Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến thu hút vốn FDI Việt Nam

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

Việt Nam là một quốc gia nằm ở cực đông nam bán đảo Đông Dương. Biên giới Việt Nam giáp với vịnh Thái Lan ở phía nam, vịnh Bắc Bộ và biển Đông ở phía đông, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ở phía bắc, Lào và Campuchia phía tây. Hình thể nước Việt Nam có hình chữ S, khoảng cách từ bắc tới nam (theo đường chim bay) là 1.648 km và vị trí hẹp nhất theo chiều đông sang tây là 50 km. Đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo. Ngoài vùng nội thuỷ, Việt Nam tuyên bố 12 hải lý lãnh hải, thêm hải lý vùng tiếp giáp lãnh hải, 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và cuối cùng là thềm lục địa. Diện tích vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km² biển Đông. [28]

Nhờ có các lợi thế kể trên mà Việt Nam là điểm đến khá lý tưởng cho các nhà đầu tư phát triển các ngành dịch vụ tàu biển, vận chuyển hàng hóa, nơi trung chuyển hàng hóa của thế giới, du lịch, nghỉ dưỡng…

Dọc theo lãnh thổ trải dài khí hậu Việt Nam phân bố thành 3 vùng: miền bắc có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, miền trung mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong khi khi miền nam nằm trong vùng nhiệt đới xa van. Khí hậu Việt Nam có độ ẩm tương đối trung bình 84-100% cả năm. Tuy nhiên, vì có sự khác biệt về vĩ độ và sự khác biệt địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo từng vùng. Trong mùa đông hay mùa khô, khoảng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, gió mùa thường thổi từ phía đông bắc dọc theo bờ biển Trung Quốc, qua vịnh Bắc Bộ, luôn theo các thung lũng sông giữa các cánh cung núi ở Đông Bắc mang theo nhiều hơi ẩm; vì vậy ở đa số các vùng việc phân biệt mùa đông là mùa khô chỉ là khi đem nó so sánh với mùa mưa hay mùa hè. Trong thời gian gió mùa tây nam mùa hè, xảy ra từ tháng 5 đến tháng 10, không khí nóng từ sa mạc Gobi phát triển xa về phía bắc, khiến không khí ẩm từ biển tràn vào trong đất liền gây nên mưa nhiều.

Lượng mưa hàng năm ở mọi vùng đều lớn dao động từ 120 đến 300 xentimét, và ở một số nơi có thể gây nên lũ. Gần 90% lượng mưa đổ xuống vào mùa hè. Nhiệt độ trung bình hàng năm ở đồng bằng nói chung hơi cao hơn so với vùng núi và cao nguyên. Dao động nhiệt độ từ mức thấp nhất là 5°C từ tháng 12 đến tháng 1, tháng lạnh nhất, cho tới hơn 37 °C vào tháng 7, tháng nóng nhất. Sự phân chia mùa ở nửa phía bắc rõ rệt hơn nửa phía nam, nơi mà chỉ ngoại trừ vùng cao nguyên, nhiệt độ mùa chỉ chênh lệch vài độ, thường trong khoảng 21-28 °C.[28]

Nhờ có một nền khí hậu đa dạng như vậy mà Việt Nam có thể thu hút rất đa dạng các ngành nghề đầu tư, nhiều lĩnh vực đầu tư…Lợi thế về vị trí địa lý giúp tiết kiệm đáng kể chi phí vận chuyển, dễ dàng mở rộng ra các thị trường xung quanh, khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và thúc đẩy các doanh nghiệp tập trung hóa.[18, 3]

2.1.2. Điều kiện kinh tế Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm giai đoạn 2009-2019 là 7,26%; GDP theo giá thực tế năm 2020 đã gấp hơn 3,8 lần so với năm 2009; nước ta đã trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp. Đã đạt được thành tích vượt bậc về xóa đói giảm nghèo; cơ cấu kinh tế đã từng bước chuyển đổi tích cực theo hướng hiện đại; cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội đã được cải thiện đáng kể cả về số lượng và chất lượng; đã thu hẹp đáng kể khoảng cách phát triển so với các nền kinh tế khác trong khu vực, tạo đà cho việc tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài.

2.1.3. Điều kiện xã hội

Theo như nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Toàn (2015) đã gửi 300 bản câu hỏi đến các công ty có vốn đầu tư của nước ngoài đang hoạt động tại 3 thành phố: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Có 258 bản câu hỏi được trả lời, chiếm tỷ lệ là 86% trên tổng số bản được gởi đi. Trong số đó có bản (19%) từ các công ty hoạt động tại thành phố Đà Nẵng, 87 bản (34%) từ các công ty tại Hà Nội và 123 bản (48%) được trả lời từ thành Phố Hồ Chí Minh. Khoảng một phần ba trong số các công ty trả lời hoạt động trong ngành sản xuất công nghiệp và 15% các công ty hoạt động trong lĩnh vực chế biến thực phẩm. Ba nhóm ngành thương mại, du lịch và dịch vụ mỗi nhóm chiếm khoảng 10% trong tổng số các công ty trả lời. Phần còn lại thuộc về các ngành xây dựng, ngân hàng, nông nghiệp và vận tải. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư, một khi các nhà đầu tư nước ngoài đã quyết định đầu tư vào Việt Nam. Nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu, bốn nhóm nhân tố: Kinh tế, tài nguyên, cơ sở hạ tầng, chính sách được lựa chọn và sau đó được phân thành 8 tiểu nhóm chi tiết hơn. Việc phân loại các nhóm nhân tố ảnh hưởng này (xem sơ đồ 1) dựa vào cơ sở lý luận và tham khảo ý kiến một số nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trước khi tiến hành khảo sát. Đối với từng nhà đầu tư cụ thể, tầm quan trọng tương đối của các nhân tố được đề cập trên đây có thể khác nhau, thay đổi tùy theo lĩnh vực kinh doanh, mục tiêu trước mắt và lâu dài hoặc những tác động khác như chiến lược kinh doanh, môi trường cạnh tranh… Thông thường, khi xem xét lựa chọn địa điểm, các nhà đầu tư nước ngoài thường xem xét tổng hợp nhiều nhân tố khác nhau.[18, 4] Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Biểu 1.1. Các nhân tô ảnh hưởng đến việc lựa chọn đầu tư

Chính sách thu hút FDI tại Việt Nam đã được thực hiện ngay từ khi Việt Nam cải cách kinh tế và được thể chế hoá thông qua ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996. Cho đến nay, Luật Đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi và hoàn thiện 5 lần vào các năm 1999, 2001, 2005, 2009 và gần đây nhất là năm 2014. Bảng 1.1 khái quát lại những thay đổi quan trọng trong chính sách thu hút FDI qua các kỳ sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Xu hướng chung của thay đổi chính sách Việt Nam là ngày càng nới rộng quyền, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài và thu hẹp sự khác biệt về chính sách đầu tư giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước. Trong điều 4 chương I của Luật Đầu tư 2014, Nhà nước đã khẳng định sẽ cam kết thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến đầu tư mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Hơn thế nữa, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư, bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Những thay đổi này thể hiện nỗ lực của Chính phủ trong cải thiện, tạo môi trường đầu tư chung theo xu hướng hội nhập của Việt Nam.

Bảng 1.1 : Những thay đổi chủ yếu trong chính sách thu hút FDI trong các thời kỳ sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

2.1.4. Hệ thống cơ sở hạ tầng

2.1.4.1 Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông

Đánh giá của Bộ Giao thông Vận tải cho thấy, trong những năm qua, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của nước ta phát triển theo chiều hướng khá tích cực, mở rộng về quy mô, nâng cao về chất lượng. Các tuyến giao thông đường bộ, đường thuỷ nội địa, đường sắt chính yếu đã được đầu tư nâng cấp trong khi công tác công tác quản lý, bảo trì cũng được chú trọng và đẩy mạnh. Hệ thống cảng biển và cảng hàng không từng bước được mở rộng, nâng cấp, xây dựng mới đáp ứng tốc độ tăng trưởng vận tải bình quân tăng trên 10%/năm.

Nhiều công trình quan trọng cấp thiết phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như: Đường bộ cao tốc tại các vùng kinh tế trọng điểm, trục Bắc Nam, đường vành đai đô thị, cảng hàng không quốc tế, cảng biển lớn… đã và đang được triển khai xây dựng. Hệ thống giao thông địa phương cũng đã được các tỉnh, thành phố quan tâm đầu tư, đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội…

Trong giai đoạn 2010 – 2019, ngoài việc tiếp tục ưu tiên đầu tư bằng nguồn vốn NSNN, trong đó có các dự án ODA, thì việc huy động vốn đầu tư từ các nguồn vốn ngoài ngân sách như: vay tín dụng ưu đãi, phát hành trái phiếu Chính phủ, BOT, chuyển nhượng quyền thu phí, phát hành trái phiếu công trình được quan tâm đặc biệt. Tổng nguồn vốn đầu tư trong giai đoạn này lên đến khoảng 160.080 tỷ đồng. Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Về cơ cấu đầu tư theo ngành, thì đường bộ chiếm tỷ trọng cao nhất với 88%, tiếp đến là hàng hải 6%, đường sắt 3%, hàng không 2% và đường thủy nội địa 1%. Với cơ cầu theo vùng thì Đồng bằng Sông Cửu Long có tỷ lệ đầu tư cao, chiếm 22%; Đồng bằng Sông Hồng chiếm 18%; Đông Bắc 18%; Tây Nguyên 14%; Bắc Trung bộ 9%; Duyên hải Nam Trung bộ 7%; Đông Nam bộ 6% và Tây Bắc 6%.

Đánh giá chung của các nhà đầu tư nước ngoài về hệ thống kết cấu hạ tầng của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ, kém tính kết nối. Đây được coi là điểm nghẽn của quá trình phát triển. Hạ tầng đô thị kém chất lượng và quá tải. Hạ tầng xã hội thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, hiệu quả sử dụng chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là về y tế, giáo dục. Hạ tầng thông tin phát triển chưa đi đôi với quản lý, sử dụng một cách có hiệu quả. Nhiều công trình chậm tiến độ, kém chất lượng, chi phí cao. Công tác quản lý, khai thác, sử dụng, dịch vụ hạ tầng còn yếu, hiệu quả thấp.[17]

Hệ thống pháp luật liên quan tới đầu tư trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng đang được củng cố và hoàn thiện. Trong thời gian vừa qua, nhiều Luật và quy định liên quan trực tiếp đến đầu tư và xây dựng đã được Quốc hội và Chính phủ Việt Nam ban hành như: Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai… và đang gấp rút sửa một loạt các văn bản quan trọng khác như: Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật xây dựng, Luật Kinh doanh Bất động sản,… Nghị định về đầu tư theo hình thức đối tác Công – Tư (PPP). Những lĩnh vực cơ sở hạ tầng được đặc biệt khuyến khích đầu tư bao gồm: xây dựng, vận hành công trình kết cấu hạ tầng mới hoặc cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa, vận hành, quản lý các công trình: đường bộ, cầu, hầm và các công trình tiện ích có liên quan; đường sắt, đường xe điện; cảng hàng không, cảng biển, cảng sông, bến phà; nhà máy cung cấp nước, hệ thống thoát nước, xử lý nước thải, chất thải; nhà máy điện, đường dây tải điện và các công trình kết cấu hạ tầng khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

2.1.4.2. Hạ tầng công nghệ Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Thông qua FDI, trình độ công nghệ sản xuất trong nước đã được nâng cao một cách rõ rệt so với thời kỳ trước đây. Một số ngành đã tiếp thu được công nghệ tiên tiến với trình độ hiện đại của thế giới như: Bưu chính – Viễn thông, dầu khí, xây dựng, cầu đường… Đồng thời, trong thời gian qua hầu hết các doanh nghiệp trong nước đã đổi mới hoặc nâng cấp các trang thiết bị đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng cao của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Thông qua FDI, đã thu hút nhiều công nghệ mới, tiên tiến, sản xuất ra các sản phẩm mới mà trước đây ở Việt Nam chưa có. Việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài thông qua FDI đã hạn chế đến mức tối đa việc nhập khẩu nhiều loại hàng hóa thuộc các lĩnh vực: dầu khí, sản xuất vật liệu xây dựng mới, hàng điện tử gia dụng, phương tiện giao thông… Các doanh nghiệp FDI đã tạo ra được nhiều sản phẩm có chất lượng cao, với hình thức, mẫu mã đẹp đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài như các sản phẩm điện tử, cơ khí, chế tạo… Nhiều doanh nghiệp FDI đã tổ chức sản xuất các sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghệ cao, xuất khẩu gần 100% sản phẩm ra thị trường nước ngoài thuộc các lĩnh vực điện tử, quang cơ – điện tử như Công ty TNHH Nidec Tosok, Muto, Nissei,… Có doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu – phát triển như Công ty TNHH Renesas Việt Nam với mục tiêu nghiên cứu, phát triển và thiết kế các phần cứng (vi mạch) và các phần mềm chức năng cho IC bán dẫn (Mạch tích hợp),… Nhiều doanh nghiệp trong nước, do thúc ép của thị trường cạnh tranh ngày càng cao được tạo ra bởi các sản phẩm của các doanh nghiệp FDI đã cố gắng đổi mới công nghệ bằng việc nhập các thiết bị và công nghệ mới để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, không thua kém hàng nhập khẩu với một giá cả hợp lý được người tiêu dùng ưa chuộng như các sản phẩm may mặc, giầy da, thực phẩm….Những thành tựu đạt được nêu trên đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với thu hút FDI, cũng như chính sách khuyến khích, thu hút công nghệ của nước ngoài để đổi mới công nghệ, góp phần nâng cao năng lực công nghệ quốc gia.

2.2. Các nhân tố bên ngoài Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

2.2.1. Xu hướng đầu tư FDI trên thế giới

Theo Báo cáo đầu tư thế giới năm 2025 của UNCTAD Vốn FDI phục hồi mạnh mẽ trong năm 2024, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 38% năm 2025 lên đến 1,76 ngàn tỉ USD, mức cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu năm 2017 – 2018. Một sự đột biến trong việc mua lại và sáp nhập toàn cầu (M&A) lên đến 721 tỉ USD, từ 432 tỉ USD vào năm 2023, đây là yếu tố chính đằng sau sự phục hồi toàn cầu. [31, 5]

Một phần của sự phát triển trong vốn FDI là do tái cấu trúc lại các công ty. Những giao dịch thường liên quan lớn đến cán cân thanh toán nhưng ít thay đổi trong hoạt động thực tế, hoạt động này chiếm đến 15% dòng vốn FDI toàn cầu.

Năm 2025, dòng chảy FDI vào các nền kinh tế phát triển gần như tăng gấp đôi lên đến 962 tỉ USD, chiếm 55% vốn FDI toàn cầu, ở Mỹ gần như đã tăng gấp 4 lần, đạt 765 tỉ USD. Các nước phát triển châu Á, với dòng vốn FDI vượt 5000 tỉ USD, vẫn là khu vực nhận FDI lớn nhất thế giới. Dòng chảy FDI sang châu Phi và châu Mỹ La tinh và vùng Caribe chững lại.

Châu Âu đã trở thành khu vực thu hút vốn đầu tư lớn nhất thế giới, với hơn 576 tỉ USD, tăng các công ty sáp nhập trên 50% trong năm 2024.

Vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ chiếm 60% dòng vốn FDI toàn cầu. Trong trung hạn, các dòng FDI toàn cầu được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng trong năm 2026 và sẽ vượt qua 1,8 ngàn tỉ USD trong năm 2018, phản ánh tăng trưởng toàn cầu sẽ tăng trong thời gian tới.

Mỹ hiện là nước thu hút FDI lớn nhất thế giới. Mặc dù FDI vào Mỹ đã giảm dần từ khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính nhưng tổng số vốn FDI vào Mỹ năm 2022 vẫn là 188 tỷ USD (so với 161 tỷ USD trong năm 2021), cao hơn 50% so với mức của Trung Quốc – nước thu hút FDI thứ hai thế giới (124 tỷ USD trong năm 2022, 121 tỷ USD trong năm 2021).

2.2.2. Xu hướng đầu tư tại Việt Nam Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam đã và đang là một điểm sáng thu hút đầu tư trong khu vực và quốc tế. Điển hình là Việt Nam đã có nhiều nỗ lực vượt bậc và đạt được những kết quả quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính thuế, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây cũng là một nhân tố quan trọng hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Bởi theo đánh giá của các doanh nghiệp FDI thì môi trường kinh doanh ổn định là một tiền đề không thể thiếu để quyết định đầu tư.

Theo TS. Nguyễn Mại, nhà đầu tư nước ngoài vẫn đang đánh giá tích cực về triển vọng phát triển kinh tế và môi trường đầu tư tại Việt Nam. Theo đó, chúng ta ngày càng tăng cường được các lợi thế cạnh tranh để trở thành trung tâm xuất khẩu của thế giới, thu hút nhiều dòng chảy vốn FDI.

Riêng tại khu vực châu Á, xu hướng mới của FDI vẫn là chuyển dịch từ Trung Quốc (hiện đứng đầu thế giới về thu hút FDI) sang các nước khác.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam được nhiều tập đoàn đa quốc gia lựa chọn là phương án số 1 để rót vốn đầu tư.

Số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) công bố, tính đến cuối năm 2024, đã có 8 nước ASEAN bao gồm: Singapore, Malaysia, Thái Lan, Brunei, Indonesia, Philippines, Lào và Campuchia đầu tư FDI vào Việt Nam. Các nhà đầu tư ASEAN đã đầu tư vào 18/18 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, với trên 2.700 dự án còn hiệu lực và tổng vốn đầu tư đăng ký 56,85 tỷ USD, chiếm 20,9% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước.

Theo phân tích của các chuyên gia kinh tế, việc AEC được thành lập vào đầu năm 2025, với các hiệp định chung về điều chỉnh đầu tư (Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN – ACIA), thương mại (Hiệp định Thương mại hóa ASEAN -TIGA) và dịch vụ (Hiệp định Khung ASEAN về dịch vụ – AFAS), sẽ làm tăng sức hấp dẫn của khu vực này trong thu hút đầu tư.

Hơn nữa, so với các nước trong khu vực ASEAN, Việt Nam vẫn là quốc gia có nhiều lợi thế thu hút đầu tư nhờ nền tảng chính trị ổn định, hạ tầng giao thông, chính sách thu hút đầu tư được cải thiện mạnh mẽ. Chính phủ Việt Nam liên tục đưa ra cam kết, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhà đầu tư trong và ngoài nước hoạt động.

Chuyên gia kinh tế trưởng Shang-Jin Wei của Ngân hàng Phát triển châu (ADB) nhận định, Trung Quốc sẽ phải đối mặt với làn sóng cạnh tranh trực tiếp từ một số thành viên TPP về chi phí sản xuất thấp. Trong đó, luồng vốn đầu tư FDI vào những ngành công nghiệp sử dụng lao động chi phí thấp như dệt may và giày dép sẽ bắt đầu chuyển hướng sang thị trường Việt Nam.

Ông Phan Hữu Thắng, cho rằng, TPP là một hiệp định kiểu mẫu của thế kỷ 21, với mức độ sâu hơn, rộng hơn WTO về các lĩnh vực cắt giảm các dòng thuế; tăng cường quy định liên quan đầu tư nước ngoài và bảo vệ nhà đầu tư; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; tăng cường minh bạch trong cạnh tranh; các vấn đề về lao động…

Do đó, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước thành viên TPP sẽ phát triển mạnh trong tương lai. Từ đó kéo theo dòng vốn đầu tư vào Việt Nam của các nước trong khối TPP và cả các nước ngoài khối. Các nhà đầu tư ngoài khối TPP sẽ đầu tư vào Việt Nam nhằm hưởng lợi ưu đãi thuế quan. Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Theo số liệu chính thức của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, tính đến ngày 31/11/2025, cả nước có 127 dự án mới với tổng vốn đăng ký là 1,01 tỷ USD, tăng 157,9% so với cùng kỳ năm 2024; có 56 lượt dự án đăng ký tăng vốn với tổng vốn tăng thêm là 323,41 triệu USD, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm 2024.

Như vậy, tính chung trong tháng 11/2025, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,33 tỷ USD, tăng 101,2% so với cùng kỳ năm 2024. Điểm sáng khác thể hiện ở vốn giải ngân tăng 23,1% so với cùng kỳ năm 2024, ước đạt 800 triệu USD. Đây chính là tín hiệu tích cực báo hiệu một năm thu hút FDI sẽ đạt kết quả khả quan không kém năm 2024.

Năm 2024, việc một loạt dự án FDI quy mô lớn, như phần tăng thêm 3 tỷ USD của Dự án Samsung Thái Nguyên, 3 tỷ USD của Samsung Display, Dự án Liên hợp Thép Formosa Hà Tĩnh… đã đóng góp lớn cho vốn giải ngân. Chưa năm nào, vốn FDI giải ngân tốt như vậy và kỳ vọng đang tiếp tục được đặt vào năm 2025.

2.3. Chính sách thu hút vốn FDI vào Việt Nam

2.3.2. Chính sách cải thiện môi trường Đầu tư

Các cam kết về đầu tư đa phương mà Việt Nam đã tham gia như Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN, Chương trình hành động về xúc tiến đầu tư trong khuôn khổ Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM), quy định của WTO có liên quan đến đầu tư, cũng như những hiệp định thương mại tự do (FTA) mà nước ta đã và sẽ ký kết trong năm 2024 đều áp dụng nguyên tắc phổ biến là tự do hóa đầu tư gắn liền với tự do hóa thương mại.

Hiện nay, các Bộ trưởng Thương mại các nước thành viên WTO đã lập nhóm công tác để chuẩn bị thảo luận các vấn đề: (i) Mở rộng khái niệm đầu tư, không chỉ là hoạt động đầu tư trực tiếp mà còn bao gồm các khoản “đầu tư dài hạn qua biên giới; (ii) Áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử, các nước thành viên phải dành cho đầu tư và nhà đầu tư các nước khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với đầu tư và nhà đầu tư của nước mình; (iii) Áp dụng điều kiện thành lập đầu tư theo nguyên tắc của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS): Trên cơ sở đó, các nước đang phát triển được áp dụng một cách chủ động và linh hoạt các điều kiện đối với việc thành lập đầu tư mới; (iv) Minh bạch hóa, các nước thành viên phải công khai hóa luật pháp, thủ tục đầu tư và các quyết định của cơ quan có thẩm quyền; (v) Xóa bỏ các yêu cầu hoạt động, các nước thành viên không được áp dụng yêu cầu về nội địa hóa, cân đối xuất nhập khẩu, chuyển giao công nghệ, sử dụng lao động trong nước, tỷ lệ góp vốn tối thiểu và những hạn chế đối với việc chuyển vốn, lợi nhuận vào hoặc ra khỏi nước thành viên; (vi) Hạn chế hoặc cấm áp dụng các ưu đãi đầu tư gây ra cạnh tranh bất bình đẳng giữa các nước tiếp nhận đầu tư, mà việc loại bỏ sẽ tránh được tác động “bóp méo” đối với hoạt động thương mại và đầu tư; (vii) Tăng cường các biện pháp bảo hộ đầu tư và hiệu lực của cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư: Các nước thành viên bảo hộ các khoản thanh toán và chuyển tiền qua biên giới, bồi thường thiệt hại khi trưng thu, quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư và bảo hộ nhà đầu tư trong trường hợp xảy ra đình công.

Đối chiếu với các cam kết quốc tế đa phương và song phương thì hệ thống luật pháp nước ta còn phải sửa đổi, bổ sung nhiều, vẫn còn tình trạng không nhất quán về thể chế, chính sách, luật pháp, các văn bản được ban hành sau có một số nội dung khác, thậm chí đối lập với văn bản trước. Tính minh bạch của luật pháp là một nhược điểm lớn, khá nhiều nội dung điều luật không đủ rõ ràng để điều khiển các hành vi kinh tế, thậm chí có thể được hiểu theo các nghĩa khác nhau. Tình trạng phổ biến là sau khi đã ban hành luật lại phải chờ nghị định của Chính phủ, rồi thông tư của các bộ, thường một luật có nhiều nghị định, thậm chí vài chục nghị định, mà nghị định do nhiều bộ khởi thảo, nên chậm, có những nội dung không phù hợp, thậm chí trái luật. Tình trạng “phép vua thua lệ làng” là hiện tượng đáng lưu ý, một số cơ quan trung ương và chính quyền địa phương tự ý ban hành các văn bản trái luật, hoặc chưa thi hành nghiêm chỉnh luật pháp. Đặc biệt là, khi phát hiện những vi phạm cụ thể thì chưa được cơ quan có thẩm quyền kịp thời ra quyết định đình chỉ thi hành văn bản trái luật hoặc xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về tình trạng đó. Việc thực thi pháp luật chưa nghiêm, những tổ chức và cá nhân vi phạm pháp luật chưa được xử lý kịp thời bằng hình thức kỷ luật hành chính hoặc truy tố trước pháp luật nếu có các hành vi nghiêm trọng.

Rõ ràng, trong thời gian qua, việc thu hút FDI đã nảy sinh tình trạng đối lập giữa lợi ích cục bộ của từng ngành, từng địa phương, từng doanh nghiệp với lợi ích của toàn dân tộc. Trong khi môi trường đầu tư cần được cải thiện, cần giảm mạnh chi phí cơ hội cho các dự án FDI, thực hiện bình đẳng về luật pháp giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI… thì lợi ích cục bộ đã trở thành “lực cản” lớn nhất cho quá trình thu hút FDI và phát triển kinh tế.

Hoạt động FDI thường xuyên được gắn với các vấn đề chính trị và an ninh quốc phòng. Việc đưa ra quyết định đối với một số dự án FDI có quy mô lớn, ở những vùng kinh tế “nhạy cảm”, đôi khi gặp trở ngại do một vài ý kiến quá nhấn mạnh đến “an ninh chính trị và quốc phòng của đất nước”, mà chưa đứng trên lợi ích toàn cục theo phương châm gắn kinh tế với an ninh và quốc phòng, trong đó phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm. Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Việc xử lý hài hòa mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực là cần thiết đối với một nước có dân số khá lớn như nước ta. Nhưng nếu nhấn mạnh nội lực đến mức “ta có thể tự làm lấy” các dự án lớn và hạn chế FDI trong một số ngành quan trọng thì sẽ dẫn đến tình trạng kìm hãm sự phát triển kinh tế nói chung và giảm sút số lượng vốn FDI cũng như hiệu quả của việc sử dụng vốn FDI.

Kể cả khi Nhà nước đã tạo được môi trường luật pháp và lòng tin để khai thác tối đa mọi nguồn vốn trong nước, thì cũng như các nước đang phát triển, Việt Nam phải giải quyết bài toán vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế trong điều kiện nguồn vốn trong nước có hạn. Đó là chưa nói đến một khía cạnh khác của đầu tư mà một số nhà kinh tế học đã khuyến nghị là nên gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế để đạt được mức cao hơn dự kiến, bởi vì nước ta cần và có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian vài thập niên để thu hẹp khoảng cách và dần đuổi kịp trình độ phát triển của các nước trong khu vực. Bởi vậy, cách đặt vấn đề đúng nhất là huy động tối đa mọi nguồn lực hướng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước, không phân biệt đó là nội lực hay ngoại lực.

  • Trên cơ sở các xu hướng đầu tư FDI trên thế giới chính sách thu hút FDI được điều chỉnh theo hướng:

Những địa phương đã thu hút nhiều dự án FDI, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, đạt được trình độ phát triển tương đối cao như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu… thì ưu tiên thu hút FDI vào các ngành công nghệ cao như điện tử, thông tin, công nghệ sinh học, dịch vụ hiện đại để giảm thiểu tình trạng quá tải trong quá trình đô thị hóa tăng nhanh lao động nhập cư, gây áp lực cho hạ tầng cơ sở và các vấn đề xã hội. Những địa phương này ưu tiên các ngành thâm dụng lao động cho các doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

(ii) Các địa phương đã thu hút được một số dự án FDI quan trọng, có trình độ phát triển trung bình thì cần chọn lọc các dự án thâm dụng lao động, chú ý đến giá trị gia tăng đối với sản phẩm và công nghệ, đồng thời chuyển hướng thu hút FDI vào những ngành công nghệ cao, dịch vụ hiện đại. Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Các địa phương chưa thu hút được nhiều dự án FDI thì cần coi trọng xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội, đào tạo nguồn nhân lực, tạo môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút FDI vào những ngành thâm dụng lao động hoặc tiếp nhận chuyển dịch các dự án FDI từ các địa phương, vùng lãnh thổ đã đạt được trình độ phát triển cao.

Để tăng cường thu hút các TNC hàng đầu thế giới từ Mỹ, châu Âu và các nước OECD khác vào Việt Nam, trong thời gian tới, chính sách thu hút FDI của Việt Nam cần có cách tiếp cận thích ứng với chính sách đối ngoại của từng nước cũng như chiến lược toàn cầu về thương mại và đầu tư của từng tập đoàn kinh tế, thực hiện phương thức BOT đối với dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật với vấn đề cốt lõi là xử lý đầu vào và đầu ra của sản phẩm, áp dụng các hình thức đầu tư mới (greenfield), M&A và NEM.

Ngoài các chính sách ưu đãi đang được áp dụng như ưu đãi thuế, miễn giảm tiền thuê đất… cần bổ sung: Chính sách ưu đãi tài chính (ngân sách nhà nước hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài một khoản tiền để thực hiện dự án đầu tư hoặc ngân hàng thương mại ưu tiên cho vay đối với những dự án đầu tư thuộc ngành, lĩnh vực đặc biệt khuyến khích FDI, bảo đảm ngoại hối khi chuyển đổi từ đồng Việt Nam sang ngoại tệ phục vụ nhu cầu xuất khẩu, chuyển vốn và lợi nhuận về nước) và chính sách ưu đãi phi tài chính với các quy định về thương quyền trong kinh doanh nội địa và trong hoạt động xuất khẩu.

Trên cơ sở hệ thống ưu đãi chuẩn, cần áp dụng linh hoạt đối với các nhà đầu tư, vùng lãnh thổ và địa phương. Chính sách ưu đãi được thực hiện theo nguyên tắc có điều kiện và có thời hạn. Các nhà đầu tư thực hiện tốt những mục tiêu kỳ vọng có thể được gia hạn hoặc tăng thêm ưu đãi. Các nhà đầu tư không thực hiện đầy đủ cam kết về điều kiện ưu đãi thì không được áp dụng các ưu đãi, có thể buộc phải bồi hoàn các ưu đãi đã được hưởng.

Những tín hiệu quốc tế cũng như trong nước cho phép có những đánh giá lạc quan về triển vọng thu hút FDI mới với chất lượng cao hơn. Trong thời gian tới, cần sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và chính quyền địa phương để làn sóng FDI lan tỏa rộng hơn và có hiệu quả cao hơn đối với sự phục hồi và phát triển doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp để biến những gì đang thuộc sở hữu của người nước ngoài là vốn, công nghệ, nhân lực trình độ cao trở thành của doanh nghiệp Việt Nam nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 1 triệu doanh nghiệp nội địa, đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới.

Tóm lại, Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài bằng các mặt như ban hành các Chính sách hỗ trợ đầu tư, Chính sách ưu đãi về thuế, Chính sách ưu đãi về sử dụng đất, Các chính sách ưu đãi khác…nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tốt hơn.

2.3.4. Kết quả thu hút vốn FDI Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

2.3.4.1.Vốn FDI đăng ký, thực hiện và số dự án

Bảng 2.1 Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1997 – 2024 chia theo Năm và Phân tổ (Lũy kế đến 31/12/2024)

Tính đến cuối năm 2024, cả nước có hơn 2120 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 22.757 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm), trung bình quy mô vốn khoảng 11.37 triệu USD/ dự án.

Trong 3 năm 1997-1999, mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam nên kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài còn ít (213 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,7 tỷ USD), đầu tư nước ngoài chưa tác động đến tình hình kinh tế – xã hội đất nước. Đó là do các chính sách FDI vừa mới thay đổi, luật đầu tư nước ngoài vẫn còn là rào cản đối với hoạt động FDI chưa khuyến khích được các nhà đầu tư như chưa cho phép nhà đầu tư nước ngoài góp vốn thành lập doanh nghiệp liên doanh với thành phần kinh tế tư bản tư nhân mà chỉ cho góp vốn với thành phần kinh tế nhà nước & tập thể. Các đạo luật gián tiếp có liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài về thuế, tiền lương, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ còn thiếu cũng như cơ sơ hạ tầng yếu kém.

Trong thời kỳ 2000-2004: Thời kỳ này Luật Đầu tư nước ngoài được sửa đổi hai lần vào các năm 1999 và 2001. Qua 5 năm thực hiện, số dự án được cấp phép đã tăng nhanh gấp 6,2 lần thời kỳ 1997 – 1999 với tổng vốn đầu tư đăng ký gấp 9,3 lần. Riêng năm 2004 là năm có số dự án và vốn được cấp phép cao nhất. Vốn FDI đã tăng lên (370 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 6530.8 tỷ USD) và có tác động tích cực đến tình hình kinh tế-xã hội đất nước. Thời kỳ 2000-2005 được xem là thời kỳ “bùng nổ” đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (có thể coi như là “làn sóng Đầu tư nước ngoài” đầu tiên vào Việt Nam) với 1655 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng vốn) 25.181 tỷ USD. Đây là giai đoạn mà môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu tư-kinh doanh thấp so với một số nước trong khu vực; sẵn lực lượng lao động với giá nhân công rẻ, thị trường mới, các hạn chế kinh doanh dần được tháo gỡ. Vì vậy, FDI tăng trưởng nhanh chóng, có tác động lan tỏa tới các thành phần kinh tế khác và đóng góp tích cực vào thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước. Năm 2004 thu hút được 6,5 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5 lần năm 2000 (1,2 tỷ USD). Năm 2005 thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 130.1% so với năm trước.

  • Để thấy rõ hơn sự so sánh dòng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam qua các năm ta có thế xem xét trong biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.1: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1997 – 2024 chia theo Năm và Phân tổ (Lũy kế đến 31/12/2024) Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Trong 3 năm 2006-2008 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 2007 chỉ bằng 81,8% năm 2006, năm 2008 chỉ bằng 46,8% năm 2007), chủ yếu là các dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ. Cũng trong thời gian này nhiều dự án được cấp phép trong những năm trước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc, Hồng Kông) từ cơn bão tài chính 2006 (từ 2006 do khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Đông Nam Á, bùng phát đầu tiên tại Thái Lan, vốn đăng ký FDI vào Việt Nam giảm dần với mức giảm thấp nhất là 2,2 tỷ USD vào năm 2008)

Từ năm 2009 đến 2012, dòng vốn FDI vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục hồi chậm. Vốn đăng ký cấp mới năm 2009 đạt 2 triệu USD, tăng 12.8 % so với năm 2008; năm 2010 tăng 156.2 % so với năm 2009; năm 2011 vốn đăng ký giảm, chỉ bằng 91,6% so với năm 2010, năm 2012 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm 2011. Và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2013 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước;

Trong giai đoạn 2010-2014 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ USD vượt 73% so với kế hoạch, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu. Nhìn chung trong 5 năm 2010-2014, vốn đầu tư nước ngoài cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao hơn năm trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án có quy mô vừa và nhỏ. Đặc biệt trong 2 năm 2015-2016, dòng vốn FDI vào nước ta đã tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao…) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch- dịch vụ cao cấp .v.v.). Điều này cho thấy dấu hiệu của “làn sóng FDI” thứ hai vào Việt Nam. Năm 2014 tăng 50,8%; năm 2015 tăng 75,4% và năm 2016 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2015, và tăng hơn gấp đôi so với năm 2005, năm cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng.

  • Giai đoạn Giai đoạn 2016-2018 là giai đoạn bùng nổ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Năm 2016, vốn FDI đăng ký là 21,35 tỷ USD, gấp 1,78 lần so với năm 2015. Năm 2017 là năm thu hút vốn FDI đăng ký cao nhất, đạt 71,7 tỷ USD, gấp 3,36 lần so với năm 2016.

Sau đó, khi kinh tế thế giới gặp khủng hoảng vốn FDI giảm dần từ năm 2018 đến năm 2020; tăng dần từ năm 2021 đến nay và năm 2023 ở mức 21,9 tỷ USD.

Năm 2024 nguồn vốn đăng kí trên 24 tỷ USD, và thực hiện ở mức 14,5 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2023. Năm 2024 là năm có những tiến bộ vượt bậc trong hoàn thiện hệ thống luật pháp liên quan đến đầu tư: Luật đầu tư 2023 có hiệu lực từ ngày 1/7/2024 thay thế cho Luật đầu tư 2014 với nhiều thay đổi quan trọng, đặc biệt là các quy định về cấm đầu tư, đầu tư có điều kiện và cải cách thủ tục hành chính về đầu tư. Các tiến bộ vượt bậc này của quản lý Nhà nước đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng về FDI trong năm 2024, giúp FDI về đích ngoạn mục. Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

2.3.4.2.Vốn FDI phân theo địa phương, vùng kinh tế

Qua 20 năm thu hút, FDI đã trải rộng khắp cả nước, nhưng FDI tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển kinh tế – xã hội chung và các vùng phụ cận.

Bảng 2.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương (Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2023)

Vùng trọng điểm phía Bắc có 5290 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư trên 63 tỷ USD, chiếm 29,7% về số dự án, 25% tổng vốn đăng ký cả nước; trong đó Hà Nội đứng đầu (3.051 dự án với tổng vốn đăng ký trên23 tỷ USD) chiếm 57,6% vốn đăng ký cả vùng. Tiếp theo thứ tự là Bắc Ninh (566 dự án với tổng vốn đăng ký trên 7 tỷ USD), Hải Phòng (452 dự án với tổng vốn đăng ký 11,2 tỷ USD), Hải Dương (327 dự án với tổng vốn đăng ký 6,5 tỷ USD), Hưng Yên (327 dự án với tổng vốn đăng ký 2,8 tỷ USD), Vĩnh Phúc (210 dự án với tổng vốn đăng ký 3,1 tỷ USD) và Quảng Ninh (112 dự án với tổng vốn đăng ký 5,2 tỷ USD).

Vùng trọng điểm phía Nam thu hút 9.692 dự án với tổng vốn đầu tư 110 tỷ USD, chiếm 43,7% tổng vốn đăng ký, trong đó, Tp Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước (5.271 dự án với tổng vốn đăng ký trên 38 tỷ USD) chiếm 15,1% tổng vốn đăng ký cả nước.

2.3.4.3. Vốn FDI theo ngành kinh tế

Bảng 2.3. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép phân theo ngành kinh tế (Lũy kế đến 31/12/2024)

Bao gồm cả vốn đã tăng thêm của các dự án đã được cấp phép từ các năm trước.

Biểu 2.2 : Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép phân theo ngành kinh tế (Lũy kế đến 31/12/2024)

Trong tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo lớn nhất lên đến hơn 162 tỉ USD lớn hơn rất nhiều so với lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp cho thấy tỉ trọng đầu tư vào lĩnh vực này còn thấp. Lĩnh vực có tổng vốn đầu tư trung bình cho một dự án lớn nhất là lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo (trung bình 15,1triệu USD/ dự án).

  • Đầu tư vào hoạt động kinh doanh bất động sản.

Thực tế cho thấy, đầu tư FDI chủ yếu tập trung vào những lĩnh vực có khả năng thu lợi nhuận cao, thu hồi vốn nhanh, khai thác thị trường nội địa dễ, các ngành đòi hỏi công nghệ đơn giản như sản xuất chính phẩm; chế biến nông, lâm, thuỷ sản; du lịch, khách sạn, nhà hàng. Số dự án đầu tư chiều sâu, đòi hỏi công nghệ cao, công nghệ sạch rất ít. Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, các dự án đầu tư chủ yếu tập trung vào việc gia công các sản phẩm may mặc. Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, Việt Nam đã chú trọng thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp – xây dựng. Qua mỗi giai đoạn các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư, các sản phẩm cụ thể được xác định tại Danh mục các lĩnh vực khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư. Trong những năm 90 thực hiện chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài, Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích các dự án như sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, sản xuất hàng xuất khẩu (có tỷ lệ xuất khẩu 50% hoặc 80% trở lên), sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước và có tỷ lệ nội địa hoá cao. Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Sau khi gia nhập và thực hiện cam kết với WTO (năm 2015), Việt Nam đã bãi bỏ các quy định về ưu đãi đối với dự án có tỷ lệ xuất khẩu cao, không yêu cầu bắt buộc thực hiện tỷ lệ nội địa hoá và sử dụng nguyên liệu trong nước. Qua các thời kỳ, định hướng thu hút đầu tư nước ngoài về lĩnh vực công nghiệp- xây dựng tuy có thay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo định hướng khuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử… Đây cũng chính là các dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và Việt Nam có lợi thế so sánh khi thu hút đầu tư. Nhờ vậy, cho đến nay các dự án FDI thuộc các lĩnh vực nêu trên (thăm dò và khai thác dầu khí, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm điện và điện tử, sản xuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may…) vẫn giữ vai trò quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và tạo nhiều việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp. Cơ cấu đầu tư ngày càng chuyển biến tích cực theo hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu và công nghệ thông tin (IT) với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng thế giới: Intel, Panasonic, Canon, Robotech… Hầu hết các dự án FDI thuộc loại này sử dụng thiết bị hiện đại xấp xỉ 100% và tự động hoá đạt 100% cho sản lượng, năng suất, chất lượng cao, do đó có ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu giá trị của toàn ngành.

2.3.4.4 Vốn FDI theo hình thức đầu tư

  • Bảng 2.4. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo hình thức đầu tư (Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2024)
  • Biểu 2.3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo hình thức đầu tư (Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2024)

Chủ yếu các doanh nghiệp FDI thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài, có 16.506 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 198.682,41 tỷ USD, chiếm 82% về số dự án và 70,4% tổng vốn đăng ký. Theo hình thức liên doanh có 3.321 dự án với tổng vốn đăng ký 66.311,94 tỷ USD, chiếm 16,5% về số dự án và 23,5% tổng vốn đăng ký. Theo hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 228 dự án với tổng vốn đăng ký 6.212,72 tỷ USD chiếm 1,1 % về số dự án và 5,5% tổng vốn đăng ký. Số còn lại thuộc các hình thức khác như BOT, BT, BTO

Từ ngày 3/8/2014 Bộ Kế hoạch đầu tư đã trao giấy thành lập Công ty mẹ con hay còn gọi là Công ty quản lý vốn cho Công ty Panasonic Holding tại Việt Nam. Với việc được thành lập công ty quản lý vốn, Tập đoàn Matsushita nổi tiếng thế giới với thương hiệu Panasonic đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài đầu tiên được cấp giấy phép thành lập Công ty Mẹ – Con 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Theo các chuyên gia kinh tế Nhật Bản, mô hình công ty Mẹ -Con được áp dụng phổ biến trên thế giới nhằm tăng tính năng động cho các nhà đầu tư, góp phần tăng thu hút đầu tư nước ngoài. Việt Nam là một trong những nước ASEAN sớm áp dụng mô hình này và điều đó sẽ có tác động tích cực trong thu hút đầu tư nước ngoài. Việc cấp phép lần này tiếp khẳng định các cam kết của Việt Nam trong việc đa dạng hoá các hình thức đầu tư tại Việt Nam. Đồng thời, qua việc cấp phép này, các cơ quan quản lý Việt Nam sẽ rút ra được nhiều kinh nghiệm trong việc hoàn thiện khung khổ pháp lý về vấn đề này.

Trong những năm đầu mở cửa, FDI chủ yếu tồn tại hình thức liên doanh. Đó là vì một số nguyên nhân như: luật đầu tư nước ngoài mới ban hành nên nhiều nhà đầu tư chưa hiểu rõ cách thức thức hiện, những qui định về qui trình triển khai thực hiện dự án đòi hỏi nhiều giấy tờ qua nhiều khâu và phức tạp.Hơn nữa phạm vi và lĩnh vực của doanh nghiệp liên doanh rộng hơn doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (lúc đầu chưa xuất hiện).Tuy vậy xu hướng của đầu tư FDI là hình thức 100% vốn nước ngoài ngày càng chiếm ưu thế, có xu hướng tăng nhanh. Do hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, các thủ tục cấp phép và thành lập doanh nghiệp có vốn FDI trở nên đơn giản, tiến bộ. Nó cũng là do ưu điểm của hình thức này so với các hình thức khác như tính độc lập tự chủ về quyền quản lí, không phải chia sẻ lợi ích. Hơn nữa thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp liên doanh làm ăn thua lỗ trái với kết quả hoạt động tốt của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

2.3.4.5. Vốn FDI theo đối tác đầu tư Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Thực hiện phương châm của Đảng và Chính phủ “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ hợp tác. Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong khu vực và thế giới…” được cụ thể hóa qua hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài, qua 27 năm đã có 82 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam, đạt 20.069 dự án với tổng vốn đăng ký trên 394.178,96 tỷ đô la Mỹ, tổng vốn thực hiện đạt trên 168 tỉ USD, đạt trung bình 14,7 triệu USD/ dự án, vốn thực hiện 7,8 triệu USD/ dự án. [20, 56]

Trong đó, các nước Châu Á chiếm 50% tổng vốn đăng ký. Các nước châu Âu chiếm 7,4%. Riêng Hoa Kỳ chiếm 2,8%

Trong những năm đầu 90 thực hiện Luật Đầu tư, chủ yếu là dự án quy mô nhỏ và từ các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu Á, như Hồng Kông, Hàn Quốc và Đài Loan. Cho tới hết năm 2016, vốn FDI vào Việt Nam vẫn chủ yếu từ các nước châu Á mặc dù Đảng và Chính phủ đã có Nghị quyết 09 đã đề ra ba định hướng thu hút FDI. [4]

Bảng 2.5: Vốn FDI Phân loại vốn theo đối tác đầu tư (Lũy kế đên 31/12/2024)

Hàn Quốc là quốc gia có vốn đầu tư FDI lớn nhất lên đến hơn 45 tỉ USD với 4970 dự án. Vốn đầu tư trung bình 9 triệu USD/ dự án.

  • Đứng thứ hai là Nhật Bản với tổng vốn đầu tư trên 38 tỉ USD, trung bình vốn đăng kí 13 triệu đôla/ dự án
  • Đài Loan xếp vị trí thứ ba về tổng vốn đầu tư với 30 tỉ đô la, qui mô trung bình vốn đầu tư 13 triệu đô la/ dự án.

Chỉ tính riêng năm 2024, Hàn Quốc dẫn đầu với 702 dự án cấp mới và 260 dự án tăng vốn với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 6,72 tỷ USD, chiếm 29,6% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam. Malaysia đứng vị trí thứ hai với số vốn là 2,47 tỷ USD chiếm 10,9% tổng vốn đầu tư, Nhật Bản đứng vị trí thứ ba với số vốn đầu tư là 1,84 tỷ USD chiếm 8,1% tổng vốn đầu tư. (Cục Đầu Tư Nước Ngoài, 2025)

Biểu 2.4. Vốn FDI Phân loại vốn theo đối tác đầu tư (Lũy kế đên 31/12/2024)

2.3.4.6.Vốn FDI theo vùng Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Bảng 2. 6. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép lũy kế đến năm 2024 phân theo vùng

Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy Vùng Đông Nam Bộ là một trong số 4 vùng kinh tế trọng điểm, vùng đã có nhiều thành công trong thu hút FDI chiếm 43% tổng  lượng vốn đăng kí của cả nước và chiếm đến 53% số lượng dự án đăng ký của cả nước. Vùng Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh: Thành Phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Bình Phước. Vùng Đông Nam Bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của cả nước; là vùng hội tụ đủ các điều kiện và lợi thế để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH); đặc biệt phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học, công nghiệp dầu khí và sản phẩm hoá dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, trong đó Bình Dương là tỉnh có số dự án đăng kí và số vốn đăng kí thực hiện cao nhất, chiếm đến 14% tổng số dự án đăng kí cả nước và 9% tổng vốn đầu tư cả nước.

Tiếp đến là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, mới chỉ thu hút được một phần rất nhỏ vốn FDI, chiếm 6% tổng số dự án đăng kí của cả nước, và 6% vốn thực hiện của cả nước, nhìn chung các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu long còn có kết quả thu hút FDI khiêm tốn so với tiềm năng của vùng. Trong thời gian tới, cần có nhiều biện pháp xúc tiến đầu tư để quảng bá môi trường đầu tư, lợi thế cạnh tranh của vùng để thu hút vào các ngành, lĩnh vực mà vùng có tiềm năng.

Nhìn vào biểu đồ sau ta sẽ thấy rõ hơn tỉ lệ đầu tư vốn FDI giữa các vùng để so sánh:

  • Biểu 2.5: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép lũy kế đến năm 2024 phân theo vùng

Vùng thứ ba của cả nước thu hút vốn FDI là Tây Nguyên thì tính đến tích lũy đến ngày 31/12/2024 có 131 dự án đăng kí, với 781, 74 triệu đô vốn đầu tư.

Về cơ bản, đầu tư nước ngoài trên địa bàn vùng Tây Nguyên đã đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng theo hướng phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Tuy nhiên, theo Bộ Kế hoạch và đầu tư, công tác thu hút vốn đầu tư vào khu vực Tây Nguyên vẫn đang cho thấy không ít tồn tại như cơ cấu chưa hợp lý: chủ yếu là vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, vốn BT, BOT nhưng thu hút ODA, FDI và đầu tư của doanh nghiệp trong nước chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với cả nước xét trên 2 tiêu chí: số dự án và số vốn đầu tư.

Bên cạnh đó, việc thu hút, sử dụng và quản lý vốn ODA và FDI trong thời gian qua tại các tỉnh trong vùng Tây Nguyên đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Đó là khả năng hấp thụ nguồn vốn còn khiêm tốn, trong khi Tây Nguyên đang có nhu cầu lớn về vốn; việc thu hút các dự án đầu tư công nghệ cao còn hạn chế; chuyển giao công nghệ còn chậm; còn có doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; mối liên kết ngang và dọc giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước chưa cao; tình trạng tranh chấp lao động còn diễn ra ở một số nơi, ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư. Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Vùng thứ tư là Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung, lũy kế đến tháng 12/2024, Vùng Duyên hải miền Trung thu hút được 1236 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 53.277,96 triệu USD, chỉ chiếm 6% số dự án và 19% tổng vốn FDI đăng ký của cả nước. Dẫn đầu Vùng hiện nay về thu hút FDI là tỉnh Quảng Nam với hơn 5,5 tỷ USD vốn đăng ký. Đứng vị trí thứ hai là tỉnh Hà Tĩnh (hơn 11 tỷ USD) và thứ 3 là tỉnh Thanh Hóa (hơn 10 tỷ USD). Đà Nẵng hiện dẫn đầu Vùng về số dự án (chiếm hơn 1/3 tổng số dự án của cả Vùng) nhưng do phần lớn là những dự án quy mô vốn vừa và nhỏ của các doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc… nên thành phố được xem là “hạt nhân”, động lực phát triển của Vùng chỉ đứng ở vị trí thứ 4 về lượng vốn FDI đăng ký.

Hiện nay vốn FDI đăng ký vào Vùng chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh bất động sản, du lịch và dịch vụ (dọc theo “cung đường ven biển” dài hơn 500km); các ngành công nghiệp sản xuất và chế biến, chế tạo… Lĩnh vực nông, lâm, thủy sản và các ngành khác thu hút FDI còn hạn chế. Vẫn chưa có nhiều công ty lớn, tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn, dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Như vậy, kết quả thu hút FDI của Vùng Duyên hải miền Trung như trên là còn khiêm tốn so với các vùng kinh tế trọng điểm ở phía Bắc, phía Nam và chưa tương xứng với các nguồn lực và lợi thế sẵn có của Vùng.

Vùng thứ 5 là Đồng Bằng sông Hồng, với tỉ trọng số dự án đăng kí vào vùng là 6186 dự án chiếm 31% tổng số dự án đăng kí của cả nước, và số vốn đăng kí thực hiện chiếm 26% tổng vốn thực hiện cả nước. Đây là vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, có thể thấy, kết quả thu hút FDI tại các tỉnh, thành phố khu vực đồng bằng sông Hồng trong thời gian qua đã có nhiều điểm sáng tích cực. Ngoài các địa phương đã có truyền thống và thế mạnh về thu hút FDI như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng thì trong vài năm qua, một số địa phương đã vươn lên mạnh mẽ và thu hút được nhiều dự án FDI lớn, có tác động tích cực đến phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Điển hình trong khu vực đồng bằng sông Hồng có thể kể đến Bắc Ninh. Bắc Ninh đã thu hút được nhiều tập đoàn có danh tiếng trên thế giới trong lĩnh vực điện tử, viễn thông như Canon, Samsung, P&Tel, Sumitmoto, ABB, Nokia đầu tư tại địa bàn và đang sản xuất kinh doanh có hiệu quả, điển hình là 2 dự án Samsung tại Bắc Ninh, có tổng vốn đăng ký lên tới 6,5 tỷ USD; đã có tác động tích cực đến xuất khẩu cũng như tạo công ăn việc làm cho lao động tại địa phương cũng như các tỉnh lân cận.

Bên cạnh đó, Hải Dương cũng được đánh giá là địa phương biết tận dụng các lợi thế của mình để thu hút được các dự án FDI hiệu quả vào tỉnh. Có thể nói, tỉnh Hải Dương đã có nhiều chính sách khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư, chú trọng công tác quy hoạch các cụm và khu công nghiệp.

Nhìn chung, các tỉnh khu vực đồng bằng sông Hồng được đánh giá là có nhiều thuận lợi về vị trí địa lý, nguồn nhân lực… để thu hút nguồn vốn FDI. Bên cạnh các địa phương đã có thành tựu trong công tác thu hút FDI trong thời gian qua thì một số tỉnh vẫn còn hạn chế, chưa chủ động trong công tác xúc tiến và quảng bá môi trường đầu tư kinh doanh cũng như lợi thế của địa phương để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Trong thời gian tới, khu vực đồng bằng sông Hồng cần có định hướng, chính sách thu hút FDI hướng tới các ngành công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, tạo đột phá và tăng sức cạnh tranh của tỉnh.

2.4. Đánh giá chung về tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

2.4.1 Đánh giá tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Thứ nhất, FDI góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư trong nước.

Tính đến 31 tháng 12 năm 2024, cả nước có 2.120 dự án FDI mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 16,34 tỷ USD, bằng 99% so với cùng kỳ năm 2023. Ngoài ra, có 918 lượt dự án điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 7,77 tỷ USD, tăng 43,5% so với cùng kỳ năm 2023. FDI là khu vực phát triển năng động nhất với tốc độ tăng GDP cao hơn tốc độ tăng trưởng cả nước: năm 2004 GDP của khu vực FDI tăng 14,98% trong khi GDP cả nước tăng 9,54%; tốc độ này tương ứng là 11,44% và 6,79% (2009), 13,22% và 8,44% (2014), 8,12% và 6,78% (2019). Tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI trong GDP tăng dần, từ 2% GDP (2001), lên 12,7% (2009), 16,98% (2015) và 18,97% (2020), giai đoạn 2021 – 2023 tăng lên 21,7% và đến năm 2024 là 23,3%

Tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế thể hiện rõ hơn thông qua:

  • Bổ sung cho tổng vốn đầu tư xã hội

Vốn FDI thực hiện tăng nhanh qua các thời kỳ, từ khoảng 20,67 tỷ USD, chiếm 24,32% tổng vốn đầu tư xã hội (2000 – 2009) lên 69,47tỷ USD, chiếm 22,75% tổng vốn đầu tư xã hội (2010 – 2020). Tỷ trọng khu vực FDI trong cơ cấu kinh tế giai đoạn 2009 – 2020 tăng 5,4%, giai đoạn 2021 – 2024 chiếm 23,25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

  • Góp phần quan trọng vào xuất khẩu

Chủ trương khuyến khích FDI hướng về xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho Việt Nam trong việc nâng cao năng lực xuất khẩu, qua đó giúp chúng ta từng bước tham gia và cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trước năm 2010, xuất khẩu của khu vực FDI chỉ đạt 45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô. Từ năm 2012, xuất khẩu của khu vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước và dần trở thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2021.

FDI góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo. Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

FDI tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuất khẩu nhất là sang Hoa Kỳ, EU, làm thay đổi đáng kể cơ cấu xuất khẩu, đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.

FDI còn góp phần ổn định thị trường trong nước, hạn chế nhập siêu thông qua việc cung cấp cho thị trường nội địa các sản phẩm chất lượng cao do doanh nghiệp trong nước sản xuất thay vì phải nhập khẩu như trước đây.

  • Đóng góp vào nguồn thu ngân sách

Đóng góp của FDI vào ngân sách ngày càng tăng, từ 1,8 tỷ USD (2003-2009) lên 14,2 tỷ USD (2010 – 2019). Năm 2021, nộp ngân sách của khu vực FDI (không kể dầu thô) là 3,7 tỷ USD, chiếm 11,9% tổng thu ngân sách (18,7% tổng thu nội địa, trừ dầu thô), năm 2022 chiếm 13,43%, năm 2023 là 14,11%.

Thứ hai, FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH. Hiện nay, 58,4% vốn FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp – xây dựng với trình độ công nghệ cao hơn mặt bằng chung của cả nước. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp – xây dựng của khu vực FDI đạt bình quân gần 18%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn ngành. Đến nay, khu vực FDI đã tạo ra gần 45% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng…

FDI đã góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu và tiếp thu một số công nghệ tiên tiến, giống cây, giống con có năng suất, chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế, tạo ra một số phương thức mới, có hiệu quả cao, nhất là các dự án đầu tư vào phát triển nguồn nguyên liệu, góp phần cải thiện tập quán canh tác và điều kiện hạ tầng yếu kém, lạc hậu ở một số địa phương.

Khu vực FDI đã tạo nên bộ mặt mới trong lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao như khách sạn, văn phòng căn hộ cho thuê,ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn luật, vận tải biển, lô-gi-stíc, siêu thị… Các dịch vụ này cũng góp phần tạo ra phương thức mới trong phân phối hàng hóa, tiêu dùng, kích thích hoạt động thương mại nội địa và góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa.

  • Thứ ba, FDI tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu lao động

Hiện nay khu vực FDI tạo ra trên 2 triệu lao động trực tiếp và khoảng 3 – 4 triệu lao động gián tiếp, có tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH-HĐH. Doanh nghiệp FDI được xem là tiên phong trong việc đào tạo tại chỗ và đào tạo bên ngoài, nâng cao trình độ của công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý, trong đó một bộ phận đã có năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài. Ngoài ra, FDI đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng lao động thông qua hiệu ứng lan tỏa lao động, cập nhật kỹ năng cho bên cung ứng và bên mua hàng.

  • Thứ tư, FDI là kênh chuyển giao công nghệ quan trọng, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế.

Khu vực FDI sử dụng công nghệ cao hơn hoặc bằng công nghệ tiên tiến đã có trong nước và thuộc loại phổ cập trong khu vực. Từ năm 2002 đến nay, cả nước có 951 hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được phê duyệt/đăng ký, trong đó có 605 hợp đồng của doanh nghiệp FDI, chiếm 63,6%. Thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ, khu vực FDI đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, nâng cao năng lực công nghệ trong nhiều lĩnh vực. Xét về cấp độ chuyển giao công nghệ, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hiệu quả cao nhất. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, một số ngành đã thực hiện tốt chuyển giao công nghệ như dầu khí, điện tử, viễn thông, tin học, cơ khí chế tạo, ô tô, xe máy và dệt may, giày dép, trong đó viễn thông, dầu khí được đánh giá có hiệu quả nhất. Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Tác động lan tỏa công nghệ của khu vực FDI được thực hiện thông qua mối liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tiếp cận hoạt động chuyển giao công nghệ. Nhìn chung, khu vực FDI có tác động lan tỏa gián tiếp tới khu vực doanh nghiệp sản xuất trong nước cùng ngành và doanh nghiệp dịch vụ trong nước khác ngành. Bên cạnh đó, thông qua mối quan hệ với doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước ứng dụng công nghệ sản xuất tương tự để sản xuất sản phẩm/dịch vụ thay thế và sản phẩm/dịch vụ khác để tránh cạnh tranh. Đồng thời có tác động tạo ra các ngành sản xuất, dịch vụ khác trong nước để hỗ trợ cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI.

  • Thứ năm, FDI có tác động nâng cao năng lực cạnh tranh ở cả ba cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm

Nhiều sản phẩm xuất khẩu Việt Nam đủ sức cạnh tranh và có chỗ đứng vững chắc trên các thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Kết quả phân tích các chỉ tiêu về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, khả năng tiếp cận thị trường (đầu vào và tiêu thụ sản phẩm) và năng lực tham gia mạng sản xuất toàn cầu cho thấy năng lực cạnh tranh của khu vực FDI cao hơn so với khu vực trong nước. Đồng thời, khu vực FDI đã và đang có tác động thúc đẩy cạnh tranh của khu vực trong nước nói riêng và của nền kinh tế nói chung thông qua thúc đẩy năng suất, tăng trưởng xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, nâng cao trình độ công nghệ, trình độ lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động.

Thứ sáu, FDI góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp, tạo thêm áp lực đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh. Thực tiễn FDI đã cho nhiều bài học, kinh nghiệm bổ ích về công tác quản lý kinh tế và doanh nghiệp, góp phần thay đổi tư duy quản lý, thúc đẩy quá trình hoàn thiện luật pháp, chính sách theo hướng bình đẳng, công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế; đào tạo được đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với xu thế hội nhập.

  • Thứ bảy, FDI đã góp phần quan trọng vào hội nhập quốc tế

Hoạt động thu hút FDI đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo thuận lợi để Việt Nam gia nhập ASEAN, ký Hiệp định khung với EU, Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 62 quốc gia/vùng lãnh thổ và Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) với Nhật Bản và nhiều nước, mới đây nhất là Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP).

2.4.3. Những hạn chế trong thu hút vốn FDI và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thời gian qua vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục trong thời gian tới, đó là:

Thứ nhất, hiệu quả tổng thể nguồn vốn FDI chưa cao. Trong công nghiệp – xây dựng, các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lắp ráp, giá trị gia tăng thấp; có quá ít dự án về cơ sở hạ tầng; tỷ trọng dự án trong nông – lâm – ngư nghiệp rất thấp và có xu hướng giảm dần trong khi đây là những ngành Việt Nam có thế mạnh. Trong dịch vụ, các dự án bất động sản quy mô lớn còn cao song nhiều trong số dự án này chậm triển khai, gây lãng phí về đất đai, vay vốn trong nước. FDI vào các dịch vụ trung gian, dịch vụ giá trị gia tăng cao, giáo dục đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe, môi trường… còn hạn chế.

FDI hiện tập trung chủ yếu tại địa bàn có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, thị trường tiêu thụ sản phẩm gây mất cân đối vùng miền, không đạt được mục tiêu hướng FDI vào địa bàn khó khăn. Các KKT, KCN, KCNC không tạo ra lợi thế khác biệt cho từng địa phương và vùng lãnh thổ.

Đối tác đầu tư vào Việt Nam chủ yếu từ Châu Á, nhà đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ cao. Hiện mới chỉ thu hút được trên trong tổng số 500 tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới. Tỷ lệ vốn thực hiện thấp so với vốn đăng ký, chỉ khoảng 47,2%.

Thứ hai, mục tiêu thu hút công nghệ (công nghệ cao và công nghệ nguồn), chuyển giao công nghệ chưa đạt được như kỳ vọng.

Trên 80% doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, 5-6% sử dụng công nghệ cao, 14% ở mức thấp và lạc hậu, cá biệt có trường hợp sử dụng công nghệ lạc hậu. Chuyển giao công nghệ chủ yếu thực hiện theo chiều ngang – giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, ít có những biến đổi về trình độ và năng lực công nghệ. Do mặt bằng công nghệ sử dụng trong các dự án FDI chưa cao nên hiệu quả chuyển giao công nghệ theo chiều ngang còn hạn chế. Không ít trường hợp nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng sơ hở của luật pháp, yếu kém trong quản lý nhà nước để nhập khẩu vào Việt Nam máy móc, thiết bị lạc hậu gây ô nhiễm môi trường, khai tăng giá trị nhập khẩu và giá trị chuyển giao công nghệ. Công nghệ thấp dẫn đến các doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu thực hiện việc gia công, một số doanh nghiệp được coi là công nghệ cao nhưng những khâu sử dụng công nghệ cao lại không thực hiện ở Việt Nam. Hệ quả là doanh nghiệp Việt Nam tạo ra gia trị gia tăng thấp, khó tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu.

Thứ ba, số lượng việc làm tạo ra chưa tương xứng, đời sống người lao động chưa cao, tranh chấp và đình công có xu hướng gia tăng. Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Tỷ lệ việc làm mới do khu vực FDI tạo ra không tương xứng (chỉ chiếm 3,4% trong tổng số lao động có việc làm năm 2020). Thu nhập bình quân theo tháng của người lao động ở khu vực doanh nghiệp FDI chỉ cao hơn khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước nhưng thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước. Nhu cầu về nhà ở, đời sống văn hóa ở các khu tập trung nhiều lao động đã trở nên bức xúc mà chưa đáp ứng được.

Từ năm 2004 đến nay, cả nước đã xảy là 4.142 cuộc đình công, trong đó 75,4% (3.122 cuộc) của doanh nghiệp FDI, chủ yếu xảy ra tại doanh nghiệp của Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản; tập trung ở ngành gia công, sử dụng nhiều lao động như dệt may, cơ khí, điện tử, da giày xuất phát từ yêu cầu về lợi ích của người lao động. Điều đáng nói là hầu hết các cuộc đình công không tuân thủ theo đúng trình tự quy định của pháp luật mặc dù 70% số cuộc đình công xảy ra ở doanh nghiệp có tổ chức công đoàn. Trên thực tế, tổ chức công đoàn cơ sở còn nhiều hạn chế trong việc bảo đảm các quyền lợi cho người lao động, đặc biệt là vấn đề thỏa thuận mức tiền lương và điều kiện lao động.

Thứ tư, hiệu ứng lan tỏa của khu vực FDI sang khu vực khác của nền kinh tế còn hạn chế, có dấu hiệu chèn lấn.

Mặc dù doanh nghiệp trong nước được hưởng lợi từ FDI chủ yếu thông qua tác động mở rộng thị trường, nhưng từ năm 2016 (Việt Nam chính thức tham gia WTO) đến nay, doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ trong nước ở một số lĩnh vực đã chịu tác động chèn lấn của doanh nghiệp FDI.

Thứ năm, một số dự án được cấp phép nhưng chưa bảo đảm tính bền vững, gây ô nhiễm môi trường, tiêu tốn năng lượng, tài nguyên, chưa chú ý đầy đủ tới an ninh quốc phòng.

Quy định về môi trường của Việt Nam áp dụng chuẩn của các nước phát triển, song việc thẩm định chỉ mang tính hình thức, tập trung nhiều vào khâu tiền kiểm, dẫn đến nhiều dự án khi triển khai đã vi phạm nghiêm trọng quy định về môi trường, gây tác động lâu dài tới sức khỏe người dân và hệ sinh thái khu vực. Không ít dự án nhập khẩu máy móc, thiết bị lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường không được phát hiện kịp thời. Có chiều hướng dịch chuyển dòng FDI tiêu tốn năng lượng và tài nguyên, nhân lực, không thân thiện với môi trường, vào Việt Nam nhưng nhiều địa phương không có cơ chế kiểm soát về môi trường. Một số dự án chiếm giữ đất lớn nhưng không triển khai gây lãng phí tài nguyên.

Một số trường hợp thu hút đầu tư chưa tính đến hiệu quả tổng thể cả về an ninh quốc phòng, nhất là các dự án trồng rừng, khai thác khoáng sản, nuôi trồng thủy, hải sản ở vùng nhạy cảm về an ninh quốc phòng, một số dự án sử dụng nhiều lao động phổ thông nước ngoài.

  • Thứ sáu, có hiện tượng chuyển giá, trốn thuế. Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Một số doanh nghiệp FDI có biểu hiện áp dụng các thủ thuật chuyển giá tinh vi như nâng khống giá trị góp vốn (bằng máy móc, thiết bị, bản quyền…), giá trị mua bán nguyên vật liệu đầu vào, bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ, phí quản lý, tiền bản quyền, chi phí bảo lãnh, cho vay, trả lương, đào tạo, quảng cáo, nhà thầu, chuyển nhượng vốn … tạo nên tình trạng lỗ giả, lãi thật, gây thất thu ngân sách, làm cho đa số bên Việt Nam phải rút khỏi liên doanh, doanh nghiệp trở thành 100% vốn nước ngoài.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993