoạt động tích hợp GDPL, mức độ thực hiện các nội dung được đánh giá không đều nhau. Thực hiện tốt nhất là các biện pháp “Xây dựng cơ cấu tổ chức cho hoạt động tích hợp GDPL trong nhà trường” xếp bậc 1/4 với 𝑋̅= 3,52; biện pháp “Xác định nhiệm vụ của từng lực lượng trong nhà trường tham gia hoạt động tích hợp GDPL” xếp hạng 2/4 với 𝑋̅= 3,51. Các biện pháp tổ chức được đánh giá thực hiện thấp hơn là “Xây dựng cơ chế làm việc, tổ chức điều hành hoạt động tích hợp GDPL giữa các lực lượng trong nhà trường” xếp hạng 3/4 với 𝑋̅= 3,42 và “Tập huấn cho các lực lượng tham gia hoạt động tích hợp GDPL cho HS” xếp hạng 4/4 với 𝑋̅= 3,37. Với 4 nội dung về “Đánh giá mức độ thực hiện việc tổ chức triển khai hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT” chưa có nội dung nào được xếp mức “rất thường xuyên”. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Độ lệch chuẩn trong đánh giá cao, từ 0,84 đến 0,98. Điều này thể hiện sự phân tán cao trong đánh giá các kết quả đạt được từng nội dung trong tổ chức triển khai hoạt động tích hợp GDPL cho HS trong nhà trường.

Bảng 2.20. Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về kết quả đạt được việc tổ chức triển khai hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT

Đánh giá kết quả đạt được về tổ chức triển khai hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT được CBQL và GV ghi nhận ở mức độ “khá” và có độ lệch nhau, điểm trung bình 𝑋̅= 3,86. Xếp thứ nhất là kết quả đạt được của nội dung tổ chức triển khai là “Xây dựng cơ cấu tổ chức cho hoạt động tích hợp GDPL trong nhà trường” với 𝑋̅= 3,9. Tiếp theo lần lượt là kết quả đạt được của các nội dung “Xác định nhiệm vụ của từng lực lượng trong nhà trường tham gia hoạt động tích hợp GDPL” được CBQL và GV đánh giá với 𝑋̅= 3,88. Thứ ba là nội dung “Xây dựng cơ chế làm việc, tổ chức điều hành hoạt động tích hợp GDPL giữa các lực lượng trong nhà trường” với 𝑋̅= 3,85. Xếp cuối cùng là kết quả đạt được của nội dung tổ chức triển khai là “Tập huấn cho các lực lượng tham gia hoạt động tích hợp GDPL cho HS” với 𝑋̅= 3,8.

Độ lệch chuẩn trong đánh giá cao, từ 0,82 đến 0,83. Điều này thể hiện sự phân tán tương đối cao nhưng lại giống nhau trong đánh giá các kết quả đạt được từng nội dung tổ chức triển khai hoạt động tích hợp GDPL cho HS.

2.4.4. Chỉ đạo các hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT

Bảng 2.21. Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện việc chỉ đạo công tác tích hợp GDPL cho HS THPT

Công tác chỉ đạo các hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT được khách thể khảo sát đánh giá thực hiện ở mức độ “thường xuyên”, thể hiện điểm trung bình chung 𝑋̅= 3,53 và điểm trung bình của các biện pháp chỉ đạo công tác quản lý tích hợp GDPL dao động: 3,47 ≤ 𝑋̅ ≤ 3,6.

Hiệu trưởng các trường THPT đã thực hiện nhiều biện pháp chỉ đạo các hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT, mức độ thực hiện các nội dung chỉ đạo được đánh giá khác nhau. Thực hiện tốt nhất là nội dung“Chỉ đạo và điều hành các hoạt động tích hợp GDPL cho HS thông qua dạy học môn GDCD và các môn học khác”, xếp bậc 1/4 với 𝑋̅= 3,6; Nội dung“Chỉ đạo thực hiện các hoạt động tích hợp GDPL cho HS qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, qua các hoạt động trải nghiệm” xếp hạng 2/4 với 𝑋̅= 3,57. Tiếp theo là nội dung“Chỉ đạo xây dựng và triển khai các chủ đề hoạt động tích hợp, liên môn gắn với tích hợp GDPL cho HS”, xếp hạng 3/4 với 𝑋̅= 3,49; Nội dung đạt được xếp thấp nhất với 𝑋̅= 3,47 là “Chỉ đạo tổ chức các cuộc thi: tìm hiểu về pháp luật; vận dụng các kiến thức vào giải quyết các tình huống pháp luật thực tiễn xảy ra”. Với 4 nội dung về “Đánh giá mức độ thực hiện việc chỉ đạo công tác tích hợp GDPL cho HS THPT” chưa có nội dung nào được xếp mức“luôn luôn thực hiện”.

Bảng 2.22. Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về kết quả đạt được việc chỉ đạo công tác tích hợp GDPL cho HS THPT

Đánh giá kết quả đạt được về chỉ đạo các hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT được CBQL và GV đánh giá ở mức độ “khá” và có độ lệch nhau không đáng kể với điểm trung bình 𝑋̅= 3,90 và dao động từ 3,89 ≤ 𝑋̅ ≤ 3,90 . Xếp thứ nhất là kết quả đạt được của nội dung chỉ đạo các hoạt động tích hợp GDPL là “Chỉ đạo và điều hành các hoạt động tích hợp GDPL cho HS thông qua dạy học môn GDCD và các môn học khác”, với 𝑋̅= 3,92. Ba nội dung còn lại về chỉ đạo các hoạt động tích hợp GDPL được CBQL và GV đánh giá kết quả đạt được như nhau với 𝑋̅= 3,89. Đó là “Chỉ đạo tổ chức các cuộc thi: tìm hiểu về pháp luật; vận dụng các kiến thức vào giải quyết các tình huống pháp luật thực tiễn xảy ra”, “Chỉ đạo thực hiện các hoạt động tích hợp GDPL cho HS qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, qua các hoạt động trải nghiệm” “Chỉ đạo xây dựng và triển khai các chủ đề hoạt động tích hợp, liên môn gắn với tích hợp GDPL cho HS”.

Độ lệch chuẩn trong đánh giá cao, từ 0,85 đến 0,9. Điều này thể hiện sự phân tán tương đối cao trong đánh giá các kết quả đạt được từng nội dung chỉ đạo các hoạt động tích hợp GDPL cho HS nhưng lại có phần giống nhau trong cách đánh giá kết quả đạt được của các nội dung.

2.4.5. Kiểm tra và đánh giá hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Bảng 2.23. Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện của kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch tích hợp GDPL cho HS THPT

Công tác kiểm tra và đánh giá hoạt động tích hợp GDPL cho HS được khách thể khảo sát đánh giá thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng”, thể hiện điểm trung bình chung 𝑋̅= 3,34 và điểm trung bình của các biện pháp kiểm tra đánh giá dao động: 3,31 ≤ 𝑋̅ ≤ 3,36.

Hiệu trưởng các trường THPT đã thực hiện nhiều biện pháp kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch tích hợp GDPL, mức độ thực hiện các biện pháp được đánh giá có độ lệch nhau. Thực hiện tốt nhất là các biện pháp “Xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá hoạt động tích hợp GDPL”, xếp bậc 1/6 với 𝑋̅= 3,36; Biện pháp “Kiểm tra việc thực hiện hoạt động tích hợp GDPL đã xác định” xếp bậc 2/6, với 𝑋̅= 3,35. Tiếp theo là biện pháp “Đo đạc, đánh giá mức độ thực hiện các nhiệm vụ hoạt động tích hợp GDPL theo kế hoạch”, xếp bậc 3/6 với 𝑋̅= 3,34. Hai biện pháp “Tổng hợp kết quả thực hiện nhiệm vụ các lực lượng tham gia hoạt động tích hợp GDPL” “Tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động tích hợp GDPL” có điểm số đánh giá trung bình ngang nhau, với 𝑋̅= 3,33. Xếp thứ tự thấp nhất trong sáu bậc là biện pháp “Phát hiện điều chỉnh các sai lệch khi tổ chức hoạt động tích hợp GDPL”, với 𝑋̅ = 3,31. Với 6 nội dung về “Đánh giá mức độ thực hiện của kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch tích hợp GDPL cho HS THPT” chưa có nội dung nào được xếp từ mức “thường xuyên” trở lên.

Bảng 2.24. Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về kết quả đạt được của kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch tích hợp GDPL cho HS THPT Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Đánh giá kết quả đạt được về kiểm tra đánh giá các hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT được CBQL và GV đánh giá ở mức độ “khá” và có độ lệch nhau tương đối, với điểm trung bình 𝑋̅= 3,81. Xếp thứ nhất là kết quả đạt được của nội dung kiểm tra đánh giá các hoạt động tích hợp GDPL là “Xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá hoạt động tích hợp GDPL”, với 𝑋̅= 3,84. Hai nội dung còn lại về kiểm tra đánh các hoạt động tích hợp GDPL được CBQL và GV đánh giá kết quả đạt được như nhau với 𝑋̅= 3,83, đó là “Kiểm tra việc thực hiện hoạt động tích hợp GDPL đã xác định” “Tổng hợp kết quả thực hiện nhiệm vụ các lực lượng tham gia hoạt động tích hợp GDPL”. Xếp bậc tiếp theo là “Đo đạc, đánh giá mức độ thực hiện các nhiệm vụ hoạt động tích hợp GDPL theo kế hoạch”, với 𝑋̅= 3,81. Đồng thứ bậc cuối là hai nội dung “Phát hiện điều chỉnh các sai lệch khi tổ chức hoạt động tích hợp GDPL” “Tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động tích hợp GDPL”, với 𝑋̅= 3,77. Tổng kết đánh giá và rút kinh nghiệm và điều chỉnh vẫn là khâu còn yếu, chưa được các nhà quản lý quan tâm đúng mức trong công tác quản lý tích hợp GDPL. Với 6 nội dung về “Đánh giá kết quả đạt được của kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch tích hợp GDPL cho HS THPT” chưa có nội dung nào được xếp mức “Tốt”.

Độ lệch chuẩn trong đánh giá cao, từ 0,82 đến 0,91. Điều này thể hiện sự phân tán tương đối cao trong đánh giá các kết quả đạt được từng nội dung kiểm tra đánh giá các hoạt động tích hợp GDPL cho HS.

Bảng 2.25. Tổng hợp ý kiến đánh giá của CBQL và GV về thực trạng các biện pháp quản lý tích hợp GDPL cho HS THPT

Nhìn một cách khái quát các biện pháp quản lý tích hợp GDPL cho HS THPT được CBQL và GV đánh giá kết quả đạt được ở mức độ “khá” với 𝑋̅ = 3,85.

Các biện pháp quản lý tích hợp GDPL cho HS THPT được đánh giá thực hiện không đồng đều nhau. Đầu tiên là biện pháp“Chỉ đạo các hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT”, với 𝑋̅ = 3,9. Thứ hai là biện pháp“Tổ chức triển khai hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT”, với 𝑋̅ = 3,86. Thứ ba là biện pháp “Lập kế hoạch hoạt động tích hợp GDPL cho HS”, với 𝑋̅ = 3,82. Cuối cùng là biện pháp “Kiểm tra và đánh giá hoạt động tích hợp GDPL cho HS” với 𝑋̅ = 3,81. Như vậy, kết quả “Bảng tổng hợp thực trạng các biện pháp quản lý tích hợp GDPL cho HS THPT” với 4 nội dung quản lý chưa có nội dung nào được đánh giá ở kết quả “Tốt”.

Thực trạng mức độ thực hiện các biện pháp quản lý tích hợp GDPL là cơ để đề xuất các biện pháp quản lý tích hợp GDPL cho HS THPT có hiệu quả hơn.

2.5. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp GDPL cho HS THPT Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

2.5.1. Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp GDPL cho HS THPT

Bảng 2.26. Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp GDPL cho HS THPT

Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp GDPL cho HS được khách thể khảo sát đánh giá mức độ “có ảnh hưởng”, thể hiện điểm trung bình chung 𝑋̅= 3,48 và điểm trung bình của các yếu tố ảnh hưởng dao động: 3,39 ≤ 𝑋̅ ≤ 3,6.

Các yếu tố khách quan ảnh hướng đến công tác quản lý tích hợp GDPL cho HS THPT bao gồm nhiều yếu tố, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố được đánh giá không như nhau đến công tác quản lý tích hợp GDPL cho HS: Những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là “Thái độ từ phía gia đình đối với việc tích hợp GDPL cho HS” với 𝑋̅ = 3,6 xếp hạng thứ nhất. Yếu tố “Sự phát triển của khoa học công nghệ và mạng xã hội”, với 𝑋̅ = 3,59 xếp hạng thứ hai. Xếp hạng thứ ba là yếu tố “Sự thống nhất chỉ đạo của các cơ quan đối với công tác tích hợp GDPL cho HS”. Tiếp theo, yếu tố “Tác động của tệ nạn xã hội”, “Môi trường kinh tế, văn hóa xã hội đối với tích hợp GDPL” “Ảnh hưởng của các cơ quan chức năng có liên quan đến tích hợp GDPL cho HS (công an, tòa án…)” được đánh giá có ảnh hưởng gần như nhau đến công tác quản lý tích hợp GDPL cho HS với 𝑋̅= 3.41 và 3,42. Cuối cùng, có ảnh hưởng thấp nhất là yếu tố “Văn bản chỉ đạo từ cấp trên đối với công tác tích hợp GDPL” với 𝑋̅= 3,39.

2.5.2. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp GDPL cho HS THPT

Bảng 2.27. Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý GDPL cho HS THPT

Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp GDPL cho HS được khách thể khảo sát đánh giá ở mức “có ảnh hưởng” thể hiện điểm trung bình chung 𝑋̅= 3,7 và điểm trung bình của các yếu tố ảnh hưởng dao động: 3,47 ≤ 𝑋̅ ≤ 3,8.

Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác tích hợp GDPL cho HS THPT bao gồm nhiều yếu tố, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố được đánh giá không đồng đều nhau: Những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là “Trình độ và năng lực quản lý hoạt động tích hợp GDPL của hiệu trưởng”, với 𝑋̅= 3,8, xếp hạng 1/6. Yếu tố “Sự phối hợp giữa các lực lượng trong nhà trường đối với hoạt động tích hợp GDPL” với 𝑋̅= 3,79, xếp hạng 2/7. Những yếu tố ảnh hưởng ít hơn lần lượt là “Vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị trong nhà trường”, “Trình độ và nhận thức của giáo viên với việc thực hiện hoạt động tích hợp GDPL” “nhận thức, ý thức và đặc điểm tâm lý lứa tuổi HS THPT” với mức trung bình lần lượt 𝑋̅= 3,76, 3,7 và 3,68. Cuối cùng là yếu tố “Cơ sở vật chất cho việc hoạt động tích hợp GDPL” với 𝑋̅= 3,47.

2.6. Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT

2.6.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Thành phố Đồng Xoài là trung tâm hành chính của tỉnh, có nhiều thuận lợi hơn so với các địa phương khác về nhiều mặt. Công tác giáo dục nói chung và công tác tuyên truyền phổ biến, GDPL nói riêng luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước, của cấp uỷ, chính quyền địa phương.

Công tác quản lý tích hợp GDPL ở trường THPT được các nhà trường quan tâm. CBQL và GV có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác tích hợp GDPL cho HS. Đặc biệt là trong những năm gần đây khi mà môn GDCD là một trong các môn thi THPT quốc gia, và là môn có cơ hội đạt điểm cao hơn các môn khác.

Việc phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường cũng đã được triển khai và bước đầu thu được những kết quả nhất định. Nhà trường cũng đã chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp và biện pháp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của đơn vị, các tổ chức chính trị xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm từng bước nâng cao chất lượng tích hợp GDPL cho HS; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật của HS góp phần ổn định xã hội và môi trường giáo dục. HS nhận thức về tầm quan trọng của tích hợp GDPL và cũng có hứng thú trong học tập và tìm hiểu về pháp luật.

2.6.2. Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm, những mặt mạnh của công tác tích hợp GDPL trong các trường THPT trên địa bàn thành phố, qua kết quả thăm dò, khảo sát thực trạng về tích hợp GDPL ở các nhà trường, công tác quản lý hoạt động tích hợp GDPL của trường THPT còn những hạn chế, tồn tại nhất định:

Công tác quản lý hoạt động tích hợp GDPL của nhà trường đã được quan tâm, chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, công tác tổ chức chưa thật sự “bài bản”, dẫn đến thiếu trọng tâm, trọng điểm, chưa thường xuyên, còn mang tính hình thức, vụ việc. Sự phối hợp với các lực lượng ngoài nhà trường trong công tác tích hợp GDPL chưa đi vào nề nếp, chưa thường xuyên; thiếu sự chỉ đạo thường xuyên, đồng bộ, thống nhất từ trên xuống dưới.

  • Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận không nhỏ CB, GV, HS về tích hợp GDPL còn hạn chế, chưa đúng mực. Việc đầu tư các nguồn lực và thời gian cho hoạt động này chưa thỏa đáng.
  • Nội dung tích hợp GDPL còn rập khuôn, nặng về phổ biến các quy định của pháp luật, chưa chú trọng đến việc hướng HS rèn luyện kỹ năng ứng xử, kỹ năng vận dụng kiến thức pháp luật để giải quyết các vấn đề của thực tiễn cuộc sống.

2.6.3. Nguyên nhân của các hạn chế

  • Thể chế cho công tác phổ biến, tích hợp GDPL chưa đủ mạnh; chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ, ràng buộc, hay chính sách xã hội cụ thể về việc phối hợp GDPL. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức chưa thật quan tâm, phối hợp với nhà trường trong xã hội hóa công tác tích hợp GDPL. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.
  • Khả năng tập hợp và khai thác thế mạnh các lực lượng giáo dục của nhà trường có phần hạn chế, chưa thu hút nhiều sự quan tâm nhiệt tình của các lực lượng giáo dục bên ngoài nhà trường, nhất là các lực lượng xã hội.
  • Nhận thức về vị trí, vai trò của hoạt động tích hợp GDPL trong nhà trường còn có khoảng cách khá xa so với nhiệm vụ chuyên môn của ngành Giáo dục. Do áp lực thi cử còn nặng nên việc “dạy chữ” còn đề cao hơn “dạy người”.
  • Việc kiểm tra đánh giá công tác tích hợp GDPL chưa có chuẩn cụ thể và chưa được đề cập trong các hình thức kiểm tra đánh giá.

Kết luận chương 2

Qua kết quả khảo sát về công tác tích hợp GDPL và quản lý tích hợp GDPL cho HS THPT trên địa bàn thành phố Đồng Xoài đối với 160 CBQL, GV và 351 HS trường THPT cho thấy:

CBQL, GV và HS ý thức được tầm quan trọng của hoạt động tích hợp GDPL cũng như quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS THPT. Các nhà trường bằng các phương thức khác nhau đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến, GDPL trong nhà trường. Các nhà trường đã phát huy những thuận lợi, khắc phục hạn chế và sử dụng các nguồn lực hiện có để tổ chức thực hiện và đã thu được kết quả nhất định. Đa số các nội dung khảo sát đều được đánh giá đạt được ở mức “trung bình” đến “khá”. Mức độ này cũng đã phản ảnh sự cố gắng, nỗ lực của các nhà trường trong công tác tích hợp GDPL và quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS.

  • Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như:

Còn một bộ phận không nhỏ CBQL, GV và HS nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của GDPL.

Các lực lượng tham gia tích hợp GDPL trong nhà trường chưa được tham gia tập huấn về công tác tuyên truyền phổ biến và GDPL còn nhiều.

Công tác tích hợp GDPL cho HS THPT ở các mặt: Mục tiêu, yêu cầu, nội dung, hình thức, các phương pháp tích hợp GDPL được đánh giá mức độ thực hiện cũng như kết quả đạt được ở mức “khá”. Hiệu trưởng các trường THPT đã sử dụng nhiều biện pháp quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho HS như lập kế hoạch, tổ chức triển khai, chỉ đạo thực hiện tích hợp GDPL, kiểm tra đánh giá công tác tích hợp GDPL cho HS. Mức độ thực hiện cũng như kết quả đạt được các biện pháp quản lý tích hợp GDPL được đánh giá từ mức “trung bình” đến “khá”, trong đó, công tác “lập kế hoạch tích hợp GDPL” “kiểm tra đánh giá công tác tích hợp GDPL” còn được đánh giá thực hiện ở mức “trung bình”.

Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp GDPL cho HS bao gồm các yếu tố khách quan và chủ quan. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác quản lý tích hợp GDPL“có ảnh hưởng” và yếu tố chủ quan có phần ảnh hưởng nhiều hơn yếu tố khách quan. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT.

Đây cũng chính là những cơ sở đề xuất những giải pháp quản lý hoạt động tích hợp GDPL, đối với các trường THPT trên địa bàn thành phố Đồng Xoài nhằm khắc phục những hạn chế, phát huy những điểm mạnh để trong thời gian tới chất lượng GDPL cho HS THPT trên địa bàn được tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL giáo dục pháp luật cho HS trường THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993