Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Thủ Đức dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Thủ Đức” được thực hiện với mục tiêu nhận diện và đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của thế hệ Gen Z. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất các hàm ý quản trị thiết thực cho Sacombank Chi nhánh Thủ Đức và Sacombank nói chung nhằm nâng cao hiệu quả khai thác thị trường khách hàng trẻ. Mô hình phân tích trong nghiên cứu bao gồm bảy yếu tố: Cảm nhận hữu ích, Chuẩn chủ quan, Chính sách marketing, Chi phí sử dụng, Cảm nhận rủi ro, Địa vị xã hội và Công nghệ thẻ tín dụng– trong đó biến Công nghệ thẻ tín dụng là biến mới được đề xuất trong khuôn khổ đề tài. Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính bội trên tập dữ liệu khảo sát từ 350 khách hàng Gen Z tại Sacombank Chi nhánh Thủ Đức cho thấy: tất cả bảy yếu tố trong mô hình đều tác động có ý nghĩa thống kê đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng. Trong đó, Công nghệ thẻ tín dụng là yếu tố có mức độ tác động mạnh nhất, còn Cảm nhận rủi ro là yếu tố tác động yếu nhất. Năm yếu tố tác động cùng chiều đến quyết định sử dụng thẻ gồm: Công nghệ thẻ tín dụng, cảm nhận hữu ích, chuẩn chủ quan, địa vị xã hội và chính sách marketing; hai yếu tố còn lại có tác động ngược chiều là chi phí sử dụng và cảm nhận rủi ro. Một số hạn chế về phạm vi nghiên cứu, quy mô mẫu và mô hình lý thuyết mở ra các hướng nghiên cứu kế tiếp có thể khai thác sâu hơn chủ đề này.
Từ khóa: Yếu tố ảnh hưởng, quyết định sử dụng, thẻ tín dụng, Gen Z, Sacombank CN Thủ Đức.
- ABSTRACT
The topic “Factors influencing the decision to use credit cards among Gen Z at Saigon Thuong Tin Commercial Joint Stock Bank – Thu Duc Branch” is conducted with the aim of identifying and measuring the degree of influence of various factors on the decision to use credit cards by Generation Z. Based on the research findings, the study proposes practical managerial implications for Sacombank Thu Duc Branch and Sacombank in general, in order to improve the effectiveness of targeting young customer segments. The analytical model in this study includes seven factors: Perceived Usefulness, Subjective Norm, Marketing Policy, Perceived Cost, Perceived Risk, Social Status, and Credit Card Technology – in which Credit Card Technology is a newly proposed factor within the framework of this research. The results of multiple linear regression analysis using survey data from 350 Gen Z customers at Sacombank Thu Duc Branch show that all seven factors have a statistically significant impact on the decision to use credit cards. Among them, Credit Card Technology is the most influential factor, while Perceived Risk has the weakest effect. Five factors show a positive relationship with the usage decision, including Credit Card Technology, Perceived Usefulness, Subjective Norm, Social Status, and Marketing Policy; the remaining two factors, Perceived Cost and Perceived Risk, have a negative impact.
Some limitations regarding the research scope, sample size, and theoretical model provide a basis for subsequent studies that may explore this topic more deeply. Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Keywords: Influencing factors, usage decision, credit card, Gen Z, Sacombank Thu Duc Branch.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế số ngày càng phát triển, xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt đang trở thành một trong những mục tiêu quan trọng của Chính phủ và ngành ngân hàng Việt Nam. Việc đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ góp phần hiện đại hóa hệ thống tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế mà còn mang đến sự tiện lợi, an toàn và minh bạch trong các giao dịch hàng ngày của người dân. Năm 2024 ghi nhận 17,7 tỷ giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt, với tổng giá trị đạt khoảng 295 triệu tỷ đồng, gấp 26 lần GDP. Trong đó, các giao dịch qua thẻ ngân hàng, ví điện tử, mã QR và các nền tảng thanh toán số chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, phản ánh sự chuyển dịch rõ rệt từ tiền mặt sang các hình thức thanh toán điện tử (tapchitaichinh, 2025).
Trong số các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ tín dụng là một công cụ tài chính đa chức năng, không chỉ hỗ trợ người dùng trong việc chi tiêu trước – trả tiền sau, linh hoạt trong quản lý tài chính cá nhân mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính hiện đại. Theo Napas (2024) cho biết đến cuối năm 2023, toàn thị trường có khoảng 11 triệu thẻ tín dụng đang lưu hành và tính đến quý I năm 2024, có hơn 904.700 thẻ tín dụng nội địa đang lưu hành, với tổng giá trị giao dịch đạt khoảng 10.000 tỷ đồng chỉ trong 3 tháng đầu năm (VnBusiness, 2024). Điều này cho thấy nhu cầu sử dụng thẻ tín dụng ngày càng gia tăng trong dân chúng, đặc biệt là tại các thành phố lớn.
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) là một trong những tổ chức tiên phong trong việc phát triển dịch vụ thẻ tín dụng cá nhân. Với hệ thống công nghệ hiện đại, chiến lược ưu đãi hấp dẫn và mạng lưới chi nhánh rộng khắp, Sacombank đã đóng góp đáng kể vào việc thay đổi thói quen tiêu dùng của người dân, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và cung cấp giải pháp tài chính linh hoạt. Sự khác biệt hóa trong dịch vụ thẻ tín dụng của Sacombank được thể hiện rõ qua việc cung cấp đa dạng các dòng thẻ tín dụng (từ hạng thẻ phổ thông đến hạng thẻ cao cấp) và liên kết với nhiều tổ chức thẻ uy tín trong và ngoài nước như Napas, Visa, Mastercard, JCB, UnionPay, American Express nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng khác nhau của khách hàng, cũng như góp phần mở rộng mạng lưới chấp nhận thanh toán cả ở thị trường nội địa lẫn quốc tế (xem chi tiết tại Phụ lục 1). Bên cạnh đó, Sacombank còn là một trong những đơn vị tiên phong trong việc triển khai phát hành thẻ phi vật lý (virtual card) và tích hợp các phương thức thanh toán di động hiện đại như Apple Pay, Samsung Pay, Google Pay, Garmin Pay, tạo nên hệ sinh thái thanh toán tiện lợi, nhanh chóng và an toàn. Những yếu tố này đã góp phần nâng cao trải nghiệm người dùng một cách toàn diện, đồng thời khẳng định vị thế công nghệ số của ngân hàng trong lĩnh vực dịch vụ thẻ. Tính đến hết năm 2023, Sacombank đã chính thức vượt mốc 1 triệu khách hàng sử dụng thẻ tín dụng, khẳng định vị thế là một trong những ngân hàng dẫn đầu trong mảng phát hành và thanh toán thẻ tại Việt Nam (Trung tâm quản lý và Phát triển kinh doanh cá nhân Sacombank, 2023). Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Theo Tổ chức Friedrich Naumann Foundation for Freedom, Gen Z (thế hệ được sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1997-2012) hiện chiếm khoảng 19% dân số cả nước, tương đương khoảng 13 triệu người và dự báo đến năm 2025, thế hệ này sẽ chiếm khoảng 1/3 lực lượng lao động quốc gia (FNF Vietnam, 2023). Với thói quen tiêu dùng hiện đại, nhu cầu chi tiêu trực tuyến cũng như sử dụng các dịch vụ tài chính số ngày càng cao, Gen Z được kỳ vọng sẽ là lực lượng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của thị trường thẻ tín dụng trong thời gian tới. Việc mở rộng tệp khách hàng trong phân khúc Gen Z không chỉ là xu thế tất yếu để bắt kịp nhu cầu thị trường mà còn là cơ hội để tăng cường chuyển đổi số, cải tiến sản phẩm và bán chéo các sản phẩm đem lại thu nhập chính cho ngân hàng.
Tọa lạc tại vị trí chiến lược, khu đô thị sáng tạo phía Đông TP HCM nơi tập trung nhiều trường đại học, khu công nghệ cao và đông đảo dân cư trẻ năng động- Saccombank Chi nhánh Thủ Đức đã không ngừng nỗ lực phát triển dịch vụ thẻ tín dụng cá nhân, mở rộng thị phần và là một trong những chi nhánh điển hình của hệ thống Sacombank về công tác phát triển thẻ. Tính đến hết năm 2024, Sacombank Chi nhánh Thủ Đức quản lý hơn
20.200 thẻ tín dụng cá nhân tương ứng với dư nợ là 390 tỷ đồng chiếm 4,48% tổng dư nơ cho vay. Lợi nhuận từ hoạt động thẻ tín dụng cá nhân đạt 31,63 tỷ đồng chiếm 14,78% tổng lợi nhuận của chi nhánh. Tuy nhiên, trong cơ cấu này, tỷ lệ thẻ do khách hàng thuộc thế hệ Gen Z sở hữu chỉ chiếm khoảng 26%, còn khá khiêm tốn so với so với quy mô dân số trẻ, tốc độ đô thị hóa và tiềm lực tiêu dùng trên địa bàn (Sacombank – Chi nhánh Thủ Đức, 2025).
Trước thực trạng đó, việc triển khai nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Thủ Đức” là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn. Nghiên cứu không chỉ hỗ trợ ngân hàng trong việc nhận diện rõ ràng hơn các xu hướng hành vi, nhu cầu tài chính và các động lực sử dụng thẻ của nhóm khách hàng này, mà còn góp phần vào việc xây dựng các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao tỷ lệ tiếp cận và sử dụng thẻ tín dụng trong giới trẻ, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và mở rộng thanh toán không tiền mặt.
1.2. Mục tiêu của đề tài Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu của đề án nhằm phân tích các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z tại Sacombank- CN Thủ Đức. Trên cơ sở đó đề xuất một số hàm ý quản trị cho Sacombank- CN Thủ Đức để gia tăng số lượng sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng Gen Z trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Nhằm hiện thực hóa mục tiêu tổng quát đã đề ra, đề tài hướng đến việc đạt được các mục tiêu cụ thể sau:
Một là, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z tại Sacombank- CN Thủ Đức;
Hai là, đo lường mức độ tác động của các yếu tố đã xác định đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z tại Sacombank- CN Thủ Đức;
Ba là, đưa ra một số hàm ý quản trị phù hợp nhằm hỗ trợ Sacombank- CN Thủ Đức gia tăng số lượng sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z trong thời gian tới.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu đã đề ra, đề án nghiên cứu phải trả lời những câu hỏi sau:
- Một là, các yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z tại Sacombank- CN Thủ Đức?
- Hai là, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z tại Sacombank- CN Thủ Đức như thế nào?
- Ba là, những hàm ý quản trị nào có thể đưa ra từ kết quả nghiên cứu nhằm gia tăng số lượng khách hàng Gen Z sử dụng thẻ tín dụng trong thời gian tới?
1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z tại Sacombank- CN Thủ Đức.
Đối tượng khảo sát là nhóm khách hàng Gen Z tập trung chủ yếu là nhóm khách hàng sinh từ năm 1997 đến 2006 đã và đang sử dụng thẻ tín dụng tại Sacombank- CN Thủ Đức. Theo định nghĩa của McCrindle & Fell (2020), Gen Z là “những cá nhân sinh ra trong thời đại kỹ thuật số, được đặc trưng bởi khả năng truy cập công nghệ tức thời và sự hiện diện liên tục của Internet, mạng xã hội và các thiết bị di động”, vì vậy còn được gọi là thế hệ kỹ thuật số bẩm sinh (digital natives). Điều này làm cho thế hệ này phát triển với tư duy kết nối, khả năng xử lý thông tin nhanh, và mức độ nhạy bén cao với các thay đổi công nghệ. Tương tự, theo nghiên cứu của Dimock (2019), Gen Z là thế hệ đầu tiên chưa từng biết đến thế giới không có Internet, và điều này định hình hành vi xã hội, học tập và tiêu dùng của họ một cách đáng kể. Dimock cũng nhấn mạnh rằng Gen Z có xu hướng quan tâm đến tính cá nhân hóa trong sản phẩm, đề cao sự tiện lợi, và mong muốn được trải nghiệm dịch vụ theo cách thức hiện đại và tức thời. Tóm lại, Gen Z được xem là thế hệ trẻ, năng động, có mức độ tiếp cận và thích nghi cao với công nghệ, đồng thời có xu hướng ưu tiên trải nghiệm số và các giải pháp tài chính hiện đại. Giữa làn sóng chuyển đổi số đang ngày càng được đẩy mạnh trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, Gen Z nổi lên như một phân khúc khách hàng chiến lược, có vai trò quan trọng trong việc định hình xu hướng tiêu dùng tài chính tương lai. Việc lựa chọn Gen Z làm đối tượng nghiên cứu giúp ngân hàng hiểu rõ hơn về hành vi tài chính của nhóm khách hàng này, từ đó xây dựng chính sách phát triển sản phẩm thẻ tín dụng phù hợp và hiệu quả hơn.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: đề tài được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2025, trong đó, thời gian khảo sát được thực hiện từ 01/03/2025- 31/03/2025 đủ đảm bảo số lượng mẫu nghiên cứu cũng như chất lượng dữ liệu phân tích.
Phạm vi không gian: đề tài được thực hiện tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Thủ Đức, địa chỉ số 231 đường Võ Văn Ngân, Phường Linh Chiểu, Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Đây là một trong những chi nhánh có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả và giữ vai trò trọng điểm trong hệ thống Sacombank. Chi nhánh tọa lạc tại khu vực trung tâm Thành phố Thủ Đức – nơi có mật độ dân cư cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, tập trung nhiều trường đại học, khu công nghệ cao và lực lượng dân số trẻ, đặc biệt là thế hệ Gen Z chiếm tỷ lệ đáng kể. Do đó, Chi nhánh Thủ Đức được xem là địa điểm nghiên cứu phù hợp và có tính đại diện cao trong việc thực hiện nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
1.5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Để trả lời được câu hỏi nghiên cứu thứ nhất, tác giả sử dụng các phương pháp khảo lược, tổng hợp, so sánh và phân tích, nhằm tổng hợp cơ sở lý thuyết, nghiên cứu trước và tham khảo ý kiến chuyên gia để xác định các yếu tố phù hợp với bối cảnh nghiên cứu.
Để trả lời được câu hỏi nghiên cứu thứ hai, tác giả sử dụng phương pháp khảo sát với bảng câu hỏi thang đo Likert 5 nhằm thu thập dữ liệu, đồng thời sử dụng các phương pháp hồi quy như kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach’s Alpha), tiến hành phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến để xác định mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng, đồng thời kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đã đề ra, kiểm định sự khác biệt thông qua phân tích One way ANOVA/ T Test.
Để trả lời được câu hỏi nghiên cứu thứ ba, tác giả sử dụng phương pháp đối sánh, tổng hợp nhằm đề xuất các hàm ý giúp gia tăng số lượng khách hàng Gen Z sử dụng thẻ tín dụng căn cứ trên kết quả phân tích định lượng, kết hợp với đặc điểm thực tế tại Sacombank – CN Thủ Đức.
1.6. Đóng góp thực tiễn
Đề tài đã có những đóng góp cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn trong phạm vi nghiên cứu hành vi tiêu dùng dịch vụ tài chính. Về mặt lý luận, đề tài đã đề xuất và kiểm định một mô hình nghiên cứu mới với 7 yếu tố tác động đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z gồm: Cảm nhận hữu ích, Chuẩn chủ quan, Chính sách marketing, Chi phí sử dụng, Cảm nhận rủi ro, Địa vị xã hội và Công nghệ thẻ tín dụng. Mô hình này không chỉ kế thừa trên các nền tảng thuyết hành vi tiêu dùng hiện đại, TPB, TAM, mà còn được điều chỉnh để phù hợp với đặc điểm Gen Z. Ngoài việc kế thừa có chọn lọc, nghiên cứu còn bổ sung yếu tố mang tính thời đại như Công nghệ thẻ tín dụng, giúp mô hình mang tính thực tiễn cao và có thể áp dụng trong bối cảnh chuyển đổi số của ngành ngân hàng hiện nay.
Về mặt thực tiễn, đề tài khảo sát trực tiếp khách hàng Gen Z đã và đang sử dụng thẻ tín dụng tại Sacombank – CN Thủ Đức, qua đó phân tích rõ mức độ tác động của từng yếu tố đến quyết định và hành vi sử dụng thẻ tín dụng của nhóm khách hàng này. Kết quả nghiên cứu không chỉ hỗ trợ Sacombank tối ưu sản phẩm, chiến lược marketing và dịch vụ, mà còn có giá trị ứng dụng cho các ngân hàng thương mại bạn trong việc phát triển thẻ tín dụng phù hợp với giới trẻ. Các ngân hàng từ đó có thể vận dụng để nâng cao trải nghiệm khách hàng, tối ưu chi phí, đẩy mạnh giải pháp công nghệ và xây dựng nhận thức tích cực về việc sử dụng thẻ. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của các yếu tố tâm lý – xã hội như chuẩn chủ quan và địa vị xã hội, giúp ngân hàng hiểu rõ hơn động cơ tiêu dùng của Gen Z, từ đó định hướng truyền thông hiệu quả. Nhìn chung, đề tài mang lại giá trị thực tiễn rõ rệt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và thích ứng với xu hướng tiêu dùng tài chính hiện đại.
1.7. Kết cấu của Đề án
Đề án được chia thành 5 chương với nội dung như sau:
- Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Chương này trình bày khái quát các nội dung trọng tâm của đề tài, bao gồm lý do lựa chọn đề tài và tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu trong thực tiễn. Tác giả xác định rõ mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu được sử dụng, đưa ra đóng góp thực tiễn và giới thiệu kết cấu tổng thể của đề án.
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương này tổng hợp và trình bày các khái niệm cơ bản, khung lý thuyết nền tảng liên quan đến đề tài, đồng thời khảo lược nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, từ đó xác định khoảng trống nghiên cứu là cơ sở để đề xuất mô hình ở chương kế tiếp.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết quy trình và phương pháp thực hiện nghiên cứu. Tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu, đưa ra giả thuyết nghiên cứu, xây dựng thang đo, bảng câu hỏi khảo sát, đến cách thức thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này trình bày kết quả phân tích dữ liệu khảo sát thông qua các bước kiểm định và phân tích định lượng bao gồm độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính bội. Kết quả xác định mức độ tác động của từng yếu tố độc lập đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z, đồng thời kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đã đề xuất trong mô hình lý thuyết. Bên cạnh đó, chương cũng tiến hành thảo luận và so sánh kết quả với các nghiên cứu trước, qua đó rút ra những nhận định quan trọng phục vụ cho việc đề xuất hàm ý quản trị ở chương tiếp theo.
- Chương 5: Kết luận và một số hàm ý quản trị
Chương cuối cùng tổng hợp kết quả chính của nghiên cứu, đưa ra kết luận, đồng thời đề xuất các hàm ý quản trị đối với ngân hàng Sacombank CN Thủ Đức và Sacombank Hội Sở. Bên cạnh đó, tác giả nêu những hạn chế còn tồn tại của nghiên cứu và đề xuất hướng phát triển cho các nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu với mở đầu là bối cảnh hình thành và lý do lựa chọn đề tài. Tiếp theo, chương này đã xác định rõ vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu đặt ra cần giải quyết. Bên cạnh đó, chương cũng trình bày cụ thể đối tượng nghiên cứu, khách thể khảo sát và phạm vi không gian – thời gian của nghiên cứu. Cuối cùng, chương 1 đã nêu bật được ý nghĩa thực tiễn của đề tài cũng như cấu trúc tổng thể của luận văn.
Trong bối cảnh nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ, thẻ tín dụng đang trở thành một trong những phương tiện thanh toán phổ biến tại Việt Nam, đặc biệt là đối với thế hệ Gen Z – nhóm khách hàng trẻ, năng động, am hiểu công nghệ và có ảnh hưởng lớn đến xu hướng tiêu dùng hiện nay. Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng thẻ tín dụng trong nhóm đối tượng này vẫn còn khá thấp so với tiềm năng. Điều này đặt ra yêu cầu cần thiết phải tìm ra và đánh giá được các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z, nhằm giúp các ngân hàng, trong đó có Sacombank – Chi nhánh Thủ Đức, có cơ sở để xây dựng các chiến lược tiếp cận phù hợp. Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Từ vấn đề đó, đề án được xây dựng với mục tiêu nhận diện và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của thế hệ Gen Z. Những nội dung tiếp theo trong các chương 2, 3 và 4 sẽ lần lượt trình bày cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích để làm rõ mục tiêu đã đề ra trong chương này.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Tổng quan về thẻ tín dụng
2.1.1. Khái niệm về tín dụng và thẻ tín dụng
2.1.1.1 Khái niệm về tín dụng
Tín dụng là một trong những hoạt động cốt lõi của các tổ chức tài chính – ngân hàng, đóng vai trò trung gian dẫn vốn từ khu vực thừa vốn sang khu vực thiếu vốn. Theo Mishkin và Eakins (2018), tín dụng là một quá trình trong đó người cho vay chuyển giao giá trị hiện tại cho người vay để đổi lấy cam kết hoàn trả trong tương lai kèm theo lãi suất; đây là một trong những hoạt động thiết yếu để vận hành các thị trường tài chính hiện đại. Từ góc độ quản trị tài chính, Gitman và Zutter (2012) cho rằng tín dụng giúp các cá nhân và doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hoặc đầu tư, qua đó đóng va trò thúc đẩy phát triển kinh tế. Trước đó, theo nghiên cứu của Beck & Demirgüç-Kunt (2006), tín dụng không chỉ hỗ trợ hoạt động sản xuất – kinh doanh mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện và giảm bất bình đẳng trong nền kinh tế.
Tại Việt Nam, theo Nguyễn Văn Tiến (2014), tín dụng là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ vay mượn có hoàn trả giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Đây là hoạt động chuyển giao quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định và người vay phải hoàn trả cả gốc và lãi cho người cho vay. Quan hệ tín dụng luôn đi kèm với ràng buộc về pháp lý, trách nhiệm và mức độ rủi ro nhất định. Ở góc độ pháp lý, theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả, bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” (Quốc hội Việt Nam, 2024, Điều 4, khoản 14).
Tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm nhiều hình thức như: tín dụng tiêu dùng, tín dụng thương mại, tín dụng đầu tư… Trong đó, tín dụng tiêu dùng như thẻ tín dụng là công cụ tài chính ngày càng phổ biến, góp phần thúc đẩy chi tiêu cá nhân, hỗ trợ mua sắm trước – trả tiền sau và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính hiện đại của người dân.
2.1.1.2. Khái niệm về thẻ tín dụng Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Thẻ tín dụng (credit card) là một trong những công cụ thanh toán hiện đại, do ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng phát hành, cho phép khách hàng sử dụng một khoản tín dụng được cấp trước để thanh toán hàng hóa, dịch vụ và hoàn trả sau theo kỳ hạn đã thỏa thuận. Theo Samuelson và Nordhaus (1985), thẻ tín dụng là “một công cụ thuận tiện để thực hiện mua sắm mà không cần sử dụng tiền mặt, thực chất là hình thức vay ngắn hạn từ các tổ chức tài chính”. Quan điểm này cho thấy thẻ tín dụng không chỉ mang chức năng thanh toán mà còn là một dạng tín dụng tiêu dùng ngắn hạn. Rose và Hudgins (2008) nhấn mạnh rằng thẻ tín dụng là một dạng tín dụng quay vòng (revolving credit), nơi tổ chức phát hành cung cấp cho người dùng một hạn mức tín dụng để chi tiêu linh hoạt, đồng thời áp dụng lãi suất đối với phần dư nợ chưa thanh toán sau kỳ hạn miễn lãi.
Ngoài ra, Nguyễn Minh Kiều (2020) cho rằng thẻ tín dụng là một phương thức thanh toán hiện đại giúp người tiêu dùng tiếp cận với nguồn vốn vay linh hoạt, thúc đẩy tiêu dùng và góp phần phát triển thanh toán không tiền mặt.
Tại Việt Nam, khái niệm thẻ tín dụng được pháp luật quy định cụ thể. Theo Khoản 3, Điều 3 của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành, “thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ” (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2024). Quy định này làm rõ tính chất tín dụng và yếu tố cam kết giữa các bên có liên quan trong việc phát hành và sử dụng thẻ.
Tóm lại, thẻ tín dụng là một hình thức cấp tín dụng linh hoạt, kết hợp giữa chức năng thanh toán không dùng tiền mặt và khả năng chi tiêu trước – trả tiền sau trong giới hạn hạn mức tín dụng được cấp. Bản chất của thẻ tín dụng không chỉ là phương tiện thanh toán hiện đại, mà còn là công cụ tài chính hỗ trợ tiêu dùng ngắn hạn hiệu quả. Khái niệm này đã được công nhận trong cả lý thuyết kinh tế học cổ điển lẫn pháp luật Việt Nam hiện hành, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của thẻ tín dụng trong việc thúc đẩy tiêu dùng cá nhân và phát triển nền kinh tế số. Trong bối cảnh chuyển đổi số và xu hướng không dùng tiền mặt, thẻ tín dụng ngày càng trở thành lựa chọn phổ biến của người tiêu dùng, đặc biệt là thế hệ trẻ như Gen Z – nhóm khách hàng tiềm năng trong hệ thống ngân hàng hiện nay.
2.1.2. Lợi ích của việc phát triển thẻ tín dụng Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng chuyển dịch sang mô hình số và xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng được Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cùng toàn hệ thống ngân hàng thúc đẩy mạnh mẽ, phát triển sản phẩm thẻ tín dụng trở thành một chiến lược quan trọng và tất yếu đối với các tổ chức tín dụng tại Việt Nam. Lợi ích mà thẻ tín dụng mang lại không chỉ dừng lại ở khía cạnh tài chính mà còn hỗ trợ toàn diện cho sự phát triển dài hạn của ngân hàng.
Thứ nhất, việc phát triển thẻ tín dụng giúp ngân hàng mở rộng quy mô số lượng khách hàng cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Thẻ tín dụng là sản phẩm có mức độ tiếp cận rộng, phù hợp với nhiều phân khúc khách hàng từ người trẻ, công chức, tiểu thương đến nhóm thu nhập trung bình và khá. Việc đa dạng hóa các dòng thẻ theo hạn mức, thương hiệu liên kết và lợi ích sử dụng sẽ giúp ngân hàng thu hút thêm nhiều khách hàng mới, gia tăng mối quan hệ với khách hàng hiện hữu và nâng cao hình ảnh thương hiệu.
Thứ hai, thẻ tín dụng đóng vai trò là nguồn thu ổn định và bền vững thông qua phí thường niên, phí giao dịch, phí rút tiền mặt và lãi suất phát sinh khi khách hàng sử dụng hạn mức tín dụng. Trong bối cảnh biên lợi nhuận từ hoạt động tín dụng truyền thống bị thu hẹp do cạnh tranh và yêu cầu kiểm soát rủi ro, thẻ tín dụng giúp ngân hàng đa dạng hóa nguồn thu và cải thiện cơ cấu thu nhập theo hướng an toàn hơn.
Thứ ba, việc phát triển sản phẩm thẻ tín dụng gắn liền với quá trình chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng. Thẻ tín dụng hiện nay không chỉ còn là thẻ vật lý mà đã tích hợp các công nghệ thanh toán không tiếp xúc (contactless), ví điện tử (Apple Pay, Google Pay, Samsung Pay…), mã QR hay tích hợp trong ngân hàng số. Điều này giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng, gia tăng mức độ gắn bó, đồng thời thể hiện năng lực về công nghệ và khả năng đổi mới, sáng tạo của ngân hàng.
Thứ tư, thẻ tín dụng cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng về hành vi chi tiêu và tài chính cá nhân của khách hàng, giúp ngân hàng triển khai hiệu quả các chiến lược bán chéo sản phẩm như cho vay tiêu dùng, bảo hiểm, gửi tiết kiệm hay đầu tư. Dữ liệu này còn hỗ trợ việc cá nhân hóa sản phẩm, nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu riêng biệt và giữ chân khách hàng lâu dài.
Cuối cùng, phát triển thẻ tín dụng còn góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ quá trình hiện đại hóa hệ thống ngân hàng. Khi khách hàng chuyển sang sử dụng thẻ thay cho tiền mặt, các giao dịch trở nên minh bạch hơn, dễ kiểm soát hơn, đồng thời góp phần hình thành thói quen tài chính văn minh. Thẻ tín dụng cũng là công cụ giúp mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức đến các nhóm dân cư trước đây chưa được phục vụ đầy đủ.
2.2. Tổng quan về quyết định sử dụng Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
2.2.1. Khái niệm về quyết định sử dụng
Quyết định sử dụng là một hành vi quan trọng trong chuỗi hành vi tiêu dùng, thể hiện sự lựa chọn cuối cùng của người tiêu dùng sau quá trình cân nhắc, đánh giá và so sánh các lựa chọn. Đây là hành vi thực tế, phản ánh cam kết tiêu dùng của cá nhân đối với một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể. Theo Kotler (2001) khẳng định người tiêu dùng thường đưa ra quyết định dựa trên sự cân nhắc đa chiều, từ động cơ bên trong đến ảnh hưởng bên ngoài như marketing, truyền thông và xu hướng xã hội.
Solomon (2011) cho rằng hành vi ra quyết định sử dụng là kết quả của một quá trình tư duy có mục tiêu, trong đó người tiêu dùng tìm kiếm phương án tối ưu để thỏa mãn nhu cầu của mình. Điều này có thể bị chi phối bởi nhiều yếu tố như đặc điểm cá nhân, hoàn cảnh xã hội, mức độ rủi ro nhận thức, hay mức độ tin tưởng vào sản phẩm/dịch vụ. Schiffman & Kanuk (2007) nhấn mạnh rằng quyết định sử dụng là một hành vi chịu ảnh hưởng tổng hòa từ cả yếu tố lý trí lẫn cảm xúc, trong đó thái độ và giá trị cá nhân đóng vai trò trung tâm.
Khác với ý định sử dụng – vốn là biểu hiện của mong muốn hoặc dự định trong tương lai, quyết định sử dụng là kết quả có thể đo lường qua hành vi thực tế. Ajzen (1991) trong thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) cũng phân biệt rõ giữa “ý định” và “hành vi thực tế”, trong đó hành vi sử dụng (actual behavior) được xem là giai đoạn cuối cùng của quá trình tác động từ “thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi”.
Davis (1989) – khi xây dựng mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) – xác định rằng hành vi sử dụng là kết quả của sự ảnh hưởng từ “cảm nhận hữu ích” và “cảm nhận dễ sử dụng”, thông qua trung gian là thái độ và ý định sử dụng. Mô hình này được Venkatesh & cộng sự kế thừa và phát triển thành mô hình UTAUT vào năm 2003, trong đó “hành vi sử dụng” (use behavior) là biến phụ thuộc cuối cùng, chịu ảnh hưởng bởi ý định, điều kiện thuận lợi và các yếu tố xã hội.
Tóm lại, quyết định sử dụng là hành vi cụ thể phản ánh mức độ chuyển hóa của nhận thức thành hành động. Từ việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng là cơ sở quan trọng giúp doanh nghiệp và nhà nghiên cứu xác định chiến lược tiếp cận và giữ chân khách hàng một cách hiệu quả.
2.2.2. Các lý thuyết liên quan đến quyết định sử dụng Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
2.2.2.1. Thuyết hành vi người tiêu dùng
“Hành vi người tiêu dùng” là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong marketing, nhằm tìm hiểu cách cá nhân, nhóm hoặc tổ chức lựa chọn, mua sắm, sử dụng và xử lý sản phẩm, dịch vụ, trải nghiệm hoặc ý tưởng để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ (Kotler & Keller, 2016). Thuyết hành vi người tiêu dùng không chỉ giải thích những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng mà còn cung cấp cơ sở cho việc dự đoán xu hướng tiêu dùng trong tương lai, từ đó giúp doanh nghiệp xây dựng và đưa ra chiến lược marketing hiệu quả.
Theo Philip Kotler (2001), hành vi tiêu dùng chịu ảnh hưởng bởi ba nhóm yếu tố chính. Thứ nhất, yếu tố cá nhân bao gồm độ tuổi, giới tính, thu nhập, nghề nghiệp, phong cách sống, cá tính và giai đoạn trong vòng đời gia đình. Những yếu tố này hình thành nên nhu cầu, sở thích và khả năng chi tiêu của người tiêu dùng. Thứ hai, yếu tố tâm lý bao gồm động cơ, nhận thức, học hỏi, niềm tin và thái độ. Đây là những yếu tố mang tính bên trong có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xử lý thông tin và hình thành hành vi mua sắm của người tiêu dùng. Thứ ba, yếu tố xã hội và văn hóa như văn hóa, tầng lớp xã hội, nhóm tham khảo và gia đình. Các yếu tố này góp phần hình thành giá trị, chuẩn mực và hành vi tiêu dùng của mỗi cá nhân trong bối cảnh xã hội cụ thể.
Quy trình ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng thường trải qua năm bước cơ bản:
- Hình 2.1. Mô hình thuyết hành vi tiêu dùng
Tuy nhiên, quá trình này không phải lúc nào cũng diễn ra một cách tuyến tính và lý trí; người tiêu dùng vẫn có thể chịu ảnh hưởng bởi cảm xúc, xu hướng xã hội, hoặc sự tiện lợi từ công nghệ, đặc biệt là trong bối cảnh tiêu dùng hiện đại.
Trong bối cảnh hiện nay, hành vi người tiêu dùng ngày càng chịu tác động mạnh mẽ từ công nghệ, mạng xã hội và các xu hướng tiêu dùng hiện đại, đặc biệt ở nhóm người tiêu dùng trẻ như thế hệ Z. Do đó, việc vận dụng thuyết hành vi tiêu dùng không chỉ dừng lại ở mô tả quá trình mua hàng mà còn cần kết hợp các yếu tố công nghệ và bối cảnh xã hội mới có thể phản ánh đúng động lực và hành vi của người tiêu dùng hiện đại. Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
2.2.2.2. Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) do Fishbein và Ajzen (1975) xây dựng là một trong những lý thuyết nền tảng dùng để lý giải và dự đoán hành vi con người dựa trên quá trình suy nghĩ mang tính chủ đích. Theo TRA, hành vi của một cá nhân không diễn ra một cách ngẫu nhiên, mà được quyết định bởi ý định hành vi – yếu tố đóng vai trò trung gian và là chỉ báo trực tiếp dẫn đến hành vi thực tế.
Theo Thuyết hành động hợp lý (TRA), ý định thực hiện hành vi được hình thành bởi hai yếu tố chính: “thái độ đối với hành vi” và “chuẩn chủ quan”. Trong đó, “thái độ đối với hành vi” thể hiện sự đánh giá mang tính tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân về việc thực hiện một hành vi cụ thể. Thái độ này bắt nguồn từ niềm tin hành vi (behavioral beliefs) – tức là niềm tin rằng hành vi sẽ mang lại những hệ quả nhất định – kết hợp với sự đánh giá các hệ quả (outcome evaluation), phản ánh mức độ quan trọng mà cá nhân gán cho các kết quả đó. Nếu cá nhân cho rằng hành vi sẽ dẫn đến những kết quả mong đợi và đồng thời đánh giá cao các kết quả đó, họ sẽ có xu hướng hình thành thái độ tích cực hơn đối với hành vi được đề cập. “Chuẩn chủ quan” thể hiện nhận thức của cá nhân về áp lực xã hội từ những người có ảnh hưởng như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp… liên quan đến việc có nên hay không nên thực hiện hành vi đó. Theo Ajzen (1991), chuẩn chủ quan là “mô tả ảnh hưởng của những người hay các yếu tố xã hội lên nhận thức của cá nhân… đối với việc nên hay không nên thực hiện một hành vi”. “Chuẩn chủ quan” được cấu thành từ “niềm tin chuẩn mực” (normative beliefs) – tức là cá nhân tin rằng người khác kỳ vọng mình nên thực hiện hành vi – và “động cơ tuân thủ” (motivation to comply) – mức độ sẵn sàng làm theo kỳ vọng đó.
- Hình 2.2. Mô hình Thuyết hành động hợp lý- TRA
Do đó, khi một cá nhân có thái độ tích cực đối với hành vi và đồng thời cảm nhận được sự ủng hộ từ môi trường xã hội, họ sẽ có xu hướng hình thành ý định hành vi rõ ràng và mạnh mẽ. Ý định này đóng vai trò là cầu nối trung gian và được xem là yếu tố dự báo trực tiếp cho hành vi được thực hiện sau đó. Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Mô hình TRA đã được áp dụng hiệu quả trong nhiều lĩnh vực như marketing, giáo dục, y tế, và tài chính để lý giải các hành vi như mua sắm, sử dụng dịch vụ mới hay thay đổi hành vi sức khỏe. Tuy nhiên, TRA cũng bộc lộ hạn chế khi không xem xét đến các yếu tố ngoài tầm kiểm soát cá nhân như nguồn lực hay sự tự tin, điều sau này được bổ sung trong mô hình mở rộng là thuyết hành động có kế hoạch (TPB). Nhìn chung, TRA là nền tảng lý thuyết có giá trị trong lĩnh vực nghiên cứu hành vi và đặc biệt phù hợp trong các bối cảnh mà hành vi chịu ảnh hưởng rõ rệt từ thái độ cá nhân và chuẩn mực xã hội.
2.2.2.3. Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB)
Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) là một mô hình lý thuyết được Ajzen (1991) phát triển nhằm kế thừa và mở rộng Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) do Fishbein và Ajzen đề xuất trước đó vào năm 1975. TPB được xây dựng như một công cụ lý thuyết nhằm nhận diện cơ chế hình thành hành vi ở con người thông qua ý định hành vi có chủ đích, nhưng đặc biệt nhấn mạnh thêm vai trò của các yếu tố kiểm soát trong quá trình ra quyết định.
Cốt lõi của cả hai mô hình TRA và TPB , “ý định hành vi” (behavioral intention) được xem là thành phần trung tâm, giữ vai trò là chỉ báo trực tiếp cho hành vi thực tế. Tuy nhiên, TRA giả định rằng con người luôn có đầy đủ quyền kiểm soát hành vi và điều kiện để thực hiện những gì họ có ý định làm, điều này không hoàn toàn phản ánh thực tế đối với các hành vi chịu ràng buộc bởi môi trường, năng lực hay nguồn lực cá nhân.
Nhằm khắc phục điểm hạn chế trong TRA, TPB đã đưa thêm biến “kiểm soát hành vi nhận thức” (perceived behavioral control), đại diện cho mức độ mà cá nhân tin rằng mình có đủ năng lực, nguồn lực và điều kiện để thực hiện hành vi mong muốn. Sự bổ sung này cho phép mô hình TPB giải thích tốt hơn các hành vi nằm một phần ngoài tầm kiểm soát chủ quan của cá nhân, đồng thời làm tăng tính ứng dụng trong các bối cảnh phức tạp như hành vi sức khỏe, tài chính, sử dụng công nghệ hoặc thay đổi thói quen. Ngoài việc ảnh hưởng gián tiếp đến hành vi thông qua ý định, kiểm soát hành vi nhận thức còn có thể tác động trực tiếp đến hành vi, đặc biệt trong các tình huống mà ý định không đủ mạnh để dẫn đến hành vi nếu không có điều kiện hỗ trợ thực tế.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã khẳng định tính phù hợp của TPB trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, đặc biệt trong việc giải thích ý định và hành vi sử dụng thẻ tín dụng. Cụ thể, Aida Ahmed Zahrani (2019) chỉ ra rằng cả ba yếu tố trong TPB đều ảnh hưởng đáng kể đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng tại Ả Rập Xê Út, trong đó thái độ và kiểm soát hành vi cảm nhận là các yếu tố nổi trội. Tương tự, Njo & Santoso (2020) và Khan et al. (2022) chứng minh rằng chuẩn chủ quan đóng vai trò quan trọng trong quyết định sử dụng thẻ tín dụng ở nhóm khách hàng trẻ. Từ đó có thể khẳng định, việc vận dụng TPB giúp hiểu rõ cơ chế hình thành hành vi sử dụng thẻ tín dụng, đồng thời là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của thế hệ Gen Z tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Thủ Đức.
- Hình 2.3. Mô hình Thuyết hành vi dự định- TBP Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Mặc dù TPB là một mô hình lý thuyết được đánh giá cao nhờ cấu trúc chặt chẽ, dễ dàng trong việc kiểm định và có khả năng ứng dụng linh hoạt trong nhiều lĩnh vực, song nó vẫn bộc lộ một số điểm hạn chế nhất định. Trước hết, TPB quá nhấn mạnh vào các yếu tố lý trí và nhận thức, trong khi các yếu tố cảm xúc, thói quen hoặc ảnh hưởng tình huống thường bị bỏ qua. Ngoài ra, giả định rằng ý định luôn dẫn đến hành vi thực tế là chưa thật sự phù hợp trong những hoàn cảnh mà cá nhân có thể thay đổi quyết định do yếu tố môi trường, rủi ro, hoặc thông tin mới xuất hiện. Hơn nữa, mặc dù yếu tố “kiểm soát hành vi nhận thức” đã được thêm vào để cải thiện khả năng giải thích hành vi ngoài tầm kiểm soát, nhưng bản thân biến này cũng mang tính chủ quan, và không phản ánh đầy đủ mức độ kiểm soát thực tế (actual control) mà cá nhân thực sự có.
Nhằm giải quyết những điểm còn thiếu sót của mô hình, nhiều học giả đã đề xuất các mô hình mở rộng dựa trên TPB. Các cải tiến phổ biến bao gồm việc bổ sung thêm các biến như: cảm xúc và thái độ cảm tính, nhận thức rủi ro, niềm tin đạo đức hoặc chuẩn mực cá nhân, ảnh hưởng của công nghệ, hay kinh nghiệm quá khứ… Các mô hình này được gọi chung là TPB mở rộng (Extended TPB), với mục tiêu nâng cao khả năng dự báo hành vi trong các tình huống cụ thể, đặc biệt là những hành vi có sự tham gia của công nghệ, tài chính, hoặc môi trường số. Việc điều chỉnh mô hình theo ngữ cảnh nghiên cứu cụ thể cũng góp phần giúp TPB giữ vững vai trò là lý thuyết nền tảng phổ biến và có tính ứng dụng cao trong nghiên cứu hành vi con người hiện đại.
2.2.2.4. Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM)
Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) do Davis xây dựng vào các năm 1986 và 1989, được xem là một trong những lý thuyết nền tảng trong việc lý giải và dự đoán hành vi tiếp nhận công nghệ của người sử dụng. Xuất phát từ Thuyết hành động hợp lý (TRA), TAM được phát triển theo hướng tinh gọn và điều chỉnh để thích ứng với bối cảnh ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực hệ thống thông tin và công nghệ số.
TAM cho rằng việc một cá nhân quyết định sử dụng một công nghệ nhất định chủ yếu phụ thuộc vào ý định hành vi sử dụng (behavioral intention to use). Ý định này được hình thành dưới ảnh hưởng của hai yếu tố trọng yếu: “cảm nhận hữu ích” (perceived usefulness – PU) và “cảm nhận dễ sử dụng” (perceived ease of use – PEOU). Trong đó, “cảm nhận hữu ích” đề cập đến mức độ người dùng tin rằng công nghệ sẽ giúp họ cải thiện hiệu suất làm việc hoặc nâng cao giá trị sử dụng trong đời sống. “Cảm nhận dễ sử dụng”, ngược lại, thể hiện mức độ mà người dùng cho rằng hệ thống không gây khó khăn trong thao tác, không yêu cầu kỹ năng phức tạp hoặc thời gian làm quen dài. Hai yếu tố này không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến ý định sử dụng, mà còn có mối liên hệ nội tại với nhau: khi người dùng cho rằng một công nghệ dễ sử dụng, họ sẽ càng có xu hướng đánh giá nó là hữu ích hơn trong thực tế. Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
- Hình 2.4. Mô hình chấp nhận công nghệ – TAM
Mô hình TAM có cấu trúc đơn giản nhưng khả năng dự báo cao, do đó đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu liên quan đến hệ thống thông tin, thương mại điện tử, ngân hàng số, giáo dục trực tuyến, và các nền tảng công nghệ mới. TAM cũng cho phép mở rộng bằng cách tích hợp thêm các yếu tố khác như: thái độ sử dụng, ảnh hưởng xã hội (chuẩn chủ quan), sự tin tưởng, cảm nhận rủi ro, khả năng tự quản lý công nghệ, hoặc ảnh hưởng xã hội, nhằm nâng cao tính phù hợp trong từng bối cảnh cụ thể.
Trong bối cảnh sử dụng thẻ tín dụng, mô hình TAM được xem là khung lý thuyết phù hợp để giải thích hành vi tiếp nhận và sử dụng sản phẩm tài chính hiện đại, vốn gắn liền với nền tảng công nghệ và dịch vụ ngân hàng số. Người tiêu dùng có xu hướng hình thành ý định và hành vi sử dụng thẻ tín dụng khi họ nhận thấy sản phẩm này mang lại lợi ích thiết thực như thanh toán nhanh chóng, an toàn, linh hoạt trong chi tiêu, cũng như dễ dàng sử dụng thông qua các kênh giao dịch điện tử, ứng dụng ngân hàng hay ví điện tử. Cảm nhận tích cực về hai yếu tố này sẽ dẫn đến thái độ thuận lợi đối với việc sử dụng thẻ, từ đó thúc đẩy ý định và hành vi sử dụng thực tế.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh tính phù hợp của mô hình TAM trong lĩnh vực ngân hàng. Chẳng hạn, Nguyễn Minh Loan và cộng sự (2023) cho thấy “cảm nhận hữu ích” và “cảm nhận dễ sử dụng” là những yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng số của thế hệ trẻ tại Việt Nam. Tương tự, Khan et al. (2022) cũng chỉ ra rằng “cảm nhận hữu ích” đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy khách hàng lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng Hồi giáo tại Pakistan. Điều này cho thấy, trong bối cảnh ngân hàng hiện đại hóa và hướng đến nhóm khách hàng trẻ, việc nâng cao nhận thức về tiện ích và sự đơn giản trong sử dụng thẻ tín dụng là chìa khóa thúc đẩy hành vi tiêu dùng tài chính. Từ đó có thể khẳng định, việc vận dụng mô hình TAM là cơ sở quan trọng để phân tích các yếu tố công nghệ và nhận thức ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của thế hệ Gen Z tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Thủ Đức, đặc biệt trong bối cảnh nhóm khách hàng này có xu hướng ưa thích giải pháp tài chính số, nhanh gọn và mang tính trải nghiệm cao.
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Quyết định sử dụng là quá trình trong đó khách hàng cân nhắc, lựa chọn và thực hiện hành vi dựa trên nhu cầu cá nhân, cảm nhận chủ quan và ảnh hưởng từ môi trường xung quanh. Theo các lý thuyết nền tảng trong lĩnh vực nghiên cứu hành vi như TRA, TPB, TAM, cũng như lý thuyết hành vi tiêu dùng truyền thống, có thể hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thành bốn nhóm chính: cá nhân, đối tượng sử dụng, xã hội và tổ chức cung cấp.
2.3.1. Nhóm yếu tố cá nhân
Các đặc điểm cá nhân như tuổi, giới tính, thu nhập, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân là những yếu tố nhân khẩu học cơ bản có ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng nói chung và quyết định sử dụng nói riêng (Kotler & Keller, 2016). Chẳng hạn, khách hàng trẻ có xu hướng chấp nhận cái mới nhanh hơn; trong khi nhóm khách hàng lớn tuổi thường thận trọng hơn trong việc sử dụng các công cụ thanh toán mới.
Thái độ và động cơ là hai yếu tố tâm lý cốt lõi. Theo Ajzen (1991), thái độ hành vi mang tính tích cực góp phần đáng kể vào việc nâng cao ý định để thực hiện hành vi, đặc biệt khi hành vi được nhận thức là có lợi và phù hợp với mục tiêu cá nhân. Bên cạnh đó, động cơ và mục tiêu cá nhân sẽ định hướng lựa chọn hành vi trong các tình huống cụ thể.
Niềm tin và nhận thức rủi ro cũng là hai yếu tố có tác động đáng kể. Khách hàng chỉ đưa ra quyết định sử dụng khi có đủ niềm tin vào đối tượng, hệ thống hoặc tổ chức cung cấp sản phẩm/dịch vụ; đồng thời, mức độ lo ngại về rủi ro càng lớn thì ý định dẫn đến thực hiện hành vi càng thấp (Featherman & Pavlou, 2003).
Bên cạnh đó, kiến thức tài chính và kinh nghiệm cũng góp phần đáng kể vào quá trình đánh giá và đưa ra quyết định, đặc biệt là các quyết định liên quan đến sử dụng sản phẩm tài chính. Theo Lusardi và Mitchell (2014), khách hàng có hiểu biết cao sẽ ra quyết định sáng suốt và hạn chế được rủi ro tài chính.
2.3.2. Nhóm yếu tố liên quan đến đối tượng sử dụng
Quyết định của khách hàng chủ yếu được hình thành từ sự cảm nhận về tính hữu ích và mức độ dễ dàng khi sử dụng sản phẩm. Davis (1989) cho rằng hai yếu tố “Cảm nhận hữu ích” và “Cảm nhận dễ sử dụng” ảnh hưởng trực tiếp đến ý định sử dụng. Nếu một sản phẩm được đánh giá là mang lại lợi ích cao và dễ sử dụng, khách hàng sẽ có khuynh hướng sử dụng mạnh mẽ hơn.
Tương tự, Venkatesh et al. (2003) trong mô hình UTAUT cũng khẳng định rằng “Hiệu quả kỳ vọng” và “Nỗ lực kỳ vọng” là hai yếu tố cốt lõi góp phần định hình ý định hành vi đối với các sản phẩm công nghệ mới.
Chi phí, khả năng chi trả, sự linh hoạt và tiện lợi cũng là những yếu tố kỹ thuật có ảnh hưởng thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh khách hàng ngày càng quan tâm đến tối ưu hóa trải nghiệm sử dụng và tiết kiệm chi phí tổng thể.
2.3.3. Nhóm yếu tố xã hội Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Trong môi trường tiêu dùng hiện đại, khách hàng không hành động một cách độc lập mà thường chịu ảnh hưởng từ nhóm tham khảo, người thân, bạn bè và cộng đồng xã hội. Theo TPB, yếu tố “chuẩn chủ quan” thể hiện mức độ mà cá nhân cảm nhận được sự kỳ vọng từ người xung quanh trong việc thực hiện một hành vi cụ thể (Ajzen, 1991).
Tương tự, trong mô hình UTAUT, “ảnh hưởng xã hội” đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích vì sao cá nhân quyết định sử dụng sản phẩm, đặc biệt trong giai đoạn đầu khi sản phẩm còn mới mẻ (Venkatesh et al., 2003).
Ngoài ra, các xu hướng xã hội như sự phát triển của thanh toán không tiền mặt, phong trào tiêu dùng thông minh, hoặc sự ảnh hưởng từ truyền thông đại chúng cũng góp phần định hình nhận thức và quyết định của khách hàng.
2.3.4. Nhóm yếu tố thuộc về tổ chức cung cấp và điều kiện hỗ trợ
Uy tín và hình ảnh thương hiệu của tổ chức được xem là những yếu tố then chốt tác động đến mức độ tin tưởng và quyết định lựa chọn dịch vụ của khách hàng. Theo Kotler & Keller (2016), các doanh nghiệp có thương hiệu mạnh sẽ tạo được sự tin tưởng và gắn bó lâu dài nơi khách hàng.
Bên cạnh đó, “điều kiện thuận lợi” cũng được xem là một thành phần quan trọng trong mô hình UTAUT, phản ánh sự sẵn sàng về mặt cơ sở hạ tầng, kỹ thuật và nhân sự hỗ trợ khách hàng trong quá trình sử dụng (Venkatesh et al., 2003).
Ngoài ra, chất lượng dịch vụ hậu mãi, khả năng xử lý sự cố, tính minh bạch trong giao dịch và chính sách bảo vệ người tiêu dùng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao mức độ hài lòng và gia tăng khả năng tái sử dụng dịch vụ.
2.4. Khảo lược các nghiên cứu Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Để phục vụ cho việc tìm hiểu vấn đề nghiên cứu, tác giả đã tiến hành tổng hợp và phân tích kiến thức từ nhiều nguồn tài liệu học thuật, bao gồm các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được công bố trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2024. Các nghiên cứu này chủ yếu thực hiện thông qua khảo sát nhóm khách hàng cá nhân tại Việt Nam và một số quốc gia khác, tập trung làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng cá nhân (TDCN) cũng như hành vi và quyết định sử dụng dịch vụ tài chính của thế hệ Gen Z. Việc tổng hợp này giúp hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho đề tài, đồng thời hỗ trợ tác giả trong việc xác định khoảng trống nghiên cứu và đề xuất mô hình phân tích phù hợp với bối cảnh tại Sacombank – Chi nhánh Thủ Đức.
- Bảng 2.1.Tổng hợp lược khảo các nghiên cứu liên quan
2.4.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Aida Ahmed Zahrani (2019) thực hiện nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng của người tiêu dùng tại Ả Rập Xê Út, trong bối cảnh thẻ tín dụng ngày càng trở thành công cụ thanh toán phổ biến trong khu vực Trung Đông. Trên phương diện lý luận, tác giả kế thừa và vận dụng Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB – Theory of Planned Behavior) của Ajzen (1991), đồng thời mở rộng mô hình với các yếu tố đặc thù về nhận thức và niềm tin tài chính. Dựa trên tổng hợp các nghiên cứu trước, mô hình nghiên cứu gồm năm biến độc lập: “Chuẩn chủ quan”, “Thái độ đối với hành vi”, “Kiểm soát hành vi cảm nhận”, “Cảm nhận rủi ro” và “Nhận thức tài chính”, trong đó biến phụ thuộc là “Hành vi sử dụng thẻ tín dụng”. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định lượng, thông qua khảo sát 200 khách hàng đang sử dụng thẻ tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở Ả Rập Xê Út; dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS và AMOS để kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính. Kết quả chỉ ra rằng ba yếu tố “thái độ”, “chuẩn chủ quan” và “nhận thức kiểm soát hành vi” có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng, trong khi “cảm nhận rủi ro” có ảnh hưởng tiêu cực và “nhận thức tài chính” có ảnh hưởng không đáng kể. Kết quả này cho thấy hành vi sử dụng thẻ tín dụng của người tiêu dùng Ả Rập Xê Út chịu chi phối mạnh bởi niềm tin xã hội và khả năng tự kiểm soát tài chính, trong khi yếu tố rủi ro chỉ đóng vai trò hạn chế.
Njo Anastasia và Samiaji Santoso (2020) với mục tiêu kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố “chuẩn chủ quan”, “kiểm soát hành vi cảm nhận”, “cảm nhận rủi ro” và “cảm nhận hữu ích” đến “ý định sử dụng thẻ tín dụng” của người tiêu dùng tại thành phố Surabaya, Indonesia. Trên cơ sở lý thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) kết hợp với mô hình Chấp nhận công nghệ (TAM), tác giả xây dựng mô hình gồm bốn biến độc lập nêu trên và biến phụ thuộc là “ý định sử dụng thẻ tín dụng”. Dữ liệu được thu thập bằng phương pháp chọn mẫu có chủ đích thông qua bảng hỏi khảo sát 100 chủ thẻ tín dụng, xử lý bằng mô hình phương trình cấu trúc SEM–PLS. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình giải thích được 54,7% sự biến thiên của “ý định sử dụng thẻ tín dụng”. Ba yếu tố “chuẩn chủ quan”, “kiểm soát hành vi cảm nhận” và “cảm nhận hữu ích” có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến ý định sử dụng thẻ tín dụng, trong khi “cảm nhận rủi ro” không có ảnh hưởng đáng kể. Điều này phản ánh rằng, dưới tác động của các yếu tố xã hội và lợi ích cảm nhận được, khách hàng tại Surabaya vẫn sẵn sàng sử dụng thẻ tín dụng dù nhận thức được các rủi ro tiềm ẩn. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của cha mẹ và bạn bè trong việc hình thành chuẩn chủ quan, cùng với yếu tố hiểu biết tài chính giúp người dùng kiểm soát hành vi chi tiêu và sử dụng thẻ một cách hiệu quả.
Khush et al. (2022) tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ tín dụng Hồi giáo (Islamic Credit Card – ICC) của khách hàng tại tỉnh Khyber Pakhtunkhwa, Pakistan. Cơ sở lý luận của nghiên cứu được phát triển từ mô hình Lý thuyết Hành động hợp lý (TRA – Theory of Reasoned Action) của Fishbein và Ajzen (1977), đồng thời mở rộng thêm các biến ngoại sinh nhằm tăng khả năng giải thích hành vi tiêu dùng tài chính. Từ tổng hợp các công trình trước, nhóm tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu với năm biến độc lập gồm: “chuẩn chủ quan”, “thái độ”, “chi phí tài chính cảm nhận”, “kiến thức sản phẩm” và “ảnh hưởng xã hội”, nhằm kiểm định tác động của chúng đến “ý định sử dụng thẻ tín dụng Hồi giáo”. Nghiên cứu áp dụng phương pháp định lượng với dữ liệu thu thập từ 340 khách hàng của các ngân hàng Hồi giáo tại hai khu vực Bannu và Kohat, sử dụng SmartPLS 3.0 để phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả cho thấy bốn yếu tố gồm “chuẩn chủ quan”, “thái độ”, “kiến thức” và “ảnh hưởng xã hội” đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến ý định sử dụng ICC, trong đó “chuẩn chủ quan” là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất. Ngược lại, “chi phí tài chính cảm nhận” có mối quan hệ tiêu cực nhưng không đáng kể đối với ý định sử dụng. Kết quả này gợi ý rằng hành vi lựa chọn thẻ tín dụng Hồi giáo của khách hàng chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi yếu tố xã hội và niềm tin tôn giáo, hơn là các yếu tố chi phí tài chính.
De Zoysa và Rathnayaka (2022) thực hiện phân tích các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng của nhân viên tại quận Colombo. Trọng tâm của nghiên cứu là xác định mức độ tác động của các yếu tố như “mô hình sử dụng”, “thái độ”, “địa vị xã hội”, “sự thuận tiện”, “lạc quan tài chính” và “chi phí tài chính cảm nhận” đến “hành vi sử dụng thẻ”. Nền tảng lý thuyết của nghiên cứu dựa vào mô hình Hành vi Lý trí (TRA) và Hành vi Kế hoạch (TPB). Tác giả sử dụng phương pháp định lượng, khảo sát 385 nhân viên tại Colombo bằng bảng hỏi Likert 10 điểm và thực hiện bằng phương pháp hồi quy tuyến tính (Minitab 20). Kết quả cho thấy các yếu tố “mô hình sử dụng”, “thái độ”, và “chi phí tài chính cảm nhận” có ảnh hưởng cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến việc sử dụng thẻ tín dụng. Ngược lại, khác với 1 số nghiên cứu trước đó, biến “địa vị xã hội” có ảnh hưởng ngược chiều giải thích là khi địa vị xã hội tăng lên, việc sử dụng thẻ tín dụng của họ lại có xu hướng giảm đi. “Sự thuận tiện và lạc quan tài chính” không ảnh hưởng đáng kể. Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Wint Wah Oo (2024) đã phân tích các nhân tố tác động đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tại Ngân hàng Myanmar Oriental (MOB). Nghiên cứu định hướng vào việc xác định mức độ tác động của ba nhóm yếu tố: “địa vị xã hội và lối sống”, “nhân khẩu học”, và “đặc điểm của thẻ tín dụng” đối với mức độ sử dụng thẻ tín dụng. Về cơ sở lý luận, nghiên cứu vận dụng TRA của Fishbein và Ajzen (1975) cùng với TPB của Ajzen (1991). Tác giả tiến hành khảo sát 88 khách hàng tại trụ sở chính của MOB ở Yangon thông qua bảng câu hỏi, và áp dụng hồi quy tuyến tính nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong mô hình nghiên cứu.. Kết quả cho thấy chỉ có “đặc điểm của thẻ tín dụng” (như hạn mức, ưu đãi, phí thường niên) có tương quan thuận chiều và có ý nghĩa về mặt thống kê đến hành vi sử dụng thẻ. Ngược lại, “địa vị xã hội và lối sống”, “nhân khẩu học” không có tác động đáng kể. Trái ngược với các nghiên cứu trước đây vốn nhấn mạnh vai trò của nhân khẩu học và lối sống trong việc chi phối hành vi tiêu dùng thì trong nghiên cứu này cho thấy các yếu tố sản phẩm (đặc điểm thẻ) mới là yếu tố quyết định trong bối cảnh MOB.
2.4.2. Các nghiên cứu trong nước
Phạm Nguyễn Thị Hoàng Hoa (2021) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng thẻ ngân hàng đặc biệt nhấn mạnh đến ý định và quyết định sử dụng của người tiêu dùng Việt Nam. Tác giả đã xây dựng một mô hình lý thuyết tổng hợp dựa trên nhiều nền tảng học thuật đã được công nhận, bao gồm: TAM, TPB, Lý thuyết Đổi mới (IDT), và UTAUT, từ đó tích hợp thêm các yếu tố có tính thực tiễn điều kiện đặc thù của thị trường tài chính Việt Nam. Nghiên cứu đề xuất một mô hình với chín biến độc lập “cảm nhận hữu ích”, “cảm nhận dễ sử dụng”, “chính sách marketing”, “chính sách pháp luật”, “ảnh hưởng xã hội”, “kiểm soát hành vi cảm nhận”, “cảm nhận rủi ro”, “chất lượng dịch vụ” và “giá trị cảm nhận”. Hai biến phụ thuộc chính trong mô hình là “ý định sử dụng” và “quyết định sử dụng” thẻ ngân hàng. Phương pháp nghiên cứu định lượng được triển khai với 410 mẫu khảo sát thu thập theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại một số tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS và AMOS. Nghiên cứu chỉ ra rằng “cảm nhận hữu ích”, “cảm nhận dễ sử dụng”, “ảnh hưởng xã hội”, “chất lượng dịch vụ” và “kiểm soát hành vi cảm nhận” là những yếu tố thúc đẩy “ý định sử dụng” thẻ ngân hàng, trong khi “cảm nhận rủi ro” lại là yếu tố cản trở. “Ý định sử dụng” thẻ ngân hàng cũng cho thấy có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến “quyết định sử dụng”. Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Phùng Thị Ngát (2022) tập trung xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Nam Á – Khu vực TP. HCM. Về cơ sở lý luận, tác giả kết hợp ba mô hình nghiên cứu hành vi người tiêu dùng: TAM, TRA và TPB. Dựa trên tổng hợp lý thuyết và nghiên cứu trước, mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 7 biến độc lập “nhận thức an toàn và bảo mật”, “Chính sách ngân hàng”, “Chuẩn chủ quan”, “Chăm sóc khách hàng”, “Nhận thấy sự hữu ích”, “Sự tiện lợi” và “Chi phí sử dụng”. Biến phụ thuộc là “quyết định sử dụng” thẻ tín dụng. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, khảo sát 354 khách hàng cá nhân tại TP.HCM và xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS. Các kết quả thu được từ hồi quy cho thấy biến “Nhận thức an toàn và bảo mật” là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp theo là “Chính sách ngân hàng”, “Chuẩn chủ quan”, “Chăm sóc khách hàng”, “Nhận thấy sự hữu ích” và “Sự tiện lợi”. Riêng biến “Chi phí sử dụng” có mối quan hệ ngược chiều, nghĩa là khi cảm nhận chi phí sử dụng cao, khách hàng sẽ ít có xu hướng sử dụng thẻ tín dụng hơn. Các biến còn lại đều có ảnh hưởng tích cực đến “quyết định sử dụng”.
Lưu Phước Vẹn và Lê Thị Kim Chi (2023) làm rõ các nhân tố tác động đến hành vi ra quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân trong bối cảnh cụ thể tại tỉnh An Giang. Nghiên cứu định hướng vào việc đánh giá ảnh hưởng của sáu nhóm nhân tố “thái độ đối với hành vi”, “chuẩn chủ quan”, “nhận thức kiểm soát hành vi”, “tiện ích sử dụng thẻ”, “chi phí sử dụng thẻ”, và “khả năng đáp ứng dịch vụ của ngân hàng” đến “quyết định sử dụng” thẻ tín dụng. Trên phương diện lý luận, nghiên cứu kế thừa và vận TPB của Ajzen (1991) làm nền tảng phân tích. Đồng thời, tác giả tích hợp thêm các yếu tố thực tiễn trong ngành ngân hàng như chi phí và lợi ích dịch vụ, giúp mô hình trở nên phù hợp hơn với đặc điểm sản phẩm tài chính. Phương pháp nghiên cứu được triển khai qua hai giai đoạn gồm nghiên cứu sơ bộ định tính để hiệu chỉnh bảng hỏi, và thực hiện chính thức với 160 khách hàng đang sử dụng thẻ tín dụng tại các ngân hàng trên địa bàn tỉnh An Giang. Kết quả SPSS cho thấy cả sáu nhân tố đều có tác động đáng kể đến “quyết định sử dụng” thẻ tín dụng của khách hàng. Trong đó, năm yếu tố bao gồm “thái độ”, “chuẩn chủ quan”, “nhận thức kiểm soát hành vi”, “tiện ích sử dụng thẻ” và “khả năng đáp ứng dịch vụ” của ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều, tức là các yếu tố này càng tích cực thì khả năng khách hàng ra quyết định sử dụng thẻ càng cao. Riêng “chi phí sử dụng” có ảnh hưởng ngược chiều, phản ánh rằng chi phí càng cao (như phí thường niên, lãi suất, phí rút tiền mặt…) thì khả năng sử dụng thẻ càng giảm. Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Bài nghiên cứu “Nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng số của thế hệ Z” do nhóm tác giả Nguyễn Minh Loan và cộng sự (2023) tập trung phân tích và định lượng các yếu tố chi phối hành vi lựa chọn dịch vụ ngân hàng số trong nhóm khách hàng trẻ tuổi Việt Nam. Cơ sở lý luận của nghiên cứu từ bốn mô hình nổi bật trong lĩnh vực hành vi tiêu dùng công nghệ gồm: TAM, Lý thuyết Nhận thức Rủi ro (TPR), Lý thuyết Khuếch tán Đổi mới (IDT) và UTAUT. Dựa vào tổng hợp các công trình trước đó, nhóm tác giả phát triển mô hình với sáu biến độc lập: “tính dễ sử dụng”, “cảm nhận rủi ro”, “cảm nhận hữu ích”, “niềm tin”, “ảnh hưởng xã hội” và “tính đổi mới” từ đó kiểm định mức độ ảnh hưởng đến “ý định sử dụng” dịch vụ ngân hàng số. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát 250 người thuộc thế hệ Z, sau đó dữ liệu được xử lý và phân tích bằng SPSS. Kết quả cho thấy cả sáu nhân tố đều có ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng, trong đó bốn yếu tố có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê, gồm “tính đổi mới” (tác động mạnh nhất), “tính dễ sử dụng”, “ảnh hưởng xã hội” và “cảm nhận hữu ích”. Hai yếu tố còn lại là “niềm tin” và “cảm nhận rủi ro” tuy được đưa vào mô hình nhưng không có tác động đáng kể trong bối cảnh khảo sát.
Huỳnh Văn Đặng (2024) dựa trên mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM) đề xuất mô hình nghiên cứu gồm năm biến độc lập là “chi phí sử dụng”, “sự tiện lợi”, “thái độ tiêu dùng”, “xu hướng tiêu dùng không sử dụng tiền mặt” và “chương trình ưu đãi” nhằm phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến “quyết định sử dụng thẻ tín dụng điện tử” của khách hàng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam- Chi nhánh Bắc Sài Gòn. Dữ liệu được thu thập từ 218 khách hàng đang sử dụng thẻ tín dụng điện tử tại chi nhánh ngân hàng nêu trên, và được phân tích bằng SPSS 20.0 thể hiện tất cả các yếu tố trong mô hình đều có tác động cùng chiều đến biến phụ thuộc, trong đó “chi phí sử dụng” có tác động mạnh nhất, sau đó là “sự tiện lợi”, “thái độ tiêu dùng”, “xu hướng tiêu dùng không sử dụng tiền mặt”, và cuối cùng là “chương trình ưu đãi”.
2.4.3. Khoảng trống các nghiên cứu trước đây Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này chủ yếu tiếp cận nhóm đối tượng người tiêu dùng trưởng thành, thuộc các thế hệ Gen X và Millennials – những người đã có trải nghiệm tài chính nhất định hoặc đang trong giai đoạn ổn định về thu nhập. Trong khi đó, thế hệ Gen Z lại ít được nghiên cứu sâu dù họ đang trở thành lực lượng tiêu dùng tiềm năng với hành vi tài chính và kỳ vọng khác biệt. Đây là một khoảng trống đáng kể trong bối cảnh các ngân hàng tại Việt Nam, bao gồm cả Sacombank, đang tích cực mở rộng thị phần khách hàng trẻ thông qua các sản phẩm thẻ và dịch vụ tài chính số.
Thêm vào đó, nhiều nghiên cứu trước chỉ khảo sát tổng thể trên phạm vi nhiều ngân hàng hoặc không chỉ rõ tổ chức tài chính cụ thể nào, khiến cho kết quả mang tính bao quát, khó áp dụng vào thực tiễn tại từng đơn vị. Riêng đối với Sacombank – Chi nhánh Thủ Đức, nơi tập trung đông đảo sinh viên và người trẻ, đặc biệt là khu vực TP. Thủ Đức đang phát triển mạnh về hạ tầng giáo dục và công nghệ – hiện vẫn chưa có công trình học thuật nào đi sâu tìm hiểu ý định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z trong phạm vi địa phương cụ thể này. Việc không đánh giá riêng từng chi nhánh hoặc khu vực địa lý khiến các giải pháp đề xuất trước đó khó phù hợp về đặc điểm dân cư, hành vi và văn hóa tiêu dùng từng địa bàn.
Một khoảng trống khác nằm ở nội dung và cấu trúc mô hình nghiên cứu. Cụ thể, các nghiên cứu trước chủ yếu dựa trên các nền tảng lý thuyết như TPB, TAM hoặc Mô hình UTAUT nhưng chưa thực sự mở rộng các yếu tố phản ánh đặc thù hành vi tiêu dùng của Gen Z, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng số ngày càng phổ biến. Đối tượng Gen Z lớn lên trong môi trường công nghệ cao, gắn bó chặt chẽ với điện thoại thông minh, internet và mạng xã hội, do đó yếu tố “công nghệ” – như khả năng sử dụng các ứng dụng ngân hàng số, sự tin tưởng vào giao dịch trực tuyến, mức độ tiện ích của nền tảng số – có thể ảnh hưởng đáng kể đến quyết định sử dụng sản phẩm tài chính như thẻ tín dụng. Tuy nhiên, trong hầu hết các nghiên cứu hiện tại, yếu tố này chưa được tích hợp đầy đủ hoặc còn bị đánh giá thấp so với các yếu tố truyền thống như nhận thức lợi ích hay ảnh hưởng xã hội.
Chính từ những khoảng trống trên, đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Thủ Đức” được thực hiện nhằm đóng góp thêm vào kho tàng học thuật về hành vi tài chính của giới trẻ trong bối cảnh chuyển đổi số tại Việt Nam. Bằng việc Việc lựa chọn thế hệ Gen Z làm đối tượng nghiên cứu tại một chi nhánh cụ thể của Sacombank và tích hợp thêm yếu tố công nghệ vào mô hình nghiên cứu, đề tài kỳ vọng mang lại cái nhìn sâu sắc và thực tiễn, góp phần định hướng các giải pháp trong chiến lược phát triển khách hàng trẻ của ngân hàng.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 đã trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết liên quan đến thẻ tín dụng, và quyết định sử dụng. Đồng thời, các lý thuyết nền tảng như Thuyết hành vi người tiêu dùng, Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA), Lý thuyết hành vi dự định (TPB), Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) cũng đã được giới thiệu nhằm làm rõ các yếu tố có thể tác động đến quyết định sử dụng của người tiêu dùng.
Thêm vào đó, tác giả đã lược khảo các nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan đến đề tài từ đó nhận diện được khoảng trống nghiên cứu. Những nội dung trình bày trong chương này là cơ sở để thiết lập mô hình nghiên cứu và đề xuất các yếu tố phù hợp sẽ được trình bày cụ thể trong chương 3. Luận văn: Yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của Gen Z

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
