Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc: Vai trò trung gian của lòng tin tổ chức dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Tiêu đề: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc: Vai trò trung gian của lòng tin tổ chức.

Nội dung: Mục tiêu của nghiên cứu này xem xét sự tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) đến lòng tin tổ chức và sự hài lòng công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Tổng cộng có 233 mẫu khảo sát với những nhân viên làm việc tại các phòng ban chức năng tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) tại Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả nghiên cứu chỉ ra bốn thành phần của CSR được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, và trách nhiệm từ thiện. Phát hiện cho thấy rằng không phải tất cả các CSR đều có ảnh hưởng đến lòng tin tổ chức, cụ thể chỉ có trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, và trách nhiệm từ thiện có ảnh hưởng đáng kể đến lòng tin tổ chức, và đồng thời lòng tin tổ chức của nhân viên cũng đóng vai trò trung gian trong việc thúc đẩy CSR dẫn đến sự hài lòng công việc của nhân viên.

Từ khóa: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, lòng tin tổ chức, sự hài lòng công việc, doanh nghiệp nhỏ và vừa.

ABSTRACT

Tittle: Corporate Social Responsibility (CSR) and Job Satisfaction: The Mediating Role of Organizational Trust

Contents: The objective of this study is to examine the impact of Corporate Social Responsibility (CSR) on organizational trust and job satisfaction on employees in Small and Medium Enterprises in Vietnam. A total of 233 survey samples were collected from participants in Small and Medium Enterprises (SMEs) in Vietnam. The research data were analyzed using a Structural Equation model (SEM). The research result indicated that the four components of CSR used in this study include economic responsibility, legal responsibility, ethical responsibility, and philanthropic responsibility. The results show that not all CSR components influence organizational trust. Specifically, legal responsibility, ethical responsibility, and philanthropic responsibility have a significant impact on organizational trust. Additionally, organizational trust plays a mediating role in promoting CSR, leading to job satisfaction on employees. Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

Keywords: Corporate Social Responsibility (CSR), organizational trust, job satisfaction, Small and Medium Enterprises (SMEs).

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Lý do hình thành đề tài

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) luôn có vị trí đặc biệt và đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam (Consosukien, 2024). Hàng năm, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp khoảng 40% GDP, nộp ngân sách nhà nước 30%, đóng góp giá trị sản lượng công nghiệp 33%, giá trị hàng hóa xuất khẩu 30%, và thu hút gần 60% lao động (Vũ Long, 2022). Việt Nam có khoảng 900,000 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97% (Phạm Thị Tươi, 2024), có khoảng 1,7 triệu doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ và dự kiến đến năm 2030, con số này tăng lên khoảng 2,4 triệu doanh nghiệp (Vũ Khuê, 2022). Tuy nhiên, một trong những vấn đề khó khăn nhất của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam cũng như ở các quốc gia khác là mức độ biến động về lao động cao, khó có thể cạnh tranh thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao như tại các doanh nghiệp lớn (Trần Thị Hiền và Nguyễn Hồng Quân, 2021). Trong vòng 10 năm gần đây, có khoảng 59% doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp vấn đề trong việc giữ chân và khen thưởng nhân viên nòng cốt, 46% nhân viên làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa cảm thấy không hài lòng về chính sách lương và đãi ngộ của họ (Faceworks, 2022). Bên cạnh đó, tỉ lệ nghỉ việc năm 2022 tự nguyên là 22,1% ở công ty Việt Nam, 15,8% ở công ty nước ngoài, sang đến nửa đầu năm 2023, con số này là 10,4% ở công ty Việt Nam và 6,5% ở công ty nước ngoài, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước (Mercer, 2023). Các doanh nghiệp mất ít nhất 15-20% lương mỗi năm cho các vị trí cần người thay thế do nhân viên chuyển việc (Quang Quý, 2019).

Mô hình kim tự tháp của Caroll (1991) đề cập rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là sự mong đợi của xã hội đối với một tổ chức tại một thời điểm nhất định dựa trên bốn khía cạnh của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp: kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Khía cạnh kinh tế của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan đến trách nhiệm kinh tế của công ty cho các bên liên quan và khía cạnh pháp lý có liên quan đến nghĩa vụ của công ty tuân thủ các quy tắc và quy định do nhà lập pháp đặt ra. Khía cạnh đạo đức đề cập đến trách nhiệm của công ty công bằng và chính đáng trong việc đưa ra quyết định và thực hiện công việc, vượt quá nghĩa vụ pháp lý của mình. Cấp độ cao nhất trong bốn khía cạnh trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, khía cạnh từ thiện đề cập đến lợi ích của công ty trách nhiệm tham gia vào các hoạt động thúc đẩy con người phúc lợi hoặc thiện chí (Caroll, 1991). Lòng tin của tổ chức được coi là kỳ vọng, giả định hoặc niềm tin về khả năng hành động trong tương lai của người khác có lợi, thuận lợi hoặc ít nhất là không gây bất lợi cho lợi ích của mình (George và cộng sự, 2021). Sự hài lòng trong công việc là trạng thái cảm xúc vui vẻ hoặc tích cực của nhân viên có được từ việc đánh giá công việc hoặc kinh nghiệm làm việc của một người (Lee và cộng sự, 2012). Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

Nhiều nghiên cứu hiện nay quan tâm đến sự tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) đến khách hàng (Leiter và cộng sự, 1998; Yurchisin và cộng sự, 2010; Akuffo và cộng sự, 2021; Olayemi và cộng sự, 2023), nhưng có ít nghiên cứu về tác động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đối với nhân viên (ngoại trừ, Jeong và Cho, 2020; George và cộng sự, 2021). Nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) của Carroll (1991) và các nghiên cứu liên quan (Vlachos và cộng sự, 2010; Lee và cộng sự, 2012; Gucer và Serif, 2014; Closon và cộng sự, 2015; Fard và Karimi, 2015; Gupta và Singla, 2016; Artar và Erdil, 2017; Memo, 2020; Kim, 2020; Jeong & Cho, 2020; George và cộng sự, 2021; Yan và cộng sự, 2022; Olayemi và cộng sự, 2023), để hiểu rõ hơn về cách trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng đến nhận thức của nhân viên, từ đó tác động đến lòng tin của tổ chức và sự hài lòng trong công việc, nghiên cứu này cũng cung cấp nền tảng cho các nhà quản lý doanh nghiệp xây dựng các chính sách thiết yếu trong quản lý, tuyển dụng và thu hút nhân tài. Hơn nữa, nó nhằm mục đích nâng cao sự hài lòng và giữ chân nhân viên, giúp doanh nghiệp thực hiện các chính sách chiến lược dài hạn hiệu quả cho nguồn nhân lực. Do đó, việc thực hiện nghiên cứu tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đối với lòng tin tổ chức và sự hài lòng công việc của nhân viên trong các các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam là rất cần thiết. Vì những lý do nêu trên nên tác giả quyết định thực hiện đề tài: “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc:

Vai trò trung gian của lòng tin tổ chức”.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

  • Đề tài nghiên cứu xác định và đo lường trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc với vai trò trung gian của lòng tin tổ chức, từ đó đưa ra đề xuất các hàm ý quản trị liên quan.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

Với mục tiêu tổng quát nêu trên, khi làm nghiên cứu này, tác giả đặt ra ba mục tiêu cụ thể như sau:

  1. Xác định các thành phần của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên với vai trò trung gian của lòng tin tổ chức.
  2. Đo lường mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và sự hài lòng công việc của nhân viên với vai trò trung gian của lòng tin tổ chức.
  3. Đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự hài lòng công việc của nhân viên thông qua việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp với vai trò trung gian của lòng tin tổ chức.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

Để giải quyết được mục tiêu nghiên cứu, đề tài phải trả lời các câu hỏi nghiên cứu cụ thể dưới đây:

  1. Các thành phần nào của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên với vai trò trung gian của lòng tin tổ chức?
  2. Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và sự hài lòng công việc của nhân viên với vai trò trung gian của lòng tin tổ chức như thế nào?
  3. Những hàm ý quản trị nào được đề xuất nhằm nâng cao sự hài lòng công việc của nhân viên thông qua việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp với vai trò trung gian của lòng tin tổ chức?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Đối tượng của nghiên cứu: Các thành phần của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc với vai trò trung gian của lòng tin tổ chức.
  • Đối tượng khảo sát: Nhân viên làm việc tại các phòng ban chức năng tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi không gian: Tại Việt Nam (miền Bắc 20%, miền Trung 20%, miền Nam 60%)
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo sát được thu thập trong thời gian khoảng 3 tháng.

1.5. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả sử dụng phương pháp hỗn hợp tuần tự.

  1. Phương pháp định tính: Tác giả thực hiện phỏng vấn với chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực để hiệu chỉnh thang đo và bảng hỏi. Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.
  2. Phương pháp định lượng: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập qua khảo sát và điều tra lấy mẫu đối với các cấp quản lý tại doanh nghiệp. Sau đó, dữ liệu định lượng được thực hiện phân tích độ tin cậy (Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá EFA để xác định độ giá trị của thang đo. Phân tích nhân tố khẳng định CFA là bước phân tích để đánh giá thang đo và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.

1.6. Ý nghĩa nghiên cứu

1.6.1. Ý nghĩa lý thuyết

Đề tài góp phần bổ sung cho cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên với vai trò trung gian của lòng tin tổ chức.

1.6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ kiểm định lại cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên với vai trò trung gian của lòng tin tổ chức. Đồng thời, đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự hài lòng công việc của nhân viên thông qua việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp với vai trò trung gian của lòng tin tổ chức.

1.7. Bố cục nghiên cứu

Ngoài phần giới thiệu chung, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn mà tác giả viết gồm 5 chương với nội dung như sau:

Chương 1: Giới thiệu

Chương này gồm có các nội dung: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục nghiên cứu.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương này trình bày khái niệm về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và các thành phẩm của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, các lý thuyết lòng tin tổ chức, sự hài lòng công việc. Đồng thời thực hiên khảo lược các bài nghiên cứu liên quan để đưa ra các giả thuyết và mô hình nghiên cứu về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc: vai trò trung gian của lòng tin tổ chức. Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu từ giai đoạn xây dựng quy trình nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu. Đồng thời, trình bày giai đoạn nghiên cứu chính thức bao gồm phương pháp chọn mẫu, phương pháp thiết kế thang đo chuẩn cho bảng câu hỏi và mã hóa thang đo thực hiện việc xử lý dữ liệu nghiên cứu.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương này tác giả trình bày các kết quả phân tích nghiên cứu được thực hiện trên phần mềm SPSS bao gồm các nội dung: kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach alpha, phân tích nhân tố khám phá, phân tích nhân tố khẳng định, phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) bằng phần mềm AMOSS và kiểm định giả thuyết mô hình, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc: vai trò trung gian của lòng tin tổ chức.

Chương 5: Kết luận

Ở chương này, tác giả kết luận lại những dữ liệu đã phân tích về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc: vai trò trung gian của lòng tin tổ chức. Đồng thời tác giả cũng đưa ra hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự hài lòng công việc thông qua việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp với vai trò trung gian của lòng tin tổ chức.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương 2 sẽ trình bày các khái niệm, lý thuyết cơ sở về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, các thành phần của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, lòng tin tổ chức và sự hài lòng công việc. Lược khảo các nghiên cứu ngoài nước và trong nước có liên quan, xây dựng các khái niệm, giả thuyết và mô hình nghiên cứu.

2.1. Tổng quan cơ sở lý thuyết

2.1.1. Lý thuyết về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

2.1.1.1. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) ngày càng nhận được sự quan tâm nhiều hơn trong các hoạt động kinh doanh và các phương tiện truyền thông (Salmones và cộng sự, 2005). Thuật ngữ trách nhiệm xã hội chính thức xuất hiện cách đây 60 năm, khi Salmones và cộng sự (2005) công bố về trách nhiệm xã hội của doanh nhân nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi những người quản lý không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội. Ngoài ra, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) là một thuật ngữ dựa trên quan điểm rằng các tập đoàn nên đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp cho xã hội bằng cách thực hiện các hành vi có trách nhiệm với xã hội và/hoặc tham gia vào các hành động nhằm nâng cao một số lợi ích hoặc phúc lợi xã hội (Lee và cộng sự, 2012). Một định nghĩa ban đầu về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp được đưa ra trong cuốn sách Trách nhiệm xã hội của doanh nhân của Bowen (2013) là nghĩa vụ xã hội của các công ty “phải theo đuổi các chính sách, đưa ra quyết định hoặc thực hiện các hành động mong muốn về mặt mục tiêu và giá trị của xã hội chúng ta.” Trong khi nhiều học giả coi trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là công ty nỗ lực xã hội để thúc đẩy lợi ích xã hội thường vượt quá khả năng của họ lợi ích kinh tế của chính mình (McWilliams và Siegel, 2001), Carroll (1991) đưa ra một cái nhìn rộng hơn về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong công việc của mình.

Mô hình kim tự tháp của Caroll (1991) đề cập rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là sự mong đợi của xã hội đối với một tổ chức tại một thời điểm nhất định dựa trên bốn khía cạnh của CSR: kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Khía cạnh kinh tế của CSR liên quan đến trách nhiệm kinh tế của công ty cho các bên liên quan (ví dụ: hiệu quả hoạt động, khả năng cạnh tranh), và khía cạnh pháp lý có liên quan đến nghĩa vụ của công ty tuân thủ các quy tắc và quy định do nhà lập pháp đặt ra (Carroll, 1991). Khía cạnh đạo đức đề cập đến trách nhiệm của công ty công bằng và chính đáng trong việc đưa ra quyết định và thực hiện công việc, vượt quá nghĩa vụ pháp lý của mình (Carroll, 1991). Cấp độ cao nhất trong bốn khía cạnh CSR, khía cạnh từ thiện đề cập đến lợi ích của công ty trách nhiệm tham gia vào các hoạt động thúc đẩy con người phúc lợi hoặc thiện chí (Carroll, 1991). Bên cạnh đó, Carroll (1991) gợi ý rằng bốn điều này nằm trong một trật tự thứ bậc với chiều hướng kinh tế ở mức thấp nhất và hoạt động từ thiện ở mức cao nhất. Các tổ chức được thường liên quan đến các hoạt động đa chiều và nhận thức về hoạt động CSR của tổ chức được hình thành dựa trên nhiều chiều này.

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là phải tránh gây hại và thực hiện tốt nghĩa vụ kinh doanh (Mohr và cộng sự, 2001). Porter và Kramer (2002) mô tả trách nhiệm xã hội là một hình thức hoạt động từ thiện của công ty, có thể được kết hợp với lợi ích kinh tế để cung cấp một lợi thế cạnh tranh. Khái quát hơn Ogrizek (2002) nói rằng phạm vi trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là rộng lớn hơn nhiều so với các hoạt động từ thiện, nó bao gồm cả sự tham gia đóng góp cho cộng đồng, hệ thống quản lý môi trường và chính sách nguồn nhân lực. Deetz (2003) cho biết hành động trách nhiệm xã hội như là đáp ứng với nhu cầu của cộng đồng. Kotler và Lee (2005) cung cấp một định nghĩa cụ thể hơn về trách nhiệm xã hội là điều hành một doanh nghiệp đáp ứng một cách vượt quá mong đợi của pháp luật, thương mại, công chúng về đạo đức và xã hội của doanh nghiệp. Trong thực tế, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp vẫn còn đầy thách thức và các nhà nghiên cứu tiếp tục để bắt đầu định nghĩa và đo lường chúng (Okae, 2009). Hiệp ước Toàn cầu của Liên Hợp Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc tạo áp lực cho các công ty để sẵn sàng nắm lấy trách nhiệm xã hội làm tiêu chuẩn công khai cho hoạt động của họ (Pirsch và cộng sự, 2007).

2.1.1.2. Các thành phần của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

Murillo và Lozano (2006) chỉ ra rằng các thành phần của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là khác nhau phụ thuộc vào quy mô của các tổ chức và động lực cho các hoạt động xã hội thực tế. Theo Carroll (1979), trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là một công cụ bao gồm những kỳ vọng kinh tế, pháp lý, đạo đức, và đóng góp xã hội từ các tổ chức tại một thời điểm nào đó. Carroll (1991) lập luận rằng những trách nhiệm này không chỉ phục vụ vì lợi ích của tổ chức mà còn phải tốt đối với xã hội. Nó tạo ra một thỏa thuận xã hội giữa các tổ chức và các bên liên quan mà buộc các tổ chức xem xét lợi ích xã hội trong khi đưa ra quyết định (Andreasen và Drumwright, 2001). Theo Carroll (1991) các trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện là những yếu tố quan trọng của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, còn được gọi là Kim tự tháp trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của Carroll (1991).

Theo Carroll (1991), mọi trách nhiệm của doanh nghiệp đều được xác định dựa trên sứ mệnh của doanh nghiệp, đó là tạo ra lợi nhuận cho các cổ đông từ nguồn cung và cầu của xã hội. Đây chính là trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp. Đặc điểm này của kim tự tháp nằm ở dưới đáy nên chỉ khi nó được thỏa mãn thì các trách nhiệm khác mới có thể có được thực hiện. Trách nhiệm pháp lý nằm ở bậc thứ hai, cho rằng mỗi công ty phải tuân thủ luật pháp, luật lệ và thủ tục được quy định để chắc rằng công ty sẽ duy trì trách nhiệm đối với các hành vi kinh doanh. Trách nhiệm pháp lý đề cập đến các quy tắc và quy định, đó còn là sự cam kết tuân thủ các quy tắc pháp lý của doanh nghiệp với xã hội (Carroll, 1991). Bậc thứ ba là trách nhiệm đạo đức, nghĩa là các công ty buộc phải làm những điều đúng, hợp lý và công bằng cho các bên liên quan và tránh tổn hại đến họ. Bậc cuối cùng là đóng góp từ thiện, tin rằng công ty nên trở thành một công dân tốt và cống hiến những nguồn lực cần thiết cho xã hội (Carroll, 1991). Trách nhiệm kinh tế là hoạt động có lợi nhuận, sản xuất hàng hóa và dịch vụ cho xã hội và tạo ra lợi nhuận trong quá trình (Carroll, 1991). Trách nhiệm pháp lý là tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ cả pháp luật (Caroll, 1991). Trách nhiệm đạo đức là hoạt động có đạo đức, đúng đắn và công bằng, mặc dù nó không được quy định trong pháp luật (Caroll, 1991). Trách nhiệm từ thiện là trở thành một công dân doanh nghiệp tốt, đóng góp nguồn lực cho cộng đồng, cải thiện chất lượng cuộc sống (Caroll, 1991).

Trách nhiệm từ thiện

  • Trở thành công dân doanh nghiệp tốt.
  • Đóng góp nguồn lực cho cộng đồng; cải thiện chất lượng cuộc sống.

Trách nhiệm đạo đức

  • Phải có đạo đức.
  • Nghĩa vụ làm điều đúng đắn, công bằng, và công bằng. Tránh gây hại.

Trách nhiệm pháp lý

  • Tuân thủ luật pháp.
  • Luật pháp là sự quy định của xã hội về đúng và sai.
  • Thực hiện theo quy định của luật pháp.

Trách nhiệm kinh tế

  • Có lợi nhuận.
  • Nền tảng mà tất cả những người khác dựa vào.

Hình 2.1: Mô hình kim tử tháp CSR

Kim tự tháp trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của Carroll (1991) là một trong những cách xác định các thành phần của CSR được trích dẫn nhiều nhất trong các lý thuyết (Dusuki, 2005; Doan, 2012). Như một mô hình khái niệm, bốn yếu tố mô hình này cung cấp hỗ trợ rộng rãi cho các tổ chức kinh doanh trong việc tìm hiểu triết lý trách nhiệm xã hội và cung cấp một lộ trình hữu ích cho người mới bắt đầu tham gia vào các hoạt động CSR (Belal, 2016). Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là rất quan trọng như lợi ích của một tổchức, trách nhiệm đạo đức được mong đợi bởi xã hội và trách nhiệm từ thiện được xã hội mong muốn (Windsor, 2001); Frankental (2001) đã tiến hành một nghiên cứu ở Úc về mô hình CSR, thành phần trách nhiệm kinh tế được các tổ chức quan tâm nhất, sau đó là trách nhiệm pháp lý, từ thiện và đạo đức. Saleh (2009) lập luận rằng xã hội chấp nhận mục tiêu của công ty để tối đa hóa doanh thu trong phạm vi mà họ giữ được sự phát triển xã hội và ổn định môi trường. Mô hình của Carroll (1991) được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu. Do đó, nghiên cứu tiếp tục sử dụng mô hình của Carroll (1991) và mô hình các thành phần của CSR trong nghiên cứu bao gồm: trách nhiệm kinh tế, (2) trách nhiệm pháp lý, (3) trách nhiệm đạo đức, (4) trách nhiệm từ thiện.

2.1.2. Lòng tin tổ chức Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

Lòng tin tổ chức (Organization Trust) là kỳ vọng, giả định hoặc niềm tin về khả năng hành động trong tương lai của người khác có lợi, thuận lợi hoặc ít nhất là không gây bất lợi cho lợi ích của mình (George và cộng sự, 2021). Niềm tin đã được công nhận là một thành phần thiết yếu để duy trì một mối quan hệ thành công lâu dài (Berry, 1995). Theo Mayer (1995), nghiên cứu này định nghĩa lòng tin là “sự sẵn sàng của một người dễ bị tổn thương trước hành động của một bên khác dựa trên kỳ vọng rằng bên kia sẽ thực hiện một hành động cụ thể quan trọng đối với người tin cậy bất kể khả năng giám sát hoặc kiểm soát bên kia (Mayer, 1995). Mở rộng điều này sang bối cảnh tổ chức, lòng tin có thể được xem là sự sẵn sàng của các bên liên quan (ví dụ: nhân viên) dễ bị tổn thương trước các hành động của tổ chức vì họ mong đợi tổ chức sẽ đưa ra quyết định và thực hiện có tính đến lợi ích và phúc lợi của họ (Mayer, 1995). Lòng tin tổ chức là thái độ tích cực đối với một tổ chức từ góc độ nhận thức (Jeong và Cho, 2020). Theo Yan (2022) thì lòng tin tổ chức là cách nhân viên nhận thức được sự tin cậy toàn cầu của tổ chức. Lòng tin ở nơi làm việc gắn liền với tổ chức sự đổi mới và hiệu suất và nhân viên càng cam kết với công ty thì càng ít cần có thời gian và tiền bạc để thuê và đào tạo nhân viên mới và càng ít có khả năng mất đi nhân viên tiềm năng hoặc nhân viên hiện có (Yan, 2022).

2.1.3. Sự hài lòng công việc

Sự hài lòng công việc (Job Satisfaction) là một trong những yếu tố được nghiên cứu nhiều nhất trong lĩnh vực hành vi tổ chức (Lee và cộng sự, 2012). Sự hài lòng trong công việc là trạng thái cảm xúc vui vẻ hoặc tích cực của nhân viên có được từ việc đánh giá công việc hoặc kinh nghiệm làm việc của một người (Lee và cộng sự, 2012). Đa số các nghiên cứu trước đều cho thấy, nhiều lợi ích của sự hài lòng công việc của nhân viên như nhân viên ít vắng mặt, hiệu suất công việc cao, sự hài lòng của khách hàng và giữ chân nhân viên (Yurchisin & ctg, 2010). Sự hài lòng của nhân viên còn giúp việc chăm sóc khách hàng tốt hơn, mang lại các nhận thức tích cực từ khách hàng đến với doanh nghiệp, do nhân viên là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng hàng ngày (Leiter & cộng sự, 1998). Sự hài lòng công việc là mức độ hài lòng tổng thể được cảm nhận bằng cách xem xét sự hài hòa của các tình huống khác nhau không liên quan gì, nhân viên đánh giá dựa trên công việc của cá nhân hoặc kinh nghiệm làm việc và nó được xem như một trạng thái cảm xúc dễ chịu và tích cực (Jeong và Cho, 2020). Sự hài lòng công việc có thể coi là thước đo chủ quan nắm bắt nhận thức cả nhân viên về cách thức họ hài lòng với mục tiêu thu nhập, mục tiêu thăng tiến, mục tiêu phát triển các kỹ năng mới và mục tiêu nghề nghiệp tổng quát (Olayemi, 2023). Sự hài lòng trong công việc là “một phán đoán đánh giá tích cực (hoặc tiêu cực) mà một người đưa ra về công việc hoặc tình huống công việc của mình (Closon, 2015).

2.2. Các nghiên cứu có liên quan Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

Nghiên cứu của Vlachos và cộng sự (2010) thực hiện về phản ứng của lực lượng bán hàng đối với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Sự quy kết, kết quả và vai trò trung gian của lòng tin tổ chức. Các phát hiện chỉ ra rằng động cơ thúc đẩy bởi bản ngã ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tin của nhân viên bán hàng vào công ty, trong khi động cơ thúc đẩy bởi bên liên quan và giá trị ảnh hưởng tích cực đến lòng tin của nhân viên bán hàng; tuy nhiên, các quy kết thúc đẩy bởi chiến lược không ảnh hưởng đến lòng tin của nhân viên bán hàng. Kết quả tiếp tục tiết lộ vai trò trung gian của lòng tin trong mối quan hệ giữa các quy kết của lực lượng bán hàng và kết quả bao gồm ý định trung thành và truyền miệng tích cực.

Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2012) thực hiện về tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến chất lượng mối quan hệ và kết quả mối quan hệ với góc nhìn của nhân viên dịch vụ. Nghiên cứu cho thấy rằng không phải tất cả các khía cạnh CSR đều có cùng ảnh hưởng đến chất lượng mối quan hệ. Nghiên cứ cho thấy chỉ có khía cạnh kinh tế và từ thiện của CSR có tác động đáng kể đến niềm tin tổ chức, trong khi đó khía cạnh đạo đức là khía cạnh duy nhất có ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc.

Nghiên cứu của Gucer và Serif (2014) thực hiện về niềm tin của tổ chức và sự hài lòng trong công việc tại khách sạn. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có mối tương quan đáng kể giữa nhận thức về lòng tin vào tổ chức của nhân viên khách sạn và sự hài lòng trong công việc của họ. Ngoài ra, theo kết quả phân tích, khi nhận thức của nhân viên về lòng tin đối với quản lý và đồng nghiệp của họ tăng lên, sự hài lòng trong công việc của họ sẽ tăng lên đáng kể trong khi khi họ tăng lòng tin đối với bản thân tổ chức, sự hài lòng trong công việc của họ sẽ tăng lên bình thường.

Nghiên cứu của Closon và cộng sự (2015) cho thấy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có tác động đến cam kết của tổ chức và sự hài lòng trong công việc. Người lao động không thực sự bày tỏ kì vọng đối với chiều kinh tế, từ thiện. Các chiều hướng đạo đức và pháp lý liên quan các tác nhân bên ngoài và bên trong được coi là chính. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cho thấy nhận thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có liên quan đến cam kết tình cảm và sự hài lòng trong công việc.

Nghiên cứu của Fard và Karimi (2015) thực hiện về mối quan hệ giữa niềm tin tổ chức và sự im lặng của tổ chức với sự hài lòng trong công việc và cam kết tổ chức của nhân viên trường Đại học. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng niềm tin vào tổ chức có mối quan hệ nghịch đảo và có ý nghĩa với sự im lặng của tổ chức và có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa với sự hài lòng trong công việc và cam kết của tổ chức. Ngoài ra, có một mối quan hệ nghịch đảo và có ý nghĩa giữa sự im lặng của tổ chức và sự hài lòng trong công việc và cam kết của tổ chức. Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

Nghiên cứu của Gupta và Singla (2016) thực hiện về sự thay đổi tổ chức và sự hài lòng trong công việc với tác động trung gian của niềm tin của tổ chức. Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa niềm tin vào tổ chức và sự hài lòng trong công việc (r = 0,62), niềm tin vào tổ chức và thay đổi tổ chức (r = 0,74) và thay đổi tổ chức và sự hài lòng trong công việc (r = 0,52). Nghiên cứu kết luận rằng thay đổi tổ chức nên được thực hiện trong bầu không khí tin tưởng lẫn nhau. Nó dẫn đến việc hình thành mối liên kết tình cảm giữa tổ chức và nhân viên, từ đó dẫn đến sự hài lòng trong công việc.

Nghiên cứu của Memo (2020) thực hiện nghiên cứu về tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nội bộ đối với sự gắn kết của nhân viên. Nghiên cứu cho thấy trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nội bộ có ảnh hưởng tích cực đến sự gắn kết của nhân viên. Nghiên cứu khuyến khích các nhà quản trị tập trung vào việc xây dựng lòng tin ở nhân viên để cải thiện sự tham gia vào các quy trình của công ty, sử dụng những cách mới để truyền đạt mối quan tâm đến nhân viên thông qua nhiều biện pháp can thiệp của nguồn nhân lực và cơ chế trao đổi lãnh đạo và thành viên.

Nghiên cứu của Kim (2020) thực hiện về tác động của các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến lòng tin của tổ chức và hiệu suất công việc. Đầu tiên, kết quả phân tích tác động của các hoạt động CSR đối với lòng tin của các thành viên trong tổ chức, các yếu tố trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và hoạt động trách nhiệm từ thiện đều có tác động tích cực (+) đáng kể đến lòng tin của các thành viên trong tổ chức. Thứ hai, kết quả phân tích mối quan hệ giữa các tác động của các hoạt động CSR đối với hiệu suất công việc của các thành viên trong tổ chức, các yếu tố trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện đã cho thấy tác động trực tiếp đến hiệu suất công việc của các thành viên trong tổ chức. Thứ ba, lòng tin của các thành viên trong tổ chức được phân tích là một yếu tố tích cực trong hiệu suất công việc. Thứ tư, nghiên cứu này cho thấy tác động trung gian của lòng tin tổ chức đối với tác động của các hoạt động CSR đối với hiệu suất công việc.

Nghiên cứu của Jeong và Cho (2020) cho thấy trách nhiệm đạo đức được phát hiện có ý nghĩa thống kê trong mối quan hệ giữa hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và sự hài lòng trong công việc. Thông qua phân tích thực nghiệm của nghiên cứu này, mối quan hệ tương quan đáng kể đã được xác định giữa các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, niềm tin của tổ chức và sự hài lòng trong công việc. Ngoài ra, người ta thấy rằng niềm tin vào tổ chức là yếu tố hàng đầu để cải thiện sự hài lòng trong công việc.

Nghiên cứu của George và cộng sự (2021) thực hiện về tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến niềm tin tổ chức và cam kết tổ chức. Nghiên cứu cũng cho thấy sự trung gian đáng kể của lòng tin tổ chức hỗ trợ cho quan niệm rằng các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp mở rộng đến các bên liên quan xã hội và phi xã hội, khách hàng và nhân viên được nhân viên nhận thức tích cực và do đó hình thành nên hình ảnh tích cực trong tâm trí họ rằng tổ chức của họ rất chu đáo, nhân từ và có tính chính trực cao trong mối quan hệ với các bên liên quan. Do đó, nhân viên tin tưởng vào tổ chức của họ rằng công ty của họ có đạo đức đối với xã hội, sẽ không thực hiện những hành động gây bất lợi cho lợi ích của nhân viên.

Nghiên cứu của Yan và cộng sự (2022) thực hiện về tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến niềm tin tổ chức và thương hiệu tổ chức. Khi xem xét vai trò của niềm tin giữa CSR và danh tiếng của công ty, người ta khẳng định rằng niềm tin vào tổ chức đóng một vai trò quan trọng. Những nhân viên quan sát thấy công ty của họ có mức độ hoạt động CSR cao sẽ tin rằng công ty họ cũng sẽ có đạo đức trong các giao dịch với họ.

Nghiên cứu của Olayemi và cộng sự (2023) cho thấy nhận thức của nhân viên về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của tổ chức có tác động rõ rệt đến sự gắn kết của nhân viên liên quan đến kết quả công việc và sự hài lòng nghề nghiệp của họ. Nghiên cứu đề xuất tổ chức nên có các chương trình CSR tích cực không chỉ bao gồm các cổ đông mà còn bao gồm tất cả các bên liên quan vì có thể điều này dẫn đến sự hài lòng nghề nghiệp và cam kết tổ chức của nhân viên.

2.3. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

2.3.1. Mô hình nghiên cứu

Dựa trên mô hình kim tử tháp trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) của Carroll (1991) và các nghiên cứu liên quan của Vlachos và cộng sự (2010); Lee và cộng sự (2012); Gucer và Serif (2014); Closon và cộng sự (2015); Fard và Karimi (2015); Gupta và Singla (2016); Artar và Erdil (2017); Memo (2020); Kim (2020); Jeong và Cho (2020); George và cộng sự (2021); Yan và cộng sự (2022); Olayemi và cộng sự (2023), mô hình nghiên cứu được đề xuất như Hình 2.2:

Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.3.2. Các khái niệm nghiên cứu

2.3.2.1. Trách nhiệm kinh tế

Trách nhiệm kinh tế (Economic Responsibilities) là đề cập đến hoạt động có lợi nhuận, hoạt động sản xuất hàng hóa, dịch vụ cho xã hội nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận của tổ chức, tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trưởng (Carroll, 1991). Mục đích cơ bản của doanh nghiệp là sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng cần và muốn, và tạo ra lợi nhuận thông qua quá trình kinh doanh (Carroll, 1991). Nhận thức của nhân viên về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể có tác động tích cực đến lòng tin của tổ chức vì các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nâng cao hình ảnh và tinh thần của nhân viên bằng cách giúp đỡ điều chỉnh danh tính cá nhân với danh tính của công ty (Lee và cộng sự, 2012).

Bên cạnh đó, Vlachos và cộng sự (2010) đã xác định mối quan hệ tích cực giữa nhận thức của nhân viên bán hàng về hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của công ty họ và lòng tin vào tổ chức. Yan và cộng sự (2022) cho rằng hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể đóng vai trò là tín hiệu mạnh mẽ cho nhân viên rằng nhu cầu và lợi ích của họ được coi trọng, những đóng góp tích cực của công ty có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển niềm tin của nhân viên với công ty. Vì vậy đối với nghiên cứu này, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp được hiểu như trách nhiệm xã hội nội bộ doanh nghiệp giữa người sử dụng lao động và người lao động tại doanh nghiệp. Với trách nhiệm kinh tế là trách nhiệm nội bộ trong doanh nghiệp giữa người sử dụng lao động và người lao động làm việc tại doanh nghiệp thông qua những việc người sử dụng lao động thực hiện như nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng sất làm việc nhân viên, tối đa hóa lợi nhuận, từ đó tác động trực tiếp đến người lao động.

2.3.2.2. Trách nhiệm pháp lý Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

Trách nhiệm pháp lý (Legal Responsibilities) là trách nhiệm tuân thủ pháp lý của doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu pháp lý của luật pháp địa phương tại nội bộ doanh nghiệp và sự đảm bảo giữa doanh nghiệp với các bên liên quan (Carroll, 1991). Các doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ mà pháp luật nước sở tại quy định (Carroll, 1991). Trách nhiệm pháp lý thể hiện khái niệm công lý trong hoạt động của tổ chức (Carolina và cộng sự, 2018).

Theo Olayemi (2023), các doanh nghiệp không chỉ được yêu cầu phải chị trách nhiệm về mặt kinh tế trước xã hội mà còn phải tuân thủ các luật và quy định chi phối cách thức hoạt động của chúng. Xã hội không chỉ cho phép doanh nghiệp hoạt động theo động cơ lợi nhuận; đồng thời doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ tuân thủ các luật lệ và quy định do chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phương ban hành như các quy tắc cơ bản mà doanh nghiệp phải tuân thủ (Carroll, 1991). Là một phần thực hiện “hợp đồng xã hội” giữa doanh nghiệp và xã hội, các công ty được kỳ vọng sẽ theo đuổi các sứ mệnh kinh tế của mình trong khuôn khổ của luật pháp (Carroll, 1991). Đối với nghiên cứu này, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp được hiểu như trách nhiệm xã hội nội bộ doanh nghiệp giữa người sử dụng lao động và người lao động tại doanh nghiệp. Với trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm tuân thủ pháp lý nội bộ trong doanh nghiệp tại doanh nghiệp thông qua những việc người sử dụng lao động thực hiện các hoạt động tuân thủ với pháp lý địa phương tại doanh nghiệp.

2.3.2.3. Trách nhiệm đạo đức

Trách nhiệm đạo đức (Ethical Responsibilities) là bao gồm các tiêu chuẩn, chuẩn mực hoặc kỳ vọng phản ánh mối quan tâm về những gì người tiêu dùng, nhân viên, cổ đông và cộng đồng coi là công bằng, chính đáng hoặc phù hợp với sự tôn trọng hoặc bảo vệ các quyền đạo đức của bên liên quan (Carroll, 1991). Theo một nghĩa khác, trách nhiệm đạo đức có thể được coi là bao gồm các giá trị và chuẩn mực mới nổi mà xã hội mong đợi doanh nghiệp phải đáp ứng, mặc dù mặc dù các giá trị và chuẩn mực đó có thể phản ánh tiêu chuẩn hiệu suất cao hơn so với yêu cầu hiện tại của luật (Carroll, 1991). Các tổ chức hành xử về mặt đạo đức, duy trì các tiêu chuẩn và thông lệ văn hóa được chấp nhận mà không được nêu cụ thể trong các văn bản pháp luật nhưng dù sao thì các tổ chức đó vẫn phải tuân thủ và các tổ chức có đạo đức tốt sẽ hành xử theo cách thức và cách thức đó thể hiện sự công bằng, khách quan ngay khi cả pháp luật không yêu cầu (Olayemi, 2023).

Trách nhiệm pháp lý bao gồm khái niệm về sự công bằng trong các hoạt động kinh doanh, trách nhiệm đạo đức tính đến các hoạt động được kỳ vọng của một doanh nghiệp nhưng không được thực thi theo luật (Carolina và cộng sự, 2018). Những hoạt động này không thể được mô tả trong một ranh giới, vì chúng liên tục mở rộng theo kỳ vọng của xã hội (Carolina và cộng sự, 2018). Đối với nghiên cứu này, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp được hiểu như trách nhiệm xã hội nội bộ doanh nghiệp giữa người sử dụng lao động và người lao động tại doanh nghiệp. Với trách nhiệm đạo đức là trách nhiệm đối xử công bằng giữa quản lý doanh nghiệp và người lao động, giữa nhân viên và nhân viên các phòng ban tại doanh nghiệp. Đạo đức của doanh nghiệp sẽ được thể hiện rõ nét thông qua những nguyên tắc, giá trị được trình bày trong sứ mệnh, chiến lược và bộ quy tắc ứng xử của doanh nghiệp thực hiện trong nội bộ. Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

2.3.2.4. Trách nhiệm từ thiện

Trách nhiệm từ thiện (Philanthropic Responsibilities) là đề cập đến thiện chí của doanh nghiệp đối với xã hội (Olayemi, 2023). Hoạt động từ thiện bao gồm các hành động của công ty nhằm đáp ứng kỳ vọng của xã hội rằng các doanh nghiệp phải là những công dân doanh nghiệp tốt (Carroll, 1991). Điều này bao gồm việc tích cực tham gia vào các hành động hoặc chương trình để thúc đẩy phúc lợi hoặc thiện chí của con người (Carroll, 1991). Các ví dụ về hoạt động từ thiện bao gồm các khoản đóng góp của doanh nghiệp về nguồn lực tài chính hoặc thời gian của giám đốc điều hành, chẳng hạn như đóng góp cho nghệ thuật, giáo dục hoặc cộng đồng (Carroll, 1991).

Trách nhiệm từ thiện bao gồm những hoạt động mà một doanh nghiệp tự nguyện thực hiện vì lợi ích của xã hội, ví dụ như cung cấp kinh phí cho sinh viên học tập hoặc giúp các bà mẹ làm việc bằng cách cung cấp một trung tâm chăm sóc ban ngày miễn phí vì vậy một doanh nghiệp nên thực hiện các nhiệm vụ để thúc đẩy phúc lợi của xã hội (Carolina và cộng sự, 2018). Hoạt động từ thiện mang tính tùy ý hoặc tự nguyện hơn đối với các doanh nghiệp mặc dù luôn có kỳ vọng của xã hội rằng các doanh nghiệp phải cung cấp hoạt động này (Carroll, 1991). Đối với nghiên cứu này, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp được hiểu như trách nhiệm xã hội nội bộ doanh nghiệp giữa người sử dụng lao động và người lao động tại doanh nghiệp. Với trách nhiệm từ thiện là những hoạt động mà doanh nghiệp tự nguyện thực hiện vì lợi ích xã hội, cải thiện cộng đồng địa phương, nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của toàn xã hội.

2.3.2.5. Lòng tin tổ chức

Lòng tin tổ chức (Organizational Trust) là kỳ vọng, giả định hoặc niềm tin về khả năng hành động trong tương lai của người khác có lợi, thuận lợi hoặc ít nhất là không gây bất lợi cho lợi ích của mình (George và cộng sự, 2021). Lòng tin đã được công nhận là một thành phần thiết yếu để duy trì một mối quan hệ thành công lâu dài (Berry, 1995). Dựa trên nghiên cứu trước đây (Mayer và cộng sự, 1995), nghiên cứu này định nghĩa lòng tin là “sự sẵn sàng của một người dễ bị tổn thương trước hành động của một bên khác dựa trên kỳ vọng rằng bên kia sẽ thực hiện một hành động cụ thể quan trọng đối với người tin cậy bất kể khả năng giám sát hoặc kiểm soát bên kia (Mayer và cộng sự, 1995). Mở rộng điều này sang bối cảnh tổ chức, lòng tin là sự sẵn sàng của các bên liên quan (ví dụ: nhân viên) dễ bị tổn thương trước các hành động của tổ chức vì họ mong đợi tổ chức sẽ đưa ra quyết định và thực hiện có tính đến lợi ích và phúc lợi của họ (Mayer và cộng sự, 1995). Lòng tin tổ chức là thái độ tích cực đối với một tổ chức từ góc độ nhận thức (Jeong và Cho, 2020).

Theo Yan (2022) thì lòng tin tổ chức là cách nhân viên nhận thức được sự tin cậy toàn cầu của tổ chức. Lòng tin ở nơi làm việc gắn liền với tổ chức sự đổi mới và hiệu suất và nhân viên càng cam kết với công ty thì càng ít cần có thời gian và tiền bạc để thuê và đào tạo nhân viên mới và càng ít có khả năng mất đi nhân viên tiềm năng hoặc nhân viên hiện có Yan (2022). Đối với nghiên cứu này, lòng tin tổ chức được hiểu như cách nhân viên nhận thức được sự tin cậy, niềm tin về khả năng hành động trong tương lai của tổ chức. Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

2.3.2.6. Sự hài lòng công việc

Sự hài lòng công việc (Job Satisfaction) là trạng thái cảm vui vẻ hoặc tích cực của nhân viên có được từ việc đánh giá công việc hoặc kinh nghiệm làm việc của một người (Lee và cộng sự, 2012). Sự hài lòng công việc là mức độ hài lòng tổng thể được cảm nhận bằng cách xem xét sự hài hòa của các tình huống khác nhau không liên quan gì, nhân viên đánh giá dựa trên công việc của cá nhân hoặc kinh nghiệm làm việc và nó được xem như một trạng thái cảm xúc dễ chịu và tích cực (Jeong và Cho, 2020). Sự hài lòng công việc có thể coi là thước đo chủ quan nắm bắt nhận thức cả nhân viên về cách thức họ hài lòng với mục tiêu thu nhập, mục tiêu thăng tiến, mục tiêu phát triển các kỹ năng mới và mục tiêu nghề nghiệp tổng quát (Olayemi, 2023). Sự hài lòng trong công việc là “một phán đoán đánh giá tích cực (hoặc tiêu cực) mà một người đưa ra về công việc hoặc tình huống công việc của mình (Closon, 2015). Đối với nghiên cứu này, sự hài lòng công việc được hiểu là mức độ hài lòng tổng thể được cảm nhận bằng cách xem xét sự hài hòa của các tình huống khác nhau như sự hài lòng với công việc hiện tại, môi trường làm việc, đồng nghiệp, quản lý (Closon, 2015).

2.3.3. Giả thuyết nghiên cứu

Nhận thức của nhân viên về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể có tác động tích cực đến lòng tin của tổ chức vì các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nâng cao hình ảnh và tinh thần của nhân viên bằng cách giúp đỡ điều chỉnh danh tính cá nhân với danh tính của công ty (Lee và cộng sự, 2012). Vlachos và cộng sự (2010) đã xác định mối quan hệ tích cực giữa nhận thức của nhân viên bán hàng về hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của công ty họ và lòng tin vào tổ chức. Nghiên cứu của Memo (2020) cũng cho thấy CSR nội bộ có ảnh hưởng tích cực đến sự gắn kết của nhân viên, bên cạnh đó cũng phát hiện ra vai trò trung gian tích cực của lòng tin tổ chức trong mối quan hệ giữa CSR nội bộ và sự gắn kết nhân viên. Mặt khác, Lee và cộng sự (2012) thừa nhận rằng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có tác động tích cực gắn liền với sự tin tưởng vào tổ chức của nhân viên. Yan và cộng sự (2022) cũng thừa nhận rằng tổ chức tham gia vào các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tập trung vào nhân viên sẽ được hưởng nhiều sự tin tưởng hơn vào tổ chức của họ. Trong khi đó, Kim (2020); Jeong và Cho (2020) cho thấy một cách rõ ràng nhất khi trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bao gồm trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, và trách nhiệm từ thiện có ảnh hưởng đến tích cực đến lòng tin tổ chức. Do đó, đối với trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, giả thuyết H1 được đề xuất như sau:

Giả thuyết H1: Trách nhiệm kinh tế có ảnh hưởng tích cực đến lòng tin tổ chức. Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

Nhận thức của nhân viên về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể có tác động tích cực đến lòng tin của tổ chức vì các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nâng cao hình ảnh và tinh thần của nhân viên bằng cách giúp đỡ điều chỉnh danh tính cá nhân với danh tính của công ty (Lee và cộng sự, 2012). Vlachos và cộng sự (2010) đã xác định mối quan hệ tích cực giữa nhận thức của nhân viên bán hàng về hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của công ty họ và lòng tin vào tổ chức. Nghiên cứu của Memo (2020) cũng cho thấy CSR nội bộ có ảnh hưởng tích cực đến sự gắn kết của nhân viên, bên cạnh đó cũng phát hiện ra vai trò trung gian tích cực của lòng tin tổ chức trong mối quan hệ giữa CSR nội bộ và sự gắn kết nhân viên. Mặt khác, Lee và cộng sự (2012) thừa nhận rằng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có tác động tích cực gắn liền với sự tin tưởng vào tổ chức của nhân viên. Yan và cộng sự (2022) cũng thừa nhận rằng tổ chức tham gia vào các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tập trung vào nhân viên sẽ được hưởng nhiều sự tin tưởng hơn vào tổ chức của họ. Trong khi đó, Kim (2020); Jeong và Cho (2020) cho thấy một cách rõ ràng nhất khi trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bao gồm trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, và trách nhiệm từ thiện có ảnh hưởng đến tích cực đến lòng tin tổ chức. Do đó, đối với trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, giả thuyết H2 được đề xuất như sau:

Giả thuyết H2: Trách nhiệm pháp lý có ảnh hưởng tích cực đến lòng tin tổ chức.

Nhận thức của nhân viên về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể có tác động tích cực đến lòng tin của tổ chức vì các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nâng cao hình ảnh và tinh thần của nhân viên bằng cách giúp đỡ điều chỉnh danh tính cá nhân với danh tính của công ty (Lee và cộng sự, 2012). Vlachos và cộng sự (2010) đã xác định mối quan hệ tích cực giữa nhận thức của nhân viên bán hàng về hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của công ty họ và lòng tin vào tổ chức. Nghiên cứu của Memo (2020) cũng cho thấy CSR nội bộ có ảnh hưởng tích cực đến sự gắn kết của nhân viên, bên cạnh đó cũng phát hiện ra vai trò trung gian tích cực của lòng tin tổ chức trong mối quan hệ giữa CSR nội bộ và sự gắn kết nhân viên. Mặt khác, Lee và cộng sự (2012) thừa nhận rằng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có tác động tích cực gắn liền với sự tin tưởng vào tổ chức của nhân viên. Yan và cộng sự (2022) cũng thừa nhận rằng tổ chức tham gia vào các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tập trung vào nhân viên sẽ được hưởng nhiều sự tin tưởng hơn vào tổ chức của họ. Trong khi đó, Kim (2020); Jeong và Cho (2020) cho thấy một cách rõ ràng nhất khi trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bao gồm trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, và trách nhiệm từ thiện có ảnh hưởng đến tích cực đến lòng tin tổ chức. Do đó, đối với trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, giả thuyết H3 được đề xuất như sau:

Giả thuyết H3: Trách nhiệm từ thiện có ảnh hưởng tích cực đến lòng tin tổ chức. Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

Nhận thức của nhân viên về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể có tác động tích cực đến lòng tin của tổ chức vì các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nâng cao hình ảnh và tinh thần của nhân viên bằng cách giúp đỡ điều chỉnh danh tính cá nhân với danh tính của công ty (Lee và cộng sự, 2012). Vlachos và cộng sự (2010) đã xác định mối quan hệ tích cực giữa nhận thức của nhân viên bán hàng về hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của công ty họ và lòng tin vào tổ chức. Nghiên cứu của Memo (2020) cũng cho thấy CSR nội bộ có ảnh hưởng tích cực đến sự gắn kết của nhân viên, bên cạnh đó cũng phát hiện ra vai trò trung gian tích cực của lòng tin tổ chức trong mối quan hệ giữa CSR nội bộ và sự gắn kết nhân viên. Mặt khác, Lee và cộng sự (2012) thừa nhận rằng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có tác động tích cực gắn liền với sự tin tưởng vào tổ chức của nhân viên. Yan và cộng sự (2022) cũng thừa nhận rằng tổ chức tham gia vào các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tập trung vào nhân viên sẽ được hưởng nhiều sự tin tưởng hơn vào tổ chức của họ. Trong khi đó, Kim (2020); Jeong và Cho (2020) cho thấy một cách rõ ràng nhất khi trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bao gồm trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, và trách nhiệm từ thiện có ảnh hưởng đến tích cực đến lòng tin tổ chức. Do đó, đối với trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, giả thuyết H4 được đề xuất như sau:

Giả thuyết H4: Trách nhiệm đạo đức có ảnh hưởng tích cực đến lòng tin tổ chức.

Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2012) cho thấy rằng chỉ có khía cạnh đạo đức của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp mới có tác động tích cực đáng kể đến sự hài lòng trong công việc. Phát hiện này gợi ý rằng một trong những cách để tăng sự hài lòng trong công việc của nhân viên là thông qua hành vi đạo đức của doanh nghiệp (Lee và cộng sự, 2012). Khía cạnh đạo đức của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan trực tiếp hơn đến môi trường làm việc hoặc điều kiện cho nhân viên hơn các khía cạnh khác của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp như tổ chức có các tiêu chuẩn hoặc chính sách đạo đức tại nơi làm việc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường làm việc (Lee và cộng sự, 2012). Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Jeong và Cho (2020) cũng cho thấy trong bốn thành phần của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp thì chỉ có trách nhiệm đạo đức có ảnh hưởng đáng kể đến sự hài lòng công việc. Theo Closon (2015) thì những thực hành về trách nhiệm đạo đức của doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng công việc của nhân viên. Theo Olayemi (2023) thì trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nội bộ trong đó có trách nhiệm đạo đức có tác động tích cực đến sự hài lòng công việc cả nhân viên. Do đó, đối với trách nhiệm đạo đức (DSR) và sự hài lòng công việc (JSR) trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, giả thuyết H5 được đề xuất:

Giả thuyết H5: Trách nhiệm đạo đức có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng công việc.

Theo Gupta và Singla (2016) thì sự hài lòng trong công việc phát sinh như một hệ quả của mối quan hệ giữa sự thay đổi của tổ chức và lòng tin của tổ chức. Lòng tin vào tổ chức là một trong những thành phần cải thiện hiệu suất của tổ chức và nếu người quản lý có nhận thức chính xác về nó, nó sẽ dẫn đến sự hài lòng trong công việc và cam kết của nhân viên (Fard và Karimi, 2015). Nhân viên sẽ bắt đầu tin tưởng vào người quản lý của mình và những lời họ nói, nhờ vào các thực hành đáng tin cậy của người quản lý trong tổ chức và lòng tin vào tổ chức sẽ làm tăng sự hài lòng trong công việc của nhân viên và cam kết với tổ chức (Artar và Erdil, 2017). Trong khi đó, nhận thức về lòng tin vào tổ chức của nhân viên ngày càng tăng, mức độ hài lòng trong công việc của họ cũng tăng theo và khi nhận thức của nhân viên về lòng tin đối với quản lý và đồng nghiệp của họ tăng lên, sự hài lòng trong công việc của họ sẽ tăng lên đáng kể (Gucer và Serif, 2014). Do đó, đối với long tin tổ chức (OTR) và sự hài lòng công việc (JSR) trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, giả thuyết H5 được đề xuất như sau:

Giả thuyết H6: Lòng tin tổ chức có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng công việc.

2.4. Tóm tắt chương 2 

Chương 2 trong luận văn đã tóm tắt và trình bày tổng quan về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, các thành phần của CSR, lòng tin tổ chức và sự hài lòng công việc, tác giả đã tham khảo các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài. Chương này đã đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu nhằm phân tích tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến lòng tin tổ chức và sự hài lòng công việc của nhân viên. Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: PPNC Trách nhiệm xã hội DN ảnh hưởng đến công việc

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ảnh hưởng công việc […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993