Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank – Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 GIỚI THIỆU VỀ AGRIBANK – CHI NHÁNH TRUNG TÂM SÀI GÒN

2.1.1 Giới thiệu về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Agribank

  • Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank)

Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam – tiền thân của Agribank – được thành lập ngày 26/03/1988 căn cứ Nghị định 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về việc hình thành các ngân hàng chuyên doanh. Ban đầu, ngân hàng hoạt động trọng tâm trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn với ba Sở giao dịch: Sở giao dịch I tại Hà Nội, Sở giao dịch II đặt tại văn phòng đại diện khu vực phía Nam và Sở giao dịch III đặt ở khu vực miền Trung. Đến ngày 15/11/1996, tên gọi được điều chỉnh từ Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam sang Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank).

Agribank vận hành theo mô hình Tổng công ty, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, tuân thủ Luật Các tổ chức tín dụng và chịu sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Với tên gọi mới, ngoài chức năng của một ngân hàng thương mại, Agribank còn được giao nhiệm vụ đầu tư phát triển khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng nguồn vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông – lâm – ngư nghiệp, góp phần hiện thực hóa mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.

  • Giới thiệu Agribank – Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn

Chi nhánh được thành lập ngày 11/11/1997 với tên gọi ban đầu là Agribank Chi nhánh Mạc Thị Bưởi; đến năm 2015, Chi nhánh đổi tên thành Agribank Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn. Trải qua gần 27 năm hoạt động, đơn vị đã đạt nhiều kết quả tích cực trong kinh doanh. Chi nhánh xác định —hiệu quả hoạt động của khách hàng là mục tiêu‖ trên nền tảng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và Điều lệ Agribank. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Bên cạnh việc cung ứng sản phẩm – dịch vụ cho mọi thành phần kinh tế, Chi nhánh còn đóng vai trò —cánh tay nối dài‖ của Agribank trong việc dẫn dắt thị trường tiền tệ, thực thi các chính sách phát triển của Nhà nước. Đặc biệt, Chi nhánh được giao thí điểm làm —Chi nhánh đầu mối xử lý nợ khu vực phía Nam‖: tiếp nhận các khoản nợ đã xử lý rủi ro hoặc đã bán cho VAMC từ các đơn vị cùng cấp trực thuộc Agribank để tổ chức thu hồi theo đúng quy định của Agribank và pháp luật hiện hành.

  • Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực

Bộ máy điều hành của Agribank – Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn được tổ chức theo mô hình phân tầng rõ ràng. Chi nhánh có 01 Giám đốc, 03 Phó Giám đốc; 07 phòng nghiệp vụ và 02 phòng giao dịch trực thuộc (PGD Hòa Hưng, PGD Trung Tâm số 1). Tổng số cán bộ, nhân viên đến 31/12/2024 là 104 người, trong đó 31 lãnh đạo và 73 cán bộ nghiệp vụ.

Về trình độ chuyên môn: có 17 Thạc sĩ, 83 Cử nhân đại học, 01 Cao đẳng và 05 lao động khác (tạp vụ, lái xe). Trình độ ngoại ngữ đa dạng: 4 người tốt nghiệp đại học chuyên ngành, 8 người đạt B1 châu Âu; còn lại có các chứng chỉ TOEIC/TOEFL, A, B, C hoặc bậc 3–4 theo khung 6 bậc, cùng một số vị trí không yêu cầu chứng chỉ. Trình độ tin học cũng phong phú: 4 người trình độ đại học, 31 trình độ A, 32 trình độ B, 1 trình độ C, 1 trung cấp, 27 có chứng chỉ ứng dụng CNTT cơ bản; một số vị trí không yêu cầu hoặc chưa bổ sung chứng chỉ.

Phân công theo chuyên môn nghiệp vụ như sau: Ban Giám đốc 3 cán bộ; Tín dụng 26; Xử lý nợ 7; Pháp chế 5; Kế toán – Ngân quỹ 30; Dịch vụ 7; Kinh doanh ngoại hối 3; Hành chính – nhân sự – lái xe – tạp vụ 12; Kiểm tra kiểm soát nội bộ 3; Điện toán 2; Kế hoạch nguồn vốn 2; Ban Giám đốc PGD 4 người. (Nguồn: Agribank – Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn)

Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, là tiền thân của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, được thành lập vào ngày 26/03/1988 theo Nghị định 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh. Theo đó, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn với 3 Sở giao dịch (Sở giao dịch I tại Hà Nội và Sở giao dịch II tại Văn phòng đại diện khu vực miền Nam và Sở giao dịch III tại Văn phòng miền Trung).

Ngày 15/11/1996, đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank).

Agribank hoạt động theo mô hình Tổng công ty, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và chịu sự quản trị trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Với tên gọi mới, ngoài chức năng của một NHTM, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) được xác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

2.1.2 Giới thiệu về Agribank Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Chi nhánh được thành lập ngày 11/11/1997, lúc đầu có tên gọi là Agribank Chi nhánh Mạc Thị Bưởi và đến năm 2015 được đổi tên thành Agribank Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn. Với gần 27 năm hoạt động, Chi nhánh cũng đạt được nhiều thành tích trong hoạt động kinh doanh.

Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – Chi nhánh Trung Tâm Sài Gòn lấy hiệu quả kinh doanh của khách hàng làm mục tiêu hoạt động, trên cơ sở quy định của luật các tổ chức tín dụng và điều lệ hoạt động của Agribank Việt Nam. Hoạt động kinh doanh của Chi nhánh với các sản phẩm dịch vụ cung ứng cho mọi thành phần kinh tế, đóng vai trò như một cánh tay nối dài dẫn dắt và định hướng thị trường tiền tệ thực hiện các chính sách phát triển của nhà nước. Bên cạnh đó, Chi nhánh được giao đầu mối thí điểm là Chi nhánh mối xử lý nợ khu vực phía Nam, thực hiện nhiệm vụ nhận bàn giao nợ đã xử lý rủi ro, nợ đã bán cho VAMC từ các Chi nhánh trực thuộc Agribank về xử lý thu hồi nợ theo quy định của Agribank và của pháp luật. Lũy kế đến 2024 tổng số nợ ngoại bảng Chi nhánh nhận bàn giao từ các Chi nhánh khác là 7.061 tỷ đồng. Trong đó, chi nhánh đã thu hồi được 683 tỷ đồng, tương đương 9.67% trong tổng nợ.

2.1.3 Cơ cấu và tổ chức

Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – Chi nhánh Trung Tâm Sài Gòn thể hiện qua sơ đồ dưới đây:

  • Biểu đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức của Agribank Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn

Bố trí, sắp xếp lao động tại Chi nhánh bao gồm 01 Giám đốc và 3 Phó Giám đốc; 11 Phòng nghiệp vụ và 2 Phòng giao dịch trực thuộc là PGD Hòa Hưng và PGD Trung Tâm số 1 được thể hiện tóm tắt qua Bảng 2.1.

  • Bảng 2.1 Nhân sự và cơ cấu tổ chức của Agribank Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI AGRIBANK – CN TRUNG TÂM SÀI GÕN GIAI ĐOẠN 2021 – 2024 Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

2.2.1 Hoạch định chiến lược quản trị rủi ro tín dụng

Trong giai đoạn 2021–2024, công tác hoạch định chiến lược quản trị rủi ro tín dụng (RRTD) tại Agribank – Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn được triển khai trên cơ sở bám sát định hướng điều hành của Agribank và các quy định của Ngân hàng Nhà nước. Hằng năm, Chi nhánh xây dựng kế hoạch kinh doanh gắn với các chỉ tiêu kiểm soát rủi ro như: tốc độ tăng trưởng dư nợ, tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu và mức trích lập dự phòng rủi ro.

Cốt lõi của hoạt động QTRRTD chính là hoạch định chiến lược QTRRTD. Đối tượng khách hàng —của Agribank nói chung và Agribank CN Trung tâm Sài Gòn nói riêng được xác định là tất cả các chủ thể trong nền kinh tế, chú trọng vào nhóm đối tượng cá nhân, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Do đặc thù ngành nông nghiệp có nhiều rủi ro nội tại cao do chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, biến đổi khí hậu hoặc biến động giá cả nông sản thất thường làm cho RRTD của Agribank nói chung và chi nhánh cao hơn so với những NHTM có các đối tượng khách hàng mục tiêu khác. Vì vậy, Agribank cũng như chi nhánh xác định rõ hoạt động QTRRTD có vai trò quan trọng trong hoạt động của NH. Agribank xây dựng chiến lược phát triển trung dài hạn cho toàn hệ thống và hàng năm lên kế hoạch hoạt động cho toàn hệ thống. Chiến lược quản trị RRTD mà Agribank xây dựng là cơ sở thiết lập mục tiêu của các hoạt động phát sinh RRTD, các biện pháp kiểm soát phù hợp năng lực quản trị RRTD gắn với chiến lược kinh doanh trung, dài hạn của Agribank và trên cơ sở cân bằng giữa khả năng đáp ứng của vốn tự có và mục tiêu tăng trưởng tín dụng dự kiến, chất lượng tín dụng, mức sinh lời dự kiến, có tính đến biến động chu kỳ của nền kinh tế tác động đến cơ cấu và chất lượng tín dụng của Agribank. Theo quy định, chiến lược quản trị RRTD được lập cho thời gian tối thiểu 03 năm nhưng không quá 05 năm tiếp theo, được đánh giá định kỳ tối thiểu mỗi năm 01 lần và đánh giá đột xuất (nếu cần thiết) để điều chỉnh kịp thời khi có thay đổi về môi trường kinh doanh, pháp lý để đạt được mục tiêu quản trị RRTD. Trong đó, Agribank sẽ xác định: (1) Tỷ lệ nợ xấu mục tiêu, tỷ lệ cấp tín dụng xấu mục tiêu theo từng đối tượng khách hàng, ngành, lĩnh vực kinh tế được Agribank thiết lập phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh trong từng thời kỳ; (2) chi phí bù đắp RRTD và (3) giảm thiểu RRTD.

Dựa trên kế hoạch chung tổng thể, căn cứ vào khả năng hoạt động, Trụ sở chính Agribank sẽ tiến hành xem xét, phân bổ các chỉ tiêu cho các chi nhánh. Đây là cơ sở để Agribank CN Trung tâm Sài Gòn xây dựng kế hoạch hoạt động cho chi nhánh. Các mục tiêu liên quan đến QTRRTD của CN Trung tâm Sài Gòn giai đoạn nghiên cứu bao gồm:

  • Tốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.
  • Nhóm ngành nghề chú trọng hoặc hạn chế cấp tín dụng trên địa bàn hoạt động
  • Các giới hạn RRTD trong hoạt động cho vay như tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu

Mục tiêu hoạt động được CN Trung tâm Sài Gòn đề ra hàng nằm nhằm —định hướng cho hoạt động tín dụng. Các chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng tín dụng được điều chỉnh hàng năm căn cứ thực tế phát triển kinh tế địa phương, khả năng tiếp cận và mở rộng khách hàng cũng như đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng. Đặc biệt, các chỉ tiêu kiểm soát RRTD, dựa trên thực tế của địa phương cũng như hoạt động của CN, luôn luôn được đề ra trong giới hạn cho phép và có xu hướng điều chỉnh giảm dần qua các năm (Báo cáo tổng kết của CN Trung tâm Sài Gòn, 2024). Cụ thể, năm 2020, chiến lược QTRRTD của Agribank xác định dư nợ tín dụng tăng ít nhất 6%, tỷ lệ nợ quá hạn được kiểm soát ở mức dưới 5%, nợ xấu được kiểm soát ở mức dưới 3% tổng dư nợ. Tuy nhiên, trong năm 2020, 2021 do ảnh hưởng bởi dịch COVID nên chi nhánh điều chỉnh kế hoạch hoạt động. Thay vì tăng trưởng tín dụng, chi nhánh tập trung kiểm soát rủi ro khi nền kinh tế có nhiều dấu hiệu bất ổn làm tăng rủi ro không trả được nợ của khách hàng. Đến năm 2022, chi nhánh tăng trưởng tín dụng dựa trên phân bổ của Trụ sở chính Agribank, cũng như đánh giá nhu cầu thực tiễn và kiểm soát rủi ro tín dụng. Trong 2 năm tiếp theo, chi nhánh luôn đạt vượt mức kế hoạch đề ra nhờ vào quan điểm thận trọng trong cho vay nên luôn được mức tăng trưởng tín dụng cao. Việc xây dựng chiến lược quản trị rủi ro với mục tiêu rõ ràng cho từng năm đã giúp chi nhánh có những bước đi cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đã xác định. Nhìn chung, hoạch định chiến lược, đặt mục tiêu cụ thể hàng năm luôn được chi nhánh thực hiện tốt để kiểm soát rủi ro tín dụng.

Thực tế cho thấy, chiến lược quản trị RRTD của Chi nhánh chủ yếu được cụ thể hóa thông qua các chỉ tiêu định lượng do Hội sở giao. Việc xác lập khẩu vị rủi ro (risk appetite) riêng phù hợp với đặc thù địa bàn và cơ cấu khách hàng của Chi nhánh chưa được thể hiện thành một văn bản độc lập hoặc một bộ chỉ tiêu quản trị nội bộ mang tính hệ thống. Điều này cho thấy mức độ chủ động trong hoạch định chiến lược rủi ro còn phụ thuộc nhiều vào định hướng cấp trên.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh giai đoạn 2021–2022 chịu ảnh hưởng mạnh của dịch bệnh và giai đoạn 2023–2024 thị trường bất động sản, thương mại có nhiều biến động, Chi nhánh đã có sự điều chỉnh định hướng tín dụng theo hướng thận trọng hơn, ưu tiên khách hàng truyền thống, hạn chế mở rộng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao. Tuy nhiên, việc điều chỉnh chủ yếu mang tính phản ứng theo tình hình thực tế hơn là dựa trên hệ thống cảnh báo sớm và phân tích xu hướng dài hạn.

Nhìn chung, công tác hoạch định chiến lược quản trị RRTD tại Chi nhánh đã được thực hiện tương đối đầy đủ về mặt hình thức và tuân thủ định hướng chung, song mức độ chủ động, chiều sâu phân tích rủi ro và khả năng dự báo còn hạn chế.

2.2.2 Tuân thủ các quy định liên quan đến quản trị rủi ro tín dụng của Agribank Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Agribank nhận thức được vai trò quản trị RRTD trong hoạt động ngân hàng nên không ngừng hoàn thiện chính sách quản trị RRTD trong giai đoạn nghiên cứu. Việc ban hành và điều chỉnh chính sách quản trị RRTD là do những thay đổi trong quy định của pháp luật, NHNN cũng như để hoàn thiện hoạt động quản trị RRTD tại ngân hàng. Cơ sở pháp lý và các văn bản nội bộ của Agribank được ban hành đầy đủ mang tính định hướng, chi tiết cho CN triển khai hoạt động QTRRTD. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng hướng dẫn thực hiện quản trị RRTD trên toàn hệ thống Agribank trong giai đoạn nghiên cứu. Trong đó, Agribank đo lường mức độ RRTD bằng sử dụng Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn dựa trên mô hình 6C. Hiện nay, Agribank triển khai phương pháp tiến cận dựa trên xếp hạng nội bộ theo phương pháp cơ bản.

Với tư cách là một trong những chi nhánh của hệ thống Agribank, CN Trung tâm Sài Gòn chủ trương tuân thủ nghiêm các quy định trong Khung quản trị rủi ro do Agribank ban hành nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng, hạn chế được rủi ro xảy ra, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt động cho vay của mình. Các nội dung cụ thể liên quan đến quản trị RRTD của Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn như sau:

  • Thứ nhất, tuân thủ các quy định trong quy trình tín dụng

Quy trình tín dụng tại Agribank CN Trung tâm Sài Gòn trải qua 6 bước theo quy định của Agribank gồm: (1) Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng; (2) Thẩm định; (3) Quyết định cấp tín dụng; (4) Giải ngân; (5) Giám sát sau cho vay và (6) Thanh lý tín dụng. Trong đó: Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Việc tư vấn cho khách hàng lập và hoàn thiện hồ sơ cấp tín dụng được các nhân viên chú trọng nhưng vẫn còn xảy ra tình trạng thiếu một số các giấy tờ theo quy định. Dựa vào Báo cáo kiểm toán nội bộ được thu thập qua các năm từ 2021 – 2024. Nhìn chung, tại chi nhánh, việc quản trị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng của khách hàng không có sai sót. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho chi nhánh được tín nhiệm cao trong hoạt động tín dụng.

Thẩm định tín dụng là nội dung quan trọng trong việc nhận diện rủi ro trước khi cho vay. Theo quy định của Agribank, thẩm định tín dụng phải xác định cụ thể: (1) người có liên quan của khách hàng, tổng dư nợ cấp tín dụng của khách hàng, khách hàng và người có liên quan; (2) xếp hạng tín nhiệm của khách hàng; (3) đánh giá tính đầy đủ về hồ sơ, tình trạng pháp lý và khả năng thu hồi của tài sản bảo đảm đối với trường hợp cấp tín dụng có tài sản bảo đảm; (4) thẩm định khả năng thực hiện các nghĩa vụ cam kết của bên bảo lãnh đối với các khoản cấp tín dụng có bảo lãnh của bên thứ ba. Hoạt động thẩm định tín dụng được tuân thủ chặt chẽ. Các tờ trình thẩm định tín dụng, báo cáo kết quả xếp hạng tín nhiệm được nhân viên thực hiện đầy đủ theo quy định, làm cơ sở để ra quyết định tín dụng. Mặc dù vậy, một số nội dung về đánh giá điều kiện môi trường liên quan đến khoản vay chưa được nhân viên phân tích cẩn thận, có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá mức độ rủi ro của khoản vay (Báo cáo kiểm soát nội Agribank CN Trung tâm Sài Gòn, 2021 – 2024).

Bước quyết định tín dụng được thực hiện tuân thủ quy định của Agribank. Giám đốc chi nhánh và hội đồng thẩm định chi nhánh chịu trách nhiệm phê duyệt tín dụng theo quy định. Việc phê duyệt theo cơ chế hội đồng phải có biên bản phê duyệt hoặc hình thức tương đương, trong đó nêu rõ lý do phê duyệt hoặc không phê duyệt và ghi nhận (hoặc đính kèm) đầy đủ ý kiến của các thành viên hội đồng. Thành viên hội đồng phê duyệt phải chịu trách nhiệm đối với quyết định của mình. Tại chi nhánh, cấp phê duyệt tín dụng được tuân thủ chặt chẽ theo mức phán quyết của giám đốc chi nhánh, hội đồng phê duyệt tín dụng cấp chi nhánh. Việc quyết định cấp tín dụng hoặc không cấp tín dụng đều có bút phê cụ thể, chi tiết của chủ thể có thẩm quyền phê duyệt. Điều này góp phần quản trị RRTD bởi ban lãnh đạo chi nhánh thông qua quá trình bút phê cho từng khoản vay đều nắm bắt được rủi ro của từng khoản vay, hỗ trợ cho công tác quản trị RRTD tại chi nhánh. Chính sách đảm bảo an toàn cho quá trình cấp tín dụng như các quy định về lãi suất, tài sản bảo đảm (nếu có), vốn đối ứng… đều được thực hiện theo nghiêm túc. Phần lớn các khoản cấp tín dụng của chi nhánh đều có tài sản bảo đảm, ngoại trừ các khoản vay tiêu dùng dưới hình thức thẻ tín dụng hoặc một số khoản vay tiêu dùng có giá trị thấp tại chi nhánh. Việc yêu cầu có tài sản bảo đảm giúp chi nhánh ngăn ngừa rủi ro đạo đức từ phía người đi vay cũng như có nguồn thu nợ thứ hai nếu rủi ro xảy ra.

Hoạt động giải ngân theo báo cáo kiểm soát nội bộ trong năm 2024 chưa phát hiện có sai sót. Việc giải ngân phù hợp với các chứng từ khách hàng cung cấp liên quan đến hợp đồng, hóa đơn, chứng từ chứng minh được mục đích sử dụng vốn của khách hàng. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Nội dung thanh lý gồm thanh lý bắt buộc và thanh lý mặc nhiên liên quan đến khoản vay được thực hiện theo đúng quy định. Các hồ sơ thanh lý mặc nhiên đều được lưu giữ thông tin trên hệ thống và kho hồ sơ của chi nhánh. Riêng đối với các trường hợp thanh lý bắt buộc vẫn còn nhiều tồn tại chủ yếu xuất phát từ việc khó thu hồi tài sản bảo đảm để tiến hành xử lý nợ liên quan đến các khoản vay mua nhà, mua xe. Mặc dù không phải tiến hành các thủ tục tố tụng như trước đây, được phép chủ động xử lý nợ, nhưng việc thiếu hợp tác của khách hàng gây khó khăn cho công tác thanh lý nợ. Một số các khoản nợ trước khi thanh lý chưa có biên bản tái thẩm định tín dụng theo quy định. Tính riêng trong năm 2019, theo báo cáo kiểm soát nội bộ có 3 hồ sơ chưa có biên bản tái thẩm định giá tài sản bảo đảm. Công tác thanh lý liên quan đến quá trình đấu giá còn chậm trễ làm cho việc thu hồi nợ đối với các khoản tín dụng có vấn đề tốn kém nhiều thời gian, chi phí.

Chi nhánh triển khai quản trị RRTD theo đúng quy trình, quy định nội bộ của Agribank về cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng và xử lý nợ. Các hồ sơ tín dụng được thực hiện theo quy trình chuẩn, đảm bảo đầy đủ các bước từ tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, phê duyệt đến giải ngân và kiểm tra sau vay.

Trong giai đoạn nghiên cứu, Chi nhánh cơ bản tuân thủ nghiêm túc quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng theo quy định hiện hành. Công tác báo cáo rủi ro được thực hiện định kỳ và gửi về Hội sở đúng thời hạn.

Tuy nhiên, xét trên phương diện thực tiễn, việc tuân thủ quy trình chưa đồng nghĩa hoàn toàn với hiệu quả quản trị cao. Một số khoản vay chuyển nhóm nợ cho thấy công tác giám sát sau giải ngân chưa thực sự phát huy vai trò cảnh báo sớm. Điều này phản ánh rằng, mặc dù quy định được thực hiện đầy đủ về mặt thủ tục, nhưng chất lượng đánh giá và theo dõi rủi ro trong thực tế vẫn còn dư địa cải thiện.

Như vậy, có thể đánh giá Chi nhánh có mức độ tuân thủ quy định cao, nhưng hiệu quả kiểm soát rủi ro phụ thuộc lớn vào năng lực thực thi của cán bộ và công tác giám sát thực tế.

2.2.3 Tổ chức bộ máy và thực hiện quản trị rủi ro tín dụng Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Bộ máy tổ chức quản trị RRTD của Agribank được tổ chức theo mô hình phân tán. Mô hình quản trị RRTD phân tán chưa có sự tách bạch giữa chức năng kinh doanh, quản trị rủi ro và tác nghiệp. Bộ phận tín dụng —thực hiện đầy đủ‖ cả ba chức năng và chịu trách nhiệm trong mọi khâu của quy trình tín dụng. Điều này làm cho mỗi Chi nhánh Ngân hàng với bộ phận tín dụng như một ngân hàng con trong ngân hàng mẹ, có tính độc lập cao. Mô hình này về tổ chức đơn giản, gọn nhẹ giúp giảm chi phí. Tuy nhiên, một nhân viên tín dụng vừa thẩm định tín dụng, vừa giám sát kiểm tra khoản vay sẽ dễ thiếu khách quan, độc lập, cũng như khối lượng công việc đồ sộ dễ xảy ra sai sót trong quá trình thực hiện. Mặc dù mô hình này còn hạn chế trong hoạt động quản trị RRTD nhưng lại phù hợp với hoạt động của Agribank, do các khoản vay của Agribank là những khoản vay nhỏ, nghiệp vụ không quá phức tạp, mang nhiều đặc điểm có tính địa phương.

Thực tế, trong quá trình hoạt động, tại Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn chưa có phòng quản trị rủi ro độc lập nhằm chú trọng quản trị rủi ro. Bộ phận phụ trách công tác quản trị rủi ro hiện nay thuộc phòng Kiểm soát nội bộ, Phòng kiểm soát nội bộ cùng thực hiện các nội dung liên quan đến báo cáo quản trị rủi ro theo định kỳ 3 tháng/lần cho ban lãnh đạo chi nhánh. Trong đó, bộ phận hỗ trợ tín dụng với 02 thành viên thực hiện quản trị hồ sơ và lên kế hoạch nhắc nợ và theo dõi việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng. Đồng thời cũng 2 nhân viên này kết hợp với phòng kinh doanh tổng hợp lập báo cáo về quản trị RRTD liên quan đến từng khoản vay, tài sản bảo đảm của các khoản vay cũng như danh mục tín dụng và các chỉ tiêu bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng. Phòng kiểm soát nội bộ và phòng kinh doanh tổng hợp đề xuất các nội dung liên quan đến công tác quản trị RRTD tại chi nhánh, tham mưu cho ban lãnh đạo chi nhánh để đạt được các mục tiêu đề ra. Việc chưa có phòng ban chuyên trách về quản trị RRTD gây khó khăn cho ngân hàng trong công tác quản trị RRTD vì các phòng ban chồng chéo nhiệm vụ, chưa có sự phối hợp nhịp nhàng. Bên cạnh đó, chưa có nhân viên mạnh về quản trị RRTD với các mô hình quản trị RRTD hiện đại cũng làm cho ban lãnh đạo chưa có được những căn cứ định lượng khách quan để quản trị RRTD tại chi nhánh mà chủ yếu phụ thuộc vào các số liệu báo cáo thông qua tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn và cơ cấu các khoản nợ trong danh mục tín dụng qua các tiêu chí. Khối lượng công việc nhiều trong khi lực lượng nhân sự mỏng và còn trẻ, chưa mạnh về chuyên môn làm cho hiệu quả của quản trị RRTD chưa cao. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Mô hình tổ chức quản trị RRTD tại Chi nhánh được thiết kế theo hướng phân tách tương đối giữa chức năng kinh doanh và chức năng kiểm soát. Bộ phận tín dụng trực tiếp thực hiện thẩm định, đề xuất cấp tín dụng; trong khi bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ thực hiện chức năng giám sát và kiểm tra định kỳ.

Việc phân công nhiệm vụ được quy định rõ ràng, góp phần hạn chế xung đột lợi ích giữa mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu an toàn. Tuy nhiên, do đặc thù Chi nhánh vừa thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại thông thường, vừa tham gia xử lý nợ theo phân công khu vực phía Nam, khối lượng công việc lớn tạo áp lực đáng kể lên đội ngũ cán bộ.

Thực tế cho thấy, nhân sự chuyên trách về quản trị rủi ro chưa tách biệt hoàn toàn với bộ phận kinh doanh, dẫn đến tính độc lập trong đánh giá rủi ro chưa thực sự cao. Ngoài ra, trình độ và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng có sự chênh lệch, ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định các khoản vay phức tạp.

Nhìn chung, bộ máy quản trị RRTD đã được tổ chức tương đối đầy đủ, song mức độ chuyên môn hóa và tính độc lập trong quản trị rủi ro còn cần được nâng cao để đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại.

2.2.4 Thực hiện công tác nhận diện, đo lường và giám sát rủi ro tín dụng

Hoạt động giám sát tín dụng liên quan đến từng khoản vay chưa được thực hiện tốt là một trong những nguyên ngân dẫn đến hoạt động giám sát, kiểm tra liên quan đến danh mục tín dụng tại chi nhánh vẫn còn một số vấn đề còn tồn tại. Về phân loại nợ, Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn thực hiện phân nhóm nợ theo quy định của NHNN và Agribank với 5 nhóm nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 theo cả hai tiêu chí định tính và định lượng. Với các tiêu chí phân loại nợ cụ thể gồm —theo nhóm nợ, theo thời hạn vay, theo hình thức bảo đảm tiền vay‖.

Để thực hiện xử lý nợ phù hợp, Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn khi phân loại nợ theo trạng thái cần phải xác định rõ nguyên nhân dẫn đến việc khách hàng không trả được nợ theo thỏa thuận là do nguyên nhân khách quan hay chủ quan. Các nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn tại Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn gồm: (1) sản xuất kinh doanh thua lỗ, (2) sử dụng vốn vay sai mục đích, (3) chây ỳ bỏ trốn khỏi địa phương, (4) người vay chết, mất tích, (5) giải thể, ngừng hoạt động và nguyên nhân khách quan khác. Theo báo cáo nội bộ của Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn năm 2024, nguyên nhân dẫn đến các khoản nợ quá hạn của Chi nhánh chủ yếu do nguyên nhân khách quan chủ yếu liên quan đến dịch bệnh làm cho phương án vay vốn không tạo ra dòng tiền đủ đảm bảo khả năng trả nợ. Các nguyên nhân khác chỉ chiếm tỷ trọng thấp nhưng cũng ảnh hưởng đến hoạt động của Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn. Do đó, cần phải có biện pháp xử lý những khách hàng vay vốn vì lý do chủ quan không thực hiện trả nợ theo thỏa thuận. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Trích lập dự phòng RRTD chung theo quy định của NHNN và Agribank. Trong đó, theo quy định các ngân hàng phải trích lập dự phòng RRTD chung là 0,75% dư nợ cho vay và trích lập dự phòng rủi ro cụ thể đối với từng nhóm nợ. Với góc độ Chi nhánh, Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn luôn thực hiện nghiêm túc việc trích lập dự phòng RRTD theo quy định của Agribank.

Theo quy định của Agribank về báo cáo quản trị RRTD phải thực hiện theo quý hoặc đột xuất với các nội dung cơ bản sau: (1) Chất lượng tín dụng đối với các khoản cấp tín dụng, danh mục cấp tín dụng theo đối tượng khách hàng, ngành, lĩnh vực kinh tế; (2) Khoản cấp tín dụng có vấn đề, các biện pháp xử lý khoản cấp tín dụng có vấn đề; (3) Khách hàng, ngành, lĩnh vực kinh tế có dư nợ tín dụng thực tế cao hơn hạn mức RRTD; (4) Giá trị tài sản bảo đảm, danh mục tài sản bảo đảm theo từng loại tài sản bảo đảm; (5) Tình hình phân loại nợ, trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng; (6) Cảnh báo sớm khả năng vi phạm các giới hạn, hạn mức RRTD; g) Các vi phạm về quản trị RRTD và lý do vi phạm; h) Các đề xuất, kiến nghị về quản trị RRTD với cấp nhận báo cáo; (7) Kết quả thực hiện các yêu cầu, kiến nghị về quản trị RRTD của kiểm toán nội bộ. Công tác kiểm tra giám sát của Chi nhánh do phòng Kiểm tra kiểm soát nội bộ phối hợp Phòng kinh doanh tổng hợp thực hiện. Các nội dung của báo cáo luôn đúng theo quy định của Agribank. Trong đó, nhờ có hoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ mà chi nhánh kịp thời phát hiện ra các sai sót và hạn chế trong hoạt động để có những điều chỉnh, xử lý kịp thời nhằm hạn chế RRTD xảy ra trong quá trình hoạt động, đảm bảo cân bằng giữa khả năng sinh lời và kiểm soát rủi ro của chi nhánh. Bên cạnh những nỗ lực của Chi nhánh trong công tác quản trị RRTD, ở góc độ các Phòng giao dịch vẫn còn tồn tại một số các sai sót: PGD Hòa Hưng còn một số sai sót trong cho vay tiêu dùng cá nhân. Tuy nhiên, việc báo cáo quản trị RRTD được thực hiện định kỳ 3 tháng một lần làm cho ban lãnh đạo chi nhánh chưa thể chủ động trong việc điều chỉnh các quyết định liên quan đến hoạt động tín dụng, đặc biệt là trong giai đoạn cuối năm. Việc trích xuất dữ liệu phục vụ báo cáo quản trị RRTD còn nhiều nội dung phải thực hiện thủ công gây mất thời gian để xử lý và hoàn thiện báo cáo. Điều này gây khó khăn cho công tác quản trị RRTD. Bên cạnh đó, chưa thực hiện quản trị danh mục tín dụng theo các mô hình hiện đại như VaR, Credit Metric…. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Chi nhánh áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của Agribank để đánh giá mức độ rủi ro của khách hàng. Việc thẩm định được thực hiện dựa trên phân tích báo cáo tài chính, dòng tiền, phương án kinh doanh và giá trị tài sản bảo đảm.

Công tác giám sát sau vay được thực hiện định kỳ thông qua kiểm tra hồ sơ, theo dõi tình hình trả nợ và đánh giá lại tài sản bảo đảm. Trong trường hợp khách hàng có dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ, Chi nhánh tiến hành làm việc trực tiếp để nắm bắt nguyên nhân và đưa ra biện pháp xử lý phù hợp.

Tuy nhiên, thực trạng cho thấy công tác cảnh báo sớm còn mang tính thủ công, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm cán bộ. Việc ứng dụng công nghệ và hệ thống phân tích dữ liệu trong nhận diện rủi ro chưa được khai thác tối đa. Một số khoản nợ phát sinh quá hạn cho thấy việc nhận diện rủi ro chưa kịp thời, đặc biệt trong bối cảnh thị trường biến động nhanh.

Bên cạnh đó, cơ cấu danh mục tín dụng còn có mức độ tập trung nhất định vào một số lĩnh vực và nhóm khách hàng, làm gia tăng rủi ro tập trung. Điều này cho thấy việc quản trị danh mục tín dụng ở cấp độ tổng thể cần được chú trọng hơn.

2.2.5 Áp dụng các biện pháp điều chỉnh sau giám sát

Trong giai đoạn 2021–2024, trước những biến động của môi trường kinh doanh, Chi nhánh đã thực hiện nhiều biện pháp điều chỉnh nhằm kiểm soát và hạn chế rủi ro tín dụng.

Thứ nhất, Chi nhánh tăng cường rà soát danh mục tín dụng, hạn chế cấp mới đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao và ưu tiên khách hàng có lịch sử tín dụng tốt.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác thu hồi nợ quá hạn và xử lý nợ xấu thông qua cơ cấu lại thời hạn trả nợ, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật.

Thứ ba, nâng cao vai trò của công tác kiểm tra nội bộ, tăng tần suất kiểm tra đối với các khoản vay có dấu hiệu rủi ro.

Tuy nhiên, quá trình xử lý tài sản bảo đảm còn gặp khó khăn do vướng mắc pháp lý và biến động thị trường, kéo dài thời gian thu hồi vốn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giảm nợ xấu và cải thiện chất lượng tín dụng.

Nhìn tổng thể, Chi nhánh đã có những điều chỉnh tích cực trong quản trị RRTD, song phần lớn mang tính khắc phục sau khi rủi ro phát sinh, chưa hình thành được cơ chế phòng ngừa mang tính hệ thống và chủ động cao.

Qua phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank – Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn giai đoạn 2021–2024 có thể nhận định: Chi nhánh đã xây dựng được khung quản trị rủi ro tương đối đầy đủ và tuân thủ nghiêm các quy định hiện hành; Bộ máy tổ chức và quy trình quản trị cơ bản đáp ứng yêu cầu hoạt động. Tuy nhiên, mức độ chủ động trong hoạch định chiến lược rủi ro, hiệu quả cảnh báo sớm và quản trị danh mục tín dụng còn hạn chế, Công tác xử lý nợ vẫn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố pháp lý và thị trường.

2.3 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI AGRIBANK CN TRUNG TÂM SÀI GÕN GIAI ĐOẠN 2021 – 2024 Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Hoạt động quản trị RRTD đã tác động đến thực trạng RRTD tại chi nhánh trong giai đoạn nghiên cứu, được thể hiện rõ thông qua sự biến động của các chỉ tiêu đảm bảo các kế hoạch liên quan đến đảm bảo chất lượng tín dụng như dư nợ quá hạn, dư nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu và cơ cấu danh mục tín dụng tại chi nhánh.

2.3.1 Thực trạng công tác quản trị RRTD tại Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn

Hàng năm, dựa trên kế hoạch hoạt động, chi nhánh sẽ xác định các chỉ tiêu liên quan đến hoạt động tín dụng, trong đó có các chỉ tiêu về quy mô tín dụng, tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu. Bảng 2.2 trình bày các số liệu liên quan đến kế hoạch và thực hiện cấp tín dụng của Agribank CN Trung tâm Sài Gòn trong giai đoạn nghiên cứu.

Dư nợ cho vay khách hàng tăng theo ba nhịp rõ rệt: giảm 6% năm 2022 (2.085 xuống 1.965 tỷ đồng), phục hồi 18% năm 2023 (lên 2.327 tỷ đồng) và bứt tốc 49% năm 2024 (đạt 3.470 tỷ đồng). Biến động này phù hợp bối cảnh vĩ mô và đặc thù địa bàn trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh: năm 2022 chịu tác động hậu dịch và hạn mức tín dụng thận trọng khiến cầu vốn chững lại; từ 2023 hoạt động thương mại – dịch vụ, du lịch và bán lẻ phục hồi, cùng mặt bằng lãi suất hạ nhiệt trong 2023–2024 tạo dư địa mở rộng cho vay, đặc biệt ở khối doanh nghiệp vừa và nhỏ và khách hàng có tài sản bảo đảm chuẩn. Tăng trưởng mạnh đi kèm việc tuân thủ cơ chế kiểm soát rủi ro của Agribank (xếp hạng nội bộ, giới hạn theo ngành và tài sản bảo đảm, chuẩn mực hồ sơ) giúp chi nhánh nâng dư nợ mà vẫn giữ ổn định chất lượng.

Nợ quá hạn giảm mạnh năm 2022 từ 244 xuống 103 tỷ đồng (-58%), tăng trở lại 61% năm 2023 lên 166 tỷ đồng rồi hạ 30% năm 2024 còn 117 tỷ đồng. Quỹ đạo này phản ánh chu kỳ dòng tiền của khu vực dịch vụ – thương mại trên địa bàn: 2022 ghi nhận hiệu ứng làm sạch và kỷ luật thu nợ tốt hơn sau giai đoạn dịch; 2023 chịu tác động lãi suất cao nửa đầu năm và khó khăn của bất động sản – xây dựng khiến một phần khoản vay chậm trả kỹ thuật; bước sang 2024, khi lãi suất giảm và tiêu dùng nội địa cải thiện, tỷ lệ chậm trả thu hẹp. Việc duy trì mức nợ quá hạn thấp hơn mục tiêu trong toàn giai đoạn cho thấy cơ chế giám sát sau vay, nhắc nợ và tái xếp hạng định kỳ của Agribank và chi nhánh vận hành hiệu quả, đặc biệt trong bối cảnh dư nợ tăng nhanh.

Nợ xấu giảm đột biến năm 2022 từ 196,2 xuống 58,4 tỷ đồng (-70%), tiếp tục giảm 12% năm 2023 còn 51,2 tỷ đồng và nhích 21% năm 2024 lên 62,1 tỷ đồng nhưng vẫn dưới ngưỡng kế hoạch. Mức giảm sâu 2022 gắn với quá trình chuẩn hóa sau dịch, phân loại và xử lý dứt điểm một số hồ sơ yếu, đồng thời phản ánh kết quả phân bổ tín dụng về các phân khúc có tài sản bảo đảm và dòng tiền ổn định. Sự tăng nhẹ 2024 là hệ quả trễ của áp lực 2023 và tỷ trọng khoản vay trung dài hạn cao hơn, song không làm thay đổi bức tranh chất lượng chung nhờ khuôn khổ kiểm soát rủi ro của Agribank (xếp hạng nội bộ, giới hạn tập trung, quản trị tài sản bảo đảm, trích lập dự phòng theo quy định) được thực thi nhất quán tại Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn.

  • Bảng 2.2: Quy mô dư nợ, nợ quá hạn, nợ xấu của CN Trung tâm Sài Gòn

Kết quả này cho thấy phần nào tình trạng quản trị RRTD vẫn chưa thực sự tốt khi có biến động chưa thống nhất trong giai đoạn nghiên cứu mặc dù vẫn đảm bảo thấp hơn so với kế hoạch đề ra. Biểu đồ 2.2 cho thấy rõ hơn chất lượng tín dụng của Chi nhánh trong giai đoạn nghiên cứu, xem xét biểu đồ 2.1. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

  • Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu của Agribank CN Trung tâm Sài Gòn

Tỷ lệ dư nợ quá hạn đi theo quỹ đạo bậc thang: 11,70% năm 2021 xuống 5,24% năm 2022, bật lên 7,13% năm 2023 rồi hạ còn 3,37% năm 2024. Năm 2021 phản ánh tác động trễ của giai đoạn phong tỏa và đứt gãy dòng tiền ở khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, nơi chi nhánh phục vụ mật độ cao các doanh nghiệp thương mại – dịch vụ, bán lẻ, lưu trú – ăn uống và hộ kinh doanh cá thể. Bước sang 2022, tỷ lệ quá hạn giảm mạnh nhờ quá trình làm sạch sau dịch, chấn chỉnh kỷ luật thu nợ, cơ cấu kỳ hạn phù hợp và kiểm soát chặt việc chứng minh dòng tiền. Đỉnh nhẹ năm 2023 gắn với mặt bằng lãi suất cao nửa đầu năm, sự suy giảm thanh khoản ở bất động sản đô thị và xây lắp, cùng độ trễ của các khoản trung – dài hạn ký trong giai đoạn trước; phần lớn mang tính —chậm trả kỹ thuật‖ hơn là suy giảm chất lượng thực. Đến 2024, khi lãi suất hạ, tiêu dùng – du lịch nội địa phục hồi ở các quận trung tâm và khu vực quanh sân bay, tỷ lệ quá hạn trở lại vùng thấp; đồng thời, mẫu số dư nợ tăng nhanh cũng làm giảm tỷ lệ nhưng không che lấp thực tế là số lượng khoản vi phạm nghĩa vụ đã thu hẹp rõ rệt theo dõi trên hệ thống nhắc nợ và cảnh báo sớm.

Tỷ lệ nợ xấu thể hiện xu hướng cải thiện bền vững: 9,41% năm 2021 giảm còn 2,97% năm 2022, xuống 2,20% năm 2023 và tiếp tục còn 1,79% năm 2024. Mức giảm sâu năm 2022 cho thấy hiệu quả của phân loại lại đúng chuẩn, hoàn tất các hồ sơ cơ cấu hợp lệ, thu hồi những khoản có tài sản bảo đảm dễ hiện thực hóa và siết điều kiện tín dụng đối với ngành nghề nhạy cảm trên địa bàn. Giai đoạn 2023–2024, dù môi trường vĩ mô còn thách thức ở bất động sản thương mại, chuỗi cung ứng xây dựng và một phần bán lẻ, nợ xấu tiếp tục đi xuống nhờ cơ chế chấm điểm nội bộ kết hợp điều kiện ràng buộc theo tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản, theo dõi sau vay theo rủi ro và tái xếp hạng định kỳ. Đặc trưng danh mục của chi nhánh là tỷ lệ khoản vay có tài sản bảo đảm bất động sản đô thị cao, giá trị minh bạch và thanh khoản tốt hơn các khu vực ngoại thành; điều này giúp hạn chế tổn thất kỳ vọng khi phát sinh sự kiện tín dụng và là nền tảng cho tỷ lệ nợ xấu duy trì dưới mức kế hoạch trong khi quy mô dư nợ mở rộng nhanh.

Xét mối quan hệ động giữa hai chỉ tiêu, năm 2023 là điểm rẽ khi tỷ lệ quá hạn tăng nhưng tỷ lệ nợ xấu vẫn giảm, cho thấy phần lớn khoản chậm trả đã được khống chế và —chữa khỏi‖ trước khi chuyển nhóm nặng hơn nhờ nhắc nợ chủ động, điều chỉnh dòng tiền thu nợ và tái đánh giá điều kiện ràng buộc. Năm 2024, cả hai tỷ lệ cùng thu hẹp về vùng thấp xác lập trạng thái ổn định mới của danh mục trong bối cảnh dư nợ tăng mạnh ở các phân khúc có tài sản bảo đảm chuẩn và khách hàng có lịch sử giao dịch rõ ràng tại khu vực trung tâm. Diễn biến này phù hợp cấu trúc kinh tế địa bàn: thương mại – dịch vụ phục hồi, khách du lịch trở lại, nhu cầu nhà ở đô thị phân khúc trung cấp ổn định; đồng thời phản ánh khung kiểm soát rủi ro của Agribank và chi nhánh được vận hành nhất quán từ khâu xếp hạng, giới hạn theo ngành và tài sản bảo đảm, đến giám sát sau vay theo mức độ rủi ro.

Trong giai đoạn 2021–2024, công tác quản trị rủi ro tín dụng (RRTD) tại Agribank – Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn được triển khai trên cơ sở tuân thủ quy định nội bộ của Agribank và các quy định của Ngân hàng Nhà nước. Hoạt động quản trị RRTD được thực hiện xuyên suốt từ khâu thẩm định trước khi cấp tín dụng, kiểm soát trong quá trình giải ngân đến giám sát và xử lý sau cho vay.

  • Công tác nhận diện rủi ro tín dụng Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Chi nhánh thực hiện nhận diện rủi ro thông qua quá trình thẩm định khách hàng, phân tích tình hình tài chính, dòng tiền, phương án sản xuất kinh doanh và đánh giá tài sản bảo đảm. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được áp dụng để phân loại mức độ rủi ro của từng khách hàng.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc nhận diện rủi ro còn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và năng lực chủ quan của cán bộ tín dụng. Công cụ phân tích định lượng và ứng dụng công nghệ trong cảnh báo sớm rủi ro chưa được khai thác sâu. Điều này dẫn đến khả năng phát hiện sớm các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng còn hạn chế trong một số trường hợp.

  • Công tác đo lường và đánh giá rủi ro tín dụng

Việc đo lường rủi ro tại Chi nhánh chủ yếu dựa trên hệ thống phân loại nợ, xếp hạng tín dụng và theo dõi các chỉ tiêu như tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, mức trích lập dự phòng rủi ro.

Công tác đo lường nhìn chung được thực hiện đầy đủ theo quy định. Tuy nhiên, các chỉ tiêu theo dõi vẫn tập trung chủ yếu vào kết quả đã phát sinh (ex-post), chưa có nhiều công cụ dự báo mang tính phòng ngừa (ex-ante). Việc phân tích rủi ro danh mục theo ngành nghề, nhóm khách hàng hoặc mức độ tập trung tín dụng chưa được thực hiện thường xuyên và chuyên sâu.

Do đó, mặc dù các chỉ tiêu rủi ro được kiểm soát trong giới hạn cho phép, nhưng khả năng đánh giá xu hướng rủi ro tiềm ẩn vẫn còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

  • Công tác kiểm soát và giám sát rủi ro tín dụng

Công tác kiểm soát RRTD được thực hiện thông qua cơ chế phân tách chức năng giữa bộ phận kinh doanh và bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Các khoản vay được kiểm tra định kỳ sau giải ngân để đánh giá tình hình sử dụng vốn và khả năng trả nợ của khách hàng.

Trong thực tế, hoạt động giám sát sau vay đã được triển khai nhưng còn mang tính định kỳ theo kế hoạch, chưa thực sự linh hoạt theo mức độ rủi ro của từng khoản vay. Một số trường hợp nợ quá hạn phát sinh cho thấy việc giám sát chưa kịp thời hoặc chưa phát hiện sớm các dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ.

Ngoài ra, do khối lượng công việc lớn và áp lực chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, công tác kiểm tra đôi khi mang tính hình thức, chưa đi sâu phân tích bản chất rủi ro của từng khách hàng.

  • Công tác xử lý và hạn chế rủi ro tín dụng

Khi rủi ro phát sinh, Chi nhánh đã thực hiện các biện pháp như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tăng cường thu hồi nợ quá hạn, xử lý tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật.

Mặc dù công tác xử lý nợ được triển khai quyết liệt, song quá trình xử lý tài sản bảo đảm còn gặp nhiều khó khăn do thủ tục pháp lý phức tạp và biến động thị trường. Điều này ảnh hưởng đến tốc độ thu hồi nợ và hiệu quả giảm thiểu tổn thất tín dụng.

Nhìn chung, công tác xử lý rủi ro tại Chi nhánh mang tính khắc phục hậu quả sau khi rủi ro phát sinh, chưa hình thành cơ chế phòng ngừa mang tính hệ thống và chủ động cao.

2.3.2 Thực trạng danh mục tín dụng tại Agribank Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

  • Phân theo nhóm khách hàng

Phân loại dư nợ theo nhóm khách hàng là yêu cầu cốt lõi của quản trị rủi ro tín dụng vì: (1) hồ sơ rủi ro khác nhau giữa khách hàng pháp nhân và khách hàng cá nhân về khả năng tạo dòng tiền, mức độ biến động thu nhập, tính chu kỳ ngành và mức độ minh bạch thông tin; (2) cấu trúc tài sản bảo đảm khác nhau, dẫn tới chênh lệch về tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản và mức tổn thất khi vỡ nợ; (3) kỳ hạn, phương thức trả nợ và mô hình sử dụng vốn khác nhau nên cần ngưỡng cảnh báo sớm, tần suất giám sát, định giá lại tài sản và cách xác định dự phòng riêng; (4) rủi ro tập trung tên khách hàng và theo nhóm liên quan thường cao ở khối pháp nhân, trong khi rủi ro vận hành và số lượng khoản vay lớn hơn ở khối cá nhân; (5) yêu cầu báo cáo, phân bổ vốn và xây dựng chính sách giá theo rủi ro của Agribank đòi hỏi tách bạch theo phân khúc để xác lập hạn mức, giới hạn và mục tiêu chất lượng tín dụng phù hợp.

  • Bảng 2.2: Cơ cấu dư nợ theo nhóm khách hàng

Giai đoạn 2021–2024 cho thấy dịch chuyển rõ sang khối khách hàng cá nhân. Dư nợ pháp nhân lần lượt 1.445 – 1.010 – 1.083 – 1.499 tỷ đồng, tỷ trọng giảm từ 69% xuống 43%. Dư nợ cá nhân tăng từ 640 đến 1.971 tỷ đồng, tỷ trọng tăng từ 31% lên 57% trong giai đoạn 2019 – 2024. Năm 2022 khối pháp nhân thu hẹp do thận trọng sau dịch và giới hạn tăng trưởng tín dụng toàn ngành; từ 2023–2024 cả hai phân khúc đều tăng nhưng tốc độ của khối cá nhân vượt trội nhờ sản phẩm thế chấp nhà ở, tiêu dùng có bảo đảm phù hợp với đặc thù đô thị trung tâm. Cơ cấu hiện tại làm danh mục phân tán rủi ro đơn vị vay tốt hơn, giảm mức độ tập trung theo tên khách hàng lớn, đồng thời giữ chất lượng tín dụng ổn định nhờ nền tài sản bảo đảm chủ yếu là bất động sản đô thị. Sự dịch chuyển này phù hợp khẩu vị rủi ro của Agribank và Chi nhánh: ưu tiên các khoản vay có bảo đảm, hồ sơ minh bạch, dòng tiền trả góp rõ ràng, trong khi vẫn duy trì hiện diện ở khối pháp nhân nhưng trong giới hạn rủi ro đã định.

  • Phân theo tài sản bảo đảm Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực quản trị rủi ro tín dụng của chi nhánh chính là cơ chế đảm bảo an toàn khoản vay dựa trên tài sản bảo đảm. Chi nhánh cũng chủ động áp dụng biện pháp đảm bảo an toàn tín dụng khi phần lớn các khoản cấp tín dụng của chi nhánh đều có tài sản đảm bảo, thể hiện qua bảng 2.3.

  • Bảng 2.3: Cơ cấu dư nợ theo tài sản bảo đảm của Agribank CN Trung tâm Sài Gòn

Cơ cấu dư nợ theo tài sản bảo đảm cho thấy khẩu vị rủi ro rất thận trọng và nhất quán: dư nợ có tài sản bảo đảm luôn chiếm gần như toàn bộ danh mục, duy trì quanh 99% giai đoạn 2021–2024 (98,5% vào 2023 rồi quay lại 99,2% năm 2024). Quy mô dư nợ có bảo đảm giảm nhẹ năm 2022 (tương ứng điều chỉnh tăng trưởng tín dụng sau dịch), sau đó tăng mạnh năm 2023 và bứt tốc năm 2024 (lên 3.442 tỷ đồng), khẳng định định hướng mở rộng tín dụng chủ yếu qua các khoản vay có tài sản thế chấp/hình thành từ vốn vay. Ngược lại, dư nợ không có tài sản bảo đảm luôn ở mức rất nhỏ (0,8–1,5% danh mục), chỉ thoáng tăng năm 2023 rồi thu hẹp ngay năm 2024; điều này phản ánh kỷ luật cấp tín dụng dựa trên bảo đảm, chỉ mở —cửa hẹp‖ cho các hồ sơ có lịch sử giao dịch – dòng tiền rõ ràng. Sự lựa chọn cấu trúc này phù hợp bối cảnh vĩ mô và địa bàn hoạt động của Chi nhánh Trung tâm Sài Gòn. Sau giai đoạn biến động 2021–2023 (chi phí vốn tăng, bất động sản và xây lắp gặp khó, dòng tiền hộ kinh doanh chưa ổn định), khẩu vị thiên về bảo đảm giúp kiểm soát tổn thất kỳ vọng thông qua hạ thấp hệ số tổn thất khi vỡ nợ. Đặc thù địa bàn trung tâm thành phố với tài sản bảo đảm là bất động sản đô thị có thanh khoản tương đối tốt giúp nâng khả năng thu hồi khi phát sinh rủi ro. Ở góc độ nội bộ, Agribank áp dụng khung xếp hạng tín dụng, giới hạn theo ngành và theo tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản; chi nhánh đồng thời mang vai trò đầu mối xử lý nợ khu vực phía Nam nên càng thận trọng với khoản vay không bảo đảm. Nhờ kết hợp các yếu tố khách quan (chu kỳ kinh tế, cấu trúc tài sản trên địa bàn) và chủ quan (chính sách tín dụng, ma trận giới hạn, quy định tài sản bảo đảm, định giá – định giá lại), danh mục được neo chặt vào tài sản bảo đảm, tạo nền tảng bảo vệ biên an toàn và khả năng thu hồi, qua đó giữ nợ quá hạn và nợ xấu dưới mức kế hoạch ngay cả khi dư nợ tăng nhanh.

  • Phân theo thời hạn

Bảng 2.4: Cơ cấu dư nợ theo thời hạn cho vay của Agribank CN Trung tâm Sài Gòn

Việc đa dạng danh mục tín dụng tại chi nhánh còn được thể hiện thông qua cơ cấu dư nợ theo thời gian. Cơ cấu kỳ hạn cho thấy sự dịch chuyển chủ động sang các khoản vay trung dài hạn có tài sản bảo đảm, phù hợp khẩu vị thận trọng của Chi nhánh. Dư nợ ngắn hạn giảm từ 1.251 tỷ đồng (60,0%) năm 2021 xuống 541,32 tỷ đồng (15,6%) năm 2024; trong khi dư nợ trung dài hạn tăng từ 834 tỷ đồng (40,0%) lên 2.928,7 tỷ đồng (84,4%). Nhịp giảm của ngắn hạn năm 2022 gắn với giai đoạn siết hạn mức tín dụng và chi phí vốn tăng, qua đó hạn chế tiếp xúc với rủi ro biến động dòng tiền của vốn lưu động. Giai đoạn 2023–2024, khi mặt bằng lãi suất hạ và nhu cầu nhà ở đô thị, đầu tư tài sản cố định phục hồi tại khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, chi nhánh mở rộng chủ yếu ở phân khúc trung dài hạn có thế chấp rõ ràng, trả góp theo dòng tiền – đúng định hướng chính sách tín dụng của Agribank ưu tiên khoản vay an toàn, có tài sản bảo đảm và hồ sơ minh bạch.

Rủi ro tín dụng phát sinh từ kỳ hạn dài được kiểm soát bằng hệ khung nội bộ của Agribank và chi nhánh: giới hạn tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản, điều kiện ràng buộc tài chính, giải ngân theo tiến độ dự án, điều khoản điều chỉnh lãi suất theo kỳ, định giá và định giá lại tài sản bảo đảm theo chu kỳ hoặc khi thị trường biến động, tái xếp hạng định kỳ và giám sát sau vay theo mức độ rủi ro. Đặc thù địa bàn trung tâm giúp nền tài sản bảo đảm chủ yếu là bất động sản đô thị có thanh khoản tốt, qua đó hạ tổn thất ước tính khi xảy ra sự kiện tín dụng. Ngược lại, việc thu hẹp dư nợ ngắn hạn làm giảm xác suất phát sinh nợ quá hạn do gián đoạn dòng tiền của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh sau giai đoạn phục hồi, phù hợp bối cảnh vĩ mô còn nhiều yếu tố bất định. Sự đa dạng về kỳ hạn tạo sự hợp lý, giúp phân tán rủi ro chuyển nhóm theo thời gian và giảm dư nợ còn lại nhờ cấu trúc trả góp. Kết quả là trong khi tổng dư nợ tăng từ 2.085 tỷ lên 3.470 tỷ đồng giai đoạn 2021–2024, các tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu vẫn dưới mức kế hoạch. Điều này cho thấy chiến lược ưu tiên các khoản trung dài hạn có bảo đảm, kỷ luật thẩm định – giám sát, và lựa chọn khách hàng có dòng tiền ổn định tại khu vực thương mại – dịch vụ trọng điểm đã phát huy hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng, hạn chế tổn thất cho ngân hàng. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

2.3.3 Thực trạng kiểm tra, giám sát, điều chỉnh, khắc phục tồn tại sau kiểm tra, giám sát trong quản trị rủi ro tín dụng

Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được Chi nhánh thực hiện theo đúng pháp luật và quy định của Agribank. Việc phân loại dựa trên cả tiêu chí định tính và định lượng, căn cứ chủ yếu vào kết quả tái thẩm định và tái xếp hạng định kỳ hàng năm hoặc khi phát sinh biến động trọng yếu. Trong giai đoạn xem xét, phần lớn dịch chuyển nhóm nợ xuất phát từ việc khách hàng chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, hình thành các dấu hiệu rủi ro của khoản vay. Khung quản trị rủi ro của Agribank quy định nguyên tắc lựa chọn phương án khai thác hoặc thanh lý; đối với từng hồ sơ cụ thể, Ban Giám đốc Chi nhánh quyết định biện pháp xử lý trên cơ sở đề xuất của Phòng Khách hàng. Các khoản chậm trả trước hết được áp dụng biện pháp cơ cấu khoản nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, của Agribank và được phân loại, trích lập dự phòng rủi ro theo quy định; khi khai thác không hiệu quả, Chi nhánh chuyển sang các biện pháp bắt buộc khác như xử lý tài sản bảo đảm, bán khoản nợ, khởi kiện,…

Chi nhánh thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín dung theo quy định của NHNN và Agribank. Trong đó, các khoản trích lập dự phòng RRTD bao gồm trích lập chung và trích lập cụ thể theo nhóm nợ. Biểu đồ 2.3 cho thấy biến động của khoản mục chi phí dự phòng RRTD của chi nhánh trong giai đoạn nghiên cứu.

  • Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng/nợ xấu nội bảng tại Agrbank CN Trung tâm Sài Gòn

Biểu đồ 2.3 thể hiện mức bao phủ rủi ro của chi nhánh qua tỷ lệ trích lập dự phòng trên nợ xấu nội bảng. Giai đoạn 2021–2023, tỷ lệ này tăng mạnh từ 154% lên 264% rồi đạt đỉnh 337%, phản ánh chủ trương tăng đệm dự phòng cao hơn giá trị nợ xấu còn lại trên sổ. Động thái này phù hợp với bối cảnh hậu dịch và môi trường lãi suất biến động: trong khi nợ xấu giảm nhanh nhờ xử lý – cơ cấu – thu hồi, chi nhánh vẫn duy trì mức trích lập cao để hấp thụ rủi ro còn tiềm ẩn, nhất là rủi ro trì hoãn ở các khoản vay trung dài hạn và các hồ sơ chịu tác động của thị trường bất động sản. Việc bao phủ vượt 300% năm 2023 cho thấy chi nhánh chủ động —đi trước rủi ro‖, không giảm trích lập cùng tốc độ với đà hạ của nợ xấu, qua đó củng cố năng lực chịu lỗ tín dụng.

Năm 2024, tỷ lệ giảm mạnh về 119%. Sự hạ nhiệt này thường đến từ ba lực cùng lúc: sử dụng một phần dự phòng đã tích lũy để xử lý hồ sơ khó, ghi hoàn dự phòng khi khách hàng phục hồi hoặc thu hồi nợ tốt hơn dự kiến, và điều chỉnh trích lập theo cơ cấu danh mục mới khi dư nợ tăng nhanh, tỷ trọng khoản vay trung dài hạn có tài sản bảo đảm cao hơn làm hệ số tổn thất kỳ vọng bình quân thấp hơn. Cần lưu ý nợ xấu năm 2024 có nhích lên, trong khi mức dự phòng giảm so với đỉnh 2023, khiến —đệm an toàn‖ thu hẹp so với giai đoạn phòng thủ trước đó, dù 119% vẫn lớn hơn 100% và đáp ứng yêu cầu bao phủ tối thiểu.

Xét trên nền rủi ro thực tế của địa bàn trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh—danh mục thế chấp bất động sản đô thị có khả năng hiện thực hóa nhưng nhạy với chu kỳ giá—quỹ đạo 2021–2023 cho thấy cách tiếp cận thận trọng, còn mức 2024 phản ánh trạng thái bình thường hóa dự phòng đi kèm mở rộng tín dụng. Về mặt quản trị, diễn biến này nhất quán với khẩu vị rủi ro của Agribank và Chi nhánh: ưu tiên duy trì dự phòng vượt giá trị nợ xấu khi rủi ro hệ thống tăng, sau đó tối ưu mức trích khi chất lượng danh mục ổn định và hoạt động thu hồi cải thiện, đồng thời vẫn giữ mức bao phủ trên một lần để đảm bảo khả năng hấp thụ tổn thất tín dụng phát sinh. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI AGRIBANK – CN TRUNG TÂM SÀI GÕN GIAI ĐOẠN 2021 – 2024.

2.4.1 Kết quả đạt được trong quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank – CN Trung tâm Sài Gòn

Chất lượng tín dụng cải thiện: tỷ lệ nợ xấu giảm từ 9,41% năm 2021 xuống 2,97% năm 2022, 2,20% năm 2023 và 1,79% năm 2024, luôn thấp hơn kế hoạch; nguyên nhân là chi nhánh bám sát chính sách tín dụng lựa chọn đối tượng có năng lực tài chính và dòng tiền rõ ràng, thực hiện phân loại nợ – trích lập dự phòng theo quy định và duy trì quy trình thẩm định, tái thẩm định, tái xếp hạng định kỳ.

Nợ quá hạn được khống chế: tỷ lệ dư nợ quá hạn từ 11,70% năm 2021 hạ còn 5,24% năm 2022, tăng kỹ thuật lên 7,13% năm 2023 rồi về 3,37% năm 2024; nguyên nhân đến từ chuỗi kiểm soát sau vay gồm nhắc nợ, kiểm tra sử dụng vốn, cập nhật xếp hạng và xử lý kịp thời các khoản chậm trả theo đúng quy trình tín dụng.

Tăng trưởng có kiểm soát rủi ro: dư nợ cho vay giảm 6% năm 2022 rồi tăng 18% năm 2023 và 49% năm 2024 nhưng các chỉ tiêu nợ quá hạn và nợ xấu vẫn dưới mục tiêu; nguyên nhân là mở rộng tín dụng gắn với tiêu chuẩn phê duyệt chặt, trình chủ trương qua Hội đồng theo lịch định kỳ và áp điều kiện ràng buộc cụ thể trong hợp đồng.

Cấu trúc bảo đảm an toàn: tỷ trọng dư nợ có tài sản bảo đảm quanh 99% trong suốt giai đoạn (98,5% năm 2023; 99,2% năm 2024), dư nợ không bảo đảm chỉ 0,8–1,5%; nguyên nhân là khẩu vị rủi ro thận trọng của Agribank và chi nhánh, yêu cầu hồ sơ bảo đảm đầy đủ, định giá và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định để nâng khả năng thu hồi và giảm tổn thất.

Kỳ hạn danh mục được quản trị chặt: tỷ lệ trung dài hạn tăng từ 40,0% năm 2021 lên 59,4% năm 2022, 65,0% năm 2023 và 84,4% năm 2024, trong khi ngắn hạn giảm từ 60,0% xuống 15,6%; nguyên nhân là ưu tiên các khoản vay có tài sản bảo đảm, trả góp theo dòng tiền và giám sát – định giá lại tài sản theo chu kỳ để kiểm soát rủi ro trong suốt vòng đời khoản vay.

Cơ cấu khách hàng dịch chuyển đúng định hướng: dư nợ cá nhân tăng từ 31% năm 2021 lên 57% năm 2024, dư nợ pháp nhân giảm từ 69% xuống 43%; nguyên nhân là chính sách ưu tiên phân khúc cá nhân và doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa, có nguồn thu minh bạch, tài sản bảo đảm chuẩn, giúp phân tán rủi ro đơn vị vay và giữ chất lượng ổn định.

Đệm dự phòng bảo vệ danh mục: tỷ lệ trích lập dự phòng trên nợ xấu đạt 154% năm 2021, 264% năm 2022, 337% năm 2023 và 119% năm 2024; nguyên nhân là tuân thủ phân loại – trích lập theo quy định, tăng bao phủ mạnh giai đoạn trước rồi điều chỉnh phù hợp khi nợ xấu giảm và cơ cấu danh mục thay đổi, vẫn duy trì mức bao phủ trên một lần để hấp thụ tổn thất tín dụng.

2.4.2 Hạn chế trong quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank – CN Trung tâm Sài Gòn Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Ngoài những kết quả đạt được, hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của chi nhánh vẫn còn tồn tại một số hạn chế như sau:

Tỷ trọng trung dài hạn rất cao. Đến 2024, dư nợ trung dài hạn chiếm 84,4% danh mục (tăng từ 40,0% năm 2021), trong khi dư nợ ngắn hạn giảm còn 15,6%. Cơ cấu này làm rủi ro tín dụng nhạy hơn với chu kỳ dòng tiền dài và thời gian thu hồi vốn kéo dài. Nguyên nhân đến từ dịch chuyển danh mục trong giai đoạn 2022–2024 sang các khoản vay trung dài hạn khi tổng dư nợ tăng.

Tỷ lệ trích lập dự phòng trên nợ xấu tăng mạnh giai đoạn 2021–2023 (154% → 264% → 337%) nhưng giảm về 119% năm 2024, cho thấy mức bao phủ rủi ro thu hẹp so với đỉnh. Nguyên nhân là điều chỉnh trích lập theo cơ cấu danh mục và quy mô nợ xấu năm 2024 trong bối cảnh dư nợ tăng nhanh.

Nợ xấu có nhịp tăng lại năm 2024. Giá trị nợ xấu giảm 2021–2023 nhưng tăng 21% năm 2024 (từ 51,2 lên 62,1 tỷ đồng). Nguyên nhân gắn với độ trễ của các khoản vay phát sinh trước đó và cơ cấu kỳ hạn dài hơn trong danh mục.

Nợ quá hạn biến động thât thường theo năm. Tỷ lệ nợ quá hạn giảm 2022, tăng lên 7,13% năm 2023 rồi mới hạ còn 3,37% năm 2024, phản ánh mức độ nhạy của danh mục trước biến động môi trường hoạt động. Nguyên nhân là sự thay đổi theo kỳ của chất lượng thu nợ trong giai đoạn mở rộng dư nợ.

Phụ thuộc lớn vào tài sản bảo đảm. Tỷ trọng dư nợ có tài sản bảo đảm luôn quanh 99% (98,5% năm 2023; 99,2% năm 2024), phần không bảo đảm chỉ 0,8–1,5%. Nguyên nhân là khẩu vị rủi ro rất thận trọng và yêu cầu bảo đảm chặt chẽ, dẫn tới cơ cấu tín dụng gần như dựa hoàn toàn vào tài sản thế chấp.

2.4.3 Nguyên nhân những hạn chế Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

  • Nguyên nhân khách quan

Các yếu tố vĩ mô và chu kỳ tín dụng là nguyên nhân khách quan hàng đầu: năm 2023 mặt bằng lãi suất cao hơn giai đoạn ngay sau dịch khiến hệ số trả nợ tăng và tạo độ trễ lên các khoản vay trung dài hạn ký trước đó; khi lãi suất hạ trong 2024, áp lực này mới giảm dần. Bên cạnh đó, việc các cơ chế cơ cấu và giữ nguyên nhóm nợ áp dụng trong giai đoạn khó khăn kết thúc theo lộ trình làm một số khoản vay phải trở về chế độ phân loại bình thường, kéo theo chuyển nhóm cục bộ. Nhịp phục hồi không đồng đều giữa thương mại, dịch vụ, lưu trú – ăn uống tại khu vực trung tâm thành phố gây biến động theo mùa của doanh thu, làm xuất hiện các —đỉnh‖ nợ quá hạn mang tính kỹ thuật trong năm 2023 trước khi hạ nhiệt.

Yếu tố thị trường bất động sản và khuôn khổ pháp lý dự án ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hồi qua tài sản bảo đảm: thanh khoản bất động sản đô thị chậm lại, thủ tục pháp lý nhiều hồ sơ kéo dài làm giảm tốc độ hiện thực hóa, dẫn tới tỷ lệ xử lý tài sản bảo đảm thành công rất thấp trong kỳ đánh giá. Cùng lúc, biến động chi phí đầu vào, logistics và tiến độ thi công trong chuỗi xây lắp – bất động sản làm vòng quay vốn chậm, biên lợi nhuận mỏng, gia tăng xác suất chậm trả ở các khoản trung dài hạn gắn với tài sản cố định. Những điều kiện khách quan này khiến dù danh mục có tỷ trọng cho vay có bảo đảm rất cao, kênh thu hồi qua tài sản vẫn kém hiệu quả trong giai đoạn quan sát.

Từ phía khách hàng, cấu trúc dòng tiền của cá nhân và hộ kinh doanh tại đô thị lớn nhạy với lãi suất, chi phí sinh hoạt và việc làm nên các khoản vay trả góp trung dài hạn dễ phát sinh chậm trả theo chu kỳ. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hệ thống kế toán – báo cáo chưa chuẩn hóa và phụ thuộc dòng tiền ngắn hạn khiến việc dự báo dòng tiền và kiểm soát hệ số chi trả nợ khó khăn hơn, làm danh mục nhạy cảm trước biến động ngắn hạn. Ngoài ra, nhóm nợ ngoại bảng được bàn giao vốn dĩ có tính chất pháp lý phức tạp và kéo dài khiến tốc độ thu hồi thấp so với quy mô. Các yếu tố khách quan này buộc chi nhánh duy trì khẩu vị thận trọng, qua đó đồng thời lý giải những hạn chế còn tồn tại trong quản trị rủi ro tín dụng được ghi nhận trong kỳ.

  • Nguyên nhân từ phía ngân hàng Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

Nguyên nhân chủ quan về cấu trúc danh mục: định hướng mở rộng ở các khoản vay trung dài hạn có tài sản bảo đảm khiến tỷ trọng kỳ hạn dài tăng nhanh đến 84,4% năm 2024, trong khi ngắn hạn giảm còn 15,6%. Lựa chọn này giúp an toàn theo tài sản bảo đảm nhưng làm danh mục nhạy hơn với suy giảm dòng tiền theo chu kỳ dài và độ trễ tín dụng, góp phần tạo nhịp tăng lại của nợ xấu năm 2024 và biến động nợ quá hạn theo năm. Đây là hệ quả trực tiếp của chiến lược tăng trưởng dựa trên thế chấp và trả góp dài hạn, hơn là cân bằng giữa vốn lưu động ngắn hạn và vay đầu tư.

Nguyên nhân chủ quan về chính sách dự phòng: tỷ lệ bao phủ dự phòng trên nợ xấu được nâng rất cao giai đoạn 2021–2023 rồi hạ về 119% năm 2024, phản ánh điều chỉnh nội bộ nhằm tối ưu kết quả tài chính khi chất lượng tín dụng cải thiện. Việc thu hẹp —đệm‖ dự phòng làm biên an toàn giảm so với đỉnh, trong khi giá trị nợ xấu nhích tăng năm 2024; đây là lựa chọn quản trị thận trọng nhưng vẫn thiên về bình thường hóa chi phí rủi ro, qua đó để lại dư địa an toàn hẹp hơn trước các cú sốc mới.

Nguyên nhân chủ quan trong khâu thẩm định và giám sát: quy trình 6 bước được duy trì, nhưng cường độ tái thẩm định và giám sát sau vay chưa đồng đều theo rủi ro, thể hiện ở nhịp tăng nợ quá hạn năm 2023 trước khi hạ trở lại 2024. Việc phụ thuộc nhiều vào tài sản bảo đảm có thể làm giảm trọng số phân tích dòng tiền và sức chịu đựng lãi suất của khách hàng; đồng thời áp lực khối lượng hồ sơ trong giai đoạn tăng trưởng nhanh khiến kiểm tra sau vay có lúc bị gián đoạn, làm chậm phát hiện sớm và xử lý trước khi khoản vay chuyển nhóm.

Nguyên nhân chủ quan về quản trị tài sản bảo đảm và xử lý nợ: mặc dù dư nợ có bảo đảm chiếm khoảng 99% danh mục. Điều này phản ánh hạn chế ở năng lực vận hành quy trình xử lý tài sản theo chuỗi (định giá, pháp lý, bán tài sản) và phân bổ nguồn lực cho công tác workout, dẫn đến phụ thuộc nhiều vào thương lượng dòng tiền hơn là kênh thu hồi qua tài sản khi phát sinh nợ xấu.

Nguyên nhân chủ quan về thiết kế thẩm quyền phê duyệt: cơ chế trình chủ trương qua hội đồng định kỳ hai lần mỗi tuần bảo đảm kỷ luật chặt chẽ nhưng có thể tạo điểm nghẽn vận hành với hồ sơ rủi ro thấp và làm dồn việc ở những thời điểm cao điểm. Tác dụng phụ là thời gian xử lý kéo dài, tăng xác suất phát sinh chậm trả kỹ thuật và giảm độ linh hoạt trong áp dụng biện pháp phòng ngừa sớm theo tín hiệu cảnh báo, nhất là khi danh mục tăng nhanh.

  • Kết luận chương 2

Chương 2 đã giới thiệu về Agribank CN Trung tâm Sài Gòn về lịch sử ra đời và phát triển, cơ cấu tổ chức và kết quả kinh doanh trong giai đoạn nghiên cứu. Thông qua tổng hợp các thông tin, nội dung liên quan đến hoạt động quản trị RRTD, đề tài đã phân tích thực trạng quản trị RRTD và thực trạng RRTD tại chi nhánh. Trên cơ sở đó, chương 2 đã rút ra đánh giá chung về kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân còn tồn tại trong hoạt động của chi nhánh. Đây là cơ sở quan trọng để đề xuất giải pháp hoàn thiện quản trị RRTD tại chi nhánh trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x