Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Bản Việt – Trung tâm kinh doanh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1 Quy trình nghiên cứu

Hình 3,1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3,1 Quy trình nghiên cứu

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

3.2 Nghiên cứu sơ bộ định tính Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn.

Tác giả đã đọc và tham khảo các đề tài và bài báo tương tự để xây dựng bức tranh về vấn đề nghiên cứu ban đầu. Dựa trên quá trình tổng hợp này, 5 yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn ngân hàng được đề xuất bởi tác giả, bao gồm Thương hiệu ngân hàng, Chính sách cho vay, Ảnh hưởng của người thân, Sự thuận tiện, và Sự đảm bảo, với tổng cộng 16 biến quan sát. Để đảm bảo tính tin cậy của thang đo, tác giả đã phỏng vấn các chuyên gia nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực TDCN, bao gồm Giám đốc chi nhánh phụ trách bán lẻ, Giám đốc phòng truyền thông, Giám đốc phòng giao dịch và Trưởng phòng khách hàng cá nhân. Các cuộc phỏng vấn này đã tập trung vào việc thu thập, khám phá và bổ sung các biến vào thang đo để phù hợp với ngữ cảnh thực tế tại ngân hàng. Các câu hỏi được đưa ra xoay quanh các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng vay vốn của khách hàng cá nhân tại ngân hàng, các thành viên tham gia phỏng vấn lần lượt nêu ra quan điểm của bản thân, các ý kiến sẽ được liệt kê cho đến khi các thành viên tiếp theo không có ý kiến nào khác so với những người tham gia phỏng vấn trước thì cuộc nghiên cứu mới kết thúc. Có tất cả 10 chuyên gia thoả mãn điều kiện tham gia phỏng vấn, trong đó: 1 Giám đốc khối KHCN, 2 Giám đốc chi nhánh, 5 phó giám đốc, 2 trưởng phòng khối KHCN (Theo Phụ lục 1). Kết quả của cuộc phỏng vấn sâu này, các chuyên gia đồng ý rằng 5 nhân tố dùng để đo lường sự ảnh hưởng đến sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của KHCN cũng như 16 quan sát khá phù hợp. Ngoài ra, theo kinh nghiệm lâu năm trong ngành cho rằng thái độ nhân viên ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng vay vốn của khách hàng cá nhân. Vì vậy đề xuất của tác giả là thêm yếu tố Thái độ nhân viên (6) vào mô hình nghiên cứu. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn.

Nội dung câu hỏi khảo sát phải thoả mãn các khía cạnh sau:

  • Người được phỏng vấn hiểu được các câu hỏi.
  • Người tham gia phỏng vấn có đầy đủ thông tin để trả lời.
  • Người tham gia phỏng vấn sẵn sàng cung cấp thông tin.

3.3 Nghiên cứu chính thức

Nghiên cứu được thực hiện chính thức sau giai đoạn nghiên cứu sơ bộ để đánh giá độ tin cậy và giá trị của các thang đo. Nghiên cứu này bao gồm việc nghiên cứu định lượng và xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc lựa chọn ngân hàng vay vốn của khách hàng cá nhân, dựa trên kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đã đề ra.

3.3.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu

  • Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát

Trong phần đầu tiên của bảng câu hỏi, để có được thông tin về nền tảng cá nhân của người trả lời, các câu hỏi liên quan đến độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, đã sử dụng dịch vụ tại Bản Việt được bao lâu.

 Tiếp theo, người trả lời được yêu cầu đánh giá mức độ quan trọng tương đối của 6 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng của họ. Tác giả sử dụng thang đo tầm quan trọng loại Likert 5 mức độ, từ mức độ 1 “Hoàn toàn không đồng ý” và thay đổi dần đến mức 5 “Hoàn toàn đồng ý” để đo lường các biến quan sát của nhân tố. Tương tự, “Quyết định lựa chọn ngân hàng vay vốn” là biến phụ thuộc được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ.

  • Xây dựng thang đo Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn.

Căn cứ vào các lý thuyết hành vi của người tiêu dùng, các bài nghiên cứu trước đây như Frangos và cộng sự (2016), Hedayatnia và Eshghi (2015), Lelissa&Lelissa (2019), Siddique (2019), Diệu Hồng Hà (2018), Nguyễn Nhật Anh Thư (2019), Lê Thị Vi (2021), Nguyễn Huyền Anh (2022), Lê Đức Huy (2018) và theo các chuyên gia có kinh nghiệm lâu năm trong ngành, tác giả xây dựng thang đo lường đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng vay vốn của KHCN tại Ngân hàng TMCP Bản Việt – Trung tâm kinh doanh. Dưới đây là nội dung thang đo:

Bảng 3.1 Thang đo nghiên cứu

Ký hiệu Nội dung Tham khảo từ
Thương hiệu ngân hàng Diệu Hồng Hà 2018); Lê Thị Vi (2021); Lê Đức Huy (2018).
TH1 Ngân hàng có quy mô lớn
TH2 Ngân hàng có hoạt động lâu năm trên địa bàn
TH3 Ngân hàng có tần suất xuất hiện nhiều trên các trang quảng cáo, phương tiện thông tin
Chính sách cho vay Frangos và cộng sự (2016); Hedayatnia và Eshghi (2015); Siddique (2019); Diệu Hồng Hà (2018); Lê Thị Vi (2021); Nguyễn Huyền Anh (2022); Lê Đức Huy (2018).
CS1 Lãi suất tín dụng phù hợp với mức chung của các ngân hàng
CS2 Mức phí dịch vụ hợp lý
CS3 Ngân hàng có phương thức trả nợ linh hoạt
  Sự thuận tiện Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn. Hedayatnia và Eshghi (2015); Lelissa &Lelissa (2019); Siddique (2019); Diệu Hồng Hà (2018); Lê Thị Vi (2021); Nguyễn Huyền Anh (2022);
TT1 Vị trí ngân hàng gần nơi tôi làm việc
TT2 Ngân hàng có nhiều địa điểm giao dịch, nhiều ATM
TT3 Ngân hàng có bãi giữ xe rộng rãi, thuận lợi đi lại.
TT4 Các điểm chính về sản phẩm được ngân hàng công bố đủ đến khách hàng
Ảnh hưởng của người thân Diệu Hồng Hà (2018); Nguyễn Nhật
NT1 Anh/chị vay vốn do có người thân quen làm việc tại ngân hàng
NT2 Anh/chị vay vốn do có người quen biết giới thiệu Anh Thư (2019); Lê Thị Vi (2021);
NT3 Anh/chị vay vốn do có người quen đã/đang vay vốn tại ngân hàng và đánh giá tốt về ngân hàng.
Sự đảm bảo Siddique (2019); Nguyễn Nhật Anh Thư (2019); Lê Thị Vi (2021); Nguyễn Huyền Anh (2022); Lê Đức Huy (2018).
DB1 An ninh tại ngân hàng tốt
DB2 Bản Việt giữ thông tin khách hàng bí mật tuyệt đối
DB3 Dịch vụ tới khách hàng đúng tiến độ và chất lượng đã cam kết
Thái độ nhân viên Các chuyên gia có kinh nghiệm tại ngân hàng TMCP Bản Việt -Trung tâm kinh doanh
TĐ1 Nhân viên giao dịch tự tin và chuyên nghiệp
TĐ2 Nhân viên có đủ kiến thức để tư vấn khách hàng
TĐ3 Nhân viên ngân hàng tư vấn tận tình, chi tiết
Quyết định lựa chọn ngân hàng
QD1 Khi có nhu cầu vay vốn sự lựa chọn đầu tiên của tôi là ngân hàng Bản Việt
QD2 Tôi hài lòng khi lựa chọn ngân hàng Bản Việt
QD3 Tôi sẽ giới thiệu sản phẩm ngân hàng Bản Việt đến người xung quanh

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả) Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn.

  • Mã hoá thang đo: Sau khi khảo sát, dữ liệu được mã hoá để nhập liệu và sử dụng phần mềm SPSS để xử lý.
  • Thiết kế mẫu

Để dễ dàng tiếp cận được đối tượng nghiên cứu với giới hạn vè thời gian và chi phí hạn chế, tác giả thực hiện phương pháp thuận tiện (phi xác suất) để chọn mẫu nghiên cứu. Đối tượng mẫu là khách hàng hiện hữu trong hệ thống ngân hàng Bản Việt.

Trong nghiên cứu này có 6 nhân tố độc lập và 1 nhân tố phụ thuộc, tương ứng với số lượng biến quan sát là 19 biến. Theo Hair và cộng sự (1998), kích thước mẫu được xác định theo tỷ lệ quan sát/biến đo lường tối thiểu là 5:1, tức mỗi biến đo lường có tối thiểu 5 quan sát. Vì vậy, kích thước mẫu theo Hair và cộng sự (1998) mà nghiên cứu cần có tối thiểu là 19*5= 95 quan sát. Tuy nhiên, số lượng mẫu càng nhiều sẽ giảm bớt được sai số trong thống kê, do đó để đảm bảo dữ liệu tăng tính tin cậy, 300 khách hàng được tác giả thực hiện khảo sát.

3.3.2 Thu thập mẫu nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn.

Mẫu nghiên cứu thu thập thông qua khảo sát trực tiếp từ khách hàng và kết quả thu thập sẽ được làm sạch để đảm bảo đầy đủ thông tin. Khảo sát được thực hiện từ ngày 01/09/2024 đến 15/11/2024. Tổng số bảng câu hỏi phát ra là 300, và số bảng câu hỏi hợp lệ thu về là 273, tỷ lệ tương ứng là 91%. Tỷ lệ phản hồi này được coi là đủ để có độ tin cậy thống kê.

3.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

Tất cả các dữ liệu sau được được thu thập thông qua quá trình phỏng vấn trực tiếp từ các đối tượng khảo sát được tác giả xử lý qua excel và phần mềm thống kê SPSS. Kết quả thu về sẽ thực hiện các bước phân tích như sau:

Bước 1: Làm sạch dữ liệu

Để tránh những sai sót trong quá trình nhập liệu, bước đầu tiên tác giả đã thực hiện mã hoá và làm sạch dữ liệu khi đưa vào phân tích. Cụ thể tác giả đã dùng các bảng tần số và lệnh Find để tìm các giá trị lỗi và chỉnh sửa lại đúng.

Bước 2: Kiểm định độ tin cậy qua thang đo Cronbach’s alpha và Corrected Item – Total Correlation

Dữ liệu đã được làm sạch và tiếp tục được phân tích bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha để đánh giá sơ bộ thang đo và mức độ tương quan giữa các mục hỏi. Qua quyết định này, các biến quan sát và các thang đo không phù hợp đã được loại bỏ. Theo Nunnally (1978) và Hair et al. (2013), một thang đo được đánh giá tốt nếu có độ tin cậy Cronbach’s alpha > 0.7. Tuy nhiên, trong nghiên cứu khám phá sơ bộ, ngưỡng Cronbach’s alpha > 0.6 cũng có thể khả thi.

Ngoài ra, có một chỉ số quan trọng cần xét đến là Corrected Item – Total Correlation, giá trị này dùng để xét mối tương quan giữa các biến quan sát trong thang đo. Theo Cristobal và cộng sự (2007) thì một thang đo tốt phải đáp ứng điều kiện là khi các biến quan sát có giá trị Corrected Item – Total Correlation có giá trị từ 0.3 trở lên, vậy nên khi thực hiện kiểm định nếu biến nào có hệ số Corrected Item – Total Correlation < 0.3 cần xem xét loại bỏ biến quan sát đó.

Từ các khung lý thuyết này, trong nghiên cứu tác giả sử dụng các tiêu chuẩn để chấp nhận hay loại bỏ các biến.

Bước 3: Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis)

Sau khi loại bỏ các biến quan sát, thang đo được xem là không phù hợp, tác giả tiến hành bước phân tích nhân tố khám phá EFA nhằm để rút gọn một tập hợp nhiều biến quan sát có sự phụ thuộc lẫn nhau thành một tập hợp có ít biến hơn để có ý nghĩa hơn, đồng thời vẫn đảm bảo chưa đầy đủ thông tin của tập ban đầu (Hoàng Trọng & Mộng Ngọc, 2008). EFA được xem là thích hợp khi có đủ các điều kiện sau: Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn.

Kiểm tra điều kiện để phân tích EFA. Khi các nhà nghiên cứu quyết định sử dụng EFA họ cần phải xem xét mối quan hệ giữa các biến đo lường bởi phân tích EFA dựa trên mối quan hệ giữa các biến. Với ma trận hệ số tương quan (correlation matrix) có thể nhận biết được mức độ quan hệ giữa các biến. Theo Hair và cộng sự (2006), nếu hệ số tương quan < 0.3 thì sử dụng EFA là không phù hợp.

Kiểm định KMO (Kaiser – Meyer – Olkin measure of Sampling Adequacy) là một phương pháp kiểm tra mức độ phù hợp của yếu tố phân tích cho một tập dữ liệu bằng cách so sánh mức độ của hệ số tương quan giữa các biến (bên trong) với độ lớn của hệ số tương quan giữa các biến (bên ngoài) của chúng. KMO là chỉ số đo lường khả năng khớp giữa các biến để chúng tạo thành các nhân tố. Kaiser – Meyer – Olkin (KMO). Nếu 0,5 ≤ KMO ≤ 1, phân tích nhân tố thích hợp với dữ liệu nghiên cứu.

Kiểm định Bartlett (Bartlett’s test): Là một phương pháp kiểm tra giả thuyết rằng tất cả các biến trong một tập dữ liệu nhiều chiều có mối quan hệ với nhau trong tổng thể. Trường hợp kiểm định có ý nghĩa thống kê (Sig <0,05) (ngưỡng ý nghĩa tiêu chuẩn: 0,05) thì các biến trong tập dữ liệu có tương quan với nhau trong tổng thể.

Trị số Eigen value là tiêu chí để xác định số lượng nhân tố trong phân tích nhân tố khám phá EFA. Với tiêu chí này, giữ lại những nhân tố có giá trị >= 1 trong mô hình phân tích. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn.

Tổng phương sai trích (% Tổng Variance Explained) trong phân tích nhân tố biểu thị tổng tỷ lệ phương sai được giải thích bởi các nhân tố đã trích xuất. Nó thể hiện tổng phần trăm phương sai của các biến có thể được giải thích bằng các nhân tố này. Một tiêu chuẩn chấp nhận cho mô hình phân tích nhân tố là tổng phương sai trích phải đạt ít nhất 50%.

Trong phân tích nhân tố, hệ số tải (factor loading) được sử dụng để đo mức độ tương quan giữa từng biến và các nhân tố. Nó chỉ ra độ lớn của sức ảnh hưởng của một biến lên một nhân tố cụ thể. Nếu hệ số tải nhân tố càng cao thì mức độ tương quan giữa biến và nhân tố càng cao và ngược lại. Tuy nhiên, cần phải chú ý hai tiêu chí, một là hệisố tải nhân tố phải ≥ 0,5 (là giá trị được chấp nhận trong thực tiễn, giá trị của hệ số tải càng gần 1 thì càng cho thấy rằng biến đó ảnh hưởng mạnh mẽ và tích cực đến nhân tố tương ứng) và hai là nếu chênh lệch trọng số của biến đó < 0,3 thì cần loại bỏ biến này (vì biến không ảnh hưởng đáng kể đến nhân tố đó). Phân tích hồi qui đa biến và kiểm định giả thuyết.

Sau các bước phân tích đánh giá hệ số độ tin cậy Cronbach’s Alpha và EFA, các biến không đảm bảo giá trị hội tụ tiếp tục bị loại khỏi mô hình cho đến khi các tham số được nhóm theo các nhóm biến. Để phân tích mô hình nghiên cứu của đề tài, phân tích hồi qui đa biến với ước lượng bình phương bé nhất OLS sẽ được sử dụng để ước lượng các trọng số hồi qui.

Điều kiện cần trước khi chạy hồi qui là các biến độc lập phải tương quan với biến phụ thuộc vì thế cần kiểm tra tương quan giữa các biến trước khi phân tích hồi qui tuyến tính. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn.

Trước khi phân tích hồi qui, việc kiểm tra tương quan giữa các biến là rất quan trọng để đảm bảo tính hợp lý của mô hình hồi qui. Một phương pháp thông dụng để kiểm tra mối tương quan giữa các biến là sử dụng các biện pháp đo lường tương quan như hệ số tương quan Pearson. Nếu các biến độc lập có mức độ tương quan cao với nhau hoặc với biến phụ thuộc, có thể dẫn đến hiện tượng nhiễu đa cộng tuyến (multicollinearity) trong mô hình hồi qui, khiến cho các ước lượng của các tham số hồi qui trở nên không chính xác hoặc không đáng tin cậy. Do đó, để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của các ước lượng hồi qui, cần kiểm tra và loại bỏ các biến có tương quan cao trước khi xây dựng mô hình hồi qui.

Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) thì hệ số tương quan Pearson được dùng để đo lường mức độ tương quan tuyến tính giữa hai biến định lượng. Khi hai biến đồng biến tuyến tính (tăng hoặc giảm cùng nhau), giá trị tuyệt đối của hệ số Pearson sẽ là một giá trị dương gần đến 1. Ngược lại, khi hai biến nghịch biến tuyến tính (tăng của một biến đi kèm với giảm của biến kia), giá trị của hệ số Pearson sẽ là một giá trị âm gần đến -1. Các biến độc lập có tương quan chặt chẽ với biến phụ thuộc (sig. < 0,05) thì các biến đó có ý nghĩa thống kê và được đưa vào chạy hồi qui.

  • Phương trình hồi qui đa biến Yi = βo + β1*X1i   + β2*X2i   + ………+ β6*X6i    + ei

Trong đó:

Yit: Sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của KHCN tại quan sát thứ i. βo : Hệ số chặn. βp : Hệ số hồi qui riêng phần biến độc lập thứ p. Xpi : Giá trị của biến độc lập thứ p tại quan sát thứ i. ei : Biến độc lập ngẫu nhiên có phân phối chuẩn.

Dựa vào mô hình nghiên cứu chính thức và kết quả tương quan giữa các biến trước khi chạy hồi qui, sẽ đưa tất cả các biến độc lập và biến phụ thuộc vào để chạy hồi qui bằng phương pháp đưa vào cùng một lúc (Enter).

Kiểm định sự khác biệt theo phương pháp phân tích T-Test, phân tích phương sai ANOVA.

Với bước này, tác giả sẽ tiến hành kiểm định sự khác biệt theo các yếu tố nhân khẩu học như thời gian quan hệ, giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, phương tiện truyền thông. Từ đó giúp tác giả có cái nhìn khác biệt trong sự lựa chọn ngân hàng vay vốn của KHCN tại Ngân hàng Bản Việt- Trung tâm kinh doanh. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến sự lựa chọn Ngân hàng vay vốn

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993