Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử và thông quan tự động VNACCS/VCIS tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Giới thiệu Cục Hải quan thành phố Hải Phòng

2.1.1. Giới thiệu chung về Cục Hải quan thành phố Hải Phòng

2.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Cục Hải quan thành phố Hải Phòng

Với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, Cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Ngày 10 tháng 9 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thừa uỷ quyền của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà ký Sắc lệnh số 27 – SL thành lập “Sở thuế quan và Thuế gián thu”, khai sinh ra ngành Hải quan Việt Nam với mục đích đảm bảo việc kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu và duy trì nguồn thu ngân sách.

Ngày 14/4/1955, Bộ Công thương ban hành Nghị định số 87/BTC-ND-KB thành lập Sở Hải quan Hải Phòng, cơ quan tiền thân của Cục Hải quan thành phố Hải Phòng ngày nay. Sở Hải quan Hải Phòng được giao nhiệm vụ kiểm tra giám sát các hoạt động xuất nhập khẩu và xuất nhập cảnh trên một địa bàn rộng gồm thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Thái Bình. Ngoài ra còn được giao nhiệm vụ kiểm soát thuốc phiện toàn bộ khu vực biên giới biển và trong nội địa của địa bàn quản lý.

Trải qua hơn nửa thế kỷ trưởng thành phát triển, đến nay Cục Hải quan thành phố Hải Phòng có tổng số 949 cán bộ công chức, 20 đơn vị trực thuộc bao gồm: 9 Chi cục Hải quan, 8 phòng ban tham mưu, 3 đơn vị tương đương (Phòng Công nghệ thông tin, Đội Kiểm soát hải quan và Chi cục kiểm tra sau thông quan). Cục Hải quan thành phố Hải Phòng quản lý nhà nước về lĩnh vực Hải quan trên địa bàn 4 tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Hải Dương, Hưng yên và Thái Bình. Cục Hải quan thành phố Hải Phòng luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đạt được những danh hiệu cao quý như: Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới (năm 2015); Huân chương lao động hạng Nhất, hạng Nhì; Huân chương độc lập hạng Nhì; Cờ thi đua của Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

2.1.1.2. Bộ máy tổ chức

Bộ máy tổ chức của Cục Hải quan thành phố Hải Phòng hiện nay đứng đầu là Cục Trưởng, sau đó là 3 Phó Cục Trưởng và tiếp theo là các phòng, ban, chi cục hải quan và tương đương, chi tiết như sơ đồ 2.1. Mỗi đơn vị đều có các chức năng, nhiệm vụ cụ thể.

Sơ đồ 4: Bộ máy tổ chức

2.1.2. Thủ tục Hải quan điện tử tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng

Căn cứ Quyết định 149/2014/QĐ-Ttg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử; Cục Hải quan thành phố Hải Phòng là đơn vị đầu tiên trong toàn ngành được Tổng cục Hải quan tin tưởng giao triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử. Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đã thực hiện thí điểm thành công thủ tục HQĐT háng 9 năm 2014- 2021. Trong thời gian 7 năm thực hiện thí điểm đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm trong triển khai thủ tục hải quan điện tử, là tiền đề cho việc chính thức triển khai thủ tục HQĐT toàn ngành hải quan theo Nghị định 87/2021/NĐ-CP ngày 23/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại; Từ ngày 01/01/2022

Cục hải quan thành phố Hải Phòng cũng là đơn vị đầu tiên trong toàn ngành triển khai chính thức thủ tục hải quan điện tử theo Nghị định 87/2021/NĐ-CP để rút kinh nghiệm cho toàn ngành; sau đó được triển khai đồng loạt ở các Cục Hải quan địa phương khác. Mặc dù thời gian từ khi Nghị định được ban hành cho đến thời điểm chính thức có hiệu lực rất ngắn nhưng do đã có kinh nghiệm trong triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử và công tác chuẩn bị tốt, quá trình triển khai diễn ra thuận lợi, đúng theo lộ trình đã đề ra. Đến nay, Cục đều đạt và vượt các chỉ tiêu về thủ tục hải quan điện tử đặt ra trong kế hoạch cải cách hiện đại hóa giai đoạn 2021- 2025, cụ thể như sau:

Bảng 2.1: Số lượng doanh nghiệp tham gia thủ tục hải quan điện tử

Như vậy kể từ khi triển khai thực hiện đến nay, số doanh nghiệp thực hiện thủ tục HQĐT tăng nhiều qua các năm. Đến nay, tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng 100% thực hiên thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hoá XNK thương mại. Điều này thể hiện sự nỗ lực triển khai thủ tục HQĐT của cán bộ công chức Cục Hải quan thành phố Hải Phòng cũng như được sự đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp XNK; Trước thời điểm năm 2021 Cục Hải quan thành phố Hải Phòng triển khai song song hai hệ thống thông quan: Thứ nhất là hệ thống thủ tục hải quan truyền thống (thực hiện thủ tục thủ công – Doanh nghiệp khai báo thủ công trên tờ khai hải quan giấy), thứ hai là hệ thống thủ tục hải quan điện tử (thực hiện thí điểm). Việc khai báo thủ công đã có từ rất lâu đã ăn vào tiềm thức của mọi người cũng như doanh nghiệp, để thay đổi sang một phương thức mới (thủ tục hải quan điện tử) là rất khó khăn; Để khuyến khích doanh nghiệp tham gia thí điểm thủ tục hải quan điện tử Cục hải quan thành phố Hải Phòng đã đưa ra nhiều giải pháp; tuyên truyền, phổ biến cộng đồng doanh nghiệp những ưu việt của thủ tục hải quan điện tử, tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp về phần mềm, hướng dẫn khai báo thủ tục hải quan điện tử, kịp thời giải quyết các vướng mắc của doanh nghiệp và hệ thống; bên cạnh đó Cục quan tâm sâu sát đào tạo cán bộ công chức thực hiện thủ tục HQĐT. Do vậy số lượng doanh nghiệp, số tờ khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử tăng hàng năm, cụ thể năm 2021 doanh nghiệp chiếm tỷ lệ 98.4%, số tờ khai chiếm tỷ lệ 64.08%; năm 2022 doanh nghiệp chiếm 100%, số tờ khai chiếm 99.95% do có loại hình hệ thống phần mềm chưa đáp ứng được phải khai thủ công (hàng quá cảnh). Đến nay 100% thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

  • Bảng 2.2: Số liệu tờ khai XNK

Số lượng tờ khai XK không ổn định theo các năm, năm 2023 Cục giải quyết được 865,788 tờ khai XK, năm 2024 tăng lên 1,120,048 tờ khai (tăng 29.4% so với năm 2023), năm 2025 tăng lên 1,217,959 tờ khai (tăng 8.74% so với năm 2024).

Số lượng tờ khai NK không ổn định qua các năm, năm 2023 Cục giải quyết được 135,123 tờ khai XK, năm 2024 giảm xuống còn 58,950 tờ khai (giảm 56.4% so với năm 2023), năm 2025 tăng lên 91,671 tờ khai (tăng 55.51% so với năm 2024).

Nhìn chung số lượng tờ khai XNK mà Cục Hải quan thành phố Hải Phòng giải quyết được trong giai đoạn 2021 – 2025 năm sau luôn cao hơn năm trước. Từ năm 2021 đến năm 2023 tổng số tờ khai lên xuống không ổn định, nhưng theo đó năm 2023 Cục giải quyết được 1,000,911 tờ khai, năm 2024 tăng lên 1,178,998 tờ khai (tăng 17.8% so với năm 2023); năm 2025 số lượng tờ khai giải quyết được đạt 1,309,630 tờ (tăng 11.08% so với năm 2024).

Có được kết quả này là do năm 2025 nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi và đặc biệt là sự cố gắng vượt bậc của Cục hải quan thành phố Hải Phòng.

Mặc dù biên chế cán bộ công chức của Cục Hải quan thành phố Hải Phòng tăng chưa tương xứng với công việc nhưng với nỗ lực của tập thể cán bộ công chức đã giải quyết thủ tục khối lượng công việc khổng lồ cho hàng hoá XNK thông qua cảng Hải Phòng. Điều này thể hiện Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đã đổi mới – Quản lý hải quan trong hoạt động XNK, áp dụng quản lý hải quan hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh trong nước và quốc tế của các doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Đáng chú ý là việc áp dụng QLRR trong thủ tục hải quan điện tử và thông quan tự động VNACCS/VCIS; kiểm tra hải quan được thực hiện trên cơ sở Quyết định của Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan, Quy trình thủ tục hải quan điện tử dựa trên cơ sở áp dụng QLRR ngày càng rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện, dễ khai báo cho cả cán bộ công chức hải quan và doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK, rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí cho doanh nghiệp.

  • Bảng 2.3: Số liệu kim ngạch XNK (giai đoạn 2021 – 2025)

Giá trị kim ngạch XK tại Cục hải quan thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2021 – 2025 không ổn định. Năm 2023 kim ngạch XK đạt 53.86 tỷ USD (chiếm 86.07% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2024 giảm xuống còn 47.86 tỷ USD (giảm 6 tỷ USD so với năm 2023 nên chỉ chiếm 84.79% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2025 tăng mạnh, đạt 58.47 tỷ USD (tăng 22.17% so với năm 2024 nhưng tỷ trọng giảm xuống còn 82.82% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu).

Kim ngạch NK tại Cục hải quan thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2021 – 2025 cũng không ổn định. Năm 2023 kim ngạch NK đạt 8.72 tỷ USD (chiếm 13.93% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2024 giảm xuống còn 8.59 tỷ USD (giảm 1.53% so với năm 2023, chiếm 15.21% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2025 tăng lên đạt 12.13 tỷ USD (tăng 41.2% so với năm 2024 nên tỷ trọng tăng lên đạt 17.18% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu).

Nguyên nhân của sự thay đổi là do năm 2024 nền kinh tế khá ảm đạm nhưng sang năm 2025 nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi nên các doanh nghiệp có xu hướng nhập khẩu trang thiết bị, nguyên vật liệu để sản xuất nên cả kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đều tăng. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

Hiện nay, hàng hóa làm thủ tục thông quan tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng chủ yếu là hàng rời và hàng đóng trong Container. Các mặt hàng sắt thép, ô tô nguyên chiếc và phụ tùng, linh kiện lắp ráp ô tô, thiết bị máy móc, nguyên liệu sản xuất, lúa gạo, xăng dầu,…là những mặt hàng chủ đạo, chiếm phần lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Ngoài quy mô về hàng hóa tăng lên, chủng loại hàng hóa cũng đa dạng hơn, chủ thể XNK càng đa thành phần, thị trường đi và đến ngày càng được mở rộng… do đó khâu QLRR ngày càng được coi là khâu quan trọng trong nghiệp vụ tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng.

Triển khai mở rộng cổng thanh toán thuế điện tử giai đoạn 2 e-payment (trao đổi thông tin về các khoản thu ngân sách giữa hải quan và ngân hàng thương mại). Đến nay, Cục đã kết nối cổng thanh toán điện tử thu thuế XNK và phối hợp thu với 11 Ngân hàng thương mại. Việc thanh toán bằng phương thức điện tử đã đem lại hiệu quả tích cực trong công tác quản lý thu nộp ngân sách nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu thời gian và thủ tục nộp tiền cho người nộp thuế.

  • Bảng 2.4: Số thuế thu nộp ngân sách nhà nước

Một trong những kết quả đáng ghi nhận của Cục Hải quan Hải Phòng giai đoạn 2021 – 2025 đó chính là sự gia tăng của giá trị nộp ngân sách Nhà nước của đơn vị. Năm 2023 đơn vị thu nộp ngân sách Nhà nước đạt 40,031 tỷ đồng, năm 2024 tăng lên 45,588 tỷ đồng (tăng 13.88% so với năm 2023); đến năm 2025 chỉ tiêu này tăng lên đạt mức 47,775 tỷ đồng (tăng 4.79% so với năm 2024).

Triển khai hệ thống tiếp nhận bản khai hàng hóa e-manifest: Từ 15/08/2022, Cục đã triển khai thực hiện tiếp nhận bản khai hàng hoá, các chứng từ có liên quan và thông quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh (e-manifest) cho các hãng tàu, đại lý hãng tàu và công ty giao nhận trên địa bàn theo Quyết định 19/2020/QĐ-TTg ngày 23/03/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Qua công tác tuyên truyền của cơ quan hải quan, các hãng tàu, đại lý hãng tàu, đại lý giao nhận đều nhiệt tình đăng ký tham gia.

  • Tính đến thời điểm hiện nay, số liệu triển khai như sau:

Bảng 2.5: Số liệu thông quan điện tử đối với tàu biển XNC

Do hệ thống công nghệ thông tin khi triển khai e-manifest mới đưa vào sử dụng còn nhiều vướng mắc, khó khăn trong quá trình triển khai; cũng như hệ thống công nghệ thông tin của một số hãng tàu, đại lý giao nhận chưa đáp ứng được yêu cầu do vậy việc thông quan điện tử tàu biển XNC chưa cao, đến nay mới chiểm tỷ lệ là 82.1%.

Năm 2022 là năm toàn Ngành Hải quan gấp rút triển khai thực hiện dự án thông quan điện tử tự động (VNACCS/VCIS) do Chính phủ Nhật Bản tài trợ, để hệ thống chính thức được vận hành trong năm 2023. Nhận thức được tầm quan trọng của dự án, ngay từ đầu năm, Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đã chủ động ban hành Kế hoạch để chuẩn bị triển khai dự án VNACCS/VCIS theo lộ trình của Tổng cục Hải quan; Thành lập Ban triển khai dự án VNACCS/VCIS, nhóm chuyên gia về Hệ thống VNACCS/VCIS, Tổ hỗ trợ chạy thử hệ thống VNACCS/VCIS, tổ chức các lớp đào tạo về Hệ thống VNACCS/VCIS cho công chức và doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đã tích cực tổ chức, tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và vận động doanh nghiệp đăng ký, tham gia chạy thử nhằm giúp doanh nghiệp làm quen với Hệ thống, đồng thời giúp phát hiện các lỗi để khắc phục trước khi triển khai chính thức Hệ thống. Tính đến hết năm 2025, Cục đã hỗ trợ thực hiện thủ tục hải quan điện tử Hệ thống VNACCS/VCIS như sau:

  • Bảng 2.6: Số liệu hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện hải quan điện tử Hệ thống VNACCS/VCIS

Đến nay thực hiện thủ tục hải quan điện tử Hệ thống VNACCS/VCIS 100% doanh nghiệp đã đăng ký người sử dụng và sử dụng chữ ký số. Từ 01/4/2023, Cục Hải quan thành phố Hải Phòng cũng là đơn vị đầu tiên trong toàn ngành đã triển khai thành công thủ tục hải quan điện tử Hệ thống VNACCS/VCIS tới tất cả các Chi cục Hải quan trực thuộc; Sau đó đến tháng 6 năm 2023 được triển khai tại tất cả các Hải quan tỉnh thành phố.

2.2. Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử tại Cục hải quan thành phố Hải Phòng.

2.2.1. Hoạt động của Phòng Quản lý rủi ro:

Phòng Quản lý rủi ro – Cục Hải quan thành phố Hải Phòng được thành lập tháng 7/2019; Bộ máy Phòng QLRR gồm: Tổ kiểm soát tuân thủ, Tổ kiểm soát rủi ro, Tổ tổng hợp và Đội Kiểm tra hàng hóa bằng máy soi container cố định và di động, có tổng số 53 cán bộ công chức trong đó có 01 Trưởng Phòng và 02 Phó Trưởng Phòng; Phòng Quản lý rủi ro là đầu mối thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến công tác quản lý rủi ro của Cục.

Từ ngày thành lập đến nay, công tác quản lý rủi ro tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đã có nhiều khởi sắc, mang lại kết quả rõ rệt vừa đảm bảo yêu cầu quản lý hải quan, chống buôn lậu, gian lận thương mại trên địa bàn có hiệu quả, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp với việc giảm tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hoá, rút ngắn thời gian thông quan. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

Hiện nay, Cục Hải quan thành phố Hải Phòng trở thành một trong những đơn vị hải quan địa phương đi đầu trong toàn ngành trong lĩnh vực quản lý rủi ro, được Tổng cục Hải quan đánh giá cao.

  • Phòng Quản lý rủi ro thực hiên các nhiệm vụ như sau, cụ thể:

Thứ nhất là nhiệm vụ tổ chức thu thập, cập nhật thông tin xây dựng hồ sơ quản lý doanh nghiệp.

Thứ hai là tổ chức thu thập, cập nhật, phân tích thông tin rủi ro trên cơ sở rà soát, kiểm tra, xác định trọng tâm, trọng

Thứ ba là xây dựng, ứng dụng và quản lý hồ sơ quản lý rủi ro

Thứ tư là thiết lập, cập nhật, áp dụng tiêu chí phân tích phục vụ đánh giá rủi ro, đảm bảo hiệu quả cũng như điều phối hoạt động kiểm tra hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại trong phạm vi toàn Cục

Thứ năm là theo dõi, kiểm tra quá trình áp dụng quản lý rủi ro, đánh giá hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro, điều chỉnh bổ sung việc áp dụng quản lý rủi ro.

Thứ sáu là vận hành hệ thống thông tin phục vụ quản lý rủi ro.

2.2.2. Nội dung quản lý rủi ro tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng:

Để công tác quản lý rủi ro của Cục Hải quan thành phố Hải Phòng được hoàn thiện và có hiệu quả, ngoài nhiệm vụ của Phòng QLRR thì các đơn vị trực thuộc căn cứ vào nhiệm vụ chuyên môn được giao có trách nhiệm phối hợp cung cấp các thông tin có liên quan cho Phòng Quản lý rủi ro tổng hợp thông tin, xử lý thông tin áp dụng QLRR, trong đó:

  • Các Chi cục Hải quan trực thuộc có nhiệm vụ:

Căn cứ kết quả phân tích rủi ro, nếu thấy cần thiết áp dụng biện pháp kiểm tra hải quan đối với chủ hàng hoặc hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thì có văn bản đề nghị Phòng Quản lý rủi ro thiết lập, cập nhật tiêu chí vào hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý rủi ro. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

Thu thập, cập nhật, cung cấp thông tin phục vụ quản lý rủi ro cho Phòng Quản lý rủi ro, bao gồm: Báo cáo các vụ vi phạm được phát hiện; Báo cáo các lỗi về chính sách, áp mã, trị giá, số lượng, chất lượng… nhưng không bị xử phạt, chỉ lập biên bản chứng nhận; Báo cáo về doanh nghiệp, hàng hóa có khả năng vi phạm, các rủi ro bất thường phát hiện trong quá trình làm thủ tục hải quan; Báo cáo việc rà soát danh mục rủi ro, các vướng mắc liên quan đến đánh giá rủi ro, hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro và các kiến nghị liên quan đến áp dụng rủi ro; Báo cáo các trường hợp hủy tờ khai.

  • Đội Kiểm soát Hải quan có trách nhiệm cung cấp:
  • Phương thức, thủ đoạn buôn lậu, gian lận thương mại thường diễn ra trong quá trình làm thủ tục hải quan.
  • Danh sách doanh nghiệp, hàng hóa có nguy cơ buôn lậu, gian lận trên địa bàn.
  • Các vụ việc vi phạm được phát hiện qua hoạt động kiểm soát hải quan.
  • Thông tin trinh sát liên quan đến quá trình áp dụng quản lý rủi ro.
  • Phản hồi kết quả tiến hành các hoạt động kiểm soát đối với đối tượng rủi ro do Phòng Quản lý rủi ro chuyển giao.
  • Phòng Giám sát quản lý về Hải quan cung cấp:

Thông tin và chính sách quản lý của Chính phủ, các bộ, ngành, chỉ đạo của cấp trên đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, quản lý theo giấy phép, hạn ngạch thuế quan; Các điều kiện, tiêu chuẩn quy định về hàng hóa có khả năng vi phạm)

Các văn bản cảnh báo hoặc chỉ đạo nghiệp vụ của cấp trên liên quan đến doanh nghiệp, hàng hóa có khả năng vi phạm pháp luật.

Những nguy cơ tiềm ẩn hoặc những vi phạm về quy chế cấp giấy chứng nhận xuất xứ với mục đích lợi dụng chế độ ưu đã hoặc ưu đãi đặc biệt của Việt Nam với các nước, tổ chức quốc tế khác.

Danh sách hàng hóa (tên hàng, mã số) có khả năng vi phạm về giấy chứng nhận xuất xứ kèm theo tên quốc gia thường bị lợi dụng trên giấy chứng nhận xuất xứ, tên quốc gia là xuất xứ thật của hàng hóa nhập khẩu nếu có, tên quốc gia nhập khẩu hàng hóa (đối với trường hợp lợi dụng, gian lận xuất xứ của Việt Nam để hưởng ưu đãi).

  • Loại giấy phép, chứng từ cần kiểm tra cùng với các thông tin liên quan đến phương thức, thủ đoạn vi phạm.
  • Các loại hàng hóa được ưu tiên miễn kiểm tra hoặc các loại hàng hóa cần tăng cường kiểm tra theo chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành cũng như chỉ đạo của Tổng cục Hải quan.
  • Những sơ hở trong quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu dễ bị lợi dụng.
  • Các văn bản chỉ đạo của Cục Hải quan thành phố Hải Phòng về việc tăng cường kiểm tra thực tế hàng hóa đối với đối tượng có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

Phòng Thuế xuất nhập khẩu cung cấp:

  • Các quy định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng… đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
  • Danh sách hàng hóa (tên hàng, mã số) trọng điểm về phân loại hàng hóa trên địa bàn kèm theo tên hàng và mã số ấn (tên hàng, mã số ngụy trang).
  • Danh sách hàng hóa (tên hàng, mã số) thượng bị khai sai tên hàng, mã số, thành phần, công dụng, đơn vị tính… trên địa bàn.
  • Các doanh nghiệp chây ỳ, nợ đọng tiền thuế số lượng lớn, đối tượng thành lập nhiều doanh nghiệp có khả năng không tuân thủ pháp luật về thuế.
  • Các vi phạm hoặc có dấu hiệu vi phạm trong kê khai thuế của các đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, ân hạn thuế.
  • Danh sách hàng hóa (tên hàng, mã số) trọng điểm về giá trên địa bàn.
  • Những sơ hở trong chính sách quản lý thuế mà các đối tượng hay lợi dụng để gian lận về thuế.

Chi cục kiểm tra sau thông quan:

  • Tổng hợp, báo cáo thông tin kết quả kiểm tra sau thông quan, nêu rõ các phương thức, thủ đoạn vi phạm của doanh nghiệp do kiểm tra sau thông quan phát hiện.
  • Các thông tin do cấp trên chuyển giao hoặc văn bản chỉ đạo của cấp trên về việc định hướng kiểm tra sau thông quan.
  • Những sơ hở, thiếu sót trong quá trình làm thủ tục hải quan do kiểm tra sau thông quan phát hiện được.
  • Các yêu cầu của Chi cục Kiểm tra sau thông quan về việc tăng cường các biện pháp kiểm tra thực tế đối với hàng hóa, doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
  • Phản hồi kết quả kiểm tra sau thông quan về đối tượng rủi ro do Phòng Quản lý rủi ro chuyển giao.

Phòng Chống buôn lậu và xử lý vi phạm:

  • Tổng hợp, báo cáo các vụ vi phạm do Cục Hải quan thành phố Hải Phòng thụ lý, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ, mã số thuế của tổ chức vi phạm, nội dung vi phạm, biện pháp xử lý, số thuế phải truy thu.
  • Báo cáo xu hướng buôn lậu và gian lận trên địa bàn, các loại đối tượng trọng điểm như ngành hàng, loại hình, tuyến đường, địa bàn có khả năng vi phạm.
  • Danh sách đối tượng trọng điểm về buôn lậu, gian lận thương mại như hàng hóa (tên hàng, mã số), chủ hàng, đối tác nước ngoài… Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

Phòng quản lý rủi ro là đơn vị được giao chủ trì thực hiện triển khai áp dụng quản lý rủi ro trong toàn Cục. Công tác thu thập, phân tích thông tin, đánh giá rủi ro ngày càng chuyên nghiệp hơn; thiết lập nhiều tiêu chí phân luồng có trọng tâm, trọng điểm phục vụ hiệu quả cho quá trình thông quan và đã đạt được những kết quả khả quan, được các cấp ghi nhận, đánh giá tốt. Tuy nhiên, do thời gian thành lập chưa lâu, số lượng cán bộ công chức được đào tạo chuyên sâu, kinh nghiệm về quản lý rủi ro còn hạn chế nên cũng ảnh hưởng tới chất lượng công tác.

Công tác phối hợp, trao đổi, chia sẻ thông tin giữa Phòng Quản lý rủi ro với các Chi cục, Đội Kiểm soát hải quan, Phòng ban tham mưu tương đối tốt có hiệu quả, nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định: công tác trao đổi thông tin chưa thường xuyên, chưa có nhiều thông tin mang tính dự báo nhằm ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới gian lận thương mại…Đây là những nguy cơ dẫn đến những rủi ro trong hoạt động nói chung và trong Hải quan điện tử tại Hải quan Hải phòng.

2.2.3. Đo lường, đánh giá tuân thủ trong hoạt động nghiệp vụ hải quan Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

  • Kết quả thực hiện từ năm 2021 – 2025 như sau:

Bảng 2.7: Tình hình phân luồng kiểm tra (hình thức kiểm tra)

Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đã thực hiện nghiêm quy trình, quy định về phân luồng, chuyển luồng kiểm tra, góp phần giảm đáng kể tỷ lệ kiểm tra chi tiết hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa trong toàn ngành. Số lượng tờ khai luồng xanh có sự gia tăng khá nhanh từ năm 2021 đến năm 2025. Năm 2023 trong tổng số 1,000,911 tờ khai giải quyết tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng thì có 482,411 tờ khai phân luồng xanh (chiếm 48.2%). Năm 2024 số lượng tờ khai luồng xanh tăng lên 584,391 tờ khai (tăng 21.1% so với năm 2023, đạt 49.57% tổng số tờ khai đã giải quyết). Đến năm 2025 chỉ tiêu này tiếp tục tăng lên đạt 656,268 tờ khai (tăng 12.3% so với năm 2024).

Số lượng tờ khai luồng vàng có sự gia tăng khá nhanh từ năm 2021 đến năm 2025. Năm 2023 có 434,407 tờ khai phân luồng vàng (chiếm 43.4% tổng số tờ khai). Năm 2024 số lượng tờ khai luồng vàng tăng lên 504,403 tờ khai (tăng 16.1% so với năm 2023, chiếm 42.78% tổng số tờ khai đã giải quyết). Đến năm 2025 chỉ tiêu này tiếp tục tăng lên, đạt 576,978 tờ khai (tăng 14.4% so với năm 2024, chiếm 44.06% tổng số tờ khai).

Số lượng tờ khai luồng đỏ có xu hướng tăng về số lượng nhưng tỷ trọng trong tổng số tờ khai lại giảm. Năm 2023 có 84,093 tờ khai phân luồng đỏ (chiếm 8.4% tổng số tờ khai). Năm 2024 số lượng tờ khai luồng đỏ tăng lên 90,204 tờ khai (tăng 7.3% so với năm 2023, nhưng chỉ chiếm 7.65% tổng số tờ khai đã giải quyết). Đến năm 2025 chỉ tiêu này giảm xuống còn 76,384 tờ khai (giảm 15.3% so với năm 2024, nên chỉ chiếm 5.83% tổng số tờ khai).

Để có được kết quả này là do Cục đã tạo được môi trường, định hướng, khuyến khích thái độ tuân thủ của doanh nghiệp XNK do đó QLRR được cộng đồng doanh nghiệp ủng hộ. Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, kết hợp với công tác Kiểm tra sau thông quan, cơ quan Hải quan đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, thời gian thông quan tại cửa khẩu giảm rõ rệt. Nhờ vậy mà tiết tiết kiệm rất nhiều chi phí và thời gian chờ đợi cho doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp có độ rủi ro thấp được phân vào luồng xanh liên tục tăng lên. Số lượng và tỷ lệ doanh nghiệp được đánh giá chấp hành tốt pháp luật Hải quan cũng tăng đáng kể. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

  • Bảng 2.8: Tình hình chuyển luồng tờ khai (thay đổi hình thức kiểm tra)

Qua số liệu cho thấy tỷ lệ chuyển luồng tờ khai còn khá cao, đặc biệt là tỷ lệ chuyển từ luồng vàng sang luồng đỏ (trung bình chiếm 38% – 42% tổng số tờ khai chuyển luồng). Tỷ lệ chuyển từ luồng xanh sang luồng vàng cũng khá cao (chiếm 17%- 23% tổng số tờ khai chuyển luồng). Tỷ lệ chuyển từ luồng vàng, luồng đỏ về luồng xanh khá khiêm tốn. Trong thời gian tới, Cục cần chú trọng tới công tác QLRR nhiều hơn nữa.

Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là theo quy định các văn bản về công tác QLRR chủ yếu để ở dạng file cứng theo chế độ “mật”, chưa được cập nhật thường xuyên trên hệ thống thông tin QLRR để các đơn vị có thể khai thác, tham khảo. Do đó, trong thời gian tới Cục nên tổng hợp danh sách các văn bản về công tác QLRR và đăng tải trên Mục tài liệu, hồ sơ chuyên đề hệ thống Cloud officen để các đơn vị khai thác. Đồng thời sao gửi đến các đơn vị có liên quan để thực hiện (theo chế độ Mật).

Đến nay, tỷ lệ tờ khai phải chuyển luồng từ năm 2022 thấp hơn so với toàn Ngành. Điều này thể hiện việc áp dụng QLRR của Cục là có hiệu quả.

  • Bảng 2.9: Tình hình vi phạm pháp luật hải quan

Nhờ áp dụng quy trình quản lý rủi ro và giám sát rủi ro nên số vụ phát hiện vi phạm pháp luật Hải quan giảm. Năm 2023, Cục Hải quan thành phố Hải Phòng phát hiện được 3,726 tờ khai vi phạm của doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu, chiếm 7.56% số tờ khai. Năm 2024 giảm xuống còn 572 tờ khai (giảm 84.6% so với năm 2023, chiếm 2.42% tổng số tờ khai). Năm 2025 giảm xuống chỉ còn 310 tờ khai (giảm 45.8% so với năm 2024, nên tỷ trọng chỉ còn 2.22% tổng số tờ khai).

Tỷ lệ tờ khai phát hiện vi phạm qua kiểm tra thực tế hàng hóa và chuyển luồng của Cục luôn đạt tỷ lệ cao so với toàn ngành, chứng tỏ hiệu quả của công tác QLRR trong việc đánh giá, nhận định những rủi ro tiềm ẩn trong quá trình làm thủ tục hải quan. Những hành vi vi phạm chủ yếu bị phát hiện là nhập khẩu hàng cấm (động, thực vật và các sản phẩm động thực vật hoang dã thuộc Danh mục của công ước CITES mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu của Việt Nam), nhập khẩu hàng hóa không đúng với khai báo về chủng loại, số lượng, chất lượng, xuất xứ…

  • Bảng 2.10: Số liệu xây dựng tiêu chí rủi ro và tiêu chí kiểm tra qua máy soi

Bám sát tình hình hoạt động XNK trên địa bàn Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đã phân công các Tổ công tác tăng cường thu thập, phân tích thông tin, dấu hiệu rủi ro theo từng thời điểm, thiết lập chỉ số tiêu chí lựa chọn kiểm tra thực tế tại cửa khẩu hoặc qua máy soi, tiêu chí lấy mẫu phân tích theo các nhóm hàng, loại hình, xuất xứ, doanh nghiệp có rủi ro cao. Cụ thể:

Năm 2021, thiết lập và cập nhật hệ thống: 88 tiêu chí rủi ro, trong đó có 67 tiêu chí kiểm tra qua máy soi; thanh loại ra khỏi hệ thống: 148 tiêu chí, trong đó có 12 tiêu chí kiểm tra qua máy soi; Số tiêu chí còn hiệu lực 860 tiêu chí, trong đó có 459 tiêu chí kiểm tra qua máy soi. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

Năm 2022, thiết lập và cập nhật hệ thống: 726 tiêu chí rủi ro, trong đó có 439 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2021 tương ứng là 725% và 555%); thanh loại ra khỏi hệ thống: 768 tiêu chí, trong đó có 369 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2021 tương ứng là 419% và 2,975%); Số tiêu chí còn hiệu lực 775 tiêu chí, trong đó có 451 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (giảm so với năm 2021 tương ứng là 10% và 2%).

Năm 2023, thiết lập và cập nhật hệ thống: 22,903 tiêu chí rủi ro, trong đó có 19,351 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2022 tương ứng là 3,055% và 4,308%); thanh loại ra khỏi hệ thống: 32,371 tiêu chí, trong đó có 15,881 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2022 tương ứng là 4,115% và 4,204%); Số tiêu chí còn hiệu lực 13,591 tiêu chí, trong đó có 3,794 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (giảm so với năm 2022 tương ứng là 1,654% và 741%).

Năm 2024, thiết lập và cập nhật hệ thống: 243,793 tiêu chí rủi ro, trong đó có 233,912 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2023 tương ứng là 964% và 1,109%); thanh loại ra khỏi hệ thống: 212,361 tiêu chí, trong đó có 197,419 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2023 tương ứng là 556% và 1,143%); Số tiêu chí còn hiệu lực 45,023 tiêu chí, trong đó có 40,287 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (giảm so với năm 2023 tương ứng là 231% và 962%).

Năm 2025, thiết lập và cập nhật hệ thống: 697,717 tiêu chí rủi ro, trong đó có 674,990 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2024 tương ứng là 186% và 189%); thanh loại ra khỏi hệ thống: 689,884 tiêu chí, trong đó có 666,496 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2024 tương ứng là 225% và 238%); Số tiêu chí còn hiệu lực 47,755 tiêu chí, trong đó có 46,593 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (giảm so với năm 2024 tương ứng là 6% và 16%).

Như vậy, số lượng tiêu chí cập nhật, thanh loại và còn hiệu lực đều tăng nhanh ở các năm chứng tỏ công tác QLRR của Cục đã hoạt động khá hiệu quả. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

  • Bảng 2.11: Số liệu hồ sơ doanh nghiệp

Thực hiện chỉ đạo của Tổng Cục hải quan, Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đã đẩy mạnh công tác thu thập, trao đổi thông tin doanh nghiệp từ các đơn vị trong và ngoài ngành, nâng cao chất lượng đánh giá xếp hạng, đánh giá tuân thủ.

Năm 2023 thu thập, cập nhật vào Hệ thống Riskman 1780 hồ sơ doanh nghiệp, năm 2024 thu thập, cập nhật 2210 hồ sơ, tăng 28,6% so với năm 2023, tăng 110% so với chỉ tiêu đăng ký (1.052 hồ sơ doanh nghiệp). Năm 2106 thu thập, cập nhật 2962 hồ sơ, tăng 34% so với năm 2024. Chất lượng hồ sơ doanh nghiệp ngày càng tăng lên, nội dung thông tin ngày càng đa dạng.

Ngoài thông tin do doanh nghiệp cung cấp theo đề nghị của cơ quan Hải quan, thông tin thu thập từ Internet, thông tin từ các hoạt động nghiệp vụ, đã chú trọng công tác phối hợp thu thập thông tin doanh nghiệp từ các cơ quan, đơn vị chức năng trên địa bàn (đặc biệt các nhóm thông tin về tài chính, thông tin liên quan đến chấp hành pháp luật thuế, thông tin doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh, bị thu hồi giấy phép,…) phục vụ việc rà soát, đánh giá mức độ tuân thủ doanh nghiệp được chính xác.

Tuy nhiên, công tác thu thập thông tin từ doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào sự chủ động và chia sẻ của doanh nghiệp, một số doanh nghiệp thay đổi địa chỉ kinh doanh hoặc ngừng hoạt động, nhiều doanh nghiệp không cung cấp thông tin do phải cung cấp mẫu phiếu thu thập thông tin cùng lúc cho nhiều cục Hải quan nơi doanh nghiệp làm thủ tục hải quan.

Hiện nay tại các Chi Cục, cán bộ làm công tác QLRR chủ yếu là kiêm nghiệm, với khối lượng công việc ngày càng tăng liên quan đến công tác thu thập, cập nhật thông tin doanh nghiệp; theo dõi, rà soát tờ khai hủy, sửa, treo; công tác báo cáo… nên dẫn đến tình trạng quá tải trong công việc. Trong thời gian tới Cục nên bổ sung cán bộ chuyên trách làm công tác QLRR để đảm bảo công việc được hiệu quả, đúng quy định.

  • Về công tác phối hợp của Phòng QLRR

Nhờ áp dụng quy trình quản lý rủi ro mà số vụ phát hiện vi phạm pháp luật Hải quan tăng lên đồng thời số thu về cho ngân sách cũng tăng.

Năm 2025, Cục Hải quan thành phố Hải Phòng chuyển thông tin nghi vấn cho các đơn vị kiểm tra, rà soát 16 vụ, tiền thuế ấn định 15,160 tỷ đồng, (năm 2024: tiền thuế ấn định 2,738 tỷ đồng).Trong đó:

Chuyển thông tin cho các Chi cục Hải quan: Tổng số vụ: 8 vụ (đã có kết quả 7 vụ), các Chi cục ấn định 3,331 tỷ đồng tiền thuế.

Nội dung đã rà soát: than củi XK, gỗ ván lạng từ gỗ keo rừng trồng XK, các loại màn hình hiển thị báo lùi gương ô tô, bảng led, ma trận,..Phụ gia thức ăn gia súc, chất tạo mùi, thiết bị mát xa tấm nhiệt, phoi tiện thép không gỉ, màng bọc thực phẩm PVC, sữa bột nguyên liệu dùng trong chế biến thực phẩm, rà soát các đối tượng hưởng mức thuế suất ưu đãi đặc biệt from E,AK, kiểm tra mặt hàng XK dây đồng tinh luyện. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

Chuyển thông tin cho Chi cục Kiểm tra sau thông quan: Tổng số vụ: 8 vụ (đã có kết quả 5 vụ), ấn định 11,829 tỷ đồng.

Nội dung đã rà soát: vải không dệt C/O mẫu E ; mặt hàng than củi xuất khẩu, Lĩnh vực GC-SXXK, Thép buộc tầu loại xoắn xuôi xoắn ngược, Công cụ mài bóng Pad đánh bóng bằng nhựa, thép cán nóng, gia vị dạng bột đã pha chế dùng để sản xuất xúc xích

Mặt hàng hạt nhựa PP dạng nguyên sinh, đã ấn định thuế 455 triệu đồng đối với 34 tờ khai; mặt hàng than củi XK đã ấn định thuế gần 95 triệu đồng đối với 07 tờ khai; mặt hàng sữa rửa mặt ấn định thuế gần 80 triệu đồng.

Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Hải Phòng khu vực II kiểm tra tính hợp lệ C/O mẫu E, mặt hàng thuốc đông y nhập khẩu. Kết quả: DN nộp bổ sung 02 tờ khai là 617 triệu đồng.

Rà soát, sử dụng kết quả phân tích phân loại: Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Hải Phòng khu vực III và Chi cục Đầu Tư Gia Công đã ấn định thuế với số tiền thuế tăng thêm hơn 156 triệu đồng.

Chuyển Chi cục Kiểm tra sau thông quan tiến hành kiểm tra, rà soát việc phân loại, áp mã không thống nhất đối với các mặt hàng: ống thép, Optima- 100, sữa rửa mặt (11 tờ khai), TPCN Reviv (14 tờ khai), thức ăn chăn nuôi (35 tờ khai), N-Hexan (46 DN), thạch sữa chua, nước uống dinh dưỡng (38 tờ khai). Chi cục Kiểm tra sau thông quan đã ấn định thuế mặt hàng Optima-100 đối với doanh nghiệp với số tiền thuế trên 579 triệu đồng.

Tổng số tiền thuế các đơn vị đã ấn định thuế: 1,982 tỷ đồng

Đối với các mặt hàng trên, các đơn vị vẫn tiếp tục thực hiện kiểm tra, rà soát theo chỉ đạo của Lãnh đạo Cục.

  • Về quản lý và vận hành máy soi container:

Kết quả kiểm tra bằng máy soi cố định cho thấy, trong giai đoạn 2021 – 2025, tỷ lệ mở kiểm qua các năm có xu hướng giảm (năm 2023 là 23.1%, năm 2024 giảm còn 5.3% và năm 2025 giảm xuống còn 2.72%). Tỷ lệ phát hiện vi phạm trên mở kiểm khá cao và có xu hướng tăng: năm 2023 là 12%, năm 2024 giảm còn 10.6 % và năm 2025 là 12.2%. Tổng thu cho ngân sách từ phạt vi phạm hành chính là 932 triệu đồng năm 2024 và 631.5 triệu năm 2025. Số tiền thuế tăng thêm là 1,699 triệu đồng năm 2023 và 889.6 triệu năm 2025. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

  • Bảng 2.12: Kết quả kiểm tra hàng XNK qua máy soi container cố định.

Ngoài hệ thống máy soi container cố định, ngày 19/03/2022, Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đã đưa tiếp máy soi container di động vào hoạt động chính thức tại Cảng Green Port. Cả hai hệ thống có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra hàng hóa XNK, đẩy nhanh thông quan và đảm bảo yêu cầu kiểm tra chặt chẽ của Hải quan.

Kết quả kiểm tra bằng máy soi di động trong giai đoạn 2022 – 2025 cho thấy, tỷ lệ mở kiểm qua các năm có xu hướng tăng (năm 2023 là 5,7%, năm 2024 giảm xuống còn 1.1% và năm 2025 là 2.2%). Tỷ lệ phát hiện vi phạm trên mở kiểm khá cao và có xu hướng tăng: năm 2023 là 12.6%, năm 2024 tăng lên 40% và năm 2025 là 35.8%. Tổng thu cho ngân sách từ phạt vi phạm hành chính tăng từ 258 triệu đồng năm 2023 lên 413.6 triệu năm 2025. Số tiền thuế tăng thêm tăng là 487 triệu đồng năm 2023 và 267.8 triệu năm 2025.

  • Bảng 2.13: Kết quả kiểm tra hàng XNK qua máy soi container di động.

2.3.Những tồn tại, hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

Những kết quả và ưu điểm của quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử và thông quan tự động VNACCS/VCIS là không thể phủ nhận, tuy nhiên chúng ta cũng cần nhìn nhận những tồn tại, hạn chế hiện nay để có hướng khắc phục trong thời gian tới.

  • Về các rủi ro

Trước hết việc tiếp nhận, kiểm tra, cấp số đăng ký, phân luồng tờ khai điện tử của Hệ thống thông quan điện tử vẫn còn chứa đựng khá nhiều rủi ro, mặc dù việc phân luồng được nghiên cứu khá kỹ và hợp lý dựa vào bộ tiêu chí rủi ro được xây dựng.

Tình trạng doanh nghiệp gian lận về trị giá, phân loại hàng hoá, thuế suất, xuất xứ, sở hữu trí tuệ, khai báo sai về số lượng, chủng loại, chất lượng,…vẫn xảy ra nhằm làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tránh chính sách quản lý hàng hoá XNK của Nhà nước.

Tình trạng gian lận thương mại, buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới vẫn diễn ra, ngày càng phức tạp bằng nhiều thủ đoạn tinh vi nhằm trốn tránh kiểm soát hải quan.

  • Về mặt nhận thức

Việc áp dụng quản lý rủi ro đã được Tổng cục Hải quan đưa vào thực hiện trong toàn ngành đã có một thời gian khá dài và đã tạo sự chuyển biến lớn trong phương thức quản lý hướng tới nền hải quan hiện đại và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong các khâu nghiệp vụ, đặc biệt là thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hoá XNK. Tuy nhiên, cho tới nay, một bộ phận cán bộ công chức hải quan trong Ngành nói chung và Cục Hải quan thành phố Hải Phòng nói riêng chưa có sự nhận thức đầy đủ về công tác này. Trên thực tế chỉ một số bộ phận công chức làm thủ tục hải quan có kiến thức nhất định về quản lý rủi ro. Điều này làm hạn chế ít nhiều đến tính hiệu quả của việc triển khai tổ chức thực hiện áp dụng QLRR tại các khâu công tác, nhất là cấp Chi cục. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

  • Về tổ chức bộ máy

Đánh giá thực trạng cho thấy mô hình tổ chức và chức năng nhiệm vụ của Phòng quản lý rủi ro và các Chi cục hiện nay chưa phù hợp dẫn đến hiệu quả QLRR chưa cao, công chức làm công tác QLRR chưa đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng.

Phòng quản lý rủi ro là đơn vị được giao chủ trì thực hiện triển khai áp dụng quản lý rủi ro trong toàn Cục. Tuy nhiên, do thời gian thành lập chưa lâu, số lượng cán bộ công chức được đào tạo chuyên sâu, kinh nghiệm về quản lý rủi ro còn hạn chế nên cũng ảnh hưởng tới chất lượng công tác, đặc biệt mô hình tổ chức trong Phòng quản lý rủi ro chưa đáp ứng yêu cầu Quản lý rủi ro.

Cấp Chi cục chưa quy định rõ mô hình tổ chức QLRR, công chức của bộ phận QLRR thực hiện nhiệm vụ này với vai trò kiêm nhiệm, chưa được bồi dưỡng, đào tạo, hướng dẫn một cách bài bản về kỹ năng thu thập, đánh giá, xử lý thông tin nên hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu. Công tác quản lý rủi ro ở các đơn vị này mới dừng lại ở việc thu thập thông tin về doanh nghiệp do doanh nghiệp cung cấp và cập nhật vào hệ thống quản lý rủi ro.

  • Về phối hợp công tác trong việc thu thập thông tin

Việc thu thập, trao đổi, chia sẻ, phản hồi thông tin giữa Phòng quản lý rủi ro với các Phòng ban tham mưu, Chi cục hải quan, Đội Kiểm soát hiện nay còn hạn chế về số lượng và chất lượng chưa cao và việc cung cấp thông tin không thường xuyên, chưa kịp thời; Việc thu thập thông tin từ các nguồn khác do các tổ chức, cơ quan ngoài ngành cung cấp cũng còn gặp nhiều khó khăn như cơ quan Thuế, Quản lý thị trường…hầu như là không có.

  • Chất lượng thông tin và xử lý thông tin

Việc thu thập thông tin và xử lý thông tin là vấn đề mấu chốt, xuất phát điểm của công tác quản lý rủi ro, hiệu quả của quản lý rủi ro chính là khả năng thu thập thông tin và xử lý thông tin để xây dựng tiêu chí, cho việc xây dựng hồ sơ doanh nghiệp, hồ sơ rủi ro và áp dụng QLRR để Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử phân luồng hồ sơ.

Chất lượng thông tin thu thập hạn chế, đặc biệt là thông tin thu thập do doanh nghiệp cung cấp. Hiện nay, thông tin quản lý hồ sơ doanh nghiệp được cập nhật vào hệ thống chủ yếu do doanh nghiệp cung cấp trong khi đó cơ quan hải quan chưa có biện pháp kiểm tra xác định độ tin cậy của các thông tin do việc kết nối, trao đổi thông tin với các cơ quan quản lý, của các Bộ, Ngành hầu như chưa được thực hiện;

Công tác thu thập, đánh giá, phân tích thông tin, thiết lập tiêu chí rủi ro ở các Chi cục còn yếu, đa số các Chi cục thiết lập nhưng chất lượng chưa cao, hiệu quả phát hiện vi phạm không có;

Tiêu chí QLRR còn cứng nhắc chủ yếu dựa trên chế độ chính sách và quy trình, quy định. Tỷ trọng tiêu chí phân tích còn thấp với bộ tiêu chí được áp dụng trên hệ thống, việc đánh giá, điều chỉnh, bổ sung tiêu chí chưa linh hoạt, kịp thời;

Năng lực phân tích đánh giá rủi ro còn hạn chế, thiếu tính dự báo; khả năng đối phó với gian lận thương mại, các nguy cơ buôn lậu còn chậm, thậm chí bị động.

2.4. Nguyên nhân của hạn chế khi áp dụng áp dụng quản lý rủi ro vào trong thủ tục hải quan điện tử và thông quan tự động VNACCS/VCIS tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng

2.4.1. Nguyên nhân khách quan Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

Có nhiều nguyên nhân khách quan khiến tiến trình áp dụng QLRR vào quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa XNK không được như mong muốn. Một số trong những nguyên nhân khách quan chủ chốt là:

QLRR là nghiệp vụ tương đối mới đối với hầu hết các Chi cục và cán bộ công chức hải quan, đặc biệt là các cán bộ kiêm nghiệm. Do đó trong một thời gian ngắn ngành hải quan nói chung, từng cán bộ hải quan thành phố Hải Phòng nói riêng chưa kịp chuẩn bị đầy đủ để thích nghi nên dẫn đến vừa thiếu cơ sở vật chất, vừa thiếu kỹ năng cần thiết.

Áp lực công việc cao đối với đối với các tổ chức hải quan nói chung, nhân viên hải quan nói riêng. Trong nhiều năm trở lại đây, nhất là từ khi nước ta mở cửa thị trường trong nước, khuyến khích xuất khẩu và giao lưu kinh tế khối lượng hàng hóa XNK và thông quan khá lớn và liên tục tăng. Trong khi đó nguồn lực và con người không tăng với tốc độ tương ứng. Vì thế có tình trạng quá tải và không có thời gian học kỹ năng mới ở đa phần các cơ quan hải quan và nhân viên. Hơn nữa, do phải cải cách và hiện đại hóa nhanh để phục vụ cho tiến trình hội nhập của nền kinh tế cơ quan hải quan đã phải thực hiện nhiều nội dung cải cách một lúc như đổi mới mã số, đổi mới phương thức tính trị giá hải quan, áp dụng các loại thuế mới, áp dụng hải quan điện tử, khai hải quan từ xa, phát triển khai thuê hải quan… nên ngành hải quan không có điều kiện đầu tư tương xứng cho QLRR.

Quá trình soạn thảo và ban hành các quy trình thường chậm, thiếu đồng bộ, chắp vá. Hơn nữa, khi thế giới khó khăn, trong nước khó khăn thì nguồn lực trong nước và nước ngoài dành cho cải cách hải quan không được ưu tiên.

Ngoài ra, trong bối cảnh suy thoái, chính sách thương mại thay đổi cũng làm gián đoạn một phần tiến trình áp dụng QLRR.

Do quá trình thực hiện quản lý nhiều năm trước đây của hải quan Việt Nam nói chung và Cục Hải quan thành phố Hải Phòng nói riêng quá chú trọng đến kiểm soát trực tiếp nên không có điều kiện hình thành đội ngũ nhân viên có tri thức và trình độ khoa học cao để làm nhiệm vụ phân tích phân tích rủi ro. Hệ thống thông tin cũng không được chú trọng thu thập, xử lý và lưu giữ một cách hệ thống nên khi triển khai QLRR ngành hải quan phải xây dựng hệ thống thông tin phục QLRR ngay từ những khâu đầu tiên nên không thể đầy đủ và đồng bộ ngay được.

Một nguyên nhân khách quan nữa là đội ngủ doanh nhân ở nước ta chưa trưởng thành, có lịch sử phát triển ngắn nên chưa hành thành các chuẩn mực đạo đức kinh doanh nền tảng. Vì thế xác suất rủi ro không tuân thủ khá lớn. Trong khi đó hệ thống chế tài thực thi theo luật và hệ thống giải quyết tranh chấp có hiệu quả thấp nên chưa tạo được nền tảng tin tưởng cần thiết để thực hành QLRR. Biểu hiện rõ nhất là số vi phạm pháp luật hải quan những năm gần đây vẫn tiếp tục ở mức độ cao và chưa thấy xu hướng giảm, trong khi đó áp lực tăng thu và quy trình phân cấp QLRR chưa thật sự rõ ràng đã khiến nhân viên hải quan e ngại khi áp dụng QLRR. Họ ngại sự cố gây trách nhiệm nên cố níu kéo quan điểm và cơ chế kiểm soát chặt chẽ.

Do đặc thù của ngành hải quan thường xuyên luân chuyển cán bộ công chức từ khâu nghiệp vụ này sang khâu nghiệp vụ khác, một số cán bộ có kinh nghiệm trong QLRR, dẫn tới tình trạng không có cán bộ chuyên sâu về nghiệp vụ QLRR.

2.4.2. Nguyên nhân chủ quan

  • Các nguyên nhân chủ quan nằm hệ thống chính sách liên quan và con người thực thi QLRR.

Thứ nhất, hệ thống chính sách và luật pháp kinh tế ở nước ta đang trong quá trình hình thành và dung hòa với các nước khác nên hay thay đổi và chưa được rà soát kỹ càng để loại trừ các bất đồng cũng như bổ sung nhiều điểm khiếm khuyết. Chính vì thế QLRR buộc phải triển khai trên nền tảng chính sách phân tán, đôi khi không nhất quán và thậm chí còn mâu thuẫn với nhau.

Thứ hai, một số bộ phận cán bộ công chức chưa đáp ứng yêu cầu cải cách hải quan theo hướng hiện đại nhưng ngại học tập, thay đổi. Trên thực tế họ là những người cố níu kéo cách làm cũ vừa để phù hợp với cá nhân vừa để có lợi ích riêng từ công việc kiểm soát trực tiếp. Nếu không tuyên truyền để họ thay đổi thì quá trình cải cách theo hướng áp dụng QLRR sẽ khó. Bên cạnh đó, sự thiếu phối hợp giữa các cơ quan Bộ, ngành, cấp chính quyền địa phương và cá nhân (vấn đề chữ ký số, quy hoạch cảng, mã số hàng hóa…) càng làm cho việc kết nối, trao đổi thông tin chưa đạt hiệu quả.

Thứ ba, Tổng cục Hải quan còn chậm triển khai một số công đoạn tạo tiền đề cho các công đoạn áp dụng QLRR khác. Các chương trình phần mềm của từng nhóm nội dung công tác nghiệp vụ Hải quan chưa tương thích với nhau và khó tích hợp để phục vụ mô hình quản lý mới. Chương trình tự động hóa phục vụ thí điểm thủ tục hải quan điện tử còn bất cập trong triển khai thực hiện, mức động tự động hóa thấp; khả năng kết nối mạng với kho bạc, ngân hàng…, hạ tầng mạng chưa ổn định, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, không đảm bảo an ninh an toàn; phần mềm và giữ liệu cho hệ thống QLRR còn nhiều hạn chế.

Thứ tư, bản thân ngành Hải quan thời gian qua cũng chưa có một quy định cụ thể, rõ ràng về công việc và trách nhiệm của các cấp đơn vị hải quan và cá nhân không tích cực áp dụng QLRR. Do vậy nẩy sinh tư tưởng chây ì, ỷ lại của các đơn vị, cho rằng QLRR là việc của cấp khác, chỉ khi nào cấp trên chỉ đạo gắt gao mới nhúc nhắc triển khai. Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993