Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, giáo dục và đào tạo huyện Ninh Sơn

2.1.1. Điều kin t nhiên, tình hình kinh tế-xã hi

2.1.1.1. Điều kin t nhiên

Huyện Ninh Sơn nằm ở phía tây bắc tỉnh Ninh Thuận, cách thành phố Phan Rang-Tháp Chàm 36 km, thành phố Đà Lạt 74 km, thành phố Cam Ranh 52 km, tổng diện tích tự nhiên 77.194 ha, chiếm 22,95% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Phía Đông giáp Thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Phía Tây giáp huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Phía Nam giáp huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Phía Bắc giáp huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.

Huyện Ninh Sơn là cửa ngõ giao lưu của tỉnh Ninh Thuận với tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh Tây Nguyên, có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng. Với nhiều cảnh quan thiên nhiên, các điểm du lịch hấp dẫn như rừng nguyên sinh, đèo Ngoạn Mục, thác Sakai, khu du lịch sinh thái Sông Ông… là một lợi thế để phát triển du lịch sinh thái rừng, thể thao, leo núi, dịch vụ vui chơi giải trí nghỉ dưỡng. Là huyện có điều kiện tự nhiên thích hợp cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, được hưởng lợi đầu nguồn nhà máy thủy điện Đa Nhim, đập thủy lợi Sông Pha, Nha Trinh, hồ Cho Mo… đây là cơ hội tốt để phát triển kinh tế-xã hội của huyện trong giai đoạn tới. (Trang thông tin điện tử huyện Ninh Sơn, 2016)

2.1.1.2. Tình hình kinh tế-xã hi Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

Tính đến tháng 5 năm 2023 (nửa nhiệm kỳ giai đoạn 2020-2025), huyện tập trung chỉ đạo, điều hành nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn cơ bản hoàn thành và vượt các chỉ tiêu đề ra. Cụ thể:

Về kinh tế: (1) Tổng giá trị sản xuất bình quân trong 3 năm qua (năm 2021- 2023) mỗi năm 14,5% (chỉ tiêu 12-13%), trong đó giá trị sản xuất: Nông-lâm-thủy sản tăng 6,6% (chỉ tiêu 5-6%). Công nghiệp-xây dựng tăng 20,4% (chỉ tiêu 18-20%). Thương mại-dịch vụ đạt 10,1% (chỉ tiêu 11-12%). (2) Cơ cấu kinh tế ước tính năm 2023: (2) Nông-lâm nghiệp-thủy sản chiếm 31,7% (chỉ tiêu 25%). Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp-xây dựng chiếm 53,3% (chỉ tiêu 60%). Thương mại-dịch vụ chiếm 15% (chỉ tiêu 15%). (3) Thu ngân sách huyện ước tính năm 2023 thu được 88/88 tỷ đồng đạt 100% (chỉ tiêu Nghị quyết đến năm 2025 đạt 95 tỷ đồng). (4) Thu nhập bình quân đầu người ước tính năm 2023 đạt 49 triệu đồng (Chỉ tiêu Nghị quyết đến năm 2025: 53,3). (5) 5/7 xã đạt chuẩn nông thôn mới. (6)

  • Xây dựng thị trấn Tân Sơn đạt chuẩn đô thị loại 4 đến cuối năm 2023 đạt 56/59 tiêu chí.

Về văn hóaxã hội: (1) Tỷ lệ trường đạt CQG mức độ 1 đạt 60,52% (chỉ tiêu Nghị quyết 69%); 2/3 trường công nhận trường đạt CQG mức độ 2. (2) Số lao động được giải quyết việc làm 7.560 lao động. (3) Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: 1.100 lao động. (4) Tỷ lệ hộ nghèo ước tính năm 2023 là: 4,19 (Nghị quyết dưới 6%). (5) Tỷ lệ tham gia BHYT đạt: 93,65% (Nghị quyết trên 96%). (6) Tỷ lệ hộ dân được cấp nước đạt tiêu chuẩn: 99% (Nghị quyết trên 97%). (7) Thu gom rác thải trong dân đạt 71% (Nghị quyết 90%). (Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn, 2023)

2.1.2. Tình hình phát trin giáo dc tiu hc

2.1.2.1. Quy mô, cơ cấu

Những năm qua, mạng lưới trường lớp trên địa bàn huyện Ninh Sơn đã được đầu tư xây dựng, thuận lợi cho học sinh đến trường. Các trường dần được củng cố, hoàn thiện gắn với mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng nhu cầu dạy-học cũng như thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Đối với bậc TH, tính trong 3 năm trở lại đây, số trường TH ổn định (tổng có 21 trường, giảm 1 trường do sáp nhập 2 trường TH thành 1 trường TH); tổng số lớp, số học sinh tăng không đáng kể (tăng 7 lớp với 324 học sinh). Riêng năm học 2022-2023 số lớp học 2 buổi tăng nhiều hơn so với 2 năm học trước đó (10 lớp) do thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018. (Phòng GD&ĐT huyện Ninh Sơn, 2022a)

Như vậy, về cơ bản quy mô, cơ cấu trường, lớp, học sinh TH huyện Ninh Sơn những năm gần đây tương đối ổn định, giao động không nhiều. Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

2.1.2.2. Chất lượng giáo dc

Các nhà trường đã và đang tập trung nguồn lực thực hiện song song hai chương giáo dục đó là Chương trình giáo dục phổ thông 2006 và Chương trình giáo dục phổ thông 2018 hướng đến nâng cao chất lượng dạy-học và chất lượng các hoạt động giáo dục. Nhìn chung, chất lượng từng bước được nâng lên. Cụ thể:

Về chất lượng dạy học: Tính 3 năm gần nhất, số học sinh đủ tuổi được tuyển sinh vào lớp 1 đạt 100%; số học sinh hoàn thành chương trình bậc TH đạt 100%; số học sinh hoàn thành chương trình lớp học trong đó tỷ lệ học sinh hoàn thành tốt tăng, tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành giao động từ 1,67% đến 2,18%. Điều này cho thấy, để đạt được kết quả trên, ngành GD&ĐT huyện Ninh Sơn đã có những nỗ lực tuy nhiên vẫn còn những khó khăn nhất định. Do đó, ngành GD&ĐT huyện nhà cần tiếp tục nỗ lực, tăng cường các giải pháp để khắc phục những khó khăn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. (Phòng GD&ĐT huyện Ninh Sơn, 2023b)

Về chất lượng các hoạt động giáo dục: Các cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo dức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với các phong trào thi đua “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”… được đẩy mạnh; các hội thi nâng cao chất lượng dạy-học, kỹ năng sống cho học sinh được chú trọng. Những năm gần đây, số lượng học sinh đạt các giải cao trong các cuộc thi (Em yêu lịch sử, Kể chuyện theo sách, IOE…), tham gia các lớp kỹ năng sống (phòng tránh đuối nước, an toàn giao thông …), tham gia các câu lạc bộ (em yêu cờ vua, bóng đá…)… tăng. Điều này cho thấy, sự chú trọng và quan tâm của ngành nhằm mục đích giúp các em phát triển toàn diện về mọi mặt. (Phòng GD&ĐT huyện Ninh Sơn, 2023b)

2.1.2.3. Đội ngũ cán b qun lý, giáo viên và nhân viên

Đội ngũ CBQL đảm bảo đủ tiêu chuẩn chung về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận, chứng chỉ và phẩm chất đạo đức. Số CBQL và GV đạt chuẩn trình độ chiếm 82,6% và đang tiếp tục thực hiện chuẩn hóa, nâng trình độ chuẩn ngạch bậc, chức danh, vị trí công tác theo lộ trình nhằm đảm bảo đội ngũ CBQL và GV đạt chuẩn về chất lượng, đáp ứng nhu cầu giáo dục. Bên cạnh đó, ngành cũng luôn có kế hoạch tạo nguồn đảm bảo cho công tác quy hoạch và bổ nhiệm CBQL.

Về số lượng, tính đến năm học 2022-2023, số lượng biên chế giảm cụ thể số lượng biên chế là CBQL không thay đổi, số lượng biên chế là GV giảm 13 biên chế. Số lớp học tăng tuy không nhiều song đòi hỏi số biên chế GV phải tăng nhưng thực tế số lượng biên chế GV thiếu so với nhu cầu. Bên cạnh đó, thiếu số lượng GV giảng dạy môn Tin học-Công nghệ. Ngành giáo dục huyện đã tham mưu với Ủy ban nhân dân huyện kế hoạch tuyển dụng viên chức, cử GV có năng lực tham gia bồi dưỡng để giảng dạy môn Tin học-Công nghệ tuy nhiên đến thời điểm này các lớp bồi dưỡng vẫn chưa được triển khai. (Phòng GD&ĐT huyện Ninh Sơn, 2022b) Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

2.1.2.4. Công tác tự đánh giá, kim định chất lượng giáo dc

Công tác TĐG, KĐCLG bậc TH huyện Ninh Sơn luôn được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp, sự đồng hành của phụ huynh học sinh. Đến nay, 100% các đơn vị trường học đã chú trọng và triển khai thực hiện công tác TĐG, KĐCLGD. Để đạt được kết quả này, Phòng GD&ĐT huyện đã có những chỉ đạo, triển khai các văn bản hướng dẫn kịp thời. Ngoài ra, còn thành lập ban cố vấn là đội ngũ CBQL có kinh nghiệm hỗ trợ các CSGD thực hiện TĐG, KĐCLG. Thường xuyên tham mưu với Ủy ban nhân dân huyện đầu tư cơ sở vật chất nhằm đảm bảo đủ phòng ốc phục vụ cho hoạt động dạy-học, cho việc tiến đến đủ điều kiện để đạt KĐCLGD, công nhận CQG. Nhờ vậy, toàn huyện có 100% trường TH đã cập nhật kết quả TĐG trên phần mềm KĐCLGD, có 13/21 trường đạt KĐCLGD/CQG (các trường đạt được theo Thông tư 59/2012-trước đây và Thông tư 17/2018-hiện hành của Bộ GD&ĐT). Bên cạnh đó, phòng GD&ĐT huyện Ninh Sơn đã xây dựng kế hoạch dự kiến thời gian cụ thể để các trường phấn đấu đạt mục tiêu và hoàn thiện hồ sơ nhằm đăng ký KĐCLGD. (Phòng GD&ĐT huyện Ninh Sơn, 2022c)

2.1.2.5. Cơ sở vt cht, trang thiết b dy hc

Tổng số phòng học, phòng chức năng: có 297 phòng/297 lớp. Với số phòng học hiện có, các đơn vị trường học trên địa bàn huyện cơ bản đảm bảo thực hiện giảng dạy 2 buổi/ngày và đáp ứng được cho đổi mới chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 (1 lớp/phòng). Tuy nhiên, đối với phòng chức năng và phòng bộ môn (phòng tin học, phòng ngoại ngữ) chưa đảm bảo.

Trang thiết bị phục vụ cho Chương trình hiện hành (Chương trình giáo dục phổ thông 2006) tương đối đảm bảo. Song thiết bị cấp phát để phục vụ cho công tác đổi mới (Chương trình giáo dục phổ thông 2018) chưa kịp thời; thiết bị dạy học Tiếng Anh, Tin học thiếu. (Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn, 2022)

Như vậy, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cần tiếp tục được bổ sung và đầu tư kịp thời nhằm đảm bảo phục vụ Chương trình giáo dục phổ thông 2018 nói riêng và đảm bảo cho việc đổi mới trong giáo dục nói chung.

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng về hoạt động tự đánh giá và quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

2.2.1. Mục đích khảo sát

Khảo sát thực trạng hoạt động TĐG, quản lý hoạt động TĐG và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Từ đó, tìm hiểu thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận trong bối cảnh hiện nay.

2.2.2. Nội dung khảo sát

  • Thực trạng hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
  • Thực trạng quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

2.2.3. Phương pháp khảo sát

  • Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

Tiến hành khảo sát thực trạng hoạt động, quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận và thực trạng các điều kiện tác động đến hoạt động TĐG chất lượng CSGD, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD để hỏi ý kiến của CBQL, GV. Tác giả đã thăm dò ý kiến 100% CBQL (38/38) của 21 trường TH trên địa bàn và 72,90% GV (191/262) của 14 trường TH đại diện trên địa bàn (các trường thuộc 07 xã và 01 thị trấn; các trường đã đạt/chưa đạt KĐCLGD, CQG; các trường đặc thù có 100% học sinh dân tộc thiểu số). Như vậy, có 229 người là CBQL, GV tham gia khảo sát. Số lượng đối tượng khảo sát được trình bày ở bảng 2.1 và 2.2 như sau:

  • Bảng 2.1. Bảng thống kê số lượng khảo sát giáo viên và cán bộ quản lý

Đặc điểm của đối tượng khảo sát được trình bày ở bảng 2.2. như sau:

  • Bảng 2.2. Đặc điểm cán bộ quản lý và giáo viên được khảo sát

Theo số liệu cho thấy, đối tượng khảo sát là CBQL, GV là nữ giới chiếm đa số. Cụ thể: nam 19,65%, nữ 80,35%. Về độ tuổi từ 40 đến 50 tuổi chiếm đến 50,22%. Thâm niên công tác của các đối tượng tập trung khoảng từ 15 đến dưới 25 năm với tỷ lệ 42,79%. CBQL, GV có trình độ chuyên môn đạt chuẩn là 96,07%.

Như vậy, qua phân tích ở các bảng 2.1 và 2.2, đối tượng khảo sát về độ tuổi, giới tính, trình độ đào tạo, vị trí công tác… có đặc điểm phù hợp với đặc điểm chung của đội ngũ CBQL, GV bậc TH trên địa bàn khảo sát. Điều này, đảm bảo cho phép đề tài thu thập được thông tin về thực trạng hoạt động và quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

Đối với phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn các đối tượng là CBQL của 21 trường TH và GV của 14 trường TH như đã nêu ở trên nhằm thu thập các thông tin định tính hỗ trợ cho kết quả nghiên cứu khảo sát.

Tập hợp, phân loại, nghiên cứu hồ sơ quản lý như các kế hoạch; báo cáo TĐG; quyết định thành lập Hội đồng TĐG; các phiếu xác định nội hàm, phân tích tiêu chí tìm minh chứng tiêu chí, phiếu đánh giá tiêu chí và các sản phẩm khác của CBQL, GV liên quan đến quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

Sau khi thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20 và Microsoft Excel 2016 để xử lý thông tin mang tính định lượng. Đối với thông tin định tính (từ bảng khảo sát, phỏng vấn, phân tích hồ sơ), tác giả tiến hành trích lọc các ý kiến để phân tích thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

2.2.4. Mu kho sát

Sử dụng 01 mẫu khảo sát dành cho CBQL của 21 trường TH (Phụ lục 4) và 01 mẫu khảo sát dành cho GV của 14 trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận (Phụ lục 5).

2.2.5. Xây dựng thang đo

Thang đo được đề cập ở đây là một tập hợp các tiêu chí hay các câu hỏi thể hiện được những khía cạnh của một khái niệm. Thang đo sử dụng trong phiếu khảo sát chủ yếu là thang đo thứ bậc và khoảng cách để xác định các tham số trong thống kê mô tả như giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần số, tỷ lệ%… Ngoài ra, sử dụng thang đo danh nghĩa để xác định tên gọi và đặc điểm của đối tượng khảo sát.

Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý, khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert với 5 mức độ. Cụ thể:

Giá trị trung bình = (Max – Min)/N = (5-1)/5 = 0,8

Ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng cụ thể trong bảng như sau:

  • Bảng 2.3. Quy ước mức đánh giá, phân tích số liệu

Quy ước trên sẽ được sử dụng để phân tích kết quả khảo sát các thực trạng.

2.2.6. Kiểm tra độ tin cy của thang đo Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

Một thang đo tốt là một thang đo tập hợp được các tiêu chí/câu hỏi/biến quan sát phản ánh đầy đủ mọi khía cạnh của khái niệm, vấn đề cần đo lường và các tiêu chí này không bị trùng lặp nhau về nội dung.

Để kiểm tra độ tin cậy thang đo, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20 nhằm xác định hệ số Cronbach Alpha. Alpha của Cronbach thường nằm trong khoảng từ đến 1. Thang đo có hệ số Cronbach Alpha ≥ 0,6 là thang đo chấp nhận được về mặt độ tin cậy.

Kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận:

  • Bảng 2.4. Hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo hoạt động

Kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận:

  • Bảng 2.5: Hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo quản lý

Kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo được trình bày ở trên đều có các giá trị Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,7. Điều này cho thấy, thang đo đã phản ánh một cách đầy đủ mọi khía cạnh của khái niệm và không có sự trùng lắp giữa các biến quan sát. Như vậy, các thang đo có độ tin cậy tốt.

2.3. Kết quả khảo sát thực trạng về hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận

2.3.1. Thc trng v mục đích ca hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dc ti các trường tiu hc huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thun

Việc xác định rõ mục đích của hoạt động TĐG đóng vai trò quan trọng trong quá trình triển khai hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH giúp CBQL, GV lấy đó làm tiêu chí định rõ hướng đi, hành động. Để xác định được mục đích, một số câu hỏi mà CBQL, GV cần phải được đặt ra đó là hoạt động TĐG giúp được những gì cho trường, CBQL và GV?; có phải hoạt động TĐG sẽ giúp nhà trường xác định được điểm mạnh, điểm yếu, giúp đề ra được biện pháp để cải tiến phù hợp hay không?… sẽ là những điều hết sức quan trọng. Qua bảng 2.6 đã thể hiện rõ nét về mục đích của hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH.

Bảng 2.6. Ý kiến đánh giá của giáo viên về mục đích của hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học

Tất cả 5 nội dung được khảo sát về mục đích hoạt động TĐG đều được đánh giá ở mức khá cao với ĐTB xoay quanh giá trị 3,98 cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

Mục đích được xác định rõ, được đánh giá ở mức tốt và xếp ở vị nhất nhì và có độ phân tán thấp đó là giúp nhà trường biết được điểm mạnh, điểm yếu của nhà trường một cách chính xác (ĐTB 4,29); thông qua hoạt động TĐG của CSGD là cơ sở để địa phương và cấp trên có những biện pháp hỗ trợ kịp thời (ĐTB 4,22). Điều này cho thấy, mục đích hoạt động TĐG tại các CSGD rất rõ ràng, chủ yếu xoay quanh đến việc giúp nhà trường xác định điểm mạnh, điểm yếu một cách chính xác và qua hoạt động là cơ sở để địa phương, cấp trên có những biện pháp hỗ trợ kịp thời cho trường. Mục đích giúp nhà trường đưa ra biện pháp cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục có ĐTB 4,09 và được xếp vị thứ 3. Các mục đích công khai chất lượng, thể hiện tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mình đối với hoạt động GD&ĐT và qua hoạt động TĐG giúp CBQL, GV hiểu và thấy được tầm quan trọng của hoạt động TĐG trong giai đoạn hiện nay; nhận thức được trách nhiệm cá nhân; hiểu và nắm phương pháp thực hiện; xem đây là hoạt động thường niên của nhà trường được đánh giá ở mức khá (ĐTB 3,47-3,84) và có độ phân tán cao nhất. Các CSGD cần quan tâm hơn các mục đích này.

Nhìn chung, các CSGD tại các trường TH trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đã xác định khá đầy đủ các mục đích của hoạt động TĐG. Nếu CSGD xác định mục đích càng rõ ràng thì sẽ là tiền đề tốt để hoạt động TĐG chất lượng tại các CSGD càng hiệu quả.

2.3.2. Thực trạng thực hiện nội dung của hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận

Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện nội dung TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận được trình bày ở bảng 2.7 dưới đây:

Bảng 2.7. Ý kiến đánh giá của giáo viên về thực trạng thực hiện nội dung tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học

Bảng 2.7 cho thấy, ý kiến đánh giá về việc thực hiện các nội dung TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH có kết quả thực hiện ở mức khá (ĐTB chung 3,86) và các ý kiến khảo sát có độ đồng thuận cao (ĐLC chung 0,658). Trong quá trình thực hiện, các nhà trường làm tốt các nội dung thuộc tiêu chuẩn 1, tiêu chuẩn 4. Điều này cho thấy sự tương đồng khi thực hiện 2 nội dung này so với đặc điểm về kinh nghiệm quản lý của CBQL tại các CSGD (thâm niên quản lý từ 15 năm trở lên 70,05%).

Các nội dung bao gồm tiêu chuẩn 5; tiêu chuẩn 2 được đánh giá ở mức khá (ĐTB 3,77 và 3,69). Song nội dung thuộc tiêu chuẩn 2 có độ tán thành giữa các ý kiến khá cao (với 0,830). Điều này cho thấy, các CSGD có những khó khăn riêng khi thực hiện nội dung này. Qua tìm hiểu, do biên chế tại các CSGD chưa thực hiện đủ theo số lượng giao, một số trường thiếu GV chuyên nhất là GV Tin học. Bên cạnh đó, do phải thực hiện tinh giảm 10% biên chế đối với sự nghiệp giáo dục giai đoạn 2022-2026 dẫn đến tình trạng thiếu biên chế GV. Bên cạnh đó, một số CSGD như trường TH Tà Nôi, TH Mỹ Sơn C (đặc thù 100% học sinh dân tộc) nên việc đảm bảo tỷ lệ hoàn thành chương trình lớp học (ít nhất 70%), hoàn thành chương trình TH sau 5 năm (ít nhất 70%) còn khó khăn. Một số CSGD có số học sinh dân tộc thiểu số chiếm không nhiều chỉ khoảng 14,06% như trường TH Hòa Sơn nhưng việc đảm bảo kết quả giáo dục cũng gặp không ít khó khăn bởi điều kiện kinh tế-xã hội còn khó khăn và nhận thức của người dân còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

Riêng tiêu chuẩn 3 được đánh giá ở mức trung bình và được sự đồng thuận cao của các ý kiến tham gia khảo sát (ĐTB 3,37 và ĐLC 0,634). Đây là khó khăn chung đối với các CSGD trên địa bàn. Khi tìm hiểu về vấn đề này, một số CSGD chưa đảm bảo số phòng học (bao gồm phòng học, phòng chức năng) để đáp ứng yêu cầu dạy học 9 buổi/tuần đối với chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Muốn đảm bảo đòi hỏi một nguồn ngân sách lớn và các CSGD không thể tự thân vận động được. Trong khi đó, hiện nay, huyện Ninh Sơn không còn là huyện khó khăn. Không chỉ vậy, có CSGD diện tích sân chơi, bãi tập chưa đảm bảo theo quy định trong khi diện tích đất có giới hạn. Ngoài ra, một số trang thiết bị phục vụ cho chương trình Giáo dục phổ thông 2018 như loa, máy tính, hay ti vi thông minh… chưa đáp ứng được so với yêu cầu hiện nay. Có CSGD chỉ có 1 cái ti vi sử dụng vừa cho điểm chính vừa cho điểm lẻ. Hay phòng có ti vi, các lớp sẽ được thay phiên học. Để xã hội hóa thông qua công tác vận động, một số CSGD còn gặp khó khăn về mặt pháp lý. Một trong những nguồn vận động lớn từ các mạnh thường quân là các công ty đóng trên địa bàn thì không dễ dàng do bị ảnh hưởng của dịch Covid-19. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đánh giá là một trong những yếu tố quyết định tới chất lượng đào tạo. Do vậy, trong thời gian tới, các cấp cần quan tâm, đầu tư và trang bị kịp thời cho các CSGD.

Như vậy, qua khảo sát về nội dung thực hiện hoạt động TĐG thấy được thế mạnh của các CSGD khi thực hiện nội dung về tổ chức và quản lý nhà trường; nội dung về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội đồng thời cũng thấy được khó khăn khi thực hiện nội dung về CBQL, GV, nhân viên và học sinh; nội dung cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học thuộc.

2.3.3. Thực trạng phương pháp thực hiện hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận

Để hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH hiệu quả đòi hỏi nhà trường cần tiến hành các hoạt động cụ thể theo đúng quy trình, đúng kỹ thuật và hình thức phù hợp với hoạt động đặc thù là TĐG. Tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng và thu được kết quả thể hiện vấn đề này ở bảng 2.8 như sau:

Bảng 2.8. Ý kiến đánh giá của giáo viên về thực trạng phương pháp và hình thức tổ chức thực hiện hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

Qua kết quả bảng 2.8 cho thấy, khi thực hiện các bước trong quy trình TĐG, các CSGD luôn thực hiện tốt các bước 1 (thành lập Hội đồng TĐG), 2 (lập kế hoạch TĐG), 6 (công bố báo cáo TĐG) và 7 (triển khai các hoạt động sau khi hoàn thành báo cáo TĐG) và được các ý kiến khảo sát đánh giá ở mức tốt, nhận được sự đồng thuận cao (ĐTB 4,21-4,40 và ĐLC 0,533-0,588). Còn các bước còn lại là 3 (thu thập, phân tích và xử lý các minh chứng), 4 (đánh giá các mức đạt được theo từng tiêu chí) và 5 (viết báo cáo TĐG) chưa được đánh giá cao, chỉ ở mức khá nhưng gần với thang đo ở mức trung bình. Điều này cho thấy, các CSGD còn gặp nhiều khó khăn khi thực hiện các bước này. Kết quả phỏng vấn thu được là: các thành viên tham gia hoạt động này chưa nắm và hiểu rõ nội hàm của từng tiêu chí, tiêu chuẩn; bỏ qua phiếu xác định nội hàm, cách xác định hay phân vân với thực trạng đó thì tiêu chí đó sẽ được đánh giá ở mức nào, để viết được báo cáo đánh giá bắt đầu từ đâu, văn phong để viết báo cáo…

Cũng như các hoạt động khác, hoạt động TĐG cũng có một số kỹ thuật đặc thù riêng. Từ kết quả trên cho thấy, các nhà trường đều sử dụng các kỹ thuật cơ bản và đặc trưng nhất khi thực hiện hoạt động TĐG và các ý kiến khảo sát đều đánh giá ở mức khá cao gần với thang đo ở mức tốt như nghiên cứu văn bản, hồ sơ; quan sát; phỏng vấn và xử lý, phân tích dữ liệu. Riêng kỹ thuật thảo luận nhóm được đánh giá ở mức tốt (ĐTB 4,26). Điều này cho thấy sự tương tác tốt giữa các thành viên. Song kỹ thuật thiết lập các dữ liệu thống kê tuy được đánh giá ở mức khá nhưng lại gần với thang đo ở mức trung bình (ĐTB 3,44). Khi thực hiện các kỹ thuật TĐG trên, các ý kiến đánh giá có độ phân tán tương đối cao (ĐLC 0,879). Có lẽ hiệu quả của việc tổ chức tập huấn, hướng dẫn về kỹ thuật này cho các thành viên tham gia TĐG tại các nhà trường chưa cao. Đây là cơ sở để các nhà trường cần cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này. Qua phỏng vấn, tác giả thu được: các thành viên chưa được tham gia tập huấn, chỉ tự nghiên cứu để thực hiện; mỗi CSGD chỉ có 01 CBQL và 01 GV cốt cán tham gia tập huấn tại Sở và thời gian tập huấn quá ngắn.

Kết quả về hình thức TĐG phản ánh thực trạng hiện nay việc tổng hợp dưới dạng file luôn được các nhà trường thực hiện tốt được đánh giá ở mức tốt và đồng thuận cao (ĐTB 4,23 và ĐLC 0,589). Còn việc tổng hợp dưới dạng phần mềm được các nhà trường thực hiện khá tốt, được các ý kiến đánh giá ở mức khá (ĐTB 3,93). Tuy nhiên, hình thức tổng hợp này có độ phân tán rất cao (ĐLC 0,924). Phải chăng việc ứng dụng công nghệ thông tin giữa các nhà trường là không đồng đều. Qua khảo sát: đa số minh chứng bằng bản giấy, có nhiều loại không có file cũ, khi đưa minh chứng lên phần mềm đòi hỏi phải biết sử dụng ứng dụng, khi chuyển đổi hình ảnh thành dạng file PDF hay file ảnh thì dung lượng quá lớn không cho phép tải lên… Đây là khâu khá mất nhiều thời gian.

Nhìn chung, trong quá trình thực hiện, các nhà trường luôn đảm bảo thứ tự thực hiện các bước trong quy trình, sử dụng các kỹ thuật cũng như tổng hợp báo cáo đầy đủ dưới hai hình thức. Tuy nhiên, trong thực hiện vẫn còn một số khó khăn nhất định trong đánh giá mức đạt được của từng tiêu chí, viết báo cáo và thiết lập dữ liệu thống kê. Do vậy, các nội dung này cần được cải tiến.

2.3.4. Thực trạng thực hiện các điều kiện hỗ trợ tác động hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

Bất kỳ hoạt động nào cũng cần nguồn kinh phí để thực hiện. Một số hoạt động còn cần nhiều đến thời gian, sự ủng hộ, đồng thuận từ nhiều phía. Để thực hiện hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH hiệu quả thì việc chuẩn bị các điều kiện hỗ trợ cần thiết thật tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động. Qua đó, nhà trường sẽ triển khai, tổ chức thực hiện hoạt động được thuận lợi và đạt chất lượng. Bảng 2.9 thể hiện thực trạng các điều kiện hỗ trợ tác động đến hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

Bảng 2.9. Ý kiến đánh giá của giáo viên về thực trạng thực hiện các điều kiện hỗ trợ tác động hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học

Bảng 2.9 cho thấy, các điều kiện hỗ trợ hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận nhìn chung được đánh giá ở mức khá nhưng chưa cao (ĐTB chung 3,75 và ĐLC 0,715). Trong đó, các nội dung về tổ chức, bố trí phòng làm việc, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động TĐG; tạo sự đồng thuận cao từ cấp ủy, chính quyền, phụ huynh học sinh và các thành viên trong nhà trường và bố trí, sắp xếp thời gian làm việc cho các thành viên tham gia hoạt động TĐG được đánh giá ở mức khá (ĐTB 3,95-4,17). Riêng nội dung tạo sự đồng thuận cao từ cấp ủy, chính quyền, phụ huynh học sinh, các thành viên trong nhà trường được sự đồng thuận cao nhất trong các nội dung khảo sát (ĐLC 0,569). Ở một khía cạnh nào đó cho thấy mối quan hệ, sự hỗ trợ, đồng tình khá tốt giữa nhà trường với cấp ủy, chính quyền, phụ huynh học sinh cũng như các thành viên trong nhà trường. Ngược lại các nội dung tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền tại nhà trường và nguồn kinh phí cho hoạt động cũng như chính sách hỗ trợ, khen thưởng, động viên đối với đội ngũ tham gia thực hiện TĐG chất lượng CSGD chỉ được đánh giá ở mức trung bình (ĐTB lần lượt là 3,31 và 3,21). Điều này cho thấy, có nhà trường quan tâm và thực hiện hai nội dung này tốt hơn nhưng cũng có nhà trường chưa quan tâm đúng mức 2 nội dung này.

Qua tìm hiểu, hầu hết các phòng chỉ đủ để sử dụng làm phòng học. Tuy nhiên, ban giám hiệu luôn cố gắng tổ chức, bố trí phòng làm việc, trang thiết bị ở mức tốt nhất mà nhà trường có thể như sắp xếp, bố trí phòng thiết bị, phòng thư viện, phòng Đội (trong đó có kệ, tủ, máy tính, văn phòng phẩm…) làm phòng để phân tích, xử lý thông tin minh chứng, cập nhật minh chứng vào phần mềm. Thực tế, phần lớn GV đều dạy 2 buổi/ngày. Đội ngũ GV chủ chốt vừa đứng lớp dạy vừa kiêm nhiệm thời gian để tham gia hạn hẹp. Song các CSGD đã lựa chọn khoảng thời gian sau khi tổng kết năm học hay các tháng hè để tiến hành hoạt động. Ngoài ra, Hiệu trưởng còn phát huy tính chủ động của các nhóm trong việc các nhóm chủ động thu thập theo kiểu “cuốn chiếu” thực hiện đến đâu thu thập đến đó. Qua phỏng vấn, nguồn kinh phí cấp cho các hoạt động của trường TH trong đó đã bao gồm hoạt động TĐG là 11% trong tổng tiền lương. Do đó, việc hỗ trợ chi hoạt động hay chi cho cho thành viên tham gia TĐG chất lượng CSGD dường như là hạn hẹp, thậm chí là không có, nếu có chỉ là hỗ trợ 1 lần/năm.

Như vậy, qua khảo sát thấy được ưu điểm của các CSGD trong việc tổ chức, bố trí phòng làm việc, trang thiết bị cũng như sắp xếp thời gian cho các thành viên tham gia TĐG hay ưu điểm trong việc tạo được sự đồng thuận từ các cấp. Song qua đó cũng thấy được khó khăn về nguồn kinh phí khi hoạt động hay hạn chế trong công tác tuyên truyền về hoạt động tại các CSGD. Do vậy, các CSGD cần tiếp tục phát huy đồng thời khắc phục những khó khăn, hạn chế trên.

2.4. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

2.4.1. Thc trng nhn thc ca cán b qun lý v tm quan trng qun lý hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dc ti các trường tiu hc huyn Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thun

Nhận thức của CBQL về tầm quan trọng trong công tác quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD là điều cần thiết để thiết lập nên chuỗi giá trị khi tiến hành quản lý. Nếu CBQL nhận thức đầy đủ sẽ giúp hoạt động TĐG của CSGD được đẩy mạnh và hiệu quả. Kết quả khảo sát nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH được thể hiện ở bảng 2.10 sau đây:

Bảng 2.10. Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học

Qua kết quả phân tích bảng dữ liệu về tầm quan trọng quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH với 5 nội dung được khảo sát với ĐTB xoay quanh 4,33 và ĐLC 0,679. Đối chiếu với bảng thang đo nhận thấy rằng đội ngũ CBQL đã nhận thức về tầm quan trọng của việc trọng quản lý hoạt động này ở mức độ rất đồng ý và được các ý kiến khảo sát có độ đồng thuận cao. Đội ngũ CBQL đều nhận thấy công tác quản lý hoạt động TĐG trong trường giúp hoạt động đi đúng hướng, đúng quy trình, đúng tiến độ, hiệu quả. Bên cạnh đó, giúp Hiệu trưởng rà soát, xem xét, đánh giá thực trạng các hoạt động, từ đó điều chỉnh mục tiêu, kế hoạch và hành động cho giai đoạn tiếp theo. Đồng thời, làm cơ sở để nhà trường đăng ký đánh giá ngoài, tiến tới xây dựng đơn vị đạt chất lượng cao, thương hiệu và uy tín được xã hội biết đến, thừa nhận. Qua đó, giúp Hiệu trưởng điều chỉnh việc sử dụng và phối hợp các nguồn lực trong và ngoài nhà trường một cách có hiệu quả hơn. Ngoài ra, quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD giúp nâng cao ý thức, đẩy mạnh tinh thần hợp tác của các thành viên tham gia hoạt động TĐG.

Tuy nhiên, nội dung quản lý hoạt động TĐG giúp nâng cao ý thức, đẩy mạnh tinh thần hợp tác của đội ngũ CBQL, GV và nhân viên trong thực hiện hoạt động được đánh giá ở mức thấp nhất (ĐTB 4,16 và ĐLC 0,679). Thực tế, để thông qua hoạt động TĐG tác động ngược trở lại đến đội ngũ GV và nhân viên nhất là về mặt nhận thức, về tinh thần hợp tác là không dễ. Điều này đòi hỏi Hiệu trưởng nhà trường quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD phải thực chất và hiệu quả. Nhìn chung, đội ngũ CBQL tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận nhận thức tốt về tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD.

2.4.2. Thc trng vic xây dng kế hoch hot động tự đánh giá cht lượng cơ sở giáo dc ti các trường tiu hc huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thun Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

Xây dựng kế hoạch hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH rất quan trọng đối với Hiệu trưởng trong công tác quản lý hoạt động TĐG. Nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu nhằm hướng đến mục đích cần đạt của mỗi CSGD. Nó giúp cho nhà trường tối ưu hóa các nguồn lực, thời gian và nguồn ngân sách, đảm bảo cho hoạt động TĐG chất lượng CSGD đạt hiệu quả. Bảng 2.11 sẽ trình bày ý kiến đánh giá của CBQL về thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

Bảng 2.11. Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học

Qua kết quả khảo sát bảng 2.11, thực trạng về xây dựng kế hoạch TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH được đánh giá ở mức khá (ĐTB 4,09) và có các ý kiến khảo sát đồng thuận cao (ĐLC 0,647).

Trong các nội dung khảo sát, việc xây dựng kế hoạch chiến lược có mục tiêu hằng năm thực hiện TĐG chất lượng CSGD, xây dựng kế hoạch năm học có mục tiêu TĐG chất lượng CSGD được đánh giá ở mức cao nhất và tốt trong các nội dung khảo sát (ĐTB lần lượt 4,24 và 4,21). Qua nghiên cứu một số hồ sơ, tác giả ghi nhận các kế hoạch được xây dựng cụ thể, có xác định mục tiêu, thời gian, đối tượng tiến hành… rõ ràng, phù hợp với đặc trưng riêng của từng CSGD, đảm bảo để các nhà trường thực hiện mục tiêu TĐG chất lượng CSGD hằng năm.

Các nội dung xây dựng kế hoạch cụ thể TĐG chất lượng CSGD; xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp thực hiện hoạt động TĐG chất lượng CSGD; xác định những thuận lợi và khó khăn trong thực hiện hoạt động TĐG chất lượng CSGD nhằm dự kiến giải pháp khắc phục; phân tích thực trạng hoạt động TĐG chất lượng CSGD của nhà trường và xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động TĐG chất lượng CSGD được đánh giá ở mức khá (ĐTB từ 4,03-4,16 và ĐLC từ 0,578-0,677) và xếp hạng từ 3 đến 7. Điều này cho thấy, các CSGD rất quan tâm và đầu tư trong việc xây dựng kế hoạch cụ thể; xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp; thuận lợi và khó khăn; phân tích thực trạng của CSGD mình hay xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá trong việc thực hiện hoạt động TĐG. Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

Ngược lại, 2 nội dung gồm xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho đội ngũ tham gia TĐG chất lượng CSGD và xây dựng kế hoạch đầu tư, sữa chữa cơ sở vật chất cũng như các điều kiện thực hiện hoạt động TĐG chất lượng CSGD tuy được đánh giá ở mức khá nhưng thấp nhất trong 9 nội dung khảo sát (ĐTB lần lượt 3,87 và 3,89). Riêng nội dung xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ tham gia TĐG chất lượng CSGD, các ý kiến khảo sát có độ phân tán cao nhất (ĐLC 0,649). Thực tế có CSGD quan tâm đến năng lực của đội ngũ tham gia TĐG nhưng cũng có cơ sở chưa quan tâm đúng mức.

Các CSGD thực hiện việc xây dựng kế hoạch khá tốt. Tuy nhiên, các CSGD cần chú trọng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho đội ngũ tham gia TĐG. Nhìn chung, đây là thế mạnh của các CSGD, cần tiếp tục phát huy nhưng cũng cần khắc phục nhằm thực hiện tốt hơn việc xây dựng kế hoạch trong quản lý hoạt động này.

2.4.3. Thc trng v t chc thc hin hot động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dc ti các trường tiu hc huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thun

Tổ chức thực hiện hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH có vai trò quan trọng. Tất cả các hoạch định kế hoạch, chỉ đạo và kiểm tra hoạt động TĐG chất lượng CSGD sẽ không thành hiện thực nếu không biết tổ chức thực hiện hoạt động này một cách khoa học. Dưới đây là kết quả khảo sát ý kiến về thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH được trình bày ở bảng 2.12 sau:

Bảng 2.12. Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học

Qua các giá trị của bảng 2.12 cho thấy rõ thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Được đánh giá ở mức tốt nhất và được sự đồng thuận cao của tất cả các CBQL đó là nội dung xây dựng cơ cấu tổ chức trong nhà trường phù hợp với hoạt động TĐG chất lượng CSGD ngay từ đầu năm của các nhà trường (ĐTB 4,50 và ĐLC 0,647).

Điều này cho thấy, các CSGD luôn có sự chuẩn bị, tính toán, sắp xếp nhân sự ngay từ đầu năm nhằm đáp ứng không chỉ cho các hoạt động chung của nhà trường mà còn đảm bảo cho hoạt động TĐG chất lượng CSGD. Nội dung phổ biến các kế hoạch thực hiện TĐG chất lượng CSGD đến đội ngũ CBQL, GV trong nhà trường được đánh giá ở mức tốt, xếp thứ 2 (ĐTB là 4,45). Điều này cho thấy, các kế hoạch liên quan đến hoạt động TĐG luôn được phổ biến đến đội ngũ CBQL và GV.

Ngoài ra, nội dung phân công nhiệm vụ cho từng thành viên tham gia hoạt động TĐG chất lượng CSGD và thành lập ban chỉ đạo để thực hiện kế hoạch TĐG chất lượng CSGD cũng được đánh giá ở mức tốt (ĐTB 4,32 và 4,42; ĐLC 0,500 và 0,739). Ở một khía cạnh nào đó, có thể thấy Hiệu trưởng luôn đánh giá cao vai trò của ban chỉ đạo; sự cân nhắc, lựa chọn con người từ đó sắp xếp, phân bổ, phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm của từng cá nhân là thành viên ban chỉ đạo, là thành viên tham gia TĐG đồng thời nhằm đảm bảo hoạt động được diễn ra thuận lợi, hiệu quả.

Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện nội dung bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho các thành viên tham gia hoạt động TĐG chất lượng CSGD; phân bổ kinh phí và tiến hành hỗ trợ các điều kiện để hỗ trợ hoạt động TĐG chất lượng CSGD; xây dựng và ban hành các quy chế, nội quy, quy định, tiêu chuẩn, chế độ có liên quan đến công tác TĐG chất lượng CSGD chỉ được đánh giá ở mức khá (ĐTB 3,79; 3,84 và 3,89) và độ phân tán của các ý kiến khảo sát khá cao (ĐLC 0,704; 0,754 và 0,727). Điều này cho thấy, có CSGD quan tâm đến các nội dung này nhưng cũng có CSGD chưa quan tâm đúng mức. Qua phỏng vấn trực tiếp được biết vấn đề về TĐG, KĐCLGD còn mới, thời gian tập huấn nội dung này tại Sở GD&ĐT quá ngắn nên việc tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ tham gia TĐG tại trường gặp nhiều khó khăn. Về phần nguồn lực tài chính còn hạn hẹp nguyên nhân một số các trường chưa lập dự trù về nguồn tài chính phục vụ cho công tác TĐG, KĐCLGD hằng năm dẫn đến không có nguồn chi hay nguồn ngân sách chi cho các hoạt động thường xuyên trong đó bao gồm hoạt động TĐG dành cho các trường TH chỉ 11% so với tổng tiền lương. Đây là cơ sở để Hiệu trưởng nhà trường cần rút kinh nghiệm, cải tiến nhằm nâng cao chất lượng công tác tổ chức thực hiện hoạt động TĐG chất lượng CSGD nói riêng và công tác tổ chức thực hiện hoạt động KĐCLGD nói chung tại các trường TH trên địa bàn huyện Ninh Sơn. Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

2.4.4. Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận

Sau khi hoạch định kế hoạch và tổ chức thực hiện hoạt động TĐG, Hiệu trưởng nhà trường hướng dẫn, chỉ đạo, động viên, phối hợp với các lực lượng tham gia hoạt động TĐG để thực hiện các mục tiêu mà kế hoạch đã đề ra. Kết quả ý kiến đánh giá của CBQL về chỉ đạo thực hiện hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận được thể hiện ở bảng 2.13 dưới đây:

Bảng 2.13. Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về chỉ đạo thực hiện hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học

Bảng 2.13 cho thấy, nhiều nội dung được khảo sát về chỉ đạo thực hiện hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH được đánh giá ở mức khá.

Khi chỉ đạo nhóm thu thập, phân tích, xử lý các minh chứng: các nội dung tổ chức thảo luận và định hướng tìm kiếm bằng chứng một cách phù hợp; tổ chức hướng dẫn các nhóm xử lý, phân tích thông tin minh chứng; chỉ đạo các nhóm phụ trách các tiêu chuẩn xây dựng kế hoạch thu thập, phân tích, xử lý minh chứng; chỉ đạo cho các nhóm xây dựng quy chế thu thập, phân tích, xử lý minh chứng; chỉ đạo các bộ phận trong việc phối hợp cung cấp thông tin, minh chứng; hỗ trợ kịp thời các nhóm phụ trách các tiêu chuẩn khi gặp khó khăn trong quá trình xử lý thông tin và minh chứng; động viên, khích lệ đội ngũ GV tích cực tham gia thu thập, phân tích, xử lý minh chứng được đánh giá ở mức tốt (ĐTB 4,21-4,61 và ĐLC 0,495-0,781). Tuy nhiên, các nội dung lập kế hoạch; tổ chức cho các nhóm nghiên cứu các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo, nội hàm và các yêu cầu theo từng mức của tiêu chí; kiểm tra, giám sát thông tin, minh chứng thu thập có đảm bảo độ tin cậy, chính xác và tổ chức đánh giá kết quả công tác xử lý, phân tích thông tin minh chứng được các ý kiến khảo sát đánh giá ở mức khá. Đây là cơ sở để Hiệu trưởng trường cần quan tâm đúng mức nhằm giúp cho đội ngũ GV tham gia hoạt động nắm chắc, hiểu rõ tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo, nội hàm và các yêu cầu theo từng mức của tiêu chí; cần kiểm tra, giám sát thông tin minh chứng đã thu thập xem có đảm bảo độ tin cậy, chính xác hay không sau khi các nhóm thu thập thông tin, minh chứng; cần đánh giá kết quả công tác xử lý, phân tích thông tin minh chứng.

Khi chỉ đạo nhóm đánh giá các mức đạt được theo từng tiêu chí: trong số 7 nội dung khảo sát chỉ có 2 nội dung được đánh giá ở mức tốt là động viên, khen thưởng những cá nhân, nhóm viết báo cáo tốt, đảm bảo đầy đủ, rõ ràng và chính xác; nhắc nhở các cá nhân, nhóm viết báo cáo chưa thực hiện tốt, chưa đảm bảo yêu cầu kịp thời điều chỉnh. Điều này cho thấy, các CSGD trong chỉ đạo luôn động viên, khen thưởng hay nhắc nhở kịp thời giúp cá nhân hay nhóm hoàn thành báo cáo tốt. Còn 5 nội dung còn lại đánh giá ở mức khá. Trong đó: Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

Nội dung xác định thời gian viết và hoàn thành báo cáo đánh giá mức đạt được của từng tiêu chí; tổ chức cho cá nhân hay nhóm viết báo cáo đánh giá mức đạt được của từng tiêu chí được đánh giá ở mức khá cao gần tốt (ĐTB 4,18 và 4,08). Điều này cho thấy, trong chỉ đạo ở khâu này, các CSGD luôn quan tâm đến việc tổ chức và xác định rõ thời gian viết cũng như hoàn thành để các các nhân hay nhóm viết báo cáo đánh giá mức đạt của từng tiêu chí.

Nội dung lập kế hoạch hướng dẫn cách mô tả hiện trạng, xác định điểm mạnh, điểm yếu…; xây dựng quy trình đánh giá mức đạt được theo từng tiêu chí; tổ chức kiểm tra, giám sát việc viết báo cáo đánh giá mức đạt được của từng tiêu chí được đánh giá ở mức khá và thấp hơn 2 nội dung trên (ĐTB 3,71-3,97). Điều này cho thấy, công tác chỉ đạo chính nhằm giúp các nhóm đánh giá các mức đạt được theo từng tiêu chí chưa được các nhà trường chỉ đạo sát sao. Đây là cơ sở để Hiệu trưởng các trường cần quan tâm hơn trong việc hướng dẫn cách viết, xây dựng quy trình viết và kiểm tra, giám sát việc viết báo cáo đánh giá từng tiêu chí.

Khi chỉ đạo nhóm viết và hoàn thiện báo cáo TĐG: hai nội dung được đánh giá mức tốt (ĐTB 4,32 và 4,34; ĐLC 0,702 và 0,708) là động viên, khuyến khích các cá nhân, các nhóm thực hiện đúng tiến độ, đúng kế hoạch đã xây dựng và tổ chức công bố công khai rộng rãi báo cáo TĐG cho toàn thể nhà trường. Các nội dung còn lại như tổ chức hướng dẫn và xây dựng quy trình viết báo cáo tổng hợp theo từng tiêu chuẩn; kiểm tra, giám sát về tiến độ viết báo cáo tổng hợp theo từng tiêu chuẩn của các nhóm; tổ chức thảo luận, đóng góp ý kiến nhằm điều chỉnh, sữa chữa, bổ sung và hoàn thiện báo cáo TĐG và khích lệ các cá nhân đóng góp ý kiến được đánh giá ở mức khá. Điều này cho thấy, việc chỉ đạo nhóm viết và hoàn thiện báo cáo TĐG của các nhà trường chưa được chỉ đạo cụ thể.

Khi chỉ đạo nhóm các hoạt động sau TĐG: nội dung tham mưu với các ban ngành, đoàn thể, nhà đầu tư… để hỗ trợ, đầu tư cho trường và vận động các lực lượng ngoài trường cùng tham gia được đánh giá ở mức tốt (ĐTB 4,32 và 4,47) và được các CBQL đồng thuận cao (ĐLC 0,647 và 0,662). Còn nội dung chỉ đạo các bộ phận thực hiện kế hoạch cải tiến dựa theo báo cáo TĐG chất lượng CSGD được đánh giá ở mức khá (ĐTB là 3,97). Tuy nhiên nhóm chỉ đạo của Hiệu trưởng đối với các hoạt động sau TĐG có ĐTB xoay quanh 4,25 và ĐLC 0,662 được đánh giá tốt nhất trong nhóm chỉ đạo thực hiện hoạt động TĐG chất lượng CSGD nói chung.

Nhìn chung trong công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động TĐG chất lượng CSGD nổi trội nhất là khâu động viên, khích lệ cũng như nhắc nhở kịp thời hay việc tham mưu, vận động các ban ngành, các lực lượng có liên quan cùng tham gia vào hoạt động cải tiến. Còn các khâu như kiểm tra, giám sát; tổ chức nghiên cứu để nắm rõ nội hàm của từng tiêu chí, tiêu chuẩn; hướng dẫn viết báo cáo, quy trình để viết báo cáo vẫn còn một số CSGD chưa được chỉ đạo cụ thể, sát sao và quan tâm đúng mức. Đây là cơ sở để các CSGD tại các trường TH cần phải cải tiến.

2.4.5. Thc trng kiểm tra, đánh giá hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ s giáo dc ti các trường tiu hc huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thun Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

Kiểm tra, đánh giá hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH là một hoạt động thường xuyên, không thể thiếu, có vai trò quan trọng trong công tác quản lý của người Hiệu trưởng. Qua khảo sát, tìm hiểu, tác giả thu được kết quả đánh giá được trình bày ở bảng 2.14 sau đây:

Bảng 2.14. Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về kiểm tra, đánh giá hoạt động tự đánh g chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học

Nhìn vào bảng 2.14 có thể nhận xét như sau: việc kiểm tra, đánh giá hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH được đánh giá ở mức khá cao và tạo được sự đồng thuận cao đối với tất cả các CBQL tham gia khảo sát (ĐTB 3,98 và ĐLC 0,631).

Nội dung xây dựng các tiêu chí đánh giá, hình thức kiểm tra và phương pháp đánh giá; tiến hành điều chỉnh kế hoạch nếu chưa đạt được mục tiêu đề ra các hoạt động TĐG với tiến hành kiểm tra, đánh giá việc triển khai thực hiện hoạt động TĐG ở các nhóm tham gia TĐG được đánh giá ở mức khá cao nhất trong 6 nội dung khảo sát (ĐTB 4,13 và 4,16). Riêng xây dựng các tiêu chí đánh giá, hình thức kiểm tra và phương pháp đánh giá tạo được sự đồng thuận cao nhất đối với tất cả những người tham gia khảo sát (ĐLC 0,594). Điều này cho thấy Hiệu trưởng tại các CSGD luôn quan tâm đến hiệu quả hoạt động TĐG cũng như phải đảm tính chính xác, công bằng, minh bạch, khách quan trong quá trình kiểm tra, đánh giá. Từ kết quả kiểm tra, đánh giá, các CSGD luôn có kế hoạch điều chỉnh nhằm đưa hoạt động TĐG chất lượng CSGD đạt đến mục tiêu đã đề ra.

Các nội dung được khảo sát còn lại: kiểm tra, đánh giá các nội dung từ mức độ, tiến độ thực hiện các mục tiêu, nội dung, phương pháp, điều kiện hỗ trợ… thực hiện cho đến năng lực của đội ngũ tham gia TĐG; tổ chức rút kinh nghiệm, khắc phục hạn chế và tồn tại sau kiểm tra; tổng kết, đánh giá, tuyên dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân thực hiện tốt, nhắc nhở, kiểm điểm những cá nhân chưa thực hiện tốt hoạt động này được khảo sát cho ĐTB 3,63-3,79; đối chiếu bảng thang đo ở mức khá nhưng không cao. Đây là thực tế vì đa số CSGD vẫn thấy được tầm quan trọng của công tác kiểm tra, đánh giá, chú trọng xây dựng các tiêu chí đánh giá, hình thức kiểm tra và phương pháp đánh giá nhưng trong quá trình thực hiện hoạt động việc kiểm tra, đánh giá cụ thể các khâu thường chưa được thực hiện thường xuyên như mục đích kiểm tra, đánh giá được đặt ra từ ban đầu. Trong khi kiểm tra, đánh giá trong công tác quản lý hoạt động TĐG giúp hoạt động hạn chế được sai sót, kịp thời điều chỉnh để đi đúng hướng, đạt mục tiêu; giúp hoạt động TĐG chất lượng CSGD được diễn ra trơn tru. Với thực trạng này sẽ là cơ sở để các CSGD cần phải cải tiến nhằm nâng cao chất lượng hoạt động TĐG tại các CSGD.

Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động này ở mức khá. Rõ ràng các CSGD có quan tâm đến công tác này tuy nhiên cần chú trọng các khâu kiểm tra, đánh giá mức độ và tiến độ thực hiện; tổ chức rút kinh nghiệm; tổng kết, đánh giá hoạt động TĐG nhằm giúp công tác này đạt hiệu quả. Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận

Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng và kết quả khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH được trình bày ở bảng 2.15 sau đây:

Bảng 2.15. Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học

Kết quả khảo sát ở bảng 2.15 giúp chúng ta có cái nhìn khách quan quan trọng trong việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH.

Các yếu tố rất ảnh hưởng xếp thứ 1, 2 và 3 đó là nhận thức của CBQL, GV và nhân viên về hoạt động TĐG ở các trường TH (ĐTB 4,63); năng lực của đội ngũ tham gia hoạt động TĐG (ĐTB 4,50); sự quan tâm, chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên đối với hoạt động TĐG tại các trường TH (ĐTB 4,21). Khi tìm hiểu về các yếu ảnh hưởng đến quản lý hoạt động hoạt động TĐG tại các trường TH, các đối tượng khảo sát đều cho rằng nhận thức của CBQL, GV và nhân viên về hoạt động TĐG ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý hoạt động TĐG bởi đây là hoạt động mới, đòi hỏi tốn nhiều thời gian và công sức đối với không chỉ GV và nhân viên mà ngay cả CBQL. Nếu nhận thức không tốt sẽ dẫn đến hoạt động trì trệ và ngược lại sẽ thúc đẩy hoạt động đi đúng tiến độ, hiệu quả nhờ đó quản lý hoạt động cũng đạt hiệu quả. Ngoài ra, nếu đội ngũ tham gia làm công tác TĐG nhưng thiếu kiến thức cũng như kỹ năng về TĐG thì công tác này không thể thực hiện được. Điều đó cho thấy công tác bồi dưỡng, tập huấn về TĐG chất lượng CSGD trường TH cực kỳ quan trọng, tác động lớn đến công tác này. Không chỉ vậy, nếu chỉ CSGD nỗ lực nhưng thiếu sự quan tâm, chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên thì một trong những hoạt động sau TĐG chất lượng CSGD nhằm cải tiến chất lượng trong đó có tiêu chuẩn về cơ sở vật chất khó có thể thực hiện được.

Bên cạnh đó, các yếu tố được đánh giá ảnh hưởng ở mức khá lần lượt là kế hoạch chiến lược của nhà trường; hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản liên quan đến thực hiện hoạt động TĐG tại các trường TH; công tác văn thư lưu trữ tại các CSGD phục vụ cho công tác TĐG và tình hình kinh tế-xã hội của địa phương. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc xác định tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu dài hạn… của trường; hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản liên quan đến thực hiện hoạt động TĐG tại các trường TH bởi đây là cơ sở pháp lý ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH. Do vậy, văn bản ban hành cụ thể, rõ ràng sẽ tạo nhiều thuận lợi giúp các CSGD dễ thực hiện. Công tác văn thư lưu trữ tại các CSGD là nơi cung cấp nguồn minh chứng thể hiện kết quả các hoạt động của trường đã thực hiện hằng năm đồng thời làm căn cứ, bằng chứng phục vụ cho công tác TĐG chất lượng CSGD. Vì thế, công tác này tại các trường TH ngoài việc lưu trữ, bảo quản ngăn nắp, gọn gàng, cẩn thận cần phải sắp xếp, lưu trữ một cách có hệ thống, khoa học. Tình hình kinh tế-xã hội của địa phương ảnh hưởng nhiều mặt đến các hoạt động của nhà trường nói chung và hoạt động TĐG tại các trường TH nói riêng.

Nhìn chung các yếu tố chủ quan, khách quan có điểm ảnh hưởng trung bình chung là ở mức rất ảnh hưởng (ĐTB 4,24 và ĐLC 0,679). Điều này chứng tỏ các yếu tố trên đều tác động một cách chủ quan hoặc khách quan đến từng phần hoặc toàn bộ đến công tác quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục tại các trường tiểu học huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

Qua quá trình tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, tác giả xác định những ưu, nhược điểm và nguyên nhân của công tác quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD trường TH.

2.6.1. Ưu điểm

Đa số GV đều nắm được mục đích của hoạt động TĐG tại trường mình. CBQL nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH trong giai đoạn hiện nay.

Trong quá trình thực hiện, nhà trường luôn tạo điều kiện về phòng ốc, trang thiết bị, thời gian để các thành viên hoàn thành nhiệm vụ được phân công cũng như luôn nhận được sự đồng thuận từ các cấp, phụ huynh học sinh và các thành viên trong nhà trường nhờ đó hoạt động được diễn ra thuận lợi.

Trong quá trình quản lý hoạt động, Hiệu trưởng luôn quan tâm, đầu tư cho hoạt động TĐG bằng việc đã xây dựng và phổ biến các kế hoạch. Ngay từ đầu năm học, đã có sự phân công nhiệm vụ chung, nhiệm vụ cụ thể cho ban chỉ đạo, các thành viên tham gia hoạt động TĐG; đã có sự tính toán, chủ động, chuẩn bị cho hoạt động này. Nhà trường cũng đã hướng dẫn, chỉ đạo, hỗ trợ cho các nhóm thu thập, phân tích và xử lý minh chứng; luôn quan tâm động viên, khích lệ, khuyến khích, tuyên dương cá nhân hay nhóm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, nhà trường làm tốt công tác tham mưu với các ban ngành, đoàn thể, nhà tài trợ… Ngoài ra, nhà trường cũng đã xây dựng các tiêu chí đánh giá, hình thức kiểm tra, phương pháp đánh giá và tiến hành điều chỉnh kế hoạch khi chưa đạt được các mục tiêu về TĐG chất lượng CSGD mà nhà trường đã đề ra.

2.6.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

Các nhà trường TH trên địa bàn huyện Ninh Sơn đều thực hiện đầy đủ các nội dung về TĐG chất lượng CSGD. Song nội dung về cơ sở vật chất, trang thiết bị và CBQL, GV, nhân viên và học sinh đảm bảo, đạt so với yêu cầu về chuẩn do Bộ GD&ĐT đề ra thì còn gặp rất nhiều khó khăn. Đây là thực trạng chung ở đa số các CSGD trên địa bàn.

Trong quá trình tiến hành, hiệu quả thực hiện bước 4, 5 trong quy trình (đánh giá mức đạt được theo từng tiêu chí, viết báo cáo TĐG, kỹ thuật thiết lập các dữ liệu thống kê) chưa cao; công tác tuyên truyền vẫn chưa được quan tâm đúng mức; kinh phí để hỗ trợ hoạt động, để khen thưởng còn hạn chế.

Trong quá trình quản lý, các khâu chỉ đạo giúp các thành viên hiểu rõ tiêu chí, tiêu chuẩn; cách viết báo cáo theo từng tiêu chí; kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ, tổng kết rút kinh nghiệm vẫn chưa thường xuyên, chưa thật sự hiệu quả.

2.6.3. Nguyên nhân

Với những hạn chế nêu trên, việc xác định rõ nguyên nhân nhằm đưa ra những biện pháp thực hiện là yêu cầu đặt ra đối với các nhà trường. Có nhiều nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đó là:

Tình hình kinh tế-xã hội của huyện Ninh Sơn nói riêng và của tỉnh Ninh Thuận nói chung còn nhiều khó khăn nên việc đầu tư cơ sở vật chất-trang thiết bị dạy-học còn chưa kịp thời. Ngoài ra, do tình hình tinh giảm biên chế nói chung và tinh giảm biên chế đối với sự nghiệp giáo dục hiện nay chưa phù hợp.

Các nhà trường chưa quan tâm đúng mức đến năng lực của đội ngũ, chưa chủ động trong việc tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ GV tham gia vào hoạt động TĐG chất lượng CSGD.

Bên cạnh đó, trong công tác quản lý hoạt động việc chỉ đạo một số khâu chưa thực sự đi vào chiều sâu; kiểm tra, đánh giá chưa thường xuyên, chưa được chú trọng.

Tiểu kết Chương 2

Ninh Sơn là một huyện thuộc tỉnh Ninh Thuận có 7 xã và 1 thị trấn với 21 trường TH. Qua điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn và phân tích các kế hoạch, hồ sơ… tác giả đã khảo sát được thực trạng hoạt động và quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH trên địa bàn huyện. Kết quả khảo sát cho thấy, đội ngũ GV tại các trường đã xác định khá đầy đủ về mục đích của hoạt động TĐG chất lượng CSGD. CBQL nhận thức được việc quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD đóng một vai trò rất quan trọng trong nhà trường. Nhìn chung, Hiệu trưởng các CSGD trong công tác quản lý luôn quan tâm, đầu tư cho hoạt động TĐG như xây dựng các kế hoạch từ chung đến cụ thể, trong phân công nhiệm vụ cho ban chỉ đạo và các thành viên, xây dựng tiêu chí đánh giá, hình thức kiểm tra, phương pháp kiểm tra,… Các CSGD có thế mạnh trong công tác vận động các lực lượng ngoài nhà trường, trong công tác tham mưu. Trong quá trình quản lý, người đứng đầu luôn động viên, khích lệ, nhắc nhở kịp thời; luôn công khai báo cáo TĐG rộng rãi trong tập thể nhà trường và luôn chỉ đạo các bộ phận để thực hiện cải tiến chất lượng.

Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện hoạt động, nội dung về cơ sở vật chất và trang thiết bị; CBQL, GV, nhân viên và học sinh vẫn còn khó khăn, chưa đáp ứng được yêu cầu dạy-học, yêu cầu về tiêu chuẩn theo quy định do Bộ GD&ĐT đã đề ra. Quy trình đánh giá các mức đạt được theo từng tiêu chí, viết báo cáo TĐG hay kỹ thuật thiết lập các dữ liệu thống kê chưa đạt được hiệu quả cao.

Trong quá trình quản lý hoạt động, các nhà trường còn chưa có sự chủ động tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ tham gia hoạt động TĐG chất lượng CSGD, chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát các khâu cũng như tổ chức sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm hoạt động TĐG.

Khi xét điều kiện để hỗ trợ cho hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH trên địa bàn thì công tác tuyên truyền về hoạt động chưa được quan tâm đúng mức; kinh phí, chính sách hỗ trợ… cho hoạt động TĐG chất lượng CSGD còn nhiều hạn hẹp. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD như nhận thức của đội ngũ trong đó có CBQL, GV và nhân viên, năng lực của các thành viên tham gia hoạt động và sự quan tâm, chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động TĐG chất lượng CSGD.

Kết quả khảo sát thực trạng ở chương 2 sẽ là căn cứ để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động TĐG chất lượng CSGD tại các trường TH trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Luận văn: Thực trạng quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý tự đánh giá chất lượng cơ sở GD

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993