Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH TMCP Việt Nam.
Tóm tắt: Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là một chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần. Tỷ lệ an toàn vốn là thước đo quan trọng để đo mức độ an toàn hoạt động của ngân hàng, được các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực ngân hàng thuộc uỷ ban Basel xây dựng và phát triển.
Trước bối cảnh thế giới xảy ra nhiều cuộc khủng hoảng, suy thoái kéo dài cùng với sự sụp đổ của một số ngân hàng lớn; đồng thời các NH TMCP Việt Nam cấp tín dụng tập trung chủ yếu vào thị trường bất động sản và chứng khoán. Việc xác định tỷ lệ an toàn vốn giúp ngân hàng và các nhà đầu tư nhận biết mức độ rủi ro để báo hiệu cho người gửi tiền nhằm mục đích tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống ngân hàng. Dựa vào tỷ lệ an toàn vốn, nhà đầu tư có thể xác định được khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và các rủi ro. Khi ngân hàng bảo đảm được tỷ lệ an toàn vốn, ngân hàng có được khả năng chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ khách hàng của ngân hàng mình. Đề tài sử dụng số liệu 28 NH TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2023, dữ liệu nghiên cứu thứ cấp được lấy từ báo cáo thường niên và báo cáo tài chính của các ngân hàng. Với mẫu dữ liệu nghiên cứu, tác giả lần lượt xem xét các yếu tố bên trong là: quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), hệ số đòn bẩy tài chính (LEV), tỷ lệ nợ xấu (NPL), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (LTD), tỷ lệ tiền gửi khách hàng (DEP). Thông qua thực nghiệm bằng nhiều phương pháp ước lượng hồi quy như Pool OLS, FEM, REM, FGLS. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hệ số đòn bẩy tài chính, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và tốc độ tăng trưởng có mối quan hệ cùng chiều với tỷ lệ an toàn vốn, trong khi đó quy mô ngân hàng, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ an toàn vốn. Các biến còn lại bao gồm tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ tiền gửi khách hàng và tỷ lệ lạm phát không có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ an toàn vốn.
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, tác giả đưa ra các gợi ý, hàm ý cho các NH TMCP liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn.
Từ khoá: Tỷ lệ an toàn vốn, NH TMCP, chuẩn mực Basel.
ABSTRACT Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
Title: Factors affecting the capital adequacy ratio of Vietnamese joint stock commercial banks
Abstract: Capital adequacy ratio (CAR) is an indicator that reflects the relationship between equity capital and risk-adjusted assets of joint stock commercial banks. The capital adequacy ratio is an important measure to measure the level of operational safety of a bank, built and developed by leading experts in the banking sector under the Basel committee.
In the context of many crises and prolonged recessions in the world along with the collapse of a number of large banks; At the same time, Vietnamese joint stock commercial banks grant credit focusing mainly on the real estate and stock markets. Determining the capital adequacy ratio helps banks and investors identify the level of risk to signal to depositors with the aim of increasing the stability and efficiency of the banking system. Based on the capital adequacy ratio, investors can determine the bank’s ability to pay term debts and risks. When a bank can ensure the capital adequacy ratio, the bank has the ability to resist financial shocks, both protecting itself and its customers. The project uses data from 28 Vietnamese joint stock commercial banks in the period 2012 – 2023, secondary research data is taken from the annual reports and financial reports of the banks. With the research data sample, the author in turn considers the internal factors: bank size (SIZE), return on assets (ROA), financial leverage ratio (LEV), bad debt ratio (NPL), credit risk reserve ratio (LLR), Loan to Deposit (LTD), customer deposit ratio (DEP). Through experiments using many regression estimation methods such as Pool OLS, FEM, REM, FGLS. Research results show that the financial leverage ratio, credit risk provision ratio and growth rate have a positive relationship with the capital adequacy ratio, while bank size, interest rate Return on total assets and outstanding debt to mobilized capital ratio have an inverse relationship with the capital adequacy ratio. The remaining variables including bad debt ratio, customer deposit ratio and inflation rate are not statistically significant with the capital adequacy ratio.
From the research results of the topic, the author provides suggestions and implications for joint stock commercial banks related to capital adequacy ratio.
Keywords: Capital adequacy ratio, Joint Stock Commercial Bank, Basel standards.
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
Ngân hàng là một công cụ trung gian kết nối giữa chủ thể gửi tiền và vay tiền. Đối với ngân hàng, điều quan trọng nhất mức độ tín nhiệm của khách hàng bởi vì khách hàng luôn mong chờ nguồn vốn được tiết kiệm một cách an toàn.
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đánh giá sức khỏe tài chính, sự lành mạnh, độ an toàn trước những rủi ro có thể gặp phải của ngân hàng. Khi ngân hàng không còn đảm bảo về mức vốn chủ sở hữu ở ngưỡng quy định thì ngân hàng đó được xem như có sức khỏe tài chính đang gặp vấn đề, hoạt động không bình thường, có rủi ro cao. Tiêu chuẩn Basel giúp ngân hàng đảm bảo vốn tối thiểu để chống chọi với các rủi ro có thể gặp phải, từ đó ổn định hệ thống ngân hàng.
Tại Việt Nam, từ khi áp dụng các tiêu chuẩn Basel, năm 2005, các NH TMCP thực hiện Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN của NHNN. Thực hiện Thông tư số 41/2016/TT-NHNN, đến năm 2020, NH TMCP Việt Nam đã triển khai thực hiện các quy định theo chuẩn mực Basel II.
Tuân thủ quy định về CAR của các NH TMCP ở Việt Nam là điều kiện cơ bản để đảm bảo ổn định hệ thống ngân hàng trước tình hình nền kinh tế đang gặp khó khăn. Tình hình nền kinh tế có nhiều thay đổi, nhằm mục đích xác định và lượng hóa các yếu tố có tương quan với tỷ lệ an toàn vốn của các NH TMCP, tác giả chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn là vấn đề tất yếu, từ đó nhà quản trị có những giải pháp nhằm ổn định hoạt động của các NH TMCP tại Việt Nam và góp phần phát triển kinh tế quốc gia.
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Tìm ra được các yếu tố ảnh hưởng và lượng hóa mức ảnh hưởng đến CAR của các NH TMCP Việt Nam. Từ đó, đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm đảm bảo an toàn vốn cho các NH TMCP Việt Nam trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Với mục tiêu tổng quát đã xác định, nghiên cứu đặt ra các mục tiêu cụ thể như sau:
- Một là, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH TMCP Việt Nam.
- Hai là, đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH TMCP Việt Nam.
- Ba là, kết luận đưa ra các hàm ý chính sách nhằm đảm bảo an toàn vốn cho các NH TMCP Việt Nam.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
Để đạt mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài làm sáng tỏ các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH TMCP Việt Nam, thông qua trả lời một số câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Một là, các yếu tố nào ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH TMCP Việt Nam?
- Hai là, mức độ tương quan ảnh hưởng đến CAR của các NHTMCP Việt Nam là như thế nào?
- Ba là, đề xuất, hàm ý chính sách đề nâng cao CAR của các NH TMCP Việt Nam ra sao?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố ảnh hưởng đến CAR của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: dữ liệu nghiên cứu được niêm yết trên website của 28 NH TMCP Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: dữ liệu thứ cấp được tác giả thu thập qua báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 28 NH TMCP Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2012 – 2023. Trong khoảng thời gian này, nền kinh tế Việt Nam đã chịu sự ảnh hưởng lớn của đại dịch Covid-19 và cuộc đua của các NH TMCP để tăng vốn điều lệ, cho nên giai đoạn 2012 – 2023 là thời kỳ có sự biến động tương đối lớn trong hệ thống ngân hàng.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu, tác giả thu thập dữ liệu của 28 NH TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2023 từ số liệu thứ cấp được công bố, công khai rộng rãi.
Trong đề tài, cả phương pháp định tính và phương pháp định lượng đề được sử dụng. Trong đó, tác giả chạy phân tích hồi quy trên dữ liệu bảng, các mô hình hồi quy được sử dụng là mô hình Pooled OLS, mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), mô hình tác động cố định (FEM). Sau đó, tác giả lựa chọn, kiểm định mô hình và khắc phục các khuyết tật. Việc thực hiện chạy dữ liệu được tác giả thao tác trên phần mềm Excel và phần mềm Stata 17.0.
1.6. Đóng góp của đề tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
Nghiên cứu được thực hiện với mong muốn có những đóng góp cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Mong muốn tổng hợp, tạo được khung lý thuyết liên quan đến CAR, đề xuất được mô hình nghiên cứu, tạo cơ sở cho các nghiên cứu về sau có liên quan. Đồng thời, đề tài mong muốn cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm, xác định và lượng hóa sự tác động của các yếu tố cả vi mô lẫn vĩ mô tới CAR, từ đó các nhà quản trị có những biện pháp, đưa ra những chính sách điều hành phù hợp, giúp hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn và ổn định.
1.7. Kết cấu của đề tài
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Trong chương này, luận văn đặt ra vấn đề để thấy tính cấp thiết của đề tài và mục tiêu nghiên cứu. Tiếp theo, tác giả cũng trình bày các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu từ đó cho thấy đống góp của đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về CAR và các nghiên cứu trước có liên quan Chương 2 của luận văn trình bày các khái niệm, lý thuyết cơ bản như khái niệm về tỷ lệ an toàn vốn, cách thức đo lường và ý nghĩa của tỷ lệ an toàn vốn. Từ đó, xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH TMCP Việt Nam. Cuối cùng, tác giả trình bày các nghiên cứu trước có liên quan ở trong và ngoài nước và chỉ ra khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm.
Chương 3: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương này, tác giả nêu rõ về giả thuyết nghiên cứu, mô hình và dữ liệu nghiên cứu. Đồng thời, tác giả giới thiệu phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Ở chương này, tác giả trình bày thống kê mô tả các biến, kết quả ước lượng của các mô hình, lựa chọn mô hình, kiểm định mô hình và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và đề xuất
Trong chương này, tác giả sẽ đưa ra kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH TMCP Việt Nam, đưa ra đề xuất nhằm duy trì tỷ lệ an toàn vốn hợp lý tại các NH TMCP Việt Nam, đồng thời tác giả cũng đưa ra những hạn chế của luận văn để định hướng cho các nghiên cứu sau.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
Trong chương này, tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của đề tài và kết cấu của đề tài. Những định hướng trên là tiền đề để tác giả nghiên cứu kỹ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn được trình bày ở các chương tiếp theo.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỶ LỆ AN TOÀN VỐN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN
2.1. Cơ sở lý thuyết về Tỷ lệ an toàn vốn
2.1.1. Khái niệm về tỷ lệ an toàn vốn
Ủy ban Basel là tổ chức được thành lập nhằm mục đích ngăn chặn sự sụp đổ của các ngân hàng trong giai đoạn lúc bấy giờ, năm 1974 ủy ban Basel về giám sát ngân hàng được thành lập. Cho đến năm 1988, ủy ban Basel mới cho giới thiệu hệ thống đo lường vốn Basel I. Hệ thống đo lường vốn có hệ số an toàn vốn tối thiểu là 8%, có nghĩa là tỷ lệ vốn bắt buộc tính trên tổng tài sản điều chỉnh rủi ro ở mức an toàn là 8%. Basel I được phổ biến và áp dụng trong các nước thành viên G10 và một số nước khác trên thế giới.
Đến tháng 06/2004, để đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống ngân hàng, hiệp ước Basel về vốn mới ra đời, đẩy mạnh việc chấp thuận thông lệ và quy định một cách nghiêm ngặt hơn. Ủy ban Basel cũng đã đề xuất khung đo lường phiên bản Basel II có hiệu lực từ năm 2007 và hoàn thành thời gian chuyển đổi đến hết năm 2010.
Tháng 9/2010, tiêu chuẩn vốn mới Basel III được ủy ban Basel đưa ra, có hiệu lực từ năm 2013 và hoàn thành thời gian chuyển đổi vào năm 2019. Những thay đổi căn bản trong phiên bản Basel III là tập trung tăng cường về vốn của ngân hàng, giới thiệu các yêu cầu mới quy định về tính thanh khoản và các đòn bẩy trong ngân hàng. Giúp duy trì hệ thống ngân hàng ổn định, giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng từng bước hoàn thành chỉ tiêu, đáp ứng yêu cầu nghiêm ngặt và ủy ban Basel đã đặt ra.
Mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận và đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh là những mục tiêu xác định trọng tâm của các doanh nghiệp, trong đó có các NH TMCP. Do đặc thù là ngành kinh doanh đặc biệt, hệ thống NH TMCP có tác động lớn đến mọi hoạt động kinh tế và vai trò cốt lõi trong hệ thống tài chính của quốc gia. Do đó, công tác giám sát rủi ro hoạt động ngân hàng ngày càng chặt chẽ là tất yếu và trở thành xu thế chung trên thế giới.
Theo Taherinia & Baqeri (2018), có định nghĩa như sau “Tỷ lệ an toàn vốn là tỷ lệ phần trăm tỷ lệ vốn chính của một tổ chức tài chính so với tài sản của nó và được sử dụng như một thước đo sức mạnh tài chính và sự ổn định của nó”.
Ngoài ra, Taherinia & Baqeri (2018) còn cho rằng: “Tỷ lệ an toàn vốn là tỷ lệ sở hữu trong ngân hàng quyết định cấu trúc tài chính của nó và tỷ lệ này là phần bổ sung của tỷ lệ nợ”. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
CAR là tỷ lệ đo lường độ an toàn vốn của ngân hàng. Tỷ lệ này là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh giữa vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng thương mại. Đo lường tỷ lệ này sẽ đánh giá được rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng. Ngân hàng trung ương ở các nước thường quy định tỷ lệ CAR tối thiểu để bảo vệ người cho vay và người gửi tiền, thông qua đó giúp đảm bảo an toàn hệ thống tài chính.
Ở Việt Nam, tỷ lệ này được NHNN quy định có mức tối thiểu là 9% theo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN và có mức tối thiểu là 8% nếu các ngân hàng tính toán CAR theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN.
Do vậy, CAR là thước đo về độ an toàn vốn của các ngân hàng dựa trên tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng. Các nhà quản trị đã dùng tỷ lệ này để đánh giá khả năng thanh toán và mức độ rủi ro của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn. Các ngân hàng tuân thủ quy định về CAR sẽ giúp cơ quan quản lý hệ thống tài chính ngân hàng có thể quản lý được sự ổn định của hệ thống ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung. Bên cạnh đó, việc đảm bảo CAR tối thiểu cũng giúp nhà quản trị ngân hàng có những chính sách phát triển bền vững và đảm bảo hoạt động hiệu quả ngân hàng đồng thời giúp cho khách hàng gửi tiền thấy yên tâm với các khoản tiền gửi của mình.
2.1.2. Phương pháp đo lường CAR
2.1.2.1. Theo Hiệp ước Basel
- CAR đo lường theo Basel I
Để duy trì vốn ở ngưỡng quy định các ngân hàng phải điều chỉnh theo CAR ở mức 8% theo yêu cầu của Basel I. Vốn của ngân hàng chia thành 3 loại: Vốn cấp 1, vốn cấp 2 và vốn cấp 3. Có 4 loại mức rủi ro khác nhau dựa trên tiêu chí phân loại tài sản là 0%, 20%, 50% và 100%. Do đó, Basel I được xem tương đối vì mức độ rủi ro của các tài sản chỉ căn cứ vào nhóm khách hàng và tài sản đảm bảo mà không dựa vào quy mô món vay, xếp hạng khách hàng và thời hạn vay vốn. Basel I chưa tính đến rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường mà chỉ tính đến rủi ro tín dụng.
- CAR đo lường theo Basel II Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
Từ những nhược điểm của Basel I, Basel II được xây dựng, sửa đổi với 3 nội dung chính, được xem là 3 trụ cột, CAR tối thiểu vẫn là 8% như Basel I. Tuy nhiên, rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự thay đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ nhưng hoàn toàn là một phiên bản mới đối với rủi ro hoạt đông, trọng số rủi ro của Basel II từ 0% – 150%.
Các ngân hàng hoạt động an toàn hơn, lành mạnh hơn từ khi dùng Basel II do trình độ quản lý rủi ro được tăng cường và báo cáo xếp hạng nội bộ thường xuyên được áp dụng khi đánh giá về khách hàng. Trong hoạt động cấp tín dụng, các ngân hàng sẽ chú ý kiểm soát, đánh giá độ tín nhiệm của khách hàng.
- CAR đo lường theo Basel III
Năm 2010, khuôn khổ Basel III ra đời để có thể cải thiện những tồn tại của Basel I và Basel II. Các NHTM có sức chống chọi với các rủi ro có thể xảy ra, hoạt động ổn định nhờ áp dụng chuẩn mực Basel III.
Basel III là chuẩn mực được áp dụng rộng rãi trên thị trường quốc tế và đang được hệ thống NH Việt Nam hướng đến, theo yêu cầu của Basel III việc nâng cao chất lượng về vốn và thanh khoản sẽ giúp các NHTM có khả năng chống đỡ tốt hơn trước những căng thẳng thanh khoản; bên cạnh đó, chuẩn mực cũng tại nền tảng cho một hệ thống ngân hàng bền vững có sức chống lại những biến cố và phòng ngừa các tổn thất có thể xảy ra.
Bảng 2.1. Các mốc đo lường CAR theo Basel
| Mốc ban hành | Thời gian bắt đầu áp dụng | Công thức tính CAR | |
| Basel I | 1988 | 1992 | CAR = |
| Basel II | 2004 | 2006 | CAR =
8% |
| Basel
III |
2010 | 01.2013 –
01.2019 |
CAR =
(𝑉ố𝑛 𝑡ự 𝑐ó) ≥ (𝑅𝑊𝐴𝑟ủ𝑖𝑟𝑜 𝑡í𝑛 𝑑ụ𝑛𝑔+𝑅𝑊𝐴𝑟ủ𝑖𝑟𝑜 ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔+𝑅𝑊𝐴𝑟ủ𝑖𝑟𝑜 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔) 8% |
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
2.1.2.2. Theo quy định tại Việt Nam Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, định nghĩa CAR tối thiểu là tỷ lệ phản ánh mức đủ vốn của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên cơ sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, gồm CAR tối thiểu riêng lẻ và CAR tối thiểu hợp nhất. Ngân hàng Nhà nước (2019). Thông tư 22/2019/TT-NHNN của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 15/11/2019.
- CAR riêng lẻ: Theo tỷ lệ này thì các NH phải duy trì ở mức tối thiểu là 9% và được tính bằng công thức sau:
- CAR riêng lẻ (%) = x 100%
Trong đó:
- VTC riêng lẻ quy định tại Phụ lục 2 Thông tư 22/2019/TT-NHNN
- TTS có rủi ro riêng lẻ quy định tại Phụ lục 2 Thông tư 22/2019/TT- NHNN
- CAR hợp nhất: Trường hợp NH có công ty con thì ngoài việc phải duy trì CAR riêng lẻ theo quy định trên vừa phải duy trì CAR hợp nhất ở mức 9%.
- CAR hợp nhất (%) = x 100%
- VTC hợp nhất và TTS có rủi ro hợp nhất trong công thức trên được quy định tại Phụ lục 2 của Thông tư 22/2019/TT-NHNN.
Đối với chi nhánh NHNN thì Thông tư 22/2019/TT-NHNN cũng được quy định phải duy trì CAR ở mức 9% và được tính theo công thức sau:
- CAR riêng lẻ (%) = 𝑉𝑇𝐶 x 100%
- VTC và TTS có rủi ro trong công thức trên được quy định tại Phụ lục 3 của Thông tư 22/2019/TT-NHNN
2.1.3. Ý nghĩa của CAR Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
CAR được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính. Khi ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ này có nghĩa là đã tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, tự bảo vệ mình và bảo vệ những người gửi tiền.
CAR là chỉ tiêu mà duy trì nó ở mức phù hợp sẽ đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Các tài sản có điều chỉnh rủi ro thể hiện việc sử dụng vốn để cho vay và độ rủi ro của các khoản cho vay đó. Bên cạnh đó, vốn tự có phản ánh khả năng của một ngân hàng trong việc giảm rủi ro phá sản đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời.
CAR là chỉ tiêu thể hiện khả năng chống đỡ của ngân hàng nếu có rủi ro xảy ra.
Thanh tra ngân hàng trung ương thực hiện giám sát, kiểm soát qua CAR của ngân hàng, qua đó mà NHNN có thể cảnh báo để ngân hàng điều chỉnh mức vốn phù hợp. Chính phủ nên đưa ra những quy định về vốn để can thiệp vào hoạt động ngân hàng. Bên cạnh những người ban hành quy định về vốn thì khách hàng – những người gửi tiền, họ cũng quan tâm đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Do đó, ngân hàng sẽ phải đảm bảo duy trì một mức vốn phù hợp để tối ưu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cũng như đảm bảo tuân thủ quy định về vốn.
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến CAR Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
2.2.1. Các yếu tố vĩ mô
Lạm phát (INF) cho thấy mức độ lạm phát của nền kinh tế, là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của các mặt hàng và dịch vụ theo thời gian. INF còn là thước đo tỷ lệ biểu thị sức mua của đồng tiền. Khi Chính phủ điều hành, đưa ra các biện pháp để tăng trưởng kinh tế, tín dụng được mở rộng, lượng tiền trong lưu thông tăng nhanh dẫn đến việc mất cân đối trong việc huy động vốn và cho vay của các NHTM.
INF tăng, giá trị đồng tiền giảm, người vay có thể phải trả nhiều tiền hơn so với mức ban đầu đã thoả thuận, đặc biệt trường hợp nếu họ vay với lãi suất cố định,tác động mạnh đến khả năng hoàn trả khoản vay của khách hàng dẫn đến làm tăng rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Bên cạnh đó, lạm phát tăng cao có thể dẫn đến tăng giá tài sản, đặc biệt là giá của nhà đất và chứng khoán. Trường hợp giá tài sản giảm sau một giai đoạn tăng dẫn đến việc ngân hàng sẽ có thể phải ghi nhận mất mát và ảnh hưởng đến khả năng hoạt động và tài sản ròng, từ đó tác động đến chất lượng, giá trị tài sản đảm bảo, nguy cơ tăng rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Trong trường hợp lạm phát biến động mạnh dẫn đến triển vọng trong kinh doanh sẽ không được xác định rõ ràng, tác động đến nền kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng.
Tăng trưởng kinh tế (GDP) là sự gia tăng hay mở rộng quy mô của mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế của một quốc gia (Hoàng Xuân Bình, 2015). Thị trường tài chính có xu hướng tăng lên và lợi nhuận cũng tăng lên khi nền kinh tế tăng trưởng. Hoạt động của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng khi các ngân hàng tăng lợi nhuận nhưng chưa duy trì được mức độ an toàn vốn. Do đó, việc giữ lại lợi nhuận để gia tăng vốn để các ngân hàng tăng mức CAR.
Djalila và Alfadli (2022) cho rằng, GDP có tương quan dương với CAR. Khi GDP tăng, doanh nghiệp trong nền kinh tế hoạt động thuận lợi, phát triển, nhu cầu vay vốn tăng, ngân hàng có thể chọn lựa được những khách hàng tốt, uy tín cao, hoạt động tín dụng tăng mang lại lợi nhuận, đồng thời tăng vốn. Do đó, CAR có xu hướng tăng lên.
2.2.2. Các yếu tố vi mô Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
2.2.2.1. Quy mô ngân hàng (SIZE)
SIZE với cách thức xác định bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản ngân hàng. Ngân hàng có SIZE lớn thường có đủ nguồn lực để tránh rủi ro thanh khoản, đồng thời mức độ uy tín của ngân hàng cũng được gia tăng. Ngân hàng có thể tăng SIZE bằng cách mua bán, sáp nhập hay phát hành chứng khoán và nó giúp ngân hàng tăng vị thế, sức cạnh tranh trong hệ thống.
SIZE là một yếu tố quan trọng và được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, các công trình thực nghiệm trong và ngoài nước nghiên cứu và đã cho kết quả SIZE có tác động đến CAR. Sự thay đổi về SIZE sẽ ảnh hưởng đến hoạt động cho vay và nhận tiền gửi của ngân hàng, do đó ảnh hưởng đến việc nắm giữ các loại tài sản của ngân hàng, cho nên ảnh hưởng đến CAR của ngân hàng đó.
2.2.2.2. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
ROA là chỉ số thường xuyên được nghiên cứu và được xác định bằng tỷ lệ lợi nhuận sau thế chia cho tổng tài sản. ROA là chỉ số mà thông qua đó có thể đánh giá mức độ hiệu quả khi sử dụng vốn của ngân hàng. Yonas Mekonen (2015) đã nghiên cứu và cho kết quả ROA tương quan dương với CAR, tác giả cho rằng, ROA tăng cho thấy ngân hàng sử dụng vốn có hiệu quả, lợi nhuận kiếm được sẽ được sử dụng để bổ sung vốn, từ đó làm tăng CAR. Một số nghiên cứu khác lại cho kết quả ngược lại. Do đó, dù là tác động thuận chiều hay nghịch chiều, nhưng kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đã cho thấy ROA có mối tương quan tác động đối với CAR của ngân hàng.
2.2.2.3. Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP)
DEP bằng tỷ lệ tiền gửi của khách hàng trên tổng tài sản, tiền gửi khách hàng là hoạt động huy động vốn cơ bản và chiếm tỷ trọng lớn nhất của ngân hàng. Bên cạnh đó, đây là hình thức huy động vốn với chi phí thấp hơn rất nhiều so với huy động trên thị trường chứng khoán hay đi vay. DEP lớn, cho thấy ngân hàng đang có vị thế, uy tín. Khi DEP tăng, để đảm bảo an toàn vốn, các ngân hàng phải thực hiện duy trì CAR ở ngưỡng phù hợp để vừa đảm bảo thanh khoản khi đến kỳ, vừa đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Do đó, DEP tăng giảm sẽ ảnh hưởng đến CAR. Các nghiên cứu thực nghiệm trước của Yonas Mekonen (2015), Bokhari (2012) đều cho thấy DEP có tác động đến CAR của ngân hàng.
2.2.2.4. Tỷ lệ nợ xấu (NPL)
NPL là tỷ lệ nợ dưới chuẩn, quá hạn, thể hiện chất lượng các khoản vay của ngân hàng và độ rủi ro của nó. Khi NPL cao, đồng nghĩa với việc ngân hàng đang gặp nhiều rủi ro hơn, việc thu hồi vốn của các khoản vay là rất khó khăn, có thể còn dẫn đến mất vốn, tác động đến chất lượng tài sản nắm giữ và sẽ ảnh hưởng đến CAR của ngân hàng. Abushasharba và cộng sự (2015), cho rằng NPL có quan hệ tương quan với CAR của ngân hàng. Tuy nhiên, Phạm Phát Tiến và Nguyễn Thị Kiều Ny (2019) lại cho rằng, NPL không có mối tương quan với CAR. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
2.2.2.5. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR)
LLR là một chỉ số tài chính mà các tổ chức tín dụng sử dụng để bảo đảm độ an toàn cũng như đánh giá độ rủi ro của các khoản vay và khoản đầu tư của mình. Tỷ lệ này thể hiện phần trăm số tiền các tổ chức tín dụng phải dành ra để dự phòng cho việc xử lý các khoản nợ và khoản đầu tư mà có khả năng không được trả lại. Một tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng cao hơn cho thấy rằng tổ chức tín dụng đang đặt mức độ rủi ro cao hơn cho các khoản nợ và khoản đầu tư của mình, và do đó có mức độ an toàn cao hơn. Tuy nhiên, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng cao có thể ảnh hưởng đến khả năng cho vay của tổ chức tín dụng, vì họ phải chi tiêu nhiều hơn để đáp ứng các yêu cầu dự phòng rủi ro và có thể giảm khả năng cho vay của họ. Theo nghiên cứu của Vũ Hùng Phương và Đặng Ngọc Đức (2020), thì tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có mối quan hệ cùng chiều với CAR.
2.2.2.6. Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (LTD)
LTD được dùng để phản ánh rủi ro thanh khoản và độ tín nhiệm của ngân hàng. Tỷ lệ LTD cao có nghĩa là ngân hàng lúc nào cũng có tiền để cho vay hoặc chi trả khi khách hàng đến rút tiền. LTD cao có nghĩa là dư nợ cho vay của ngân hàng đang cao, đó cũng là nguy cơ của rủi ro thanh khoản, còn LTD thấp, cho thấy ngân hàng hoạt động đang kém hiệu quả, các ngân hàng thường đẩy mạnh cho vay, dẫn đến nguy cơ tăng trưởng tín dụng nóng, gây rủi ro tín dụng, ảnh hưởng đến CAR của ngân hàng.
NHNN quy định tiêu chuẩn cho NPL nằm trong mức từ 80% đến 110%. Và có thể nói LTD cũng là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến CAR của các NH TMCP Việt Nam.
2.2.2.7. Hệ số đòn bẩy tài chính (LEV)
LEV là một chỉ số được đo lường bằng tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản. Nó phản ánh lượng vốn chủ sở hữu, tức là LEV thay đổi tăng giảm thì vốn chủ sở hữu cũng thay đổi theo. Đặc biệt, khi LEV cao hơn thông thường, ngân hàng có thể gặp nhiều rủi ro, bởi lẽ nguồn huy động có thể đến từ các khoản vay các tổ chức tín dụng, nếu các hoạt động đầu tư của ngân hàng thiếu kiểm soát sẽ dẫn đến nguy cơ rủi ro và do đó, ảnh hưởng đến CAR của ngân hàng.
Theo nghiên cứu của Đỗ Hoài Linh và cộng sự (2019) thì hệ số đòn bẩy tài chính có mối quan hệ cùng chiều với CAR.
2.3. Tổng quan nghiên cứu trước đây Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
2.3.1. Các nghiên cứu của nước ngoài
Bokhari (2012) nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến CAR của 12 NH TMCP trong giai đoạn 2005 – 2009 tại Pakistan”. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy OLS, phân tích thống kê mô tả của các biến độc lập sau: DEP, GDP với biến phụ thuộc là CAR. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng DEP có ảnh hưởng ngược chiều đến CAR.
Yonas Mekonen (2015) với chủ đề “Các yếu tố ảnh hưởng đến CAR tại các ngân hàng thương mại Ethiopia thời gian từ 2004 – 2013”. Nghiên cứu sử dụng hồi quy bảng để phân tích mối quan hệ giữa các biến của 8 ngân hàng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ROA, SIZE và DEP có tương quan tỷ lệ thuận với CAR. ROE và NIM có ảnh hưởng ngược chiều nhưng LEV có ảnh hưởng không đáng kể đến CAR.
Abushasharba và cộng sự (2015) nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến CAR của 11 ngân hàng hồi giáo ở Indonesia từ 2009 – 2011”. Bằng cách phân tích mô hình hồi quy từ dữ liệu bảng thu thập được, kết quả nghiên cứu được đưa ra, theo đó NPL có mối tương quan tỷ lệ nghịch với CAR, còn các biến ROA, DEP thì không có tương quan tác động đến CAR.
Siti Norbaya Yahaya và các cộng sự (2016) đã nghiên cứu “Hiệu quả tài chính và ảnh hưởng kinh tế đối với CAR tại 64 ngân hàng ở Nhật Bản từ 2005 – 2014”. Tác giả đưa ra các biến bao gồm DEP, ROA, ROE và các biến vĩ mô gồm INF, GDP. Nghiên cứu này sử dụng hồi quy bảng để phân tích. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy các mối liên hệ giữa các biến hơi khác so với nghiên cứu trước đó. INF và CAR có mối quan hệ cùng chiều với nhau nhưng qua nghiên cứu này thì INF và CAR có kết quả nghịch đảo.
Nghiên cứu về “Rủi ro tài chính và CAR tại các NH TMCP tại Cypriot trong giai đoạn 2010 – 2014” được thực hiện bởi Hadjixenophontos và Volos (2018). Nghiên cứu này sử dụng hồi quy Pooled OLS và chỉ ra rằng SIZE có tương quan thuận chiều đến CAR. Trong khi, LLR và NIM có tương quan tỷ lệ nghịch đối với CAR tại các NHTM của quốc gia này.
Abdurrahman Setiawan và Susy Muchtar (2021) trong đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến CAR tại ngân hàng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia từ năm 2015 – 2019”, cho rằng SIZE cùng chiều với CAR. Trong khi đó, LTD và LLR không ảnh hưởng đến CAR.
Alfadli và Djalila (2022) nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến CAR tại các nước GCC từ năm 2011 – 2018” của 62 NHTM thông qua phương pháp PCSE. Cho rằng LTD tương quan thuận chiều với CAR. Ngược lại, SIZE và CAR lại có mối tương quan nghịch chiều với nhau. INF và GDP cũng ảnh hưởng đến CAR của ngân hàng.
2.3.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
Thân Thị Thu Thuỷ và Nguyễn Kim Chi (2015) đã nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến CAR tại các NH TMCP Việt Nam giai đoạn 2007 – 2013”. Tác giả đã phân tích hồi quy dữ liệu bảng và cho kết quả SIZE, ROA, DEP có tương quan ngược chiều đến CAR. LEV có tương quan dương đến CAR, trong khi đó LLR và LTD không ảnh hưởng đến CAR.
Nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến CAR tại các NH TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015” đã được Phạm Thị Xuân Thoa, Nguyễn Ngọc Anh (2017) thực hiện. Nghiên cứu đã kết luận rằng LLR và CAR có tương quan tỷ lệ nghịch với nhau. Trong khi đó, SIZE không có ảnh hưởng đáng kể đến CAR.
Phạm Phát Tiến và Nguyễn Thị Kiều Ny (2019) đã nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến CAR của các NH TMCP Việt Nam”. Xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến với dữ liệu dạng bảng được tác giả thu thập từ 29 NH TMCP từ năm 2013 – 2017. Nghiên cứu đã kết luận rằng yếu tố SIZE và LEV có ảnh hưởng thuận chiều với CAR, trong khi đó ROA và LLR có tương quan nghịch chiều đến CAR. Bên cạnh đó, NPL không ảnh hưởng đáng kể đến biến phụ thuộc.
Đỗ Hoài Linh và cộng sự (2019) đã nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến CAR của ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2015 – 2018” của 26 NH TMCP Việt Nam thông qua mô hình hồi quy dữ liệu bảng. Nghiên cứu này cho thấy, GDP, SIZE tăng lên thì CAR sẽ giảm. Các yếu tố này sẽ làm hoạt động của ngân hàng rủi ro hơn và tính thanh khoản sẽ giảm. Trong khi LEV và DEP có mối quan hệ cùng chiều với CAR, tức là các yếu tố này sẽ giúp tăng khả năng trả nợ của ngân hàng và tính thanh khoản.
Nghiên cứu của Vũ Hùng Phương và Đặng Ngọc Đức (2020) về “Các yếu tố ảnh hưởng đến CAR tại các NH TMCP Việt Nam từ 2011 – 2018”. Trong nghiên cứu, mô hình Pooled OLS, FEM, REM được sử dụng kết hợp với dữ liệu của 31 ngân hàng. Cho kết quả rằng LEV, LLR, ROE có tương quan cùng chiều, ROA có ảnh hưởng ngược chiều đến CAR. Trong khi đó, SIZE, DEP, NPL không ảnh hưởng đáng kể đến CAR của NH TMCP Việt Nam.
Nghiên cứu của Đào Thị Thanh Bình và Nguyễn Ánh Kiều (2020) về “Mối quan hệ giữa CAR và hiệu quả kinh doanh của các NH TMCP Việt Nam” với việc phân tích dữ liệu bảng của 16 NH TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2017.
Nghiên cứu cho kết luận rằng, DEP, GDP có ảnh hưởng cùng chiều đến CAR. Trong khi đó, ROA và SIZE có ảnh hưởng ngược chiều đến CAR. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
Phạm Hải Nam và cộng sự (2022) đã nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến CAR từ năm 2012 – 2018” của 30 NH TMCP Việt Nam. Mô hình Pooled OLS, FEM, REM được tác giả sử dụng nghiên cứu để kết luận. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng NPL có ảnh hưởng ngược chiều đến CAR. Trong khi đó SIZE, INF và GDP có ảnh hưởng cùng chiều với CAR.
2.3.3. Thảo luận các kết quả nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm
Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã cung cấp nhiều thông tin về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến CAR của các ngân hàng tại các quốc gia khác nhau. Kết quả nghiên cứu về CAR của các NH TMCP được tổng hợp như bảng 2.2
Bảng 2.2. Tổng hợp tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước về CAR
| Tác giả, năm | Mô hình nghiên cứu | Kết quả nghiên cứu |
| Bokhari (2012) | Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: tỷ lệ tiền gửi khách hàng (DEP), tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP). | (-) Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP) |
|
Yonas Mekonen (2015) |
Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), thu nhập lãi thuần (NIM), hệ số đòn bẩy tài chính (LEV). | (+) Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP) (-) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), thu nhập lãi thuần (NIM) |
| Abushasharba và cộng sự (2015) | Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: tỷ lệ nợ xấu (NPL), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP) | (-) Tỷ lệ nợ xấu (NPL) Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP) không ảnh hưởng đến CAR |
| Siti Norbaya Yahaya và các cộng sự (2016) | Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: tỷ lệ tiền gửi khách hàng (DEP), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), lạm phát (INF) | (-) Lạm phát (INF) Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng. |
| Hadjixenophontos và Volos (2018). | Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), thu nhập lãi thuần (NIM) | (+) Quy mô ngân hàng (SIZE) (-) Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), thu nhập lãi thuần (NIM) |
| Abdurrahman Setiawan và Susy Muchtar (2021) | Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (LTD) | (+) Quy mô ngân hàng (SIZE) Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (LTD), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) không ảnh hưởng đến CAR |
| Alfadli và Djalila (2022) | Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (LTD), tăng trưởng kinh tế (GDP), lạm phát (INF) | (+) Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (LTD) (-) Quy mô ngân hàng (SIZE) |
| Thân Thị Thu Thuỷ và Nguyễn Kim Chi (2015) | Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (LTD), hệ số đòn bẩy tài chính (LEV) | (+) Hệ số đòn bẩy tài chính (LEV) (-) Quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP) Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (LTD) không ảnh hưởng đến CAR |
| Phạm Thị Xuân Thoa, Nguyễn Ngọc Anh (2017) | Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) | (-) Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) Quy mô ngân hàng (SIZE) không ảnh hưởng đến CAR |
| Phạm Phát Tiến và Nguyễn Thị Kiều Ny (2019) | Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: quy mô ngân hàng (SIZE), hệ số đòn bẩy tài chính (LEV), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) | (+) Quy mô ngân hàng (SIZE), hệ số đòn bẩy tài chính (LEV) (-) Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) |
| Đỗ Hoài Linh và cộng sự (2019) | Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: hệ số đòn bẩy tài chính (LEV), tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP), tăng trưởng kinh tế (GDP), quy mô ngân hàng (SIZE) | (+) Hệ số đòn bẩy tài chính (LEV), tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP) (-) Tăng trưởng kinh tế (GDP), quy mô ngân hàng (SIZE) |
| Vũ Hùng Phương và Đặng Ngọc Đức (2020) | Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), hệ số đòn bẩy tài chính (LEV), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP) và tỷ lệ nợ xấu (NPL) | (+) Hệ số đòn bẩy tài chính (LEV), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) (-) Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP) và tỷ lệ nợ xấu (NPL) không ảnh hưởng đến CAR |
| Đào Thị Thanh Bình và Nguyễn Ánh Kiều (2020) | Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP), tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), quy mô ngân hàng (SIZE) | (+) Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (DEP), tăng trưởng kinh tế (GDP) (-) Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), quy mô ngân hàng (SIZE) |
| Phạm Hải Nam và cộng sự (2022) | Biến phụ thuộc: tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Biến độc lập: quy mô ngân hàng (SIZE), lạm phát (INF), tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ nợ xấu (NPL) | (+) Quy mô ngân hàng (SIZE), lạm phát (INF), tăng trưởng kinh tế (GDP) (-) Tỷ lệ nợ xấu (NPL) |
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả) Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
Dựa trên kết quả tổng hợp tại bảng 2.2, tác giả thấy rằng kết quả nghiên cứu của các yếu tố ảnh hưởng đến CAR tại các NH TMCP là chưa đồng nhất. Tác giả nhận thấy và giải thích cho sự đồng nhất này như sau:
Một là, dữ liệu được nghiên cứu không giống nhau về mặt không gian (số lượng chủ thể) và thời gian dẫn đến dữ liệu đưa vào phân tích cho ra kết quả chưa giống nhau.
Hai là, mô hình và phương pháp nghiên cứu trong các nghiên cứu khác nhau bởi sự lựa chọn mô hình.
Do đó, đề tài nghiên cứu là các NH TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2023, chưa có sự trùng lắp với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam. Trong khoảng thời gian này, nền kinh tế đang phải chịu nhiều biến động ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu như dịch bệnh Covid-19, chiến tranh giữa Nga và Ukraina, thương mại điện tử phát triển, …thì liệu rằng kết quả nghiên cứu có khả năng phản ánh được sự khác biệt của các yếu tố ảnh hưởng đến CAR so với những giai đoạn khác hay không. Nếu đúng như vậy, nghiên cứu sẽ cho kết quả mang lại hàm ý hữu ích cho những nghiên cứu tiếp theo.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương, tác giả đã trình bày làm rõ khái niệm của CAR, ý nghĩa của CAR trong hệ thống ngân hàng, chỉ ra các phương pháp đo lường CAR theo quy định của uỷ ban Basel và theo quy định của NHNN Việt Nam. Tác giả cũng đã nêu ra sự tác động của yếu tố vi mô và yếu tố vĩ mô đến CAR. Trên cơ sở lý thuyết về CAR, tác giả đã trình bày một số công trình nghiên cứu về chủ đề CAR của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Từ đó có cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu, phương pháp, trình tự nghiên cứu, xác định dữ liệu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến CAR của các NH TMCP Việt Nam từ 2012 – 2023. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn các ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
