Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình công chức ở các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương

2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh Hải Dương

Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, là một trong những cái nôi của nền văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nam. Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc đã để lại cho vùng đất này một tài sản vô giá với hàng trăm di tích lịch sử văn hoá. Vùng đất này gắn bó với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều danh nhân như Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, nơi sinh ra và lớn lên của đại danh y Tuệ Tĩnh.

Hải Dương có diện tích: 1662 km2. Đây là một trong 7 tỉnh, thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, phía đông giáp Thành phố Hải Phòng, phía tây giáp tỉnh Hưng Yên, phía nam giáp tỉnh Thái Bình, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang. Hải Dương nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,30C, nhiệt độ cao nhất ở mùa hè không quá 24°C, giờ nắng trung bình hàng năm là 1524  giờ, lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 – 1.700 mm, độ ẩm trung bình là 85 – 87%.

Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm.

Hải Dương có 12 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Hải Dương, thành phố Chí Linh và 10 huyện: Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Ninh Giang,  Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Cẩm Giàng và Bình Giang. Trung tâm hành chính: Thành phố Hải Dương là trung tâm kinh tế – chính trị – văn hóa của cả tỉnh.

Dân số của tỉnh là hơn 1.703.492  người (theo điều tra dân số năm 2009).

Trong đó: Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Mật độ dân số trung bình: 1.044,26 người/km2; Dân số thành thị: 324.930 người; dân số nông thôn: 1.378.562 người; Nam: 833.459 người; Nữ: 870.033 người.

Tỉnh Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế – xã hội của tỉnh phát triển. Hệ thống giao thông: gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt; Phân bố hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh.

Năm 2018 được nhận định là năm có nhiều dấu ấn quan trọng của Chính phủ cũng như của ủy bản nhân dân tỉnh trong việc nỗ lực tạo dựng môi trường thuận lợi cho kinh tế xã hội phát triển.

Kinh tế tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP giá 2010) ước tăng 9,1% so với năm 2017 (KH năm tăng 8% trở lên); lĩnh vực văn hóa xã hội đạt được nhiều kết quả tích cực, các chính sách an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện và ổn định; an ninh – quốc phòng, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Triển khai các Nghị quyết của Trung ương về sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy và tinh giảm biên chế; về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP theo giá 2010) ước tăng 9,1%  so với năm 2017, cao hơn bình quân cả nước (ước tăng gần 7,0%); thấp hơn một số tỉnh lân cận như Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản (NLTS) tăng 6,0%; công nghiệp – xây dựng tăng 10,8% (công nghiệp +11,1%, xây dựng +7,7%); dịch vụ tăng 6,8%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ; cơ cấu kinh tế ước đạt 9,4% – 58,8% – 31,8% (năm 2017 là 9,6% – 57,9% – 32,5%).

Đóng góp vào tăng trưởng chung 9,1%, nhóm ngành NLTS đóng góp 0,6 điểm%; công nghiệp, xây dựng đóng góp 6,4 điểm% (trong đó, công nghiệp đóng góp 6,0 điểm%, xây dựng đóng góp 0,4 điểm%); dịch vụ đóng góp 2,1 điểm%.

Năm 2018, khu vực NLTS có mức tăng trưởng cao (+6,0%); nguyên nhân chính do khu vực trồng trọt có một năm được mùa, cây lúa và nhiều loại cây hàng năm khác cho năng suất cao; đặc biệt sản lượng quả vải cao nhất từ trước đến nay (hơn 66 nghìn tấn, gấp hơn 2,3 lần năm 2017).

Ngành công nghiệp, xây dựng của tỉnh có những sản phẩm chủ yếu như điện, xi măng, ô tô chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 50%) trong giá trị sản xuất ngành, tăng trưởng của ngành này sẽ quyết định tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Năm 2018, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá 2010) ước đạt 227.467 tỷ đồng, bằng 115,7% kế hoạch năm, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước; tăng cao ở một số ngành chiếm tỷ trọng lớn như: SX điện tử, máy tính; SX kim loại; SX trang phục, giày dép; trong đó có sự đóng góp chủ yếu của các DN có vốn đầu tư nước ngoài (trong nước chỉ Lilama 69-3; Môi trường xanh An Phát; thép Hòa Phát và năng lượng Hòa Phát là các DN lớn có mức tăng khá). Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Trong năm hoạt động xúc tiến thương mại được đẩy mạnh, tổ chức tốt Lễ hội vải thiều Thanh Hà – Hải Dương năm 2018, ký kết hợp đồng tiêu thụ vải thiều và các mặt hàng nông sản với một số địa phương, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh; tổ chức các hội chợ mời gọi các doanh nghiệp tham gia chương trình xúc tiến thương mại năm 2018, gồm 41 hội trợ, triển lãm. Tích cực triển khai các hoạt động kết nối cung cầu, gắn sản xuất với tiêu dùng, thúc đẩy sản xuất hàng hóa. Triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng sàn giao dịch thương mại điện tử Hải Dương” thuộc Chương trình phát triển thương mại điện tử quốc gia năm 2018.

Giá trị hàng hóa xuất khẩu hàng hóa năm 2018 ước đạt 6.404 triệu USD, tăng 19,0% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu chủ yếu từ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Một số mặt hàng xuất khẩu cơ bản có giá trị tăng so với cùng kỳ năm trước: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện +36,7%; hàng dệt may +20,0%; dây điện và cáp điện +19,3%; đá quý, kim loại quý tăng 14,9%; giầy dép các loại +13,5%.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2018 ước đạt 5.928 triệu USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước.

Một số mặt hàng  nhập khẩu cơ bản có kim ngạch tăng khá so với cùng kỳ năm trước: vải các loại tăng 29,2%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày tăng 23,8%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 22,0%; điện tử và linh kiện điện tử tăng 18,5%.

Trong năm 2018 ước giải quyết việc làm mới cho 37.915 lao động, đạt 100,3% kế hoạch. Thị trường lao động tiếp tục được củng cố và phát triển, đã tổ chức 76 phiên giao dịch việc làm, tổ chức giới thiệu việc làm cho 8.752 người lao động, đạt tỉ lệ 100% so với kế hoạch năm. Phối hợp với Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay 33.390 triệu đồng, thu hút 795 dự án, hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm cho 795 lao động.

Kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động tại 24 doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trên địa bàn tỉnh, kiến nghị yêu cầu doanh nghiệp khắc phục những tồn tại về pháp luật lao động sau kiểm tra.

Tập trung triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công và thân nhân người có công với cách mạng; triển khai có hiệu quả các chính sách giảm nghèo, bảo trợ xã hội, trẻ em, bình đẳng giới và phòng chống tệ nạn xã hội góp phần quan trọng bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục thực hiện tốt việc tiếp nhận, nuôi dưỡng, dạy chữ, dạy nghề, chăm sóc sức khỏe cho các đối tượng bảo trợ xã hội. Tích cực vận động, huy động các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hỗ trợ cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn nhân dịp tết nguyên đán 2018. Ước thực hiện năm 2018 tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 2,5% . Tiếp tục mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, đạt kết quả tích cực, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế năm 2018 đạt 88,2%. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Công

2.1.2. Đặc điểm công chức các cơ quan chuyên môn ở tỉnh Hải Dương

2.1.2.1. Về số lượng

Căn cứ Nghị quyết số 101/2017/NQ-HĐND ngày 11/12/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương về Kế hoạch biên chế công chức các cơ quan hành chính nhà nước và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập tỉnh Hải Dương năm 2018, tổng số biên chế công chức hành chính giao cho các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh và ủy bản nhân dân huyện tỉnh Hải Dương năm 2018 là 2.219 chỉ tiêu, trong đó: Các sở, ngành của tỉnh: 1.098 chỉ tiêu; ủy bản nhân dân cấp huyện; 1.121 chỉ tiêu.

Tính đến ngày 30/6/2018 có mặt 2.074 người (đạt 93,47%), trong đó: Các sở, ban, ngành tỉnh: 1.033 người; ủy bản nhân dân các huyện, thị xã, thành phố: 1.041 người.

2.1.2.2. Về chất lượng

Chia theo ngạch: Chuyên viên cao cấp và tương đương 33 người, Chuyên viên chính và tương đương 319 người, Chuyên viên và tương đương 664 người, cản sự và tương đương 58 người;

Chia theo trình độ:

  • Chuyên môn: Tiến sỹ 14 người, thạc sỹ 336 người, đại học 1684 người, cao đẳng 26 người, trung cấp 14 người (bảng 3.1);
  • Chính trị: Cao cấp 292 người, cử nhân 67 người, trung cấp 708 người; sơ cấp 829 người;
  • Tin học trung cấp trở lên 37 người, chứng chỉ 1970 người;
  • Ngoại ngữ Anh văn: Cao đẳng trở lên 32 người, chứng chỉ 1.934 người;
  • Quản lý nhà nước: chuyên viên cao cấp 61 người, chuyên viên chính 534 người, chuyên viên 1.177 người;

Chia theo độ tuổi; Dưới 30 tuổi 293 người, từ 30 đến 50 tuổi 1256 người, từ 50 đến 60 tuổi 525 người (Nữ từ 50 đến 55 tuổi 101 người, nam từ 55 đến 60 tuổi 300 người; trên tuổi nghỉ hưu 01 người); – Đảng viên 1884 người; – Nữ: 763 người; – Dân tộc thiểu số 01 người. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Bảng 2.1. Trình độ đào tạo cán bộ, công chức tỉnh Hải Dương

Đa số cán bộ công chức của tỉnh có phẩm chất đạo đức tốt, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, có tinh thần trách nhiệm cao, ý thức cầu tiến, ham học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có ý thức tu dưỡng, rèn luyện phục vụ nhân dân, có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành tốt nội quy, quy chế của cơ quan. Qua kết quả đánh giá cán bộ công chức hàng năm có trên 98% có phẩm chất đạo đức tốt. Đặc biệt cán bộ công chức giữ chức danh lãnh đạo, quản lý là những người ưu tú, chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác;100% cán bộ công chức lãnh đạo, quản lý là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, phần lớn họ là những người đã trải qua hoạt động thực tiễn công tác đảng, chính quyền các cấp. Do vậy, họ có khả năng chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công.

2.2. Khái quát thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương

2.2.1. Tổ chức thực hiện pháp luật về tuyển dụng

Nhằm cụ thể hóa các văn bản của cấp trên liên quan tới công tác quản lý cán bộ công chức, ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương đã xây dựng Quy định về “Quản lý công tác tổ chức và cán bộ, công chức, viên chức thuộc tỉnh” theo Quyết định số 2115/2006/QĐ-UBND ngày 13/06/2006 của ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương . Theo đó, về xác định nhu cầu tuyển dụng công chức các cơ quan thuộc ủy bản nhân dân tỉnh: thẩm quyền quyết định phân bổ biên chế cán bộ công chức hằng năm cho tỉnh hiện nay vẫn do Bộ Nội vụ thực hiện trên cơ sở được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền. Theo đó, Bộ Nội vụ tính toán số lượng biên chế cho tỉnh theo cách tính tỷ lệ phần trăm trên tổng số cán bộ công chức hiện có và tính thêm biên chế để thực hiện những nhiệm vụ mới phát sinh. Cách tính này chỉ mang tính ước lượng, chung chung, hình thức, chủ yếu phụ thuộc vào báo cáo và đề nghị của chính quyền tỉnh mà ít tiến hành điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực tế tại địa phương.

Trong khi đó, trên thực tế hiện nay, các cơ quan hành chính nhà nước nào cũng muốn đề nghị số lượng biên chế nhiều hơn nhu cầu thực tế của mình để tăng thêm ngân sách cấp phát cho cơ quan. Ở một số nơi, do nhu cầu công việc đòi hỏi số lượng cán bộ công chức nhiều hơn so với biên chế được phân bổ nên hiện tượng vận dụng “ứng trước” hoặc “ứng thêm” biên chế cho cơ quan là tương đối phổ biến. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Theo các quy định hiện hành về quản lý biên chế của Nhà nước, số lượng nhân sự mới được tuyển thường được phân bổ theo chỉ tiêu biên chế từ các cơ quan quản lý nhân sự cấp trên (chỉ tiêu biên chế của tỉnh do Bộ Nội vụ phân bổ; chỉ tiêu biên chế cho các địa phương do Sở Nội vụ phân bổ). Các đơn vị có nhu cầu nhân sự ít chịu tác động của quá trình phân bổ này. Cách quản lý biên chế chung như hiện nay tạo ra sự quản lý thống nhất tổng số biên chế và điều chỉnh được sự biến động tăng, giảm biên chế trong cả nước.

Trong khi đó, chính quyền địa phương cấp tỉnh cũng có những thẩm quyền nhất định trong quản lý biên chế. Tuy nhiên, cách thức quản lý này vẫn còn nhiều bất cập khi mà cơ quan chuyên trách quản lý biên chế ở trung ương khó kiểm soát được biên chế thực tế ở các cơ quan, đơn vị.

Về tổ chức thực hiện pháp luật về tuyển dụng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh, theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ công chức ở tỉnh Hải Dương, ủy bản nhân dân tỉnh có những thẩm quyền cụ thể sau:

  • Thành lập Hội đồng tuyển dụng công chức
  • Tổ chức việc tuyển dụng công chức và theo quy định của pháp luật
  • Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh căn cứ kết quả thi tuyển, xét tuyển để quyết định tuyển dụng và phân công công chức về các sở, ban, ngành thuộc tỉnh.

Sở Nội vụ là cơ quan thường trực của Hội đồng tuyển dụng công chức của tỉnh. Trong quá trình tổ chức tuyển dụng, Sở có trách nhiệm trình ủy bản nhân dân tỉnh phê duyệt kế hoạch tuyển dụng công chức, thành lập Hội đồng tuyển dụng công chức, quyết định công nhận danh sách thí sinh đạt kết quả thi tuyển công chức theo đề nghị của Hội đồng tuyển dụng.

Đối với Hội đồng tuyển dụng công chức của tỉnh do Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh ban hành quyết định thành lập, gồm có 5-7 thành viên, bao gồm: Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch tỉnh Hải Dương. Phó Chủ tịch Hội đồng là Giám đốc Sở Nội vụ. Các ủy viên Hội đồng là đại diện lãnh đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị chuyên ngành của cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức, như: Thanh tra tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo… Ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng là Trưởng phòng Cán bộ – công chức, Sở Nội vụ.

Hội đồng tuyển dụng công chức của tỉnh Hải Dương làm việc theo nguyên tắc tập thể, biểu quyết theo đa số và có nhiệm vụ, quyền hạn sau: Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

  • Thành lập bộ phận giúp việc gồm: Ban Đề thi, Ban Coi thi, Ban phách, Ban Chấm thi, Ban phúc khảo (nếu cần);
  • Tổ chức thu phí dự tuyển và sử dụng theo quy định;
  • Tổ chức xét tuyển, thi tuyển theo đúng Quy chế, Nội quy thi tuyển;
  • Báo cáo kết quả và trình Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh xem xét, quyết định công nhận kết quả tuyển dụng;
  • Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức tuyển dụng (nếu có).
  • Trong quá trình làm việc, Hội đồng tuyển dụng sử dụng con dấu của ủy bản nhân dân tỉnh khi Chủ tịch Hội đồng ký các văn bản có liên quan của Hội đồng và sử dụng dấu của Sở Nội vụ đối với các văn bản khác có liên quan của Hội đồng.

Hội đồng tuyển dụng tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

Giám đốc Sở Nội vụ: có trách nhiệm giúp ủy bản nhân dân tỉnh tổ chức tuyển dụng công chức, theo đề nghị của các sở, ban, ngành của tỉnh, ủy bản nhân dân cấp huyện có chỉ tiêu biên chế; giúp ủy bản nhân dân tỉnh tổ chức sơ tuyển, cử công chức dự thi ngạch chuyên viên chính và tương đương trở lên theo chỉ tiêu phân bổ của Bộ, ngành Trung ương.

Giám đốc Sở Nội vụ còn được ủy bản nhân dân tỉnh uỷ quyền ký quyết định đối với một số nội dung liên quan tới công tác tuyển dụng công chức, như:

Căn cứ vào kết quả kỳ thi tuyển, xét tuyển công chức, đã được Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh công nhận, hoặc đề nghị của Giám đốc sở, Chủ tịch ủy bản nhân dân huyện kèm theo biên bản của Hội đồng xét tuyển, quyết định tuyển dụng công chức từ ngạch chuyên viên và tương đương trở xuống trong chỉ tiêu biên chế được giao, theo cơ cấu, yêu cầu nhiệm vụ của các cơ quan của tỉnh.

Đối với các Giám đốc Sở khác, theo quy định về phân cấp tại Quyết định số 2115/2006/QĐ-UBND thì các Sở của tỉnh hầu như không có trách nhiệm nào liên quan trong công tác tổ chức tuyển dụng công chức.

Cũng chính vì không được tham gia nhiều vào trong quá trình tổ chức thi tuyển nên các cơ quan sử dụng công chức ở tỉnh không có quyền chủ động lựa chọn hình thức và nội dung thi tuyển. Do đó, nội dung thi tuyển hiện nay vẫn chưa thực sự phù hợp với từng loại công chức ở từng ngành, lĩnh vực, đặc biệt chưa có những nội dung thi riêng cho từng nhóm vị trí công việc tương ứng. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Bên cạnh đó, về nội dung thi trong quá trình tổ chức tuyển dụng cũng là vấn đề cần bàn. Việc quy định các môn thi bắt buộc là hành chính nhà nước, ngoại ngữ và tin học văn phòng với cách tính điểm như hiện nay là chưa thực sự phù hợp vì mỗi ngành, mỗi lĩnh vực cần có những kiến thức chuyên ngành khác nhau. Mặc dù các văn bản pháp luật hiện nay quy định đề thi môn hành chính nhà nước bao gồm các nội dung liên quan đến quản lý hành chính nhà nước và kiến thức nghiệp vụ chuyên ngành nhưng thực tiễn cho thấy các kiến thức chuyên ngành chưa thực sự được chú trọng trong lựa chọn công chức. Do đó, kết quả thi tuyển chưa thực sự phản ánh chính xác khả năng làm việc trong tương lai của công chức.

Ngoài ra, các quy định về phân cấp, tăng cường trách nhiệm và thẩm quyền của người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay cũng chậm được ban hành và triển khai dẫn đến các cơ quan hành chính cấp trên vẫn ôm đồm nhiều việc và can thiệp sâu vào hoạt động của các cơ quan, đơn vị cơ sở. Với những quy định như hiện nay, chưa rõ trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan khi tuyển người chưa đáp ứng yêu cầu công việc. Như vậy, các cơ quan trực tiếp sử dụng công chức chưa được quyền tự chủ trong quyết định nhu cầu tuyển dụng, tiêu chuẩn tuyển dụng và lựa chọn người phù hợp với nhu cầu thực tế của cơ quan hành chính nhà nước.

Cho đến hiện nay, sau 13 năm triển khai, một số nội dung của Quyết định số 2115/2006/QĐ-UBND về “Quản lý công tác tổ chức và cán bộ, công chức, viên chức thuộc tỉnh” không còn phù hợp với các quy định của Trung ương cũng như thực tiễn ở địa phương, đến nay ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương vẫn chưa ban hành được quyết định mới để điều chỉnh các nội dung liên quan đến quản lý công chức nói chung và tuyển dụng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân cấp tỉnh nói riêng. Hiện tại, Sở Nội vụ Hải Dương vẫn mới đang xây dựng dự thảo Quyết định ban hành Quy định về “Phân cấp quản lý công tác tổ chức và cán bộ, công chức, viên chức thuộc tỉnh” để thay Quyết định số 2115. Tại cuộc họp thường kỳ của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương ngày 24/4/2018 liên quan đến nội dung này, đại diện các sở, ban, ngành, chính quyền địa phương tiếp tục đóng góp ý kiến cho dự thảo này.

2.2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng công chức Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Hiện nay, theo quy định, công tác Đào tạo, bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương do cấp tỉnh thực hiện, cụ thể: ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương có trách nhiệm:

  • Xây dựng, ban hành các chế độ khuyến khích công chức không ngừng học tập, nâng cao trình độ, năng lực công tác; bố trí kinh phí bảo đảm hoạt động Đào tạo, bồi dưỡng;
  • Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch Đào tạo, bồi dưỡng thuộc phạm vi quản lý;
  • Tổ chức thực hiện chế độ Đào tạo, bồi dưỡng theo quy định;
  • Báo cáo kết quả hoạt động Đào tạo, bồi dưỡng công chức hàng năm để Bộ Nội vụ theo dõi, tổng hợp, tổ chức, quản lý và biên soạn chương trình, tài liệu Đào tạo, bồi dưỡng trong phạm vi trách nhiệm được giao;
  • Quản lý cơ sở Đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ giảng viên trong phạm vi thẩm quyền;
  • Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách Đào tạo, bồi dưỡng trong phạm vi thẩm quyền.

UBND tỉnh Hải Dương giao cho Sở Nội vụ chịu trách nhiệm chính trong quản lý công tác Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức. Sở có chức năng tham mưu giúp ủy bản nhân dân tỉnh quản lý công tác Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức và thống nhất quản lý, thực hiện kế hoạch Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức trong và ngoài nước sau khi được ủy bản nhân dân tỉnh phê duyệt. Sở này hiện cũng có Phòng Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức chịu trách nhiệm chính về mảng hoạt động này.

Theo quy định về phân cấp quản lý công chức của tỉnh tại Quyết định số 2115/2006/QĐ-UBND, thẩm quyền của Giám đốc Sở Nội vụ trong quản lý ĐTBD công chức của tỉnh được quy định cụ thể như sau:

Giám đốc Sở Nội vụ có trách nhiệm giúp ủy bản nhân dân tỉnh:

  • QLNN về công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng công chức, công chức cấp xã theo quy định hiện hành;
  • Xây dựng kế hoạch hàng năm, kế hoạch 5 năm đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng công chức;
  • Hướng dẫn các Sở, ban, ngành, ủy bản nhân dân cấp huyện xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng công chức theo quy định hiện hành.

Việc cử công chức đi Đào tạo, bồi dưỡng ở tỉnh Hải Dương hiện nay cũng được quy định tương đối rõ ràng trong các văn bản của tỉnh đối với các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương theo Quyết định số 2115/2006/QĐ-UBND

Cụ thể: Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh có thẩm quyền:

  • Quyết định cử công chức đi đào tạo ở trình độ sau đại học
  • Phê duyệt số lượng công chức đi đào tạo trình độ đại học cho từng cơ quan, đơn vị;
  • Quyết định cử công chức đi Đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu ở nước ngoài (đối với các chức danh công chức thuộc Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý và phải có ý kiến bằng văn bản của Ban Thường vụ Tỉnh ủy).
  • Quyết định cử công chức đi bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên cao cấp và tương đương.

Giám đốc Sở Nội vụ được Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh ủy quyền quyết định:

  • Cử công chức đi bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính trở xuống;
  • Mở các lớp Đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học cho công chức do tỉnh tổ chức;
  • Cử công chức đi bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ ở ngoài tỉnh với thời gian từ 01 tháng trở lên.

Tuy nhiên, đối với công chức thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy hoặc ủy bản nhân dân tỉnh quản lý nếu đi Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ ở ngoài tỉnh có thời gian trên 01 tháng thì phải có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Ban Thường vụ tỉnh ủy và Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương.

Các Giám đốc Sở được giao thẩm quyền:

  • Xây dựng kế hoạch và quyết định cử công chức thuộc thẩm quyền quản lý đi học từ trình độ đại học trở xuống;
  • Xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo hướng dẫn của các bộ, ngành Trung ương, của Sở Nội vụ và Sở quản lý chuyên ngành.
  • Quyết định cử công chức đi dự tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ trong tỉnh và tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ ngoài tỉnh thời gian dưới 01 tháng.
  • Cho phép công chức tự đi Đào tạo, bồi dưỡng dài hạn để nâng cao trình độ nếu xét thấy hợp lý và cơ quan, đơn vị cũng như người tự đi Đào tạo, bồi dưỡng chủ động được kinh phí và sắp xếp được thời gian, không làm ảnh hưởng đến công tác. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Nhìn chung, việc quy định phân công, phân cấp trong quản lý và tổ chức thực hiện công tác đào tạo công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh thời gian qua nhìn chung cũng đã phân định được rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, đơn vị có liên quan. Qua đó, cũng đã tạo ra sự chủ động và phối hợp có hiệu quả của các cơ quan quản lý cũng như các cơ sở Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là trong việc tổ chức các chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên và chương trình đào tạo trung cấp hành chính.

Định kỳ hàng năm, công chức ở tỉnh được cử đi Đào tạo, bồi dưỡng theo đúng kế hoạch đặt ra. Số lượng công chức được cử đi Đào tạo, bồi dưỡng hàng năm tăng dần, đảm bảo cho đội ngũ này có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên. Tỉnh đã chú ý đến Đào tạo, bồi dưỡng cả về chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là lý luận chính trị và kỹ năng công tác, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Trên cơ sở quy hoạch Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức đã được ban hành, ủy bản nhân dân tỉnh tiến hành tổ chức thực hiện Đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ công chức của tỉnh. Các lớp Đào tạo, bồi dưỡng được mở ra với nhiều hình thức: hình thức bồi dưỡng ngắn ngày về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng chuyên ngành cho công chức; đào tạo tập trung về lý luận chính trị; hình thức đào tạo chính quy, vừa học, vừa làm, qua đó từng bước giúp cho công chức tham dự các khóa Đào tạo, bồi dưỡng phát triển tốt kiến thức và kỹ năng theo mục tiêu Đào tạo, bồi dưỡng.

Hiện nay, các cơ sở Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức mà tỉnh Hải Dương cử công chức tham gia Đào tạo, bồi dưỡng gồm: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Trường Chính trị tỉnh Hải Dương; Trung tâm bồi dưỡng chính trị của các huyện, thành phố trong tỉnh; các trường, học viện, trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng của các bộ, ngành trung ương và một số loại hình tổ chức Đào tạo, bồi dưỡng khác. Có thể phân nhóm các cơ sở đào tạo này thành hai hệ thống:

Hệ thống các cơ sở Đào tạo, bồi dưỡng thuộc bộ, ngành trung ương: là các đơn vị sự nghiệp thuộc bộ, ngành trung ương, do vậy các đơn vị sự nghiệp này chịu sự quản lý nhà nước theo ngành. Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng bộ, ngành trung ương được Chính phủ giao, các bộ, ngành trung ương trình Thủ tướng quyết định việc thành lập, tổ chức lại, giải thể các tổ chức sự nghiệp thuộc bộ, ngành Trung ương và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể và mối quan hệ công tác của từng tổ chức, quy định thẩm quyền và trách nhiệm  của người đứng đầu các cơ sở Đào tạo, bồi dưỡng. Việc cấp kinh phí hoạt động thuộc ngân sách nhà nước cho các cơ sở Đào tạo, bồi dưỡng theo nhiệm vụ được giao; hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, sử dụng kinh phí và tài sản.

Hiện nay, các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ, ngành trung ương mà tỉnh Hải Dương liên kết để cử công chức tham gia Đào tạo, bồi dưỡng bao gồm; Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Học viện Hành chính Quốc gia; Học viện Chính trị Khu vực I; Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Trường Đại học Nông nghiệp; Trường Đại học Văn hóa; Học viện An ninh Nhân dân… Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Hệ thống các cơ sở Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức ở tỉnh Hải Dương bao gồm: Trường Chính trị tỉnh Hải Dương và các trung tâm bồi dưỡng lý luận chính trị ở các huyện, thành phố là đơn vị sự nghiệp thuộc cấp ủy và ủy bản nhân dân cấp huyện.

Trong đó, Trường Chính trị tỉnh Hải Dương là đơn vị sự  nghiệp trực thuộc tỉnh ủy và ủy bản nhân dân tỉnh, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hải Dương. Trường có chức năng tổ chức Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở, cán bộ công chức trên địa bàn tỉnh Hải Dương về lý luận chính trị – hành chính; đường lối, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; kiến thức về chuyên môn, kiến thức về hành chính và nghiệp vụ về công tác xây dựng đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội; kiến thức về pháp luật quản lý nhà nước và một số lĩnh vực khác.

2.2.3. Tổ chức thực hiện pháp luật về quy hoạch, bổ nhiệm

Công chức lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nói chung và ở tỉnh Hải Dương nói riêng gồm nhiều loại và được phân theo các cấp, bậc khác nhau, như: công chức lãnh đạo cấp tỉnh, công chức lãnh đạo cấp huyện, công chức lãnh đạo cấp phòng (thuộc sở, hoặc huyện)… Nói chung là gồm các chức danh từ cấp phó trưởng phòng và tương đương trở lên ở các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện. Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu về quy định và tổ chức thực hiện pháp luật về công tác quản lý công chức ở các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân cấp tỉnh.

Việc bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện dưới hai hình thức, gồm: bổ nhiệm lần đầu và bổ nhiệm lại. Theo đó, bổ nhiệm lần đầu là việc người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền lần đầu tiên quyết định cử công chức giữ chức vụ lãnh đạo hoặc quyết định cử giữ chức vụ lãnh đạo mới cao hơn chức vụ đang đảm nhiệm. Còn bổ nhiệm lại là việc người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm công chức lãnh đạo tiếp tục giữ chức vụ đang đảm nhiệm khi hết thời hạn bổ nhiệm. Đối với mỗi hình thức này lại có những quy định riêng về điều kiện, tiêu chí và quy trình, thủ tục. Thời hạn mỗi lần bổ nhiệm là 5 năm. Tuy nhiên, đối với một số cơ quan, đơn vị đặc thù có thể quy định thời hạn mỗi lần bổ nhiệm ngắn hơn.

Việc bổ nhiệm đối với công chức lãnh đạo, quản lý của tỉnh Hải Dương hiện nay đang được áp dụng theo Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ công chức lãnh đạo được ban hành kèm theo Quyết định số 27/QĐ-TTg ngày 19/02/2003 của Thủ tướng Chính phủ.

Nhằm cụ thể hóa các quy định của Quyết định số 27/QĐ-TTg ngày 19/02/2003 của Thủ tướng Chính phủ cũng như các quy định khác của pháp luật có liên quan, UNBD tỉnh đã cụ thể hóa việc phân cấp thẩm quyền và trách nhiệm của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước ở tỉnh Hải Dương trong việc bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý trong Quyết định số 2115/2006/QĐUBND, cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

UBND tỉnh có thẩm quyền:

Quyết định việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đối với các chức danh của các đơn vị trực thuộc ủy bản nhân dân tỉnh, gồm: Chánh Văn phòng, phó Văn phòng ủy bản nhân dân tỉnh; Giám đốc, phó Giám đốc sở; Trưởng ban, Phó trưởng ban và cấp trưởng, cấp phó cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp trực thuộc ủy bản nhân dân tỉnh; cán bộ khoa học có học vị tiến sỹ; Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy có học hàm giáo sư, phó giáo sư; công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương (trừ việc bổ nhiệm ngạch); Giám đốc, phó Giám đốc, Kế toán trưởng công ty Nhà nước theo quy định hiện hành.

  • Quyết định bổ nhiệm và miễn nhiệm chức danh Thanh tra viên cấp I, trưởng phòng công chứng theo quy định của Nhà nước.
  • Quyết định bổ nhiệm kế toán trưởng của các sở, ban, ngành, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc ủy bản nhân dân tỉnh theo quy định hiện hành.
  • Quyết định bổ nhiệm một số chức danh Trưởng phòng, Giám đốc Trung tâm thuộc Sở theo quy định của Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương.

Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh: 

  • Phê chuẩn kết quả bầu các thành viên của ủy bản nhân dân cấp dưới trực tiếp.
  • Quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo thuộc các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực thuộc các sở, ngành của tỉnh thuộc diện Ban Cán sự Đảng ủy bản nhân dân tỉnh quản lý sau khi có ý kiến giới thiệu hoặc thống nhất bằng văn bản của Ban Cán sự Đảng ủy bản nhân dân tỉnh, gồm: Chi cục trưởng các chi cục và tương đương thuộc các sở, ngành của tỉnh; Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trường Cao đẳng; Hiệu trưởng trường trung cấp chuyên nghiệp và trường trung cấp nghề; trưởng các đơn vị thuộc các sở, ngành cấp tỉnh có phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 0,7 trở lên.

Giám đốc Sở Nội vụ có trách nhiệm:

Đối với các công chức lãnh đạo thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý: phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy thực hiện quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm; trình Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh quyết định sau khi có ý kiến giới thiệu hoặc thống nhất bằng văn bản của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Đối với các công chức lãnh đạo thuộc diện Ban Cán sự Đảng ủy bản nhân dân tỉnh quản lý: chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan thực hiện các quy trình bổ nhiệm để báo cáo Ban Cán sự Đảng ủy bản nhân dân tỉnh; trình Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh quyết định sau khi có ý kiến giới thiệu hoặc thống nhất bằng văn bản của Ban Cán sự Đảng ủy bản nhân dân tỉnh.

Giám đốc các Sở và tương đương có thẩm quyền: Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Ra quyết định bổ nhiệm các chức danh trưởng phòng, phó trưởng phòng; cấp trưởng, cấp phó các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở (trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của ủy bản nhân dân tỉnh được quy định từ tiết 2.4.2. đến tiết 2.4.14, Điều 4, Quyết định số 2115/2006/QĐ-UBND) và báo cáo Sở Nội vụ để theo dõi, quản lý.

Ra quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đối với công chức giữ các chức vụ: Phó Chi cục trưởng các chi cục và tương đương ở các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước thuộc sở, ngành của tỉnh; trưởng phòng, phó trưởng phòng và tương đương thuộc các sở, ngành của tỉnh; Phó hiệu trưởng trường trung cấp chuyên nghiệp; trung cấp nghề; trưởng các đơn vị thuộc các sở, ngành của tỉnh có phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 0,6 trở xuống.

Hiện nay, quá trình bổ nhiệm lần đầu và bổ nhiệm lại đối với công chức lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Hải Dương cũng đang được áp dụng theo các quy định chung của Quyết định số 27/QĐ-TTg ngày 19/02/2003 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, đối với mỗi hình thức có những quy định cụ thể riêng về điều kiện và tiêu chí bổ nhiệm. Trong đó:

Đối với hình thức bổ nhiệm lần đầu đòi hỏi các điều kiện và tiêu chí sau:

  • Đạt tiêu chuẩn chung của cán bộ công chức và tiêu chuẩn cụ thể của từng chức danh bổ nhiệm theo quy định của Đảng và Nhà nước;
  • Có đầy đủ hồ sơ cá nhân được cơ quan chức năng có thẩm quyền xác minh rõ ràng, trong đó có kê khai tài sản, nhà, đất theo quy định;
  • Về tuổi bổ nhiệm: công chức bổ nhiệm lần đầu không quá 55 tuổi đối với nam và không quá 50 tuổi đối với nữ. Riêng các chức vụ trưởng phòng, phó trưởng phòng các huyện, tuổi bổ nhiệm lần đầu không quá 45 tuổi (đối với cả nam và nữ). Trường hợp công chức đã thôi giữ chức vụ lãnh đạo, sau một thời gian công tác nếu được xem xét để bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, thì điều kiện về tuổi thực hiện như quy định khi bổ nhiệm lần đầu;
  • Có đủ sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ được giao;
  • Không trong thời gian bị thi hành kỷ luật từ hình thức khiển trách đến cách chức.

Đối với hình thức bổ nhiệm lại, phải đảm bảo đủ các điều kiện và tiêu chí sau:

  • Hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian giữ chức vụ;
  • Đạt tiêu chuẩn cán bộ công chức lãnh đạo quy định tại thời điểm xem xét bổ nhiệm lại, đáp ứng được yêu cầu công tác trong thời gian tới; Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.
  • Cơ quan, đơn vị có nhu cầu;
  • Đủ sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ và chức trách được giao.

Việc bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý đối với các chức danh khác nhau ở các cấp của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nói chung và ở tỉnh Hải Dương nói riêng có thể có một số bước khác nhau, song nhìn chung vẫn phải áp dụng theo Quyết định số 27/QĐ-TTg theo quy trình chung mà chưa có Quy chế riêng về nội dung này. Theo đó, quy trình chung gồm các bước sau:

  • Bước 1: Thủ trưởng cơ quan, đơn vị đề xuất và nhận xét đánh giá đối với công chức được đề xuất; họp bàn trong tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị.
  • Bước 2: Xin ý kiến cấp ủy.
  • Bước 3: Tổ chức lấy ý kiến tín nhiệm trong cơ quan, đơn vị.
  • Bước 4: Thủ trưởng cơ quan, đơn vị ra quyết định bổ nhiệm hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định bổ nhiệm và phải chịu trách nhiệm về quyết định hoặc đề xuất của mình.

Tuy nhiên, đối với từng hình thức (bổ nhiệm lần đầu và bổ nhiệm lại) sẽ được quy định về quy trình cụ thể riêng. Trong đó:

Thứ nhất, đối với hình thức bổ nhiệm lần đầu, được áp dụng theo trình tự sau:

Trước hết, cơ quan, đơn vị có nhu cầu bổ nhiệm công chức lãnh đạo trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt về chủ trương, số lượng và dự kiến phân công công tác đối với chức vụ sẽ bổ nhiệm. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền đồng ý, lãnh đạo đơn vị đề xuất nhân sự cụ thể qua các bước sau:

Trong trường hợp công chức được bổ nhiệm thuộc nguồn nhân sự tại chỗ thì được áp dụng theo quy trình gồm 6 bước sau:

Bước 1: Thủ trưởng và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị đề xuất phương án nhân sự căn cứ vào nguồn cán bộ trong quy hoạch hoặc ý kiến giới thiệu của công chức trong cơ quan, đơn vị;

Bước 2: Tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị thảo luận, lựa chọn giới thiệu nhân sự trên cơ sở nhận xét đánh giá tín nhiệm của công chức trong cơ quan, đơn vị. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Khi bổ nhiệm một chức vụ có thể giới thiệu từ 1 đến 3 người để lựa chọn;

Bước 3: Tổ chức họp lấy ý kiến của cán bộ chủ chốt cơ quan, đơn vị để trao đổi, thảo luận về yêu cầu, tiêu chuẩn công chức bổ nhiệm; thông báo danh sách công chức được lãnh đạo giới thiệu; tóm tắt lý lịch, quá trình học tập, công tác; nhận xét, đánh giá ưu khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu, triển vọng phát triển; dự kiến phân công công tác; công chức được giới thiệu trình bày ý kiến về thực hiện nhiệm vụ nếu được bổ nhiệm và trả lời những vấn đề có liên quan.

Bước 4: Tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xem xét kết luận những vấn đề mới nảy sinh (nếu có);

Bước 5: Đảng ủy hoặc Thường vụ Đảng uỷ cơ quan có ý kiến bằng văn bản về nhân sự được đề nghị bổ nhiệm;

Bước 6: Tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị thảo luận và biểu quyết. Người được đề nghị bổ nhiệm phải được đa số các thành viên trong tập thể lãnh đạo tán thành. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị ra quyết định bổ nhiệm công chức hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét bổ nhiệm.

Trong trường hợp công chức được bổ nhiệm thuộc nguồn nhân sự từ nơi khác thì được áp dụng theo quy trình sau:  

Bước 1: Lãnh đạo cơ quan, đơn vị đề xuất nhân sự hoặc cấp có thẩm quyền giới thiệu;

Bước 2: Tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị thảo luận thống nhất về chủ trương và tiến hành một số công việc sau: đại diện lãnh đạo cơ quan gặp công chức được đề nghị bổ nhiệm trao đổi về yêu cầu nhiệm vụ công tác; làm việc với cấp uỷ và Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nơi công chức đang công tác để trao đổi ý kiến về nhu cầu bổ nhiệm, tìm hiểu và xác minh lý lịch của công chức; trao đổi kết quả làm việc với cơ quan, đơn vị nơi công chức công tác; lấy ý kiến của cấp uỷ cơ quan về việc bổ nhiệm công chức; thảo luận, nhận xét, đánh giá và biểu quyết; thủ trưởng  cơ quan, đơn vị tiếp nhận và quyết định bổ nhiệm hoặc đề nghị cấp trên xem xét bổ nhiệm.

Thứ hai, đối với hình thức bổ nhiệm lại, được áp dụng theo trình tự gồm các bước sau:

  • Bước 1: Công chức lãnh đạo làm báo cáo tự nhận xét đánh giá việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ trong thời gian giữ chức vụ theo hướng dẫn tại Quy chế đánh giá cán bộ công chức gửi Thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc cấp có thẩm quyền.
  • Bước 2: Tập thể cán bộ công chức (hoặc tập thể lãnh đạo) trong cơ quan, đơn vị tham gia ý kiến. Sau đó gửi biên bản lên Thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc cấp có thẩm quyền;
  • Bước 3: Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp sử dụng công chức lãnh đạo đánh giá và đề xuất ý kiến bổ nhiệm lại hay không bổ nhiệm lại; Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.
  • Bước 4: Sau khi trao đổi trong tập thể lãnh đạo, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị  quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định.

Trong quá trình tiến hành bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cần lưu ý, đối với các trường hợp đề nghị cấp có thẩm quyền bổ nhiệm, bổ nhiệm lại phải làm tờ trình kèm theo các hồ sơ cần thiết theo quy định hiện hành.

Như vậy, về thẩm quyền quyết định trình tự bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý hiện nay do Chính phủ quy định và áp dụng thống nhất trong các cơ quan hành chính nhà nước. Các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Hải Dương hiện vẫn đang áp dụng theo quy trình này.

Tuy nhiên, thời gian qua, trong quá trình bổ nhiệm, Hải Dương vẫn còn nhiều thiếu sót trong việc bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý, cụ thể: Mới đây, theo thông báo Kết luận của Thanh tra Bộ Nội vụ về thanh tra việc quản lý biên chế công chức; bổ nhiệm, số lượng cấp phó, tiêu chuẩn ngạch công chức lãnh đạo, quản lý và việc ký hợp đồng lao động làm công tác chuyên môn trong các cơ quan hành chính nhà nước của ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương ngày 15/02/2017, nêu rõ: có 228 hồ sơ được bổ nhiệm thiếu một số văn bằng, chứng chỉ, chưa đáp ứng tiêu chuẩn chức danh được bổ nhiệm, một số trường hợp không thực hiện đầy đủ trình tự; sáu cơ quan sử dụng vượt quá số lượng lãnh đạo cấp phó, nhiều trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch ủy bản nhân dân cấp huyện, Giám đốc Sở ban hành quyết định bổ nhiệm lại chậm hoặc chưa hết thời gian giữ chức vụ, kéo dài thời gian giữ chức vụ không đúng quy định; một viên chức được bổ nhiệm chức danh lãnh đạo của công chức, hai công chức xã được điều động, bổ nhiệm giữ chức danh lãnh đạo cấp phòng thuộc huyện không đúng quy định; một trường hợp bổ nhiệm chức vụ được kiêm nhiệm chức vụ của cơ quan khác không thuộc thẩm quyền bổ nhiệm.

Qua kiểm tra, Thanh tra Bộ Nội vụ còn phát hiện 282 hồ sơ thiếu một số văn bằng, chứng chỉ theo tiêu chuẩn ngạch của công chức lãnh đạo, quản lý; bốn trường hợp giữ ngạch công chức không phù hợp vị trí việc làm.

2.2.4. Tổ chức thực hiện pháp luật về đánh giá công chức Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Thứ nhất, về thẩm quyền xác định tiêu chí đánh giá công chức: việc quy định các “quy định cứng” để đánh giá cán bộ công chức thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn Chính phủ và Bộ Nội vụ có trách nhiệm trong việc cụ thể hóa các quy định này. Hiện nay, ở tỉnh Hải Dương, các cơ quan hành chính nhà nước vẫn chủ yếu căn cứ theo các “quy định cứng” để triển khai xây dựng tiêu chí đánh giá công chức chứ cũng chưa chủ động nhiều trong việc xây dựng các “tiêu chí mềm” phù hợp với đặc thù của từng ngành, từng cơ quan.

Được biết, hằng năm, căn cứ theo các quy định của Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Nội vụ, ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương đã có công văn yêu cầu Thủ trưởng các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị tập trung chỉ đạo về việc thực hiện đánh giá, phân loại công chức, viên chức theo đúng nội dung quy định của Luật cán bộ công chức và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo đó, ủy bản nhân dân tỉnh cũng hướng dẫn chi tiết về xác định các tiêu chí liên quan đến đánh giá công chức trong các cơ quan nhà nước căn cứ theo quy định tại Khoản 1, Điều 56 của Luật cán bộ công chức với các tiêu chí cụ thể:

  • Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
  • Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc;
  • Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
  • Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; Thái độ phục vụ nhân dân.
  • Đối với công chức lãnh đạo, quản lý, ngoài các tiêu chí trên còn được đánh giá theo Khoản 2, Điều 56 Luật cán bộ công chức với các tiêu chí là:
  • Kết quả hoạt động của cơ quan, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý;
  • Năng lực lãnh đạo, quản lý
  • Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức.

Bên cạnh đó, ủy bản nhân dân tỉnh cũng quy định: các sở, ban, ngành cần xây dựng tiêu chí đánh giá cụ thể đối với công chức, viên chức dựa trên các quy định của nhà nước, quy định của tỉnh trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, bản mô tả công việc của từng vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức, đơn vị gắn với đặc điểm mang tính đặc thù của từng ngành, lĩnh vực, địa phương. Đồng thời, quy định cụ thể, rõ ràng về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong thực hiện công tác đánh giá, phân loại công chức, viên chức. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Tuy nhiên, nhìn chung, hiện tại các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Hải Dương chưa được quyền tự chủ trong xác định các nội dung và tiêu chí đánh giá, mà chủ yếu vẫn căn cứ theo các “quy định cứng” để triển khai đánh giá công chức. Bên cạnh đó, cũng chưa chủ động nhiều trong việc xây dựng các “tiêu chí mềm” cho phù hợp với đặc thù của từng ngành, từng cơ quan mình. Trong khi, các “tiêu chí cứng” này thường nghiêng nhiều về phương diện tiêu chuẩn chính trị, yếu tố chính trị, đạo đức hơn là về đánh giá kết quả và hiệu quả thực hiện công việc của công chức. Hơn nữa, các tiêu chí đánh giá cũng còn chung chung, chưa thực sự đề cao chất lượng, khối lượng hoàn thành các công việc cụ thể của công chức cho từng vị trí công tác ở các sở, ngành, địa phương hoặc ở chính các cơ quan hành chính nhà nước.

 Những quy định về nội dung đánh giá còn dàn trải, khối lượng hoàn thành công việc là thước đo kết quả lao động của công chức lại được đặt ngang bằng với các tiêu chí khác nên chưa thực sự đánh giá đúng và khách quan về những người làm việc tích cực với những người làm việc cầm chừng mà cố gắng chấp hành đúng quy chế làm việc của cơ quan. Do đó, trong trường hợp công chức có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, công vụ nhưng các nội dung khác như quan hệ phối hợp cộng tác, tinh thần học tập nếu có khiếm khuyết thì lại dễ bị đánh giá ngang bằng, thậm chí là không bằng với những người chưa hoàn thành nhiệm vụ nhưng đi làm đều hoặc có quan hệ mềm mỏng với những người khác. Điều này dẫn đến việc không đánh giá đúng được những người làm việc tốt, có hiệu quả với những người làm việc ít, hiệu quả không tốt. Đây cũng là thực trạng chung đối với việc đánh giá công chức ở các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay, không riêng gì tỉnh Hải Dương.

Thứ hai, về thẩm quyền xác định phương pháp đánh giá công chức

Theo quy định chung hiện hành về đánh giá cán bộ công chức, hiện nay các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta thường sử dụng một số phương pháp đánh giá chủ yếu là: đánh giá qua báo cáo, kiểm điểm cá nhân; đánh giá thông qua phương pháp cho điểm, xếp hạng theo các tiêu chí và đánh giá thông qua phương pháp bình bầu. Do đó, có thể thấy rằng, việc xác định các phương pháp đánh giá cán bộ công chức hiện vẫn do Bộ Nội vụ quyết định và áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước. Còn các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và ở tỉnh Hải Dương nói riêng vẫn ít có sự chủ động trong việc tự xác định được phương pháp đánh giá riêng cho phù hợp với đặc thù của ngành, địa phương mà chủ yếu vẫn là căn cứ theo quy định và hướng dẫn của Bộ Nội vụ để áp dụng trong cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền mình quản lý.

Việc quy định quá trình đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh hiện nay về cơ bản vẫn được xác định như quy chế đánh giá công chức năm 1998, trong đó gồm có: bản thân công chức tự đánh giá; đồng nghiệp đánh giá; cấp quản lý trực tiếp (thủ trưởng đơn vị, cấp trên trực tiếp) đánh giá. Việc đánh giá công chức ở tỉnh Hải Dương hiện nay đang áp dụng theo Luật cán bộ công chức, Nghị định số 56/2015/NĐ-CP về đánh giá, phân loại cán bộ công chức VC và các văn bản hướng dẫn thi hành song xét về chủ thể tham gia đánh giá công chức vẫn cơ bản giống các chủ thể được quy định trong quy chế đánh giá công chức năm 1998 (gồm các chủ thể nêu trên). Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Việc quy định nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đánh giá công chức như quy định chung hiện hành cũng có ưu điểm là giúp đánh giá được toàn diện về công chức với nhiều thông tin từ nhiều chủ thể. Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận khách quan rằng, hiện nay việc tham gia đánh giá của các chủ thể này vẫn chỉ mang tính hình thức, không đem lại nhiều hiệu quả như mong muốn. Bởi, mỗi công chức khi tự đánh giá thường đề cao bản thân, ít tự nhận khuyết điểm, yếu kém trong báo cáo đánh giá về mình, trong khi đó, ý kiến đánh giá từ phía các đồng nghiệp thường bị ảnh hưởng bởi tâm lý chủ quan cá nhân “nể nang” hoặc “thù ghét” nên kết quả đánh giá thường không mấy khách quan về việc thực hiện nhiệm vụ của từng công chức.

Trong khi đó, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức là người hiểu và nắm rõ nhất tình hình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức nhưng lại không phải là người toàn quyền quyết định kết quả đánh giá. Do đó, có thể thấy, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chưa được xác định và quy định rõ trong đánh giá công chức. Mặc dù, chính họ là người phân công, bố trí, giao nhiệm vụ và kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ nhưng không được trao toàn quyền trong đánh giá công chức mà quyền đánh giá công chức lại bị ảnh hưởng nhiều bởi nhiều chủ thể đánh giá (tập thể đồng nghiệp bình bầu) nên dễ dẫn đến tính thiếu trách nhiệm trong các kết luận đánh giá công chức.

Về quy định và thực hiện quy trình đánh giá đối với công chức ở các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh, hiện nay, ủy bản nhân dân tỉnh đang căn cứ theo các quy định của Luật cán bộ công chức, Nghị định số 56/2015/NĐ-CP về đánh giá, phân loại cán bộ công chứcVC và các văn bản có liên quan để ban hành công văn chỉ đạo và hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trực thuộc tiến hành đánh giá công chức hằng năm. Theo đó, trình tự, thủ tục đánh giá công chức của tỉnh được áp dụng:

Thứ nhất, đối với công chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì sẽ được thực hiện theo các bước sau:

  • Công chức viết báo cáo kiểm điểm tự đánh giá kết quả công tác kèm theo nhiệm vụ được giao và tự nhận xét ưu, nhược điểm trong công tác. Báo cáo này được trình bày trước cuộc họp kiểm điểm công tác hằng năm của cơ quan, đơn vị.
  • Tập thể công chức của cơ quan sử dụng công chức tham gia đóng góp ý kiến tại cuộc họp kiểm điểm công tác hằng năm. Trường hợp cơ quan sử dụng công chức có các đơn vị cấu thành thì thành phần dự cuộc họp tham gia góp ý gồm cấp phó của người đứng đầu; cấp trưởng các đơn vị cấu thành và đại diện cấp ủy, công đoàn, đoàn thanh niên. Trường hợp đánh giá đối với người đứng đầu cơ quan được tổ chức theo hệ thống dọc (từ trung ương tới địa phương) thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên quản lý trực tiếp xem xét và quyết định thành phần dự họp kiểm điểm. Ý kiến góp ý được ghi vào biên bản và công bố công khai tại cuộc họp.
  • Người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên quản lý trực tiếp đánh giá, phân loại công chức và thông báo đến công chức sau khi tham khảo ý kiến cấp phó phụ trách và biên bản góp ý của tập thể nơi công chức lãnh đạo, quản lý làm việc.

Thứ hai, đối với cấp phó của người đứng đầu và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (gọi chung là công chức), thì trình tự đánh giá được tiến hành như sau: Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

  • Công chức viết báo cáo kiểm điểm tự đánh giá kết quả công tác theo nhiệm vụ được giao. Báo cáo này được trình bày tại cuộc họp kiểm điểm công tác hằng năm của cơ quan, đơn vị;
  • Người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức nhận xét về kết quả tự đánh giá của công chức, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của công chức trong công tác, sau đó tập thể công chức của cơ quan tham gia góp ý kiến cho công chức tại cuộc họp kiểm điểm. Ý kiến góp ý được ghi vào biên bản và công bố công khai tại cuộc họp.
  • Người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức kết luận và phân loại công chức tại cuộc họp kiểm điểm công tác hằng năm.

Như vậy, có thể thấy hiện nay, ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương có trách nhiệm xây dựng quy trình đánh giá cán bộ công chức trên cơ sở các quy định của Luật cán bộ công chức các văn bản của Chính phủ và Bộ Nội vụ. Hay nói cách khác, thẩm quyền xây dựng quy trình vẫn thuộc về ủy bản nhân dân tỉnh.

Việc phân loại đánh giá công chức của tỉnh Hải Dương được áp dụng theo quy định tại Điều 58 Luật cán bộ công chức và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ và Bộ Nội vụ về đánh giá cán bộ công chức, theo đó căn cứ vào kết quả đánh giá, công chức được phân loại thành 4 mức, gồm: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Hoàn thành tốt nhiệm vụ, Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và Không hoàn thành nhiệm vụ. Căn cứ vào kết quả đánh giá công chức, các cơ quan hành chính nhà nước có thể xử lý theo các hướng sau: khen thưởng; kỷ luật; quy định việc tăng lương trước thời hạn hoặc bố trí, sắp xếp công tác khác,…

Và bắt đầu từ năm 2014, ngoài các điều kiện chung theo quy định, ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương quy định chỉ xét khen thưởng đối với công chức đã được đánh giá, phân loại ở mức “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” và đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị đã thực hiện tốt công tác đánh giá, phân loại công chức theo đúng quy định trên.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, ủy bản nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về thi đua – khen thưởng trong ngành mình quản lý theo quy định của pháp luật. Hiện nay, ở tỉnh Hải Dương, các chủ thể có thẩm quyền quyết định và trao tặng các danh hiệu được pháp luật quy định, gồm: Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh, thủ trưởng cơ quan chuyên môn và tương đương thuộc ủy bản nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch ủy bản nhân dân cấp huyện. Trong đó, đối với các công chức ở các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh khi đáp ứng được các tiêu chí cụ thể về thi đua, khen thưởng sẽ có thể được Chủ tịch ủy bản nhân dân cấp tỉnh quyết định tặng “Bằng khen”, “Cờ thi đua”, “Danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp tỉnh” và Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân cấp tỉnh quyết định tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở”, danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sỹ tiên tiến” và “Giấy khen”. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Cũng theo quy định chung, người có thẩm quyền quyết định tặng hình thức khen thưởng nào thì trực tiếp trao tặng hoặc ủy quyền trao tặng hình thức khen thưởng đó.

Để triển khai các hoạt động thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh, ủy bản nhân dân tỉnh cũng đã thành lập Hội đồng Thi đua – Khen thưởng của tỉnh. Hội đồng này hoạt động theo Quyết định số 1269/QĐ-UBND ngày 17/7/2014 của ủy bản nhân dân tỉnh. Theo đó, Chủ tịch tỉnh Hải Dương là Chủ tịch Hội đồng, các Phó

Chủ tịch Hội đồng, gồm: Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh; Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh; Giám đốc Sở Nội vụ và một Phó Giám đốc Sở kiêm Trưởng Ban Thi đua – Khen thưởng làm Phó Chủ tịch Thường trực. Ngoài ra, Hội đồng còn có 10 ủy viên là đại diện cho các ban, ngành, đoàn thể của tỉnh.

Hội đồng Thi đua – Khen thưởng của tỉnh có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

  • Tham mưu cho Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh phát động các phong trào thi đua theo thẩm quyền.
  • Định kỳ đánh giá kết quả hoạt động phong trào thi đua và công tác khen thưởng; kiến nghị, đề xuất các chủ trương, biện pháp đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong từng năm và từng giai đoạn.
  • Tham mưu cho Chủ tịch tỉnh kiểm tra, giám sát các phong trào thi đua và thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về thi đua , khen thưởng.
  • Tham mưu cho Chủ tịch tỉnh phong tặng các danh hiệu thi đua và các hình thức khen thưởng theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền khen thưởng. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Hội đồng có cơ quan Thường trực là Ban Thi đua – Khen thưởng thuộc Sở Nội vụ.

Nhờ thực hiện tốt việc phân cấp trong công tác khen thưởng, việc phối hợp trong tổ chức thực hiện công tác khen thưởng của tỉnh năm qua đã được triển khai và đạt được nhiều kết quả tốt.

Nhiều tập thể, cá nhân thuộc các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh được tặng Cờ thi đua, Bằng khen của các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, 90 tập thể, cá nhân được tặng Cờ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua của ủy bản nhân dân tỉnh, 48 cá nhân được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, 435 tập thể được tặng danh hiệu “Tập thể lao động tiên tiến xuất sắc”; 705 tập thể và 1.050 cá nhân được tặng Bằng khen của Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh. Các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, ủy bản nhân dân các huyện, thành phố đã xét tặng nhiều danh hiệu “Tập thể lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ thi đua cơ sở”, giấy khen cho các tập thể, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác năm 2014. Qua đó, đã kịp thời động viên, giúp cán bộ công chức và tập thể các đơn vị tích cực trong  thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn được giao.

Còn đối với việc thực hiện các hình thức xử lý kỷ luật đối với công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương hiện nay tuân thủ theo quy định của Luật cán bộ công chức. Theo đó, nếu vi phạm kỷ luật, công chức sẽ phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau: Khiển trách, Cảnh cáo; Hạ bậc lương; Giáng chức; Cách chức và Buộc thôi việc. Việc giáng chức và cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Việc xử lý kỷ luật công chức lãnh đạo và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo cũng có những khác biệt nhất định. Cụ thể:

Đối với công chức lãnh đạo (Giám đốc Sở và tương đương…), Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh xem xét và quyết định kỷ luật đối với công chức lãnh đạo giữ chức vụ do Chủ tịch ủy bản nhân dân tỉnh bổ nhiệm.

Đối với các công chức lãnh đạo khác: căn cứ vào phân cấp quản lý thì công chức giữ chức vụ thuộc cấp nào bổ nhiệm nếu vi phạm pháp luật thì người đứng đầu cấp đó xem xét và ra quyết định kỷ luật.

Trong trường hợp, công chức giữ chức vụ lãnh đạo bị xử lý kỷ luật bằng hình thức hạ bậc lương, hạ ngạch, buộc thôi việc mà việc nâng ngạch, nâng bậc lương, tuyển dụng do cấp trên trực tiếp quyết định thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức xem xét và đề nghị bằng văn bản lên cấp có thẩm quyền ra quyết định kỷ luật.

Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, thẩm quyền xử lý được quy định cụ thể như sau:

  • Đối với công chức thuộc cơ quan Sở, ban, ngành của ủy bản nhân dân tỉnh và các cơ quan của ủy bản nhân dân huyện thuộc tỉnh bị xử lý kỷ luật thì người đứng đầu cơ quan này ra quyết định xử lý kỷ luật theo thẩm quyền được phân cấp.
  • Đối với công chức thuộc các tổ chức trực thuộc sở, ban, ngành của ủy bản nhân dân tỉnh và các tổ chức trực thuộc ủy bản nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh bị xử lý kỷ luật thì người đứng đầu các tổ chức này ra quyết định xử lý kỷ luật theo thẩm quyền được phân cấp. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Trường hợp công chức ở ngạch chuyên viên, chuyên viên chính trở lên bị xử lý kỷ luật bằng hình thức hạ bậc lương, hạ ngạch và buộc thôi việc thì sau khi Hội đồng kỷ luật có kiến nghị về hình thức kỷ luật, căn cứ vào thẩm quyền được phân cấp, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị ra quyết định kỷ luật hoặc đề nghị bằng văn bản lên cấp có thẩm quyền ra quyết định kỷ luật (qua bộ phận tổ chức – cán bộ).

2.3. Đánh giá chung về việc tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương

2.3.1. Những kết quả đã đạt được

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về quản lý cán bộ công chức nói chung và quản lý công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân cấp tỉnh nói riêng, ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương đã chú trọng và nghiêm túc thực hiện việc pháp luật về quản lý cán bộ công chức nói chung và quản lý đối với đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương nói riêng.

Điều này được thể hiện trước hết ở việc ban hành quy định về phân công, phân cấp quản lý tổ chức bộ máy – cán bộ, công chức, viên chức – lao động theo Quyết định số 88/QĐ-UBND ngày 11/01/2007. Với việc ban hành quy định này, nhiều nội dung liên quan trực tiếp tới quản lý công chức của tỉnh đã được thể hiện rõ ràng và hợp lý hơn. Đồng thời, đây cũng là cơ sở pháp lý để các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh triển khai thực hiện pháp luật về quản lý công chức một cách nghiêm túc và có hiệu quả ở nhiều nội dung của quản lý công chức. Cụ thể:

Việc tổ chức thực hiện pháp luật về tuyển dụng: về cơ bản đã đi vào nề nếp, tạo nhiều chuyển biến tích cực và đã đảm bảo được tính khách quan, công bằng trong thi tuyển. ủy bản nhân dân tỉnh đã chủ động trong việc quy định các tiêu chí và điều kiện cụ thể đối với các ứng viên dự tuyển công chức cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn của địa phương, như: quy định người dự tuyển phải có bằng tốt nghiệp đại học chính quy tập trung dài hạn, hay có chính sách đặc cách tuyển thẳng (không qua thi tuyển) đối với một số trường hợp có trình độ Tiến sĩ, Thạc sĩ (trước đó tốt nghiệp Đại học cùng chuyên ngành, hệ chính quy tập trung dài hạn tại các trường công lập); tốt nghiệp thủ khoa, tốt nghiệp loại giỏi hệ chính quy tập trung dài hạn tại các trường công lập đào tạo trình độ đại học ở trong nước, người tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, xuất sắc ở nước ngoài. Qua đây, không chỉ cho thấy dấu hiệu tích cực, chủ động của ủy bản nhân dân tỉnh trong xác định các điều kiện tuyển dụng mà còn cho thấy tỉnh đã đặc biệt chú trọng tới việc thu hút nhân tài vào làm việc trong các cơ quan nhà nước ở địa phương mình. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Về tổ chức thực hiện pháp luật về Đào tạo, bồi dưỡng, nhìn chung, quy trình thực hiện Đào tạo, bồi dưỡng của tỉnh Hải Dương hiện nay đã được đảm bảo đúng nguyên tắc, đúng đối tượng theo phân cấp hiện hành. Đặc biệt, việc phân công, phân cấp trong quản lý và tổ chức thực hiện công tác Đào tạo, bồi dưỡng công chức đã được phân định tương đối rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, đơn vị có liên quan. Chính vì thế, đã tạo ra sự chủ động và phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan quản lý cũng như các cơ sở Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là trong việc tổ chức các chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên và chương trình đào tạo trung cấp hành chính.

Về tổ chức thực hiện pháp luật về bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý, mặc dù tỉnh chưa ban hành được quy chế cụ thể trong bổ nhiệm đối với các đối tượng này, song thời gian qua tỉnh cũng đã căn cứ và tuân thủ đúng quy trình bổ nhiệm và các điều kiện bổ nhiệm được quy định trong các văn bản của các cơ quan trung ương. Do đó, nhìn chung công tác này đã được diễn ra thông suốt, cơ bản đảm bảo đúng quy trình trong bổ nhiệm đối với các chức danh công chức lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh. Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2015, Sở Nội vụ đã phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy tham mưu cho Tỉnh ủy, ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương thực hiện tốt công tác quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh lãnh đạo, đảm bảo công khai, minh bạch, đúng tiêu chuẩn, đúng quy trình. Trong đó, đã bổ nhiệm 1 Giám đốc Sở và tương đương; kéo dài và bổ nhiệm lại 3 Giám đốc Sở và tương đương; bổ nhiệm 2 phó Giám đốc Sở và tương đương.

Về tổ chức thực hiện pháp luật về đánh giá công chức, ủy bản nhân dân tỉnh Hải

Dương đã dựa trên các quy định của Luật cán bộ công chức và các văn bản có liên quan để áp dụng các tiêu chí, quy trình và xử lý kết quả đánh giá công chức để chỉ đạo và hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trực thuộc tiến hành đánh giá công chức hằng năm. Theo đó, về cơ bản, trình tự, thủ tục đánh giá công chức hằng năm của tỉnh đã tuân thủ đúng các quy định tại Nghị định số 56/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đánh giá cán bộ công chức VC. Trong đó, đã xác định và phân cấp rõ thẩm quyền trong đánh giá đối với các công chức là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh.

2.3.2. Những bất cập, hạn chế Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Bên cạnh những kết quả như vừa đề cập trên, hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương hiện cũng còn những hạn chế trên từng nội dung nhất định, cụ thể:

Về tổ chức thực hiện pháp luật về tuyển dụng công chức: mặc dù theo quy định chung, thẩm quyền quyết định phân bổ biên chế cán bộ công chức hằng năm cho tỉnh hiện nay vẫn do Bộ Nội vụ thực hiện trên cơ sở được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền. Theo đó, Bộ Nội vụ tính toán số lượng biên chế cho tỉnh theo cách tính tỷ lệ phần trăm trên tổng số cán bộ công chức hiện có và tính thêm biên chế để thực hiện những nhiệm vụ mới phát sinh. Song chính quyền địa phương cấp tỉnh cũng có những thẩm quyền nhất định trong hoạt động này.

Tuy nhiên, đối với việc xác định nhu cầu nhân sự mới ở tỉnh Hải Dương hiện nay nhìn chung thường ít được các cơ quan nhà nước (trong đó có các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương) quan tâm một cách chiến lược và bài bản, chưa áp dụng phương pháp phân tích công việc và mô tả vị trí trong xác định nhu cầu tuyển dụng.

Chính vì vậy, việc bổ sung nguồn nhân lực cho tổ chức thường mang tính gia tăng, tức là năm nào cũng xin thêm biên chế. Trong khi đó, nhiều trường hợp thực tế nhu cầu thực sự của công việc chưa đòi hỏi phải bổ sung nhân sự. Chính điều này làm cho bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương luôn có xu hướng bị phình to ra.

Một điều cũng cần phải nói thêm là hiện nay, ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương vẫn chưa ban hành được quy chế chính thức quy định riêng về trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức cấp tỉnh mà chủ yếu vẫn căn cứ vào các văn bản hướng dẫn của cấp trên và cụ thể hóa từng năm dưới hình thức “Thông báo tuyển dụng công chức”. Chính vì thế, chưa tạo được cơ sở pháp lý ổn định và rõ ràng cho việc tuyển dụng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh. Trong khi đó, ở một số tỉnh, thành phố trong cả nước hiện đã ban hành được quy chế này.

Về tổ chức thực hiện pháp luật về Đào tạo, bồi dưỡng công chức: các cơ quan sử dụng công chức ở tỉnh Hải Dương hiện nay cũng chưa được quyền chủ động trong việc lựa chọn và đề xuất các nội dung, chương trình Đào tạo, bồi dưỡng (đặc biệt là các chương trình bồi dưỡng theo ngạch) do hoạt động này được trung ương thống nhất quản lý.  Do đó, nhìn chung, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh chưa thực sự thể hiện tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong công tác Đào tạo, bồi dưỡng, mà chỉ thụ động tham gia các lớp Đào tạo, bồi dưỡng, không phù hợp với chức danh công tác, không có cơ chế khen thưởng riêng đối với công chức có thành tích tốt trong học tập. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Về tổ chức thực hiện pháp luật về bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cũng còn những bất cập nhất định, còn có điểm chưa thực sự hợp lý, chưa gắn với thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trực tiếp sử dụng công chức ở tỉnh. Quy trình, thủ tục về bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý còn chồng chéo, qua nhiều khâu trung gian. Đơn cử như đối với việc bổ nhiệm chức danh công chức lãnh đạo cấp sở thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý (thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc ủy bản nhân dân tỉnh), các cơ quan, đơn vị có liên quan làm Tờ trình gửi Ban Tổ chức Tỉnh ủy để thẩm định nhân sự. Trước khi báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Tỉnh ủy sẽ gửi văn bản để Ban Cán sự Đảng ủy bản nhân dân tỉnh để cho ý kiến. Như vậy, quyền chủ động trong giới thiệu công chức lãnh đạo, quản lý của ủy bản nhân dân tỉnh chưa được đề cao, chưa thực sự gắn với thẩm quyền, trách nhiệm của ủy bản nhân dân tỉnh (mà vẫn thuộc quyền quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy).

Ngoài ra, do tỉnh Hải Dương vẫn chưa xây dựng được quy chế về bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý mà vẫn chỉ áp dụng các “điều kiện và tiêu chuẩn cứng” theo quy định của Luật cán bộ công chức và Quyết định số 27/QĐ-TTg nên chưa đề ra được quy định cụ thể về các điều kiện riêng khác cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và của từng đơn vị cụ thể, trong khi không ít địa phương đã ban hành được các quy định chi tiết về các điều kiện bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý.

Về tổ chức thực hiện pháp luật về đánh giá công chức, do về cơ bản, việc đánh giá công chức ở tỉnh Hải Dương vẫn chủ yếu dựa trên các quy định chung của trung ương mà chưa thực sự được quyền tự chủ cao trong việc xác định nội dung và tiêu chí đánh giá phù hợp với thực tế của địa phương và từng cơ quan đơn vị với đặc thù công việc khác nhau. Trong khi đó, các tiêu chí đánh giá do cấp trung ương ban hành được áp dụng thống nhất trong các cơ quan hành chính nhà nước thì lại rất chung chung, còn nội dung thì dàn trải, áp dụng cho nhiều nhóm công chức, chưa cụ thể hóa cho từng loại hoạt động công vụ nên khó đo lường được khối lượng hoàn thành công việc của công chức. Chính vì thế, chưa phản ánh sát thực về phẩm chất và năng lực của công chức. Đây là thực trạng phổ biến ở nhiều cơ quan hành chính nhà nước ở cả cấp trung ương và địa phương, không chỉ riêng ở tỉnh Hải Dương.

Bên cạnh đó, các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh cũng ít chủ động trong việc xác định các phương pháp đánh giá riêng như yêu cầu công chức xử lý tình huống, đánh giá thông qua phiếu xin ý kiến công dân như ở một số tỉnh, thành phố trong cả nước đã áp dụng có hiệu quả như: Quảng Ninh, Đà Nẵng,… Chính việc thụ động trong tham khảo, xây dựng phương pháp đánh giá riêng cho phù hợp với đặc thù công việc, với văn hóa của tổ chức, của địa phương cũng làm giảm sự sáng tạo và hiệu quả trong đánh giá công chức ở tỉnh. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

2.3.3. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế

Thứ nhất, hiện vẫn chưa có sự phân định rõ ràng giữa chức năng, nhiệm vụ của các cấp ủy Đảng với chính quyền trong quản lý cán bộ công chức nói chung và quản lý công chức nói riêng. Chính vì vậy, trong nhiều trường hợp, tại nhiều địa phương, không riêng gì Hải Dương vẫn còn tình trạng chồng chéo giữa các quy định của các cấp ủy Đảng với các quy định trong các văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước. Từ đó, dẫn đến việc hiểu và vận dụng các quy định chưa có sự thống nhất, thậm chí có trường hợp, một số cơ quan viện dẫn và áp dụng “linh hoạt” một trong hai loại văn bản của Đảng và của Nhà nước nên dẫn đến tình trạng không thống nhất.

Thứ hai, việc quy định về thẩm quyền và tổ chức thực hiện pháp luật về phân công, phân cấp quản lý công chức giữa các cấp chính quyền địa phương nói riêng và giữa trung ương với địa phương nói chung còn chưa thực sự được thể hiện rõ và mạnh mẽ. Bởi hiện nay, các thẩm quyền liên quan tới quản lý công chức chủ yếu vẫn tập trung ở cấp tỉnh.

Bên cạnh đó, vẫn chưa có quy định cụ thể về việc đảm bảo sự tự chủ thực sự cho các cơ quan trực tiếp sử dụng công chức trên các nội dung, như: tuyển dụng, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý hay đánh giá công chức thuộc quyền quản lý,… mặc dù trong những năm gần đây, các cơ quan hành chính nhà nước đã được quyền tự chủ nhiều hơn trong quản lý nhân sự của mình. Nhưng trên thực tế, các cơ quan sử dụng công chức vẫn chưa được quyền quyết định việc tuyển dụng thêm người mới dựa trên nhu cầu công việc nếu không được phân bổ chỉ tiêu biên chế, không có nhiều quyền trong xác định tiêu chuẩn tuyển dụng cũng như không có quyền chủ động lựa chọn hình thức và nội dung thi tuyển. Chính nguyên nhân này dẫn tới thực trạng nội dung thi tuyển hiện nay dù đã có nhiều cải tiến, song vẫn chưa thực sự phù hợp với từng loại công chức, ở từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau.

Thứ ba, các cơ quan, đơn vị trực tiếp sử dụng vẫn chưa có nhiều thẩm quyền trong việc quyết định tới quá trình bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý thuộc quyền mình quản lý. Còn đối với hoạt động đánh giá công chức, việc quy định thẩm quyền quyết định về chủ thể, tiêu chí, phương pháp và quy trình đánh giá do vẫn thuộc về các cơ quan trung ương (Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nội vụ) nên các cơ quan trực tiếp sử dụng công chức chưa có thực quyền nhiều trong nội dung này.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

Có thể thấy, quản lý cán bộ công chức nói chung và thực hiện pháp luật về quản lý công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh nói riêng đang là vấn đề mang tính chiến lược của tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước và gắn liền với việc nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước. Qua phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ở Hải Dương có thể thấy, tuy mới chỉ là những kết quả bước đầu, song việc thực hiện pháp luật về quản lý công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ở tỉnh Hải Dương thời gian qua đã có những chuyển biến đáng kể, góp phần từng bước đổi mới công tác quản lý công chức, tạo điều kiện nâng cao chất lượng đội ngũ này, đồng thời lựa chọn và sử dụng công chức phù hợp với thực tế quản lý ở địa phương.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình thực hiện pháp luật về quản lý công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ở Hải Dương vẫn còn những khiếm khuyết nhất định trong từng nội dung cụ thể, như: tuyển dụng, bổ nhiệm, Đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá công chức. Những hạn chế đó một phần do những bất cập trong cơ chế về quản lý cán bộ công chức ở nước ta nói chung, một phần cũng do tỉnh Hải Dương chưa thực sự chú trọng đẩy mạnh phân cấp quản lý cũng như triển khai việc thực hiện các văn bản về quản lý công chức cho các cấp chính quyền ở địa phương nói riêng.

Những nội dung liên quan đến việc đổi mới phân cấp quản lý công chức theo Luật cán bộ công chức và nhiều văn bản hướng dẫn đã được ban hành, song cho đến thời điểm hiện tại, trong khi nhiều địa phương trong cả nước đã ban hành quy định mới về phân cấp quản lý cán bộ công chức, ủy bản nhân dân tỉnh Hải Dương vẫn chưa ban hành được quyết định thay thế Quyết định cũ quy định về phân công, phân cấp quản lý tổ chức bộ máy – cán bộ, công chức, viên chức – lao động vốn căn cứ theo những quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003. Luận văn: Thực trạng tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Giải pháp tổ chức PL về quản lý công chức tại ủy ban

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993