Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Tiêu đề: Các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.

Tóm tắt: Nghiên cứu tìm hiểu “các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam”. Việc xác định tỷ lệ an toàn vốn giúp ngân hàng và các nhà đầu tư nhận biết mức độ rủi ro để báo hiệu cho người gửi tiền nhằm mục đích tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống ngân hàng. Dựa vào tỷ lệ an toàn vốn, nhà đầu tư có thể xác định được khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và các rủi ro. Khi ngân hàng bảo đảm được tỷ lệ an toàn vốn, ngân hàng có được khả năng chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ khách hàng của ngân hàng mình. Nhằm mục đích đưa ra các giải pháp nhằm quản lý, duy trì hệ số an toàn vốn của ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn Basel trong thời gian tới. Các kết quả nghiên cứu từ những năm trước chưa phản ánh hết biến động của các yếu tố đến CAR tại thời điểm hiện tại. Do đó, tác giả muốn mở rộng và cập nhật thời gian nghiên cứu từ năm 2014 – 2023 để đánh giá kết quả một cách đầy đủ, khách quan, chính xác hơn. Tại Việt Nam, thời điểm đại dịch Covid-19 bùng phát đã có nhiều sự thay đổi từ các ngân hàng thương mại cổ phần, tuy nhiên các ngân hàng vẫn bị tác động tiêu cực, mặc dù là sự tác động đó luôn có độ trễ. Dữ liệu nghiên cứu của 26 ngân hàng thương mại cổ phần đang hoạt động, từ năm 2014 – 2023. Tác giả sử dụng hồi quy dữ liệu bảng và cho kết quả mô hình FGLS được sử dụng để nghiên cứu, cho kết quả rằng trong giai đoạn nghiên cứu, hệ số an toàn vốn chịu tác động của các yếu tố quy mô ngân hàng, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, tỷ lệ đòn bẩy tài chính, tỷ lệ tiền gửi khách hàng, yếu tố tỷ lệ lạm phát và yếu tố tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Để hệ số an toàn vốn của ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam ở mức phù hợp, hiệu quả, tác giả đã đề ra biện pháp cho các nhà quản trị để điều chỉnh, kiểm soát từng yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn mà kết quả nghiên cứu đã chỉ ra.

Từ khóa: Hệ số an toàn vốn, tiêu chuẩn Basel, yếu tố tác động.

ABSTRACT: Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

Title: Factors affecting the capital adequacy ratio of joint stock commercial banks in Vietnam.

Abstract: Research to understand “factors affecting the capital adequacy ratio of Vietnamese joint stock commercial banks”. Determining the capital adequacy ratio helps banks and investors identify the level of risk to signal to depositors with the aim of increasing the stability and efficiency of the banking system. Based on the capital adequacy ratio, investors can determine the bank’s ability to pay term debts and risks. When a bank can ensure the capital adequacy ratio, the bank has the ability to resist financial shocks, both protecting itself and its customers. Aims to provide solutions to manage and maintain the capital adequacy ratio of joint stock commercial banks in Vietnam to meet Basel standards in the coming time. Research results from previous years do not reflect all the fluctuations in factors affecting CAR at the present time. Therefore, the author wants to expand and update the research period from 2014 – 2023 to evaluate the results more fully, objectively, and accurately. In Vietnam, when the Covid-19 pandemic broke out, there were many changes in joint stock commercial banks, but banks were still negatively impacted, although that impact was always high. late. Research data of 26 operating joint stock commercial banks, from 2014 – 2023.

The author uses panel data regression and shows the results of the FGLS model used for research, showing that during the research period, the capital adequacy ratio is affected by factors such as bank size, return on total assets, financial leverage ratio, customer deposit ratio, inflation rate factor and economic growth factor. To keep the capital adequacy ratio of joint stock commercial banks in Vietnam at an appropriate and effective level, the author has proposed measures for administrators to adjust and control each factor affecting the ratio. capital safety that research results have shown.

Keywords: Capital adequacy ratio, Basel standards, impact factors.

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, nhiều bài học kinh nghiệm sau các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, ngành ngân hàng là lĩnh vực đối diện với nhiều rủi ro và nó tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế. Để giúp cho ổn định hệ thống ngân hàng, các ngân hàng trên thế giới đã tập trung điều hành, quản trị rủi ro, đòi hỏi chấp hành nghiêm hơn và khắt khe hơn các quy chuẩn, quy định. Từ đó, các tiêu chuẩn Basel đã áp dụng rộng rãi tại các nước trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Được xem là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đánh giá mức độ an toàn vốn của ngân hàng, hệ số an toàn vốn (CAR- Capital Adequacy Ratio) đồng thời là chỉ tiêu để nhà quản lý có cái nhìn, đánh giá độ an toàn, sức khỏe về tài chính của ngân hàng. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

Một trong những yêu cầu thiết yếu đối với các ngân hàng, tổ chức tài chính là phải có đủ vốn và mọi ngân hàng, tổ chức tài chính phải cân bằng giữa vốn và rủi ro sẵn có trong tài sản của mình để đảm bảo sự ổn định. Vì vậy, nó đã trở thành một trong những tiêu chí quan trọng nhất đối với các ngân hàng.

Căn cứ CAR để ngân hàng thể hiện độ tín nhiệm, niềm tin đối với khách hàng, bởi cơ bản mọi khách hàng luôn mong chờ nguồn vốn của mình được tiết kiệm một cách an toàn và hiệu quả.

Ở Việt Nam, từ năm 2005, các ngân hàng thương mại đã triển khai áp dụng các tiêu chuẩn Basel theo quyết định 457/2005/QĐ-NHNN. Đến năm 2022, việc thực hiện CAR được thực hiện theo thông tư số 41/2016/TT – NHNN, và đến năm 2023 thực hiện theo quy định tại Thông tư số 23/2020/TT-NHNN.

CAR là một chỉ tiêu rất quan trọng, chính vì vậy, để ngân hàng thương mại tăng tính ổn định của hệ thống tài chính, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trước những rủi ro. Để ngân hàng hoạt động có hiệu quả thì việc các nhà quản trị phải nắm rõ được CAR là nội dung rất quan trọng. Qua đó, cần tìm hiểu, lượng hóa sự tác động của các nhân tố đến CAR của ngân hàng để đề xuất chính sách trong quản trị nhằm sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam.

Trong bối cảnh hiện tại, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến CAR của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) giai đoạn từ 2014 – 2023 là rất cần thiết, thông qua tính toán để đánh giá được thưc trạng về CAR của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023. Qua đó, đưa ra các giải pháp nhằm quản lý, duy trì CAR của NHTMCP Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn Basel trong thời gian tới. Các kết quả nghiên cứu từ những năm trước chưa phản ánh hết biến động của các yếu tố đến CAR tại thời điểm hiện tại. Do đó, tác giả muốn mở rộng và cập nhật thời gian nghiên cứu từ năm 2014 – 2023 để đánh giá kết quả một cách đầy đủ, khách quan, chính xác hơn. Tại Việt Nam, thời điểm đại dịch Covid-19 bùng phát đã có nhiều sự thay đổi từ các NHTMCP, tuy nhiên các ngân hàng vẫn bị tác động tiêu cực, mặc dù là sự tác động đó luôn có độ trễ. Tình hình nền kinh tế có nhiều thay đổi, muốn hiểu rõ và hoàn thiện thêm các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài tác động đến CAR của các NHTMCP một cách hoàn thiện, do vậy mà tác giả đã chọn lựa chủ đề “Các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. Việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến CAR là vấn đề tất yếu, từ đó nhà quản trị có những giải pháp nhằm ổn định hoạt động tại các NHTMCP Việt Nam và góp phần phát triển kinh tế quốc gia.

1.2. Mục tiêu của đề tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

Xác định được các yếu tố tác động đến CAR của các NHTMCP, kiểm định mức tác động của các yếu tố đến CAR.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, luận văn đặt ra các mục tiêu cụ thể trong nghiên cứu như sau:

  • Một là, hệ thống cơ sở lý luận và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến CAR của các NHTMCP tại Việt Nam.
  • Hai là, đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố tác động đến CAR của các NHTMCP tại Việt Nam.
  • Ba là, kết luận và đề xuất các hàm ý chính sách để duy trì an toàn về vốn cho các NHTMCP tại Việt Nam.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu như sau:

  • Một là, các yếu tố nào tác động đến CAR của các NHTMCP tại Việt Nam?
  • Hai là, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến CAR của các NHTMCP tại Việt Nam ra sao?
  • Ba là, những đề xuất, biện pháp, chính sách liên quan đến CAR của các NHTMCP ở Việt Nam là gì?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố tác động đến CAR của các NHTMCP ở Việt Nam.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu về không gian: tác giả chọn mẫu đại diện cho các NHTMCP là các ngân hàng có công bố CAR và các dữ liệu có liên quan, đề tài nghiên cứu 26 NHTMCP tại Việt Nam, ngoại trừ nhóm ngân hàng nước ngoài do nhóm này có tính chất đặc thù.

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: mẫu dữ liệu bảng được thu thập từ 26 NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2014 – 2023. Trong khoảng thời gian này, NHNN Việt Nam bắt đầu thí điểm thực hiện tiêu chuẩn Basel II và đồng thời đây là giai đoạn nền kinh tế chịu sự tác động lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, đại dịch Covid-19, xung đột địa chính trị trên thế giới diễn biến phức tạp và cuộc đua của các NHTMCP để tăng vốn điều lệ, dẫn đến có những biến động nhất định trong giai đoạn 2014 – 2023.

1.5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

Luận văn sử dụng dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính của 26 NHTMCP Việt Nam và dữ liệu về kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023.

Luận văn được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, trong đó phương pháp nghiên cứu định lượng cụ thể: thực hiện thông qua phân tích hồi quy bội dựa trên dữ liệu bảng, phương pháp kiểm định mô hình sử dụng các mô hình Pooled OLS, FEM, REM. Tiếp theo, tiến hành lựa chọn mô hình phù hợp bằng kiểm định Hausman. Xem xét các khuyết tật của mô hình được chọn thông qua các kiểm định Breusch-Pagan; Wald F-test. Cuối cùng, sử dụng phương pháp FGLS để khắc phục các khuyết tật mô hình nếu có và dựa vào kết quả để thảo luận và làm cơ sở đề xuất hàm ý chính sách.

1.6. Đóng góp của đề tài

1.6.1. Về mặt lý luận

Nghiên cứu này tổng hợp khung lý thuyết liên quan đến CAR. Đồng thời, thông qua các nghiên cứu trước để xác định các khoảng trống nghiên cứu, từ đó làm cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu áp dụng cho các NHTMCP Việt Nam, thông qua việc phân tích số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2014 đến năm 2023. Mặt khác, nghiên cứu này là cơ sở để tiếp nối và mở rộng cho các nghiên cứu tiếp theo có cùng lĩnh vực trong tương lại ở Việt Nam.

1.6.2. Về mặt thực tiễn

Nghiên cứu đã cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến CAR của NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2023. Từ kết quả nghiên cứu đề xuất chính sách có tính khả thi để có thể nâng cao CAR nhằm duy trì hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định và hiệu quả.

1.7.  Bố cục của đề tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

Ngoài phần mở đầu, danh mục, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn nghiên cứu bao gồm có 5 chương, cụ thể như sau:

  • Chương 1: Giới thiệu đề tài
  • Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
  • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
  • Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
  • Chương 5: Kết luận và đề xuất

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tác giả đã trình bày lý do lựa chọn chủ đề “Các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. Theo đó, tác giả trình bày mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả khái quát những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài, đồng thời nêu bố cục của bài nghiên cứu.

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở lý luận về hệ số an toàn vốn

2.1.1. Khái niệm về hệ số an toàn vốn

Ủy ban Basel là tổ chức được thành lập nhằm mục đích ngăn chặn sự sụp đổ của hàng loạt ngân hàng trong giai đoạn lúc bấy giờ, năm 1974 ủy ban Basel về giám sát ngân hàng được thành lập. Cho đến năm 1988, ủy ban Basel mới cho giới thiệu hệ thống đo lường vốn Basel I. Hệ thống đo lường vốn có hệ số an toàn vốn tối thiểu là 8%, có nghĩa là tỷ lệ vốn bắt buộc tính trên tổng tài sản điều chỉnh rủi ro ở mức an toàn là 8%. Basel I được phổ biến và áp dụng trong các nước thành viên G10 và một số nước khác trên thế giới.

Đến tháng 6 năm 2004, để đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống ngân hàng, hiệp ước Basel về vốn mới ra đời, đẩy mạnh việc chấp thuận thông lệ và quy định một cách nghiêm ngặt hơn. Ủy ban Basel cũng đã đề xuất khung đo lường phiên bản Basel II có hiệu lực từ năm 2007 và hoàn thành thời gian chuyển đổi Basel I sang tiêu chuẩn Basel II đến hết năm 2010.

Tháng 9 năm 2010, tiêu chuẩn vốn mới Basel III được ủy ban Basel đưa ra, có hiệu lực từ năm 2013 và hoàn thành thời gian chuyển đổi vào năm 2019. Những thay đổi căn bản trong phiên bản Basel III là tập trung tăng cường về vốn của ngân hàng, giới thiệu các yêu cầu mới quy định về tính thanh khoản và các đòn bẩy trong ngân hàng. Giúp duy trì hệ thống ngân hàng ổn định, giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng từng bước hoàn thành chỉ tiêu, đáp ứng yêu cầu nghiêm ngặt và ủy ban Basel đã đặt ra.

Mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận và đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh là những mục tiêu xác định trọng tâm của các doanh nghiệp, trong đó có các NHTMCP. Do đặc thù là ngành kinh doanh đặc biệt, hệ thống NHTMCP có tác động lớn đến mọi hoạt động kinh tế và vai trò cốt lõi trong hệ thống tài chính của quốc gia. Do đó, công tác giám sát rủi ro hoạt động ngân hàng ngày càng chặt chẽ là tất yếu và trở thành xu thế chung trên thế giới.

CAR là một chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có và tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng thương mại. CAR là thước đo quan trọng để đo mức độ an toàn hoạt động của ngân hàng, được ủy ban Basel xây dựng và phát triển phù hợp với đặc điểm của từng giai đoạn. Đáp ứng yêu cầu của hiệp ước Basel là giải pháp để các ngân hàng thương mại đứng vững trước những biến động khó lường của thị trường tài chính và nền kinh tế.

CAR là một trong những chỉ tiêu phản ánh về sức khỏe tài chính của ngân hàng và là chỉ tiêu cực kỳ hữu ích trong việc ngăn chặn các ngân hàng khỏi nguy cơ phá sản, là một biện pháp tự vệ, bảo vệ các bên liên quan trong hoạt động ngân hàng. CAR cũng đồng thời là một chỉ tiêu phản ánh khả năng chịu đựng của ngân hàng thương mại trước những tổn thất bất ngờ phát sinh trong tương lai. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

Tóm lại, hệ số an toàn vốn là tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản, đóng vai trò đánh giá tình hình tài chính, sự ổn định của ngân hàng, duy tri hoạt động kinh doanh của ngân hàng được ổn định (Bateni và cộng sự, 2014).

Tại Việt Nam, từ năm 2005, việc triển khai áp dụng hiệp ước Basel đã bước đầu được triển khai thực hiện khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam ban hành Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN dựa theo tiêu chuẩn an toàn vốn của Basel I; Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của NHNN; Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN; Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 của NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Quy định áp dụng CAR theo tiêu chuẩn Basel II từ ngày 01/01/2020 là 8%, hiện nay các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đang từng bước triển khai, thực hiện theo quy định.

Thông tư 41/2016/TT-NHNN xác định: “Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phản ánh mức đủ vốn của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên cơ sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng gồm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất”.

Từ khái niệm hệ số an toàn vốn, tác giả phân tích các lý thuyết liên quan đến vốn cấp 1, vốn cấp 2 và tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng như sau:

Vốn cấp 1, hay vốn cốt lõi, bao gồm vốn tự có, vốn cổ phần thường, tài sản vô hình và dự phòng doanh thu đã được kiểm toán. Vốn cấp 1 được sử dụng để xử lý các khoản lỗ và không yêu cầu ngân hàng ngừng hoạt động. Vốn cấp 1 là vốn có sẵn vĩnh viễn và dễ dàng để bù đắp cho các khoản lỗ mà ngân hàng phải chịu mà không phải ngừng hoạt động. Một ví dụ điển hình về vốn cấp một của ngân hàng là vốn cổ phần thường.

Vốn cấp 2  bao gồm lợi nhuận giữ lại chưa được kiểm toán, dự trữ chưa được kiểm toán và dự phòng tổn thất chung. Nguồn vốn này sẽ hấp thụ các khoản lỗ trong trường hợp công ty  ngừng hoạt động  hoặc thanh lý. Vốn cấp 2 là vốn có khả năng chịu lỗ trong trường hợp ngân hàng gặp khó khăn, do đó, nó cung cấp mức độ bảo vệ thấp hơn cho người gửi tiền và chủ nợ. Nó được sử dụng để xử lý các khoản lỗ nếu một ngân hàng mất tất cả vốn cấp 1 của mình.

Tài sản có trọng số rủi ro  được tính toán bằng cách xem xét các khoản vay của ngân hàng, đánh giá rủi ro và sau đó ấn định trọng số. Khi đo lường mức độ rủi ro tín dụng , các điều chỉnh được thực hiện đối với giá trị của các tài sản được liệt kê trên bảng cân đối của bên cho vay. Tất cả các khoản cho vay mà ngân hàng đã phát hành đều được tính trọng số dựa trên mức độ rủi ro tín dụng của chúng. Tài sản có trọng số rủi ro được sử dụng để xác định số vốn tối thiểu mà ngân hàng và các tổ chức khác phải nắm giữ để giảm rủi ro  mất khả năng thanh toán . Yêu cầu về vốn  dựa trên  đánh giá rủi ro  đối với từng loại tài sản ngân hàng.

2.1.2. Ý nghĩa của hệ số an toàn vốn Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

CAR là chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động thuộc lĩnh vực ngân hàng. CAR là thước đo cơ bản để NHNN có thể đánh giá sự an toàn, lành mạnh, chuẩn mực về tài chính của ngân hàng. Nếu một ngân hàng có CAR duy trì ở mức thấp, thì ngân hàng này được đánh giá là có độ an toàn hoạt động không cao, mức độ chống chịu trước những rủi ro có thể xảy ra bị hạn chế. NHNN thông qua đó để kiểm tra, đánh giá, rà soát, thực hiện các biện pháp kiểm soát điều hành. NHNN luôn xác định CAR ở mức tối thiểu và đồng thời luôn giám sát hoạt động này một cách chặt chẽ. CAR được ngân hàng chú trọng và đảm bảo sẽ giúp ngân hàng có lợi thế trong việc nâng cao mức xếp hạng tín nhiệm, từ đó nâng cao vị thế của ngân hàng, giúp thu hút các nhà đầu tư và khách hàng. CAR còn là chỉ tiêu giúp đánh giá sức khỏe của hệ thống ngân hàng.

2.1.3. Phương pháp đo lường hệ số an toàn vốn

2.1.3.1. Theo Hiệp ước Basel

  • (i) Theo Basel I

Theo Basel I, CAR được xác định bằng tỷ lệ % giữa tổng số vốn cấp 1 và vốn cấp 2 chia cho tài sản đã điều chỉnh rủi ro.

Hiệp ước Basel I yêu cầu các NHTM duy trì CAR ở mức 8%. Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt nhất khi có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%.

Vốn của các ngân hàng được chia thành 3 loại:

  • Vốn cấp 1: chủ yếu là vốn chủ sở hữu.
  • Vốn cấp 2: nguồn vốn bổ sung có độ tin cậy thấp hơn như nguồn vốn từ phát hành trái phiếu chuyển đổi, vốn tăng do đánh giá lại tài sản, các khoản dự phòng tổn thất chung của ngân hàng.
  • Vốn cấp 3: các khoản vay ngắn hạn.

Theo Basel I, vốn cấp 1 phải lớn hơn hoặc bằng vốn cấp 2 cộng vốn cấp 3 và vốn cấp 3 không được xét đến khi tính CAR.

Basel I đưa ra 4 mức rủi ro cho các loại tài sản là 0%, 20%, 50% và 100%. Liên quan đến rủi ro, năm 1996, Basel I bổ sung rủi ro thị trường, thực thi chậm nhất vào 1/1/1998.

  • Theo Basel II Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

Theo Vũ Ngọc Diệp (2017), mục tiêu của Basel II là: “Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế, đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro”.

Basel II được xây dựng và thay đổi trên 03 nội dung chính: Thứ nhất, duy trì CAR bắt buộc; thứ 2 và thứ 3 liên quan đến quy trình đánh giá hoạt động thanh tra giám sát và công bố thông tin. Theo Basel II thì CAR tối thiểu vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro, nhưng phần mẫu là rủi ro được tính toán theo 3 yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt gồm: rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động), rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và trọng số rủi ro bao gồm nhiều mức, từ 0% đến 150% hoặc hơn.

Theo đó, phần mẫu số để tính CAR có một số thay đổi đáng kể.

  • Theo Basel III

Basel II đã phát triển và cải tiến Basel I nhưng vẫn chưa đủ để giúp các ngân hàng chống đỡ trước những rủi ro. Bộ tiêu chuẩn Basel III ra đời, yêu cầu ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao và có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu chi trả trong trường hợp có rủi ro bất thường. Thay đổi chính trong Basel III là nâng tỉ trọng và chất lượng vốn. Vốn cấp 1 tăng từ 4% trong Basel II lên 6% trong Basel III. Yêu cầu bổ sung phần vốn đệm dự phòng tài chính. Nâng cao khả năng nắm bắt rủi ro, tăng đáng kể.

Bảng 2.1. Tổng hợp cách đo lường CAR theo các phiên bản Basel

Phiên bản Ban hành Thời gian bắt đầu áp dụng Công thức tính CAR
Basel I 1988 1992 Vốn cấp 1+ Vốn cấp 2

CAR =  Tài sản đã điều chỉnh rủi ro

Basel II 2004 2006 Vốn tự có

CAR =

Tài sản đã điều chỉnh rủi ro tín dụng

+ Tài sản đã điều chỉnh rủi ro hoạt động

+ Tài sản đã điều chỉnh rủi ro thị trường

Basel III 2010 01/2013- 01/2019 Vốn tự có

CAR =

Tài sản đã điều chỉnh rủi ro tín dụng

+ Tài sản đã điều chỉnh rủi ro hoạt động

+ Tài sản đã điều chỉnh rủi ro thị trường

2.1.3.2. Cách tính hệ số an toàn vốn ở Việt Nam

Tại Việt Nam, cách tính CAR được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN Việt Nam quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. CAR tính theo đơn vị phần trăm (%) được xác định bằng công thức dưới đây: Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

  • C
  • CAR =  x 100%
  • RWA + 12,5 (KOR + KMR)

Trong đó:

  • C: Vốn tự có
  • RWA: Tổng tài sản tính theo rủi ro tín dụng
  • KOR : Vốn yêu cầu cho rủi ro hoạt động
  • KMR : Vốn yêu cầu cho rủi ro thị trường

Bảng 2.2. Tổng hợp các quy định về CAR ở Việt Nam

TT Văn bản quy định Trích yếu nội dung Thời gian thực hiện Quy định
1 Quyết định số 457/2005/QĐNHNN ngày 19/4/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng 06/5/2005 CAR tối thiểu là 8%
2 Thông tư số 13/2010/TTNHNN ngày 20/5/2010 của NHNN Việt Nam Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng 01/01/2010 CAR tối thiểu là 9% (quy định nhóm tài sản có rủi ro: 0%, 20%, 50%, 100%, 150% và 250%)
3 Thông tư số 36/2014/TTNHNN ngày 20/11/2014 của NHNN Việt Nam Quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài 01/02/2015 CAR tối thiểu là 9% (quy định nhóm tài sản có rủi ro: 0%, 20%, 50%, 100%, 150%)
4 Thông tư 06/2016/TTNHNN ngày 27/5/2016 của NHNN Việt Nam Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 01/6/2016 CAR tối thiểu là 9% (quy định nhóm tài sản có rủi ro trong bất động sản từ 150% đến 200%)
5 Thông tư số 19/2017/TTNHNN ngày 29/12/2017 của NHNN Việt Nam Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2014/TT- NHNN ngày 20/11/2014 12/02/2018 CAR tối thiểu là 9%
6 Thông tư số 16/2018/TTNHNN ngày 31/7/2018 của NHNN Việt Nam Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2014/TT- NHNN ngày 20/11/2014 31/7/2018 CAR tối thiểu là 9%
7 Thông tư số 41/2016/TTNHNN ngày 20/12/2016 của NHNN Việt Nam Quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài 01/01/2020 CAR tối thiểu là 8% (gồm rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường)
8 Thông tư số 22/2019/TTNHNN ngày 15/11/2019 của NHNN Việt Nam Quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài 01/01/2020 CAR tối thiểu là 8% (tăng hệ số rủi ro cho vay bất động sản lên 150%; quy định giảm sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung hạn xuống 30%)
9 Thông tư số 23/2020/TTNHNN ngày 31/12/2020 của NHNN Việt Nam Quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng 14/02/2021 CAR tối thiểu là 9%

Nguồn: Tác giả tổng hợp.

Dựa vào Bảng 2.2 cho thấy, các quy định của NHNN Việt Nam đã từng bước áp dụng tiêu chuẩn Basel trong việc tính toán cũng như mức tối thiểu của CAR.

Đến nay, khi Thông tư số 23/2020/TT-NHNN được áp dụng, các tiêu chuẩn liên quan đến CAR cũng đã được quy định và tiệm cận với tiêu chuẩn Basel II, góp phần duy trì chặt chẽ hệ thống ngân hàng.

2.2. Các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

2.2.1. Các yếu tố vĩ mô

2.2.1.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP)

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời gian nhất định. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng cho thấy nền kinh tế đang phát triển, các chủ thể trong nền kinh tế đang hoạt động có hiệu quả, do đó nhu cầu vay vốn và gửi tiền cũng sẽ gia tăng, các NHTMCP có nhiều ưu thế hơn trong sự chọn lựa khách hàng tốt, có độ tín nhiệm đáp ứng, vì vậy sẽ làm giảm thiểu nguy cơ rủi ro về tín dụng, do đó CAR có xu hướng tăng. Ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng thấp thì việc huy động vốn sẽ trở nên khó khăn, đồng thời việc đầu tư và hoạt động cho vay sẽ có nhiều rủi ro hơn, do vậy các ngân hàng thường cắt giảm chi phí để đề phòng rủi ro có thể xảy ra, rủi ro tín dụng tăng, tác động đến CAR.

2.2.1.2. Tỷ lệ lạm phát (INF)

INF cho thấy mức độ lạm phát của nền kinh tế. Thông thường tính tỷ lệ lạm phát dựa vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI), là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của các mặt hàng và dịch vụ theo thời gian. INF còn là thước đo tỷ lệ biểu thị sức mua của đồng tiền. Khi chính phủ điều hành, đưa ra các biện pháp để tăng trưởng kinh tế, tín dụng được mở rộng, lượng tiền trong lưu thông tăng nhanh, dẫn đến việc mất cân đối trong việc huy động vốn và cho vay của các ngân hàng thương mại.

INF tăng, giá trị đồng tiền giảm, người vay có thể phải trả nhiều tiền hơn so với mức ban đầu đã thỏa thuận, đặc biệt trường hợp nếu họ vay với lãi suất cố định, tác động mạnh đến khả năng hoàn trả khoản vay của khách hàng. Dẫn đến làm tăng rủi ro tín dụng của ngân hàng.

Bên cạnh đó, lạm phát tăng cao có thể dẫn đến tăng giá tài sản, đặc biệt là giá của nhà đất và chứng khoán. Trường hợp giá tài sản giảm sau một giai đoạn tăng, dẫn đến việc ngân hàng sẽ có thể phải ghi nhận mất mát và ảnh hưởng đến khả năng hoạt động và tài sản ròng, từ đó tác động đến chất lượng, giá trị của tài sản đảm bảo, nguy cơ tăng rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Trong trường hợp lạm phát biến động mạnh, dẫn đến  triển vọng trong kinh doanh sẽ không được xác định rõ ràng, tác động đến nền kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng.

2.2.2. Các yếu tố thuộc về ngân hàng Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

2.2.2.1. Quy mô ngân hàng (SIZE)

Quy mô ngân hàng được xác định bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản ngân hàng. Việc tăng SIZE của các ngân hàng bằng cách mở thêm chi nhánh hay các phòng giao dịch sẽ giúp cho mức độ hiện diện, độ phủ sóng của các ngân hàng được tăng lên. Ngược lại, nếu tổng tài sản của ngân hàng giảm dần, cầm chừng, cho thấy ngân hàng đó sử dụng vốn thiếu hiệu quả, thu hẹp quy mô. Sự thay đổi về tổng tài sản của ngân hàng có thể ảnh hưởng đến hoạt động cho vay cũng như hoạt động huy động tiền gửi, ảnh hưởng đến hoạt động nắm giữ các loại tài sản có mức rủi ro khác nhau và từ đó ảnh hưởng đến CAR của ngân hàng.

2.2.2.2. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

ROA xác định tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản. Đây là chỉ số thường xuyên được nghiên cứu. Thông qua ROA có thể đánh giá được hiệu quả, khả năng sinh lời của đồng vốn mà doanh nghiệp đã bỏ ra, từ đó tìm cách để gia tăng sinh lời. Bateni & cộng sự (2014), Phạm Phát Tiến & Nguyễn Thị Kiều Ny (2019) cho rằng, ROA có tác động đến CAR, tuy mỗi nghiên cứu chỉ ra kết quả tác động có thể cùng chiều hoặc ngược chiều đến CAR. Khi ngân hàng có ROA cao, cho thấy ngân hàng kinh doanh có hiệu quả, lợi nhuận kiếm được được sử dụng để tăng vốn nhằm mục đích kiểm được nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai, do đó sẽ tác động đến CAR của ngân hàng. Như vậy, ROA có tác động đến CAR của ngân hàng.

2.2.2.3. Đòn bẩy tài chính (LEV)

Khi hệ số đòn bẩy tài chính cao hơn thông thường, ngân hàng có thể phải đối mặt mới nhiều rủi ro hơn, gián tiếp làm giảm CAR của ngân hàng. Nghiên cứu của Shrestha (2023), Aktas và cộng sự (2015), Trần Thị Lam Anh (2020) cho kết quả LEV tương quan âm với CAR. Tuy nhiên, Đào Thị Thanh Bình & Nguyễn Ánh Kiều (2020) đều cho kết quả cho rằng LEV càng cao tức là vốn chủ sở hữu càng lớn, ngân hàng có thể huy động được nguồn tài chính từ các tổ chức tín dụng để đưa vào các hạng mục, dự án đầu tư, từ đó thu được nhiều lợi nhuận, và ngân hàng có thể sử dụng lợi nhuận đó bổ sung vào tăng vốn cho ngân hàng, dẫn đến tăng CAR. Vậy mặc dù có nhiều kết quả nghiên cứu trái ngược nhau nhưng kết quả đều cho rằng LEV và CAR có tác động lẫn nhau.

2.2.2.4. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

Nợ xấu là khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn hay bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn, thường xảy ra khi khách hàng gặp khó khăn trong thanh toán các khoản vay. Tỷ lệ nợ xấu được xác định bằng tỷ lệ giữa nợ xấu trên tổng dư nợ của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu cao, đồng nghĩa với việc chất lượng tài sản của ngân hàng giảm xuống. Tỷ lệ này cho biết chất lượng tín dụng và rủi ro từng danh mục danh mục cho vay của ngân hàng. Kartal (2019), Trần Thị Lam Anh (2020) cho rằng, NPL có mối quan hệ tương quan với CAR.

2.2.2.5. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR)

LLR đánh giá phần trăm số tiền phải dành ra để dự phòng cho các rủi ro tín dụng như trả các khoản nợ và khoản đầu tư khó có khả năng hoàn trả từ khách hàng. Tỷ lệ rủi ro tín dụng của ngân hàng ở mức cao, cho thấy ngân hàng đang đặt mức độ rủi ro cao hơn, đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, LLR cao cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng cho vay của ngân hàng, qua đó sẽ tác động đến CAR. Các nghiên cứu của Phạm Phát Tiến & Nguyễn Thị Kiều Ny (2019) cho kết quả tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có tác động đến CAR của ngân hàng.

2.2.2.6. Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP)

Một trong những hoạt động cơ bản giúp cho ngân hàng có thể hoạt động bình thường là hoạt động huy động vốn. Hình thức huy động vốn chủ yếu và chiếm tỷ trọng cao nhất của ngân hàng đến từ việc nhận tiền gửi từ khách hàng, đây cũng là hình thức huy động vốn với chi phí thanh toán lãi thấp hơn rất nhiều so với vốn huy động từ việc đi vay các tổ chức tín dụng hoặc huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Lượng tiền gửi càng nhiều chứng tỏ ngân hàng đang thực hiện chiến lược huy động vốn tốt, vị thế, niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng được giữ vững và phát triển. Việc huy động tiền gửi khách hàng đòi hỏi ngân hàng phải có nhiều biện pháp, từ việc mở rộng thị phần, mạng lưới, đổi mới chính sách, sự tiện lợi, bảo mật cũng, tuy nhiên các ngân hàng thường phải áp dụng biện pháp tăng lãi suất huy động là chủ yếu. Điều này sẽ dẫn đến áp lực gia tăng lợi nhuận để đảm bảo có đủ nguồn tiền thanh toán lãi cho các khách hàng. Từ đó tác động đến việc nắm giữ tài sản rủi ro, cho nên tác động đến CAR của các ngân hàng.

Khi lượng tiền gửi khách hàng tăng cao, bắt buộc ngân hàng phải thực hiện các quy định nhằm duy trì CAR ở mức phù hợp để đảm bảo tính thanh khoản và đáp ứng kế hoạch thanh toán lãi cho khách hàng khi đến kỳ thanh toán lãi tiền gửi, áp lực gia tăng lợi nhuận, từ đó tác động đến mức độ nắm giữ các tài sản có độ rủi ro cao của ngân hàng. Do đó, tỷ lệ tiền gửi cao hay thấp sẽ ảnh hưởng đến CAR của ngân hàng. Các nghiên cứu của Aktas và cộng sự (2015) cũng đã chỉ ra sự tác động của DEP đối với CAR của ngân hàng.

2.2.2.7. Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (LTD) Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

LTD được xác định bằng tỷ lệ dư nợ trên tổng số vốn huy động, chỉ số này cho thấy khả năng sinh lời và độ tín nhiệm của ngân hàng. LTD còn cho thấy việc các ngân hàng có chủ động trong việc sử dụng vốn đã huy động hay không.

LTD cao có nghĩa là ngân hàng có khả năng cho vay cao hơn so với vốn huy động được, dẫn đến việc ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản. Ngược lại, LTD thấp có nghĩa là ngân hàng đang cho vay ít hơn so với nguồn vốn ngân hàng huy động được, việc dư nợ thấp dẫn đến việc nhiều ngân hàng đẩy mạnh hoạt động cấp tín dụng khiến tăng trưởng nóng và có thể dẫn đến nợ quá hạn, nợ xấu, tăng rủi ro. LTD nằm trong khoảng từ 0 đến 100%, LTD cao đối với NHTMCP được đánh giá là dấu hiệu không phải là tốt, LTD thấp thì lại cho thấy ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, chất lượng dịch vụ hạn chế. Nói tóm lại, LTD tăng giảm có ảnh hưởng đến rủi ro của ngân hàng, do đó ảnh hưởng đến CAR của các NHTMCP.

2.3. Tổng quan nghiên cứu

2.3.1. Các nghiên cứu trong nước

Phạm Phát Tiến & Nguyễn Thị Kiều Ny (2019) với công trình nghiên cứu về “nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam”. Tác giả đã xây dựng mô hình hồi quy dữ liệu bảng thu thập từ 29 NHTM trong giai đoạn năm 2013-2017. Nghiên cứu gồm 7 biến độc lập là SIZE, ROA, LLR, NPL, biến tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi và biến thu nhập lãi thuần. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng sinh lời và tỷ lệ trích lập dự phòng có tác động tiêu cực đến CAR; quy mô tài sản của ngân hàng và vốn chủ sở hữu trên tài sản có ảnh hưởng tích cực đến CAR; nghiên cứu không tìm thấy ý nghĩa thống kê của một số nhân tố khác.

Phạm Hải Nam & cộng sự (2022) với công trình nghiên cứu “các nhân tố tác động đến CAR của NHTMCP tại Việt Nam”. Tác giả đã xây dựng mô hình hồi quy dữ liệu bảng thu thập từ 30 NHTM trong giai đoạn năm 2012-2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy SIZE, INF, GDP tương quan dương với CAR; bên cạnh đó, các biến độc lập NPL, ROA có tương quan âm với CAR.

Đào Thị Thanh Bình & Ng. Ánh Kiều (2020) với công trình nghiên cứu về chủ đề CAR. Tác giả đã xây dựng mô hình hồi quy dữ liệu bảng thu thập từ 16 NHTM trong giai đoạn 2010-2017. Kết quả nghiên cứu cho thấy SIZE, ROA tương quan âm với CAR; bên cạnh đó, các biến độc lập GDP, DEP có tương quan dương với CAR.

Lê Hoàng Vinh & cộng sự (2022) với công trình nghiên cứu về chủ đề CAR.

Tác giả đã xây dựng dữ liệu bảng của thu thập từ 24 NHTM trong giai đoạn năm 2009-2019, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu với các mô hình Pooled OLS, FEM, REM đề kết luận. Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy biến DEP, LEV, ROA có tương quan âm với CAR. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

Trần Thị Lam Anh (2020) với công trình nghiên cứu về chủ đề CAR của các NHTMCP tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng sinh lời, tỷ lệ an toàn vốn kỳ trước, dự phòng rủi ro tín dụng, nợ xấu, khả năng thanh khoản có tác động tích cực đến hệ số CAR. Bên cạnh đó, đòn bẩy tài chính, SIZE, lãi suất thực, tỷ giá, nợ xấu có tác động tiêu cực đến CAR.

2.3.2. Các nghiên cứu nước ngoài

Kartal (2019) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của 14 NHTM tại Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 2009-2019”, tác giả dùng mô hình Pooled OLS để phân tích tương quan đánh giá tác động. Kết quả nghiên cứu đánh giá tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ cho vay có tương quan âm với CAR và thanh khoản có tương quan dương với CAR của các NHTM.

El-Anasary và cộng sự (2019) trong nghiên cứu về CAR, đã sử dụng dữ liệu 75 NHTM trong giai đoạn 2009-2013 tại Trung Đông – Bắc Phi (MENA), nhóm tác giả sử dụng phương pháp định lượng với mô hình Pooled OLS để nghiên cứu, đánh giá. Kết quả cho thấy, trước khi khủng hoảng, các nhân tố về chất lượng tài sản, SIZE, ROA có tác động tương quan với CAR. Sau năm 2008 thì chất lượng tài sản, SIZE, thanh khoản, năng lực quản trị, rủi ro tín dụng là các biến có tác động tương quan đối với CAR.

Shrestha (2023) nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến hệ số an toàn vốn của các NHTM ở Nepal trong giai đoạn 2007-2021”, tác giả đã đưa ra kết luận rằng tỷ lệ đòn bẩy, tỷ suất sinh lời có tương quan âm với CAR. Trong khi SIZE, ROA, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ chi phí hoạt động có tương quan dương với CAR của các NHTM. Đây là nghiên cứu thực nghiệm trong giai đoạn tương đối dài và sát với giai đoạn nghiên cứu của đề tài.

Aktas và cộng sự (2015) “Các yếu tố quyết định tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng, một số bằng chứng từ các nước Đông Nam Âu”, nhằm mục đích đánh giá tác động của các yếu tố môi trường và khía cạnh ngân hàng đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng ở khu vực Đông Nam Âu (SEE). Dữ liệu hàng năm từ 71 ngân hàng thương mại thuộc 10 quốc gia khác nhau trong khu vực SEE trong giai đoạn 2007 – 2012 được sử dụng. Kết luận rằng ROA, đòn bẩy, thanh khoản, biên lãi ròng và rủi ro có tác động có ý nghĩa thống kê trong việc xác định CAR cho các ngân hàng trong khu vực. Trong số các yếu tố môi trường, tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số biến động thị trường chứng khoán Eurozone, bảo hiểm tiền gửi và quản trị có tác động đáng kể về mặt thống kê trong việc xác định CAR cho các ngân hàng trong khu vực SEE.

Bateni & cộng sự (2014) với công trình nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn ở các ngân hàng Iran”. Nghiên cứu này tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng (chính xác là bảy yếu tố tài chính) đến mức độ an toàn vốn ở các ngân hàng tư nhân Iran trong giai đoạn 2006-2012. Kết quả thu được cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa quy mô ngân hàng và tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng và mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ tài sản cho vay, ROE, ROA, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và CAR. Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tỷ lệ tài sản đã điều chỉnh rủi ro không có bất kỳ tác động nào đến tỷ lệ an toàn vốn.

Bảng 2.3. Tổng hợp tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước về CAR Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

Tác giả, năm Vấn đề nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
Phạm Phát Tiến & Nguyễn Thị Kiều Ny (2019) Các nhân tố ảnh hưởng đến CAR của 29 NHTM tại Việt Nam, giai đoạn 20132017 (+) Quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, (-) Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng
Phạm Hải Nam & cộng sự (2022) Các nhân tố ảnh hưởng đến CAR của 30 NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2012 – 2018 (+) Quy mô ngân hàng (SIZE), tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) (-) Nợ ngân hàng, nợ xấu, tài sản lưu động, tỷ lệ lạm phát (INF), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA)
Đào Thị Thanh Bình & Nguyễn Ánh Kiều (2020) Mối quan hệ giữa CAR và hiệu quả kinh doanh của 16 NHTMCP tại  Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 – 2017 (-) Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (DEP), tỷ lệ dự nợ trên vốn huy động (LTD), tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LEV), tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) (-) Quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), giá trị thị trường của ngân hàng,  tỷ lệ cho vay, tỷ lệ chi phí trên thu nhập
Lê Hoàng Vinh & cộng sự (2022) Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số CAR của 24 NHTM niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ 2009 – 2019 (+) Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LAR), tỷ suất lợi nhuận ròng (NIM), tỷ lệ thanh khoản (LIR) (-) Quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LEV), tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP)
Trần Thị Lam Anh (2020) Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số CAR của các NHTMCP tại Việt Nam (+) Tỷ lệ sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), tỷ lệ thanh khoản, mức độ an toàn vốn cùng ngành (-) Quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ nợ xấu (NPL), tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LEV), lãi suất thực, tỷ giá
Kartal (2019) Các nhân tố ảnh hưởng đến CAR của các NHTM tại Thổ Nhĩ Kỳ, giai đoạn từ năm 2006 – 2019 (+) Tỷ lệ thanh khoản (-) Tỷ lệ cho vay, tỷ lệ nợ xấu (NPL) Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.
El-Anasary và cộng sự (2019) Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn với thị trường MENA của Ngân hàng Hồi giáo trong giai đoạn từ năm 2009 – 2013 (+) Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ nợ xấu (NPL) (-) Quy mô ngân hàng (SIZE), tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), hiệu quả hoạt động, rủi ro danh mục
Shrestha (2023) Các nhân tố ảnh hưởng đến CAR của NHTM tại Nepal giai đoạn 2007-2021 (+) Quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ chi phí hoạt động, hiệu quả hoạt động, tỷ lệ thanh khoản (-) Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LEV)
Aktas và cộng sự (2015) Tác động của các yếu tố đến CAR của 71 NHTM của 10 quốc gia khu vực Đông Nam Âu (SEE), giai đoạn từ năm  2007 – 2012 (+) Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), thanh khoản, mức độ bao phủ bảo hiểm tiền gửi, chỉ số biến động thị trường chứng khoán (-) Quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LEV), tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) mức độ rủi ro của tài sản, thanh khoản, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản; chỉ số quản trị Lạm phát, lãi suất không có tác động đến CAR
Bateni & cộng sự (2014) Các nhân tố tác động đến hệ số CAR của các NHTM ở Iran, giai đoạn từ năm 2006 – 2012 (+) tỷ lệ tài sản cho vay (LAR); lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE); tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA); tỷ lệ vốn chủ sở hữu. (-) SIZE, tỷ lệ vốn chủ trên tổng tài sản; tỷ lệ tài sản đã điều chỉnh rủi ro trên tổng tài sản; Không có ý nghĩa thống kê: tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản

Nguồn: Tác giả tổng hợp.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong Chương 2, tác giả đã trình bày làm rõ khái niệm của hệ số an toàn vốn, ý nghĩa của CAR trong hệ thống ngân hàng, công thức tính CAR theo quy định của ủy ban Basel và theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Tác giả cũng đã nêu ra các nhân tố tác động đến CAR, bao gồm các yếu tố vĩ mô và các yếu tố thuộc về ngân hàng. Trên cơ sở khung lý thuyết về CAR, tác giả đã lược khảo tổng quan nghiên cứu, nêu ra tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước giúp có cái nhìn tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến CAR. Từ đó có cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu, phương pháp, trình tự nghiên cứu, xác định dữ liệu nghiên cứu các nhân tố tác động đến CAR của các ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn 2014 đến năm 2023. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: PPNC Yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn NH

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993