Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và tình hình phát triển văn hóa, giáo dục quận 1, TP. Hồ Chí Minh
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Quận 1 là quận nội thành nằm ở vị trí trung tâm thành phố, là trung tâm hành chính, văn hoá, thương mại và tài chính của thành phố Hồ Chí Minh.
- Phía Bắc giáp rạch Thị Nghè ngăn cách với quận Bình Thạnh.
- Phía Đông giáp sông Sài Gòn ngăn cách với quận 2, có cầu Sài Gòn và cầu Thủ Thiêm bắc qua.
- Phía Đông Nam giáp sông Bến Nghé, ngăn cách với quận 4, có cầu Khánh Hội bắc qua.
- Phía Tây Nam giáp quận 5, ranh giới là đường Nguyễn Văn Cừ.
- Phía Tây giáp quận 3, ranh giới là đường Nguyễn Thị Minh Khai, đường Hai Bà Trưng.
- Phía Tây Bắc giáp quận Phú Nhuận, ranh giới là rạch Thị Nghè, có cầu Kiệu bắc qua trên đường Hai Bà Trưng.
Vùng đất quận 1 được hình thành trên nền phù sa cổ sông Đồng Nai. Địa hình cao hơn mặt nước biển từ 2 – 6m, nền đất nén dẽ, giàu đá ong, nằm dọc theo bờ sông Sài Gòn và rạch Bến Nghé Quận 1 nằm trong đới khí hậu gần ven biển, đón hướng gió mát từ Cần Giờ về.
Với độ nóng trung bình hàng năm 26oC và lượng mưa trung bình 1.800 mm. Quận có nguồn tài nguyên nước ngầm rất phong phú. Qua nhiều năm khai thác, sử dụng, nguồn nước ngầm ở quận 1 có lúc bị nhiễm mặn nhưng dần dần vẫn được phục hồi như cũ, có trữ lượng lớn, độ tinh khiết cao. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
2.1.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội
Quận 1 có 128 cơ quan ban ngành Thành phố, Trung ương trú đóng, đặc biệt là một số cơ quan quan trọng như: Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, UBND Thành phố, Sở Công an, Sở Ngoại vụ và Sở, Ban, Ngành…các cơ quan báo đài của Đảng, Đoàn thể thuộc thành phố và Trung ương.
Quận 1 là trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh về các lĩnh vực như: Hành chính và ngoại giao, Dịch vụ – Tài chính – Ngân hàng, Văn hoá – Du lịch – Thương mại…Theo thông tin từ website Đảng bộ quận 1, doanh thu dịch vụ – thương mại của quận trong năm 2000 đạt trên 325,7 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu có năm đạt trên 33 triệu USD. Theo thông tin của Cục Thống kê thành phố, năm 2006, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn quật đạt 426.357 triệu đồng, đứng đầu trong các quận huyện của thành phố.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Giáo Dục
2.1.2. Tình hình phát triển văn hóa, giáo dục
Quận 1 hiện có nhiều tổ chức hoạt động văn hóa nghệ thuật phục vụ nhu cầu giải trí cho nhân dân, đồng thời cũng là những cơ sở phúc lợi văn hóa quan trọng. Bên cạnh đó Quận 1 cũng là nơi tập trung nhiều danh lam thắng cảnh, những di tích lịch như: Nhà hát thành phố Hồ Chí Minh, Di tích Trụ Sở UBND Thành Phố Hồ Chí Minh, nhà thờ Đức Bà, dinh Thống Nhất, Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam, Công viên Thảo Cầm Viên Sài Gòn, chợ Bến Thành , công viên Tao Đàn…
Theo hội nghị tổng kết năm học 2018 – 2019 và triển khai nhiệm vụ năm học 2019 – 2020 của phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 1 tổ chức. Năm học 2018 – 2019, Quận 1 có 40 trường công lập, 14 trường ngoài công lập, 1.107 lớp, 37.150 học sinh. Ngành GDĐT tiếp tục phát triển quy mô trường lớp, đưa vào sử dụng công trình Trường Tiểu học Kết Đoàn, Nhà đa năng Trường Tiểu học Nguyễn Thái Học với tổng kinh phí gần 39 tỷ đồng; sửa chữa 32 công trình nhỏ với tổng kinh phí 12,5 tỷ đồng. Bên cạnh đó, có các công trình đang thi công và các công trình xây dựng mới. UBND quận 1 trang bị hơn 21 tỷ đồng cho thiết bị dạy học và bếp ăn của các trường. Công tác xã hội hóa được đẩy mạnh; 32/32 cơ sở giáo dục mầm non đảm bảo chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe, và an toàn tuyệt đối cho trẻ. 10/10 phường được công nhận phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi.
Cấp tiểu học chuyển hướng mạnh sang hoạt động trải nghiệm, công khai chất lượng giáo dục với phụ huynh qua mô hình “Lớp học xanh – Lớp học mở”, “Tuần lễ Open house”. 100% học sinh được học ngoại ngữ và tin học từ lớp 1. Cấp trung học cơ sở tích cực đổi mới hoạt động dạy học, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đưa giáo dục STEM vào dạy học, hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học. 100% trường THCS giáo dục kỹ năng sống. Có 9 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, 1 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia; thực hiện mô hình trường tiên tiến theo xu thế hội nhập khu vực và quốc tế tại 3 trường ở bậc mầm non, tiểu học, trung học cơ sở.
2.2. Vài nét về đối tượng khảo sát
Mẫu nghiên cứu: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Mẫu nghiên cứu bao gồm 248 đối tượng, trong đó có 7 cán bộ quản lý, 17 giáo viên, 224 học sinh trung học phổ thông được chọn ngẫu nhiên ở hai trường: trường THPT Bùi Thị Xuân, trường THPT Trưng Vương trên địa bàn quận 1.
Bảng 1: Bảng tổng hợp số liệu về đối tượng khảo sát
Qua bảng số liệu trong bảng cho thấy, ở trường THPT Bùi Thị Xuân có 145 khách thể được khảo sát (chiếm 58,5 %) trong đó có 1,2% cán bộ quản lí, 4.4 % giáo viên và 52.9 % học sinh; trường THPT Trưng Vương có 103 khách thể được khảo sát chiếm (41.5%) trong đó có 1.6% là cán bộ quản lí, 2.4% là giáo viên, 37.5 % % là học sinh.
Bảng 2: Thống kê tình hình cán bộ QL, giáo viên được khảo sát
Trên đây là số liệu thống kê tình hình cán bộ QL, GV của hai trường THPT Bùi Thị Xuân, trường THPT Trưng Vương. Qua số liệu, cho thấy hầu hết cán bộ quản lí, giáo viên của cả hai trường đều có trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn cụ thể: 3 (42,9%) CBQL và 9 (53%) giáo viên đạt chuẩn, 7 (57,2%) CBQL và 8 (47,1%) GV trên chuẩn. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành giáo dục quận 1 nói riêng và thành phố Hồ Chí Minh nói chung. Với đội ngũ nhà giáo có trình độ chuyên môn cao, đây sẽ là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mà cụ thể là chất lượng HĐGD hướng nghiệp trên địa bàn quận 1 nói chung và của cả hai trường nói riêng.
Về thâm niên làm công tác quản lí, 100% cán bộ quản lí được khảo sát của cả hai trường đều có thâm niên dưới 10 năm. Điều này vừa là điểm thuận lợi cũng vừa là thách thức đối với công tác quản lí HĐ GDHN của cả hai trường. Với đặc thù tình hình cán bộ quản lí trẻ đông đảo, năng động, sáng tạo trong công việc; đội ngũ này sẽ dễ dàng tiếp thu và ứng dụng những phương pháp quản lí mới, giúp cho công tác quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp đạt hiệu quả cao.
2.3. Mô tả về cách thức nghiên cứu đề tài
2.3.1. Công cụ nghiên cứu
Công cụ nghiên cứu gồm ba mẫu bảng hỏi dành cho CBQL, GV và học sinh.
Mẫu 1: Dành cho cán bộ quản lí
Phiếu khảo sát gồm 13 câu hỏi đóng và 1 câu hỏi mở:
- Từ câu 1 đến câu 5: thông tin cá nhân
- Từ câu 6 đến câu 10: thực trạng quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường trên địa bàn quận 1.
- Câu 11: những yếu tố gây khó khăn trong công tác quản lý hoạt động GDHN của nhà trường.
- Câu 12, 13: thực trạng hoạt động GDHN tại một số trường trên địa bàn quận 1.
- Câu 14: thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của mình
Mẫu 2: Dành cho giáo viên Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Phiếu khảo sát gồm 18 câu hỏi đóng:
- Từ câu 1 đến câu 5: thông tin cá nhân
- Câu 6: Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp
- Từ câu 7 đến câu 13: thực trạng quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại một số trường trên địa bàn quận 1.
- Từ 14 đến câu 18: thực trạng hoạt động GDHN tại một số trường trên địa bàn quận 1.
Mẫu 3: Dành cho học sinh
Phiếu khảo sát gồm 15 câu hỏi đóng:
- Từ câu 1 đến câu 3: thông tin cá nhân
- Câu 4: mức độ yêu thích của học sinh đối với HĐ GDHN tại trường.
- Câu 5: mức độ tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp của học sinh.
- Câu 6 đến câu 9, câu 12, câu 15: thực trạng hoạt động GDHN tại một số trường trên địa bàn quận 1.
- Câu 10, câu 11: tìm hiểu về định hướng nghề nghiệp của học sinh.
- Câu 13, 14: Cơ sở vật chất phục vụ cho HĐ GDHN của nhà trường.
2.3.2. Cách tính điểm
Quy ước mã hóa các mức độ như sau:
- Đối với bảng khảo sát mức độ thực hiện
- Mức 1: Không thực hiện = 1 điểm
- Mức 2: Thỉnh thoảng = 2 điểm
- Mức 3: Thường xuyên = 3 điểm
- Đối với bảng khảo sát kết quả thực hiện
- Mức 1: Không thực hiện = 1 điểm
- Mức 2: Thỉnh thoảng = 2 điểm
- Mức 3: Thường xuyên = 3 điểm
- Đối với bảng khảo sát mức độ gây khó khăn
- Mức 1: Không = 1 điểm
- Mức 2: Ít = 2 điểm
- Mức 3: Vừa = 3 điểm
- Mức 4: Nhiều = 4 điểm
Căn cứ vào điểm trung bình các mức độ ở mỗi câu, các câu của thang đo mức độ và kết quả thực hiện các chức năng quản lí trong công tác GDHN của cán bộ quản lý nhà trường, mức độ và kết quả thực hiện nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp, mức độ và kết quả thực hiện phương pháp dạy học HĐGDHN ở trường được tính điểm như sau:
- Bảng 3: Cách tính điểm các câu của thang đo mức độ thực hiện
- Bảng 4: Cách tính điểm các câu của thang đo kết quả thực hiện
2.3.3. Xử lý số liệu Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Người nghiên cứu sử dụng toán thống kế và phần mềm excell để xử lý kết quả. Các câu được thống kê tần số, tính ti lệ phần trăm, trị số trung bình, mức ý nghĩa để tìm hiểu nhận thức của giáo viên, học sinh, cán bộ quản lí về thực trạng.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường THPT trên địa bàn quận 1 TP. Hồ Chí Minh
2.4.1. Thực trạng nhận thức của học sinh, giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp của học sinh
Bảng 6: Đánh giá của GV về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
Qua kết quả khảo sát của bảng 6 cho thấy 100% GV đều nhận thấy hoạt động GDHN trong nhà trường THPT “Rất quan trọng và cần thiết”. Điều này chứng tỏ hai trường THPT trong quận 1 mà tôi khảo sát bước đầu đã quan tâm đến công tác bồi dưỡng và nâng cao nhận thức của GV về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp (GDHN) cho học sinh. Chính vì thế đội ngũ GV giảng dạy có quan tâm và đầu tư tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục hướng nghiệp, tuy nhiên việc tổ chức thực hiện các HĐ GDHN ở hai trường THPT của quận 1 chưa được đồng bộ, nên hiệu quả GDHN chưa cao và chưa như mong muốn. Điều này được thể hiện rõ thái độ và ý thức tham gia của học sinh ở hai trường được khảo sát qua bảng sau:
Bảng 7: Thái độ và ý thức tham gia của học sinh THPT về HĐGDHN
Từ bảng 7 ta nhận thấy có 11.2 % học sinh “rất thích” hoạt động GDHN mà nhà trường tổ chức, số lượng học sinh “thích” HĐ GDHN mà trường nhà trường tổ chức là 52, 7%, điều này chứng tỏ công tác tổ chức HĐ GDHN đã được cán bộ quản lí của hai trường THPT Trưng Vương và Bùi Thị Xuân quan tâm và đầu tư vì vậy các hoạt động hướng nghiệp do nhà trường tổ chức đã phần nào gây được hứng thú cho các em học sinh và các em có chú ý đến việc lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân mình. Tuy nhiên mức độ bình quân về mặc nhận thức là chưa cao. Thể hiện ở việc vẫn còn 33 % học sinh có thái độ “có cũng được, không cũng được” và 3.1 % học sinh “không thích” HĐGDHN do nhà trường tổ chức.
Bên cạnh đó bảng 7 còn cho chúng ta thấy mức độ “ý thức tham gia” hoạt động GDHN của học sinh ở hai trường THPT được khảo sát. Chỉ có 8 % học sinh “Rất tích cực” tham gia hoạt động GDHN, 59 % học sinh “Tích cực” tham gia HĐ GDHN, tuy nhiên vẫn còn 27.7 % học sinh “Ít tích cực” và 5.3 % học sinh “Không tích cực” tham gia hoạt động GDHN. Nguyên nhân của tình trạng trên là do các trường THPT xem GDHN cho HS là một trong những hoạt động ngoài giờ chính khoá, không được đánh giá tính điểm nên dẫn đến nhiều HS chưa ý thức được tầm quan trọng của hoạt động giáo dục này, chưa quan tâm đúng mức đến việc định hướng nghề nghiệp cho bản thân thông qua HĐGD này. Do đó cán bộ quản lí của cả hai trường cần quan tâm tác động đến ý thức và thái độ cho học sinh để các em có nhận thức đúng đắn về vai trò của hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
2.4.2. Thực trạng quản lý việc thực hiện nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại một số trường THPT trên địa bàn quận 1 TP. Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Bảng 8: Mức độ thực hiện và kết quả thực hiện nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Kết quả thống kê cho thấy, mức độ thực hiện nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp có ĐTB chung = 2.6 xét đến thang điểm thì đạt mức độ thường xuyên. Trong đó, nội dung “Nhóm chủ đề về giao lưu, thảo luận, tham quan”, “Nhóm chủ đề về tư vấn nghề” (đều có ĐTB = 2.7) cùng xếp thứ hạng cao nhất về mức độ thực hiện. Điều này chứng tỏ cán bộ quản lí của hai trường được khảo sát đã tổ chức các nội dung hướng nghiệp theo sở thích và tâm lí chung của học sinh. Các chủ đề giao lưu, thảo luận, tham quan luôn thu hút sự hứng thú và quan tâm lớn từ các em. Chính vì thế nội dung “Nhóm chủ đề về giao lưu, thảo luận, tham quan” cũng có mức độ hiệu quả thực hiện cao nhất (có ĐTB = 2.9). Tuy nhiên “Nhóm chủ đề về tư vấn nghề” có mức độ thực hiện xếp thứ hạng 1 nhưng mức độ hiệu quả chỉ xếp thứ 5, điều này chứng tỏ mặc dù hai trường thường xuyên thực hiện nội dung về “chủ đề tư vấn nghề” nhưng hiệu quả chưa cao, chưa góp phần tác động tích cực đến việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
Nội dung “Nhóm chủ đề về kiến thức liên quan đến nhóm nghề và nghề cụ thể” được hai trường khá quan tâm và đầu tư giáo dục cho học sinh. Minh chứng là nội dung này có mức độ thực hiện xếp thứ hạng 3 và mức độ hiệu quả xếp thứ hạng 1. Điều này là một điểm thuận lợi cho học sinh của hai trường vì các em sẽ đánh giá được sự phù hợp giữa đặc điểm tâm lí cá nhân và năng lực của bản thân có phù hợp các đặc điểm của từng nhóm ngành nghề cụ thể hay không, từ đó các em có khả năng lựa chọn được nghề nghiệp phù hợp với bản thân.
Nội dung “Nhóm chủ đề về kiến thức chung, cơ sở cho việc chọn nghề” có mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện thấp nhất, điều này chứng tỏ hai trường được khảo sát chưa quan tâm đến việc cung cấp “kiến thức chung, cơ sở” để học sinh có nền tảng vững chắc trong việc đánh giá và có cái nhìn tổng quát về đặc điểm của các nhóm ngành nghề trong xã hội. Đây là một hạn chế cần sớm khắc phục của các trường vì nếu ít thực hiện nhóm chủ đề này học sinh sẽ không đánh giá đúng được tiềm năng và xu thế phát triển của hệ thống nghề trong xã hội. Như vậy, sẽ gây ra tác động không tích cực đến khả năng chọn nghề của học sinh.
Hiệu quả của công tác thực hiện nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường THPT trên địa bàn quận 1 sẽ được người nghiên cứu minh chứng rõ hơn qua biểu đồ đánh giá việc “Chọn nghề để học sau khi tốt nghiệp THPT” và bảng “Nhận thức của học sinh về tiêu chí lựa chọn ngành, nghề để học sau khi tốt nghiệp THPT” sau:
Phân tích biểu đồ trên cho thấy hầu hết HS lớp 10, 11, 12 thuộc hai trường THPT trong quận 1 TP. Hồ Chí Minh đã chọn được ngành và nghề để học sau khi tốt nghiệp THPT (tỉ lệ đạt 38.4%); điều này cho thấy công tác quản lý việc thực hiện nội dung chương trình hoạt động GDHN của BGH và các cán bộ quản lý hướng nghiệp ở hai trường THPT được khảo sát có hiệu quả. Do đó các em đã phần nào nắm được về đặc điểm hoạt động và yêu cầu phát triển của các nghề trong xã hội hiện nay cũng như những yêu cầu tâm sinh lý của mỗi nghề. Tuy nhiên có đến 37.9 % HS “Đã chọn được ngành nhưng chưa chọn được nghề cụ thể trong ngành đó”. Đặc biệt vẫn có 16.1 % HS “chưa chọn được ngành” và có 4.5 % HS “chưa nghĩ đến việc chọn ngành” sau khi tốt nghiệp THPT để thi vào các trường ĐH, CĐ, 3.1 % học sinh không có ý kiến về nội dung khảo sát.
Bảng 9: Nhận thức của học sinh về tiêu chí lựa chọn ngành, nghề để học sau khi tốt nghiệp THPT Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Bảng 9 cho thấy ngành nghề được học sinh lựa chọn nhiều nhất là nhóm “Ngành, nghề đó phải phù hợp với sở thích, năng lực, tính cách và thể chất của bản thân.” chiếm đến (61.1%). Điều này cho thấy học sinh đã biết căn cứ vào năng lực, tính cách, thể chất của mình cũng như những yêu cầu của nghề và nhu cầu của xã hội để chọn ngành, chọn nghề phù hợp. Xếp thứ 2 là nhóm “Ngành, nghề đó phải có thu nhập cao” chiếm 25%. Tuy nhiên, cũng có hơn 4.5% học sinh lựa chọn nhóm “Ngành, nghề đó phải có địa vị cao trong XH” được mọi người nể trọng, 3.6% học sinh cho rằng ngành nghề được chọn phải “được gia đình em thích” mà không quan tâm đến vấn đề có phù hợp với bản thân hay không. Đặc biệt có đến 4.9 % học sinh “Không ý kiến” về tiêu chí lựa chọn ngành, nghề để học sau khi tốt nghiệp THPT. Cuối cùng nhóm xếp thư bậc thấp nhất là là nhóm “Ngành, nghề đó phải có nhiều bạn bè em chọn học” chỉ chiếm 0.9 %.
Từ kết quả phân tích đã cho ta thấy xét trên thang điểm thì nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp đạt mức độ hiệu quả (ĐTB = 2.8), và khi khảo sát về các đánh giá và tiêu chí lựa chọn ngành nghề sau khi tốt nghiệp của học sinh cho thấy cũng phần nào khẳng định nội dung mà nhà trường hướng nghiệp cho các em có đạt hiệu quả nhưng chưa tác động sâu sắc đến nhận thức của học sinh. Minh chứng là bên cạnh những học sinh có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc chọn ngành, chọn nghề để học sau tốt nghiệp THPT; một số em còn quá phụ thuộc vào gia đình và bạn bè trong việc quyết định hướng đi tương lai của bản thân, thậm chí có những học sinh còn không định hướng được mình sẽ lựa chọn ngành nghề gì sau khi tốt nghiệp. Với những xu hướng lựa chọn ngành, nghề có phần lệch lạc của học sinh sẽ tác động rất lớn đến năng lực nghề nghiệp của các em và ảnh hưởng đến hiệu quả của sự phân công lao động xã hội. Vì thực tế trong nhận thức của HS về việc chọn lựa ngành, nghề tương lai chưa phù hợp, chưa đáp ứng với mục đích của GDHN THPT theo tinh thần của thông tư 31/TT của Bộ GD-ĐT nhằm bồi dưỡng, hướng dẫn HS chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của XH.
Tóm lại, qua điều tra cho thấy ở các trường có nhiều nổ lực trong việc triển khai thực hiện nội dung chương trình HN. Điều này cũng chứng tỏ, khâu QL việc thực hiện nội dung chương trình GDHN ở các hai trường THPT được khảo sát trong quận 1 có sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường nhưng thiếu sâu sát. Chính những vấn đề này đã ảnh hưởng rất lớn đến việc chọn ngành, chọn nghề và định hướng nghề nghiệp tương lai của các em HS. Điều này, đã đặt ra trách nhiệm cho các nhà quản lí ở các trường THPT trong quận 1 cần có sự quan tâm đúng mức hơn trong công tác QL nội dung hoạt động GDHN để hoạt động giáo dục này đạt được hiệu quả và mục đích mà nhà trường đã đề ra. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
2.4.3. Thực trạng xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường THPT trên địa bàn quận 1 TP. Hồ Chí Minh:
Bảng 10: Mức độ và kết quả thực hiện công tác xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Kết quả thống kê cho thấy: công tác xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp được đánh giá ở mức độ thực hiện “thường xuyên” và kết quả thực hiện ở mức “hiệu quả” (ĐTBC theo mức độ và kết quả thực hiện của cán bộ quản lí là 2.6 và 2.7; của giáo viên là 2.4 và 2.8).
Kiểm định T – Test cho thấy không có sự khác biệt về ý nghĩa trong đánh giá của CBQL và GV ở cả mức độ thực hiện và kết quả thực hiện (các giá trị sig đều lớn 0.05).
Nội dung “Xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp chung của nhà trường” có mức độ thực hiện cao nhất (ĐTB của CBQL và GV điều là 2.9), xét trên thang điểm thì đạt mức độ “thường xuyên”. Đồng thời nội dung này cũng có kết quả thực hiện ở mức “hiệu quả” (ĐTB theo kết quả của CBQL là 2.7 của GV là 2.8). Điều này chứng tỏ, cán bộ quản lí của hai trường THPT được khảo sát đã quan tâm đến việc xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động hướng nghiệp chung của nhà trường vào đầu mỗi năm học để làm cơ sở định hướng cho việc tổ chức thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh toàn trường.
Nội dung “Xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp chi tiết cho từng khối lớp” có kết quả thực hiện xếp vị trí thứ nhất (ĐTB theo kết quả của CBQL là 29. của GV là 2.8). Kết quả này chứng tỏ hai trường THPT được khảo sát chú xây dựng nội dung hướng nghiệp theo từng khối lớp. Điều này giúp nhà trường dễ quản lí hiệu quả của công tác hướng nghiệp và đưa ra các chương trình hướng nghiệp phù hợp với học sinh từng khối.
Các nội dung còn lại cũng điều có mức độ thực hiện “thường xuyên” và kết quả thực hiện “hiệu quả”. Tuy nhiên qua trao đổi và tham khảo ý kiến các nhóm tham gia khảo sát thì nội dung “Yêu cầu tổ chủ nhiệm lập kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp” có được Ban giám hiệu các trường quan tâm chỉ đạo thực hiện. Mặc dù vậy, về phía GVCN, do đồng thời phải thực hiện công tác chuyên môn và công tác chủ nhiệm nên việc lập kế hoạch hoạt động GDHN chưa được đội ngũ GVCN quan tâm thực hiện đúng mức và thường hay bỏ sót. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Cả hai trường THPT được khảo sát chưa thực sự quan tâm đến việc bồi dưỡng nhân sự phục vụ cho công tác giáo dục hướng nghiệp dẫn đến tình trạng lực lượng GV chuyên trách, CBQL công tác GDHN ở hai trường THPT còn thiếu về số lượng và yếu kém về chất lượng. Ngoài ra các trường cũng chưa quan tâm đầu tư tài chính, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho công tác giáo dục hướng nghiệp. Minh chứng là tuy đều có mức độ thực hiện “thường xuyên” nhưng ĐTB của ba nội dung “Nhà trường lập kế hoạch cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp”, “Nhà trường lập kế hoạch quản lý tài chính cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp” và “Nhà trường lập kế hoạch phát triển đội ngũ cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp” thấp nhất trong 8 nội dung được (cả 3 nội dung điều có ĐTB theo mức độ thực hiện của cán bộ quản lí là 2.4, GV là 2.5).
Nhìn chung, các trường cũng đã có quan tâm đến công tác lập kế hoạch HĐGDHN, các trường THPT có lập kế hoạch theo từng năm học và lập kế hoạch chi tiết ở từng học kì, nhưng lại chưa quan tâm lập kế hoạch HĐ giáo dục hướng nghiệp cho từng tháng cụ thể. Điều này sẽ được thể hiện chi tiết ở biểu đồ sau:
Kết quả của biểu đồ 2 cho thấy tỉ lệ cao nhất thuộc về việc “Lập kế hoạch thực hiện hoạt động GDHN trong từng năm học” (85.7%), kế đến là “Kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp của nhà trường được lập theo từng học kì”(28.6%), nội dung “Kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp của nhà trường được lập theo từng tháng” không có trường khảo sát nào thực hiện. Điều này cho thấy tuy các trường có đầu tư xây dựng kế hoạch HĐ GDHN nhưng chỉ là kế hoạch tổng thể mà chưa đi sâu vào xây dựng kế hoạch và quản lí hoạt động hướng nghiệp theo từng tháng (thậm chí là từng tuần). Đây là một điểm hạn chế cần phải sớm khắc phục của các trường, vì xây dựng kế hoạch chi tiết theo từng tháng sẽ giúp các trường theo dõi được mục tiêu hướng nghiệp trong từng thời điểm cụ thể, từ đó tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động hướng nghiệp và đưa ra những phương án tối ưu để tiếp tục triển khai HĐ GD hướng nghiệp trong thời gian tiếp theo của năm học
2.4.4. Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại một số trường THPT trên địa bàn quận 1 TP. Hồ Chí Minh
Bảng: 11 Mức độ thực hiện và kết quả thực hiện công tác tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Qua bảng 11 cho chúng ta thấy về mức độ thực hiện công tác tổ chức hoạt động GDHN ở hai trường THPT được khảo trong quận 1 nhìn chung có ĐTB nằm khoảng từ 2.3 đến 2.8 (thỉnh thoảng đến thường xuyên). Đối với mức độ hiệu quả của công tác tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp cũng có ĐTB nằm khoảng từ 2.3 đến 2.8 (ít hiệu quả đến hiệu quả) so sánh với số liệu về mức độ thực hiện tác giả nhận thấy có sự tương đồng.
Trong đó, hai nôi dung xếp thứ hạng 1 là “Phân công chức danh và nhiệm vụ rõ ràng cho giáo viên làm công tác giáo dục hướng nghiệp”, “Phân chia công việc thành các nhiệm vụ cụ thể để người được phân công thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp một cách thuận lợi và hợp logic.” có ĐTB về mực độ thực hiện đều là 2.8, mức độ hiệu quả của hai nội dung này cũng xếp thứ hạng cao có ĐTB lần lượt là 2.6 và 2.8. Điều này chứng tỏ cả hai trường THPT được khảo sát có phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng thành viên trong Ban Hướng nghiệp cũng như kiểm tra hiệu quả hoạt động của Ban Hướng nghiệp và qua khảo sát thực tế thì có 85% giáo viên khẳng định điều này. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Các nội dung như “Phân công, theo dõi công tác tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho từng khối, lớp” “Phân công người xây dựng chuẩn đánh giá kết quả giáo dục hướng nghiệp cho học sinh” “Phối hợp các lực lượng đoàn thể xã hội trong và ngoài nhà trường tổ chức tuyên truyền, giáo dục nhận thức về hoạt động giáo dục hướng nghiệp” đều đạt mức độ thực hiện “thường xuyên” và kết quả thực hiện “hiệu quả” (ĐTB>2.34). Đây là dấu hiệu khá tích cực cho thấy hiệu trưởng và cán bộ quản lí của cả hai trường có quan tâm đầu tư đến công tác tổ chức thực hiện hoạt động GDHN.
Nội dung “Xây dựng lực lượng tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường” có ĐTB về mức độ thực hiện là 2.6 xét trên thang điểm thì đạt mức độ “thường xuyên”. Về kết quả thực hiện nội dung này có ĐTB = 2.7 xét trên thang điểm thì đạt mức độ hiệu quả. Theo thông tư 31/TT của Bộ GD-ĐT, ngày 17/11/1981 thì ở mỗi trường THPT phải thành lập Ban HN. Thực tế theo kết quả khảo sát ở 2 trường THPT trên địa bàn quận 1 thì có 88,2 % GV cho rằng trường THPT nơi mình công tác “Có thành lập ban này và có hoạt động”. Tuy nhiên có 82,4% giáo viên cho rằng lực lượng chính tham gia vào ban này thường là các GVCN, ngoài ra ban GDHN của cả hai trường cũng có một số giáo viên có kinh nghiệm hoặc GV phụ trách Đoàn TNCS HCM và Ban giám hiệu tham gia. Đặc biệt, cả hai trường cũng có đầu tư mời “Giáo viên của các trung tâm KTHN – DN” để làm công tác giáo dục hướng nghiệp học sinh hay bồi dưỡng “Giáo viên chuyên trách công tác tư vấn, hướng nghiệp tại trường”. Đây là một điểm tích cực trong công tác này của cả hai trường trường, hai trường cần chú ý tạo điều kiện cho các lực lượng này tham gia các lớp bồi dưỡng, học tập nâng cao tay nghề, bố trí thời gian làm việc hợp lý để lực lượng này có điều kiện để đầu tư, tìm hiểu thêm các lĩnh vực có liên quan nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục hướng nghiệp THPT.
Nội dung “Cử giáo viên theo học các lớp bồi dưỡng về giáo dục nghề.” xếp thứ hạng thấp nhất về mức độ thực hiên (ĐTB = 2.3) xét trên thang điểm thì đạt mức độ “thình thoảng”. Đây là một nội dung khá quan trọng trong công tác “tổ chức” đòi hỏi các cán bộ quản lí nhà trường nên đầu tư thực hiện. Bởi vì để thực hiện có hiệu quả hoạt động GDHN thì đòi hỏi người GV làm công tác GDHN phải biết tổ chức các hoạt động GDHN theo nhiều hình thức khác nhau. Hơn nữa, nội dung GDHN lại bao gồm quá nhiều lĩnh vực nên GV phụ trách GDHN phải hiểu biết sâu để định hướng và tư vấn nghề nghiệp cho HS. Nhưng qua kết quả của biểu đồ 3 cho thấy, chỉ có 23.5 % GV đánh giá rằng “Tất cả GV đều được tập huấn, hướng dẫn”; có 64.7% GV đánh giá “chỉ có một số GV được tập huấn, hướng dẫn” và thậm chí có 5.9 % GV đánh giá “chưa có GV nào được tập huấn, hướng dẫn”, 5.9 % GV còn lại “Không biêt” các GV làm công tác GDHN có được tập huấn hay không thực hiện chương trình GDHN cho HS. Vì vậy, thực tế nhiều GV phụ trách GDHN rất lúng túng khi triển khai một hoạt động HN.
Nội dung “Thiết lập một cơ chế điều phối, liên kết hoạt động giữa các thành viên hay bộ phận làm công tác giáo dục hướng nghiệp tạo điều kiện đạt mục tiêu hướng nghiệp” có ĐTB về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện đều không cao đặc biệt kết quả thực hiện của nội dung này xét trên thang điểm chỉ ở mức “ít hiệu quả” (ĐTB = 2.3) xếp vị trí thấp nhất. Điều này chứng tỏ tuy nhà trường có phân công chức danh, nhiệm vụ cho các thành viên và có phân chia công việc cụ thể cho các cán bộ – giáo viên làm công tác giáo dục hướng nghiệp nhưng sự điều phối và liên kết hoạt động giữa các bộ phận và thành viên còn khá lỏng lẽo, chưa có sự thống nhất và phối hợp để cùng thực hiện mục tiêu giáo dục hướng nghiệp chung của nhà trường. Đây là điểm mà cả hai trường THPT được khảo sát cần phải lưu ý để tìm ra biện pháp điều chỉnh phương thức hoạt động của Ban GDHN nhằm tạo được sự liên kết giữa các bộ phận cũng như các thành viên trong quá trình thực hoạt động GDHN cho học sinh.
2.4.5. Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại một số trường THPT trên địa bàn quận 1 TP. Hồ Chí Minh: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Bảng: 12 Mức độ và kết quả công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Kết quả thống kê cho thấy, về mức độ thực hiện công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhìn chung có ĐTB nằm trong khoản từ 2.25 đến 2.75 (thỉng thoảng – thường xuyên), ĐTBC = 2.5 xét trên thang điểm thì đạt mức độ “thường xuyên”. Đối với mức độ hiệu quả của công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp có ĐTB nằm khoảng từ 1.9 đến 2.8 (ít hiệu quả – hiệu quả), ĐTBC = 2.5 xét trên thang điểm thì đạt mực độ “hiệu quả” so sánh với số liệu về mức độ thực hiện tác giả nhận thấy có sự tương đồng.
Nội dung “Chỉ đạo giáo viên thực hiện giáo dục hướng nghiệp theo mục tiêu, chương trình, kế hoạch của từng khối lớp” xếp thứ hạng 1 về mức độ thực hiện có ĐTB 75 và kết quả thực hiện xếp thứ hạng 3 (ĐTB=2.75). Điều này cho thấy hai trường THPT được khảo sát khá quan tâm đến công tác GDHN cho từng khối lớp, các trường đã từng bước xây dựng và chỉ đạo đội ngũ GV làm công tác gáo dục hướng nghiệp phải dựa vào đặc điểm cụ thể của học sinh từng khối mà có kế hoạch hướng nghiệp cho phù hợp. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Ngoài ra công tác “Chỉ đạo việc thực hiện các phương pháp, hình thức hướng nghiệp gây được sự hứng thú cho HS, điều chỉnh hoạt động phối hợp giữa các GV để hiệu quả hướng nghiệp đạt cao” cũng là nội dung có mức độ thực hiện xếp thứ 1 với ĐTB = 2.75, đặc biệt nội dung này cũng xếp thứ 1 về kết quả thực hiện với ĐTB = 2.9 Theo như kết quả khảo sát thì cán bộ quản lý của hai trường THPT được khảo sát tại quận 1 chỉ đạo nội dung này khá hiệu quả vì theo số liệu thu được từ các GV của hai trường thì ngoài các phương giáo dục truyền thống các thầy cô cũng thường xuyên áp dụng kết hợp các phương pháp giáo dục tích cực và sử dụng lồng ghép các hình thức tổ chức nhằm kích thích và gây được sự hứng thú cho học sinh. Qua thực tế nghiên cứu hình thức tổ chức HĐGDHN ở các trường THPT quận 1, người nghiên cứu nhận thấy rằng hai hình thức tổ chức “Thực hiện theo từng nhóm lớp” và “Thực hiện lồng ghép trong giờ sinh hoạt dưới cờ, tư vấn tuyển sinh” được 82.4% GV đánh giá thực hiện chủ yếu và mang lại hiệu quả nhiều nhất. Ngoài ra 76.5 % GV đánh “HN thông qua các hoạt động ngoại khóa” do nhà trường tổ chức luôn hiệu quả và thu hút học sinh. Tuy nhiên hai trường được khảo sát nói riêng và các trường THPT trên địa bàn quận nói chung cần đẩy mạnh công tác chỉ đạo việc thực hiện các phương pháp, hình thức hướng nghiệp hơn nữa để hoạt động giáo dục hướng nghiệp mang lại hiệu quả tích cực và hỗ trợ thuận lợi cho học sinh trong việc định hướng nghề nghiệp.
Nội dung “Nhà trường đưa ra hướng dẫn rõ ràng, chi tiết cho giáo viên về quy trình tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp” được CBQL và GV nhận định thực hiện mức độ “thường xuyên”(ĐTB =2.7) và kết quả thực hiện đạt ở mức “hiệu quả” (ĐTB=2.8). Các giáo viên của hai trường được khảo sát cho biết vào đầu năm học nhà trường luôn cung cấp các thông tin hướng dẫn về quy trình tổ chức HĐGDHN cho các giáo viên phụ trách HĐ GDHN và trước mỗi lần tổ chức HĐGDHN theo quy mô toàn trường hay theo hình thức từng khối lớp nhà trường luôn tổ chức tập huấn để hướng dẫn lại các quy trình tổ chức cho giáo viên nắm rõ.
Nội dung “Nhà trường có cung cấp thông tin cho GV về nhu cầu cán bộ, người lao động kỹ thuật ở các cơ sở sản xuất của địa phương và trong vùng để GV hướng nghiệp cho HS” tuy có mức độ thực hiện “thường xuyện” và đạt kết quả thực hiện “hiệu quả”, nhưng nội dung này lại xếp thứ hạng không cao. Đa phần các trường chỉ thực hiện chương trình GDHN theo những chủ đề có trong nội dung quy đinh của Bộ GD & ĐT, mặc dù đây là hoạt động chính khóa nhưng chưa được tính điểm và do đo nhà trường chưa chú trọng đến việc cung cấp thêm các thông tin về về nhu cầu cán bộ, người lao động kỹ thuật ở các cơ sở sản xuất của địa phương và trong vùng để làm phong phú thêm nội dung hướng nghiệp cho học sinh.
Nội dung “Nhà trường huy động hiệu quả nguồn kinh phí dành cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp” cũng có xếp thứ hạng không cao mặc dù mức độ thực hiện “thường xuyện” và đạt kết quả thực hiện “hiệu quả”. Hầu như hai trường THPT được khảo sát chưa thực sự làm tốt công tác dự báo, phân tích tài chính, lập dự toán, giám sát việc xây dựng và thực hiện kế hoạch chi tiêu của nhà trường dành cho hoạt đông giáo dục này. Nguyên nhân là do nguồn ngân sách nhà nước đầu tư cho hoạt động này còn hạn chế, hầu hết các trường phải tự huy động nguồn kinh phí của nhà trường và nguồn xã hội hóa để phục vụ cho giáo dục hướng nghiệp. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
“Nhà trường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp.” được CBQL và GV đánh giá thực hiện ở mức độ “thường xuyên” (ĐTB= 2.38) và kết quả thực hiện đạt mức “hiệu quả” (ĐTB= 2.38 ). Tôi đã thực hiện khảo sát về “Đánh giá hoạt động của thư viện trường trong việc hướng dẫn cho HS chọn ngành, chọn nghề, chọn trường hoặc có nội dung và tính chất HN” và “Đánh giá việc nhà trường xây dựng phòng thông tin về HN và các tài liệu để phục vụ cho công tác HN” để làm luận cứ đánh giá thực trang công tác chỉ đạo việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Kết quả cho thấy có 33.4 % học sinh cho rằng thư viện của các trường có tập hợp, giới thiệu sách báo, tạp chí nhằm giúp HS hiểu biết về một số thông tin hướng dẫn chọn ngành, chọn nghề, chọn trường hoặc có nội dung và tính chất HN, tuy nhiên cũng có 55.4 % HS không biết về một số thông tin hướng dẫn chọn ngành, chọn nghề, chọn trường hoặc có nội dung và tính chất HN mặc dù thư viện nhà trường có trang bị. Ngoài ra có đến 35.7 học sinh cho rằng ở các trường THPT trong địa bàn quận 1 “không có phòng thông tin về HN” hoặc các trường “có phòng thông tin về HN nhưng rất ít tài liệu”. Điều này cho thấy, nhu cầu tìm hiểu các thông tin về HN là rất cao cho HS ở các trường THPT trong địa bàn quận 1, TP. Hồ Chí Minh hiện nay. Tuy nhiên hiện nay các trường chưa quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Nội dung “Chỉ đạo việc xây dựng chuẩn đánh giá kết quả giáo dục hướng nghiệp cho học sinh” xếp thứ hạng cuối cả về mức độ (ĐTB =2.25) và kết quả thực hiện (ĐTB=1.9). Qua kết quả khảo sát ở học sinh, 74,1 % học sinh khẳng định việc kiểm tra đánh giá HĐGDHN phần lớn được thực hiện thông qua “Giáo viên trao đổi, trò chuyện và vấn đáp với học sinh” và thông qua việc “Giáo viên đánh giá qua sản phẩm của học sinh như thuyết trình, tiểu phẩm, kịch,..” (chiếm 45,1%) Các hình thức đánh giá còn lại cũng được giáo viên thực hiện nhưng khả năng áp dụng vào việc đánh giá chưa nhiều như đánh giá bằng cách “Giáo viên đánh giá qua quan sát hoạt động của học sinh” (37,1%), “Giáo viên cho học sinh làm bài trắc nghiệm” (32,6%), “Giáo viên cho học sinh viết bản thu hoạch về các chủ đề được học”(29,9%); “Giáo viên đánh giá qua quan sát hoạt đánh giá việc tham gia hoạt động GDHN thông qua hạnh kiểm”(23.7%). Nhìn chung việc kiểm tra đánh giá hoạt động GDHN được thực hiện chưa phong phú đa dạng, hầu như tập trung vào việc đánh giá thông qua trao đổi, trò chuyện với HS. Điều này cho thấy nhà trường chỉ chú trọng việc thực hiện nội dung chương trình GDHN của Bộ GD & ĐT quy định chứ chưa quan tâm nhiều đến công tác chỉ đạo việc xây dựng chuẩn đánh giá kết quả giáo dục hướng nghiệp cho học sinh.
2.4.6. Thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại một số trường THPT trên địa bàn quận 1 TP. Hồ Chí Minh
Bảng 13: Mức độ và kết quả công tác chỉ đạo kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
Qua các số liệu ở bảng 13 cho thấy, mức độ và kết quả công tác chỉ đạo kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Về mức độ thực hiện nhìn chung có ĐTB nằm trong khoản từ 2.3 đến 2.75 (thỉnh thoảng – thường xuyên), ĐTBC = 2.53 xét trên thang điểm thì đạt mức độ “thường xuyên”. Đối với mức độ hiệu quả của công tác kiểm tra thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp có ĐTB nằm khoảng từ 2.1 đến 2.8 (ít hiệu quả – hiệu quả), ĐTBC = 2.46 xét trên thang điểm thì đạt mực độ “hiệu quả”, so sánh với số liệu về mức độ thực hiện tác giả nhận thấy có sự tương đồng. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
CBQL và GV của hai trường THPT được khảo sát trên địa bàn quận 1 đánh giá nội dung “Kiểm tra và đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp thường xuyên theo kế hoạch tổng thể của nhà trường” được thực hiện “thường xuyên” (ĐTB = 2.75) và kết quả thực hiện nằm ở mức “hiệu quả” (ĐTB= 2.8). Đây là nội dung xếp thứ hạng cao nhất trên cả hai phương diện đánh giá. Kết quả này cho thấy đa phần cả hai trường điều tuân theo kế hoạch tổng thể vào đầu năm học để thực hiện kiểm tra và đánh giá hoạt động GDHN. Điều này cho phép cán bộ quản lí của cả hai trường đánh giá được mức độ và hiệu quả thực hiện các mục tiêu giáo dục hướng nghiệp, xem xét sự phù hợp trong hoạt động giữa từng các cá nhân và bộ phận trong nhà trường với nhiêm vụ đề ra; phát hiện ra những ưu điểm, thiếu sót và nguyên nhân tương ứng để kịp thời điều chỉnh những quyết định quản lí.
Xếp thức bậc 2 cả về mức độ và hiệu quả thực hiện là nội dung “Kiểm tra, đánh giá thông qua báo cáo của giáo viên trực tiếp tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp” có điểm điểm trung bình trên cả hai phương diện điều là 2.7 xét trên thang điểm thì đạt mức độ “thường xuyên” và “hiệu quả”. Theo cán bộ quản lí của trường THPT Trưng Vương thì nhà trường thường xuyên thực hiện phương pháp kiểm tra này vì thông qua báo cáo của giáo viên nhà trường có thể nắm được tình hình thực hiện hoạt động giáo dục của từng khối lớp, những ưu điểm và hạn chế trong cách triển khai HĐGD này của nhà trường, để từ đó đưa ra các phương pháp và hình thức giáo dục hiệu quả hơn.
Công tác “Kiểm tra định kỳ và đột xuất việc thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp” có mức độ thực hiện “thường xuyên” (ĐTB= 2.4) và kết quả thực hiện “hiệu quả” (ĐTB= 2.5). Điều này chứng tỏ CBQL của cả hai trường đã dựa vào kế hoạch HĐ GDHN đầu năm của nhà trường để thực hiện kiểm tra định kì và đột xuất nhằm nắm tình hình giáo dục hướng nghiệp trong từng thời điểm cụ thể từ đó điều chỉnh lại kế hoạch hướng nghiệp cho phù hợp với học sinh.
Nội dung “Phối hợp các phương pháp để đánh giá hoạt động hướng nghiệp” được thực hiện ở mức độ “Thường xuyên” (ĐTB= 2.5) nhưng kết quả nằm ở mức “ít hiệu quả” (ĐTB= 2.5). Giải thích cho vấn đề trên cán bộ quản lí trường THPT Bùi Thị Xuân cho biết nhà trường có thực hiện phối hợp các phương pháp để đánh giá hoạt động GDHN nhưng phần lớn các giáo viên đã quen với cách kiểm tra thường xuyên theo kế hoạch của nhà trường do đó khi triển khai phối hợp các phương pháp kiểm tra, đánh giá các giáo viên trong ban hướng nghiệp còn khá lúng túng.
Đặc biệt nội dung “Kiểm tra và đánh giá qua việc lập và theo dõi hồ sơ hưóng nghiệp cá nhân học sinh” xếp thứ hạng thấp nhất cả về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện. Về mức độ thực hiện của phương pháp này có ĐTB= 2.3 xét trên thang điểm thì chỉ đạt mức độ “thỉnh thoảng”. Đối với mức độ hiệu quả thì phương pháp này có ĐTB 1 xét trên thang điểm thì đạt mực độ “ít hiệu quả. Qua trao đổi với CBQL và GV phụ trách HĐ GDHN ở hai trường THPT được khảo sát cho chúng ta thấy, muốn lập được hồ sơ theo dõi hưỡng nghiệp cho từng cá nhân học sinh hiệu quả thì đòi hỏi nhà trường phải xây dựng được bộ tiêu chuẩn đánh giá toàn diện, đảm bảo tính trung thực, khách quan, công bằng, tính khả thi để đánh giá được đúng phẩm chất và năng lực của học sinh. Tuy nhiên, hoạt động này đưa vào nội dung giáo dục chỉ với thời lượng 1 tiết/ 1 chủ đề/ 1 tháng do đó nhà trường chưa thực sự đầu tư thời gian để xây dựng hồ sơ hướng nghiệp cho học sinh.
Rõ ràng công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp có được quan tâm nhưng chưa được sâu sát và đồng bộ. Qua trao đổi với đội ngũ CBQL và GV, phần lớn cho rằng nhà trường hiện nay phải thực hiện nhiều mặt hoạt động giáo dục theo chỉ đạo của ngành. Hơn nữa, theo như nhận định của CBQL ở hai trường được khảo sát hoạt động GDHN thường chỉ ảnh hưởng đến đối tượng học sinh cuối cấp và thường tập trung vào thời gian cuối năm học nên chưa được quan tâm đúng mức.
2.4.7. Những thuận lợi, khó khăn của lãnh đạo các trường trong công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
2.4.7.1. Thuận lợi Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Theo ý kiến đánh giá của CBQL ở các trường THPT Bùi Thị Xuận và THPT Trưng Vương quận 1 các thầy/ cô cho rằng những thuận lợi trong công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp là:
Đảng và Nhà nước ban hành những văn bản quy định cụ thể về hoạt động giáo dục hướng nghiệp như: Quyết định 126/CP của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông hay thông tư 31/TT ngày 17/8/1981 của Bộ GD-ĐT có hướng dẫn thực hiện Quyết định 126/CP với những nội dung về vị trí, nhiệm vụ của công tác HN; chỉ thị 33 CT-BGD&ĐT ngày 23/7/2003 cũng đã đề cập về việc tăng cường GDHN cho học sinh.
Cán bộ quản lí năng động, sáng tạo, làm việc có kế hoạch và phương pháp khoa học; có khả năng dự báo tốt tình hình công tác giáo dục hướng nghiệp của nhà trường. Đồng thời, có sự quan tâm tới đội ngũ giáo viên, đặc biệt giáo viên làm công tác giáo dục hướng nghiệp. Công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên làm công tác giáo dục hướng nghiệp được cán bội quản lí của các trường coi là một nhiệm vụ quan trọng giúp cho nâng cao giáo dục hướng nghiệp.
100% giáo viên đạt chuẩn, đội ngũ giáo viên năng động, tích cực trong công việc, do đó có khả năng nhanh chóng tiếp thu những những kiến thức về phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp, nhận thức về nội dung quản lý hoạt động GDHN của GV trong trường khá sâu sắc, hiểu được tầm quan trọng của hoạt động GDHN ở các trường THPT (đạt 100 % mức độ “nhiều”). Đó là tiền đề để có thể triển khai hoạt động giáo dục hướng nghiệp hiệu quả cho học sinh.
Đa số học sinh của các trường năng động, sáng tạo, ưa thích hoạt động tập thể: văn nghệ, thể thao, thăm quan dã ngoại. Đó là điều kiện thuận lợi để nhà trường thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp.
2.4.7.2. Khó khăn:
Qua khảo sát thực trạng cho thấy hai trường THPT được khảo sát tại quận 1 TP. Hồ Chí Minh đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lý hoạt động GDHN tại địa bàn.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế cần được khắc phục.
Trong quá trình điều tra khảo sát, tôi tiến hành thăm dò ý kiến của CBQL về những yếu tố gây khó khăn trong công tác quản lý hoạt động GDHN tại địa phương. Tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến đánh giá mức độ tác động của các yếu tố theo 4 mức độ: Nhiều – Vừa – Ít – Không (gây khó khăn). Kết quả khảo sát được ghi nhận trong bảng dưới đây.
Bảng 14: Mức độ gây khó khăn trong công tác quản lí hoạt động GDHN
Từ số liệu điều tra về những khó khăn của các trường trong việc quản lý các chương trình GDHN có thể khẳng định công tác quản lí hoạt động GDHN hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, theo số liệu khảo sát của bảng 14 cho thấy:
Yếu tố gây khó khăn nhiều nhất đến công tác quản lý hoạt động GDHN là “Kinh phí dành cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp còn hạn chế” (ĐTB= 3.4) có mức độ khó khăn “nhiều” chiếm 42.9 %. Cán bộ quản lí của hai trường được khảo sát cho biết hiện nhà trường chưa có nguồn tài chính phục vụ cho công tác GDHN, do đó nhà trường rất ít phối hợp với các CSSX kinh doanh để tổ chức các hoạt động hướng nghiệp cho học sinh theo hình thức “học tập thông qua lao động kỹ thuật và lao động sản xuất”. Về nguồn kinh phí chi trả giáo viên, tuy cả hai trường đều có chế độ chi trả để khuyến khích và động viên cho các GV làm công tác GDHN nhưng nguồn kinh phí này còn khá hạn chế, do đó các không đủ để hỗ trợ và khuyến khích các giáo viên đầu tư và nâng cao chất lượng các “Kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp” cho học sinh.
Đi kèm với nguồn tài chính hạn chế là “Điều kiện thời gian, cơ sở vật chất cho các hoạt động GDHN không đầy đủ” 76.9 % CBQL thừa nhận yếu tố này đã gây khó khăn “Nhiều” và “Vừa” đến công tác quản lý HĐGD Điểm trung bình đạt 3. Bởi vì CSVC và trang thiết bị phục vụ cho công tác GDHN trong nhà trường còn thiếu. Thư viện thiếu sách, thiếu tư liệu và những thông tin có nội dung hay có tính chất HN cho HS. Các trường chưa có phòng thông tin HN, còn thiếu một số phòng thực hành bộ môn, phòng tư vấn HN và phòng DN chưa đạt chuẩn. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Công tác HN chưa được quan tâm đầu tư đúng mức; do đó yếu tố “Kiến thức và phương pháp GDHN của một số GVCN và GV phụ trách” được đánh giá có mức độ gây khó khăn “Vừa” ĐTB= 2.9. Hầu hết các giáo viên thực hiện giáo dục hướng nghiệp đa phần là giáo viên kiêm nhiệm từ các bộ môn khác. Do đó các thầy/ cô điều chú trọng vào công tác chuyên môn để nâng cao năng lực giảng dạy bộ môn mà mình phụ trách. Do đó các GVCN và giáo viên bộ môn không quan tâm đến việc tự bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và phương pháp giáo dục hướng nghiệp.
“Nhận thức về nội dung quản lý hoạt động GDHN thiếu rõ ràng” được CBQL đánh giá là yếu tố đưng thứ 4 với điểm trung bình đạt 2.7, xét trên thang điểm thì đây là yếu tố gây khó khăn “vừa”. Từ đó chứng tỏ nhận thức của CBQL và đội ngũ GV về nội dung quản lý hoạt động GDHN tại các trường THPT quận 1 còn khá hạn chế. Do đội ngũ những người làm công tác GDHN chưa được trang bị những kiến thức cần thiết để thực hiện công tác.
Yếu tố cũng xếp thứ hạng 4 là “Sự phối hợp giữa GVCN, GV bộ môn, Đoàn, Đội, gia đình, lực lượng xã hội trong công tác GDHN chưa thống nhất, thiếu đồng bộ” yếu tố này cho kết quả 71.4 % CBQL đánh giá ở mức “Vừa”, điểm trung bình đạt 2.7. Qua tìm hiểu thực tế tại các trường THPT được khảo sát ở quận 1, hầu hết các trường đều chưa thực hiện tốt sự phối hợp các lực lượng mà chỉ khoán trắng cho GV phụ trách HN. Điều này phản ánh thực trạng sự phối hợp giữa các lực lượng trong hoạt động GDHN còn nhiều hạn chế cần khắc phục.
Đồng hạng 4 với hai yếu tố trên là “Những tác động không tích cực từ môi trường kinh tế – xã hội đến công tác quản lý hoạt động GDHN” là nội dung mà hầu hết CBQL đều nhìn nhận có tác động vừa và phần nào gây khó khăn cho công tác GDHN hiện nay. Số liệu khảo sát cho thấy có 42.9% CBQL nhìn nhận môi trường kinh tế – xã hội tác động “vừa” đến công tác quản lý hoạt động GDHN” điểm trung bình đạt 2.7. Kết quả khảo sát chứng tỏ hiện nay môi trường kinh tế – xã hội tác động cũng có tác động không nhỏ đến công tác quản lý hoạt động GDHN. Sự đa dạng của thế giới nghề nghiệp song song với sự tăng trưởng kinh tế trong nước và khu vực tạo ra những biến động không ngừng ở thị trường lao động đã làm dao động đến tâm lý chọn ngành, nghề của HS. Những tác động không tích cực đó là: tâm lý coi trọng bằng cấp vẫn tồn tại trong xã hội, điều kiện làm việc, khả năng tiến thân, chế độ đãi ngộ đối với công nhân chưa tốt… Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Yếu tố “Học sinh và gia đình học sinh ít quan tâm đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường” (ĐTB= 2.6) gây khó khăn ở mức độ “vừa” có tỉ lệ 57.1 %. Bởi vì, đây là hoạt động giáo dục không có sự đánh giá tính điểm không ảnh hưởng đến kết quả học lực, do đó tâm lý phụ huynh và học sinh chỉ quan tâm đến việc học các bộ môn văn hóa mà chưa nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp có tác động và ảnh hưởng lớn đến tương lai của học sinh.
“Các hoạt động nghiên cứu khoa học, báo cáo chuyên đề, SKKN liên quan đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp chưa được chú trọng” có 57.1 % CBQL đánh giá yếu tố này có mức độ gây khó khăn “vừa” (ĐTB =2.6). Tuy yếu tố này chỉ gây khó khăn vừa nhưng đây cũng là thực trạng phản ánh nhận thức chưa đúng về tầm quan trọng của công tác GDHN trong nhà trường hiện nay.Các trường chỉ thường tổ chức các HĐ nghiên cứu khoa học, báo cáo chuyên đề, SKKN liên quan đến các bộ môn học văn hóa để nâng cao chất lượng dạy học mà quên rằng hướng nghiệp cũng là một hoạt động giáo dục cần thiết đảm bảo cho học sinh phẩm chất và năng lực định hướng và chọn được ngành nghề phù hợp cho bản thân, từ đó sẽ góp phần nâng cao được tỉ lệ đậu tốt nghiệp, đại học, cao đẳng của học sinh các trường.
Yếu tố gây khó khăn thấp nhất là “Sự chỉ đạo từ Bộ Giáo dục đến các cấp quản lý giáo dục về hoạt động giáo dục hướng nghiệp chưa sâu sát” điểm trung bình đạt 2.1 xét trên thang điểm thì đây là yếu tố gây khó khăn ở mức độ “vừa”. Tuy đây là yếu tố xếp thứ hạng gây khó khăn thấp nhất nhưng cán bộ quản lí của hai trường được khảo sát cho rằng chính vì sự chỉ đạo của Bộ giáo dục đến các cấp quản lý giáo dục về HĐ GDHN còn ít, thiếu theo dõi, kiểm tra và đôn đốc, cũng như chưa có những chỉ đạo cụ thể, đưa ra những giải pháp hữu hiệu và phù hợp với tình hình thực tế của từng trường nên mặc dù các trường có triển khai thực hiện “Hướng nghiệp” nhưng HĐGD này vẫn chưa hiệu quả.
2.5. Cơ sở đề xuất giải pháp Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
2.5.1. Cơ sở pháp lý
- Quyết định số 126-CP của Thủ tướng Chính phủ.
- Thông tư 31/TT ngày 17/8/1981 của Bộ GD-ĐT;
- Chiến lược phát triển GD 2001 – 2010 do Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001,
- Chỉ thị 33/2003/CT-BGD&ĐT ngày 23/7/2003 cũng đã đề cập về việc tăng cường GDHN cho học sinh.
- Quyết định số 16/2006/QĐ–BGD&ĐT ngày 5/6/2006 cũng đề cập về việc ban hành chương trình GD phổ thông và trong chương trình GD phổ thông cũng có chương trình chuẩn “Hoạt động GDHN”.
2.5.2. Cơ sở lý luận
Hoạt động GDHN có vị tri vô cùng quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông, với vai trò định hướng và giúp cho học sinh chọn được nghề nghiệp phù hợp với năng lực của bản thân, cũng như phù hợp với nhu cầu nhân lực và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Do đó thực hiện công tác HN là một yêu cầu cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu nguyên lý và nội dung, đường lối GD của Đảng và Nhà nước, hiện thực hóa đường lối GD trong đời sống XH; góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lý học sinh sau khi tốt nghiệp.
Đề tài đã nghiên cứu hệ thống lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Việc nghiên cứu phần lý luận nói trên đã định hướng và xác lập vững chắc giúp tác giả tiếp tục nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận 1, thành phố Hồ Chí Minh đó là cơ sở lý luận để tác giả đề xuất biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý hoạt động hướng nghiệp tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
2.5.3. Cơ sở thực tiễn Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Qua khảo sát thực trạng quản lí HĐ GDHN tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Do hiệu quả công tác HN trong nhà trường còn thấp, công tác quản lí HĐ GDHN ở các trường THPT được khảo sát chưa thực sự được quan tâm và đầu tư đúng mức của các cấp quản lí. Ngoài ra, sự bất cập của đội ngũ giáo viên; hạn chế về nguồn kinh phí, điều kiện CSVC, trang thiết bị không đầy đủ; những vấn đề về chương trình và nội dung giáo dục hướng nghiệp; công tác quản lý giáo dục còn nhiều yếu kém, chưa thật sự năng động, sáng tạo trong công việc… Trong giới hạn phạm vi cho phép, đề tài đã đề xuất một số biện pháp chủ yếu sau nhằm củng cố và tăng cường công tác quản lý hoạt động GDHN, từ đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác GDHN của các trường THPT trong quận 1.
2.5.4. Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
2.5.4.1. Nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông
- Mục đích
Giải pháp này nhằm tạo ra những tác động để nâng cao nhận thức của các lực lượng trong và ngoài nhà trường về GDHN (đội ngũ CBQL, GV và PHHS về công tác GDHN). Làm cho họ hiểu được tầm quan trọng, mục tiêu về GDHN trong trường THPT. Cung cấp những thông tin về kinh tế xã hội, nhu cầu lao động nhằm hướng cho hoạt động GDHN giải quyết đúng hướng về nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ kinh tế – xã hội của Hà Nội.
- Nội dung và cách thực hiện
- Đội ngũ CBQL:
Quán triệt và nhận thức đúng, sâu sắc các chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước về công tác GDHN trong chiến lược phát triển GD và được khẳng định trong Luật GD, trong các văn bản, Nghị định, chỉ thị và các thông tư về GD có liên quan. Đồng thời, từ nhận thức đi đến việc thực thi các hoạt động cụ thể và phải cụ thể hóa trong kế hoạch QL của HT, trong kế hoạch năm học.
CBQL ở các trường THPT phải thể hiện tinh thần chủ động trong việc tham mưu với lãnh đạo cấp trên nhằm huy động các nguồn nhân lực, vật lực và tài lực nhằm để phục vụ tốt công tác GDHN của nhà trường; Nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo nhà trường trong việc tổ chức thực hiện và kiểm tra các HĐ GDHN song song với việc thực hiện kế hoạch của năm học.
- Đội ngũ GV: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Nhà trường cũng phổ biến các tài liệu, những chủ trương của Đảng và Nhà nước, những văn bản của Bộ, của Sở về việc hướng dẫn GDHN cho giáo viên.
HT tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, các khóa bồi dưỡng về công tác GDHN giúp đội ngũ GV nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của công tác giáo dục hướng nghiệp
- HT tổ chức cho GV trao đổi, tìm hiểu về hoạt động GDHN thông qua các buổi họp Hội đồng sư phạm, qua đó nâng cao nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động GDHN ở các trường THPT.
- Đôn đốc, kịp thời khích lệ, cũng như tạo mọi điều kiện cho những GV nào có tâm huyết, tích cực trong các tổ chức các HĐ GDHN.
- Đối với PHHS: phụ huynh có vai trò quan trọng trong quản lí giáo dục hướng nghiệp. Nhận thức của họ ảnh hưởng lớn về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong gia đình. Vì vậy, người quản lý phải biết tác động với PHHS, lực lượng này sẽ góp phần không nhỏ vào GDHN ngay chính con em của họ.
- Hiệu trưởng các trường THPT cần tổ chức các buổi họp hội PHHS, các phương tiện thông tin đại chúng, cần làm cho PHHS nhận thức rõ của việc hướng nghiệp đối với sự thành đạt nghề nghiệp của con em họ sau này.
Thông qua các lớp học tập cộng đồng, ngày hội tư vấn tuyển sinh – HN, các phương tiện thông tin đại chúng để tư vấn cho phụ huynh.
- Đối với HS:
Các chủ đề hướng nghiệp được xây dựng trên quan điểm hướng tới các hoạt động học tập đa dạng của học sinh như điều tra, xử lý thông tin, trao đổi, thảo luận, giải quyết tình huống, tham quan…Tham gia các hoạt động này, học sinh sẽ yêu thích và biết cách tìm kiếm những thông tin cần thiết cho bản thân về nghề nghiệp, cơ sở đào tạo để có thể chủ động lựa chọn nghề nghiệp tương lai.
Công tác tuyên truyền là một khâu quan trọng trong mắt xích các chuỗi công việc của GDHN. Thông qua bảng tin hoạt động, qua trang web của nhà trường tận dụng để tuyên truyền nhận thức GDHN cho học sinh.
Thông qua các hình thức lao động công ích, các buổi sinh hoạt ngoại khóa, sinh hoạt chủ nhiệm, sinh hoạt dưới cờ hay trong các phong trào của trường để tuyên truyền GDHN cho HS nhận thức được tầm quan trọng của việc chọn ngành, chọn nghề, từ đó các em có những định hướng đúng về nghề nghiệp tương lai, cũng qua đây nhằm khơi dậy động cơ tìm hiểu về ngành, nghề ở HS. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
2.5.4.2. Phát triển, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên làm công tác GDHN
- Mục đích:
- Để công tác giáo dục HN đạt hiệu quả cao thì việc phát triển đội ngũ GV là biện pháp quan trọng cần thực hiện.
- Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về GDHN trong thời gian tới, chúng ta cần có một đội ngũ có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn sâu, có năng lực sư phạm về dạy nghề và hướng nghiệp, đặc biệt có tay nghề thực hành giỏi.
- Nội dung và cách thực hiện:
Trước mắt, để có giáo viên tham gia hoạt động GDHN, các trường THPT được khảo sát cần tận dụng hết đội ngũ giáo viên chủ nhiệm sẵn có cùng với giáo viên kỹ thuật, dạy nghề tại trường tham gia các lớp đào tạo ngắn hạn giáo viên hướng nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế ở các trường THPT. Tiếp đó, phải thường xuyên bồi dưỡng đội ngũ này để họ nâng cao tay nghề, thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong hoạt động GDHN.
- Hợp đồng với giáo viên ở các trường TCCN và dạy nghề về dạy hướng nghiệp cho học sinh. Vận động các nghệ nhân tham gia giảng dạy hướng nghiệp các ngành nghề truyền thống của địa phương và đất nước.
- Liên kết với các trường DN, các trung tâm đào tạo, các chuyên gia tư vấn HN ngoài nhà trường để lập kế hoạch phối hợp đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV làm công tác HN.
- Xây dựng đội ngũ cộng tác viên gồm PHHS, cựu học sinh đã ra trường và thành đạt.
- Tổ chức công tác tập huấn, bồi dưỡng, các buổi sinh hoạt chuyên đề về công tác GDHN nhằm tạo điều kiện cho GV trao đổi học tập kinh nghiệm.
- Cử giáo viên và cán bộ quản lý đi tham quan, học tập ở một số trường làm tốt công tác hướng nghiệp.
- Tổ chức cho GV tìm hiểu các CSSX, các trường DN ở địa phương, thông qua các cơ sở này để bồi dưỡng tay nghề cho GV tạo điều kiện cho GV nắm được nội dung, hình thức, phương pháp HN trong và ngoài lớp, tổ chức trao đổi kinh nghiệm giữa các GV.
- Cần thành lập phòng hướng nghiệp, tổ tư vấn hướng nghiệp ngay tại trường. Người tham gia công tác tư vấn là: giáo viên tư vấn chuyên nghiệp tốt nghiệp khoa tâm lý giáo dục, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, giáo viên kỹ thuật – hướng nghiệp hoặc mời cộng tác viên TVHN thu hút từ các trường THCN, TCN, các trường Cao đẳng, đại học, các cơ quan, xí nghiệp, cơ sở sản xuất….của thành phố…. Đó là những người có những hiểu biết nhất định về tâm lý giáo dục, có năng lực giao tiếp với học sinh và phụ huynh học sinh, các cựu học sinh hoặc phụ huynh học sinh am hiểu về nghề. Xây dựng chế độ làm việc và quy định rõ quyền hạn và nhiệm vụ và từng thành viên của Tổ TVHN.
- Hàng tháng, trong các buổi họp rút kinh nghiệm về chuyên môn của nhà trường thì tổ TVHN cũng phải có phần sơ kết của tình hình GDHN. Việc sơ kết thường xuyên theo định kỳ hàng tháng giúp cho hoạt động nhanh chóng đưa vào nề nếp ổn định, đó như là một hoạt động thường xuyên bên cạnh các hoạt động chuyên môn khác của nhà trường. Hàng năm, Báo cáo về hướng nghiệp phải chỉ ra được những ưu điểm và tồn tại, bài học kinh nghiệm, phân tích nguyên nhân chủ quan và khách quan từ các phía để rút kinh nghiệm, đồng thời báo cáo cần có thống kê hiệu quả của GDHN thông qua số lượng, tỷ lệ học sinh tham gia vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc đi làm vv…
2.5.4.3. Tăng cường đầu tư về tài chính, CSVC, trang thiết bị phục vụ công tác GDHN
- Mục đích: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
- Huy động và tăng cường nguồn kinh phí cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp
- Tạo ra môi trường giáo dục thuận lợi, thân thiện giúp thu hút sự hứng thú của HS với những buổi sinh hoạt HN trong nhà trường.
- Nội dung và cách thực hiện:
Kêu gọi sự đầu tư từ các nguồn lực của xã hội qua công tác xã hội hóa giáo dục để phục vụ cho hoạt động GDHN. Lãnh đạo nhà trường THPT phải tranh thủ tham mưu trực tiếp với Sở để xin kinh phí cho việc tăng cường thiết kế và xây dựng đầy đủ các phòng dạy thực hành, thư viện, thiết bị, phòng HN và tư vấn HN, các trung tâm tư vấn HN theo tiêu chuẩn của Bộ GD-ĐT quy định.
Ngoài nguồn ngân sách được duyệt theo kế hoạch, nhà trường cần tạo nguồn kinh phí qua tích lũy và tiết kiệm, đưa nội dung kinh phí cho hoạt động GDHN vào kế hoạch chi tiêu nội bộ dựa trên cơ sở kế hoạch hoạt động GDHN của nhà trường để tập thể đóng góp ý kiến và thông qua trong Hội nghị cán bộ công chức hàng năm.
Đầu tư xây dựng, cải tạo phòng ốc phục vụ hoạt động GDHN (phòng sinh hoạt HN, phòng tư vấn …), nâng cấp trang thiết bị. Đồng thời, nhà trường phải phấn đấu từng bước sữa chửa, nâng cấp và bổ sung một số trang thiết bị dạy học theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa, phải cập nhật thường xuyên các tư liệu, sách báo, tranh ảnh hay các tài liệu tham khảo có nội dung và tính chất HN, trang bị thêm các phương tiện nghe nhìn, các thiết bị cần thiết cho tư vấn HN và tư vấn nghề…
Nhà trường cần phải có biện pháp triệt để việc sử dụng và bảo quản tốt CSVC hiện có. Bên cạnh, việc mua mới các trang thiết bị, nhà trường cần động viên và đẩy mạnh các phong trào thi đua làm đồ dùng dạy học liên quan đến hoạt động GDHN nhằm phát huy ý tưởng sáng tạo trong GV và HS, đồng thời làm phong phú nguồn tư liệu, ĐDDH phục vụ cho hoạt động.
Phân công thành viên ban giám hiệu (Phó Hiệu trưởng) phụ trách về CSVC chỉ đạo việc quản lý, sử dụng CSVC phục vụ hoạt động GDHN. Thường xuyên kiểm tra việc sử dụng CSVC phục vụ hoạt động GDHN và có biện pháp khắc phục kịp thời.
KẾT LUẬN Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về hoạt động giáo dục hướng nghiệp; điều tra tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường THPT trên địa bàn quận 1, TP. Hồ Chí Minh cùng với việc bám sát mục tiêu đặt ra ban đầu, tác giả xin đưa ra một số kết luận sau:
- Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường THPT trên địa bàn quận 1, TP. Hồ Chí Minh:
- Tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp giáo viên và học sinh nhận thức đúng nhưng chưa đầy đủ.
- Công tác quản lý việc thực hiện nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp được cả hai trường THPT khảo sát thực hiện ở mức “thường xuyên” (ĐTBC =2.6), kết quả thực hiện ở mức “hiệu quả” (ĐTBC =2.7). Trong đó, nội dung “Nhóm chủ đề về giao lưu, thảo luận, tham quan” xếp thứ hạng cao nhất về mức độ và kết quả thực hiện.
- Công tác quản lý xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp được đánh giá ở mức độ thực hiện “thường xuyên” và kết quả thực hiện ở mức “hiệu quả” (ĐTBC theo mức độ và kết quả thực hiện của cán bộ quản lí là 2.6 và 2.7; của giáo viên là 2.4 và 2.8). Nội dung “Xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp chung của nhà trường” có mức độ thực hiện cao nhất (ĐTB của CBQL và GV điều là 2.9. Nội dung “Xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp chi tiết cho từng khối lớp” có kết quả thực hiện xếp vị trí thứ nhất (ĐTB theo kết quả của CBQL là 29. của GV là 2.8).
- Công tác quản lý tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp có có ĐTB nằm khoảng từ 2.3 đến 2.8 (thỉnh thoảng đến thường xuyên). Đối với mức độ hiệu quả của công tác tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp cũng có ĐTB nằm khoảng từ 2.3 đến 2.8 (ít hiệu quả đến hiệu quả). Trong đó, hai nôi dung xếp thứ hạng 1 là “Phân công chức danh và nhiệm vụ rõ ràng cho giáo viên làm công tác giáo dục hướng nghiệp”, “Phân chia công việc thành các nhiệm vụ cụ thể để người được phân công thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp một cách thuận lợi và hợp logic.” có ĐTB về mực độ thực hiện đều là 2.8, mức độ hiệu quả của hai nội dung này cũng xếp thứ hạng cao có ĐTB lần lượt là 2.6 và 2.8.
- Công tác quản lý chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp về mức độ có ĐTB nằm trong khoản từ 2.25 đến 2.75 (thỉnh thoảng – thường xuyên), ĐTBC = 2.5 xét trên thang điểm thì đạt mức độ “thường xuyên”. Đối với mức độ hiệu quả của công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp có ĐTB nằm khoảng từ 1.9 đến 2.8 (ít hiệu quả – hiệu quả), ĐTBC = 2.5 xét trên thang điểm thì đạt mực độ “hiệu quả”.
Nội dung “Chỉ đạo việc thực hiện các phương pháp, hình thức hướng nghiệp gây được sự hứng thú cho HS, điều chỉnh hoạt động phối hợp giữa các GV để hiệu quả hướng nghiệp đạt cao” có mức độ thực hiện và kết quả thực hiện xếp thứ 1 ( với điểm trung bình lần lượt là ĐTB = 2.75, ĐTB = 2.9) Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
Công tác quản lý kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp có được quan tâm nhưng chưa được sâu sát và đồng bộ, về mức độ thực hiện nhìn chung có ĐTB nằm trong khoản từ 2.3 đến 2.75 (thỉng thoảng – thường xuyên), ĐTBC = 2.53 xét trên thang điểm thì đạt mức độ “thường xuyên”. Đối với mức độ hiệu quả của công tác kiểm tra thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp có ĐTB nằm khoảng từ 2.1 đến 2.8 (ít hiệu quả – hiệu quả), ĐTBC = 2.46 xét trên thang điểm thì đạt mực độ “hiệu quả”
Những thuận lợi, khó khăn của lãnh đạo các trường trong công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
- Thuận lợi
- Đảng và Nhà nước ban hành những văn bản quy định cụ thể về hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
- Cán bộ quản lí năng động, sáng tạo, làm việc có kế hoạch và phương pháp khoa học; có khả năng dự báo tốt tình hình công tác giáo dục hướng nghiệp của nhà trường.
- Đội ngũ giáo viên năng động, tích cực trong công việc.
- Đa số học sinh của các trường năng động, sáng tạo, ưa thích hoạt động tập thể.
Đó là điều kiện thuận lợi để nhà trường thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp.
- Khó khăn:
Yếu tố gây khó khăn nhiều nhất đến công tác quản lý hoạt động GDHN là “Kinh phí dành cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp còn hạn chế” (ĐTB= 3.4) có mức độ khó khăn “nhiều” chiếm 42.9 %.
- Những biện pháp người nghiên cứu đề xuất để nâng cao chất lượng cho công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường THPT trên địa bàn quận 1, TP. Hồ Chí Minh: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường.
- Nâng cao nhận thức về giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông;
- Phát triển, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên làm công tác GDHN.
- Tăng cường đầu tư về tài chính, CSVC, trang thiết bị phục vụ công tác GDHN
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại Trung học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
