Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Thực trạng nợ xấu và xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam

Trong những năm gần đây, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) và các ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đã tập trung vào việc giải quyết nợ xấu bằng nhiều biện pháp khác nhau và đã đạt được những tiến bộ đáng kể. Kể từ khi Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội có hiệu lực từ ngày 15/8/2017, đến tháng 7/2023, các ngân hàng đã xử lý được 425,9 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho biết, tỷ lệ nợ xấu nội bảng năm 2023 đã tăng lên 4,55%, so với mức 2,03% vào cuối năm 2022.

Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD

Từ năm 2007, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã liên tục gia tăng, trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ và quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ nợ xấu đã tăng 51% từ năm 2008 đến 2011, gấp đôi so với tăng trưởng tín dụng. Tổng nợ xấu đã tăng lên 85.000 tỷ đồng, chiếm 3,3% tổng dư nợ, và sau đó lên 4,86% vào cuối năm 2012, trước khi giảm xuống còn 2,46% vào cuối năm 2016 và 2,56% vào tháng 2/2017.

Để đối phó với tình trạng nợ xấu gia tăng trong hệ thống ngân hàng, Chính phủ đã triển khai nhiều biện pháp cấp bách nhằm giảm bớt gánh nặng này. Theo Quyết định 254/QĐ-TTg ngày 1 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng, kế hoạch tái cấu trúc các tổ chức tín dụng từ năm 2011 đến 2015 đã được thông qua. Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 7 tháng 1 năm 2013 cũng đã đề xuất các giải pháp nhằm giảm bớt khó khăn cho sản xuất và kinh doanh, hỗ trợ thị trường, và giải quyết nợ xấu. Các tổ chức tín dụng được yêu cầu tăng cường biện pháp tự giải quyết nợ xấu, bao gồm đánh giá lại và cơ cấu lại nợ, sử dụng quỹ dự phòng rủi ro, giảm thiểu nợ xấu mới phát sinh và cải thiện quy trình đánh giá GTTT của nợ xấu. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ pháp lý liên quan đến tài sản đảm bảo cho vay, nhằm thúc đẩy quá trình xử lý nợ xấu một cách nhanh chóng.

Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và bất cập trong quá trình mua bán và xử lý nợ xấu. Theo báo cáo hoạt động kinh doanh của VAMC, đa số dư nợ được xử lý bằng việc mua lại khoản nợ từ các tổ chức tín dụng lớn, trong khi hoạt động mua bán nợ đối với các ngân hàng yếu kém và bị kiểm soát đặc biệt còn gặp nhiều khó khăn do các quy định và cơ chế của các ngân hàng này. Do đó, nhiều tổ chức tín dụng phải thực hiện trích lập dự phòng rủi ro khá lớn, dẫn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh không cao. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Ngoài ra, Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong giai đoạn 2013 – 2020. Mục tiêu của Chính phủ là giảm tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng xuống dưới 3% tổng dư nợ tín dụng. Sau đó, các quyết định như Quyết định 1058/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 – 2020” và Quyết định số 689/QĐ-TTg ngày 08/6/2022 phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2021-2025” đã giúp đẩy mạnh các giải pháp tái cơ cấu và xử lý nợ xấu, làm giảm rủi ro tín dụng và kiểm soát nợ xấu toàn hệ thống đạt hiệu quả đáng kể.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 14/2021/TT-NHNN quy định về việc các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài có thể cơ cấu lại khoản vay (thời hạn trả nợ, giảm miễn lãi, phí, hoặc giữ nguyên nhóm nợ) để hỗ trợ các khách hàng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19, góp phần giảm áp lực nợ xấu lên hệ thống ngân hàng. Trong những năm tiếp theo, NHNN tiếp tục ban hành thêm các thông tư về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ như Thông tư số 02/2022/TT-NHNN và Thông tư 02/2023/TT-NHNN nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn do bối cảnh kinh tế chung còn nhiều bất ổn.

Nợ xấu vẫn là thách thức lớn trong bối cảnh lạm phát và lãi suất tăng cao, ảnh hưởng đến chất lượng tài sản của các ngân hàng. Do đó, các ngân hàng phải đối mặt với rủi ro gia tăng tỷ lệ nợ xấu. Rủi ro nợ xấu tăng cao trong giai đoạn 2023, với xu hướng tiếp tục tăng do ảnh hưởng từ ngành bất động sản, điều kiện liên quan đến bất động sản bị thắt chặt, tính thanh khoản tài sản giảm sút, và thị trường trái phiếu doanh nghiệp bị kiểm soát.

Theo thống kê từ 26 ngân hàng Việt Nam (không bao gồm NVB), tình hình nợ xấu cuối quý I/2024 tiếp tục tăng, đạt gần 2,5% sau khi đã giảm mạnh xuống 2,15% vào cuối năm 2023, quay trở lại mức của cuối quý III/2023. Tổng số nợ xấu lên tới 222,5 nghìn tỷ đồng, tăng 26,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 28 ngân hàng, 26 ngân hàng ghi nhận sự gia tăng nợ xấu so với cuối năm 2023, chỉ có VPB và BIDV ghi nhận mức giảm, nhưng không đáng kể.

Một số ngân hàng cho biết, cả nợ nhóm 2 và nợ tái cơ cấu đều có xu hướng gia tăng. Mặc dù tỷ lệ tổng thể hiện nay thấp hơn so với giai đoạn quý II-III/2020 (thời kỳ COVID-19), nhưng khi xem xét riêng từng phần, tỷ lệ nợ xấu (nhóm 3-5) và nợ nhóm 2 đang tăng đáng kể, cho thấy khả năng xuất hiện của một lớp nợ xấu mới. Trong năm 2023, tỷ lệ nợ xấu có xu hướng cao và giảm từ quý II/2023 nhưng lại tăng trở lại vào đầu năm 2024. Tỷ lệ dự phòng cho nợ xấu (LLR) giảm trong quý I/2024 sau khi tăng nhẹ vào cuối năm 2023, điều này cho thấy áp lực dự phòng cho hệ thống ngân hàng vẫn rất lớn trong thời gian tới.

Trong bối cảnh nợ xấu tiếp tục gây khó khăn, bộ đệm dự phòng ngày càng mỏng. Các ngân hàng lớn như VCB, BID, CTG, TCB và BAB có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao hơn 100%, trong khi các ngân hàng khác có dấu hiệu giảm và không vượt quá 88% vào cuối quý I/2024.

2.2. Thực trạng hiệu quả xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

2.2.1. Công ty TNHH một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam

2.2.1.1. Hoàn cảnh ra đời

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 – 2010 cùng với những khó khăn nội tại đã đẩy kinh tế Việt Nam vào tình trạng đặc biệt khó khăn, đặc biệt từ 2012 – 2014.

Ngành ngân hàng, ví như huyết mạch của nền kinh tế, cũng gặp nhiều khó khăn, với nợ xấu tăng nhanh, thanh khoản yếu kém, và khả năng sinh lời suy giảm. Đến 30/09/2012, nợ xấu ngân hàng đã lên đến 17,21% tổng dư nợ tín dụng. Trước tình hình này, Chính phủ và ngành ngân hàng cần có giải pháp mạnh mẽ để khơi thông dòng tín dụng và xử lý nợ xấu.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, thành lập công ty quản lý tài sản (AMC) là giải pháp quan trọng. Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 53/2013/NĐ-CP và Quyết định 843/QĐ-TTg vào năm 2013 để thành lập Công ty TNHH một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). VAMC là công ty 100% vốn nhà nước, hoạt động theo các quy định của Nghị định 53/2013/NĐ-CP và Thông tư 19/2013/TT-NHNN, bắt đầu thực hiện mua nợ xấu của các TCTD từ 01/10/2013. VAMC có chức năng tổng hợp, phân loại, đánh giá và xây dựng danh mục nợ xấu để thu hồi nợ hiệu quả, như đôn đốc thu hồi, khởi kiện, cơ cấu nợ, bán nợ, hoặc ủy quyền cho TCTD thu hồi nợ. Hoạt động của VAMC thu hút sự quan tâm lớn từ các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế, tạo cơ hội học hỏi kinh nghiệm và áp dụng vào thị trường Việt Nam.

2.2.1.2. Mục tiêu và cơ chế hoạt động theo từng giai đoạn

  • Kể từ khi thành lập tới nay, quá trình hoạt động của VAMC có thể chia ra làm 2 giai đoạn chính:

Giai đoạn 2013 – 2016: VAMC xác định nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn này là phát hành trái phiếu đặc biệt (TPĐB) để thu gom nợ xấu từ các TCTD, giúp họ giảm áp lực trích lập dự phòng theo qui định để xử lý nợ xấu trong điều kiện tài chính khó khăn, rảnh tay đầu tư tín dụng mới góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cùng với phát hành TPĐB gom nợ xấu, VAMC tiến hành phân loại nợ đã mua để có giải pháp hợp lý cho việc xử lý theo các nhóm nợ xấu. Đồng thời, VAMC đã tích cực hỗ trợ TCTD xử lý nợ xấu, miễn giảm lãi vay cho khách hàng. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Giai đoạn 2017 – nay: VAMC chuyển trọng tâm sang mua nợ theo giá trị thị trường (GTTT) và xử lý nợ đã mua. Tuy nhiên, việc mua lại nợ xấu theo GTTT vẫn chưa đạt được theo như mục tiêu do vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Ngoài ra, từ 2018, VAMC chỉ mua nợ xấu bằng TPĐB theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhằm đảm bảo an toàn, an ninh hệ thống, chỉ tập trung vào một số ít các TCTD yếu kém, vì vậy lượng mua nợ xấu bằng TPĐB kể từ năm 2018 đã giảm đáng kể so với giai đoạn trước đó.

Định hướng các năm tiếp theo: NHNN đã phê duyệt Chiến lược phát triển của VAMC đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo quyết định số 2024/QĐ-NHNN ngày 27/11/2020. Mục tiêu tổng quát của chiến lược là phát triển VAMC trở thành trung tâm trong hoạt động xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại hệ thống các TCTD, thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bán nợ, đảm bảo sự phát triển an toàn, bền vững của các TCTD, có đủ năng lực và nguồn lực để thực hiện chức năng và nhiệm vụ mua, bán và xử lý nợ xấu, định giá, đấu giá tài sản. Với chỉ đạo sát sao của Chính phủ, NHNN Việt Nam, sự ủng hộ của các Bộ, ngành và chính quyền trong cả nước; với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ nhiệt huyết, có năng lực, phẩm chất tốt, kinh nghiệm lâu năm từ NHNN Việt Nam và các TCTD, hoạt động của VAMC đang từng bước vượt qua khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, đóng góp vào sự ổn định của hệ thống TCTD, phát triển kinh tế đất nước.

Tổng kết lại quá trình hoạt động, có thể thấy rằng VAMC đã hoàn thành tốt vai trò của mình trong việc phối hợp với các TCTD duy trì tỷ lệ nợ xấu của hệ thống TCTD ở mức dưới 3%, triển khai các biện pháp xử lý nợ phù hợp để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phục hổi, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. Có thể thấy VAMC có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động mua bán và xử lý nợ xấu của các TCTD.

2.2.1.3. Bộ máy tổ chức

Hiện nay, VAMC có Trụ sở chính đặt tại thành phố Hà Nội, và có 2 chi nhánh (Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh và Chi nhánh Sàn Giao dịch nợ).

2.2.2. Công ty Quản lý tài sản – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Trong giai đoạn đầu, hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu theo GTTT của VAMC được tập trung triển khai thực hiện tại trụ sở chính với đơn vị đầu mối là Ban Bán và Xử lý nợ (tiền thân của Ban Đầu tư và mua bán nợ thị trường hiện nay). Trong quá trình thực hiện mua bán, xử lý nợ xấu theo GTTT cũng như đánh giá thực tiễn quản lý các khoản nợ xấu đã mua bằng TPĐB, VAMC nhận thấy các khoản nợ, tài sản bảo đảm, khách hàng vay, đối tác mua lại nợ và các tổ chức tín dụng (TCTD) có nợ xấu trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khu vực phía Nam chiếm tỷ trọng tương đối lớn. Trong khi đó, VAMC chỉ có trụ sở đặt tại Hà Nội nên việc tiếp cận thị trường, tìm kiếm khách hàng và triển khai các hoạt động mua bán nợ xấu theo GTTT gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Từ thực tế và đặc điểm của thị trường mua bán nợ xấu chủ yếu tập trung ở khu vực phía nam, VAMC đã nhanh nhạy có chủ trương thành lập Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh để đáp ứng yêu cầu của hoạt động mua bán nợ theo GTTT. Được sự chấp thuận của NHNN, tháng 10 năm 2018, VAMC đã thành lập Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam – Chi nhánh TP Hồ Chí Minh để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là mua bán, xử lý nợ xấu theo GTTT của các chi nhánh tổ chức tín dụng tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh khu vực phía Nam.

Chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của Chi nhánh TP Hồ Chí Minh đã dần được bổ sung, hoàn thiện trong 05 năm qua. Từ khi thành lập đến tháng 3 năm 2022, hoạt động mua bán, xử lý nợ theo GTTT của Chi nhánh chỉ bao gồm việc việc tìm kiếm khách hàng, đánh giá và đề xuất phương án mua bán, xử lý nợ với Tổng giám đốc, Hội đồng thành viên VAMC xem xét, quyết định mua nợ theo GTTT. Đến tháng 4 năm 2022, trên cơ sở đánh giá kết quả quá trình thực hiện nhiệm vụ mua bán, xử lý nợ theo GTTT cùng với sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ tại Chi nhánh, Hội đồng thành viên đã quyết định phân cấp cho Giám đốc Chi nhánh TP Hồ Chí Minh quyết định mua, bán, xử lý đối với khoản nợ xấu mua theo GTTT với giá mua dưới 30 tỷ đồng, cùng với việc phân cấp quyết định mua bán, xử lý nợ theo GTTT, Hội đồng thành viên cũng đã chấp thuận bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ đánh giá, quản trị rủi ro cho Chi nhánh thông qua việc thành lập Phòng Kế hoạch và Quản lý rủi ro trực thuộc Chi nhánh.

Cơ cấu tổ chức hiện tại của Chi nhánh khá hoàn thiện, gồm Ban Giám đốc và 04 phòng ban chính. Cơ cấu tổ chức trên nhằm phục vụ cho mục tiêu chính của Chi nhánh là tập trung vào lĩnh vực mua bán nợ theo GTTT, với Giám đốc Chi nhánh là cấp ra quyết định cao nhất tại Chi nhánh. Về các phòng ban, P.MB&XLN là hạt nhân chính đóng vai trò phát triển hoạt động kinh doanh, tìm kiếm và đánh giá các khoản nợ xấu mua theo GTTT, đồng thời quản lý theo dõi các khoản nợ sau khi mua.

P.KH&QLRR đóng vai trò đưa ra các ý kiến thẩm định, cố vấn cho Ban Giám đốc về phương án mua và xử lý các khoản nợ mà P.MB&XLN đưa ra, đồng thời có vai trò tổng hợp số liệu, báo cáo cấp thẩm quyền về hoạt động mua bán, xử lý nợ của Chi nhánh. P.HCTC đóng vai trò quản lý nhân sự, quản lý các công cụ, dụng cụ, tài sản của Chi nhánh, đảm bảo công tác hoạt động ổn định về mặt con người và cơ sở vật chất cho các phòng ban. Phòng Kế toán là đơn vị theo dõi, quản lý, hạch toán và báo cáo thu chi, quản lý kho quỹ của Chi nhánh.

2.2.3. Mô hình kinh doanh của Công ty Quản lý tài sản – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Mô hình kinh doanh của Chi nhánh được tóm lược trong bảng Mô hình kinh doanh (Business Model Canvas) dưới đây.

Bảng 2.1 Mô hình kinh doanh của VAMC – Chi nhánh TP.HCM

Đối với nhiệm vụ chính là mua nợ xấu từ TCTD theo GTTT đối với các TCTD trên địa bàn khu vực phía nam, Chi nhánh có các hoạt động chính là tìm kiếm nợ xấu có tiềm năng mua, thực hiện mua nợ từ TCTD và xử lý nợ xấu đã mua, và các hoạt động tập trung vào giải pháp giá trị chính đem lại cho các đối tác của Chi nhánh như sau:

Không vì mục tiêu lợi nhuận – Đây là điểm khác biệt lớn nhất của VAMC nói chung và Chi nhánh nói riêng khi so với các đơn vị mua bán nợ khác trên thị trường, do các công ty khác này đều hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Cơ chế này là cơ sở để VAMC có thể cạnh tranh trong lĩnh vực mua bán nợ xấu, có lợi thế đàm phán với các bên như TCTD, khách hàng vay, nhà đầu tư, …

Đối với TCTD: Mua nợ xấu theo GTTT (mua đứt bán đoạn) – Là phương thức được các TCTD hết sức ưu tiên khi mua bán nợ với VAMC, do TCTD có thể thu hồi nợ sớm hơn so với việc dùng các biện pháp xử lý nợ khác, đồng thời có thể chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ đối với khoản nợ cho VAMC để VAMC xử lý.

Đối với khách hàng nợ xấu: Hỗ trợ phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc xử lý dứt điểm nợ xấu – Với đa dạng phương thức xử lý nợ và kinh nghiệm trong lĩnh vực xử lý nợ xấu, đồng thời do hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, ưu tiên quyền lợi của khách hàng, nên có nhiều phương thức giúp khách hàng có thể phục hồi hoạt động thông qua việc cơ cấu lại khoản nợ, hoặc bán nợ cho nhà đầu tư quan tâm, cấn trừ tài sản bảo đảm với nghĩa vụ nợ, giúp khoản nợ được xử lý dứt điểm.

Đối với nhà đầu tư: Phương thức mua bán nợ trả chậm – Do nhà đầu tư thông thường khi đi mua nợ xấu cũng thường cần hỗ trợ về mặt tài chính để tối ưu về đòn bẩy tài chính và tỷ suất lợi nhuận, do đó việc mua bán nợ trả chậm ở đây chính là việc Chi nhánh hỗ trợ lại tài chính cho khách hàng, khi mua khoản nợ chỉ cần trả trước khoảng 20-30% giá trị hợp đồng mua bán nợ, phần còn lại có thể trả chậm lên tới 12 tháng theo lãi suất tham chiếu của VAMC.

Để thực hiện được những điều trên, có hai nguồn lực chính mà Chi nhánh cần chú trọng là vốn và nhân sự. Nguồn lực vốn giúp Chi nhánh có thể đàm phán, mua được các khoản nợ với nhiều quy mô khác nhau, từ vài tỷ đồng cho tới cả nghìn tỷ đồng. Và nguồn lực nhân sự chính là yếu tố quan trọng để có thể sử dụng nguồn lực vốn một cách hiệu quả, do trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, yếu tố nhân sự đóng vai trò chủ chốt từ khâu tìm kiếm khoản nợ, thẩm định khoản nợ đến việc ra quyết định, và quản lý khoản nợ sau khi ra quyết định. Chính vì thế, hai nguồn lực này là hai nguồn lực quan trọng nhất, sẽ được tác giả tập trung phân tích nhiều hơn ở các mục sau. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Về mặt tài chính (bao gồm cấu trúc chi phí và nguồn thu), khoản nợ xấu tại Chi nhánh nói riêng hay VAMC nói chung khi mua về được hạch toán như một loại hàng tồn kho (trên Bảng cân đối kế toán của VAMC gọi là “Nợ mua bằng nguồn vốn không phải TPĐB”), được đánh giá và trích lập dự phòng rủi ro hàng năm theo quy định. Việc xử lý nợ thông qua các phương thức xử lý, xử lý toàn phần hay xử lý một phần đều ghi nhận doanh thu và giá vốn như khi bán một hàng hóa thương mại.

Nhìn chung, mô hình kinh doanh của Chi nhánh nói riêng hay VAMC nói chung trong lĩnh vực mua bán nợ theo GTTT khá đặc thù, gần như không có nhiều mô hình tương tự trên thị trường tài chính Việt Nam. VAMC không hoạt động giống như một ngân hàng, mà VAMC có mô hình kinh doanh gần giống nhất với các công ty thương mại, với tài sản được mua đi bán lại là khoản nợ xấu. Với mô hình này, Chi nhánh có thể tập trung vào mục tiêu quan trọng nhất được giao là mua và xử lý nợ xấu theo GTTT, đồng thời có thể tận dụng các ưu thế để phát triển các sản phẩm, cơ chế riêng biệt nhằm có thể đàm phán với TCTD và đưa ra nhiều giải pháp phù hợp cho khách hàng nợ xấu hoặc nhà đầu tư quan tâm.

2.2.4. Quy trình mua và thu hồi nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh

Nhìn chung, các nghiệp vụ từ khi mua nợ xấu từ TCTD cho đến khi quản lý và xử lý/ thu hồi nợ sau khi mua được VAMC – Chi nhánh TP.HCM thực hiện theo các bước chính dưới đây:

2.2.4.1. Thu thập thông tin

Thông thường, cán bộ P.MB&XLN sẽ thực hiện tìm kiếm, thu thập thông tin các khoản nợ xấu có khả năng mua theo GTTT từ nhiều nguồn khác nhau, ví dụ như các khoản nợ xấu VAMC đã mua bằng TPĐB; các khoản nợ xấu TCTD đề nghị VAMC xem xét mua nợ; các khoản nợ xấu có nhà đầu tư quan tâm; các khoản nợ chào bán trên Sàn Giao dịch nợ VAMC; các nguồn khác… Tuy nhiên, đa số các khoản nợ Chi nhánh đánh giá khả thi thường đến từ việc TCTD chủ động cung cấp thông tin và đề nghị VAMC xem xét mua.

Sau khi làm việc sơ bộ với TCTD, cán bộ cần gửi Công văn quan tâm cho TCTD để có thể thu thập thông tin và hồ sơ khoản nợ một cách chi tiết hơn.

Trên cơ sở hồ sơ khoản nợ và những thông tin thu thập được, P.MB&XLN xem xét, đánh giá sơ bộ về khoản nợ và TSBĐ của khoản nợ, phương án xử lý nợ dự kiến, sau đó lập Báo cáo sơ bộ thông tin khoản nợ (bao gồm thông tin TCTD, khách hàng vay, thông tin dư nợ, tài sản bảo đảm, đánh giá các điều kiện mua nợ, các đề xuất của P.MB&XLN) trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Do luôn phải tìm kiếm để mua những khoản nợ mới để đáp ứng kế hoạch đề ra, bước thu thập thông tin khoản nợ là bước chiếm đa số thời gian làm việc của cán bộ P.MB&XLN, do cần phải đi thu thập thông tin rất nhiều khoản nợ từ các TCTD để có thể tìm được những khoản nợ khả thi, và từ những khoản nợ khả thi lại chỉ có thể thực hiện mua một số khoản nợ thành công. Tuy nhiên, sau khi tìm được khoản nợ phù hợp, thường chỉ mất 1-2 ngày để cán bộ P.MB&XLN có thể thực hiện Báo cáo sơ bộ thông tin khoản nợ.

2.2.4.2. Định giá khoản nợ

Sau khi có Báo cáo sơ bộ thông tin khoản nợ được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Chi nhánh sẽ thực hiện thuê tổ chức thẩm định giá độc lập để định giá khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu chứ không tự thực hiện thẩm định giá để đảm bảo tính khách quan trong quá trình mua bán, xử lý nợ xấu. Thông thường, thời gian để có thể thẩm định giá khoản nợ kéo dài từ 2 tuần cho tới 4 tuần. Trong thời gian chờ này P.MB&XLN có thể đẩy mạnh công tác làm việc với khách hàng, TCTD, nhà đầu tư để thống nhất các nội dung phương án mua bán, xử lý nợ trước khi thực hiện bước tiếp theo.

2.2.4.3. Xây dựng phương án mua và thu hồi nợ

Trên cơ sở kết quả thẩm định giá khoản nợ và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, kết quả làm việc với khách hàng, TCTD, nhà đầu tư, cán bộ P.MB&XLN lập Dự thảo Tờ trình mua và xử lý nợ (bao gồm bao gồm thông tin TCTD, khách hàng vay, thông tin dư nợ, tài sản bảo đảm, kết quả thẩm định giá, đánh giá các điều kiện mua nợ, phương án mua và xử lý nợ, các đề xuất trình cấp thẩm quyền), trình Trưởng P.MB&XLN xem xét. Trường hợp khoản nợ vượt thẩm quyền của Giám đốc Chi nhánh, P.MB&XLN trình Giám đốc Chi nhánh xem xét.

P.KH&QLRR của Chi nhánh thực hiện thẩm định đánh giá, cảnh báo rủi ro mua nợ đối với các khoản nợ do P.MB&XLN của Chi nhánh đề xuất trong thẩm quyền phê duyệt của Giám đốc Chi nhánh. Ban 2 thực hiện thẩm định đánh giá, cảnh báo rủi ro đối với các khoản nợ do Chi nhánh Hồ Chí Minh đề xuất vượt thẩm quyền Giám đốc Chi nhánh. Các nội dung thực hiện Báo cáo thẩm định đánh giá, cảnh báo rủi ro đối với phương án mua và xử lý nợ theo GTTT bao gồm: Tính pháp lý của khoản nợ; Tính tuân thủ về trình tự, thủ tục theo quy định của VAMC; Điều kiện mua nợ theo quy định của Pháp luật, quy định nội bộ của; Cảnh báo rủi ro đối với phương án mua và xử lý nợ được đề xuất; Các nội dung khác (nếu có).

Sau khi có kết quả thẩm định đánh giá, cảnh báo rủi ro: P.MB&XLN tiếp nhận Báo cáo thẩm định đánh giá, cảnh báo rủi ro của Ban 2 /P.KH&QLRR. Trường hợp đánh giá rủi ro có thể phòng ngừa, kiểm soát, P.MB&XLN bổ sung ý kiến giải trình các ý kiến đánh giá của Ban 2/P.KH&QLRR (nếu có) và thực hiện bước tiếp theo của Quy trình này.

Bước này chủ yếu cần khoảng 15-20 ngày để P.MB&XLN có thể hoàn thiện Dự thảo tờ trình mua và xử lý nợ được và Ban 2/ P.KH&QLRR đưa ra được Báo cáo thẩm định đánh giá, cảnh báo rủi ro đối với phương án mua và xử lý nợ theo GTTT.

2.2.4.4. Phê duyệt phương án mua và xử lý nợ Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Cán bộ P.MB&XLN thực hiện: Trên cơ sở Dự thảo Tờ trình mua và xử lý nợ và Báo cáo thẩm định đánh giá, cảnh báo rủi ro; Cán bộ P.MB&XLN thực hiện chỉnh sửa bổ sung, hoàn thiện Tờ trình mua và xử lý nợ (nội dung giống Dự thảo Tờ trình, nhưng có thêm phần tiếp thu, giải trình ý kiến của P.KH&QLRR/ Ban 2) trình Trưởng P.MB&XLN xem xét.

Sau đó, tùy theo cấp thẩm quyền phê duyệt, Giám đốc, TGĐ/PTGĐ, HĐTV lần lượt xem xét Tờ trình mua và xử lý nợ, Báo cáo thẩm định đánh giá, cảnh báo rủi ro, và yêu cầu các đơn vị giải trình những vấn đề cần làm rõ, bổ sung những nội dung còn thiếu (nếu có).

Trường hợp đồng ý, đối với khoản nợ trong thẩm quyền, cấp thẩm quyền phê duyệt Tờ trình mua và xử lý nợ (ghi những điều kiện kèm theo – nếu có).

Tại bước này, khi càng có nhiều cấp thẩm quyền tham gia phê duyệt, càng cần nhiều thời gian để đơn vị kinh doanh giải trình, báo cáo, và hoàn thiện nội dung Tờ trình nếu cần. Do đó, thủ tục ở bước này có thể kéo dài từ 2-3 ngày (đối với thẩm quyền Giám đốc Chi nhánh), cho đến 3-4 tuần hoặc hơn (đối với thẩm quyền cao hơn). Có thể thấy, từ khi tìm được một hồ sơ khoản nợ cho tới khi có được phê duyệt của cấp thẩm quyền và có thể ký kết Hợp đồng mua bán nợ (từ bước 1 tới bước 4), quy trình này của Chi nhánh mất tối thiếu 4 tuần đối với khoản nợ thuộc thẩm quyền Giám đốc Chi nhánh, hoặc tối thiếu 6-8 tuần đối với khoản nợ ngoài thẩm quyền.

2.2.4.5. Thực hiện mua nợ từ TCTD

Trước khi ký Hợp đồng mua bán nợ, P.MB&XLN thực hiện kiểm tra, đối chiếu hồ sơ gốc của khoản nợ (bao gồm hồ sơ về khoản nợ, tài sản bảo đảm và các hồ sơ khác), rà soát tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ gốc lưu tại TCTD. Trường hợp nhận thấy hồ sơ gốc có những khác biệt so với bộ hồ sơ TCTD đã cung cấp, hoặc có những dấu hiệu, thông tin bất lợi có thể ảnh hưởng đến quá trình xử lý sau mua nợ, cán bộ kiểm tra báo cáo các cấp lãnh đạo xem xét, xử lý.

Cán bộ P.MB&XLN soạn thảo Dự thảo Hợp đồng mua bán nợ trình Trưởng P.MB&XLN xem xét. Trưởng P.MB&XLN xem xét rà soát nội dung của Dự thảo Hợp đồng mua bán nợ. P.MB&XLN gửi Dự thảo Hợp đồng mua bán nợ cho TCTD bán nợ đề nghị xem xét thống nhất nội dung Hợp đồng mua bán nợ. Trường hợp TCTD bán nợ yêu cầu mẫu Hợp đồng mua bán nợ khác với mẫu của VAMC hoặc chỉnh sửa, bổ sung các nội dung khác. P.MB&XLN xem xét lấy ý kiến của Ban Pháp chế về Dự thảo Hợp đồng mua bán nợ (nếu cần). Ban Pháp chế rà soát nội dung Dự thảo Hợp đồng mua bán nợ, đưa ra các ý kiến tham vấn (nếu có). P.MB&XLN xem xét ý kiến tham vấn của Ban Pháp chế, tiếp thu chỉnh sửa Dự thảo Hợp đồng mua bán nợ (nếu cần), báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét và trao đổi với TCTD để thống nhất lại nội dung.

Sau khi thống nhất nội dung Hợp đồng mua bán nợ, P.MB&XLN trình cấp có thẩm quyền xem xét, ký kết Hợp đồng mua bán nợ.

Về việc thanh toán cho TCTD, P.MB&XLN phối hợp với P.KT thực hiện chuẩn bị hồ sơ để thanh toán cho TCTD bán nợ. Trường hợp chuyển khoản nợ xấu đã mua bằng TPĐB sang mua theo giá thị trường, P.MB&XLN lập văn bản thông báo việc chuyển khoản nợ mua theo TPĐB sang mua nợ theo GTTT và đề nghị thực hiện thanh toán TPĐB gửi Ban 1. Ban 1 thực hiện thanh toán TPĐB theo quy định. Các đơn vị liên quan nhập dữ liệu trên phần mềm để quản lý khoản nợ và TSBĐ của khoản nợ theo quy định. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Sau khi ký kết Hợp đồng mua bán nợ và thanh toán xong, P.MB&XLN thực hiện nhận bàn giao hồ sơ gốc của khoản nợ, TSBĐ của khoản nợ từ TCTD, sau đó P.MB&XLN thực hiện bàn giao hồ sơ gốc liên quan đến TSBĐ của các khoản nợ cho P.KT. Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ gốc liên quan đến TSBĐ của khoản nợ từ TCTD, P.MB&XLN thực hiện hoặc làm đầu mối phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện các thủ tục pháp lý khác liên quan đến TSBĐ theo quy định (chủ yếu là thực hiện đăng ký thay đổi bên nhận bảo đảm thành VAMC).

Thời gian cho bước này kéo dài khoảng 20 ngày kể từ khi ký kết Hợp đồng mua bán nợ, cho tới khi thanh toán và nhận bàn giao hồ sơ khoản nợ.

2.2.4.6. Quản lý khoản nợ

Sau khi mua khoản nợ từ TCTD, P.MB&XLN thực hiện soạn Thông báo về việc mua nợ từ TCTD, trình cấp có thẩm quyền ký để gửi các khách hàng vay và bên bảo đảm. Định kỳ, P.MB&XLN thực hiện đôn đốc thu hồi nợ, kiểm tra hiện trạng TSBĐ, quản lý, theo dõi thông tin và hồ sơ khoản nợ.

2.2.4.7. Thực hiện thu hồi nợ theo phương án đã được phê duyệt

P.MB&XLN phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức thực hiện bán khoản nợ xấu/ cơ cấu lại khoản nợ xấu/ bán tài sản bảo đảm … theo phương án đã được phê duyệt. Trường hợp thực hiện thu hồi nợ theo phương án đã phê duyệt nhưng không thành công, P.MB&XLN báo cáo tình hình xử lý, trình cấp có thẩm quyền xem xét.

Tổng kết, quy trình với 7 bước chính nêu trên đã khá hoàn thiện và phù hợp với hoạt động hiện tại của Chi nhánh, đồng thời thể hiện đầy đủ các công việc phải thực hiện khi mua nợ và xử lý nợ theo mô hình kinh doanh của Chi nhánh.

2.2.5. Kết quả hoạt động mua nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh

05 năm là một chặng đường phát triển đủ để VAMC – Chi nhánh TP.HCM triển khai có hiệu quả hoạt động mua, bán, xử lý nợ. Riêng đối với việc mua nợ theo GTTT, Chi nhánh đã đạt được những kết quả như sau:

Bảng 2.2 Kết quả hoạt động mua nợ của VAMC – Chi nhánh TP.HCM

Đơn vị tính: khách hàng; tỷ VNĐ

Năm Số khách hàng Dư nợ gốc Dư nợ lãi Giá mua nợ Tăng trưởng mua nợ (%)
2019 7 691,84 477,95 697,55
2020 7 536,52 567,88 480,61 -31%
2021 2 449,78 393,88 462,22 -4%
2022 6 276,53 372,01 505,21 9%
2023 16 699,45 147,93 729,55 44%
Tổng cộng 38 2654,12 1959,64 2875,14  

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động của VAMC – Chi nhánh TP.HCM)

Chi nhánh đã thành công mua nhiều khoản nợ từ các TCTD như Agribank, BIDV, Vietcombank, Vietinbank, DongABank, SHB, … Lũy kế từ khi thành lập đến 31/12/2023, Chi nhánh đã mua nợ theo GTTT với tổng giá mua nợ đạt 2.875,14 tỷ đồng với tổng cộng 38 khách hàng. Số liệu mua nợ của Chi nhánh cho thấy ngay từ khi thành lập (2019), Chi nhánh đã rất năng động và chủ động trong hoạt động mua nợ, với giá mua nợ đạt 697,55 tỷ đồng, với các khoản nợ từ 7 khách hàng (mỗi khách hàng tương ứng với 1 Hợp đồng mua bán nợ). Hoạt động của Chi nhánh cũng bị tác động phần nào trong giai đoạn 2021 – 2022 do ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến việc tiếp cận, thẩm định các khoản nợ bị hạn chế, do đó ảnh hưởng tới tổng giá trị mua nợ cũng như số lượng Hợp đồng mua bán nợ ký kết trong năm 2021 – 2022.

Biểu đồ 2.3 Kết quả hoạt động mua nợ của VAMC – Chi nhánh TP.HCM

Tuy nhiên, từ sau khi được Hội đồng thành viên phân cấp quyết định mua bán, xử lý nợ theo GTTT đối với các khoản nợ có giá mua dưới 30 tỷ đồng, Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh đã tích cực, chủ động triển khai và thực hiện mua các khoản nợ theo GTTT thuộc thẩm quyền quyết định của Giám đốc Chi nhánh. Lũy kế từ tháng 4 năm 2022 đến nay, Chi nhánh đã mua được 19 khoản nợ trong thẩm quyền Giám đốc Chi nhánh với tổng giá mua nợ theo GTTT đạt 276 tỷ đồng. Có thể thấy việc phê duyệt phân cấp thẩm quyền cho Chi nhánh đã ngay lập tức tác động lên hoạt động mua nợ của Chi nhánh, đặc biệt về số lượng khách hàng được Chi nhánh mua nợ. Năm 2023 cũng là dấu mốc của Chi nhánh về số lượng khách hàng được mua nợ và giá trị mua nợ, lần lượt đạt 16 khách hàng với giá mua nợ tổng cộng đạt 729,55 tỷ đồng.

2.2.6. Kết quả hoạt động thu hồi nợ xấu đã mua tại Công ty Quản lý tài sản – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Bên cạnh việc tập trung mua nợ từ TCTD, VAMC – Chi nhánh TP.HCM còn tích cực đẩy mạnh việc thu hồi nợ sau khi đã mua, với nguyên tắc đảm bảo thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ và có chênh lệch tài chính cho VAMC. Đồng thời việc thu hồi nợ còn cần đảm bảo việc tối ưu việc quay vòng vốn của VAMC, tránh để các khoản nợ đã mua tồn đọng lâu.

Bảng 2.3 Kết quả hoạt động thu hồi nợ của VAMC – Chi nhánh TP.HCM

Đơn vị tính: Tỷ VNĐ

Năm Bán nợ Cơ cấu lại khoản nợ Tổng thu hồi nợ Dư nợ gốc xử lý
Thu hồi % Thu hồi %
2019 100,10 67% 49,20 33% 149,30 146,58
2020 428,88 76% 136,58 24% 565,46 360,53
2021 462,22 87% 66,06 13% 528,28 381,59
2022 104,50 45% 126,48 55% 230,98 189,19
2023 69,86 47% 77,24 53% 147,10 113,24
Tổng cộng 1165,55 72% 455,56 28% 1621,11 1191,13

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động của VAMC – Chi nhánh TP.HCM)

Có thể thấy, VAMC – Chi nhánh TP.HCM hiện đang áp dụng 2 phương thức thu hồi nợ sau khi mua là bán nợ và cơ cấu lại khoản nợ, cụ thể như sau:

Bán nợ: Bán khoản nợ xấu cho nhà đầu tư với chính sách thanh toán như sau: trả trước 15-30% giá trị hợp đồng ngay khi ký kết hợp đồng mua bán nợ, phần còn lại được trả chậm trong tối đa 12 tháng với lãi suất khoảng 7-8%/ năm.

Cơ cấu lại khoản nợ: Dựa trên đề nghị về phương án kinh doanh và kế hoạch trả nợ cho khách hàng, VAMC thực hiện cơ cấu lại khoản nợ (bao gồm điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ, điều chỉnh lãi suất, miễn giảm lãi, …) nhằm giúp khách hàng có thể phục hồi từ khó khăn. Thời gian tối đa để thực hiện cơ cấu lại một khoản nợ có thể lên đến 7-8 năm.

Biểu đồ 2.4 Kết quả hoạt động thu hồi nợ của VAMC – Chi nhánh TP.HCM

Do việc ưu tiên phải quay vòng vốn để thực hiện mua bán nợ theo GTTT, tối thiểu hóa thời gian VAMC thực hiện nắm giữ khoản nợ xấu đã mua, bán nợ là phương thức xử lý thu hồi chính tại VAMC – Chi nhánh TP.HCM Trong giai đoạn 2019 – 2023, VAMC – Chi nhánh TP.HCM đã thực hiện mua nợ đối với 38 khách hàng, trong đó 27/38 khách hàng áp dụng phương án bán nợ để thu hồi. Về số liệu thu hồi nợ, bán nợ chiếm 72% kết quả thu hồi nợ kể từ khi bắt đầu hoạt động là năm 2019 đến hết năm 2023, trong khi kết quả thu hồi từ cơ cấu lại khoản nợ chỉ chiếm 28%.

Tỷ lệ dư nợ gốc xử lý là một chỉ số được áp dụng cho VAMC, tương quan giữa việc thu hồi nợ và mua nợ của VAMC, giúp đánh giá tình hình xử lý nợ sau mua của VAMC. Giai đoạn 2019 – 2021 VAMC – Chi nhánh TP.HCM thực hiện nghiệp vụ mua nợ xấu và thu hồi nợ xấu khá ổn định, tỷ lệ thu hồi được duy trì hàng năm trên 50%. Những năm gần đây, tỷ lệ dư nợ gốc xử lý giảm do một số yếu tố như: việc VAMC – Chi nhánh TP.HCM thực hiện tăng mạnh việc mua nợ từ TCTD (tương ứng với việc tăng mẫu số trong công thức); việc thu hồi nợ trong kỳ giảm do khách hàng cũng gặp khó khăn trong vấn đề tài chính, ảnh hưởng việc trả nợ/ thanh toán hợp đồng mua bán nợ cho VAMC (tương ứng với việc giảm tử số trong công thức).

Bảng 2.4 Tỷ lệ dư nợ gốc xử lý của VAMC – Chi nhánh TP.HCM

Đơn vị tính: Tỷ VNĐ Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Năm Dư nợ gốc quản lý đầu kỳ (A) Dư nợ gốc mua trong kỳ (B) Dư nợ gốc xử lý trong kỳ (C) Dư nợ gốc quản lý cuối kỳ D = A+B-C Dư nợ gốc bình quân trong kỳ E= (A+D)/2 Tỷ lệ dư nợ gốc xử lý trong kỳ F = C/E
2019 691,84 146,58 545,26 272,63 53,8%
2020 545,26 536,52 360,53 721,25 633,26 56,9%
2021 721,25 449,78 381,59 789,44 755,35 50,5%
2022 789,44 276,53 189,19 876,78 833,11 22,7%
2023 876,78 699,45 113,24 1.462,99 1.169,89 9,7%

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động của VAMC – Chi nhánh TP.HCM)

Ngoài ra, nếu tính những khoản nợ cũ trong giai đoạn từ 2019 – 2022, không tính nợ mua mới trong năm 2023, thì Chi nhánh đã xử lý dứt điểm 15/22 khoản nợ, 05/22 khoản nợ vẫn đang thực hiện cơ cấu, còn lại 02/22 khoản nợ là đã thu hồi được trên 90% giá trị mua nợ của VAMC.

Nhìn chung, việc biên lợi nhuận ròng dương trong các năm vừa qua thể hiện việc hoạt động mua bán nợ theo GTTT của VAMC – Chi nhánh TP.HCM được thực hiện có hiệu quả, hoàn toàn có thể bù đắp được các chi phí phát sinh.

Bảng 2.5 Biên lợi nhuận ròng của VAMC – Chi nhánh TP.HCM

Đơn vị tính: Tỷ VNĐ

Năm Doanh thu Chi phí Chênh lệch thu chi Biên lợi nhuận ròng
2019 170,3 153,8 16,5 9,7%
2020 29,1 8,1 21,0 72,2%
2021 553,6 524,2 29,4 5,3%
2022 234,7 213,7 21,0 8,9%
2023 154,7 131,7 23,0 14,9%

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động của VAMC – Chi nhánh TP.HCM)

Vì VAMC định hướng là đơn vị hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nên việc giữ biên lợi nhuận ròng ở một mức độ vừa phải thể hiện mục tiêu hỗ trợ khách hàng, tạo điều kiện tài chính cho khách hàng gặp nợ xấu, đồng thời vẫn đảm bảo an toàn vốn, không gây thua lỗ, mất vốn cho VAMC.

Do VAMC – Chi nhánh TP.HCM sử dụng vốn của công ty chủ quản là VAMC, lợi nhuận sau thuế của Chi nhánh thuộc về VAMC, do đó khi mua nợ VAMC – Chi nhánh TP.HCM sẽ thực hiện xin vốn từ trụ sở chính, và khi có lợi nhuận cũng sẽ chuyển về trụ sở chính, nên VAMC – Chi nhánh TP.HCM không được giao quản lý trực tiếp phần vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, đối với VAMC nói chung thường rất thấp (ROE bình quân các năm gần đây khoảng 3%, ROA bình quân các năm gần đây khoảng 0,1-0,2%). Lợi nhuận đa phần đến từ việc thu hồi và xử lý các khoản mua nợ theo GTTT, tuy nhiên việc còn tồn đọng một số khoản nợ chậm xử lý hoặc chưa xử lý được, đồng thời việc xử lý nợ lại không vì mục tiêu lợi nhuận, khiến ROE chưa được cao. ROA thấp chủ yếu do quy mô tài sản VAMC rất lớn, chủ yếu đến từ tài sản TPĐB phát hành cho các TCTD, trong khi nguồn lợi nhuận tạo ra chủ yếu từ nợ mua theo GTTT, có quy mô khá nhỏ so với phần tài sản là TPĐB.

2.3. Phân tích SWOT đối với Công ty Quản lý tài sản – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Phân tích SWOT là một phương pháp quan trọng trong kế hoạch kinh doanh và quản lý, giúp tổ chức hoặc cá nhân đánh giá tổng quan về tình hình của họ bằng cách xác định các yếu tố nội bộ: Strengths (Điểm mạnh) – Weaknesses (Điểm yếu), và các yếu tố bên ngoài: Opportunities (Cơ hội) – Threats (Thách thức) ảnh hưởng đến một dự án, sản phẩm, tổ chức, hoặc quyết định cụ thể. Phân tích mô hình ma trận SWOT giúp doanh nghiệp nhận thức về tình hình hiện tại và môi trường xung quanh để lập kế hoạch và hoạch định chiến lược, từ đó giúp doanh nghiệp đưa ra quyết định thông minh hơn và tận dụng cơ hội, đối phó với rủi ro, tận dụng sức mạnh và khắc phục yếu điểm. Trên cơ sở tổng kết các thông tin, số liệu tổng hợp được, tác giả đưa ra phân tích SWOT về Công ty Quản lý tài sản – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh làm cơ sở đưa ra thêm các giải pháp chiến chiến lược hoạt động của Chi nhánh.

Bảng 2.6 Ma trận SWOT đối với VAMC – Chi nhánh TP.HCM

Điểm mạnh (Strengths)

1. Lợi thế đàm phán:

Thương hiệu: Có nhiều lợi thế đàm phán khi là tổ chức mua bán nợ nhà nước, với 100% vốn là của NHNN, tạo nhiều uy tín và yên tâm cho cả TCTD và khách hàng nợ.

Không vì mục tiêu lợi nhuận: Giúp tăng khả năng đàm phán, tập trung hỗ trợ TCTD thu hồi được nợ ở mức hợp lý, không mất vốn TCTD; và có nhiều phương án, hỗ trợ tài chính giúp khách hàng xử lý dứt điểm được nợ xấu.

Sự hỗ trợ mạnh mẽ từ chính phủ.

2. Quy trình minh bạch, rõ ràng:

Thời gian trình phê duyệt tối ưu: Chi nhánh được Trụ sở chính VAMC giao thẩm quyền riêng, giúp chủ động đẩy mạnh hoạt động mua bán nợ đối với các TCTD phía nam, giảm thiểu thời gian trình cấp thẩm quyền phê duyệt.

Phương án xử lý tập trung vào khách hàng: ưu tiên phương án để xuất khả thi của khách hàng, đảm bảo quyền lợi của khách hàng.

3. Hợp tác chặt chẽ

Chi nhánh đã có hơn 05 năm năm kinh nghiệm, phối hợp chặt chẽ với các TCTD, khách hàng nợ xấu, và nhà đầu tư.

Đội ngũ nhân viên Chi nhánh có chuyên môn cao trong lĩnh vực tài chính ngân hàng và xử lý nợ xấu.

Điểm yếu (Weaknesses)

1. Quy mô và nguồn lực hạn chế:

Nguồn lực: Quy mô hoạt động và nguồn lực vốn và nguồn lực nhân sự của Chi nhánh nói riêng và VAMC nói chung còn hạn chế so với nhu cầu thực tế của thị trường nợ xấu, trong khi đây là những nguồn lực chính để tạo ra giá trị đối với mô hình kinh doanh của Chi nhánh.

Nhận diện thương hiệu: Tên tuổi của Chi nhánh và phương thức hoạt động trong lĩnh vực mua bán nợ theo GTTT chưa được các TCTD, nhà đầu tư, khách hàng biết đến rộng rãi.

2. Thiếu tính linh hoạt:

Quy trình xử lý: Quy trình xử lý nợ xấu còn thiếu tính linh hoạt: nhiều cơ chế xử lý nợ còn chưa thể thực hiện; thời gian trình cấp thẩm quyền phê duyệt còn khá dài đối với những khoản nợ ngoài thẩm quyền.

Thích ứng: Chi nhánh chưa có khả năng thích ứng với các tình huống kinh tế thay đổi nhanh chóng.

3. Hạn chế về công nghệ:

Ứng dụng công nghệ: Việc ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả và tốc độ mua bán, quản lý, xử lý nợ xấu. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Cơ hội (Opportunities)

1. Mở rộng thị trường:

Nhu cầu xử lý nợ xấu: Nhu cầu xử lý nợ xấu ngày càng tăng do tình hình nợ xấu trong hệ thống ngân hàng vẫn cao, tạo ra cơ hội mở rộng hoạt động cho Chi nhánh nói riêng và VAMC nói chung.

Tăng quy mô: Được quyền xin NHNN cấp thêm vốn phục vụ cho hoạt động mua bán nợ theo GTTT.

2. Hợp tác quốc tế:

Kinh nghiệm quốc tế: Hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế để học hỏi kinh nghiệm và áp dụng các giải pháp xử lý nợ tiên tiến.

Đầu tư nước ngoài: Thu hút đầu tư từ các tổ chức quốc tế, nâng cao năng lực tài chính và chuyên môn.

Thách thức (Threats)

1. Cạnh tranh từ các tổ chức khác:

Tổ chức mua bán nợ khác: Các công ty mua bán nợ nhà nước như DATC hoặc các tổ chức tư nhân trong và ngoài nước tạo ra sự cạnh tranh trong thị trường mua bán nợ xấu.

2. Biến động kinh tế:

Kinh tế không ổn định: Tình hình kinh tế không ổn định, lạm phát và lãi suất cao ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ tại Chi nhánh.

Nợ xấu mới: Biến động kinh tế có thể làm tăng tỷ lệ nợ xấu mới phát sinh tại TCTD.

3. Rủi ro pháp lý và chính sách:

Hạn chế pháp lý: Quy định pháp lý hiện hành còn nhiều vướng mắc, gây khó khăn cho việc thực hiện mua bán xử lý nợ xấu: chưa có tiêu chuẩn thẩm định giá khoản nợ; cơ chế đăng ký biện pháp bảo đảm khi mua bán nợ còn chưa hoàn thiện; …

Thay đổi chính sách: Những thay đổi trong chính sách và quy định pháp lý trong tương lai có thể ảnh hưởng đến hoạt động của VAMC.

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

2.4. Đánh giá thực trạng về xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh

2.4.1. Thành tựu Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

2.4.1.1. Quy trình mua bán và thu hồi nợ xấu theo GTTT đã dần được hoàn thiện

Với kinh nghiệm hoạt động được kế thừa từ trụ sở chính tính đến nay là 10 năm, cùng kinh nghiệm của Chi nhánh từ khi đi vào hoạt động đến nay là 05 năm, có thể thấy quy trình hiện tại của Chi nhánh đã dần trở nên hoàn thiện và có hiệu quả. Sau khi HĐTV có phân cấp thẩm quyền mua, bán, xử lý nợ cho Giám đốc Chi nhánh, cùng với việc thành lập Phòng Kế hoạch và Quản lý rủi ro (P.KH&QLRR) với vai trò thẩm định, đánh giá rủi ro đối với các phương án mua và xử lý nợ trong thẩm quyền Chi nhánh, việc có quy trình mua, bán, xử lý nợ mới áp dụng cho Chi nhánh từ năm 2022 chính là khung pháp lý nội bộ hướng dẫn Chi nhánh có thể thực hiện trình mua các khoản nợ trong thẩm quyền. Điều này giúp Chi nhánh có thể tự mở rộng thị trường và tự chịu trách nhiệm với hoạt động kinh doanh, mở ra thị trường mới đối với những khoản nợ nhỏ trong thẩm quyền. Quy trình mới và việc Giám đốc Chi nhánh có thẩm quyền quyết định mua và xử lý, thu hồi đối với các khoản nợ có giá mua dưới 30 tỷ đồng giúp giảm bớt rào cản địa lý trong công việc do toàn bộ hồ sơ khoản nợ trước đây Chi nhánh đều phải gửi ra Hà Nội để Ban 2 thẩm định, đánh giá rủi ro; giảm bớt việc phải đưa ra quyết định tại nhiều cấp bậc thẩm quyền như TGĐ/PTGĐ; từ đó giảm thời gian thực hiện các bước mua nợ tại trong quy trình.

2.4.1.2. Đa dạng hóa các khoản nợ được mua

Trước đây, khi Chi nhánh chưa có thẩm quyền quyết định mua và xử lý nợ, việc mua nợ của Chi nhánh được ưu tiên đối với các khoản nợ có dư nợ lớn, thuộc trường hợp xử lý nợ xấu theo NQ42 (khoản nợ phát sinh trước 15/08/2017), đã tồn đọng lâu năm, thường là những khách hàng doanh nghiệp. Căn cứ Bảng 2.1, có thể thấy giai đoạn 2019 – 2022, Chi nhánh thường mua những khoản nợ có dư nợ lãi cao, thậm chí phần dư nợ lãi phát sinh có thể bằng hoặc cao hơn dư nợ gốc, chứng tỏ các khoản nợ đã tồn đọng rất lâu năm. Theo số liệu thống kê, bình quân giá mua nợ đối với từng khách hàng giai đoạn 2019 – 2022 là 97,5 tỷ đồng, bình quân dư nợ gốc của các khách hàng là 88,8 tỷ đồng. Tuy nhiên, sau khi Giám đốc Chi nhánh có thẩm quyền mua và xử lý nợ đối với những khoản nợ có giá mua dưới 30 tỷ, thị trường mua bán nợ được mở rộng thêm, các khoản nợ được Chi nhánh mua có thể là khách hàng cá nhân, dư nợ nhỏ và vừa, là những khoản nợ xấu mới phát sinh, không thuộc đối tượng áp dụng NQ42 (khoản nợ phát sinh sau 15/08/2017). Căn cứ Bảng 2.1, có thể thấy năm 2023, Chi nhánh đã chuyển hướng sang mua những khoản nợ có tỷ lệ dư nợ lãi thấp hơn đáng kể so với dư nợ gốc. Theo số liệu thống kê, bình quân giá mua nợ đối với từng khách hàng năm 2023 giảm còn 45,6 tỷ đồng, bình quân dư nợ gốc của các khách hàng giảm còn 43,7 tỷ đồng.

2.4.1.3. Đảm bảo an toàn vốn cho VAMC Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Với mục tiêu hoạt động chính là hỗ trợ TCTD và khách hàng xử lý nợ xấu, nguyên tắc hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, điều quan trọng nhất mà VAMC – Chi nhánh TP.HCM cần đảm bảo là đảm bảo an toàn vốn cho VAMC. Toàn bộ các khoản nợ VAMC – Chi nhánh TP.HCM đều có tài sản bảo, đồng thời các khoản nợ trước khi mua đều được thẩm định giá khoản nợ theo giá trị thị trường, đảm bảo phù hợp tính thu hồi của khoản nợ dựa trên một số yếu tố như tài sản bảo đảm, nguồn thu của khách hàng, …, từ đó đưa ra được giá mua bán nợ phù hợp. Dựa trên số liệu thu hồi xử lý nợ, có thể thấy những tiêu chí nêu trên đã được Chi nhánh đặt lên ưu tiên hàng đầu, đáp ứng yêu cầu tất yếu trong hoạt động của VAMC.

2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân

2.4.2.1. Nhận diện thương hiệu kém

Hiện tại, các nguồn thông tin các khoản nợ xấu có khả năng mua nợ theo giá thị trường tại VAMC – Chi nhánh còn khá hạn chế, vẫn phụ thuộc vào các nguồn chính từ danh sách đề nghị bán nợ của đầu mối các tổ chức tín dụng (thường là Trung tâm xử lý nợ, hoặc AMC). Tuy nhiên những khoản nợ của các Trung tâm xử lý nợ hoặc AMC thường là những khoản nợ rất khó xử lý, thường gặp nhiều vướng mắc về pháp lý, hoặc không có sự hợp tác từ khách hàng, do đó Chi nhánh vẫn phải tự tìm kiếm thêm các nguồn thông tin khác để đánh giá, tiếp cận.

Do đó, Ban Giám đốc và các cán bộ Chi nhánh đã nỗ lực rất nhiều trong việc tiếp cận các nguồn thông tin mới, đặc biệt là việc tiếp cận trực tiếp với các Chi nhánh tổ chức tín dụng, đơn vị trực tiếp cho vay quản lý các khoản nợ. Tuy nhiên, việc tiếp cận các Chi nhánh này ở giai đoạn hiện tại vẫn còn khá đơn lẻ, rời rạc, phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ của Ban Giám đốc hoặc của cán bộ, vì vậy việc triển khai tiếp cận vẫn còn chưa có chiến lược rõ ràng, khoa học.

Ngoài ra, gần như toàn bộ các chi nhánh TCTD khi được VAMC – Chi nhánh TP.HCM làm việc và tiếp cận đều chưa hiểu rõ về hoạt động của VAMC, không rõ về cơ chế mua nợ của VAMC, không biết cách thức làm việc với VAMC, đặc biệt là đối với vấn đề mua bán nợ theo giá trị thị trường (mua đứt bán đoạn).

Về mặt hợp tác quốc tế, trong quá trình hoạt động, chưa nhiều đoàn đại diện của các tổ chức tài chính quốc tế đến trao đổi, hoặc có các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến việc mua các khoản nợ từ VAMC. Khả năng hợp tác thực tế của VAMC – Chi nhánh TP.HCM còn hạn chế, chưa tận dụng được kinh nghiệm và nguồn lực quốc tế. Đối với phương thức bán nợ, 100% khoản nợ được Chi nhánh bán là cho nhà đầu tư trong nước, chứ chưa thể bán cho nhà đầu tư nước ngoài dù đây cũng là đối tượng có tiềm lực tài chính tốt, hết sức quan tâm tới thị trường nợ xấu. Việc chưa bán nợ cho nhà đầu tư nước ngoài có thể liên quan đến nhiều yếu tố, sẽ được phân tích cụ thể tại Mục 2.3.3.2 bên dưới. Trong tương lai, nếu điều kiện thị trường và chính sách cho phép, VAMC – Chi nhánh TP.HCM cần thúc đẩy phương án bán nợ cho nhà đầu tư nước ngoài để tăng cường khả năng giải quyết nợ xấu và thu hồi vốn hiệu quả hơn. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Việc vẫn còn hạn chế này là do nguồn lực của Chi nhánh về vật lực và nhân lực còn hạn chế. Nhìn chung, để có thể mở rộng mạng lưới quan hệ, kết nối với các TCTD cần rất nhiều nguồn lực, trong đó Chi nhánh bị phụ thuộc vào nguồn vật lực từ trụ sở chính, chi phí cho việc tiếp khách, giao lưu còn hạn hẹp, bên cạnh đó nguồn nhân lực hiện tại chỉ chưa tới 30 người, trong đó P.MB&XLN có chưa tới 15 người. Ngoài ra, việc các TCTD chưa biết đến VAMC hay Chi nhánh còn do hạn chế về mặt thông tin chung, thiếu các diễn đàn, các buổi hội thảo có khả năng quy tụ, phổ cập thông tin cho nhiều TCTD, thiếu các kênh truyền thông cần thiết để phổ biến hơn về hoạt động của VAMC tới đại chúng.

2.4.2.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động còn hạn chế

Về việc phê duyệt hồ sơ, các hồ sơ được thực hiện trong thẩm quyền của Chi nhánh được thực hiện khá nhanh chóng, có thể thực hiện nhanh trong vòng 1 tháng từ khi tiếp cận cho đến khi được phê duyệt hồ sơ và ký kết hợp đồng mua bán nợ với TCTD. Tuy nhiên, đối với những hồ sơ vượt thẩm quyền Chi nhánh, việc trình và phê duyệt hồ sơ mất khá nhiều thời gian do khoảng cách vị trí địa lý giữa Chi nhánh và Trụ sở chính. Theo đó, khi phải thực hiện trình hồ sơ mua nợ bằng bản gốc tới các cấp ngoài thẩm quyền Chi nhánh, các văn bản tờ trình, báo cáo và các hồ sơ liên quan được chuyển phát nhanh giữa Chi nhánh và Trụ sở chính, trong trường hợp gấp có thể dẫn tới chậm trễ trong quá trình phê duyệt hồ sơ, ảnh hưởng đến kết quả công việc, ảnh hưởng tới kế hoạch của các khách hàng, các nhà đầu tư, …

Về mặt quản lý thông tin, hiện tại, mặc dù việc mua, bán, xử lý nợ tại VAMC đã có phần mềm phục vụ quản lý thông tin khoản nợ đã mua, tuy nhiên theo thực tiễn công việc phát sinh tại Chi nhánh cho thấy, phần mềm này hiện đã khá lỗi thời, khó sử dụng, không thân thiện với người dùng, phát sinh nhiều lỗi trong quá trình sử dụng, do đó gần như các cán bộ chưa thể ứng dụng phần mềm này trong công việc như: truy xuất thông tin khoản nợ, tính tiền lãi, xuất báo cáo, … Đa phần các cán bộ vẫn phải sử dụng các phần mềm cơ bản và thủ công như Word, Excel trong công việc, do đó khi phát sinh các nghiệp vụ nêu trên sẽ mất rất nhiều thời gian để thực hiện hoặc tổng hợp, hoặc dễ xảy ra các sai sót nhầm lẫn trong công việc. Bên cạnh đó, việc lưu trữ hồ sơ khoản nợ cũng còn nhiều bất cập, vẫn lưu trữ hồ sơ  bản cứng theo từng bìa hồ sơ, hồ sơ chưa được số hóa, lưu trữ tập trung trên hệ thống của VAMC, do đó việc truy xuất, tìm kiếm, quản lý hồ sơ, hay các công tác kiểm tra giám sát vẫn còn mất nhiều thời gian thực hiện.

Việc chưa thực hiện đầu tư hệ thống công nghệ thông tin đến từ một số yếu tố sau: VAMC dù nguồn vốn cũng khá lớn, nhưng thực chất số khoản nợ quản lý chưa nhiều, mà chỉ thực sự tăng trưởng mạnh trong vài năm gần đây; việc đầu tư hệ thống công nghệ thông tin khá tốn kém do VAMC là đơn vị đặc thù, phải thiết kế phần mềm riêng cho công việc chứ không thể kế thừa lại các phần mềm của các mô hình doanh nghiệp khác; thủ tục đấu giá, đấu thầu phức tạp, dẫn tới việc khó chọn lựa nhà thầu phù hợp để thiết kế phần mềm cho VAMC. Ở góc độ Chi nhánh, việc tự đầu tư hệ thống công nghệ thông tin càng không phù hợp, do Chi nhánh cũng phụ thuộc vào nguồn lực chung của VAMC, mà chỉ có thể đề xuất lên Ban Tổng Giám đốc xem xét phê duyệt.

2.4.2.3. Phương thức thu hồi nợ xấu sau khi mua chưa đa dạng

Các biện pháp xử lý nợ xấu của VAMC nói chung và VAMC – Chi nhánh TP.HCM còn khá truyền thống, tập trung xoay quanh bán nợ và cơ cấu lại khoản nợ. Về cơ cấu nợ, phương thức này chỉ áp dụng chủ yếu cho doanh nghiệp, với dòng tiền và kế hoạch kinh doanh rõ ràng, có khả năng phục hồi khả năng trả nợ. Về bán nợ, mặc dù VAMC – Chi nhánh TP.HCM đã có nhiều sáng kiến nhằm tối ưu hóa phương thức bán nợ, hỗ trợ tài chính cho bên mua nợ từ VAMC, tuy nhiên nhìn chung những linh hoạt trong quá trình bán nợ vẫn bị giới hạn bởi những khuôn khổ, quy định về mua bán nợ.

Vì khi mua nợ theo GTTT, VAMC – Chi nhánh TP.HCM cần làm rõ phương án thu hồi nợ, đảm bảo an toàn vốn cho VAMC, do đó ngoài hai phương thức xử lý nợ nêu trên, VAMC – Chi nhánh TP.HCM cần có những phương thức xử lý nợ khác, áp dụng trong nhiều trường hợp khác nhau, từ đó sẽ góp phần đẩy mạnh việc mua nợ từ các TCTD. Theo Nghị định 53/2013/NĐ-CP, VAMC được phép thực hiện một số chức năng như sau: Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

  • Thực hiện các quyền của chủ nợ, bên nhận bảo đảm đối với khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm nhằm thu hồi nợ, tài sản bảo đảm.
  • Tổ chức đôn đốc, yêu cầu trả nợ, thu nợ từ khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ và bên bảo đảm.
  • Thực hiện cơ cấu lại khoản nợ xấu, hỗ trợ khách hàng vay theo quy định.
  • Thỏa thuận với khách hàng vay về việc chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần để tham gia cơ cấu lại tài chính và hoạt động của khách hàng vay.
  • Thu nợ bằng nhận chính tài sản bảo đảm của khoản nợ; thu hồi, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.
  • Bán nợ cho các tổ chức, cá nhân.
  • Khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm ra Tòa án.
  • Nộp đơn yêu cầu Tòa án tiến hành các thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản đối với khách hàng vay không có khả năng trả nợ và đối với bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.

Tuy nhiên, hiện tại Chi nhánh mới chỉ thực hiện được một số nghiệp vụ chính như cơ cấu lại khoản nợ xấu và bán nợ.

Hạn chế này có thể đến từ nhiều nguyên nhân khá khách quan, do hiện tại chỉ có phương thức bán nợ, bán tài sản bảo đảm, cơ cấu lại khoản nợ là được quy định chi tiết và thuộc thẩm quyền thực hiện và quyết định bởi VAMC. Các chức năng khác hiện tại VAMC chưa có quy định chi tiết để thực hiện, nên khi thực hiện cần trình NHNN phê duyệt từng lần theo từng trường hợp. Ngoài ra một số phương thức xử lý nợ cũng tốn nhiều thời gian, nguồn lực, không hiệu quả với mục tiêu hoạt động của VAMC.

2.4.2.4. Nhân sự chưa được chuyên môn hóa cao trong hoạt động

Có thể thấy trong quy trình đã nêu tại Mục 2.2.3, các bước từ 1 – 7 gần như được 1 cán bộ theo dõi từ đầu tới cuối theo từng bộ hồ sơ khoản nợ. Ngoài ra, một cán bộ tại P.MB&XLN có thể sẽ thực hiện hồ sơ với nhiều loại khách hàng khác nhau (cá nhân, tổ chức), nhiều ngành nghề khác nhau, hoặc nhiều phương án xử lý nợ khác nhau. Điều này có thể phù hợp với quy mô hiện tại của Chi nhánh, đồng thời giúp cán bộ có thể nắm bắt quy trình tốt hơn do phải đảm nhiệm nhiều khâu trong quá trình thực hiện hồ sơ, tuy nhiên, về lâu dài, việc một cán bộ phải đảm nhiệm nhiều loại hình hồ sơ khách hàng, hoặc đảm nhiệm nhiều khâu trong quy trình, phải đáp ứng nhiều loại kiến thức khác nhau trong nhiều lĩnh vực cũng có thể gây ra rủi ro trong quá trình thẩm định hồ sơ mua nợ và quản lý khoản nợ do công việc của cán bộ còn bị dàn trải, chưa được thực sự chuyên môn hóa trong từng khâu. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

Nhìn chung, nguyên nhân của hạn chế này là do việc đội ngũ nhân sự của Chi nhánh còn hạn chế, với chưa tới 15 người thuộc P.MB&XLN đảm nhiệm công việc chính liên quan đến mua, quản lý, và xử lý nợ sau mua. Ngoài ra, Chi nhánh cũng mới đang dần phát triển thêm về số lượng khoản nợ được mua, do đó việc phân chia công việc theo hướng chuyên môn hóa ở giai đoạn này có thể chưa phải là ưu tiên hàng đầu.

Tóm tắt chương 2

Chương 2 của đề án đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về thực trạng nợ xấu của các TCTD trong giai đoạn từ 2019 – 2023, từ đó phân tích sâu vào mô hình kinh đoàn và tình hình hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu tại VAMC – Chi nhánh TP.HCM, đồng thời sử dụng mô hình SWOT để nêu rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của VAMC – Chi nhánh TP.HCM. Từ những thực trạng đó, đề án tổng kết về những thành tựu đã đạt được cùng những tồn tại cần khắc phục đối với hoạt động xử lý nợ xấu tại VAMC – Chi nhánh TP.HCM. Những phân tích ở chương 2 là những cơ sở thực tiễn, giúp đề án đi đến những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu tại VAMC – Chi nhánh TP.HCM ở chương 3. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Giải pháp hiệu quả xử lý nợ xấu Công ty Quản lý tài sản

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993