Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế – xã hội huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
Theo truy cập trang thông tin điện tử của huyện Dầu Tiếng ngày 12/3/2024: Dầu Tiếng là một huyện phía bắc của tỉnh Bình Dương, cách trung tâm hành chính tỉnh Bình Dương khoảng 50 km, nằm tiếp giáp với các huyện, thị của tỉnh Tây Ninh, tỉnh Bình Phước, thành phố Hồ Chí Minh. Diện tích tự nhiên 721,39 km2 và dân số trên 119 nghìn người; mật độ dân số chiếm 148 người/km2, trong đó người dân sống tại đô thị chiếm 20,6% và sống ở vùng nông thôn chiếm 79,4%. Đơn vị hành chính gồm 11 xã, 01 thị trấn Dầu Tiếng với 89 ấp, khu phố.
Đất đai của huyện Dầu Tiếng chủ yếu là đất xám nâu và đất xám phù hợp trồng các loại cây cao su, cây điều và cây công nghiệp ngắn ngày. Địa hình gò đồi nhấp nhô, lượn thoải dần về phía Nam, phía Bắc có dãy Núi Cậu. Khí hậu ở đây tương đối ôn hòa, ít thiên tai, bão lụt. Đặc biệt hồ Dầu Tiếng là một trong những hồ nước nhân tạo lớn nhất của Nước ta và Đông Nam Á, hồ đã cung cấp nguồn nước sinh hoạt, tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp, mang lợi nhiều lợi ích phát triển kinh tế không chỉ cho huyện Dầu Tiếng mà còn một số tỉnh, thành phố như: Tây Ninh, Long An, Hồ Chí Minh.
Cơ cấu kinh tế của huyện có sự chuyển biến tích cực, đúng hướng, phù hợp với tiềm năng và lợi thế của địa phương. Thế mạnh kinh tế của huyện Dầu Tiếng là nông nghiệp, cao su vẫn là cây trồng chủ lực, diện tích cây cao su trên địa bàn huyện là 50.270 ha, diện tích cây ăn quả 580 ha, tổng diện tích gieo trồng các loại cây lương thực và rau màu ước đạt 4.077 ha.
Công tác đầu tư đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội luôn được quan tâm phục vụ cho nhu cầu phát triển. 100% các tuyến đường chính (do huyện quản lý) được nhựa hóa, trên 85% các tuyến đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng các xã được cứng hóa bằng sỏi đỏ. Các cơ sở y tế, trung tâm văn hóa thông tin – thể thao của huyện và các xã được đầu tư xây dựng đạt chuẩn, trụ sở làm việc các cơ quan từ huyện đến xã được đầu tư tương đối hoàn chỉnh, đáp ứng nhu cầu làm việc cho cán bộ và lực lượng vũ trang. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Ở Dầu Tiếng có 46 trường học trong đó có 4 trường THPT và 1 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – GDTX. Hệ thống trường lớp hiện nay có 28/46 trường được xây dựng lầu hóa và 37/46 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 2/4 trường THPT đạt chuẩn quốc gia. Hàng năm, CSVC các trường học được thường xuyên sửa chữa, nâng cấp, xây mới và đầu tư, mua sắm bổ sung trang thiết bị phục vụ đảm bảo dạy học.
Các cơ sở khám, chữa bệnh từ huyện đến các xã, thị trấn được xây dựng mới; nâng cấp và tu sửa, trang thiết bị khám, chữa bệnh được đầu tư bổ sung, tổng số giường bệnh 322 giường, công suất sử dụng giường bệnh đạt 88,8%.
Công tác phát triển văn hóa, thông tin, thể thao luôn được quan tâm đầu tư đúng mức, nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa và nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Toàn huyện có 10 di tích văn hóa đã được xếp hạng, trong đó có 01 di tích cấp quốc gia, 09 di tích văn hóa cấp tỉnh.
Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện luôn giữ vững, ổn định. Công tác ngăn ngừa, đấu tranh trấn áp các loại tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội; tai nạn giao thông… luôn được chú trọng và thực hiện đạt hiệu quả.
2.1.2. Đặc điểm về các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
Huyện Dầu Tiếng có 4 trường THPT công lập, gồm THPT Dầu Tiếng, THPT Thanh Tuyền, THPT Phan Bội Châu, THPT Long Hòa. Các trường tọa lạc tại thị trấn, thị tứ, được xây dựng kiên cố, lầu hóa với quy mô hoàn chỉnh, đảm bảo phục vụ giảng dạy gồm có các dãy phòng học, phòng bộ môn, phòng làm việc từng bộ phận lãnh đạo và văn phòng. Tất cả các trường đều xây tường rào xung quanh, có cổng trường, biển tên trường theo quy định. Sân trường được đổ bê tông hay lát gạch sạch sẽ, có các đường bê tông nội bộ phục vụ cho công tác phòng chống cháy và học TDTT, ngoài ra các trường đều có nhà xe GV và HS riêng biệt, có nhà đa năng, có sân bãi tập luyện phục vụ cho các hoạt động ngoại khóa, học tập môn giáo dục quốc phòng, tập luyện TDTT…Các thiết bị dạy học được đầu tư, bổ sung hàng năm đáp ứng tốt nhu cầu dạy học. Có 3 trong 4 trường THPT trong huyện có lắp đặt hệ thống camera giám sát (16 – 24 mắt) tại các phòng có tài sản giá trị lớn cũng như các hành lang, các vị trí cầu thang.
100% CB-GV có trình độ đạt chuẩn của cấp học, đa phần giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy từ 7 năm trở lên, có kỹ năng sư phạm. Tỉ lệ CB-GV-NV của trường THPT Dầu Tiếng, Thanh Tuyền có hộ khẩu tại địa phương chiếm tỉ lệ cao nhưng ở trường THPT Phan Bội Châu, Long Hòa thì 70% GV từ các huyện, tỉnh khác đến công tác nên gặp nhiều khó khăn, chưa yên tâm giảng dạy, luôn thuyên chuyển sau 3 – 5 năm.
Các trường tuyển sinh khoảng 70% học sinh THCS đã tốt nghiệp, hàng năm có điểm tuyển sinh thấp nhất tỉnh, hầu hết là con em nông dân, công nhân cao su và lao động nghèo. Tỉ lệ đậu tốt nghiệp THPT quốc gia của toàn huyện luôn ở mức cao hơn của tỉnh, chiếm khoảng 99 – 100%, tỉ lệ trúng tuyển vào các trường ĐH-CĐ đạt mức giao động từ 66 – 87%.
2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng công tác xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
2.2.1. Nội dung khảo sát
- Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh về VHNT và xây dựng văn hóa nhà trường;
- Thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựng VHNT ở các trường THPT huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương;
- Việc xác định định hướng chiến lược của các trường THPT huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương;
- Công tác xây dựng các mối quan hệ giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong nhà trường ở các trường THPT huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương;
- Công tác xây dựng cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm ở các trường THPT huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
2.2.2. Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng
- Khảo sát bằng bảng hỏi đối với CBQL – GV – NV và đối với học
- Khảo sát bằng quan sát, phỏng vấn trực tiếp.
Ngoài phiếu khảo sát và phiếu phỏng vấn, tác giả còn nghiên cứu các văn bản pháp lý, hồ sơ liên quan đến công tác xây dựng văn hóa nhà trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương như chiến lược phát triển nhà trường giai đoạn 2021 – 2026, hồ sơ xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2021 – 2026, báo cáo chính trị trình đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2021 – 2026, các kế hoạch năm học từ giai đoạn 2021 – 2024 (3 năm học), các báo cáo tổng kết năm học giai đoạn 2021 – 2024 (3 năm học)…của 4 trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng.
Sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS (IBM SPSS Statistics) for Windows, phiên bản 20.0 để xử lý thông tin trong phiếu điều tra.
2.2.3. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Độ tin cậy của thang đo được xác định bằng hệ số tin cậy Anpha – Cronbach, được tích hợp sẵn trong phần mềm SPSS, cụ thể ở bảng 2.1 như sau:
- Bảng 2.1. Độ tin cậy của thang đo được xác định bằng hệ số tin cậy Anpha – Cronbach
Hệ số tin cậy đo được là 0,979. Theo các nhà thống kê, hệ số tin cậy từ 0,70 trở lên là thang đo dùng được. Ở đây hệ số tin cậy là 0,979 cho phép kết luận độ tin cậy đạt mức tốt.
2.2.4. Tổ chức điều tra, khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát CBQL, GV, NV và HS các trường THPT trong địa bàn huyện Dầu Tiếng, bao gồm:
- Mẫu 1: Đối tượng khảo sát của đề tài bao có 252 người gồm 12 hiệu trưởng/ phó hiệu trưởng, 56 Tổ trưởng/ tổ phó chuyên môn và 134 GV, 50 nhân viên của 4 trường THPT trong địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Mẫu 2: Khảo sát 566 HS của 4 trường THPT trong địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Mẫu 3: Phiếu phỏng vấn được thực hiện với các đối tượng là CBQL, GV, NV các trường THPT trong địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương gồm: 4 CBQL được mã hóa bằng ký hiệu QL1, QL2, QL3, QL4; 4 giáo viên được mã hóa bằng ký hiệu GV1, GV2, GV3, GV4 và 4 nhân viên được mã hóa bằng ký hiệu NV1, NV2, NV3, NV4. Cụ thể với từng loại mẫu trình bày như sau:
Đối với mẫu 1: Bảng 2.2 trình bày phân bố số lượng và đặc điểm đối tượng khảo sát là CBQL, GV, NV.
Bảng 2.2. Phân bố số lượng và đặc điểm đối tượng CBQL, GV, NV được khảo sát
- Qua kết quả thống kê ở bảng 2.2 cho thấy:
Về giới tính: Do chọn mẫu theo nguyên tắc ngẫu nhiên và đặc trưng riêng của ngành sư phạm trong các trường học ở nước ta là nam CBQL, GV, NV ít hơn nữ nên khách thể nghiên cứu hơi lệch về phía nữ CBQL, GV, NV. Nhưng lý do này xuất phát từ tính khách quan nên vẫn đảm bảo đầy đủ nguyên tắc nghiên cứu khoa học. Cụ thể, nữ chiếm 58,73% và nam 41,27%.
Làm việc tại trường đạt chuẩn quốc gia: Trong số CBQL, GV, NV được khảo sát có 51,29% CBQL, GV, NV đang công tác ở trường đạt chuẩn và 48,01% CBQL, GV, NV đang công tác tại các trường chưa đạt chuẩn.
Về vị trí công tác: 68 CBQL (4 Hiệu trưởng chiếm 1,59%, 8 Phó Hiệu trưởng chiếm 3,17%, 56 Tổ trưởng, tổ phó chiếm 22,22%), 134 GV chiếm 53,17% và 50 NV chiếm 19,84%. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Về thời gian công tác trong ngành giáo dục: CBQL, GV, NV có thâm niên công tác dưới 10 năm là 145 người chiếm 55,54%, từ 10 năm đến dưới 20 năm là 57 người chiếm 22,62%, từ 20 đến dưới 30 năm có 41 người chiếm 16,27% và thâm niên công tác trên 30 năm có 9 người chiếm 3,57%.
Song song với điều tra thời gian công tác trong ngành GD, chúng tôi cũng điều tra kinh nghiệm về công tác QL và thu thập được: số người làm công tác QL có 68 người. Trong đó có kinh nghiệm QL dưới 5 năm là 14 người chiếm 5,56%, kinh nghiệm từ 5 đến dưới 10 năm là 24 người chiếm 9,52%, kinh nghiệm từ 10 đến dưới 20 năm là 21 người chiếm 8,33% và có kinh nghiệm QL từ 20 năm trở lên có 9 người chiếm 3,57%.
Về trình độ chuyên môn: số người tham gia khảo sát có trình độ trung cấp, cao đẳng là 18 người chiếm tỉ lệ 7,14% tập trung ở các nhân viên văn phòng; trình độ đại học có 198 người với tỉ lệ người 78,57% chiếm đa số trong các nhà trường được khảo sát, trình độ thạc sỹ có 22 người chiếm 8,73% và có 14 người chưa qua đào tạo, tập trung ở lực lượng nhân viên bảo vệ, nhân viên phục vụ.
Về việc tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng về công tác QL người khảo sát thu được kết quả có 24 người chiếm 9,52% đã tham gia đào tạo, bồi dưỡng về công tác QL và có 228 người với 90,48% chưa tham gia đào tạo, bồi dưỡng về công tác QL.
Đối với mẫu 2: Bảng 2.3 trình bày phân bố số lượng và đặc điểm đối tượng khảo sát là học sinh.
- Bảng 2.3. Phân bố số lượng và đặc điểm học sinh được khảo sát
Qua kết quả thống kê ở bảng 2.3 cho thấy trong tổng số 566 học sinh tham gia khảo sát có 235 học sinh nam chiếm 41,52% và 331 học sinh nữ chiếm 58,48. Số lượng HS được khảo sát ở các lớp 10, 11, 12 với trường đạt chuẩn quốc gia chiếm 48,23% và ở các trường chưa đạt chuẩn chiếm 51,77%.
Số học sinh từng khối được khảo sát gần tương đồng nhau, cụ thể ở khối lớp 10 là 190/ 566 học sinh được khảo sát chiếm 33,57%, khối lớp 11 có 184 học sinh chiếm 32,51%, khối lớp 12 là 192 học sinh chiếm 33,92%.
Về kết quả rèn luyện về Hạnh kiểm cuối năm học 2023-2024: chủ yếu là xếp loại Tốt, Khá với 552/ 556 học sinh chiếm 99,29%; Trung bình có 4 học sinh chiếm 0,71%, không có học sinh hạnh kiểm yếu.
Về kết quả học xếp loại học lực cuối năm học 2023-2024: Loại giỏi có 204 học sinh chiếm 36,04%, loại khá có 184 học sinh chiếm 32,51%, loại trung bình có 158 học sinh chiếm 27,92%, loại yếu kém có 20 học sinh chiếm 3,53%.
Qua phân tích các đối tượng khảo sát trình bày ở trên cho thấy, đối tượng khảo sát bao gồm cả HT, PHT, tổ trưởng/tổ phó, GV, NV và HS với đặc điểm nhân khẩu đa dạng, phong phú. Điều đó, cho phép đề tài thu được các thông tin toàn diện về công tác xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
2.2.5. Qui ước thang đo Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Thang đo sử dụng chủ yếu trong các phiếu khảo sát là thang đo định danh để xác định tên gọi và một số đặc điểm của đối tượng khảo sát; thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để tính các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, tỷ lệ phần trăm.
Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert 5 với mức giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (5-1)/5 = 0,8, nên ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng như sau (theo nội dung câu hỏi trong bảng khảo sát): 1,00 – 1,80 (kém, không quan trọng, hoàn toàn không đồng ý, không bao giờ); 1,81 – 2,60; (yếu, ít quan trọng, không đồng ý, hiếm khi); 2,61 – 3,40: (trung bình, bình thường, đồng ý một phần, thỉnh thoảng); 3,41 – 4,20: (khá, quan trọng, đồng ý, thường xuyên); 4,21 – 5,00: (tốt, rất quan trọng, rất đồng ý, rất thường xuyên). Cụ thể trong bảng 2.4 như sau:
- Bảng 2.4. Quy ước xử lý thông tin phiếu khảo sát
2.3. Thực trạng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
2.3.1. Thực trạng về nhận thức của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh về văn hóa nhà trường
Nhận thức có vai trò định hướng cho con người trong suy nghĩ, hành động. Nó có tác dụng điều chỉnh thái độ và hành vi của con người trong cuộc sống. Tìm hiểu về nhận thức của CBQL, GV, NV và HS về tầm quan trọng về văn hóa nhà trường, chúng tôi thu được kết quả, thể hiện ở biểu đồ 2.1 sau đây:
- Biểu đồ 2.1. Nhận thức của CBQL, GV, NV và HS về tầm quan trọng của văn hóa nhà trường
Nhìn vào biểu đồ 2.1 chúng ta thấy, 54,77% HS và 16,67% CBQL, GV, NV đánh giá văn hóa nhà trường “rất quan trọng”, tỉ lệ này có độ chênh nhau trong nhận thức của CBQL, GV, NV và HS. Có 29,15% HS và 71,03% CBQL, GV, NV đánh giá ở mức “quan trọng”; có đến 83.92% HS và 87,70% CBQL, GV, NV cho rằng: văn hóa nhà trường là “quan trọng và rất quan trọng”. Chính nhận thức này là nền tảng cơ bản để tổ chức và triển khai công tác xây dựng văn hóa nhà trường đạt hiệu quả.
So sánh ý kiến của HS và CBQL, GV, NV cho thấy: 10,95% học sinh và 12,30% CBQL, GV, NV coi đó là bình thường, có số ít học sinh còn chưa nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa nhà trường, thậm chí một số ít cho rằng, văn hóa nhà trường không quan trọng (chiếm 0,88%).
Để xây dựng VHNT hiệu quả thì các thành viên trong nhà trường cần phải có nhận thức đầy đủ, đúng đắn, rõ nét về ý nghĩa, tầm quan trọng, nội dung của VHNT. Nhận thức đúng là cơ sở, điều kiện để hành động đúng.
2.3.2. Thực trạng về tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi của nhà trường Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Lập kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường là đưa ra những định hướng lớn, thể hiện hình ảnh hiện thực trong tương lai mà trường mong muốn đạt tới cũng như những triết lý nhất quán phát triển của nhà trường và các giải pháp chiến lược để đạt được mục tiêu trên cơ sở khả năng hiện tại. Khảo sát CBQL, GV, NV và HS về xác định “tầm nhìn” của nhà trường, chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.5 sau đây:
Bảng 2.5. CBQL, GV, NV và HS đánh giá về “tầm nhìn” của nhà trường
- Qua kết quả khảo sát, tác giả có những phân tích và nhận xét như sau:
Trong các nội dung khảo sát được CBQL, GV, NV đánh giá cao nhất là “Tầm nhìn nêu rõ viễn cảnh tương lai trên cơ sở những định hướng, phân tích, dự báo dài hạn đáng tin cậy, có cơ sở và khả thi, có sức lôi cuốn, hấp dẫn mọi thành viên của nhà trường đặt niềm tin, hy vọng vào tương lai” với TTB = 3,46, độ lệch chuẩn là 0,77; mức độ thực hiện là 49,6% ở mức khá hoặc tốt, không có mức kém nhưng cũng có đến 9,9% cho rằng việc thực hiện còn ở mức yếu. Xếp thứ hai là nội dung “Tầm nhìn thể hiện rõ hình ảnh tương lai mong muốn của nhà trường” với TTB = 3,21 nhưng chỉ có 26,6% cho rằng đã thực hiện ở mức khá hoặc tốt và có 63,1% cho rằng việc thực hiện chỉ đạt được mức trung bình. Nội dung “Có hình thức công khai tầm nhìn trên website hay niêm yết tại các vị trí dễ quan sát trong trường” được CBQL, GV, NV xếp ở vị trí thấp nhất với TTB = 2,98 và 30,7% cho rằng thực hiện ở mức yếu hoặc kém, điều này chứng tỏ nhà trường chưa quan tâm trong công tác công khai bằng các phương tiện truyền thông hay bố trí ở các vị trí dễ quan sát.
Đối với học sinh, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát 2 nội dung, qua kết quả thu được chưa khả quan. Có đến 33,4% HS cho rằng nội dung “Tầm nhìn của nhà trường đã được công bố, quán triệt đến tất cả CB-GV-HS toàn trường” chưa được thực hiện, 48,3% HS đánh giá mức độ thực hiện trung bình, 45,1% HS đánh giá mức khá hoặc tốt. Đối với nội dung “Có hình thức công khai tầm nhìn trên website hay niêm yết tại các vị trí dễ quan sát trong trường” chỉ có 68,2% HS cho rằng đã thực hiện và 45,6% HS đánh giá ở mức trung bình và 6,3% đánh giá ở mức yếu hoặc kém.
Nội dung trong các tuyên bố sứ mệnh của trường thể hiện được những giá trị, những mong muốn của nhà trường, sẽ làm rõ trọng tâm của nhà trường, giúp giáo viên và học sinh hiểu rõ nhu cầu của họ sẽ được đáp ứng như thế nào. Qua khảo sát chúng tôi có kết quả ở bảng 2.6 như sau: Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
- Bảng 2.6. CBQL, GV, NV và HS đánh giá về “sứ mệnh” của nhà trường
Thông qua khảo sát, chúng tôi thấy: 100% CBQL, GV, NV đều cho rằng nhà trường đã thực hiện, nêu lên tuyên bố sứ mệnh của trường, trong sứ mệnh đã thể hiện được những giá trị, những mong muốn, làm rõ trọng tâm của nhà trường; đã củng cố các giá trị cốt yếu và đưa ra các thông điệp, công bố công khai cho toàn trường. Việc đánh giá mức độ thực hiện ở từng nội dung là khác nhau, có độ giao động, xếp hạng cao nhất là “Sứ mệnh của nhà trường thể hiện năng lực riêng, khác biệt của nhà trường” với 72,20% cho rằng thực hiện mức khá và tốt, TTB = 3,78; nội dung được đánh giá, xếp hạng thấp nhất là “Nội dung trong tuyên bố sứ mệnh của trường phản ánh rõ nhà trường đang làm gì, cho ai và tại sao nó lại quan trọng tại địa phương” chỉ đạt TTB = 3,06, có 19,9% đánh giá mức khá, tốt, chủ yếu là mức trung bình với 60,7%.
Đối với học sinh, chỉ khảo sát nội dung 5, 6 trong đó 34,1% học sinh đánh giá nhà trường chưa thực hiện công bố, quán triệt “sứ mệnh của trường” đến tất cả HS toàn trường và 33% học sinh được khảo sát đánh giá nhà trường chưa có hình thức công khai sứ mệnh trên website hay niêm yết tại các vị trí dễ quan sát trong trường. Điều này cũng phản ánh thực tiễn tại các nhà trường phải chọn các hình thức công bố, công khai phù hợp hơn với học sinh.
Ngoài tầm nhìn, sứ mệnh trong quá trình phát triển nhà trường cần xác định các giá trị cốt lõi, nét đặc trưng trong mỗi nhà trường để phân biệt với các trường khác. Qua khảo sát chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.7 như sau:
- Bảng 2.7. CBQL, GV, NV đánh giá về “các giá trị cốt lõi” của nhà trường
Bảng 2.7 cho thấy, nội dung “Các giá trị đã bao gồm thái độ, cách ứng xử, tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, GV và HS; chất lượng giáo dục toàn diện, những chính sách, những cơ hội phát triển của nhà trường” được CBQL, GV, NV đánh giá cao nhất với TTB = 4,14, có 71% đánh giá mức khá, 23% đánh giá tốt. Điều này thể hiện nhà trường đã xác định được nội dung các giá trị, được công bố, quán triệt đến tất cả CBQL, GV, NV và HS toàn trường với 81,3% đánh giá mức khá, 11,9% đánh giá mức tốt. Các giá trị mà nhà trường theo đuổi được đem ra thảo luận thường xuyên và mọi người đều đồng ý về các giá trị này khi có 82,2% đánh giá mức khá, 7,9% đánh giá mức tốt. Tuy nhiên cũng có 66,3% đánh giá mức trung bình đối với nội dung “Nhà trường có hình thức công khai giá trị trên website hay niêm yết tại các vị trí dễ quan sát trong trường”.
Qua khảo sát của 566 HS chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.8 như sau:
- Bảng 2.8. Ý kiến của HS về “các giá trị cốt lõi” của nhà trường
Nhìn vào bảng 2.8 cho thấy, học sinh đánh giá cao nhất việc “Các giá trị cốt lõi đã được công bố, quán triệt đến tất cả học sinh toàn trường” với TTB là 3,85 trong đó có 69,2% đánh giá mức khá, tốt. Ở nội dung “Nhà trường có hình thức công khai giá trị trên website hay niêm yết tại các vị trí dễ quan sát trong trường” được học sinh đánh giá cao thứ hai với 67, 2%.
Tuy nhiên cũng có 3,4% HS cho rằng nhà trường chưa công khai giá trị trên website hay niêm yết tại các vị trí dễ quan sát trong trường hoặc 5,1% HS cho rằng “Các giá trị đã bao gồm thái độ, cách ứng xử của học sinh; chất lượng giáo dục toàn diện, những chính sách, những cơ hội phát triển của nhà trường” chưa được thực hiện.
2.3.3. Thực trạng giao tiếp, ứng xử của các thành viên trong nhà trường Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Giao tiếp, ứng xử của các thành viên trong trường THPT thể hiện nổi bật văn hóa ứng xử của trường THPT đó. Để tìm hiểu thực trạng giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên trong nhà trường trong các hoạt động xây dựng VHNT ở các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 252 CBQ, GV, NV và 566 học sinh, với kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.9 như sau:
- Bảng 2.9. Đánh giá của CBQL, GV, NV và HS về giao tiếp, ứng xử ở trường THPT
Nhìn vào bảng 2.9 chúng ta thấy, 32,13% HS và 82,33 % CBQL, GV, NV đánh giá giao tiếp, ứng xử ở trường THPT thực hiện “Khá” và “Tốt”, tỉ lệ này có độ chênh nhau trong ý kiến của CBQL, GV, NV và HS. Có 0,4% HS và 9,02% CBQL, GV, NV đánh giá ở mức “Tốt”. Đáng lưu ý là có 24,2% HS và 1,89 % CBQL, GV, NV đánh giá giao tiếp, ứng xử ở trường THPT thực hiện ở mức “Yếu”. Ý kiến đánh giá trên là cơ sở để tác giả đề xuất những biện pháp tổ chức thực hiện công tác xây dựng văn hóa nhà trường đạt hiệu quả.
Ngoài ra, chúng tôi phỏng vấn GV của các trường THPT huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương kết quả như sau:
- GV2 có ý kiến: “Nhà trường tổ chức sinh hoạt chuyên đề vào tiết 1 đầu tuần liên quan đến văn hóa ứng xử. Hình thức sinh hoạt là giao một lớp chọn chủ đề, tự thiết kế và thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm và giáo viên phụ trách công tác Ðoàn”.
- GV4 nhận xét: “Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về văn hóa ứng xử của nhà trường được lãnh đạo trường quan tâm sâu sắc. Trong quan hệ ứng xử với đồng nghiệp, phụ huynh và khách đến làm việc đôi khi còn thiếu chuẩn mực về tác phong, thái độ, hành vi, ngôn ngữ”.
Như vậy, ngoài các nội dung trên được CBQL, GV, NV và học sinh đánh giá cao, vẫn còn những hạn chế, bất cập trong giao tiếp, ứng xử đang tồn tại ở các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
Để xây dựng văn hóa nhà trường, người hiệu trưởng vừa thực hiện vai trò của một nhà quản lý, vừa thực hiện vai trò của một người lãnh đạo, điều hành.
Trong đó, vai trò của người lãnh đạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc định hình VHNT. Để tìm hiểu vấn đề trên, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 252 CBQ, GV, NV và 566 HS với kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.10 như sau:
Bảng 2.10. Đánh giá của CBQL, GV, NV và HS về xây dựng các mối quan hệ giao tiếp, ứng xử dưới sự điều hành của hiệu trưởng Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
- Thông qua bảng 2.10, tác giả có những phân tích và nhận xét như sau:
Trong 15 nội dung được khảo sát thì CBQL, GV, NV có biên độ giao động TTB từ 3,09 đến 3,84 trong đó độ lệch chuẩn mức cao nhất chỉ là 0,74. Trong khi đó HS đánh giá biên độ giao động thấp hơn với TTB từ 3,08 đến 3,58 nhưng với nội dung số 11 có độ lệch chuẩn mức cao nhất chỉ là 1,0 điều đó cho thấy ở nội dung này có nhiều ý kiến trái chiều nhau.
Nội dung được CBBQL, GV, NV đánh giá nhiều nhất là “Việc xây dựng các nội quy, quy chế hoạt động của đơn vị, của các tổ chức đoàn thể, của các Ban/ Hội… trong nhà trường” với TTB = 3,84, có đến 72,8% đánh giá thực hiện khá và tốt. Xếp thứ hai là nội dung “Việc xây dựng những quy tắc giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên nhà trường” với nhiều người cùng ý kiến do độ lệch chuẩn 0,53 và có đến 78,2% cho rằng việc thực hiện ở mức khá và tốt, TTB chiếm 3,83 nhưng cũng có số ít (1,2%) đánh giá mức độ thực hiện yếu. Nội dung được xếp thứ ba là “Việc xây dựng các quy định về trang phục, đồng phục” với TTB là 3,7 và có đến 68,6% cho rằng đã thực hiện ở mức khá tốt, tuy nhiên ở nội dung này cũng có đến 8,3% CBQL, GV, NV đánh giá việc thực hiện chỉ ở mức yếu, kém. Nội dung mà CBQL, GV, NV đánh giá thấp nhất là nội dung 14 “Đầu tư thời gian, công sức cho việc xây dựng bầu không khí trong nhà trường thân thiện, dân chủ, công khai, khách quan, công bằng” với 49,2% cho rằng mới thực hiện ở mức trong bình, 21,8% đánh giá mức yếu. “Việc đầu tư thời gian, công sức cho xây dựng tập thể đoàn kết” chỉ có 33,3% đánh giá khá tốt nhưng có đến 42,5% đánh giá trung bình và 24,2% đánh giá yếu.
Đối với HS, nội dung được đánh giá cao nhất là “Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá, xử lý vi phạm thực hiện quy tắc giao tiếp, ứng xử của nhà trường” với TTB 3,58 trong đó 58% đánh giá khá tốt nhưng cũng có 16,5% đánh giá yếu, 0,9% đánh giá kém. Ở nội dung này thì CBQL, GV, NV xếp hạng thứ 13, như vậy có độ chênh ý kiến giữa 2 đối tượng khảo sát. Nội dung thứ hai mà HS xếp hạng là “Việc xây dựng các quy định về trang phục, đồng phục” với TTB = 3,54 trong đó 58% đánh giá khá tốt nhưng cũng có đến 12% cho rằng mức độ thực hiện chỉ đạt mức yếu kém, độ lệch chuẩn ở nội dung này cao, chiếm 0,84, đã có nhiều ý kiến trái chiều giữa các HS nhưng thứ hạng giữa 2 đối tượng khảo sát không chênh nhau nhiều (CBQL, GV, NV xếp hạng 3). Xếp ở vị trí thứ 3 là nội dung “Phát hiện xung đột, giải quyết kịp thời một cách hợp lý, hợp tình” với TTB là 3,53 và độ lệch chuẩn là 0,65 trong đó có 58,1% cho rằng đã thực hiện khá tốt nhưng có đến 35% đánh giá mức trung bình và 6,9% là yếu; ở nội dung này CBQL, GV, NV xếp hạng 9, có độ cách biệt 6 hạng giữa 2 đối tượng khảo sát. Xếp hạng thấp nhất là nội dung “Việc xây dựng những quy tắc giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên nhà trường” với TTB = 3,08, độ lệch chuẩn ở mức cao với 0,83 trong đó có đến 26,1% đánh giá mức yếu kém và 39,5% cho rằng mức độ thực hiện ở mức trung bình. So sánh thứ hạng giữa CBQL, GV, NV và HS cho thấy độ chênh nhau rất nhiều trong xếp hạng. Khoảng cách thứ hạng chênh nhau là 13 mức, điều này cho biết sự khác biệt trong ý kiến đánh giá của 2 đối tượng được khảo sát. Nội dung “Việc huy động sự đóng góp ý kiến của các thành viên trong, ngoài nhà trường” được HS xếp hạng thứ 14 với TTB = 3,14, độ lệch chuẩn cũng ở mức cao là 0,84 trong đó có 24,3% đánh giá mức độ thực hiện ở loại yếu kém và 38,7% ở mức trung bình. Ở nội dung này CBQL, GV, NV xếp hạng 7, có độ cách biệt 7 hạng giữa 2 đối tượng khảo sát nhưng mức độ lêch chuẩn của CBQL, GV, GV ít hơn.
Từ những đánh giá của CBQL, GV, NV và HS chúng tôi thấy dưới vai trò điều hành của hiệu trưởng công tác xây dựng, thiết lập các quy tắc, các nội quy được quan tâm, công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện đã đạt ở mức khá tốt. Ngoài ra các ý kiến khảo sát cũng đã nêu: Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
- GV3 nói rằng: “Quy trình xây dựng nội quy, quy chế của nhà trường được thực hiện theo đúng hướng dẫn, đã lấy ý kiến của GV, HS, CMHS thông qua các buổi họp đầu năm, có chỉnh sửa bổ sung hàng năm cùng với tiến trình xử lý HS vi phạm, bảng lượng hóa thi đua của trường, của Đoàn trường”
- GV1 cũng cho biết: “Hiệu trưởng đã quan tâm, triển khai đầu mỗi năm học, chỉ đạo giao cho các bộ phận phụ trách thực hiện”.
Tuy nhiên hiệu trưởng cũng chưa có nhiều thời gian, công sức tập trung xây dựng bầu không khí tích cực cũng như mối đoàn kết nội bộ. Ngoài ra, GV4 cũng đánh giá: “Các biện pháp cơ bản của nhà trường đã thực hiện trong xây dựng văn hóa nhà trường: Triển khai văn bản, giao bộ phận thực hiện, lồng ghép nhắc lại trong sơ kết, tổng kết nhưng nội dung đề cập đến chưa nhiều, chưa thành một mục riêng trong các báo cáo”.
2.3.4. Thực trạng cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm
Cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm của trường THPT thể hiện nổi bật văn hóa của trường THPT đó. Ấn tượng đầu tiên đối với bất cứ ai bước vào một ngôi trường đó chính là cảnh quan, môi trường sư phạm liên quan đến hình thức của nhà trường về kiến trúc, trang trí, bố trí khuôn viên cũng như sắp xếp, bày trí tranh ảnh, khẩu hiệu, trang trí ở trong lớp học, phòng làm việc, phòng thí nghiệm, phòng thực hành bộ môn, việc xây dựng, sử dụng nhà xe, nhà tập đa năng, nhà bảo vệ, sân chơi, bãi tập, hệ thống điện, nước… và các cơ sở vật chất khác phục vụ cho hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học của nhà trường.
Ngoài các nội dung trên, người hiệu trưởng cũng phải quan tâm đến bầu không khí tâm lý trong nhà trường qua cách giao tiếp, ứng xử của các thành viên trong nhà trường ra sao, tính hợp tác, tính đoàn kết nội bộ như thế nào, sự tác động của các tệ nạn xã hội vào trường học tích cực hay tiêu cực…
Khảo sát CBQL, GV, NV và HS về cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm của nhà trường THPT, chúng tôi thu được kết quả, thể hiện ở bảng 2.11.
- Bảng 2.11. Đánh giá của CBQL, GV, NV và HS về cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm ở trường THPT
Nhìn vào bảng 2.11 chúng ta thấy, 56,11% HS và 83,73 % CBQL, GV, NV đánh giá cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm của trường THPT thuộc huyện Dầu Tiếng là “Khá” và “Tốt”, tỉ lệ này có độ chênh nhau trong ý kiến của CBQL, GV, NV và HS. Có 46,8% HS và 73,41% CBQL, GV, NV đánh giá ở mức “Khá”. Ý kiến đánh giá trên là cơ sở để tác giả đề xuất những biện pháp tổ chức thực hiện công tác xây dựng văn hóa nhà trường đạt hiệu quả.
Ngoài ra, chúng tôi phỏng vấn GV, NV của các trường THPT huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương kết quả như sau:
- GV1 có nhận xét: “Khuôn viên được xây dựng sạch sẽ, sân chơi bãi tập TDTT đảm bảo, Nhà trường chưa có nhà tập đa năng. Cây xanh bóng mát trên sân trường đảm bảo”.
- NV3 có ý kiến: “Công tác vệ sinh các lớp học giao cho HS thực hiện, các dãy nhà vệ sinh HS, các cầu thang ở các dãy lầu và sân trường được thuê mướn lao công thực hiện đảm bảo nhưng có lúc bị ảnh hưởng của thiếu nước, không dọn dẹp kịp thời và ý thức một số HS chưa tốt…”.
2.3.5. Những thuận lợi, khó khăn khi xây dựng văn hóa nhà trường của các trường THPT ở huyện Dầu Tiếng, Bình Dương Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Để xây dựng được văn hóa mỗi nhà trường phát triển, có nét đặc trưng riêng thì cần dựa trên các căn cứ pháp lý để thực hiện; chú ý đến các yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quá trình xây dựng văn hóa nhà trường. Chúng ta hãy tìm hiểu xem quá trình thực hiện, hiệu trưởng đã có nhiều thuận lợi nhưng cũng đối mặt với vô vàn khó khăn thông qua phiếu khảo sát và kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.12.
Bảng 2.12. Ý kiến của CBQL, GV, NV và HS các trường THPT ở huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương về những thuận lợi, khó khăn khi xây dựng VHNT
Kết quả bảng 2.12 cho thấy:
- Về thuận lợi:
Đối với CBQL, GV, NV được khảo sát: nội dung “Có sự quan tâm của hiệu trưởng đến VHNT” xếp thứ nhất với TTB là 3,98, độ lệch chuẩn 0,5 trong đó 76,51% đánh giá ở mức đồng ý và rất đồng ý, độ chênh lệch giữa 2 đối tượng khảo sát xếp hạng là 5 bậc. Nội dung “Có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của cơ quan quản lý GD các cấp” xếp thứ 2 với TTB = 3,94, độ lệch chuẩn 0,51 trong đó 84,92% cho rằng mức độ thực hiện ở mức đồng ý và rất đồng ý. Nội dung xếp thứ 3 là “Có sự quan tâm, phối hợp của cha mẹ HS và cộng đồng xã hội” với TTB là 3,93 trong đó 84,92% đánh giá mức đồng ý và rất đồng ý.
Đối với HS được khảo sát: nội dung “Có sự quan tâm, phối hợp của cha mẹ HS và cộng đồng xã hội” xếp thứ nhất với TTB là 3,93, độ lêch chuẩn ở mức cao là 0,78 trong đó có 75,62% đánh giá mức đồng ý và rất đồng ý và 19,61% đồng ý một phần. Nội dung “Có đầy đủ kinh phí để thực hiện” xếp thứ 2 (TTB là 3,78 trong đó 65,59% đánh giá mức đồng ý và rất đồng ý). Nội dung “Có sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền các địa phương” xếp thứ 3 (TTB là 3,62).
- Qua khảo sát phỏng vấn thêm một số CBQL, GV, NV tại các trường:
QL1 cho rằng: “Có văn bản hướng dẫn, Huyện ủy Dầu Tiếng yêu cầu gắn liền với Chỉ thị 05 và xây dựng văn hóa công sở, giao cho Đoàn duy trì nề nếp HS tốt, nhiều GVCN sát sao lớp mình hàng ngày, đặc biệt là GV có dạy sáng chiều. PHT được phân công phụ trách kỹ tính, nhắc nhở GV-HS thường xuyên. CSVC nay sơn sửa lại dãy B và khu hành chính…”
QL2 nhận xét như sau: “Mấy năm nay được cấp tiền nhiều hơn so với của huyện. Các bệ cao của bồn trồng cây nay cải tạo thành ghế ngồi cho HS thuận tiện dưới gốc cây. Lực lượng bảo vệ có tâm huyết, tưới cây, chăm sóc cây kiểng thường xuyên…”
- Về khó khăn: Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Đối với CBQL, GV, NV được khảo sát: nội dung về kinh phí để thực hiện xếp cuôi cùng với TTB = 3,23 độ lệch chuẩn là 0,74 trong đó 55,95% chỉ đồng ý một phần và 12,3% không đồng ý. Nội dung “Các tác động, ảnh hưởng của điều kiện kinh tế xã hội, an ninh, an toàn, môi trường văn hóa…tại địa phương đến nhà trường” xếp thứ 9 với TTB là 3,27, độ lệch chuẩn là 0,7 trong đó 66,27% chỉ đồng ý một phần và 6,35% không đồng ý, nội dung này cũng được học sinh xếp hạng 7, độ chênh xếp hạng là không lớn. Xếp thứ 8 là nội dung “Ý thức học tập, rèn luyện của học sinh” có TTB là 3,27 trong đó có 59,92% chỉ đồng ý một phần và 7,94 không đồng ý, nội dung này cũng được học sinh xếp hạng 5.
Đối với HS được khảo sát: nội dung “Có sự quan tâm, ủng hộ của đội ngũ nhà giáo, các đoàn thể trong trường” xếp thứ 8/8 nội dung được khảo sát với TTB là 3,51 độ lêch chuẩn ở mức cao 0,83 trong đó có 40,99% chỉ đồng ý một phần, 9,54% không đồng ý. Nội dung “Các tác động, ảnh hưởng của điều kiện kinh tế xã hội, an ninh, an toàn, môi trường văn hóa…tại địa phương đến nhà trường” xếp thứ 7 do có TTB là 3,54 trong đó có 40,46% chỉ đồng ý một phần, 7,95% không đồng ý.
- Qua khảo sát phỏng vấn thêm một số CBQL, GV, NV tại các trường:
QL1 cho rằng: “CSVC tốt nhưng ý thức giữ gìn vệ sinh chung của HS có lúc chưa cao, còn mang chai nhựa, bịch ni lông, hộp giấy đựng cơm hoặc đồ ăn vào trong lớp… không bỏ rác đúng nơi quy định, đặc biệt là học Thể dục, Quốc phòng ở sân trường hoặc bỏ rác vào các hộc bàn, bỏ vào thành cửa sổ lớp học. Kinh phí cho mua hoa/ cây kiểng, chăm sóc kiểng tốn nhiều công sức, tốn nhiều tiền, lực lượng bảo vệ chỉ hỗ trợ tưới cây, không phải dân chuyên nghiệp cắt tỉa hoa/ cây kiểng thường xuyên…”
QL2 nhận xét: “Một số GV, HS coi việc trồng/ chăm sóc cây, lao động vệ sinh khuôn viên của nhà trường không phải là của mình, còn thờ ơ, làm hời hợt, không đúng phần việc/ nhiệm vụ được giao, khi đi nghiệm thu phải làm lại, mất thời gian công sức…”
QL4 nêu ra: “Khi muốn sơn sửa, cải tạo lại các dãy nhà phải làm nhiều thủ tục, bộ phận kế toán chưa có nhiều nghiệp vụ về xây dựng nên lập hồ sơ gặp khó khăn, phải thuê tư vấn làm giúp các thủ tục, bị phụ thuộc vào họ…”
Có nhiều ý kiến nhận định thuận lợi trong thực hiện văn hóa nhà trường ở trường THPT trên địa bàn huyện. Trong đó, các nội dung được nhiều CBQL, GV, NV nêu ra như: HS của trường ngoan, lễ phép, hiểu pháp luật; học sinh có ý thức học tập rèn luyện; HS tích cực hoạt động, hợp tác tốt; nhà trường có sự phối hợp tốt với công an địa phương; có sự chỉ đạo của cấp trên và sự phối hợp các lực lượng giáo dục; lãnh đạo nhà trường quan tâm đến VHNT.
Bên cạnh các thuận lợi được đề cập thì CBQL, GV, NV cũng đã nêu ra không ít khó khăn trong thực hiện VHNT, trong đó, các nội dung được đề cập nhiều như: GV chưa được tập huấn; chưa có cơ chế thưởng – phạt khi thực hiện VHNT; hình thức chưa đa dạng, thu hút; GV, NV và HS chưa thật hứng thú khi thực hiện VHNT; có sự quan tâm, phối hợp của CMHS và cộng đồng xã hội nhưng chưa nhiều.
2.4. Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
2.4.1. Nhận thức của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh về tầm quan trọng xây dựng văn hóa nhà trường
Để đánh giá tầm quan trọng của công tác xây dựng văn hóa nhà trường chúng tôi đã tiến hành khảo sát đội ngũ CBQL, GV, NV, HS của 4 trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng và kết quả thu được thể hiện ở biểu đồ 2.2 như sau:
- Biểu đồ 2.2. Nhận thức của CBQL, GV, NV và HS về tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa nhà trường
Qua thống kê của biểu đồ 2.2 chúng ta thấy, 50,53% HS và 6,35% CBQL, GV, NV đánh giá vai trò của hiệu trưởng trong công tác xây dựng văn hóa nhà trường “rất quan trọng”, tỉ lệ này có độ chênh nhau rất lớn giữa nhận thức của CBQL, GV, NV và HS. Có 37,46% HS và 31,75 % CBQL, GV, NV đánh giá ở mức “quan trọng”, tỉ lệ này cho thấy mức độ nhận thức của HS và CBQL, GV, NV là gần tương đồng nhau. Có khoảng ½ số học sinh được khảo sát cho rằng hiệu trưởng “rất quan trọng” trong việc xây dựng văn hóa nhà trường nhưng cũng có 58,33% CBQL, GV, NV coi việc đó là “bình thường”, không có gì nổi bật. Một số ít HS (2,83%) hoặc CBQL, GV, NV (3,57%) có khi còn cho rằng hiệu trưởng ít quan trọng hoặc không quan trọng.
Để đánh giá vai trò của hiệu trưởng trong công tác xây dựng VHNT chúng tôi đã tiến hành khảo sát và kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.13 như sau:
Bảng 2.13. Nhận thức của CBQL, GV, NV và HS về vai trò của hiệu trưởng trong việc xây dựng văn hóa nhà trường
- Thông qua kết quả khảo sát được trình bày trong bảng 2.13, tác giả có những phân tích và nhận xét cụ thể như sau:
Theo nhận định của HS: Tất cả các nội dung từ 1 đến 11 đều được xếp ở mức “đồng ý” và “rất đồng ý” với trị trung bình là 3,40 trở lên. Sự chênh lệch về đánh giá giá trị trung bình lớn nhất và giá trị trung bình nhỏ nhất của học sinh không nhiều, chỉ giao động ở mức từ 3,40 – 3,87 (độ lệch chuẩn 0,47). Điều này thể hiện sự tương đồng trong cách nhìn nhận của học sinh các trường.
Nội dung được HS xếp thứ hạng cao nhất là “Xây dựng cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm” (TTB = 3,87 và 69,61% đồng ý trở lên). Bởi vì ấn tượng đầu tiên đối với bất cứ ai bước vào một ngôi trường đó chính là cảnh quan, môi trường sư phạm liên quan đến hình thức của nhà trường về kiến trúc, trang trí, bố trí khuôn viên cũng như sắp xếp, bày trí tranh ảnh, khẩu hiệu, trang trí ở trong lớp học, phòng làm việc, phòng thí nghiệm, phòng thực hành bộ môn, việc xây dựng, sử dụng nhà xe, nhà tập đa năng, nhà bảo vệ, sân chơi, bãi tập, hệ thống điện, nước… và các cơ sở vật chất khác phục vụ cho hoạt động giáo dục. Việc HS đánh giá cao nội dung này cũng là điều dễ hiểu bởi HS không chỉ nhận thấy bằng mắt thường mà còn cảm nhận được qua bầu không khí tâm lý trong nhà trường, qua cách giao tiếp, ứng xử của các thành viên trong nhà trường ra sao, tính hợp tác, tính đoàn kết nội bộ như thế nào, sự tác động của các tệ nạn xã hội vào trường học tích cực hay tiêu cực.
Nội dung “Thu phục lòng người, thu phục nhân tâm, tạo động lực làm việc cho đội ngũ nhà giáo và ý thức học tập, rèn luyện của học sinh” được HS đánh giá cao thứ hai với 48,41% “đồng ý” và 17,67% “rất đồng ý”. Qua số liệu này cũng thấy 66,08% học sinh đánh giá cao vai trò của hiệu trưởng, đã thu phục được nhân tâm và tạo động lực cho mọi người trong nhà trường làm việc và học tập. Điều này mang ý nghĩa lớn đối với mỗi nhà trường, khi các thành viên trong nhà trường đều có động lực tích cực, sẽ luôn hăng say, nhiệt huyết trong công công việc, học sinh luôn tìm thấy niềm vui để phấn đấu học tập, rèn luyện.
Nội dung “Tác động vào suy nghĩ, hành vi của nhà giáo, học sinh để họ hoạt động theo những mục tiêu chung của nhà trường” được HS đánh giá cao thứ ba với 47% “đồng ý” và 15,72% “rất đồng ý”. Điều này cũng phản ánh việc hiệu trưởng thường xuyên quan tâm đến mục tiêu chung của nhà trường nên đã luôn tác động tích cực đến học sinh của trường mình nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện hàng năm cũng như từng giai đoạn. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Ngoài những nội dung được HS đánh giá cao nêu trên, cũng còn những nội dung học sinh chưa thấy được công việc thực tiễn đã làm của hiệu trưởng hoặc những hạn chế của hiệu trưởng cần điều chỉnh cho phù hợp như:
Nội dung “Chủ đạo trong lập kế hoạch chiến lược phát triển cho nhà trường” được xếp thứ hạng cuối cùng (hạng 11) với TTB = 3,40 và mức độ “không đồng ý” hoặc “đồng ý một phần” chiếm tỉ lệ hơn một nửa với 57,95%. Bởi có thể học sinh ít khi thấy được bản kế hoạch, có chăng chỉ thông qua công tác tuyên truyền trong các buổi sinh hoạt chào cờ, hoạt động tập thể nào đó nên không thể đánh giá được sự quan tâm, thực hiện của hiệu trưởng.
Cũng có một số lượng rất nhỏ HS (0,18%) chọn mức “hoàn toàn không đồng ý” với các nội dung số 1 là “hiệu trưởng như một người lãnh đạo, một người quản lý, một thủ lĩnh, một huấn luyện viên trong nhà trường” hoặc nội dung số 7 là “Tác động vào suy nghĩ, hành vi của nhà giáo, học sinh để họ hoạt động theo những mục tiêu chung của nhà trường” hoặc nội dung số 11 là “Kiểm tra, đánh giá, khen thưởng, xử lý vi phạm…công tác xây dựng VHNT để điều chỉnh quản lý, tổ chức xây dựng khoa học, hiệu quả hơn” trong bảng khảo sát về vai trò của hiệu trưởng trong việc xây dựng văn hóa nhà trường.
Còn đối với nhận định của CBQL, GV, NV: Hầu hết (9/11 nội dung) đều có 5 mức độ đồng ý của bảng khảo sát, sự chênh lệch về giá trị trung bình lớn nhất và giá trị trung bình nhỏ nhất của CBQL, GV, NV thể hiện cũng khá rõ ràng từ 2,91 – 3,77 (độ lệch chuẩn cao với 0,86).
Nội dung được CBQL, GV, NV xếp thứ hạng cao nhất cũng giống như nhận định của học sinh là “Xây dựng cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm” (TTB = 3,77) và 65,87% đồng ý hoặc 7,54% rất đồng ý.
Nội dung “Tổ chức, dẫn dắt nhà trường thực hiện tầm nhìn, định hướng VHNT” được CBQL, GV, NV đánh giá cao thứ hai với TTB = 3,79 và 53,97% “đồng ý” hoặc 9,92% “rất đồng ý”. Điều này cũng phản ánh việc CBQL, GV, NV có nhiều thuận lợi hơn so với các HS, được tiếp cận nhiều hơn với các văn bản quản lý, thường xuyên tham gia các hoạt động do hiệu trưởng chủ trì, phát động, hỗ trợ khi gặp khó khăn hay được nhắc lại trong các cuộc họp hay những loại kế hoạch của nhà trường, của những tổ chức đoàn thể.
Nội dung “Kiểm tra, đánh giá, khen thưởng, xử lý vi phạm…công tác xây dựng VHNT để điều chỉnh quản lý, tổ chức xây dựng khoa học, hiệu quả hơn” được CBQL, GV, NV đánh giá cao thứ ba với 57,94% “đồng ý” và 8,33% “rất đồng ý” cùng với TTB = 3,71. Qua số liệu này, vai trò của hiệu trưởng cũng được đánh giá cao trong công tác “Kiểm tra, đánh giá, khen thưởng, xử lý vi phạm”, đây cũng chính là một trong những nhiệm vụ của hiệu trưởng trong quá trình xây dựng kế hoạch, thực hiện văn hóa nhà trường. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Ngoài những nội dung được CBQL, GV, NV đánh giá cao nêu trên vẫn có những nội dung CBQL, GV, NV đánh giá ở mức “Hoàn toàn không đồng ý” hoặc “không đồng ý” ví dụ như ở nội dung số 7 là “Tác động vào suy nghĩ, hành vi của nhà giáo, học sinh để họ hoạt động theo những mục tiêu chung của nhà trường” có tỉ lệ 1,98% hoàn toàn không đồng ý và 10,71% không đồng ý (điều này đối với học sinh lại đứng thứ 3) hoặc nội dung số 8 là “Chia sẻ thông tin tích cực, triển khai KH đến đội ngũ nhà giáo, học sinh, cha mẹ học sinh… lôi cuốn mọi người đi theo mình” có tỉ lệ 3,97% hoàn toàn không đồng ý và 22,22% không đồng ý cũng như nội dung này chỉ có 21,03% là đồng ý, chắc hẳn những thông tin của hiệu trưởng mang đến cho đội ngũ nhà giáo, học sinh, cha mẹ học sinh cần điều chỉnh thêm so với nhận định trong phiếu khảo sát, đây là thứ hạng thấp nhất mà CBQL, GV, NV đã đưa ra, trị trung bình cũng chỉ đạt 2,91 mà thôi.
Dù mỗi nội dung được khảo sát đối với từng đối tượng có kết quả khác nhau nhưng chúng ta đã thấy được những nhận định đó có ý nghĩa tích đối với vai trò của hiệu trưởng trong xây dựng văn hóa nhà trường, làm tiền đề cho bổ sung, điều chỉnh công tác quản lý.
Thông qua nhận thức của CBQL, GV, NV và HS, chúng tôi muốn biết rõ thêm về trách nhiệm xây dựng VHNT nên đã tiến hành phát phiếu hỏi của 252 CBQL, GV, NV và 566 HS, kết quả thu được thể hiện ở biểu đồ 2.3 như sau:
- Biểu đồ 2.3. Nhận thức của CBQL, GV, NV và HS về trách nhiệm xây dựng văn hóa trong nhà trường
Thông qua kết quả khảo sát được trình bày trong biểu đồ 2.3, người nghiên cứu có những phân tích và nhận xét cụ thể như sau: CBQL, GV, NV, HS xác định trách nhiệm xây dựng văn hóa trong nhà nhà trường thuộc về “tất cả CBQL, GV, NV, HS của trường và cộng đồng xã hội” chiếm tỉ lệ cao với tương quan 59,13% (CBQL, GV, NV) và 45,58% (HS); ngoài ra cũng có một số ít CBQL, GV, GV (9%) và HS (2%) cho rằng trách nhiệm xây dựng văn hóa trong nhà nhà trường cũng thuộc về “HS, cha mẹ học sinh”. Có 43,11% học sinh thì cho rằng: Trách nhiệm xây dựng văn hóa trong nhà nhà trường thuộc về “CBQL, GV, NV, HS” và tỉ lệ tương đương (45,58%) cho rằng trách nhiệm xây dựng văn hóa trong nhà nhà trường thuộc về “tất cả CBQL, GV, NV, HS của trường và cộng đồng xã hội”.
Như vậy, nhìn chung CBQL, GV, NV và HS đã có nhận thức về tầm quan trọng và trách nhiệm trong xây dựng VHNT, tuy nhiên còn một bộ phận CBQL, GV, NV và HS chưa nhận thức đầy đủ và chính xác về vấn đề này.
2.4.2. Thực trạng xây dựng định hướng chiến lược của nhà trường Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Xây dựng, định hướng và triển khai kế hoạch chiến lược của các trường học nói chung và của các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng nói riêng là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện Nghị Quyết của Chính phủ về đổi mới giáo dục phổ thông. Cùng các trường THPT khác trong tỉnh xây dựng ngành giáo dục tỉnh Bình Dương phát triển theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh nhà, theo kịp sự phát triển giáo dục của cả nước, hội nhập với các nước khu vực và thế giới. Qua tiến hành khảo sát của 252 CBQL, GV, NV ở đầy đủ 6 nội dung và 566 học sinh của 4 trường THPT trong huyện Dầu Tiếng (gồm nội dung 4, 5, 6) chúng tôi đã thu được kết quả ở bảng 2.14 như sau:
- Bảng 2.14. CBQL, GV, NV và HS đánh giá công tác xây dựng chiến lược phát triển nhà trường
Nhìn vào bảng 2.14 chúng ta thấy 100% CBQL, GV, NV đều đánh giá nội dung 1, 2, 3, 5 được các nhà trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng đã thực hiện, kết quả thực hiện tuy có khác nhau nhưng đa số chỉ đánh giá ở mức trung bình với tỉ lệ giao động từ 38,1% đến 58,7% còn lại mức độ khá, tốt chưa nhiều trừ nội dung 2, 3. Thứ hạng cao nhất mà CBQL, GV, NV đánh giá đó là nội dung về chiến lược phát triển nhà trường “được công bố, quán triệt đến tất cả CB-GV- HS toàn trường” với TTB = 3,40, độ lệch chuẩn 0,72 và 42,1% đánh giá mức khá trở lên. Nội dung được xếp hạng thấp nhất là “Đã phân tích, đánh giá đúng thực trạng của trường với những điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức” với TTB =2,94 và độ lệch chuẩn là 0,64, trong đó 23,8% đánh giá mức yếu, 58,7% đánh giá mức trung bình, chỉ có 17, 5% đánh giá khá, không có mức tốt hoặc kém.
Đối với HS được khảo sát nội dung 4, 5, 6 chúng ta thấy nội dung về chiến lược phát triển nhà trường “được công bố, quán triệt đến tất cả HS toàn trường” được HS đánh giá cao nhất với TTB = 3,69, còn nội dung “Đã huy động các ý kiến đóng góp của HS” thì có 42,4% đánh giá là chưa thực hiện hoặc 7,4% học sinh, 10,7% CBQL, GV, NV cho biết nhà trường chưa thực hiện “hình thức công khai trên website hay niêm yết tại các vị trí dễ quan sát trong trường”.
Qua số liệu thống kê trên cho thấy: Các trường học trên địa bàn có quan tâm phân tích, đánh giá thực trạng của trường rồi đề ra những định hướng lớn, có huy động ý kiến đóng góp của đội ngũ nhà giáo là chủ yếu (90,5%), có quán triệt đến CB, GV, NV, HS toàn trường nhưng việc huy động ý kiến đóng góp của học sinh chưa thực hiện tốt (chỉ đạt 57,6%), các hình thức công khai trên website hay niêm yết tại các vị trí dễ quan sát trong trường còn chưa thực hiện (10,7% đối với CBQL, GV, NV và 7,4% đối với HS).
Các trường học đều có xây dựng bản kế hoạch phát triển và nâng cao chất lượng nhà trường theo giai đoạn 5 năm hoặc KH từng năm. Đa phần là lấy mẫu của trường khác, đưa ra HĐSP góp ý, cho các HS góp ý nhưng cũng chỉ mang tính chất chung chung, chỉ có BGH nào tâm huyết làm thì bản KH đó kỹ hơn, bài bản hơn. Các bản KH cũng nêu lên tầm nhìn, sứ mạng, các giá trị cốt lõi…cũng công bố công khai trong họp, trong SHCC, cũng treo ở một vị trí nào đó nhưng ít người quan tâm.
2.4.3. Thực trạng xây dựng mối quan hệ ứng xử của các thành viên trong nhà trường
Để tìm hiểu thực trạng xây dựng các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường trong các hoạt động xây dựng VHNT ở các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 252 CBQ, GV, NV và 566 học sinh với kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.15 như sau: Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
- Bảng 2.15. Ý kiến đánh giá CBQL, GV, NV và HS về quan hệ giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên trong nhà trường
Thông qua kết quả khảo sát được trình bày trong bảng 2.15, người nghiên cứu có những phân tích và nhận xét cụ thể như sau:
Theo nhận định của HS: tất cả các nội dung từ 1 đến 13 đều được xếp ở 5 mức độ của bảng khảo sát. Sự chênh lệch về đánh giá giá trị trung bình lớn nhất và giá trị trung bình nhỏ nhất của học sinh giao động ở mức từ 2,98 – 3,49 (độ lệch chuẩn là 0,51).
Nội dung được HS xếp thứ hạng cao nhất là nội dung số 4 “ Giao tiếp, ứng xử giữa giáo viên, nhân viên với cấp trên đúng mực” với TTB = 3,4 và 52,50% đồng ý trở lên nhưng cũng ở nội dung này có đến 11,5% không đồng ý hoặc 35,5% chỉ đồng ý một phần. Nội dung “Mối quan hệ giao tiếp, ứng xử giữa lãnh đạo nhà trường với Công đoàn, Đoàn trường, các Ban, Hội …trong nhà trường tốt” được HS đánh giá cao thứ hai với 36,6% “đồng ý” và 9,2% “rất đồng ý”. Nhưng cũng có một số ít 1,1% hoàn toàn không đồng ý hoặc 17,7% không đồng ý hoặc 35,5% chỉ đồng ý một phần, số liệu này cũng thể hiện có độ phân tán, lệch chuẩn cao nhất với 0,91 chứng tỏ có nhiều ý kiến trái chiều nhau. Nội dung số 13 là “Mối quan hệ, giao tiếp giữa nhà trường với cộng đồng xã hội tốt” được HS đánh giá cao thứ ba với 46,8% đồng ý trở lên nhưng vẫn có 1,1% hoàn toàn không đồng ý hoặc 17,3% không đồng ý và 34,8% chỉ đồng ý một phần, đây cũng là nội dung có độ lệch chuẩn cao thứ 3 với 0,85.
Mặc dù được đánh giá cao ở các nội dung trên nhưng vẫn có những ý kiến trái chiều, trong đó nội dung số 2 được HS đánh giá thấp nhất là “Giao tiếp, ứng xử giữa lãnh đạo nhà trường với cấp dưới thân thiện, hòa đồng” với TTB = 2,98 và 50% đồng ý một phần, có đến 26,3% không đồng ý. Số liệu này đáng để chúng ta suy ngẫm khi CBQL, GV, NV cũng không đánh giá cao ở nội dung này với 31,3% đồng ý, 6,3% rất đồng ý nhưng có đến 59,1% đồng ý một phần, 2,8% không đồng ý.
Đối với CBQL, GV, NV: nội dung được đánh giá cao nhất là “Giao tiếp, ứng xử giữa giáo viên, nhân viên với nhau cởi mở, thân thiện” có 35,3% đồng ý và 44,8% rất đồng ý ngoài ra TTB = 4,24 và học sinh chỉ đánh giá nội dung này ở thứ hạng 6 mà thôi. Nội dung được CBQL, GV, NV xếp thứ hai là “Mối quan hệ, giao tiếp giữa nhà trường với chính quyền các địa phương tốt” với 55,6% đồng ý và 11, 1%rất đồng ý tuy nhiên cũng có đến 31,7% chỉ đồng ý một phần hay số ít không đồng ý chiếm 1,6%. Nội dung mà CBQL, GV, NV xếp hạng thấp nhất là “Mối quan hệ giao tiếp, ứng xử giữa lãnh đạo nhà trường với Công đoàn, Đoàn trường, các Ban, Hội …trong nhà trường tốt” với 63,1% đồng ý một phần và 32,9% đồng ý và rất đồng ý. Điều này phản ánh việc phối hợp giữa các tổ chức trong nhà trường còn một số bất cập, khó khăn trong qua trình điều hành, thực hiện nhiệm vụ.
- Ngoài ra, chúng tôi phỏng vấn những GV của các trường THPT huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương kết quả như sau:
GV1 nói rằng “Ban giám hiệu nhà trường đã chỉ đạo Đoàn thanh niên, các Tổ hoặc bộ phận thư viện, giám thị đẩy mạnh công tác giáo dục văn hóa ứng xử thông qua các hoạt động giáo dục, thực hành, tình nguyện vì cộng đồng; coi trọng các hoạt động giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, ứng xử văn hóa của người học”.
GV2 có ý kiến: “Nhà trường tổ chức sinh hoạt chuyên đề vào tiết 1 đầu tuần liên quan đến văn hóa ứng xử. Hình thức sinh hoạt là giao một lớp chọn chủ đề, tự thiết kế và thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm và giáo viên phụ trách công tác Ðoàn”; Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
GV3 trao đổi như sau: “Trong môi trường giáo dục hai mối quan hệ chính là quan hệ giữa thầy và trò và quan hệ giữa các trò với nhau. Thực tế cho thấy trong môi trường học đường, nơi văn hoá được coi trọng, được xây dựng và phát huy lại đang diễn ra những điều thiếu văn hoá”.
GV4 nhận xét: “Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về văn hóa ứng xử của nhà trường được lãnh đạo trường quan tâm sâu sắc. Trong quan hệ ứng xử với đồng nghiệp, phụ huynh và khách đến làm việc đôi khi còn thiếu chuẩn mực về tác phong, thái độ, hành vi, ngôn ngữ”.
Như vậy, ngoài các nội dung trên được CBQL, GV, NV và học sinh đánh giá cao, vẫn còn những hạn chế, bất cập trong giao tiếp, ứng xử đang tồn tại ở các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
2.4.4. Thực trạng xây dựng cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm
Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của CBQL, GV, NV và HS về xây dựng môi trường, cảnh quan sư phạm ở các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 252 CBQ, GV, NV và 566 học sinh với kết quả thu được thể hiện ở biểu đồ 2.4 như sau:
Biểu đồ 2.4. Nhận thức CB, GV, NV và HS về xây dựng môi trường, cảnh quan sư phạm các trường THPT
Đối với CBQL, GV, NV được khảo sát: Có 51,98% đánh giá môi trường, cảnh quan sư phạm trong nhà trường ở mức độ xanh, sạch, đẹp; 8,73% đánh giá là rất xanh, sạch, đẹp nhưng có đến 36, 90% cho là bình thường hoặc 2,38% cho rằng vẫn còn chưa hoặc kém xanh, sạch, đẹp.
Đối với HS được khảo sát: Có 35,98% đánh giá môi trường, cảnh quan sư phạm trong nhà trường ở mức độ xanh, sạch, đẹp; 20,32% đánh giá là rất xanh, sạch, đẹp và 16, 61% cho là bình thường hoặc 24,73% cho rằng vẫn còn chưa xanh, sạch, đẹp.
Qua đánh giá của CBQL, GV, NV và HS thì môi trường, cảnh quan của nhà trường đã được quan tâm, được hơn 50% các thành viên đã khảo sát đánh giá ở mức độ xanh, sạch, đẹp trở lên. Tuy nhiên, vẫn còn 27,20% HS đánh giá ở mức dưới trung bình, điều này thể hiện việc dưới góc độ nhìn nhận về cảnh quan môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu của HS. Bảng 2.16. Mức độ xây dựng cảnh quan, môi trường sư phạm của nhà trường THPT
- Qua kết quả của bảng 2.16 chúng ta thấy rằng: Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Đối với CBQL, GV, NV được khảo sát: nội dung “Xây dựng bầu không khí tâm lý, đoàn kết nội bộ của nhà trường” xếp thứ 1 (TTB là 3,80 với 75% đánh giá mức độ thực hiện khá trở lên); nội dung “Lắp đặt, bố trí khẩu hiệu, bảng thông báo; trang trí ở ở hành lang, lối đi, sân trường, cổng trường và phía bên ngoài các khối công trình xây dựng” xếp thứ 2 (TTB là 3,77 với 68,6% đánh giá mức độ thực hiện khá trở lên, chỉ có 1,6% đanh giá yếu); nội dung xếp thứ 3 là “Nội dung các bảng hiệu, khẩu hiệu phù hợp, đảm bảo đúng nguyên tắc khi xây dựng khẩu hiệu” với TTB là 3,74, độ lệch chuẩn 0,62 trong đó có đến 69,4% đanh h=giá mức khá tốt nhưng cũng có 28,2% đanh giá ở mức trung bình, thứ hạng của CBQL, GV, NV và HS có độ lệch 8 hạng, như vậy cách nhìn nhận giữa 2 đối tượng có khác nhau. Ngoài ra, nội dung được đánh giá thấp nhất là “Ánh sáng, độ thông thoáng gió, độ cách âm của các khối công trình xây dựng của trường” với TTB = 3,03, độ lệch chuẩn là 0,72 trong đó có 54,4% đánh giá ở mức trung bình, 21,8% đánh giá ở mức yếu nhưng thứ hạng này đối với HS là 10, có độ chênh 11 hạng cho thấy mức nhìn nhận có khác nhau giữa 2 đối tượng được khảo sát. Nội dung “Màu sơn trong/ ngoài của các khối công trình xây dựng của trường” được CBQL, GV, NV xếp hạng thứ 20/ 21 nội dung với TTB là 3,23 trong đó 74,6% cho rằng mức độ chỉ đạt ở trung bình và 4, 8% đánh giá ở mức yếu nhưng cũng nội dung này, HS lại đánh giá ở hạng nhất với TTB = 3,67 và 59,7% cho rằng đạt ở mức khá tốt, độ chênh tới 19 hạng giữa 2 đối tượng khảo sát đã thể hiện cách suy nghĩ, cảm nhận có khác nhau rõ nét. Xếp cùng hạng 18/21 nội dung là “Việc lắp đặt, bố trí, sử dụng hệ thống điện trong trường” với TTB = 3,29, độ lếch chuẩn là 0,66 trong đó 65,5% đánh giá ở mức trung bình và 5,6% cho rằng thực hiện ở mức yếu. Còn nội dung “Lắp đặt tranh ảnh, khẩu hiệu, trang trí ở trong lớp học” cùng có TTB = 3,29 nhưng độ lệch chuẩn cao hơn (0,79) trong đó có 48,8% cho rằng chỉ đạt ở mức trung bình và có đến 14,3% là loại yếu. Ở nội dung này thứ hạng chênh nhau giữa 2 đối tượng khảo sát là 13 hạng cũng thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau.
Đối với HS được khảo sát: nội dung “Màu sơn trong/ngoài của các khối công trình xây dựng của trường” xếp thứ nhất (TTB là 3,67 và độ lệch chuẩn 0,77 trong đó 49,7% cho rằng mức độ thực hiện khá tốt); nội dung “Lắp đặt tranh ảnh, khẩu hiệu, trang trí ở trong phòng thí nghiệm, phòng thực hành bộ môn, phòng thư viện, phòng thiết bị, nhà thi đấu đa năng” được xếp thứ 2/21 nội dung với TTB là 3,63 nhưng độ lệch chuẩn cao (0,85) thể hiện có nhiều ý kiến khác nhau trong HS và 49,9% cho rằng đã thực hiện ở mức khá tốt nhưng cũng có đến 4,2% HS cho rằng chưa thực hiện hoặc 8,9% xếp loại yếu kém. Độ chênh xếp hạng của 2 đối tượng khảo sát là 15 bậc, mức chênh khá lớn trong nhìn nhận, đánh giá mức độ thực hiện. nội dung “Bố trí khối phòng học, phòng làm việc, phòng thí nghiệm, phòng thư viện, phòng thiết bị, nhà thi đấu đa năng, nhà xe, nhà bảo vệ…tạo được sự thuận lợi, liên thông khi di chuyển giữa các khối công trình để làm việc, giảng dạy, giải trí, liên hệ công tác nhanh, hiệu quả” xếp thứ 3/21 nội dung có TTB là 3,62 và 55,7% đã đánh giá mức khá tốt nhưng độ lêch chuẩn lên đến 0,78 và 38,3% đã đánh giá ở mức trung bình, độ chênh xếp hạng là 8 mức. Nội dung HS đánh giá thấp nhất là “Thường xuyên chăm sóc, cắt tỉa nhánh cây, hoa kiểng” với TTB = 3,17, độ lệch chuẩn là 0,64 trong đó có 56,2% cho rằng mức độ thực hiện ở mức trung bình và 13,3% mức yếu. Nội dung “Khuôn viên trường có khu vực trồng hoa, cây kiểng” được xếp hạng 19/ 21 nội dung với TTB là 3,31 và độ lệch chuẩn là 0,65, thứ hạng cách biệt giữa 2 đối tượng khảo sát là 10 bậc. Trong khí đó “Vệ sinh các dãy lớp học, các phòng làm việc, khu vực trong trường, xung quanh trường” có vị trí cùng hạng 19/ 21 nội dung với TTB = 3,31 nhưng đô lệch chuẩn ít hơn (0,59 so với 0,65) trong đó có 56% đánh giá mức trung bình và 6,7% là mức yếu.
Ngoài ra, chúng tôi phỏng vấn GV, NV của các trường THPT huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương kết quả như sau:
- GV2 có ý kiến: “cảnh quan sư phạm nhà trường cơ bản đáp ứng được nhu cầu của CB, GV, HS. Khối phòng học, phòng làm việc đảm bảo sạch sẽ, thoáng mát, đẹp, tuy nhiên nhà trường chưa đảm bảo đủ phòng học buổi hai do số lượng lớp nhiều”. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
- GV3 cho biết: “Các hoat động ngoại khóa được tổ chức đa dạng, thu hút học sinh đặc biệt là các hoạt động văn nghệ, TDTT, hội trại, về nguồn, chăm sóc công trình thanh niên…”
- Kết quả phỏng vấn NV1 cho rằng: “Các khối phòng học được sửa chữa, sơn mới những năm gần đây; các thiết bị được quan tâm sửa chữa thường xuyên nhưng có lúc chưa kịp thời. Các phòng học xây dựng trước đây có diện tích nhỏ, số lượng HS mỗi lớp nhiều nên phòng học chật chội, ngột ngạt mặc dù có rèm che nắng, trang bị đèn quạt đảm bảo các phòng…”
- NV2 cho biết: Công tác vệ sinh các lớp được giao cho HS thực hiện, các dãy nhà vệ sinh HS, cầu thang các dãy lầu và sân trường được thuê mướn lao công thực hiện đảm bảo nhưng có lúc bị ảnh hưởng của thiếu nước, không dọn dẹp kịp thời và ý thức một số HS chưa tốt…”.
2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THPT thuộc huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
Chúng tôi tiến hành khảo sát mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THPT. Kết quả xử lý thông tin trong phiếu khảo sát được trình bày ở bảng 2.17 sau đây:
Bảng 2.17. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THPT
Thông qua kết quả khảo sát được trình bày trong bảng 2.17, tác giả có những phân tích và nhận xét cụ thể như sau:
- Các yếu tố khách quan
Trong số 4 yếu tố khách quan mà tác giả liệt kê thì yếu tố được xếp ở thứ hạng 2 trong nhóm các yếu tố khách quan là “Sự quan tâm và phối hợp giáo dục của chính quyền địa phương” (TTB là 4,26). Các yếu tố còn lại như: Chủ trương, chính sách của chính quyền các cấp và của ngành giáo dục; điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của địa phương; sự hiểu biết và phối hợp của phụ huynh học sinh, tuy có thứ hạng khác nhau nhưng TTB chênh lệch không đáng kể (4,23 và 4,24) và đều được đánh giá là ảnh hưởng “rất nhiều” đến công tác xây dựng VHNT của hiệu trưởng các trường THPT.
- Các yếu tố chủ quan Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Trong số 3 yếu tố chủ quan mà tác giả liệt kê, có thể nhận thấy cả 3 yếu tố đều có TTB khá gần nhau (từ 4,23 đến 4,48) và rơi vào mức ảnh hưởng “rất nhiều” đến công tác xây dựng VHNT ở trường THPT. Yếu tố xếp đầu tiên trong nhóm các yếu tố chủ quan và đứng thứ 1 trong tổng số tất cả các yếu tố là “Trình độ, năng lực của hiệu trưởng” (TTB là 4,48). Hiệu trưởng trường THPT là người đứng đầu cơ sở giáo dục, là người chịu trách nhiệm quản lý mọi hoạt động của nhà trường và chịu trách nhiệm trước cấp trên về mọi sự quản lý đó. Hiệu trưởng là người dẫn dắt thực hiện sứ mệnh cao cả của nhà trường. Do vậy để quản lý được nhà trường, người hiệu trưởng cần có những yêu cầu cơ bản về trình độ, năng lực, được đào tạo quản lý và có nghiệp vụ quản lý nhà trường. Có trình độ quản lý thì mới thực hiện được một cách có chất lượng công tác quản lý của mình và thể hiện được những việc đã làm được thông qua hồ sơ, sổ sách và kế hoạch quản lý, mới tạo được niềm tin, uy tín trước cán bộ, GV nhà trường, từ đó dẫn dắt, động viên họ thực hiện một cách tốt nhất các công việc của nhà trường. Chính vì vậy, yếu tố này được đánh giá ở thứ hạng cao là điều dễ hiểu.
Các yếu tố còn lại như: Nhận thức của hiệu trưởng và các thành viên trong nhà trường; điều kiện các nguồn lực hiện có của nhà trường, tuy có thứ hạng khác nhau nhưng TTB chênh lệch không đáng kể (4,23 và 4,24) và đều được đánh giá là ảnh hưởng “rất nhiều” đến công tác xây dựng VHNT của hiệu trưởng các trường THPT.
Tóm lại, các yếu tố thuộc về khách quan và chủ quan đều có TTB từ 4,23 đến 4,48, như vậy có thể kết luận, việc xây dựng văn hóa nhà trường của hiệu trưởng trường THPT thuộc huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương chịu ảnh hưởng bởi cả các yếu tố khách quan và chủ quan. Mặc dù có những yếu tố được xếp ở thứ hạng cao hơn so với nhóm các yếu tố khác, nhìn chung các đều được đánh giá là ảnh hưởng “rất nhiều” đến công tác xây dựng VHNT của hiệu trưởng các trường THPT. Lãnh đạo các trường THPT thuộc huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương cần quan tâm đến kết quả trên, trong quá trình thực hiện các biện pháp xây dựng VHNT ở trường THPT.
2.6. Đánh giá chung về xây dựng văn hóa nhà trường
2.6.1. Ưu điểm
Công tác xây dựng VHNT ở các trường THPT luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Sở GD&ĐT tỉnh Bình Dương, của cấp uỷ, chính quyền các địa phương.
Công tác xây dựng VHNT ở các trường THPT đã được các lãnh đạo nhà trường quan tâm. Đa số CBQL, GV, NV đều có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác xây dựng VHNT. Đặc biệt là trong những năm gần đây khi mà kinh tế – xã hội của huyện Dầu Tiếng ngày càng phát triển, việc xây dựng VHNT ở các trường THPT đã được người dân quan tâm, ủng hộ, có nhiều thuận lợi. Công tác xây dựng CSVC, cảnh quan sư phạm đã được nhà trường quan tâm đầu tư, sửa chữa, mua sắm bổ sung phục vụ cho các hoạt động giáo dục. Các kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường đã được xây dựng, các nội quy, quy định được thiết lập, có huy động được sự đóng góp ý kiến của CBQL, GV, NV, HS và CMHS ở những thời điểm khác nhau và hoàn thiện theo từng năm học.
Việc phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường cũng đã được triển khai và bước đầu thu được những kết quả nhất định. Nhà trường cũng đã chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp và thực hiện một số biện pháp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của nhà trường, các tổ chức chính trị xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm từng bước nâng cao chất lượng VHNT ở các trường THPT; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và ứng xử văn minh của CB, GV, NV, HS góp phần ổn định xã hội và môi trường giáo dục.
Đa số HS nhận thức về tầm quan trọng của VHNT và cũng có hứng thú trong học tập và tìm hiểu về xây dựng văn hóa nhà trường ở trường THPT.
2.6.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Bên cạnh những ưu điểm, những mặt mạnh của việc xây dựng VHNT ở trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, qua kết quả thăm dò, khảo sát thực trạng về xây dựng VHNT ở các nhà trường, công tác xây dựng văn hóa nhà trường của trường THPT còn những hạn chế, tồn tại nhất định:
- Nhận thức của một số CBQL, GV, NV và HS về xây dựng văn hóa nhà trường còn hạn chế, chưa đầy đủ. Việc đầu tư các nguồn lực và thời gian cho hoạt động này chưa thỏa đáng.
- Công tác xây dựng VHNT của nhà trường đã được quan tâm, chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, công tác tổ chức chưa thật sự “bài bản”, dẫn đến thiếu trọng tâm, trọng điểm, chưa thường xuyên, còn mang tính hình thức, vụ việc. Chiến lược xây dựng nhà trường đa phần lấy mẫu của trường khác, đưa ra hội đồng sư phạm góp ý nhưng cũng còn mang tính chất chung chung, thiếu cụ thể, chưa gắn kết với thực tiễn của từng trường THPT trên địa bàn.
- Công tác xây dựng cảnh quan môi trường, trồng chăm sóc hoa kiểng, bố trí các phòng học, phòng làm việc, trang trí bên trong các phòng… chưa hợp lý, có lúc chưa kịp thời. Công tác vệ sinh khuôn viên, các dãy nhà vệ sinh có lúc chưa đảm bảo. Việc bố trí kinh phí cho thực hiện xây dựng VHNT được quan tâm nhưng chưa tương xứng với yêu cầu đạt ra, có lúc duyệt chi sửa chữa còn chậm.
- Nội dung xây dựng VHNT và bộ quy tắc ứng xử còn rập khuôn, chưa chú trọng đến việc hướng HS rèn luyện kỹ năng ứng xử, kỹ năng vận dụng kiến thức pháp luật để giải quyết các vấn đề của thực tiễn cuộc sống.
- Các trường chưa huy động được đông đảo CBQL, GV, NV và HS tham gia xây dựng chiến lược phát triển nhà trường, xác định các giá trị cốt lõi và xây dựng qui tắc ứng xử trong nhà trường một cách có hiệu quả.
- Sự phối hợp với các lực lượng ngoài nhà trường, đặc biệt là cha mẹ học sinh và chính quyền địa phương trong công tác xây dựng VHNT chưa thường xuyên; thiếu sự chỉ đạo đồng bộ, thống nhất từ trên xuống dưới.
2.6.3. Nguyên nhân của các hạn chế
Thể chế cho công tác bồi dưỡng, xây dựng VHNT chưa đủ mạnh; chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ, ràng buộc hay chính sách, chế độ cụ thể về việc phối hợp xây dựng văn hóa nhà trường.
Các cơ quan, các tổ chức chưa thật quan tâm, phối hợp với nhà trường trong xã hội hóa công tác xây dựng VHNT. Khả năng tập hợp và khai thác thế mạnh các lực lượng GD của nhà trường có phần hạn chế, chưa thu hút nhiều sự quan tâm nhiệt tình của các lực lượng giáo dục bên ngoài nhà trường, nhất là các lực lượng xã hội.
Nhận thức về vị trí, vai trò của VHNT trong nhà trường còn có khoảng cách khá xa so với nhiệm vụ chuyên môn của ngành GD&ĐT. Do áp lực thi cử còn nặng nên việc “dạy chữ” còn đề cao hơn “dạy người” trong thực tiễn.
Việc kiểm tra đánh giá công tác xây dựng VHNT trong trường THPT chưa có tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể, tính ràng buộc chưa cao và chưa được đề cập trong các hình thức kiểm tra đánh giá.
Thực tế cho rằng các biện pháp quản lý VHNT chưa được thực hiện theo đúng một quy trình từ lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá. Bởi nhà trường THPT luôn xem các yếu tố thuộc về VHNT tồn tại một cách ngẫu nhiên và nhà trường nào cũng xuất hiện những yếu tố đó. Chính vì thế có những yếu tố thuộc về VHNT được quản lý nhưng không theo phương pháp quản lý xây dựng VHNT và có những yếu tố không được đưa vào quản lý.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
Qua kết quả khảo sát về văn hóa nhà trường và xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đối với 252 CBQL, GV, NV và 566 học sinh ở trường THPT cho thấy:
Nhìn chung CBQL, GV và HS đều nhận thức được tầm quan trọng của VHNT và xây dựng VHNT trong trường THPT. Các nhà trường bằng các phương thức khác nhau đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến, VHNT trong trường THPT. Các trường THPT đã phát huy những thuận lợi, khắc phục hạn chế và sử dụng các nguồn lực hiện có để tổ chức thực hiện và đã thu được kết quả nhất định. Đa số các nội dung khảo sát đều được đánh giá đạt được ở mức “khá”. Mức độ này cũng đã phản ảnh sự cố gắng, nỗ lực của các nhà trường trong công tác thực hiện VHNT và xây dựng VHNT trong trường THPT.
Đây cũng chính là những cơ sở đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động xây dựng VHNT đối với các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương nhằm khắc phục những hạn chế, phát huy những điểm mạnh để trong thời gian tới xây dựng VHNT trong trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương được tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường Trung học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
