Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và giáo dục của thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
2.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội địa phương
- Đặc điểm điều kiện tự nhiên
Thị xã Tân Uyên được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2021 theo Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29/12/2020 của Chính phủ trên cơ sở chia tách huyện Tân Uyên để thành lập thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên.
Sau khi chia tách thị xã Tân Uyên có diện tích tự nhiên là 19.249,20 ha và số nhân khẩu là 190.564 nhân khẩu.Về địa giới hành chính: phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai; phía Tây giáp thành phố Thủ Dầu Một và thị xã Bến Cát; phía Nam giáp thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An và tỉnh Đồng Nai; phía Bắc giáp huyện Bắc Tân Uyên. Thị xã Tân Uyên có sáu phường gồm Uyên Hưng, Tân Phước Khánh, Thạnh Phước, Tân Hiệp, Khánh Bình và Thái Hòa và sáu xã gồm Bạch Đằng, Thạnh Hội, Vĩnh Tân, Tân Vĩnh Hiệp, Hội Nghĩa, Phú Chánh. Thị xã Tân Uyên là địa phương nằm trong vùng Chiến khu Đ, có bề dày cách mạng với nhiều địa danh anh hùng đã đi vào lịch sử. Phát huy truyền thống đó, trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Tân Uyên không ngừng nỗ lực, đoàn kết một lòng, từng bước đưa nền kinh tế của địa phương phát triển, nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho người dân, quốc phòng – an ninh được giữ vững,…
- Đặc điểm kinh tế, xã hội địa phương
Cơ sở hạ tầng và giao thông nông thôn tiếp tục được đầu tư, xây dựng; tình hình sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp duy trì hoạt động ổn định. Thị trường hàng hóa tương đối ổn định, số lượng hàng hóa đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Ngoài các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội theo Nghị quyết đã đề ra, địa phương đặc biệt quan tâm đến mục tiêu phát triển nhằm bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc các đối tượng chính sách, đền ơn đáp nghĩa, các hộ dân thuộc diện nghèo. Đặc biệt, thị xã cũng bảo đảm nhu cầu an cư, lạc nghiệp của người lao động thông qua phát triển các dự án nhà ở xã hội, nhà ở thu nhập thấp, … Để thực hiện mục tiêu này, ngoài sự đầu tư từ nguồn vốn ngân sách, thị xã cũng đã kêu gọi các doanh nghiệp tham gia đầu tư theo hướng XHH. Với các khu, cụm công nghiệp hiện hữu, cùng với lợi thế địa lý phát triển hệ thống cảng sông, kho bãi, dịch vụ kho vận,… Thị xã Tân Uyên sẽ tăng cường thu hút đầu tư, luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để đẩy mạnh phát triển theo hướng công nghiệp, dịch vụ, đô thị.
Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, UBND tỉnh và Nghị quyết của HĐND thị xã về phát triển kinh tế, trong 9 tháng qua đã có 25 doanh nghiệp trong nước, 61 doanh nghiệp nước ngoài được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trên địa bàn thị xã. Lũy kế đến nay thị xã Tân Uyên có 619 doanh nghiệp trong nước với tổng vốn đầu tư hơn 7.486 tỷ đồng và 363 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký hơn 2.386 tỷ USD. Hiện nay các dự án đầu tư được bố trí tập trung vào các khu, cụm công nghiệp đã xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng như Khu công nghiệp Nam Tân Uyên, cụm công nghiệp Tân Hiệp, … phù hợp với chủ trương thu hút đầu tư vào khu công nghiệp của tỉnh Bình Dương. Các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp tại địa bàn thị xã bảo đảm thực hiện đúng theo quy trình về ngành nghề đầu tư của UBND tỉnh, hạn chế ô nhiễm môi trường và phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương. Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn thị xã có 2 khu và 3 cụm công nghiệp với tổng diện tích khoảng 1.900 ha và các khu vực phát triển sản xuất công nghiệp tập trung ở những phường như Uyên Hưng, Tân Phước Khánh… Từ đầu năm đến nay, các công ty trên địa bàn đã giải quyết việc làm cho trên 5.980 lao động trong và ngoài tỉnh, đồng thời đóng góp phần lớn nguồn thu cho ngân sách thị xã. (UBND thị xã Tân Uyên, 2025)
2.1.2. Tình hình giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Tình hình và kết quả giáo dục trung học cơ sở
Từ khi thành lập (2021) đến nay, ngành GDĐT thị xã Tân Uyên đã không ngừng phát triển số lượng và chất lượng. Năm học 2024 – 2025 là năm học tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 04/11/2020 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI; đồng thời thực hiện Chương trình hành động số 81-CTHĐ/TU ngày 03/4/2021 của Tỉnh ủy Bình Dương và Kế hoạch số 09-KH/TU ngày 09/6/2021 của Thị ủy Tân Uyên về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Cũng năm học này, toàn ngành GDĐT Bình Dương tiếp tục thực hiện chủ đề năm học “Đổi mới thực chất, hiệu quả nâng cao” với phương châm “Trách nhiệm – Năng động – sáng tạo” và khẩu hiệu hành động “Tất cả vì học sinh thân yêu”.
Bước vào giai đoạn thực hiện đổi mới giáo dục, khẳng định mạnh quan điểm “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” Thị xã Tân Uyên tiếp tục đẩy mạnh phong trào toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội tham gia công tác GD; tập trung các điều kiện tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, bền vững về chất lượng GD; đẩy mạnh đổi mới công tác quản lý; quy hoạch phát triển mạng lưới trường lớp, bố trí quỹ đất phù hợp với yêu cầu xây dựng trường học theo hướng hiện đại hóa, trường đạt chuẩn quốc gia; thực hiện các hoạt động GD chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, GD văn hóa cho HS.
Năm học 2024 – 2025, trên địa bàn thị xã Tân Uyên có 08 trường Trung học cơ sở với 260 lớp/10.205 HS; so năm trước tăng 25 lớp và tăng 1.148 HS. Về đội ngũ cán bộ, GV, nhân viên có 599 người (457 nữ), trong đó GV 465 người/364 nữ. Tỷ lệ GV đạt chuẩn trở lên đạt 100% (465/465), trong đó đạt trình độ Cao đẳng 164/465 (35,27%); Đại học 299/465 (64,30%); Thạc sĩ: 02/465 (0,43%). Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Về kết quả hoạt động giáo dục: Do số lượng HS tăng theo hàng năm, nên ngành giáo dục thị xã Tân Uyên đã xây dựng thêm 24 phòng học mới ở các trường đồng thời đẩy mạnh cải tạo hệ thống phòng học mới phục vụ cho việc giảng dạy. Ðặc biệt, trong năm học có 02 trường THCS vừa đón nhận danh hiệu trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2024-2022 nâng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 5/8 trường THCS của thị xã. Toàn bậc học có 199/469 GV THCS được công nhận GV dạy giỏi cấp cơ sở (đạt tỷ lệ 42,43%), trong đó có 01 GV đạt giải Khuyến khích GV giỏi Võ Minh Đức cấp tỉnh; 05GV đạt GV chủ nhiệm giỏi cấp thị. Tỷ lệ HS được lên lớp đạt 93,71% (9563/10.205 lên lớp thẳng); 642 HS (6,29%) lưu ban. So với năm trước, tỷ lệ HS lên lớp giảm 0,37%, HS lưu ban tăng 0,37%. Một số kết quả:
Xếp loại hạnh kiểm: Tốt: 82,07% (8.375/10.205); Khá: 15,91% (1.624/10.205), Trung bình: 2,02% (206/10.205). So với năm học trước, loại Tốt tăng 3,59%, Khá giảm 2,72%, Trung bình giảm 0,86%, Yếu giảm 0,01%.
Xếp loại học lực: Giỏi: 20% (2.041/10.205), Khá: 30,52% (3.115/10.205), Trung bình: 43,19% (4.408/10.205), Yếu: 3,66% (374/10.205),
Kém: 2,62% (267/10.205). So năm trước, tỷ lệ HS Giỏi giảm 0,32%, khá tăng 1,33%, trung bình tăng 1,63%, Yếu giảm 2,95%, Kém tăng 0,3%.
Kết quả tốt nghiệp Trung học cơ sở: 1.846/1.952 HS, đạt tỷ lệ 94,57%; so năm học trước, tỷ lệ tăng 2,36%. (Phòng GDĐT Tân Uyên, 2025).
- Tình hình hoạt động thư viện và nhân sự thư viện năm học 2024- 2025
Hiện nay các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên đều có thư viện.
Tình hình thư viện được trình bày ở bảng 2.1 dưới đây:
- Bảng 2.1. Tình hình thư viện các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên
Bảng 2.1 cho thấy, trong 8 trường THCS trên địa bàn có 4/8 trường đạt thư viện tiên tiến; 4/8 trường có thư viện đạt chuẩn. Về phòng thư viện: chỉ có 6/8 trường đạt chuẩn về diện tích, có kho sách, phòng đọc cho GV và HS; 02 trường còn lại phải sử dụng phòng học để làm thư viện (riêng trường THCS Vĩnh Tân còn khó khăn nhiều, phải dùng phòng học để chia tách thành 02 phòng – 01 phòng 48m2 làm phòng thư viện, phần còn lại là văn phòng của trường). Về số máy tính kết nối mạng: 8/8 trường đều có 01 máy tính có kết nối mạng phục vụ tốt cho công tác QL và báo cáo cũng như lưu trữ hồ sơ của thư viện, riêng đối với trường THCS Nguyễn Quốc Phú ngoài 01 máy tính dành riêng cho CBTV được kết nối mạng, nhà trường còn trang bị cho thư viện 10 máy tính có kết nối mạng để phục vụ cho nhu cầu học tập và giảng dạy của HS và GV.
- Bảng 2.2. Tình hình nhân sự thư viện và một số hoạt động thư viện các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên
Bảng 2.2 cho thấy, nhân viên thư viện đều có gốc đào tạo từ ngành sư phạm, trong đó có 3 NVTV đạt trình độ đại học, 5 NVTV đạt trình độ cao đẳng. Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thư viện có 7 NVTV đã được bồi dưỡng về nghiệp vụ và đang đảm nhiệm công tác chuyên trách thư viện, 01 NVTV chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ và đang kiêm nhiệm công tác thư viện. Đây cũng là vấn đề khó khăn để các nhà QL đổi mới quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện để kịp sự thay đổi như hiện nay khi ngành giáo dục đứng trước sự đổi mới về phương pháp giảng dạy, về vấn đề thay sách, … Về trình độ tin học và ngoại ngữ: tất cả 8 NVTV đều đạt trình độ A trở lên.
2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng hoạt động thư viện và quản lý hoạt động thư viện Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
2.2.1. Nội dung khảo sát
Nhận thức về hoạt động thư viện: Chúng tôi tìm hiểu nhận thức của CBQL, CBTV, GV và HS về tầm quan trọng của HĐTV, các nội dung của HĐTV trong trường THCS.
Thực trạng hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương: Thông qua phỏng vấn, khảo sát ý kiến cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh cũng như phân tích hồ sơ, sản phẩm hoạt động quản lí chúng tôi đã tìm hiểu thực trạng HĐTV trong trường THCS, việc thực hiện các nội dung của HĐTV trong trường THCS được tham gia khảo sát.
Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương: Thông qua khảo sát ý kiến CBQL, CBTV, GV, HS chúng tôi tìm hiểu thực trạng quản lý HĐTV trong trường THCS về các mặt: nhận thức về tầm quan trọng của quản lý HĐTV, kết quả thực hiện các nội dung quản lý HĐTV. Ngoài ra, chúng tôi cũng tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý HĐTV trong trường THCS thuộc địa bàn thị xã Tân Uyên, qua đó xác định nguyên nhân của thực trạng.
2.2.2. Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng
Chúng tôi đã sử dụng 3 mẫu khảo sát, cụ thể như sau:
- Mẫu 1: Khảo sát về thực trạng HĐTV và QL HĐTV ở các trường THCS. (phụ lục 1- Mẫu dành cho CBQL, GV các trường THCS).
- Mẫu 2: Khảo sát về thực trạng HĐTV ở các trường THCS. (phụ lục 2- Mẫu dành cho học sinh các trường THCS).
- Mẫu 3: Khảo sát về thực trạng quản lý HĐTV ở các trường THCS. (phụ lục 3- Phiếu phỏng vấn dành cho Hiệu trưởng, CBTV các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên)
Ngoài phiếu khảo sát và phiếu phỏng vấn, tác giả còn nghiên cứu các văn bản pháp lý, hồ sơ liên quan đến công tác QL HĐTV của các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên như kế hoạch năm học của trường, của CBTV trong năm học 2024-2025; Báo cáo tổng kết năm học về HĐTV của 8 trường; Báo cáo thống kê về số liệu công tác TV của Phòng GDĐT năm học 2024-2025 …
Sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS (IBM SPSS Statistics) for Windows, phiên bản 20.0 để xử lý thông tin trong phiếu điều tra.
2.2.3. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Độ tin cậy của thang đo được xác định bằng hệ số tin cậy Anpha – Cronbach đã được tích hợp sẵn trong phần mềm SPSS, cụ thể trình bày ở bảng 2.3 như sau:
- Bảng 2.3. Độ tin cậy của thang đo được xác định bằng hệ số tin cậy Anpha– Cronbach
Hệ số tin cậy đo được là 0,978. Theo các nhà thống kê, hệ số tin cậy từ 0,70 trở lên là thang đo dùng được. Ở đây hệ số tin cậy là 0,978 cho phép kết luận độ tin cậy đạt mức tốt.
2.2.4. Tổ chức điều tra, khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát CBQL, GV và HS các trường THCS của thị xã Tân Uyên, bao gồm:
- Mẫu 1: Đối tượng khảo sát chính của đề tài bao gồm 20 CBQL, 8 CBTV, 4 Tổ trưởng/ tổ phó chuyên môn và 218 GV của 8 trường THCS công lập ở thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Mẫu 2: Khảo sát 255 HS ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên.
- Mẫu 3: Phiếu phỏng vấn được thực hiện với các đối tượng là CBQL các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên gồm: 8 HT được mã hóa bằng ký hiệu QLT1, QLT2, QLT3, …QLT8 và 8CBTV được mã hóa bằng ký hiệu: CBTVT1, CBTVT2, … CBTVT8.
Cụ thể với từng loại mẫu trình bày ở bảng 2.4 như sau:
- Đối với mẫu 1: Bảng 2.4 trình bày phân bố số lượng và đặc điểm đối tượng khảo sát.
Bảng 2.4. Phân bố số lượng và đặc điểm đối tượng khảo sát
- Qua kết quả thống kê ở bảng 2.4 cho thấy:
Về giới tính, do chọn mẫu theo nguyên tắc ngẫu nhiên và đặc trưng riêng của ngành sư phạm trong các trường học ở nước ta là nam CBQL, GV, CBTV ít hơn nữ CBQL, GV, CBTV nên khách thể nghiên cứu hơi lệch về phía nữ CBQL, GV, CBTV. Nhưng lý do này xuất phát từ tính khách quan nên vẫn đảm bảo đầy đủ nguyên tắc nghiên cứu khoa học. Cụ thể, nữ chiếm 68.4% và nam 31.6%. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Làm việc tại trường đạt chuẩn quốc gia: trong số CBQL, GV, CBTV được khảo sát có 62% CBQL, GV, CBTV đang công tác ở trường đạt chuẩn và 38% CBQL, GV, CBTV đang công tác tại các trường chưa đạt chuẩn.
Về vị trí, chức vụ công tác trong nhà trường: 24 CBQL (Hiệu trưởng có 8 người chiếm 3.2%, phó Hiệu trưởng có 12 người chiếm 4.8%, Tổ trưởng, tổ phó chuyên môn có 4 người chiếm 1.6%), GV là 218 người (chiếm 74.6%) và CBTV là 8 người (chiếm 3.2%). Như vậy, chúng tôi đã hỏi ý kiến 100% hiệu trưởng và 100% CBTV của các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên. Chúng tôi đã thu được những thông tin rất quan trọng để có thể nhận định về thực trạng HĐTV và thực trạng quản lý HĐTV các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Về kinh nghiệm giảng dạy, cũng như công tác trong ngành giáo dục: CBQL, GV, CBTV có thâm niên công tác dưới 5 năm là 143 người (57.2%), từ 5 năm đến dưới 10 năm là 60 người (24.0%), có 27 CBQL, GV, CBTV có thâm niên từ 10 đến dưới 20 năm chiếm 10.8%. Thâm niên công tác từ 20 đến dưới 30 năm có 8 người (3.2%) và thâm niên công tác trên 30 năm có 12 người (4.8%).
Song song với điều tra kinh nghiệm công tác trong ngành GD, chúng tôi cũng điều tra kinh nghiệm về công tác QL, chúng tôi thu thập được: số người làm công tác QL có 24 người. Trong đó có kinh nghiệm QL dưới 5 năm là 6 người (2.4%), kinh nghiệm từ 5 đến dưới 10 năm là 8 người (3.2%), kinh nghiệm từ 10 đến dưới 20 năm là 8 người (3.2%) và có kinh nghiệm QL từ 20 năm trở lên có 2 người (0.8%).
Về trình độ chuyên môn, số người tham gia khảo sát có trình độ cao đẳng chiếm 89 người (35.6%); trình độ đại học là 161 (64.4%).
Về việc tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng về công tác QL người khảo sát thu được kết quả có 17 người (6.8%) có tham gia đào tạo, bồi dưỡng về công tác QL và có 233 người (93.2%) chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng về công tác QL.
Đối với mẫu 2: Bảng 2.5 trình bày phân bố số lượng và đặc điểm đối tượng khảo sát là học sinh.
- Bảng 2.5. Phân bố số lượng và đặc điểm học sinh được khảo sát
Từ bảng 2.5 cho thấy trong tổng số 255 HS tham gia khảo sát có 113 HS nam (44.3%), 142 HS nữ (55.7%). Số lượng HS được khảo sát ở các trường đạt chuẩn quốc gia chiếm 77.3% và ở các trường chưa đạt chuẩn chiếm 22.7%.
Về Hạnh kiểm cuối năm học 2024-2025: xếp loại Tốt: 205HS (80.4%); Khá: 30 HS (11.8%); Trung bình: 19HS (7.5%); Yếu: 01 HS (0.4%). Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Về kết quả học tập cuối năm học 2024-2025: xếp loại Giỏi: 91 HS (35.7%); Khá: 82 HS (32.2%); Trung bình: 73 HS (28.6%); Yếu: 9 HS (3.5%).
Qua phân tích các đối tượng khảo sát trình bày ở trên cho thấy, đối tượng khảo sát bao gồm cả HT, PHT, tổ trưởng/tổ phó chuyên môn, GV, CBTV và HS với đặc điểm nhân khẩu đa dạng, phong phú. Điều đó, cho phép đề tài thu được các thông tin toàn diện về thực trạng hoạt động thư viện và quản lý hoạt động thư viện tại các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
2.2.5. Qui ước thang đo
Thang đo sử dụng chủ yếu trong các phiếu khảo sát là thang đo định danh để xác định tên gọi và một số đặc điểm của đối tượng khảo sát; thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để tính các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, tỷ lệ phần trăm.
Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert 5 với mức giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (5-1)/5 = 0.8, nên ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng như sau (theo nội dung câu hỏi trong bảng khảo sát): 1.00 – 1.80 (kém, hoàn toàn không đồng ý, không thuận lợi, không khó khăn); 1.81 – 2.60; (yếu, không đồng ý, ít thuận lợi, ít khó khăn); 2.61 – 3.40: (trung bình, một phần đồng ý, bình thường); 3.41 – 4.20: (khá, đồng ý, thuận lợi, khó khăn); 4.21 – 5.00: (tốt, hoàn toàn đồng ý, rất thuận lợi, rất khó khăn). Cụ thể trong bảng 2.6 sau:
- Bảng 2.6. Quy ước xử lý thông tin phiếu khảo sát
2.3 Thực trạng hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
2.3.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, cán bộ thư viện, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của thư viện
Nhận thức có vai trò định hướng cho con người trong suy nghĩ, hành động. Nó có tác dụng điều chỉnh thái độ và hành vi của con người trong cuộc sống. Tìm hiểu về nhận thức của CBQL, CBTV, GV và HS về tầm quan trọng của thư viện, chúng tôi thu được kết quả, thể hiện ở bảng 2.7 sau đây:
- Bảng 2.7. Nhận thức của CBQL, CBTV, GV và HS về tầm quan trọng của thư viện
Nhìn vào bảng 2.7 chúng ta thấy, 23.5% HS và 16.4% CBQL, CBTV, GV đánh giá thư viện trường học rất quan trọng. Có đến 51.4%HS và 71.2% CBQL, CBTV, GV đánh giá ở mức quan trọng. Chính nhận thức này là nền tảng rất quan trọng để tổ chức và triển khai các hoạt động thư viện đạt hiệu quả. So sánh ý kiến của HS và CBQL, CBTV và GV cho thấy, 25.2% số học sinh được chưa nhận thức được tầm quan trọng của thư viện, thậm chí một số ít cho rằng, thư viện không quan trọng (chiếm 2%); trong khi đó, một số không nhỏ trong các GV được hỏi ý kiến cũng chưa nhận thức được tầm quan trọng của thư viện (chiếm 12%). Bảng 2.7 cũng cho thấy hầu hết CBQL và CBTV đều nhận thức được tầm quan trọng của thư viện trong nhà trường.
- Biểu đồ 2.1. Tầm quan trọng của thư viện trường học
2.3.2. Thực trạng về vốn tài liệu của thư viện
Vốn tài liệu là yếu tố đầu tiên và mang tính quyết định trong việc xây dựng và phát triển thư viện. Vốn tài liệu không chỉ là tài sản mà còn là cơ sở cho hoạt động hiệu quả của mỗi thư viện. Vốn tài liệu càng phong phú thì khả năng đáp ứng nhu cầu đọc càng lớn và càng có sức thu hút bạn đọc. Khảo sát thực trạng về vốn tài liệu ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, chúng tôi đã thu được kết quả trình bày ở bảng 2.8 như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Bảng 2.8. Ý kiến của CBQL, CBTV, GV và HS về thực trạng về vốn tài liệu
Thông qua kết quả khảo sát được trình bày trong bảng 2.8, người nghiên cứu có những phân tích và nhận xét cụ thể như sau: Trong tất cả các nội dung từ 1 đến 7, theo nhận định của HS tất cả các nội dung trên được xếp ở mức khá với trị trung bình (TTB) từ 3.44 trở lên. Nội dung được xếp thứ hạng cao nhất là “Mức độ hỗ trợ của sách, báo, tạp chí, tài liệu tham khảo trong thư viện đối với việc thư giãn, giải trí của học sinh và giáo viên” (TTB = 3.95) và nội dung xếp thứ hạng cuối cùng (hạng 7) là “Mức độ đáp ứng về số lượng tài liệu đáp ứng nhu cầu mượn của bạn đọc” (TTB =3.44). Trong khi đó, đội ngũ CBQL, CBTV, GV đánh giá hai nội dung “Mức độ phong phú của sách, báo, tạp chí, tài liệu tham khảo trong thư viện”(TTB=3.40, thứ hạng 6) và “Mức độ hỗ trợ của sách, báo, tạp chí, tài liệu tham khảo trong thư viện đối với việc soạn giảng và nâng cao kiến thức của giáo viên” (TTB=3.32, thứ hạng 7) chỉ ở mức “Trung bình”, xếp ở cuối bảng. Các nội dung còn lại họ đều đánh giá ở mức “khá”. Họ đánh giá cao nhất nội dung “Mức độ hỗ trợ của sách, báo, tạp chí, tài liệu tham khảo trong thư viện đối với việc học tập của học sinh”(TTB=3.73).
Tiến hành so sánh TTB cho thấy có sự khác biệt trong đánh giá các nội dung về thực trạng vốn tài liệu giữa HS và CBQL, CBTV, GV. Có thể đưa ra nhận định ban đầu như sau: Trung bình mức độ đánh giá của HS cao hơn CBQL, CBTV, GV là 5 nội dung. Trong khi đó, mức độ đánh giá của CBQL, CBTV, GV lại cao hơn so với HS tại 2 nội dung cụ thể về: “Mức độ đáp ứng về chất lượng của tài liệu đáp ứng nhu cầu của bạn đọc”;“Mức độ đáp ứng về số lượng tài liệu đáp ứng nhu cầu mượn của bạn đọc”.
Bên cạnh đó, bảng 2.8 cũng cho thấy mức độ phong phú của sách, báo, tài liệu tham khảo trong thư viện chưa đáp ứng tốt nhu cầu của bạn đọc; mức độ hỗ trợ của sách, báo, tạp chí, tài liệu tham khảo trong thư viện chưa hỗ trợ tốt cho việc nâng cao kiến thức cho CBQL, CBTV, GV. Do đó, trong thời gian tới các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cần tìm hiểu kỹ hơn nhu cầu của bạn đọc để đáp ứng nguồn tài liệu cho bạn đọc đồng thời có những biện pháp thiết thực hơn nữa để trang bị vốn tài liệu thật sự phong phú nhằm nâng cao kiến thức cho GV, hỗ trợ tích cực hơn trong việc soạn giảng và nâng cao kiến thức của GV để họ có thể làm tốt hơn nhiệm vụ của mình trong nhà trường, giúp nhà trường nâng cao được chất lượng GD.
2.3.3. Thực trạng về cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện
Từ phiếu hỏi ý kiến về thực trạng cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Chúng tôi thu được kết quả thể hiện trực quan bằng biểu đồ 2.2 sau:
- Biểu đồ 2.2. Ý kiến của CBQL, GV, HS về thực trạng cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện trường học
Kết quả nghiên cứu thể hiện ở biểu đồ 2.2 cho thấy theo HS có đến 6/7 nội dung được nhận định ở mức khá với TTB từ 3.57 trở lên, tuy nhiên theo CBQL, GV, CBTV chỉ có 5/7 nội dung về thực trạng cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện trường học được đánh giá ở mức “khá”. Nội dung duy nhất HS đánh giá ở mức “trung bình” xếp thứ hạng 7 là “Thiết bị đọc tài liệu nghe, nhìn” (TTB=3.25). Nội dung có thứ hạng cao nhất là “Đảm bảo hệ thống ánh sáng phục vụ tốt cho việc tìm và đọc sách” (TTB=4.05). Trong khi đó, đội ngũ CBQL, CBTV, GV đánh giá hai nội dung “Trang bị hệ thống máy vi tính có kết nối mạng đầy đủ” (TTB=3.18) và “Thiết bị đọc tài liệu nghe, nhìn”(TTB=2.90) ở mức “trung bình” với thứ hạng 6 và 7. Các nội dung còn lại họ đều đánh giá ở mức “khá” với TTB từ 3.50 trở lên. Họ đánh giá cao nhất nội dung “Bố trí kho sách, kệ sách, tủ đựng tài liệu hợp lý, dễ tìm kiếm” (TTB=3.76) với độ lệch chuẩn (ĐLC) là 0.63 trong khi đó cũng nội dung này HS lại xếp vị trí thứ 5 với TTB =3.86 và ĐLC có sự phân tán cao là 0.78. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Tiến hành so sánh TTB cho thấy có sự khác biệt trong đánh giá các nội dung về thực trạng cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật giữa HS và CBQL, CBTV, GV. Tuy nhiên việc xếp thứ hạng của hai nội dung về “Trang bị hệ thống máy vi tính có kết nối mạng đầy đủ” và “Thiết bị đọc tài liệu nghe, nhìn” đều giống nhau và xếp cuối bảng với thứ hạng là 6 và 7. Điều này cũng dễ hiểu vì thực tế ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, việc trang bị máy tính có kết nối mạng tại phòng thư viện là rất hiếm, các em HS và GV chỉ có thể tra cứu, truy cập mạng, đọc các tài liệu nghe nhìn tại các phòng máy vi tính của nhà trường.
Bên cạnh đó, qua tìm hiểu thực tế, tác giả đã tìm hiểu thêm mức độ đáp ứng về cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của các trường THCS trên địa bàn, tác giả đã thu được thông tin: hầu hết thư viện các trường đều chưa trang bị được máy tính phục vụ cho việc học tập, tìm hiểu thông tin của HS cũng như chưa đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, tra cứu của GV trong nhà trường (trừ trường THCS Nguyễn Quốc Phú đã trang bị được 10 máy tính tại phòng thư viện để phục vụ cho việc nghiên cứu của GV và học tập của HS trong nhà trường). Khi có nhu cầu truy cập mạng, tham gia các cuộc thi trên mạng, … GV hướng dẫn cho HS vào phòng máy tính của nhà trường để làm bài thi hoặc thực hiện nghiên cứu các nội dung cần thiết. Tuy nhiên, việc đến phòng máy để truy cập thông tin trên mạng không phải lúc nào cũng thực hiện được do trùng thời gian giảng dạy môn Tin học của GV, …
Qua phỏng vấn sâu chúng tôi ghi nhận được một số ý kiến của CBQL về việc trang bị máy tính cho phòng thư viện ở các trường THCS công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên. QLT1 cho biết: “Các máy tính được trang bị ở phòng máy có được là do khi nhà trường được xây mới, phòng máy vi tính của trường được cấp toàn bộ máy mới nên trường tận dụng những máy tính còn sử dụng được ở phòng máy cũ để trang bị cho thư viện nhà trường”; QLT2, QLT3 cùng có ý kiến: “Mặc dù trường được xây mới hoàn toàn nhưng máy tính chỉ được trang bị ở phòng máy, nhà trường không có kinh phí để trang bị thêm cho phòng thư viện, khi nào cần thiết GV và HS xem lịch trực của người phụ trách phòng máy để lên mạng, tra cứu, truy cập thông tin”. QLT6 có ý kiến: “Cơ sở vật chất của nhà trường rất khó khăn, chưa xây dựng được phòng thư viện hoàn chỉnh thì làm gì có điều kiện để trang bị máy tính cho phòng thư viện”.
Do đó, trong thời gian tới nhà trường cần có kế hoạch trang bị máy tính có kết nối mạng cho thư viện để cùng các thư viện chia sẻ dữ liệu với nhau và với cơ quan thông tin khác thông qua mạng Internet nhằm phục vụ tốt hơn hoạt động học tập của HS cũng như hoạt động nghiên cứu, tra cứu thông tin của GV, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
2.3.4. Thực trạng về cán bộ thư viện Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Cán bộ thư viện là linh hồn của thư viện, là nhân tố quyết định sự sống còn của thư viện và là người thực hiện những nhiệm vụ rất phức tạp vì vậy đòi hỏi người CBTV phải có được khối kiến thức sâu, rộng, phải có năng lực và phẩm chất nhất định. Chúng tôi đã khảo sát ý kiến của CBQL, CBTV, GV và HS về năng lực, phẩm chất của CBTV các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên và thu được kết quả:
- Năng lực của cán bộ thư viện
Qua xử lý thông tin trong phiếu điều tra, chúng tôi thu được kết quả trình bày ở biểu đồ 2.3 như sau:
- Biểu đồ 2.3. Ý kiến CBQL, CBTV, GV và HS về năng lực của CBTV các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên
Qua biểu đồ 2.3, chúng tôi có một số nhận xét sau: Theo nhận định của HS và CBQL, CBTV, GV tất cả các nội dung về năng lực của CBTV đều xếp loại “khá” với TTB từ 3.55 trở lên. Tiến hành so sánh TTB cho thấy có sự khác biệt trong đánh giá các nội dung về năng lực của CBTV giữa HS và CBQL, CBTV, GV về TTB. Nhìn chung ở tất cả các nội dung, HS luôn đánh giá cao hơn đối với CBQL, CBTV, GV. Tuy nhiên xét về thứ hạng thì đều giống nhau ở tất cả các nội dung. Họ đánh giá cao nhất nội dung “Tạo được bầu không khí thư viện thân thiện, lành mạnh, dân chủ, hợp tác”có TTB của HS là 3.93 và của CBQL, CBTV, GV là 3.82. Và họ cùng đánh giá thấp nhất nội dung: “Năng lực lập kế hoạch năm học/ quý/ tháng/ tuần theo yêu cầu quy định”.
Việc đánh giá nội dung “Năng lực lập kế hoạch năm học/ quý/ tháng/ tuần theo yêu cầu quy định” có thứ hạng cuối cùng trong 5 nội dung, nghĩa là trong các năng lực, năng lực lập kế hoạch của người CBTV được đánh giá ở mức thấp nhất trong khi đây là nội dung rất quan trọng để thư viện hoạt động có hiệu quả.
Muốn hoạt động thư viện tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường thì bản thân mỗi CBTV phải xây dựng kế hoạch hoạt động theo từng năm. Kế hoạch cần chi tiết, rõ ràng, phù hợp và khả thi trên cơ sở thu thập, xử lý thông tin về điều kiện GD trong nhà trường, về kế hoạch phát triển trường lớp, số GV, số HS, mục tiêu, chương trình đào tạo, các nguồn kinh phí của nhà trường, … Tuy nhiên, trên thực tế qua phân tích các bản kế hoạch hoạt động của thư viện các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên cho thấy, đa phần các CBTV đều xây dựng kế hoạch theo hình thức. Nguyên nhân chủ yếu là do một số CBTV không có lòng nhiệt huyết với nghề. Phỏng vấn một số CBQL QLT1, QLT2, QLT3, QLT5, QLT6 và một số CBTVT1, CBTVT2, CBTVT3 các ý kiến đều cho rằng: “Đa số CBTV đều không tha thiết với công tác thư viện, họ được tuyển vào làm công tác thư viện với 2 lý do: thứ nhất là chờ một thời gian để được đưa ra làm GV dạy lớp (nếu không sẽ thất nghiệp), lý do thứ hai là họ lớn tuổi, cảm thấy mệt mỏi khi làm GV dạy lớp nên muốn được làm công tác thư viện để có thời gian nghỉ ngơi nhiều hơn”. Vì vậy trong thời gian tới các CBQL phải thường xuyên quan tâm đến tâm tư tình cảm của CBTV cũng như lưu ý bồi dưỡng thêm cho CBTV ở trường mình.
- Phẩm chất của cán bộ thư viện Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Song song với tìm hiểu năng lực của CBTV, chúng tôi cũng điều tra về phẩm chất của CBTV. Đây là yếu tố rất quan trọng giúp cho hoạt động của thư viện đạt hiệu quả. Qua khảo sát, chúng tôi đã thu được kết quả ở biểu đồ 2.4 như sau:
- Biểu đồ 2.4. Ý kiến của CBQL, CBTV, GV và HS về phẩm chất của CBTV
Dựa vào kết quả khảo sát, người nghiên cứu có những nhận xét cụ thể như sau:
Trong tất cả các nội dung, theo nhận định của HS và CBQL, CBTV, GV tất cả các nội dung trên đều xếp loại “khá” với TTB từ 3.65 đến 3.97. Tiến hành so sánh TTB cho thấy có sự khác biệt trong đánh giá các nội dung về năng lực của CBTV giữa HS và CBQL, CBTV, GV về TTB. Nhìn chung ở tất cả các nội dung TTB của HS luôn đánh giá thấp hơn đối với CBQL, CBTV, GV.
Phẩm chất được CBQL, CBTV, GV đánh giá cao nhất là “Có tác phong đúng đắn, mẫu mực, giải quyết công việc khách quan, tận tình, chu đáo” ở mức “khá” với TTB là 3.97, độ lệch chuẩn rất thấp (0.49) điều đó cho thấy các ý kiến nhận xét khá tập trung trong khi đó cũng nội dung này HS lại xếp hạng thứ 2 với TTB là 3.87 và các ý kiến đánh giá có sự phân tán khá cao (độ lệch chuẩn là 0.77). Tiếp theo các CBTV cũng thể hiện khá tốt phẩm chất “Ân cần niềm nở, nhiệt tình giúp đỡ bạn đọc trong việc tra cứu tài liệu cũng như giới thiệu tài liệu mới cho bạn đọc” với TTB theo đánh giá của CBQL, CBTV, GV là 3.94 và của HS là 3.93 được HS đánh giá cao nhất ở hạng 1. Tuy nhiên việc “Trả lời nhanh chóng, kịp thời những thắc mắc của bạn đọc” chưa được CBQL, CBTV, GV và HS hài lòng lắm nên xếp thứ hạng cuối bảng (hạng 5). Kết quả này có thể lý giải là do CBTV đa phần chưa tâm huyết với nghề, chưa làm hết tinh thần trách nhiệm của mình trong công tác thư viện, họ làm việc theo kiểu “cầm chừng” để chờ đợi thời cơ được đưa ra làm GV dạy lớp.
2.3.5. Thực trạng về hoạt động thư viện
Chúng tôi đã tìm hiểu thực trạng hoạt động thư viện về các mặt: hoạt động nghiệp vụ thư viện và hoạt động phục vụ bạn đọc.
- Về hoạt động nghiệp vụ thư viện Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Qua xử lý thông tin trong phiếu điều tra, chúng tôi thu được kết quả:
- Bảng 2.9. Ý kiến của CBQL, CBTV, GV và HS về thực trạng hoạt động nghiệp vụ thư viện
Trong 12 nội dung của bảng 2.9, HS đều đánh giá hoạt động nghiệp vụ thư viện là loại khá, với TTB từ 3.63 trở lên. Nội dung được HS hưởng ứng và đánh giá cao nhất là “Phát động phong trào đọc sách, tìm hiểu sách” (3.96). Tiếp theo HS cũng rất quan tâm và đánh giá khá cao nội dung “Giới thiệu sách mới, sách chủ đề thông qua hệ thống tra cứu mục lục”(3.87). Tuy nhiên hoạt động “Xây dựng danh mục sách theo chương trình đào tạo phục vụ bạn đọc” (3.64) còn hạn chế, việc “Tổ chức, xử lý tài liệu nhanh chóng, đưa sách lên giá phục vụ bạn đọc”(3.63) còn chậm, chưa phục vụ kịp thời. Kết quả này đúng tình hình thực tế vì hiện nay trong các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, hoạt động mang tính chủ đạo của thư viện là phải thường xuyên giới thiệu sách mới, phát động phong trào đọc sách, tìm hiểu sách thường xuyên hàng tuần/tháng. Thực hiện chủ trương này, CBTV các trường thực hiện khá tốt. Tuy nhiên, ở các trường THCS của thị xã Tân Uyên CBTV chưa có kinh nghiệm làm công tác thư viện, thậm chí có CBTV còn làm công tác kiêm nhiệm, chưa qua tập huấn, chưa được bồi dưỡng về nghiệp vụ thư viện. Họ xuất phát điểm từ GV nên chưa am hiểu nhiều về công tác thư viện nên việc trang bị thêm vốn tài liệu để phục vụ nhu cầu của HS hay tổ chức, xử lý các tài liệu để phục vụ bạn đọc, … còn chậm.
Bảng 2.9 cũng cho thấy, CBQL, CBTV, GV quan tâm nhiều nhất và đánh giá “khá” nội dung “Trang trí, sắp xếp thư viện đẹp mắt, ngăn nắp” (3.83), kế đến là nội dung“Phân loại, sắp xếp và bảo quản tài liệu trong thư viện”(3.74) cũng được đánh giá loại “khá”. Trong 12 nội dung ở bảng 2.9 chỉ có 4/12 nội dung được CBQL, CBTV, GV nhìn nhận, đánh giá ở mức “khá”, còn lại 8/12 nội dung họ chỉ đánh giá ở mức “trung bình” với TTB thấp nhất là 2.92. Họ cho rằng thư viện ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên chưa quan tâm, chưa làm tốt công tác “Thường xuyên thanh lọc tài liệu” (3.06) cũng như chưa thực hiện tốt việc “Triển lãm trưng bày sách” (2.92) nên xếp thứ hạng cuối bảng. Thanh lọc tài liệu là một khâu quan trọng và thường xuyên trong hoạt động về nghiệp vụ thư viện, tuy nhiên, việc nghiên cứu, chọn sách để thanh lọc là một việc phức tạp. Trao đổi vấn đề này QLT6, QLT7, QLT8 đều cho rằng: “CBTV của nhà trường chỉ nắm vững kiến thức sư phạm về môn mình dạy, không am hiểu nhiều về các môn học khác, vì thế nếu muốn thanh lọc tài liệu trong thư viện phải cần có những giáo viên bộ môn hỗ trợ mới đánh giá được chính xác những nội dung, giá trị của từng cuốn sách”. Như vậy có thể lý giải vấn đề này theo nguyên nhân khách quan là do CBTV chưa am hiểu nhiều về nghiệp vụ thư viện, CBTV chưa vận dụng kiến thức tổng quát kết hợp với chuyên môn thư viện để hoàn thành tốt nhiệm vụ, vì vậy kết quả chỉ đạt ở mức trung bình. Đây là vấn đề mà các nhà QLGD cần quan tâm nhiều hơn nữa để giúp cho CBTV ở trường mình thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, thường xuyên tự bồi dưỡng, rèn luyện và học tập, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt để làm tròn nhiệm vụ “người lính gác trên mặt trận văn hóa”.
- Về hoạt động phục vụ bạn đọc Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Bảng 2.10. Ý kiến của CBQL, CBTV, GV và HS về thực trạng hoạt động phục vụ bạn đọc
Qua bảng 2.10 cho thấy, việc đánh giá của 2 nhóm khách thể cũng không có sự tương đồng về thứ hạng, theo nhận định của HS tất cả các nội dung trên đều xếp loại “khá” với TTB từ 3.62 đến 3.98. Hai nội dung được HS hưởng ứng và đánh giá cao nhất là “Tổ chức thi kể chuyện theo sách hàng năm. Tham gia thi kể chuyện theo sách do ngành cấp trên tổ chức” – (Đây cũng là thế mạnh của các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên vì hàng năm khi tham gia các cuộc thi kể chuyện theo sách kể cả cấp tỉnh các em HS đều mang về những thành tích đáng kể) và “Cung ứng cho giáo viên, học sinh các loại sách phục vụ giảng dạy và học tập” đều có TTB là 3.98. Tuy nhiên hoạt động “Tổ chức câu lạc bộ đọc sách” còn hạn chế, việc “Hướng dẫn bạn đọc cách sử dụng thư viện” có nơi còn thực hiện chưa tốt, chưa kịp thời. Trong khi đó, theo nhận định của CBQL, CBTV, GV họ đánh giá cao nhất nội dung “Tổ chức kho sách khoa học giúp cho bạn đọc dễ tìm” (3.78) và cũng thừa nhận CBTV đã làm khá tốt nội dung “Thường xuyên theo dõi hướng dẫn bạn đọc tìm, đọc sách”(3.69). Trong 12 nội dung của bảng 2.10 họ thừa nhận 7/12 nội dung đạt ở mức “khá” và 5/12 nội dung ở mức “trung bình”. Họ cho rằng CBTV ít quan tâm đến việc “Tổ chức câu lạc bộ đọc sách” (2.79). Đây cũng là nội dung được họ xếp ở cuối bảng. Kết quả này có thể lý giải qua thực tế việc tổ chức hoạt động của CBTV nhiều trường trên địa bàn thị xã Tân Uyên chưa thực hiện tốt việc giới thiệu sách hoặc số lượt GV đến thư viện trường để đọc sách không nhiều. Qua trao đổi với một số CBQL, QLT1, QLT4, QLT7 đều thừa nhận rằng: “Hiện nay các GV đến mượn, đọc sách ở thư viện trường ít hơn bởi 2 nguyên nhân, thứ nhất là họ tự trang bị sách, báo để làm của riêng, không bận tâm đến việc mượn, trả; thứ hai là vì hiện nay nguồn tài liệu trên mạng có nhiều, ngồi ở nhà họ cũng vẫn có thể tìm được những nội dung mà họ cần nên việc đến thư viện mượn, đọc sách báo không còn được thường xuyên như trước đây nữa”. Vì thế, trong thời gian tới để HĐTV góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường các nhà QLGD phải thường xuyên chỉ đạo CBTV trang bị vốn tài liệu phong phú, thường xuyên tuyên truyền giới thiệu sách, báo, tổ chức tốt câu lạc bộ đọc sách, đáp ứng nguồn tài liệu theo nhu cầu bạn đọc. Có như thế thư viện mới thực sự trở thành “trung tâm văn hóa khoa học” của nhà trường.
Qua kết quả khảo sát thực trạng về 4 nội dung: vốn tài liệu, CSVC – TBKT, CBTV và HĐTV, chúng tôi tiến hành kiểm nghiệm T và Anova để so sánh sự khác biệt về thực trạng các hoạt động trên giữa các nhóm khách thể xét trên các bình diện khác nhau: giới tính, trường đạt chuẩn, theo chức vụ, theo thâm niên công tác, theo trình độ chuyên môn và theo bồi dưỡng về QLGD, kết quả thu được ở bảng 2.11:
- Bảng 2.11. So sánh thực trạng HĐTV theo các nhóm khách thể
Xét theo giới tính: Kiểm nghiệm T cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa giữa điểm trung bình đánh giá của các nhóm khách thể giữa nam và nữ (các mức ý nghĩa Sig đều > 0.05). Đa số các TTB trong đánh giá ở các nội dung vốn tài liệu, cơ sở vật chất – kỹ thuật, cán bộ thư viện và hoạt động thư viện thì TTB của nam đều cao hơn nữ, nội dung duy nhất nữ đánh giá cao hơn nam là thực trạng về HĐTV. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Xét theo trường đạt chuẩn: Kiểm nghiệm T cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa TTB trong đánh giá của các nhóm khách thể giữa trường đạt chuẩn và trường chưa đạt chuẩn về thực trạng cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật (Sig =0.00 < 0.05). Người ở trường đạt chuẩn đánh giá cao thực trạng CSVC – TBKT hơn những người ở trường chưa đạt chuẩn.
Xét theo chức vụ: Kiểm nghiệm ANOVA cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa TTB trong đánh giá của các nhóm khách thể theo chức vụ về thực trạng HĐTV (Sig =0.00< 0.05). Các nội dung còn lại không có sự khác biệt có ý nghĩa.
Xét theo thâm niên công tác: Kiểm nghiệm ANOVA cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa giữa TTB trong đánh giá về 4 nội dung: vốn tài liệu, cơ sở vật chất – kỹ thuật, cán bộ thư viện và HĐTV (các mức ý nghĩa Sig đều > 0.05).
Xét theo bằng cấp: Kiểm nghiệm T cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa TTB trong đánh giá về thực trạng vốn tài liệu (mức ý nghĩa Sig=0.01 < 0.05) và thực trạng CSVC-TBKT (mức ý nghĩa Sig =0.02 < 0.05). Người có bằng cấp là Cao đẳng đều đánh giá cao 4 nội dung: vốn tài liệu, cơ sở vật chất –kỹ thuật, cán bộ thư viện và hoạt động thư viện hơn là những người có bằng cấp Đại học.
Xét theo việc tham gia bồi dưỡng về QLGD: Kiểm nghiệm T cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa TTB trong đánh giá về thực trạng HĐTV (mức ý nghĩa Sig=0.04 < 0.05). Người chưa tham gia bồi dưỡng về QLGD đánh giá cao hoạt động thư viện hơn là những người đã tham gia về QLGD.
Tổng hợp những kết quả thu được ở bảng 2.11 chúng tôi nhận thấy rằng, dù một số ý kiến có sự khác biệt trong đánh giá ở nhóm trường đạt chuẩn, theo chức vụ, theo bằng cấp, theo tham gia bồi dưỡng QLGD như trong bảng 2.11 nhưng đa số các khách thể đều nhận định chung thực trạng về vốn tài liệu, CSVC-TBKT, CBTV đều được đánh giá ở mức “khá”. Nội dung duy nhất các khách thể đánh giá ở mức “trung bình” là thực trạng về HĐTV.
2.4. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
2.4.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, cán bộ thư viện và giáo viên về quản lý hoạt động thư viện
Để tìm hiểu nhận thức về quản lý HĐTV chúng tôi tiến hành khảo sát và thu được kết quả trình bày ở bảng 2.12 như sau:
- Bảng 2.12. Ý kiến của CBQL, CBTV và GV về thực trạng nhận thức tầm quan trọng của quản lý HĐTV
Qua bảng dữ liệu 2.12, có thể thấy CBQL và GV, CBTV đều đánh giá rất cao về tầm quan trọng của quản lý HĐTV ở trường THCS. 3/3 nội dung đều được đánh giá khá tốt. Cả hai nhóm CBQL và GV, CBTV đều đánh giá cao nhất nội dung “Hoạt động thư viện góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh trong nhà trường” với TTB của nhóm CBQL là 4.21 và độ lệch chuẩn rất thấp (0.51), điều đó cho thấy các ý kiến nhận xét khá tập trung và nội dung này được đánh giá là “tốt” trong khi TTB của GV, CBTV là 4.14 được đánh giá là “khá” với độ lệch chuẩn là 0.62. Tiếp theo các ý kiến cũng cho rằng nếu HS đến thư viện trường đọc sách nhiều hơn thì “Hoạt động của thư viện góp phần nâng cao ý thức, giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường” với TTB là 4.03 và độ lệch chuẩn là rất thấp (0.49) cho thấy ý kiến của CBQL, GV và CBTV khá tập trung. Xếp cuối cùng là nội dung “Hoạt động của thư viện góp phần đảm bảo chất lượng giáo dục của nhà trường” (3.98), nội dung này các ý kiến của CBQL, GV và CBTV cũng khá tập trung vì có độ lệch chuẩn là rất thấp (0.49). Trong thực tế, nếu HS thường xuyên đến thư viện nhà trường để đọc sách thì ý thức HS càng được nâng cao, thông qua sách báo HS ý thức được điều hay, lẽ phải, cũng thông qua sách báo HS được học hỏi nhiều hơn, giải thích được rõ những vấn đề mà trong lớp học chưa được nắm rõ, chính vì thế mà HĐTV góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. Điều này đã được minh chứng bởi công trình nghiên cứu của M. Lonsdale (2010) về “Tác động của thư viện trường học tới kết quả học tập của sinh viên”. Mặt khác, qua trao đổi với một số CBQL: QLT1, QLT3, QLT5 đều cho rằng: “Thư viện là nơi để giáo viên và học sinh tìm tòi, nghiên cứu nâng cao trình độ để phục vụ cho giảng dạy và học tập, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho nhà trường. Vì vậy thư viện rất quan trọng trong một nhà trường và quản lý HĐTV cũng rất quan trọng”.
Kiểm định sự khác biệt về TTB trong đánh giá giữa CBQL, GV và CBTV về tầm quan trọng của quản lý HĐTV cho kết quả: Không có sự khác biệt về TTB trong đánh giá giữa CBQL, GV và CBTV về tầm quan trọng của quản lý HĐTV ở tất cả các nội dung.
Chúng tôi cũng tiến hành kiểm nghiệm T và Anova để so sánh sự khác biệt về nhận thức đối với tầm quan trọng của QL HĐTV giữa các nhóm khách thể xét trên các bình diện: giới tính, trường đạt chuẩn, chức vụ, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, bồi dưỡng QLGD, kết quả thể hiện trong bảng 2.13 như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Bảng 2.13. So sánh nhận thức về tầm quan trọng của quản lý HĐTV
Qua bảng 2.13 cho thấy, nhóm khách thể có sự khác biệt trong nhận thức là xét theo thâm niên công tác: Kết quả kiểm nghiệm Anova cho ra trị số Sig = 0.01<0.05 cho phép kết luận có sự khác biệt ý nghĩa về mức độ nhận thức đối với tầm quan trọng của việc quản lý HĐTV ở những nhóm khách thể có thâm niên công tác khác nhau. Nhận thức cao nhất (TTB = 4.12) thuộc về nhóm khách thể có thâm niên công tác dưới 5 năm, tiếp đến là nhóm khách thể có thâm niên công tác từ 5 đến dưới 10 năm, thấp nhất là nhóm khách thể có thâm niên từ 10 năm đến dưới 20 năm (TTB = 3.79). Điều này cho thấy lực lượng GV trẻ, thâm niên nghề còn thấp (dưới 10 năm) quan tâm đến thư viện nhiều hơn, họ nhận thức tầm quan trọng của QL HĐTV cao hơn các đối tượng khác vì HĐTV giúp họ nâng cao tay nghề, họ học hỏi được nhiều vấn đề từ sách, báo, tạp chí ở thư viện.
Ở các bình diện còn lại (giới tính, trường đạt chuẩn, chức vụ, trình độ chuyên môn, bồi dưỡng QLGD) tất cả trị số Sig >0.05 (xem phụ lục) chứng tỏ không có sự khác biệt ý nghĩa diễn ra ở đây. Như vậy, CBQL, CBTV và GV cho dù họ ở giới tính nào, trường đạt chuẩn hay không, chức vụ ra sao, đã có bằng cấp gì, đã tham gia bồi dưỡng QLGD hay chưa đều không ảnh hưởng đến nhận thức của họ về tầm quan trọng của quản lý HĐTV trong nhà trường.
Như vậy, kết quả nghiên cứu cho phép chúng tôi kết luận rằng các CBQL, CBTV, GV đều nhận thức được tầm quan trọng của quản lý HĐTV trong trường THCS, đây là điều rất quan trọng để quản lý HĐTV góp phần đảm bảo chất lượng giáo dục của nhà trường.
2.4.2. Thực trạng quản lý mục tiêu hoạt động thư viện
Thư viện góp phần rất lớn vào việc phát triển tri thức của con người. Quản lý mục tiêu HĐTV là khâu quan trọng đầu tiên, nó chi phối đến hầu hết các hoạt động QL khác của hiệu trưởng trong công tác QL HĐTV của nhà trường. Để tìm hiểu thực trạng QL mục tiêu HĐTV của hiệu trưởng các trường THCS thị xã Tân Uyên, chúng tôi đã khảo sát và thu được kết quả trình bày ở bảng 2.14 sau đây:
- Bảng 2.14. Ý kiến của CBQL, CBTV và GV về thực trạng quản lý mục tiêu hoạt động thư viện
Qua bảng 2.14 có thể thấy CBQL, CBTV và GV đánh giá 3/6 nội dung ở mức “khá” và 3/6 nội dung ở mức “trung bình”. Cả hai nhóm CBQL, CBTV và GV đều đánh giá cao nhất nội dung “Xác định mục tiêu hoạt động cụ thể, rõ ràng” với TTB là 3.67 ở mức “khá”. Tiếp theo các ý kiến cũng cho rằng các nhà trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên đã “Tổ chức các hoạt động thư viện phù hợp với mục tiêu, với nội dung dạy học và kế hoạch năm học của nhà trường” với TTB là 3.48. Tuy nhiên các hoạt động “Chỉ đạo cán bộ thư viện bảo quản, tìm, xử lý và phổ biến thông tin, cung cấp thông tin cho độc giả về các nguồn tài liệu” còn hạn chế (TTB = 3.22). Việc “Tổ chức, chỉ đạo CBTV xây dựng thư viện thân thiện và lôi cuốn mọi người tham gia vào các hoạt động sáng tạo” (TTB=3.03) là nội dung có mức độ thực hiện thấp nhất, chưa hiệu quả, tổ chức qua loa, mang tính hình thức, chưa huy động được sự tham gia của các lực lượng GD như: GV bộ môn, GVCN, tổ chức Đoàn, Đội, CMHS và các tổ chức đoàn thể, cộng đồng xã hội… Do vậy, các HĐTV diễn ra vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu thực hiện mục tiêu xây dựng TV thân thiện trong trường học. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Kiểm định sự khác biệt về TTB trong đánh giá giữa CBQL, CBTV và GV về quản lý mục tiêu HĐTV cho kết quả: Không có sự khác biệt về TTB trong đánh giá giữa CBQL, CBTV và GV về QL mục tiêu HĐTV tất cả các nội dung.
Ngoài ra, chúng tôi cũng tiến hành kiểm nghiệm T và Anova để so sánh sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện về QL mục tiêu HĐTV giữa các nhóm khách thể xét trên các bình diện khác nhau: giới tính, trường đạt chuẩn, chức vụ, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, bồi dưỡng QLGD, kết quả thể hiện trong bảng 2.15 như sau:
- Bảng 2.15. So sánh đánh giá về QL mục tiêu HĐTV theo các nhóm khách thể
Qua bảng 2.15 cho thấy: có sự khác biệt ý nghĩa về kết quả thực hiện công tác quản lý mục tiêu HĐTV giữa các nhóm khách thể trên bình diện trường đạt chuẩn (Sig = 0.00 < 0.05), theo chức vụ (Sig = 0.00<0.05) và theo bằng cấp (Sig
= 0.02 < 0.05). Điều này cho thấy ở các trường đạt chuẩn đánh giá mức độ quản lý mục tiêu HĐTV cao hơn các trường chưa đạt chuẩn. Xét theo chức vụ: CBTV đánh giá cao việc QL mục tiêu HĐTV hơn các đối tượng khác và xét theo bằng cấp thì người có bằng cấp Cao đẳng đánh giá cao việc QL mục tiêu HĐTV hơn người có bằng cấp Đại học. Kết quả tổng hợp cho thấy mức độ đánh giá việc QL mục tiêu HĐTV chỉ thực hiện ở mức “trung bình” với TTB chung là 3.35 với độ phân tán rất thấp (0.49).
2.4.3. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện
Quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện là một trong những công việc rất quan trọng bởi nó là một trong 4 yếu tố cơ bản để thư viện hoạt động và phát triển. Một thư viện muốn nâng cao được năng suất lao động, đảm bảo chất lượng phục vụ cho bạn đọc và làm tốt công tác bảo quản tài liệu thì trước hết, hiệu trưởng nhà trường phải quan tâm và thực hiện tốt QL cơ sở vật chất của thư viện. Để tìm hiểu thực trạng này, chúng tôi đã khảo sát và thu được kết quả trình bày ở bảng 2.16 như sau:
- Bảng 2.16. Ý kiến của CBQL, CBTV và GV về thực trạng quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện
Qua bảng 2.16, chúng ta thấy CBQL, GV và CBTV đánh giá 4/7 nội dung thực hiện ở mức “khá” và 3/7 nội dung thực hiện ở mức “trung bình” với ĐLC từ 0.65 đến 0.79. Được đánh giá cao nhất là nội dung “Tổ chức bảo quản, lưu giữ, hồ sơ thư viện khoa học, hợp lí” với TTB là 3.66 ở mức “khá”. Nội dung quản lý được xếp vị trí thứ 2 là “Kế hoạch xây dựng, mua sắm, sửa chữa CSVC – thiết bị kỹ thuật của thư viện” với TTB là 3.64 cũng ở mức “khá”. Tuy nhiên, các hoạt động “Thực hiện kiểm kê thường xuyên, định kỳ” chỉ thực hiện cho có với TTB = 3.37 và việc “Quy định sổ sách, báo cáo định kỳ, thường xuyên về tình trạng thư viện” được đánh giá là thực hiện ở mức “trung bình”, xếp cuối bảng (TTB=3.28).
Kiểm định sự khác biệt về TTB trong đánh giá giữa CBQL, GV và CBTV về quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện cho kết quả: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Không có sự khác biệt về TTB trong đánh giá giữa CBQL, GV và CBTV về quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện ở hầu hết các nội dung.
Hai nội dung có sự khác biệt trong đánh giá giữa CBQL, GV và CBTV về quản lý CSVC – thiết bị kỹ thuật của thư viện là “Tổ chức việc phân công người thực hiện các kế hoạch về CSVC” (Sig = 0.00 < 0.05) và “Quy định sổ sách, báo cáo định kỳ, thường xuyên về tình trạng thư viện” (Sig = 0.00 < 0.05). CBQL đánh giá mức độ thực hiện nội dung “Tổ chức việc phân công người thực hiện các kế hoạch về CSVC” ở mức “trung bình” nhưng GV, CBTV đánh giá mức độ thực hiện nội dung này ở mức “khá” và ngược lại, nội dung“Quy định sổ sách, báo cáo định kỳ, thường xuyên về tình trạng thư viện” được CBQL đánh giá mức độ thực hiện ở mức “khá” nhưng nội dung này GV, CBTV đánh giá mức độ thực hiện chỉ ở mức “trung bình”. Lý giải việc đánh giá này có sự khác biệt là do trong thực tế những hoạt động này đều do CBQL chỉ đạo, quy định cho CBTV thực hiện nên GV không nắm rõ các quy định này.
Ngoài ra, chúng tôi cũng tiến hành kiểm nghiệm T và Anova để so sánh sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện về quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện giữa các nhóm khách thể xét trên các bình diện khác nhau: giới tính, trường đạt chuẩn, chức vụ, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, bồi dưỡng QLGD, kết quả thể hiện trong bảng 2.17 như sau:
- Bảng 2.17. So sánh đánh giá về quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện theo các nhóm khách thể
Qua bảng 2.17 cho thấy, có sự khác biệt trong nhận định về kết quả thực hiện quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện giữa các nhóm khách thể trên bình diện chức vụ (Sig = 0.00<0.05). Mặc dù vậy, CBQL, CBTV và GV đều cho rằng việc quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện thực hiện ở mức “khá” với TTB chung là 3.49 và độ lệch chuẩn thấp là 0.52.
2.4.4. Thực trạng quản lý cán bộ thư viện
CBTV có vai trò rất quan trọng đối với HĐTV, là người quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động của TV nên việc QL CBTV là rất quan trọng. Xử lý thông tin trong phiếu khảo sát, chúng tôi thu được kết quả trình bày ở bảng 2.18:
- Bảng 2.18. Ý kiến của CBQL, CBTV và GV về thực trạng quản lý cán bộ thư viện
Qua bảng 2.18 có thể thấy, các nhà trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên đã thực hiện cả 6 nội dung ở mức “khá” với TTB từ 3.58 đến 3.77. Nội dung “Chọn lựa, sắp xếp, phân bổ công việc hợp lý cho CBTV” được đánh giá cao nhất trong 6 nội dung với TTB=3.77, nội dung được xếp vị trí thứ 2 trong bảng là nội dung “Tổ chức tốt môi trường và điều kiện làm việc” (TTB =3.74).
Tuy nhiên việc “Bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học” (TTB=3.58) của CBTV còn hạn chế nên xếp cuối bảng. Thực tế việc nâng cao trình độ của đội ngũ CBTV chưa được chú trọng, một phần do chế độ, chính sách của nhà trường còn hạn chế, mặt khác, đa phần CBTV chưa tâm huyết với công tác thư viện nên nếu được tham gia các lớp học nâng cao trình độ thì họ sẽ chọn học để được nâng cao về chuyên môn chính, còn đối với các lớp về thư viện họ chỉ tham gia học khi được cử, được triệu tập bắt buộc phải tham gia. Qua phỏng vấn QLT1, QLT4 đều có ý kiến: “GV hoặc CBTV sau khi được tuyển dụng, nếu chưa có trình độ ngoại ngữ, tin học thì nhà trường luôn tạo điều kiện về thời gian để họ tham gia học tập nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ. Còn đối với việc tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thư viện khi nào có lớp tập huấn, bồi dưỡng, Phòng GD cử đi học mới được đi” hoặc theo ý kiến của QLT5: “Tôi đã làm QL trên 30 năm, đã được công tác ở rất nhiều trường trên địa bàn thị xã Tân Uyên này, ở các trường mà tôi quản lý tôi đã làm việc với rất nhiều CBTV nhưng tôi chưa gặp bất kỳ trường hợp nào CBTV có mong muốn được đi học về đại học thư viện, hay cao đẳng thư viện,… để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về thư viện, có chăng chỉ là các lớp bồi dưỡng”. Và thực tế trên địa bàn thị xã Tân Uyên có 7/8 NVTV đã được bồi dưỡng về công tác thư viện, 8/8 NVTV đều có trình độ tin học và ngoại ngữ từ chứng chỉ A trở lên. Tuy nhiên để xây dựng thư viện thân thiện đòi hỏi NVTV thân thiện. Như vậy để đáp ứng yêu cầu thực tế đòi hỏi mỗi NVTV phải tự học hỏi, nâng cao trình độ, rèn luyện tu dưỡng phẩm chất, kỹ năng về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được phân công.
Kiểm định sự khác biệt về TTB trong đánh giá giữa CBQL, CBTV và GV về QL CBTV cho kết quả: Không có sự khác biệt trong đánh giá giữa CBQL, GV và CBTV về QL CBTV. Tiến hành kiểm nghiệm T và Anova để so sánh sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện về QL CBTV giữa các nhóm khách thể xét trên các bình diện khác nhau: giới tính, trường đạt chuẩn, chức vụ, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, bồi dưỡng QLGD, chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.19:
- Bảng 2.19. So sánh đánh giá về quản lý CBTV theo các nhóm khách thể
Qua bảng 2.19 cho thấy: sự khác biệt ý nghĩa về kết quả thực hiện công tác quản lý CBTV chỉ xảy ra giữa các nhóm khách thể trên bình diện trường đạt chuẩn (Sig = 0.03<0.05) và theo chức vụ (Sig = 0.00<0.05). Tuy nhiên nhận định chung của các nhóm CBQL và GV, CBTV về đánh giá mức độ thực hiện công tác quản lý CBTV đạt ở mức “khá” với TTB là 3.67 và độ lệch chuẩn rất thấp (0.48).
2.4.5. Thực trạng quản lý vốn tài liệu Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Quản lý tốt vốn tài liệu là điều kiện cơ bản giúp cho hoạt động dạy – học và nghiên cứu được thuận lợi và đạt hiệu quả cao. Do vậy, công tác quản lý vốn tài liệu với hoạt động dạy – học và nghiên cứu có mối quan hệ mật thiết với nhau, là điều kiện, động lực để thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục. Chúng tôi đã tìm hiểu về thực trạng quản lý vốn tài liệu ở các trường THCS thị xã Tân Uyên và thu được kết quả trình bày ở bảng 2.20 dưới đây:
- Bảng 2.20. Ý kiến của CBQL, GV và CBTV về thực trạng quản lý vốn tài liệu
Qua bảng 2.20 có thể thấy CBQL, GV và CBTV đánh giá 5/6 nội dung ở mức “khá” và 1/6 nội dung ở mức “trung bình”. Cả hai nhóm CBQL, GV và CBTV đều đánh giá cao nhất nội dung “Bổ sung vốn tài liệu chuyên ngành (phù hợp với loại hình thư viện cấp THCS)”(TTB = 3.8) ở mức “khá”. Tiếp theo các ý kiến cũng cho rằng các nhà trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên đã quan tâm và thực hiện khá tốt việc “Xây dựng, bổ sung vốn tài liệu đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của người sử dụng” (TTB = 3.50). Tuy nhiên việc “Bổ sung vốn tài liệu dưới dạng tài liệu điện tử (báo, tạp chí điện tử, …)” (TTB=3.32) còn hạn chế. Đây cũng là nội dung duy nhất trong 6 nội dung được đánh giá mức độ thực hiện “trung bình”, nguyên nhân là do trên địa bàn thị xã Tân Uyên còn khó khăn về cơ sở vật chất nên việc chú trọng bổ sung vốn tài liệu dưới dạng tài liệu điện tử còn ít. Để làm rõ nội dung vốn tài liệu bổ sung đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người sử dụng, qua phỏng vấn tất cả CBTV đều cho rằng: “Hiện nay nguồn sách tham khảo rất đa dạng và phong phú nhưng đa phần các nhà xuất bản chưa kiểm soát chặt chẽ nội dung nên rất nhiều sách tham khảo ra đề và đáp án khác nhau hoặc có trường hợp sách được viết lặp lại rất nhiều, nhiều quyển sách chỉ khác nhau cái bìa, bên trong nội dung hoàn toàn giống nhau, … mặt khác CBTV cũng chỉ nắm được nội dung của chuyên môn mình, không nắm được chuyên môn của các môn khác nên hàng năm CBTV thường cho GV có nguyện vọng đăng ký loại sách, báo cần dùng rồi mới bổ sung, trang bị thêm”.
Kiểm định sự khác biệt về TTB trong đánh giá giữa CBQL, GV và CBTV về quản lý vốn tài liệu cho kết quả: Chỉ có 2/6 nội dung có sự khác biệt trong đánh giá giữa CBQL, GV và CBTV về quản lý vốn tài liệu là “Xây dựng, bổ sung vốn tài liệu đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của người sử dụng” (Sig = 0.00 < 0.05) được GV và CBTV đánh giá mức độ thực hiện đạt mức “khá” nhưng CBQL lại nhìn nhận mình chỉ thực hiện ở mức “trung bình” và “Bổ sung vốn tài liệu chuyên ngành (phù hợp với loại hình thư viện cấp THCS)” (Sig = 0.03 < 0.05) được CBQL, GV và CBTV đánh giá mức độ thực hiện đạt mức “khá” nhưng TTB của nhóm CBQL thấp hơn của nhóm GV, CBTV. Ngoài ra, chúng tôi cũng tiến hành kiểm nghiệm T và Anova để so sánh sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện về quản lý vốn tài liệu giữa các nhóm khách thể xét trên các bình diện khác nhau: giới tính, trường đạt chuẩn, chức vụ, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, bồi dưỡng QLGD. Kết quả trình bày ở bảng 2.21 như sau:
- Bảng 2.21. So sánh đánh giá về quản lý vốn tài liệu theo các nhóm khách thể
Qua bảng 2.21 cho thấy: sự khác biệt ý nghĩa về kết quả thực hiện công tác quản lý vốn tài liệu chỉ xảy ra giữa các nhóm khách thể trên bình diện theo chức vụ (Sig = 0.00<0.05), theo thâm niên công tác (Sig = 0.01<0.05) và tham gia bồi dưỡng QLGD (Sig = 0.04 < 0.05). Mặc dù vậy, theo đánh giá chung của CBQL, CBTV và GV về quản lý vốn tài liệu được thực hiện ở mức “khá”.
2.4.6. Thực trạng quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc
Để đánh giá hoạt động phục vụ bạn đọc của TV các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, chúng tôi tiến hành khảo sát và trình bày ở bảng 2.22 sau đây: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Bảng 2.22. Ý kiến của CBQL, GV và CBTV về thực trạng quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc
Bảng 2.22 cho thấy, nội dung “Giải quyết các mâu thuẫn giữa CBTV với bạn đọc” được đánh giá là hiệu trưởng thực hiện tốt nhất (TTB =3.77), đạt loại “khá”. Tiếp theo CBQL, CBTV và GV đều thừa nhận mức độ thực hiện của nội dung: “Chỉ đạo CBTV tổ chức các hoạt động: giới thiệu sách mới, thi kể chuyện theo sách,… thu hút bạn đọc đến với TV” được xếp thứ 2 (TTB=3.60). Tuy nhiên hoạt động “Tổ chức cấp thẻ bạn đọc, đổi thẻ bạn đọc” xếp ở vị trí cuối bảng, họ chỉ thực hiện ở mức “trung bình” (TTB = 2.89). Trong 11 nội dung được đánh giá, chỉ có 4/11 nội dung được cho là thực hiện ở mức “khá” với các TTB từ 3.50 đến 3.77, các nội dung còn lại chỉ thực hiện ở mức “trung bình” với TTB từ 2.89 đến 3.33. Cũng trong bảng 2.22, theo đánh giá của CBQL, có đến 9/11 nội dung được CBQL đánh giá mức thực hiện “khá”, cao hơn nhiều so với đánh giá của GV, CBTV.
Kiểm định sự khác biệt về TTB trong đánh giá giữa CBQL, CBTV và GV về quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc cho kết quả: có đến 4/11 nội dung có sự khác biệt trong đánh giá giữa CBQL, CBTV và GV về quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc, cụ thể các nội dung: “Tổ chức thống kê số lượng vốn tài liệu”; “Tổ chức thống kê số lượng tài liệu cho mượn”; “Tổ chức thống kê số lượng bạn đọc, thống kê lượt bạn đọc” đều có Sig = 0.00 < 0.05; “Tổ chức cấp thẻ bạn đọc, đổi thẻ bạn đọc” (Sig = 0.03 < 0.05). Theo CBQL, họ đã làm khá tốt công tác chỉ đạo cho CBTV thực hiện việc thống kê, tuy nhiên theo nhìn nhận của GV và CBTV, công tác này họ đánh giá việc thực hiện chỉ ở mức độ “trung bình”.
Kết quả kiểm nghiệm T và Anova về QL hoạt động phục vụ bạn đọc giữa các nhóm khách thể xét trên các bình diện khác nhau: giới tính, trường đạt chuẩn, chức vụ, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, bồi dưỡng QLGD, cụ thể:
- Bảng 2.23. So sánh đánh giá về quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc theo các nhóm khách thể
Qua bảng 2.23 cho thấy: sự khác biệt ý nghĩa về kết quả thực hiện công tác quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc chỉ xảy ra giữa các nhóm khách thể trên bình diện theo chức vụ (Sig = 0.00<0.05). Và cũng theo bảng 2.23, CBTV, Hiệu trưởng đánh giá cao việc quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc hơn các đối tượng khác. Tuy nhiên, kết quả tổng hợp cho thấy mức độ quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc chỉ được đánh giá ở mức “trung bình” với TTB là 3.33 và độ lệch chuẩn là 0.57.
2.4.7. Thực trạng quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thư viện Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Trong thời đại ngày nay, khi khoa học và công nghệ phát triển thì việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lý là điều tất nhiên, và trong quản lý HĐTV cũng vậy. Chúng tôi đã khảo sát nội dung quản lý này và thu được kết quả thể hiện ở bảng 2.24 sau đây:
- Bảng 2.24. Ý kiến của CBQL, CBTV và GV về thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT trong HĐTV
Kết quả ở bảng 2.24 cho thấy việc ứng dụng CNTT trong quản lý HĐTV cả 7/7 nội dung chỉ được đánh giá ở mức “trung bình” (TTB từ 2.85 đến 3.39). Đây là con số cần được các nhà QL quan tâm đầu tư hơn nữa trong việc ứng dụng CNTT vào quản lý HĐTV cũng như đầu tư máy móc trang thiết bị hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho CBTV làm tốt nhiệm vụ. Nội dung “Chỉ đạo ứng dụng CNTT vào công tác thư viện trường học để cải tiến tổ chức kho tài liệu” (TTB=3.39) được đánh giá là hiệu trưởng thực hiện tốt nhất. Nội dung được đánh giá mức độ thực hiện hạn chế nhất là “Ứng dụng CNTT vào công tác biên mục” (TTB=2.85).
Kiểm định sự khác biệt về TTB trong đánh giá giữa CBQL, CBTV và GV về quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động thư viện cho kết quả: 3/7 nội dung có sự khác biệt trong đánh giá giữa CBQL, CBTV và GV về QL ứng dụng CNTT trong HĐTV, cụ thể: “Ứng dụng CNTT vào công tác biên mục”; “Nối mạng máy tính để quản lý, lưu thông tài liệu, tra cứu trực tuyến” có Sig = 0.00 < 0.05; “Ứng dụng phần mềm quản lý hoạt động thư viện” (Sig = 0.02 < 0.05). Có sự khác biệt trong đánh giá này là do CBQL cho rằng họ chỉ đạo thực hiện “khá” các nội dung trên nhưng CBTV, GV chỉ đánh giá mức độ quản lý, chỉ đạo của họ chỉ thực hiện ở mức “trung bình”. Việc nối mạng máy tính để quản lý, lưu thông tài liệu cũng được các CBQL rất quan tâm đầu tư. Thực tế cho thấy 8/8 máy tính của CBTV ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên đều được kết nối mạng đầy đủ.
Chúng tôi đã tiến hành kiểm nghiệm T và Anova để so sánh sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện về quản lý ứng dụng CNTT trong HĐTV giữa các nhóm khách thể xét trên các bình diện khác nhau: giới tính, trường đạt chuẩn, chức vụ, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, bồi dưỡng QLGD, chúng tôi có kết quả:
- Bảng 2.25. So sánh đánh giá về quản lý ứng dụng CNTT trong HĐTV theo các nhóm khách thể
Qua bảng 2.25 cho thấy: sự khác biệt ý nghĩa về kết quả thực hiện công tác quản lý ứng dụng CNTT trong HĐTV chỉ xảy ra giữa các nhóm khách thể trên bình diện trường đạt chuẩn (Sig = 0.00<0.05), theo chức vụ (Sig = 0.00<0.05).
Từ thực trạng vừa nêu trên, đứng ở góc độ tổ chức, quản lý việc ứng dụng CNTT trong HĐTV, người nghiên cứu nhận thấy hiệu trưởng nhà trường cần phải có những biện pháp thật tích cực “đi tắt, đón đầu” để có thể bắt kịp và tạo được bước chuyển biến mạnh mẽ hơn trong thời gian tới nhằm góp phần làm thay đổi diện mạo, tạo bước chuyển dần từ thư viện truyền thống sang thư viện hiện đại. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
2.4.8. Thực trạng kiểm tra hoạt động của thư viện
Kiểm tra là yếu tố kích thích, tư vấn và thúc đẩy việc quản lý đạt hiệu quả cao hơn, để từ đó có những biện pháp thích hợp trong công tác quản lý. Chúng tôi đã khảo sát thực trạng kiểm tra hoạt động của thư viện và thu được kết quả trình bày ở bảng 2.26 sau đây:
- Bảng 2.26. Ý kiến của CBQL, CBTV và GV về thực trạng kiểm tra hoạt động của thư viện
Qua bảng 2.26 có thể thấy CBQL, CBTV và GV đánh giá 5/10 nội dung ở mức “khá” (TTB từ 3.41 đến 3.74) và 5/10 nội dung ở mức “trung bình” (TTB từ 3.31 đến 3.40). Cả hai nhóm CBQL, CBTV và GV đều đánh giá cao nhất nội dung “Kiểm tra việc bố trí kho sách: tính khoa học, dễ tìm, dễ lấy” (TTB=3.74) ở mức “khá”. Tiếp theo các ý kiến cũng cho rằng các nhà trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên đã thực hiện “khá” nội dung “Theo dõi, kiểm tra kế hoạch mua sắm, bảo quản tài liệu” (TTB=3.46). Tuy nhiên vấn đề “Kiểm tra việc thanh lọc tài liệu” (TTB = 3.31) rất ít được các trường thực hiện nên xếp cuối bảng. Thanh lọc tài liệu cũng còn gặp nhiều khó khăn nhưng nếu không làm tốt khâu kiểm tra việc thanh lọc tài liệu, không nhắc nhở, chỉ đạo các bộ phận làm việc tích cực, hiệu quả thì HĐTV không thể góp phần nâng cao chất lượng giáo dục với vốn tài liệu cũ kỹ, lạc hậu.
Kiểm định sự khác biệt về TTB trong đánh giá giữa CBQL, CBTV và GV về kiểm tra hoạt động thư viện cho kết quả: Không có sự khác biệt trong đánh giá giữa CBQL, GV và CBTV về kiểm tra hoạt động thư viện. Ngoài ra, kết quả kiểm nghiệm T và Anova để so sánh sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện về kiểm tra HĐTV giữa các nhóm khách thể xét trên các bình diện khác nhau: giới tính, trường đạt chuẩn, chức vụ, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, bồi dưỡng QLGD, chúng tôi có kết quả ở bảng 2.27 như sau:
- Bảng 2.27. So sánh đánh giá về kiểm tra HĐTV theo các nhóm khách thể
Qua bảng 2.27 cho thấy: sự khác biệt ý nghĩa về kết quả thực hiện kiểm tra HĐTV chỉ xảy ra giữa các nhóm khách thể trên bình diện trường đạt chuẩn (Sig = 0.00<0.05), theo chức vụ (Sig = 0.00<0.05) và theo bằng cấp (Sig = 0.02 < 0.05).
Qua kết quả khảo sát và tìm hiểu thực tế, tác giả nhận thấy công tác kiểm tra HĐTV còn rất nhiều hạn chế, kiểm tra chưa thường xuyên để đánh giá đúng khối lượng công việc cũng như chưa đánh giá được chính xác chất lượng hiệu quả phục vụ của thư viện. Việc kiểm tra vốn tài liệu, bổ sung vốn tài liệu, kế hoạch công tác và việc thực hiện nhiệm vụ, … đa phần chỉ dựa vào kết quả báo cáo từ CBTV. Nguyên nhân là chưa xây dựng được định mức cụ thể, không có “thang chuẩn” để đánh giá. Vì vậy, việc đánh giá còn cảm tính. Trong thời gian tới các nhà trường cần xây dựng tiêu chí đánh giá, qui trình đánh giá cụ thể để kiểm tra hoạt động thư viện. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Từ kết quả nghiên cứu đã trình bày ở trên, có thể thấy trong những năm vừa qua, quản lý HĐTV của hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên vẫn còn hạn chế về nhiều mặt trong công tác quản lý HĐTV. Chúng tôi đã tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý HĐTV, cả yếu tố khách quan và chủ quan; cả yếu tố thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến công tác quản lý HĐTV.
2.5.1. Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động thư viện
Qua việc trưng cầu ý kiến từ CBQL, CBTV và GV. Chúng tôi thu được kết quả:
Về những yếu tố thuận lợi:
- Biểu đồ 2.5. Ý kiến của CBQL, CBTV, GV về yếu tố thuận lợi khách quan ảnh hưởng đến HĐTV
Biểu đồ 2.5 cho thấy, 02 yếu tố được đánh giá ở mức ảnh hưởng “nhiều” và “rất nhiều”. Xếp ở vị trí đầu tiên là nội dung “Có đầy đủ các văn bản hướng dẫn” (TTB =4.24), kế đến là “Sự quan tâm của cơ quan quản lý giáo dục cấp trên” (TTB =4.236). Nhận định này là phù hợp với thực tế vì hàng năm, ngoài các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học có lồng ghép chỉ đạo các hoạt động (trong đó có HĐTV) còn có các văn bản chỉ đạo thực hiện riêng về công tác TV, thiết bị. Cuối năm học các nhà trường thực hiện công tác tự đánh giá và thống kê các hoạt động của mình để báo cáo về Phòng GDĐT theo đúng quy định. Ngoài ra trong năm học, Sở GDĐT, Phòng GDĐT còn trang bị thêm cho TV các trường trong địa bàn nguồn tài liệu Tiếng Anh phong phú phục vụ tốt cho việc học tập của HS.
Với 72.8% ý kiến cho rằng “Sự quan tâm của CMHS” (TTB = 3.73) sẽ ảnh hưởng “nhiều” và “rất nhiều” đến QL HĐTV được xếp ở vị trí thứ 3. Có thể hiểu rằng nếu cha mẹ HS quan tâm đến việc học tập của con em mình, thường xuyên khuyến khích các em đến thư viện trường đọc sách sẽ giúp HS học tập tốt hơn.
Về những yếu tố khó khăn: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Biểu đồ 2.6. Ý kiến của CBQL, CBTV, GV về yếu tố khó khăn khách quan ảnh hưởng đến HĐTV
Yếu tố đầu tiên phải kể đến là “Do nguồn kinh phí để thực hiện các phong trào còn hạn chế” (TTB=3.91) được 74.8% ý kiến cho là ảnh hưởng “nhiều” và “rất nhiều”. Chính vì thế các hoạt động phong trào của thư viện đều hoạt động “cho có” nhưng chưa mang tầm ảnh hưởng rộng khắp, chưa thu hút.
Yếu tố thứ hai và thứ ba lần lượt là: “Trang thiết bị kỹ thuật của thư viện còn lạc hậu” (TTB=3.90; 78.4% ý kiến đánh giá là ảnh hưởng “nhiều” và “rất nhiều”) và “Do cơ sở vật chất còn hạn chế” (TTB=3.85; 73.6% ý kiến đánh giá là ảnh hưởng “nhiều” và “rất nhiều”). Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp chính quyền cùng với các chính sách XHH giáo dục có hiệu quả, đa số các trường học nói chung và các trường THCS nói riêng trên địa bàn thị xã Tân Uyên đã được đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất khang trang, sạch đẹp tạo điều kiện tốt nhất cho việc dạy và học của GV và HS. Tuy nhiên việc xây dựng, trang bị cơ sở vật chất cho thư viện vẫn chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức. Chính vì thế trên địa bàn vẫn còn những thư viện trường học không đủ về diện tích, không đúng về quy cách cũng như hầu hết TV các trường chưa được trang máy tính có kết nối mạng internet, chưa có thiết bị nghe, nhìn phục vụ cho bạn đọc.
2.5.2. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động thư viện
Tác giả đã sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến để tìm hiểu thực trạng các yếu tố chủ quan ảnh hướng đến quản lý hoạt động thư viện tại các trường THCS thị xã Tân Uyên. Kết quả trình bày ở bảng 2.28 sau đây:
- Bảng 2.28. Ý kiến của CBQL, CBTV và GV về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan
Về những yếu tố thuận lợi:
Bảng 2.28 cho thấy, nội dung ảnh hưởng nhiều nhất đến công tác QL HĐTV là “Học sinh chăm ngoan” (TTB =3.83) được 78% ý kiến đánh giá là “nhiều” và “rất nhiều”, kế tiếp là “Hiệu trưởng nhà trường có năng lực và phẩm chất tốt” (TTB =3.76), được 66.4% ý kiến đánh giá mức ảnh hưởng từ “nhiều” trở lên. Yếu tố xếp ở vị trí thứ 3 là “CBTV có năng lực và phẩm chất tốt” (TTB
=3.66). Yếu tố có TTB = 3.65 là “CBTV tận tâm với công việc” xếp ở vị trí thứ 4. Đây là những yếu tố thuận lợi chủ quan trong 9 yếu tố được liệt kê ở bảng 2.28. Còn rất nhiều yếu tố khác tác động rất tích cực giúp cho QL HĐTV đạt hiệu quả. Tuy nhiên, như đã phân tích ở chương 1, phẩm chất và năng lực của CBQL, CBTV là những yếu tố giúp cho việc quản lý HĐTV đạt hiệu quả. Chính vì thế phải nhận thức đúng vấn đề này để phát huy những mặt mạnh của CBQL cũng như CBTV nhằm nâng cao chất lượng HĐTV, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
- Về những yếu tố khó khăn: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Bảng 2.28 cho thấy có rất nhiều khó khăn trong việc quản lý HĐTV ở trường THCS của người CBQL. Cụ thể trong 13 yếu tố khó khăn chủ quan được liệt kê, yếu tố được nhiều ý kiến đánh giá khó khăn nhất là “HS chưa có thói quen đến học tập, giải trí ở thư viện trường” (TTB=3.65, ĐLC=0.78), yếu tố này được 74% đánh giá là khó khăn “nhiều” đến “rất nhiều”, vấn đề khó khăn thứ 2 mà các ý kiến đã nhận định là “Do nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của hoạt động thư viện trong trường học” có TTB là 3.52, yếu tố này cũng được 52.0% ý kiến đánh giá là nhiều và 4.8% ý kiến đánh giá là rất nhiều.
Ngoài ra, kết quả khảo sát ở bảng 2.28 cũng cho thấy được những khó khăn chủ quan khác trong nhà trường, chính những khó khăn từ người CBTV, từ người QL nhà trường là những trở ngại, những rào cản ảnh hưởng đến chất lượng HĐTV trong nhà trường. Có những hệ quả của khó khăn này dẫn đến khó khăn tiếp theo. Vì vậy, cần phải nhận thức được những khó khăn cũng như mức độ khó khăn đó để có biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý HĐTV để đưa thư viện trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa và khoa học của nhà trường.
2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động thư viện của hiệu trưởng trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
Qua khảo sát thực trạng QL HĐTV ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã trình bày, chúng tôi rút ra một số nhận định sau đây:
2.6.1. Ưu điểm
Về hoạt động thư viện: Nhìn chung CBQL, GV, CBTV ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đa phần đều nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của HĐTV. Vốn tài liệu trong các thư viện đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc ở mức cơ bản, việc bố trí kho sách tương đối làm hài lòng bạn đọc. Mặc dù cơ sở vật chất còn hạn chế tuy nhiên các trường đã trang bị máy tính có kết nối mạng cho CBTV để phục vụ cho việc quản lý vốn tài liệu và thực hiện các báo cáo cho các cấp quản lý. Về năng lực và phẩm chất của CBTV: đa số CBTV ở các nhà trường đều có năng lực và phẩm chất khá tốt. Tác phong đúng đắn, mẫu mực, tận tình, phục vụ bạn đọc kịp thời, làm tốt công tác giới thiệu sách, tư vấn cho bạn đọc trong việc lựa chọn sách. Về trình độ chuyên môn cơ bản đã đạt được theo quy định, về hoạt động nghiệp vụ thư viện có thể đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ HĐTV theo quy định của ngành. Đại đa số CBTV của các trường đã cố gắng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bước đầu tiếp cận được với yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp quản lý thư viện tiên tiến. Việc bồi dưỡng năng lực ứng dụng CNTT, sử dụng các phương tiện thiết bị hiện đại để đổi mới HĐTV trong nhà trường đã được chú trọng.
Về công tác quản lý HĐTV của hiệu trưởng: Nhìn chung, hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã có những nhận thức đúng đắn và quan tâm đến công tác quản lý HĐTV, xem đây là một trong những nội dung trọng tâm trong công tác quản lý của mình. Theo kết quả khảo sát, công tác này được đánh giá ở mức khá tốt, đồng thời công tác quản lý CBTV cũng được đánh giá ở mức khá. Các hiệu trưởng đã thực hiện ở mức khá những quy định về quản lý, sử dụng CBTV, bước đầu có chú ý đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho CBTV, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng đào tạo của nhà trường. Ngoài ra, lãnh đạo nhà trường cũng quan tâm tổ chức tốt môi trường, điều kiện làm việc giúp CBTV nhiệt tình hơn trong công tác. Mỗi CBTV đều có cơ hội phát huy tiềm năng và thể hiện bản thân mình trong quá trình công tác.
2.6.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Về hoạt động thư viện: Vẫn còn một số CBQL, CBTV, GV được khảo sát chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của thư viện. Vốn tài liệu sách, báo, tạp chí trong thư viện chưa thực sự phong phú, chưa hỗ trợ nhiều cho việc soạn giảng và nâng cao kiến thức của GV trong nhà trường. “Vốn tài liệu có trong thư viện còn nghèo nàn và lạc hậu” (theo ý kiến của 75.2% người được khảo sát) là một rào cản rất lớn ảnh hưởng nhiều đến HĐTV. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có những định hướng rõ ràng về việc đầu tư tăng cường CSVC trường học. Điều này được thể hiện trong các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Bộ ngành liên quan. Tuy nhiên việc đầu tư CSVC cho thư viện còn hạn chế, CSVC – TBKT của thư viện chưa thực sự đồng bộ, vẫn còn thiếu về số lượng, kém về chất lượng, bên cạnh đó thực trạng về HĐTV chỉ được đánh giá ở mức trung bình.
- Về công tác quản lý hoạt động thư viện:
Về nhận thức tầm quan trọng của quản lý HĐTV và quản lý mục tiêu HĐTV: Vẫn còn một phần nhỏ CBQL còn xem nhẹ tầm quan trọng của quản lý HĐTV trong trường học, một số CBQL chưa được đào tạo có hệ thống về khoa học quản lý, làm việc chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm cá nhân, do đó tính chuyên nghiệp chưa cao. Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều bất cập, năng lực tổ chức, chỉ đạo thực thi nhiệm vụ chưa mang lại hiệu quả cao. Kiến thức về xây dựng tổ chức HĐTV và quản lý NVTV còn nhiều hạn chế, chưa định hướng đúng đắn mục tiêu, biện pháp lâu dài có tính chiến lược về công tác xây dựng và phát triển TV thân thiện đáp ứng nhu cầu phục vụ đổi mới GD trong giai đoạn hiện nay.
Về quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện: Việc chỉ đạo, thực hiện từ khâu xây dựng các quy định về bảo quản CSVC đến quy định sổ sách, báo cáo định kỳ, thường xuyên về hoạt động thư viện chưa được thực hiện tốt.
Về quản lý cán bộ thư viện: Mặc dù các nhà QL đã lựa chọn, phân bố công việc hợp lý cho CBTV cũng như quan tâm đến môi trường làm việc cho CBTV, tuy nhiên công tác lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ về công tác TV chưa được lãnh đạo nhà trường quan tâm đúng mực, đúng tầm. Đa phần các HT chỉ quan tâm đến việc đầu tư cho nhân sự về chuyên môn, ít quan tâm đến nghiệp vụ thư viện, thậm chí một số CBQL chỉ quan tâm đến hiện tại mà chưa chú trọng việc dự báo nhu cầu của CBTV trong tương lai. Bên cạnh đó khâu tuyển dụng còn nhiều bất cập, vì thế việc thiếu nguồn nhân sự làm công tác thư viện vẫn còn. Do thiếu nhân sự thư viện nên một số trường phân công những GV lớn tuổi làm công tác thư viện nên hiệu quả HĐTV không cao. Để đáp ứng HĐTV hiện nay các nhà trường cần phải có một đội ngũ CBTV có khả năng làm việc với thư viện kiểu mới, thích nghi được với tốc độ thay đổi nhanh của xã hội, của nền giáo dục như hiện nay.
Về quản lý vốn tài liệu: Mặc dù bổ sung vốn tài liệu là việc làm thường xuyên tuy nhiên việc tổ chức, quản lý này vẫn chưa đáp ứng đủ nguồn vốn tài liệu theo yêu cầu bạn đọc. Việc bổ sung vốn tài liệu dưới dạng tài liệu điện tử hiện nay là rất cần thiết tuy nhiên nội dung này vẫn chưa thực hiện đạt hiệu quả do các nhà trường còn hạn chế về cơ sở vật chất. Mặt khác, năng lực đội ngũ chưa đáp ứng được mô hình của thư viện hiện đại.
Về quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc: Công tác quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc còn hạn chế, chỉ được đánh giá ở mức trung bình. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Về quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động thư viện: việc ứng dụng CNTT vào HĐTV từ khâu chỉ đạo đến khâu thực hiện đều chưa mang lại hiệu quả thiết thực, chưa đáp ứng yêu cầu trong quản lý HĐTV.
Về kiểm tra HĐTV: công tác kiểm tra chưa triệt để còn mang tính hình thức vì vậy HĐTV chưa đồng bộ, đôi lúc tạo cho một số CBTV làm việc đối phó. Các con số thống kê thường xuyên và khá đầy đủ nhưng chưa được đánh giá, nhận xét để đưa ra những quyết sách phù hợp mà chỉ để báo cáo cho CBQL.
2.6.3. Nguyên nhân của thực trạng
- Nguyên nhân chủ quan
CBQL có năng lực và phẩm chất tốt, đạt chuẩn về trình độ chuyên môn. Tuy nhiên trình độ QL cũng như nghiệp vụ thư viện của một số CBQL còn hạn chế, chưa thực sự chủ động trong việc tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực QL, chưa khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong công tác QL nhà trường.
Một số CBQL chưa thực sự quản lý toàn diện nhà trường, chưa có biện pháp quản lý HĐTV cho phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường do đó chưa phát huy hết khả năng, năng lực của CBTV trong HĐTV.
Năng lực quản lý, khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn của một số CBQL còn hạn chế, lúng túng nhất là đối với CBQL tuổi đời còn trẻ, mới được bổ nhiệm, chưa qua lớp bồi dưỡng quản lý, thiếu kinh nghiệm thực tế.
Đội ngũ CBTV mặc dù tương đối đủ về số lượng, có năng lực và phẩm chất tốt, tận tâm với công việc, đảm bảo chuẩn đào tạo và luôn được nhà trường tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thư viện nhưng thực chất đội ngũ vẫn còn nhiều hạn chế. Một số CBTV đào tạo lâu, tuổi đời cao, không thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng để cập nhật kiến thức mới. Một số CBTV có tư tưởng làm công tác TV để có nhiều thời gian nghỉ ngơi, chưa tích cực học tập, đổi mới để theo kịp những thay đổi trong GD như hiện nay. Nhiều CBTV mới ra trường có kiến thức nhưng kinh nghiệm làm công tác TV còn hạn chế. Có thể nói những hạn chế trên của CBTV là nhân tố tác động trực tiếp mạnh mẽ tới hiệu quả QL HĐTV của CBQL.
- Nguyên nhân khách quan Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Đội ngũ CBTV của trường được tuyển dụng, sử dụng từ nhiều nguồn, nên trình độ chuyên môn, nghiệp vụ không đồng đều và có những mặt chưa theo kịp yêu cầu phát triển trong thời kì mới.
Về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật đa phần các trường trên địa bàn thị xã Tân Uyên được đầu tư xây mới, tuy nhiên đa số các trường đều chưa được trang bị hệ thống máy tính kết nối mạng cũng như các điều kiện hỗ trợ nghe nhìn khác nên chưa thật sự đáp ứng được điều kiện học tập của HS cũng như nghiên cứu của GV phục vụ cho việc dạy học trong giai đoạn đổi mới và phát triển giáo dục như hiện nay.
Mặc dù được sự quan tâm, sự cộng tác và phối hợp của CMHS nhưng nguồn tài chính phục vụ cho HĐTV vẫn còn hạn hẹp, dẫn đến việc bổ sung sách, tài liệu, đặc biệt là sách tham khảo, báo, tạp chí chưa đáp ứng được nhu cầu bạn đọc. Mặt khác, nguồn kinh phí hạn hẹp nên rất khó khăn trong việc tạo điều kiện để CBQL có thể thực hiện các biện pháp tích cực trong quản lý đặc biệt là trong công tác tổ chức chuyên đề, tham quan thực tế, giao lưu học hỏi cho CBTV.
Chính sách, chế độ đãi ngộ dành cho CBTV, GV, CBQL còn thấp so với các ngành khác. Lương và phụ cấp tiền lương của CBTV, CBQL chưa đảm bảo mức sống tối thiểu và chưa thực sự làm họ yên tâm với công việc, dẫn đến phải làm thêm để tăng thu nhập, ít dành thời gian tự học, nghiên cứu khoa học, chưa quan tâm đúng mức cho việc nâng cao chất lượng trong công việc của mình.
Tất cả các yếu tố trên đã ảnh hưởng rất nhiều đến công tác quản lý HĐTV ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Tóm lại, việc phân tích thực trạng QL HĐTV ở trường THCS thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương sẽ là cơ sở quan trọng để đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả QL HĐTV ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Tiểu kết chương 2
CBQL các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã có những nhận thức đúng đắn và quan tâm đến công tác quản lý HĐTV. Nhưng nhìn chung hiệu quả của công tác này chưa cao, chưa phát huy hết năng lực sẵn có của CBTV. CBTV vẫn chưa thật sự chủ động, sáng tạo trong hoạt động của mình, chưa làm cho HĐTV trở thành “trung tâm” văn hóa – khoa học của nhà trường, HĐTV chưa hỗ trợ tích cực cho hoạt động giảng dạy, chưa phát huy vai trò, ý thức tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cho đội ngũ GV và HS.
Nhìn chung, công tác quản lý hoạt động thư viện ở các trường THCS công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên đã được thực hiện khá ở nhiều nội dung. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát, thực trạng thư viện và công tác quản lý hoạt động thư viện vẫn còn một số hạn chế. Tác giả nhận thấy cần phải tìm ra biện pháp quản lý phù hợp, có hiệu quả, đồng bộ để hoàn thiện hơn nữa trong công tác quản lý hoạt động thư viện nhằm phát triển thư viện, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội hiện nay. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
