Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Dựa vào trình tự nghiên cứ đã trình bày ở chương 3, khoá luận tiến hành thống kê mô tả và phân tích tương quan giữa các biến để có những nhận định tổng quát về bộ dữ liệu nghiên cứu. Sau đó, khoá luận phân tích hồi quy, thực hiện các kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp nhất, đồng thời tiến hành kiểm tra các khuyết tật của mô hình, khắc phục khuyết tật để đưa đến kết quả nghiên cứu.
4.1. Thống kê mô tả
Thông qua mẫu dữ liệu thu thập từ 82 doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2014 đến 2021. Bảng 4.1 trình bày chi tiết kết quả thống kê mô tả các biến số được nghiên cứu trong bài. Kết quả thống kê mô tả của biến phụ thuộc và biến độc lập bao gồm: giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất và độ lệch chuẩn.
Bảng 4.1: Mô tả các biến trong nghiên cứu
| Biến | Số quan sát | Giá trị trung bình | Độ lệch chuẩn | Giá trị nhỏ nhất | Giá trị lớn nhất |
| TLEV | 656 | 0.6699988 | 0.1776998 | 0.0109895 | 1.17387 |
| SIZE | 656 | 11.89886 | 0.6120055 | 10.32695 | 13.57622 |
| TANG | 656 | 0.1164491 | 0.1368829 | 0 | 0.8768856 |
| LIQ | 656 | 1.560917 | 2.441068 | 0.1327352 | 47.77073 |
| ROA | 656 | 0.0251677 | 0 .0391607 | -0.227888 | 0.2106919 |
| GROW | 656 | 0.1656281 | 0.7974106 | -8.084029 | 7.121948 |
| TAX | 656 | 0.226213 | 0.2476702 | -1.991903 | 1.76973 |
| AGE | 656 | 1.411791 | 0.248643 | .4771213 | 1.78533 |
Nguồn: Trích xuất từ phần mềm Stata 16 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Kết quả tại Bảng 4.1 cho thấy, tỷ lệ đòn bẩy tổng (TLEV) trung bình của 82 doanh nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2021 là 67%, trong đó tỷ lệ đòn bẩy tổng cao nhất vào năm 2021 được công bố là Lilama 5 (L05) (117,4%), thấp nhất là CTCP Đầu tư IDJ Việt Nam (IDJ) (1,1%) năm 2015.
Thông qua bảng 4.1 có thể thấy được sơ lược các biến trong mô hình. Với mẫu nghiên cứu gồm 82 doanh nghiệp xây dựng trên HOSE, HNX theo tiêu chí bảng dữ liệu đầy đủ, gồm 656 quan sát trong giai đoạn 2014 – 2021. Tương tự, cấu trúc vốn trung bình của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2021 là 0,67, tức là tỷ lệ nợ bình quân của các công ty này vào khoảng 67% trên tổng nguồn vốn. Mức nợ thấp nhất của công ty là 0,011 và mức nợ cao nhất là 117 lần tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra, độ lệch chuẩn xấp xỉ 17,80% cho thấy nhóm công ty này có sự chênh lệch lớn, nhiều công ty vay nợ nhiều (Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển nhà đất COTEC, Công ty cổ phần số 12), cũng có nhiều doanh nghiệp sử dụng nợ nhỏ trong hoạt động kinh doanh (Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Trường Giang, Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Bưu điện). Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Quy mô doanh nghiệp (SIZE) có giá trị trung bình là 11,899, trong đó doanh nghiệp có quy mô lớn nhất là Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật T.P Hồ Chí Minh với giá trị logarit tự nhiên của tổng tài sản cuối kỳ là 13,576 và công ty có quy mô nhỏ nhất là Công ty Cổ phần Xây dựng điện VNECO4 với giá trị logarit tự nhiên của tổng tài sản cuối kỳ là 10,327. Độ lệch chuẩn khoảng 61,12% cho thấy có sự khác biệt khá lớn về quy mô giữa các doanh nghiệp.
Cấu trúc tài sản cố định hữu hình (TANG) có mức biến động từ 0% đến 87,70 %, giá trị trung bình là 11,60%. Cụ thể Công ty Cổ phần Đầu tư Cầu đường CII hầu như không có tài sản cố định hữu hình và Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển hạ tầng IDICO có tỷ lệ này đạt cao nhất là 87,70%.
Giá trị trung bình của biến khả năng thanh khoản (LIQ) là 1,561, giá trị cao nhất là 47,771 (Công ty cổ phần Năng lượng và Bất động sản Trường Thành khí có tính thanh khoản cao nhất) và giá trị thấp nhất là 0,13 (Công ty cổ phần Xây lắp III Petrolimex có tính thanh khoản thấp nhất). Độ lệch chuẩn khoảng 2,441% cho thấy nhóm doanh nghiệp này có sự khác biệt rất lớn về khả năng thanh toán ngắn hạn.
Biến khả năng sinh lời (ROA) có giá trị trung bình là 0,025, doanh nghiệp có hệ số sinh lời trên tổng tài sản cao nhất là Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện giá trị ROA là 21,10% và doanh nghiệp có khả năng sinh lời thấp nhất là Công ty
Cổ phần Đầu tư và Phát triển Nhà đất COTEC với giá trị ROA là -22,80%. Điều này cho thấy trong giai đoạn 2014 – 2021 của nhóm doanh nghiệp xây dựng gặp phải nhiều thách thức, đồng thời vẫn có doanh nghiệp kinh doanh không có lãi, thậm chí là kinh doanh lợi nhuận âm cao. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Giá trị trung bình của biến cơ hội tăng trưởng (GROW) là 0,166, giá trị cao nhất là 7,122 (Công ty cổ phần Xây dựng FLC Faros) và giá trị thấp nhất là -8,084 (Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện). Độ lệch chuẩn là 0,797 cho thấy có những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng tổng tài sản cao trong khi đó cũng có một số doanh nghiệp khác suy giảm mạnh về chỉ tiêu này, đặc biệt trong giai đoạn 2014 – 2021 với những biến động mạnh trong thị trường ngành xây dựng.
Giá trị trung bình của biến thuế của doanh nghiệp bình quân là 0,226, trong đó giá trị cao nhất là 1,770 và thấp nhất là -1,992.
Giá trị trung bình logarit số năm hoạt động của doanh nghiệp bình quân là 1,412, trong đó, giá trị thấp nhất là 0,477 và cao nhất là 1,785. Trong giai đoạn từ năm 2014 – 2021, tuổi thọ trung bình duy trì của một doanh nghiệp khoảng 1,5 năm, cho thấy các doanh nghiệp xây dựng hoạt động tương đối ngắn hạn trên thị trường ngành xây dựng.
4.2. Phân tích sự tương quan
Phân tích tương quan được sử dụng để lượng hoá mức độ chặt chữ về mối liên hệ giữa các biến trong mô hình nghiên cứu. Kết quả thống kê mô tả ma trận hệ số tương quan giữa những cặp biến độc lập được thể hiện ở bảng dưới đây
Bảng 4. 2: Ma trận tương quan giữa các biến
| LEV | SIZE | TANG | LIQ | ROA | GROW | TAX | AGE | |
| TLEV | 1.00 | |||||||
| SIZE | 0.2205 | 1.00 | ||||||
| 0.0000 | ||||||||
| TANG | -0.0266 | 0.1331 | 1.00 | |||||
| 0.4957 | 0.0006 | |||||||
| LIQ | -0.4405 | -0.1550 | 0.0041 | 1.00 | ||||
| LEV | SIZE | TANG | LIQ | ROA | GROW | TAX | AGE | |
| 0.0000 | 0.0001 | 0.9161 | ||||||
| ROA | -0.4357 | 0.0823 | 0.0853 | 0.0816 | 1.00 | |||
| 0.0000 | 0.0351 | 0.0290 | 0.0366 | |||||
| GROW | 0.0219 | 0.0589 | -0.0262 | -0.0901 | 0.1450 | 1.00 | ||
| 0.5763 | 0.1318 | 0.5030 | 0.0210 | 0.0002 | ||||
| TAX | 0.0392 | -0.0308 | -0.0906 | 0.0806 | -0.0181 | -0.0283 | 1.00 | |
| 0.3167 | 0.4310 | 0.0203 | 0.0391 | 0.6443 | 0.4687 | |||
| AGE | 0.2692 | 0.1005 | 0.1025 | -0.1809 | -0.0815 | -0.1038 | -0.0022 | 1.00 |
| 0.0000 | 0.0100 | 0.0086 | 0.0000 | 0.0369 | 0.0078 | 0.9552 |
Nguồn: Trích xuất từ phần mềm Stata 16 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Kết quả về mối tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu theo bảng 4.2 trên đây tương đối phù hợp với hầu hết các nghiên cứu trước đây trên thế giới và đáp ứng được kỳ vọng của tác giả cho giai đoạn nghiên cứu này tại Việt Nam. Tác giả kiểm định mối tương quan giữa các cặp biến trong mô hình nghiên cứu bằng ma trận tự tương quan. Tuy nhiên, nếu hệ số tương quan r > 0.8 giữa các biến thì hiện tượng đa cộng tuyến có thể xuất hiện và ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu (Hoàng Ngọc Nhâm, 2008). Tuy nhiên, qua bảng 4.2 có thể thấy các giá trị tuyệt đối của hệ số tương quan giữa các cặp biến đều dưới 0.8 nên không có hiện tượng tự tương quan giữa các biến độc lập của mô hình. (Farrar và Glauber, 1967).
4.3. Phân tích hồi quy
Dựa trên kết quả kiểm định tính tương quan ở phần trên, khóa luận tiến hành thực hiện hồi quy cho mô hình TLEV dựa trên các biến độc lập. Theo trình tự nghiên cứu đã được trình bày ở chương 3, ba mô hình mà khóa luận sẽ thực hiện hồi quy là bình phương nhỏ nhất thông thường Pooled OLS, mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM.
4.3.1. Kiểm định đa cộng tuyến
Bảng 4. 3: Kiểm định nhân tử phóng đại phương sai VIF
| TÊN BIẾN | VIF | 1/VIF | |
| LIQ | 1.08 | 0.922626 | |
| AGE | 1.07 | 0.933929 | |
| SIZE | 1.06 | 0.944618 | |
| ROA | 1.05 | 0.951695 | |
| GROW | 1.05 | 0.953004 | |
| TANG | 1.04 | 0.957293 | |
| TAX | 1.02 | 0.984124 | |
| MEAN VIF | 1.05 |
Nguồn: Trích xuất từ phần mềm Stata 16
Bảng 4.3 cho VIF trung bình bằng 1,23 và hệ số phóng đại VIF của các biến độc lập đều nhỏ hơn 10. Vì vậy, mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.
Ngoài ra, tác giả còn dựa vào hệ số mở rộng phương sai (VIF) để phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến. Đối với các hệ số VIF > 10, có vấn đề về đa cộng tuyến (Field, 2000). Tuy nhiên, kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh tế và tài chính cho thấy hệ số VIF phóng đại > 2 đối với các biến giải thích trong mô hình được coi là đa cộng tuyến giữa các biến. Kết quả tính hệ số VIF từ phần mềm Stata 16 ở bảng 4.3 cho thấy mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến do các giá trị VIF đều nhỏ hơn 2. Do đó, tất cả các biến có thể được đưa vào mô hình hồi quy.
4.3.2. Kiểm định phương sai của sai số thay đổi Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Kiểm định Modified Wald được thực hiện để kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình hồi quy FEM (Christopher, 2001). Kiểm định LM – Breusch and Pagan Lagrangian Multiplier sẽ được sử dụng để kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình hồi quy FEM, giả thuyết bao gồm:
- H0: Mô hình hồi quy FEM không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
- H1: Mô hình hồi quy FEM có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
Bảng 4. 4: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi với FEM của TLEV
| Giá trị thống kê | P-value | Kết luận | |
| TLEV | 3.2e+05 | 0.0000 | Mô hình FEM có hiện tượng phương sai sai số thay đổi |
Kết quả kiểm định cho thấy p-value = 0.000 nhỏ hơn mức ý nghĩa 5%, do đó giả thuyết H0 không bị bác bỏ, chấp nhận H1.
Như vậy, mô hình FEM có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
4.3.3. Tổng hợp kết quả từ 3 mô hình Pooled OLS, FEM, REM với TLEV
Kết quả ước lượng mô hình hồi quy theo Pooled OLS, FEM, REM được trình bày như sau:
Bảng 4. 5: Hồi quy mô hình Pooled OLS, FEM, REM
| Biến | Pooled OLS | FEM | REM | |||
| Hệ số | Sai số chuẩn | Hệ số | Sai số chuẩn | Hệ số | Sai số chuẩn | |
| SIZE | 0.0540*** | -6.06 | 0.268*** | -13.06 | 0.121*** | -8.57 |
| TANG | -0.031 | (-0.78) | -0.101** | (-2.24) | -0.0986** | (-2.23) |
| LIQ | – 0.0254*** | (-11.22) | – 0.0142*** | (-9.50) | -0.0164*** | (-10.14) |
| ROA | -1.881*** | (-13.55) | -0.787*** | (-7.20) | -0.952*** | (-8.32) |
| GROW | 0.0129* | -1.89 | 0.00968** | -2.27 | 0.0128*** | -2.77 |
| TAX | 0.0469** | -2.17 | 0.000836 | -0.06 | 0.0152 | -0.99 |
| AGE | 0.116*** | -5.25 | -0.386*** | (-5.57) | 0.0445 | -1.13 |
| _cons | -0.0588 | (-0.54) | -1.919*** | (-9.27) | -0.773*** | (-4.76) |
Ghi chú: Ký hiệu *, **, *** có ý nghĩa thống kê lần lượt là 10%, 5%, 1%.
Nguồn: Trích xuất từ phần mềm Stata 16
4.3.4. Kiểm định F-test
Các giả thuyết được đưa ra như sau:
- Ho: Mơ hình Pooled OLS là phù họp;
- HÌ: Mơ hình FEM là phù hợp
Bảng 4. 6: Kiểm định F-test giữa Pooled OLS vs FEM
| Pooled OLS vs FEM | Giá trị thống kê | P-value | Kết luận lựa chọn |
| TLEV | 16.85 | 0.0000 | FEM |
Nguồn: Trích xuất từ phần mềm Stata 16 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Dựa vào bảng 4.6, ta thấy Prob > F = 0.000 < mức ý nghĩa thống kê là 10%, do đó, với mức ý nghĩa 10% ta bác bò Ho. Như vậy, với dữ liệu thu thập được, cho thấy mơ hình FEM là phù hợp, Pooled OLS là không phù hợp vì có sự tồn tại các ảnh hưởng cố định ở mỗi doanh nghiệp theo thời gian.
4.3.5. Kiểm định Hausman
Như đã trình bày ở chương 3, khóa luận sẽ thực hiện các kiểm định để lựa chọn giữa các mô hình Pooled OLS, FEM và REM. Tuy nhiên, việc ước lượng mô hình nghiên cứu theo phương pháp Pooled OLS không phản ánh đúng được tác động riêng biệt, mang tính đặc thù mỗi doanh nghiệp khác nhau. Do đó, tác giả sẽ thực hiện kiểm định Hausman để chọn ra mô hình FEM hoặc REM sẽ phù hợp hơn với dữ liệu nghiên cứu hơn
Giả thuyết của kiểm định như sau:
- H0: Không có hiện tượng tự tương quan giữa các biến giải thích với các thành phần ngẫu nhiên (mô hình REM phù hợp)
- H1: Có tương quan giữa các biến giải thích với thành phần ngẫu nhiên (mô hình FEM phù hợp)
Bảng 4. 7: Lựa chọn mô hình phù hợp
| Kiểm định | Giá trị thống kê | P-value | Lựa chọn giữa |
| Hausman | Chi2(8) = 78.43 | Prob>chi2 = 0.0000 | FEM và REM ð Chọn FEM |
Ghi chú: ***,**,* tương đương với mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%
Nguồn: Trích xuất từ phần mềm Stata 16
Kết quả kiểm định bảng 4.7 cho thấy, giá trị p-value=0,0001 < =0,05. Do đó, bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1. Như vậy, mô hình FEM là mô hình phù hợp với bài nghiên cứu.
4.3.6. Kiểm định tự tương quan
Kiểm định Wooldridge để kiểm định sự tự tương quan của dữ liệu bảng với giả thuyết: H0: Không có tự tương quan; H1: Có tự tương quan.
Bảng 4. 8: Kết quả kiểm định tự tương quan
| Giá trị thống kê | P-value | Kết luận | |
| TLEV | 21.626 | 0.0000 | Mô hình có sự tương quan |
Nguồn: Trích xuất từ phần mềm Stata 16
Kết quả kiểm định bảng 4.8 cho thấy, giá trị p-value=0,0000 < =0,05. Do đó, bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1. Như vậy cho thấy kiểm định tự tương quan của mô hình có biến phụ thuộc TLEV có hiện tượng tự tương quan giữa các biến (P – value < 0,05).
4.3.7. Khắc phục khuyết tật của FEM bằng FGLS với biến TLEV
Từ những kiểm định trên, mô hình có một khuyết tật là mô hình có hiện tượng tự tương quan. Theo Gujarati (2004) cách khắc phục khuyết tật trên đối với mô hình có mẫu lớn (từ 30 mẫu trở lên) là chọn mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương tổi thiểu tổng quát khả thi – Feasible Generalized Least Squares (FGLS). Phương pháp bình phương tổi thiểu tổng quát khả thi (FGLS) thực chất là phương pháp bình phương bé nhất thông thường (OLS) áp dụng cho các biến đã được biến đổi từ một mô hình vi phạm các giả thiết cổ điển thành một mô hình mới thỏa các giả thiết cổ điển. Do đó các tham số ước lượng được từ mô hình mới sẽ đáng tin cậy hơn. Kết quả hồi quy của mô hình FEM được thể hiện trong Bảng 4.6.
Bảng 4. 9: Kết quả hồi quy mô hình FGLS để khắc phục khuyết tật
| TLEV | Hệ số hồi quy | Giá trị thống kê | P-value |
| SIZE | .0891675 | 11.08 | 0.000 |
| TANG | -.106043 | -5.30 | 0.000 |
| LIQ | -.0175435 | -9.65 | 0.000 |
| ROA | -1.046731 | -12.69 | 0.000 |
| GROW | .0077126 | 3.13 | 0.002 |
| TAX | .01305 | 2.51 | 0.012 |
| AGE | .1156004 | 5.54 | 0.000 |
| _cons | -.4856959 | -4.88 | 0.000 |
Ghi chú: ** thể hiện mức ý nghĩa 5%, *** thể hiện mức ý nghĩa 1%
Nguồn: Trích xuất từ phần mềm Stata Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Do đó, mô hình hồi quy của khoá luận được trình bày dưới dạng như sau:
TLEV = -0.4857 + 0.0892 SIZE – 0.1060 TANG – 0.0175 LIQ – 1.0467 ROA + 0.0077 GROW +0.0131 TAX + 0.1156 AGE (4.1)
Có thể thấy trong bảng hồi quy biến SIZE; TANG; LIQ; ROA và AGE đạt ý nghĩa thống kê tại mức 1% (vì p-value = 0.0000 < 5%) và biến GROW; TAX đạt ý nghĩa thống kê tại mức 5% (Vì p-value = 0.002 và 0.012 < 5% ).
Biến SIZE, GROW, TAX và AGE có tương quan dương với biến phụ thuộc TLEV (Vì hệ số hồi quy của 2 biến này > 0).
Biến TANG, LIQ và ROA có tương quan âm với biến phụ thuộc TLEV (Vì hệ số hồi quy của 2 biến này < 0).
Bảng 4. 10: Tổng hợp kết quả nghiên cứu
| Biến phụ thuộc | Biến độc lập | Giả thuyết nghiên cứu | Kết quả nghiên cứu | Ý nghĩa |
| TLEV | SIZE | Cùng chiều | + | Có ý nghĩa thống kê |
| TANG | Ngược chiều | – | Có ý nghĩa thống kê | |
| LIQ | Ngược chiều | – | Có ý nghĩa thống kê | |
| ROA | Ngược chiều | – | Có ý nghĩa thống kê | |
| GROW | Cùng chiều | + | Có ý nghĩa thống kê | |
| TAX | Cùng chiều | + | Có ý nghĩa thống kê | |
| AGE | Cùng chiều | + | Có ý nghĩa thống kê |
Nguồn: tác giả tổng hợp
4.4. Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Theo kết quả khảo sát thể hiện ở Bảng 4.10, các nhân tố quy mô công ty (SIZE), cơ hội tăng trưởng (GROW), thuế suất thuế doanh nghiệp (TAX) và tuổi công ty (AGE) có tác động tích cực đến hệ số nợ tổng thể (TLEV) của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam. Tài sản cố định hữu hình (TANG), khả năng sinh lời của doanh nghiệp (ROA) và yếu tố thanh khoản (LIQ) có tác động ngược chiều nhau đến hệ số nợ tổng thể (TLEV).
4.4.1. Quy mô doanh nghiệp
Theo mô hình khảo sát đối với biến phụ thuộc TLEV, kết quả cho thấy biến SIZE có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 99% (P-value < 0,01) và có tác động tích cực đến hệ số tổng nợ (P-value < 0,01). Khi quy mô công ty (SIZE) tăng lên 1 thì TLEV (hệ số nợ tổng thể) của công ty tăng lên 0.0892 lần trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Tác động cùng chiều của quy mô doanh nghiệp lên tỷ lệ nợ, nhất quán với lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn và phù hợp với giả thuyết H1 đã đặt ra. Huang và Song (2001), Bhaduri (2002), Wanrapee Banchuenvijit (2009), Trần Đình Nguyên Khôi và Ramachandran (2006), Harc (2015), Quách Thị Hải Yến và Đặng Thị Quỳnh Anh (2014), Lê Thị Minh Nguyên (2016), Nguyễn Thị Thuý Hạnh (2017), Lê Thị Nhung (2020) đã đưa ra kết quả nghiên cứu tương tự. Khả năng phá sản giảm khi quy mô công ty và tiềm lực tài chính tăng. Các công ty lớn hơn cũng có uy tín hơn trên thị trường nợ và sự tin tưởng của các chủ nợ, điều này giúp họ dễ dàng tiếp cận tín dụng và giảm chi phí giao dịch khi phát hành nợ dài hạn. Ngoài ra, nhà đầu tư bên ngoài dễ tiếp cận thông tin về các công ty lớn hơn.
4.4.2. Cấu trúc tài sản cố định hữu hình
Trong mô hình nghiên cứu biến phụ thuộc TLEV, kết quả mô hình cho thấy biến TANG có tác động ngược chiều với hệ số nợ tổng thể (TLEV) của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam. Khi cấu trúc tài sản cố định hữu hình (TANG) tăng lên 1 thì TLEV (hệ số nợ tổng thể) của công ty giảm xuống 0.106 lần trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Điều này mặc dù không đúng với kỳ vọng ban đầu của tác giả nhưng để lý giải cho điều này ta có thể thấy ngành xây dựng ở Việt Nam là loại hình kinh doanh theo dự án, do đó không cần nhiều tài sản cố định hữu hình để làm tài sản thế chấp cho doanh nghiệp. Ta có thể thấy trong cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xây dựng chủ yếu là vốn vay ngắn hạn, vì loại hình kinh doanh theo dự án chỉ nhằm đi vay và kêu gọi vốn đầu tư vốn ngắn hạn nên không cần nhiều tài sản cố định. Do đó cấu trúc tài sản cố định hữu hình có tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam. Trong nghiên cứu này, biến TANG có tác động tiêu cực đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp khi độ tin cậy lên tới 99%. Cụ thể, nếu tỷ lệ tài sản cố định của công ty tăng 1%, tỷ lệ nợ của công ty giảm 0,106%, các yếu tố khác không đổi.
4.4.3. Khả năng thanh khoản Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy biến khả năng thanh khoản (LIQ) có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy cao 99% (P-value < 0.01). Khả năng thanh khoản (đo lường bằng khả năng thanh toán ngắn hạn) có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ tổng thể của doanh nghiệp. Khi khả năng thanh khoản (LIQ) tăng lên 1 thì TLEV (hệ số nợ tổng thể) của công ty giảm xuống 0.0175 lần trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với giả thuyết của tác giả và phù hợp với quan điểm nghiên cứu của lý thuyết trật tự phân hạng về cấu trúc vốn. Lý thuyết trật tự phân hạng về cấu trúc vốn cho rằng các công ty có tính thanh khoản cao có nhiều khả năng chuyển đổi tài sản ngắn hạn thành tiền mặt để tài trợ cho các nhu cầu vốn mới. Kết quả ủng hộ giả thuyết rằng các công ty có nhiều tài sản vật chất sử dụng những tài sản này để tài trợ cho hoạt động của họ nhằm đảm bảo tính thanh khoản cao.
Một số nghiên cứu của Lê Thị Minh Nguyên (2016), Nguyễn Thị Thuý Hạnh (2018) cũng có kết quả về mối tương quan ngược chiều giữa khả năng thanh khoản và cấu trúc vốn doanh nghiệp
4.4.4. Khả năng sinh lời
Về nhân tố hệ số khả năng sinh lời (ROA): Tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đối với cơ cấu nguồn vốn. Dựa trên kết quả của mô hình FGLS được trình bày trong Bảng 4.9, có thể thấy rằng ROA, biến đại diện cho khả năng sinh lời, có mối quan hệ ngược chiều với cấu trúc vốn của công ty với mức tin cậy 99%. Khi khả năng sinh lời (ROA) tăng lên 1 thì TLEV (hệ số nợ tổng thể) của công ty giảm xuống 1.0467 lần trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến cấu trúc vốn của các công ty. Mối quan hệ tiêu cực giữa khả năng sinh lời và tỷ lệ nợ có thể được giải thích bằng lý thuyết trật tự phân hạng. Trong hoạt động hiệu quả của các công ty, vốn nội bộ từ lợi nhuận tích lũy được ưu tiên hơn so với vốn vay để tài trợ cho hoạt động đầu tư và sản xuất. Nói cách khác, thứ tự vốn ưu tiên của các công ty là lợi nhuận giữ lại, nợ và cuối cùng là phát hành cổ phiếu mới. Trong những năm 2008-2021, khi môi trường hoạt động của hệ thống ngân hàng có nhiều biến động, lãi suất cho vay tăng cao trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp tích cực huy động vốn cho hoạt động đầu tư. Ngoài ra, việc phát hành trái phiếu từ thị trường tài chính để huy động vốn còn gặp nhiều khó khăn, do thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa hấp dẫn nhà đầu tư. Vì vậy, khi công ty hoạt động hiệu quả để chủ động trong hoạt động đầu tư, sản xuất, công ty ưu tiên lợi nhuận tích lũy trước khi sử dụng vốn vay và phát hành cổ phiếu.
Điều này cũng tương tự với kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Quỳnh Anh, Quách Thị Hải Yến (2014) và Phan Thanh Hiệp (2016). Thực tế cho thấy, các công ty xây dựng Việt Nam từ 2014 đến 2021 đều có lãi nhỏ nên phải sử dụng nhiều nợ vay, trong đó chủ yếu là nợ ngắn hạn. Nợ của các công ty xây dựng liên tục tăng trưởng trong 6 năm liên tiếp, nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành xây dựng thấp hơn là dấu hiệu cho thấy ngành xây dựng đang thoát khỏi quá trình tăng trưởng và bước sang một giai đoạn mới. Một nguyên nhân khác là giá nguyên liệu đầu vào cao và cạnh tranh trong ngành gia tăng. Kết quả tương tự được chỉ ra tại các nghiên cứu Huang và Song (2001), Chen (2003), Wanrapee Banchuenvijit (2009), Mutalib (2011), Trần Đình Khôi Nguyên và Ramachandran (2006), Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Thị Hải Yến (2014), Lê Thị Minh Nguyên (2016), Nguyễn Thị Thuý Hạnh (2017), Lê Thị Nhung (2020), Nguyễn Thị Như Quỳnh, Lê Đình Luân và Lê Hoàng Vinh (2020).
4.4.5. Cơ hội tăng trưởng Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Dựa vào kết quả nghiên cứu cho thấy, biến cơ hội tăng trưởng (GROW) có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy cao 95% (P-value < 0.05), tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp xây dựng. Khi cơ hội tăng trưởng tăng lên 1 thì TLEV (hệ số nợ tổng thể) của công ty tăng lên 0.0077 lần trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Kết quả này cho thấy cơ hội tăng trưởng cao làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo lý thuyết trật tự phân hạng, các công ty có cơ hội tăng trưởng cao thường có xu hướng sử dụng nợ ít và do đó, có thể ít gặp khó khăn tài chính.
Điều này có thể lý giải rằng những doanh nghiệp xây dựng có cơ hội tăng trưởng lại có xu hưởng dùng ít nợ vay để hoạt động, hay tăng trưởng càng kém khiến công ty đối mặt với những khó khăn về tài chính hơn, do vậy tỷ lệ nợ thường ít sử dụng nợ hơn. Có thể nói, khi đang có đà tăng trưởng tốt, doanh nghiệp đã tạo được bước đà phát triển tốt, thì có khả năng tự chủ kinh tế cho bản thân mà không cần đến hỗ trợ bên ngoài, hạn chế được xung đột giữa chủ sở hữu và chủ nợ. Cũng hợp lý, khi các doanh nghiệp xây dựng chủ yếu là sử dụng nợ vay ngắn hạn, nên áp lực rất lớn về trả nợ vay, nên khi có tốc độ tăng trưởng tốt doanh nghiệp xây dựng sẽ hạn chế sử dụng nợ vay, giảm thiểu chi phí tài chính cho doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu đồng quan điểm với ý kiến của Huang và Song (2001). Điều này đi ngược với lý thuyết cân bằng nhưng có thể được lý giải bởi lẽ các công ty có tốc độ tăng trưởng cao bởi vì tiềm năng trưởng trong tương lai nên thường có xu hướng đi vay nhiều hơn để mở rộng hoạt động kinh doanh của công ty.
4.4.6. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Đồng thời, kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị thuế thu nhập doanh nghiệp, đo lường bằng lợi nhuận kinh doanh thông qua thuế doanh nghiệp, có mối quan hệ cùng chiều với cấu trúc vốn, có ý nghĩa thuế suất thuế TNDN tăng lên 1 thì TLEV (hệ số nợ tổng thể) của công ty tăng lên 0.013 lần trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Điều này có nghĩa là thuế suất doanh nghiệp càng cao thì đòn bẩy của công ty càng cao, công ty hoạt động có hiệu quả và ngược lại. Do vậy thuế doanh nghiệp cao, các công ty vay càng nhiều. Nợ vay còn được gọi là đòn bẩy tài chính, bởi nếu vốn bên ngoài được sử dụng hiệu quả sẽ giúp công ty thực phẩm sử dụng vốn cổ phần hiệu quả hơn. Việc linh hoạt đa dạng hóa các hình thức vay nợ giúp doanh nghiệp tạo được sự cân đối chấp nhận được giữa chi phí và nguồn vốn và tận dụng lợi thế của lá chắn thuế, tuyên bố này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Chen (2003). Lý do là trong thực tế, thuế doanh nghiệp danh nghĩa là 25%, sau đó giảm xuống 22% và hiện chỉ còn 20%.
4.4.7. Tuổi của doanh nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy biến tuổi (AGE) của doanh nghiệp có mối tương quan cùng chiều chiều với cơ cấu trúc vốn có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy cao 99% (P-value <0.01%). Khi tuổi của doanh nghiệp (AGE) tăng lên 1 thì TLEV (hệ số nợ tổng thể) của công ty tăng lên 0.1156 lần trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Điều này phù hợp với kỳ vọng ban đầu của tác giả. Từ đó cho thấy tuổi của doanh nghiệp càng cao, càng có thâm niên lâu năm thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao. Trên cơ sở đó, các nhà quản trị tài chính phải lập kế hoạch phát triển ngành xây dựng cụ thể, xem xét từng giai đoạn của ngành xây dựng, đánh giá tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp qua từng tháng, từng năm, từng thời kỳ để từ đó có cơ chế huy động vốn phù hợp để tài trợ cho hoạt động. Kết quả tương tự được trình bày trong nghiên cứu của Lê Đạt Chí (2013).
Kết luận chương 4 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Trong chương 4, tác giả đã trình bày và phân tích kết quả nghiên cứu, bao gồm thống kê mô tả, phân tích ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình và hồi quy theo phương pháp Pooled OLS, FEM, REM. Sau khi lựa chọn được mô hình cho bài nghiên cứu này, tác giả tiến hành kiểm định một số khuyết tật của mô hình và khắc phục bằng cách sử dụng mô hình FGLS. Như vậy, dựa trên kết quả hồi quy, tác giả đã kiểm định các giả thuyết đã trình bày trong chương 3 và đưa ra kết luận về mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc. Nghiên cứu này đã đạt được một số kết quả có ý nghĩa thống kê giúp các nhà quản lý doanh nghiệp có thêm bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam, từ đó đưa ra các chủ trương, giải pháp phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Trong chương 5 cũng là chương cuối của nghiên cứu này, tác giả sẽ đưa ra những kiến nghị phù hợp với nội dung nghiên cứu cũng như môi trường nghiên cứu và kết luận lại toàn bộ quá trình nghiên cứu.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở chương 4 đã cung cấp thông tin hữu ích cho các nội dung của chương 5, là cơ sở đưa ra những kết luận về các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Từ đó tác giả đưa ra một số kiến nghị cho những doanh nghiệp (lấy mẫu là những doanh nghiệp Xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE và HNX) trong việc giải quyết vấn đề trên.
5.1. Tóm tắt các kết quả chính
Luận văn tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam, cụ thể thông qua hệ số nợ tổng thể (TLEV). Dựa trên cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn và kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm trước đó, tác giả đã lựa chọn các nhân tố (biến số), mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu để tìm ra nhân tố nào thực sự ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty xây dựng, trong tình hình thị trường tài chính Việt Nam hiện nay. Các yếu tố được xem xét trong nghiên cứu là: quy mô doanh nghiệp (SIZE), cấu trúc tài sản cố định hữu hình (TANG), khả năng sinh lời (ROA), tính thanh khoản (LIQ), cơ hội tăng trưởng (GROW), thuế suất thuế TNDN (TAX) và tuổi doanh nghiệp (AGE).
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính của 82 công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam từ năm 2014 đến năm 2021 bằng phương pháp hồi quy ước lượng dữ liệu bảng (Pooled OLS, FEM, REM) và kiểm định đa cộng tuyến, phương sai và tự tương quan của biến, hiệu chỉnh của mô hình nghiên cứu với phương pháp ước lượng hồi quy bình phương tối thiểu khả thi FGLS. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Theo kết quả thống kê, tỷ trọng nợ trong cơ cấu nguồn vốn tương đối lớn trong cơ cấu nguồn vốn của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán, trong đó chủ yếu là nợ ngắn hạn. Một số công ty có xu hướng sử dụng vốn ngắn hạn (dòng tín dụng mới) để tài trợ cho đầu tư mở rộng dài hạn, dẫn đến mất cân đối tài chính và rủi ro thanh khoản. Từ kết quả của mô hình hồi quy, nghiên cứu cho kết quả tương tự với các nghiên cứu khác đã thực hiện trên thế giới. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy lý thuyết trật tự phân hạng phù hợp để giải thích quyết định tài trợ vốn của các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam hơn là lý thuyết doanh nghiệp, nơi sử dụng vốn nội bộ thay vì vốn bên ngoài là nhiều nhất, và quan trọng là các doanh nghiệp cũng thích nó, để sử dụng nợ thay vì phát hành cổ phiếu. Trong đó, có 06 yếu tố ảnh hưởng đến tổng nợ vay của công ty xây dựng: quy mô, cấu trúc tài sản cố định hữu hình, khả năng sinh lời, tính thanh khoản, cơ hội tăng trưởng, thuế và tuổi của công ty. Trong khi các yếu tố về quy mô, tính tăng trưởng, thuế suất thuế doanh nghiệp, tuổi của doanh nghiệp ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ nợ của các công ty thì cấu trúc tài sản cố định hữu hình, khả năng sinh lời, tính thanh khoản của công ty lại có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nợ. Tóm lại, có thể nói rằng kết quả nghiên cứu cho thấy đề tài đã có những đóng góp nhất định cả về mặt lý luận và thực tiễn. Vì vậy, nó đã được nghiên cứu và phân tích một cách có hệ thống về các yếu tố cộng sự và những người có ảnh hưởng, các xu hướng ảnh hưởng đến nhân viên của công ty thông qua các lý thuyết về cộng sự và tính di truyền, tổng hợp kết quả của các yếu tố này và chọn lọc các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và trong nước. Đồng thời, đề tài phân tích ảnh hưởng của các nhân tố được lựa chọn đến hoàn cảnh của các công ty xây dựng và bối cảnh thị trường kinh tế tài chính Việt Nam. Từ kết quả hồi quy mô hình, kiểm định giả thuyết nghiên cứu, đề tài đưa ra một số nhận định trong công ty xây dựng. Từ đó, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể tham khảo kết quả nghiên cứu để có cái nhìn đúng đắn và toàn diện hơn về CTV của nhóm ngành xây dựng, xem xét điều chỉnh một số nhân tố có tác động để thay đổi CTV thông qua tỷ lệ sử dụng nợ cho hợp lý, an toàn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động.
Bên cạnh đó, thời gian nghiên cứu là giai đoạn 2014-2021 với sự thay đổi của bối cảnh kinh tế và thực trạng hoạt động của ngành xây dựng so với các nghiên cứu trước đây. Do đó đề tài có sự bổ sung, cập nhật sát thực để đóng góp vào việc ra quyết định về cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam.
5.2. Hàm ý quản trị Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Mục tiêu cuối cùng của quản trị doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị công ty từ đó tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu, điều này được thực hiện thông qua việc tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC), gồm chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu và chi phí sử dụng nợ. Do vậy, các nhà quản trị có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh mức độ sử dụng nợ sao cho hợp lý nhất trên cơ sở xem xét, cân nhắc các ưu và nhược điểm của nợ và VCSH.
Nghiên cứu đã xác định được các nhân tố thực sự ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng, từ đó nhà quản trị có thể điều chỉnh việc sử dụng vốn vay thông qua việc tác động vào nhân tố nêu tại mô hình nghiên cứu. Vì vậy, tác giả đưa ra một số kiến nghị sau:
5.2.1. Đối với doanh nghiệp xây dựng
- Điều chỉnh quy mô doanh nghiệp một cách hợp lý
Kết quả của nghiên cứu thực nghiệm cho thấy quy mô doanh nghiệp là một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến cấu trúc vốn tự có của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2021. Tác động của yếu tố này biến động thường xuyên trong cả ngành và nền kinh tế Việt Nam, nhưng quy mô doanh nghiệp tiếp tục có tác động lâu dài và không ổn định đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng. Quy mô của các doanh nghiệp tạo ra lợi thế trong việc vay vốn. Tuy nhiên, do thị trường vốn Việt Nam chưa thực sự phát triển nên việc mở rộng công ty cũng dẫn đến sự phụ thuộc vào nguồn vốn vay. Quy mô doanh nghiệp có thể mang lại những tác động có lợi nhưng cũng có thể trở thành gánh nặng, làm tăng nguy cơ phá sản nếu doanh nghiệp không có những giải pháp thích ứng, hợp lý. Các doanh nghiệp phải xây dựng dựa trên cơ sở những điều kiện đặc biệt của hoạt động kinh doanh cũng như sự biến động và tác động của các nhân tố kinh tế mà có chiến lược phát triển của mình, cần mở rộng hoạt động nếu có nhiều dự án đầu tư và vay vốn để phát triển. Tuy nhiên, mức độ mở rộng phải dựa trên tác động thực tế của nó đối với cơ cấu vốn tài trợ của doanh nghiệp. Nếu quy mô quá lớn, tỷ lệ nợ của doanh nghiệp tăng lên và khả năng doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản là rất cao. Việc mở rộng quy mô doanh nghiệp có thể được thực hiện đồng bộ hoặc từng phần tùy theo đặc điểm của từng doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp có cấu trúc vốn tài trợ cao và gần đến ngưỡng nên mở rộng một phần hoạt động kinh doanh và luôn cân nhắc việc hạn chế việc vay nợ. Ngược lại, các doanh nghiệp có tỷ lệ nợ thấp có thể mở rộng quy mô đồng bộ để tiếp cận ngày càng nhiều nguồn tín dụng. Các nhà quản lý doanh nghiệp phải chú ý đến cơ cấu vốn tự có của doanh nghiệp mình. Các nhà quản lý doanh nghiệp cần tìm cách thay đổi quy mô doanh nghiệp để có thể thay đổi cơ cấu vốn chủ sở hữu, giảm nguy cơ phá sản, khi tỷ lệ nợ của tổ chức tăng cao và vượt ngưỡng báo động trong bối cảnh nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái hoặc khi doanh nghiệp của họ đang gặp vấn đề.
- Nâng cao năng lực quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính là bộ phận quan trọng trong hệ thống quản trị của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, tận dụng tối đa các nguồn lực để phát triển. Năm 2014 – 2021, doanh nghiệp ngành xây dựng đang trong giai đoạn cuối thời kỳ tăng trưởng và bước sang giai đoạn tái cấu trúc, vì vậy việc quản trị tài chính và tối đa hoá giá trị doanh nghiệp công ty là cấp thiết và hết sức quan trọng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Do đó các nhà lãnh đạo phải thực sự nhận thức rõ vai trò của quản trị tài chính, người đứng đầu của các doanh nghiệp phải có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực quản lý tài chính. Nhiều doanh nghiệp vẫn còn sự gộp chung chức năng tài chính và kế toán, chưa xây dựng được hệ thống, đội ngũ chuyên về công tác tài chính để xây dựng kế hoạch tài chính, xem xét các phương án huy động và sử dụng vốn tài trợ cho các dự án một cách phù hợp, hiệu quả, còn phù thuộc nhiều vào cơ chế hỗ trợ của Chính phủ. Đồng thời công tác giám sát, kiểm tra nội bộ tại các đơn vị còn hạn chế, lỏng lẻo; thiếu công cụ nhận diện, phòng ngừa và kiểm soát rủi ro tài chính.
Bên cạnh đó, cần tách biệt hoạt động tài chính và kế toán, nâng cao chất lượng nhân sự tham gia vào quá trình quản lý tài chính của doanh nghiệp và bổ sung nguồn lực để tạo ra dòng tiền kinh doanh hàng tuần/hàng tháng/hàng quý đánh giá hiệu quả hoạt động của dự án đầu tư, xác định thời gian hoàn vốn, xem xét đối tác nào hợp lý, lập báo cáo phân tích tài chính,… giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định về phương thức đầu tư và tài trợ trong tương lai.
Các nhà quản lý doanh nghiệp đang xem xét việc sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tài chính. Một trong những công cụ mạnh mẽ nhất ở đây là các công cụ phái sinh. Các sản phẩm này là phương tiện hiệu quả để bảo vệ các công ty trước những tổn thất tài chính do rủi ro lãi suất và rủi ro hoạt động gây ra.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cũng chỉ ra tác động của ROA đến cấu trúc vốn tự có của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2021. Tỷ suất sinh lời (ROA) có tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn tự có của doanh nghiệp. Lợi nhuận được cải thiện làm giảm mức nợ của các công ty. Khả năng sinh lời tạo ra sự linh hoạt về tài chính cho các doanh nghiệp, giảm bớt các ràng buộc tài chính nội bộ và giúp các doanh nghiệp giảm bớt sự phụ thuộc vào vốn vay. Khi các doanh nghiệp có nhiều vốn nội bộ và lợi nhuận của họ ngày càng tăng, doanh nghiệp cần tự chủ về tài chính. Để đạt được các mục tiêu nói trên, doanh nghiệp phải cải thiện hoạt động của mình. Nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp sau cho các doanh nghiệp trong vấn đề này:
Thứ nhất, các doanh nghiệp ngành xây dựng cần có chiến lược phát triển cho từng giai đoạn tăng trưởng, trong đó có kế hoạch tài chính chi tiết và giám sát chặt chẽ tiến độ về đặc điểm của doanh nghiệp trong thời gian đó. Các báo cáo tài chính dự kiến và các chỉ số tài chính dự kiến nên được đưa vào kế hoạch tài chính. Đặc biệt, doanh nghiệp phải sử dụng các tỷ lệ tài chính phù hợp để thiết lập cấu trúc tài chính cụ thể, giới hạn tỷ lệ nợ và xác định nhu cầu vốn. Doanh nghiệp có thể xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và rủi ro trong khi chuẩn bị tài chính cho tương lai.
Thứ hai, các nhà quản lý doanh nghiệp cần tăng cường các công cụ quản lý, hạn chế thất thoát, thường xuyên đánh giá chi phí sản xuất. Doanh nghiệp phải đánh giá được ưu điểm của công nghệ mới trong sản xuất trước khi đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả lao động, tăng lợi nhuận. Ngoài ra, người giám sát phải có một quy định về thưởng, phạt công bằng đối với nhân viên.
Thứ ba, doanh nghiệp cần lập kế hoạch huy động vốn phù hợp với yêu cầu đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh lãng phí vốn hoặc không đảm bảo an toàn vốn. Trong trường hợp thiếu vốn, cơ cấu vốn tự có của doanh nghiệp nên được lấy làm điểm xuất phát trước khi quyết định huy động các nguồn vốn phù hợp, tránh mất cân đối trong cơ cấu vốn.
Thứ tư, căn cứ vào cơ cấu vốn và các chỉ tiêu tài chính, doanh nghiệp nên lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp. Các doanh nghiệp nên tập trung phát triển thế mạnh của mình trong các ngành cụ thể hơn là đầu tư quá mức vào nhiều ngành mà họ thiếu lợi thế cạnh tranh.
Thứ năm, để đẩy mạnh khả năng hấp thụ vốn, các doanh nghiệp xây dựng phải thực hiện các bước mở cửa thị trường sản xuất cho sản phẩm của mình. Các doanh nghiệp nhỏ phải tìm đối tác để hợp tác lâu dài trong các dự án, công trình quan trọng nhằm duy trì tính cạnh tranh và hiệu quả của sản lượng và hoạt động kinh doanh của mình.
Đây là những giải pháp sáng tạo và lâu dài của công ty.
- Gia tăng vốn tự có và khai thác thêm các kênh huy động vốn
Số liệu khảo sát cũng cho thấy nhiều doanh nghiệp xây dựng có vốn thấp, đồng nghĩa với khả năng tài chính còn rất hạn chế. Giải pháp tăng vốn tự có giúp doanh nghiệp độc lập hơn về tài chính, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn khi ngân hàng hạ hạn mức tín dụng, tăng lãi suất. Doanh nghiệp ngành xây dựng có thể tham khảo giải pháp sau đây để huy động vốn chủ sở hữu:
Thứ nhất, tăng lợi nhuận giữ lại. Hợp đồng với cổ đông và duy trì lợi nhuận ngày càng tăng giúp bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu tốt nhất để đảm bảo tăng trưởng kinh doanh bền vững. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng nên chú trọng công tác thu nợ dự án. Các doanh nghiệp phải có hành động mạnh mẽ do các khoản nợ dai dẳng và nặng nề. Đối với phần công việc do các doanh nghiệp, gói thầu thực hiện thì Giám đốc đơn vị, Đội trưởng phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ, gói thầu trong công việc đến cùng. Doanh nghiệp có thể mở rộng phạm vi hoạt động, mời gọi thêm các thành viên, cổ đông góp vốn giúp công ty thu được một lượng vốn khổng lồ. Doanh nghiệp có tiềm năng sinh lời và tăng trưởng cao nên mở rộng quy mô và phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn từ thị trường.
Thứ hai, để huy động vốn, doanh nghiệp có thể xem xét phát hành cổ phiếu ưu đãi (không điều hành) với lãi suất cao hơn lãi suất tiết kiệm. Các doanh nghiệp có thể xem xét việc sáp nhập và mua lại với các công ty khác để huy động vốn cổ phần.
Doanh nghiệp xây dựng nên cân nhắc sử dụng các kênh huy động vốn khác bên cạnh các biện pháp tăng vốn cổ phần. Thế chấp tài sản ngắn hạn hoặc bán tài sản hình thành trong tương lai là một phương tiện hiệu quả hợp lý để huy động vốn. Để huy động tiền theo những cách khác nếu cần thiết, các doanh nghiệp này phải thiết lập và duy trì mối quan hệ tích cực với các ngân hàng và đối tác kinh doanh. Mặt khác, cho thuê vốn không yêu cầu trước bảo hiểm giúp các doanh nghiệp có được khoản tín dụng mới đồng thời giảm bớt căng thẳng tài chính. Đây là một trong những hình thức được sử dụng rộng rãi nhất trên toàn thế giới. Vay ngân hàng vẫn là phương thức huy động nợ dài hạn thông thường của các doanh nghiệp. Khả năng đa dạng hóa nguồn vốn dài hạn của một công ty để đảm bảo cấu trúc vốn ưu đãi bị hạn chế nghiêm trọng bởi sự phụ thuộc quá mức vào các khoản vay ngân hàng. Ở các quốc gia có thị trường chứng khoán phức tạp, phát hành trái phiếu và phát hành kỳ phiếu là hai cách rất phổ biến để huy động nợ. Tuy nhiên, phương thức huy động tiền gián tiếp này vẫn chưa thực sự phổ biến ở Việt Nam.
- Tăng cường độ minh bạch của thông tin Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Theo các nghiên cứu, thông tin không nhất quán là một trong những thách thức mà doanh nghiệp gặp phải khi vay vốn. Điều này có tác động trực tiếp đến các sáng kiến đầu tư sẵn có cho các doanh nghiệp nói chung cũng như việc mua lại các doanh nghiệp ngành xây dựng. Để giảm bớt những tác động tiêu cực của thông tin bất đối xứng, các tổ chức, ngành phải tiếp tục tạo dựng và hoàn thiện các quy tắc công khai, minh bạch của hệ thống thông tin đối với cả cung và cầu. Để hỗ trợ các ngân hàng đánh giá năng lực và rủi ro, các cơ quan chức năng cũng phải cải thiện quy trình thu thập và công bố thông tin đồng thời thiết lập cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia.
5.2.2. Các hàm ý quản trị khác:
- Phát triển kênh huy động vốn dài hạn cho các doanh nghiệp thông qua thị trường trái phiếu
Hiện nay, thị trường trái phiếu đã có những bước phát triển đáng kể, nhưng quy mô còn nhỏ so với quy mô của thị trường cổ phiếu về số lượng tổ chức phát hành và số lượng giao dịch. Phần lớn trái phiếu là trái phiếu chính phủ, số lượng tổ chức phát hành trái phiếu còn ít so với tiềm năng. Điều này cũng gây ít nhiều ảnh hưởng cho các tổ chức kinh doanh chỉ tập trung vào vốn vay ngân hàng và tín dụng thương mại, bởi kênh vay vốn qua trái phiếu chưa thực sự hiệu quả. Ngoài ra, cần có cơ chế để phát triển thị trường trái phiếu thứ cấp. Nếu thị trường này thực sự phát triển, tính thanh khoản của trái phiếu tăng lên sẽ giúp các công ty phát hành trái phiếu mới dễ dàng hơn. Ngoài ra, cần phải tạo ra một chỉ số trái phiếu và một trung tâm thông tin tín dụng doanh nghiệp tương tự như trung tâm thông tin tín dụng CIC để thông báo cho những người tham gia thị trường và giúp giải quyết tình hình. Thông tin bất cân xứng.
- Luật Xây dựng (sửa đổi) 2014
Luật Xây dựng 2014 nhằm giảm sự lãng phí và kém hiệu quả trong các công trình công cộng hiện nay bằng cách xác định các quy trình và nội dung quản lý của các dự án được tài trợ bởi công quỹ. Luật bổ sung nhiều quy định mới nhằm tăng cường quản lý, kiểm soát chất lượng công trình ở tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng, cũng như đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quy trình cấp phép xây dựng.
Theo Nghị định số 45/NĐ/2014-CP của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất đối với các dự án, các công ty phải nộp đủ tiền trong giai đoạn đầu triển khai dự án. Nhưng trên thực tế, hầu hết các dự án khi đó vẫn đang triển khai, chưa có nguồn thu, trong khi còn nhiều khoản chi phí lớn phải đền bù cho việc thu dọn, san lấp, xây dựng mặt bằng… Chính vì vậy, cơ quan quản lý nhà nước các cơ quan có thể nghiên cứu và điều chỉnh quy định này. Có lẽ có thể chia thành nhiều giai đoạn theo thời gian thực hiện dự án hoặc theo òng đời dự án, điều này tạo điều kiện cho các công ty chủ động huy động vốn.
- Khung pháp lý mới cho hình thức PPP
Do thiếu khung pháp lý nên hình thức PPP chưa được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Để thiết lập một khung pháp lý thống nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định 15/2015/NĐ về cơ cấu đầu tư PPP, có hiệu lực vào ngày 10 tháng 4 năm 2015. Do đó, thúc đẩy đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng và dịch vụ công của Việt Nam là rất cần thiết. Việc bổ sung PPP vào lĩnh vực đầu tư là một trong những điều khoản quan trọng của quy định mới.
Hợp nhất BOT, BT, BOO, BTO thành một dạng hợp đồng PPP chính thức và chịu sự quản lý trên cùng một luật định.
Quy định chi tiết đối với dự án do nhà đầu tư đề xuất.
Bỏ quy định phần vốn góp của nhà nước không được vượt quá 30% tổng mức đầu tư đối với dự án PPP và 49% đối với dự án BOT, BT, BOO, BTO.
Các quy định rõ ràng hơn về rủi ro của chính phủ tạo ra nhiều lợi ích và động lực hơn cho các nhà đầu tư tư nhân.
- Các quy hoạch phát triển
Quy hoạch có ảnh hưởng quan trọng đến xu hướng phát triển chung của nền kinh tế nói chung cũng như xu hướng phát triển của ngành xây dựng nói riêng. Lập kế hoạch kém dẫn đến thất bại, người dân và quốc gia chịu thiệt hại nhiều nhất. Ngoài ra, quy hoạch hiệu quả thúc đẩy đầu tư vào cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng và làm rõ phương hướng. Cần lưu ý rằng một số chiến lược, chẳng hạn như quy hoạch tổng thể phát triển các đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, sẽ có những tác động đáng kể. Kế hoạch phát triển nhà ở đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm 2020 và xu hướng đến năm 2030.
5.3. Hạn chế của đề tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Thứ nhất, luận văn chỉ mới tập trung phân tích cấu trúc vốn của doanh nghiệp xây dựng mà chưa có sự so sánh với các doanh nghiệp thuộc các ngành khác.
Thứ hai, luận văn mới chỉ đánh giá tác động của nhân tố bên trong doanh nghiệp đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp mà chưa đánh giá được tác động của các nhân tố bên ngoài. Số lượng biến độc lập còn khá ít do đó không thể hiện tính bao quát của mô hình. Tuy nhiên dưới góc độ nhìn nhận những nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp thì tác giả đã đảm bảo yêu cầu và chứng minh, kiểm định những giả thuyết đã đưa ra ban đầu.
Thứ ba, giới hạn về thời gian lấy mẫu ngắn chỉ từ năm 2014 đến năm 2021, số lượng doanh nghiệp trong mẫu là khá nhỏ chỉ gồm 82 doanh nghiệp ngành xây dựng nên số lượng quan sát là 656 thì mẫu nghiên cứu chưa đủ đại diện mạnh mẽ cho tổng thể, do đo có thể làm giảm mức ý nghĩa của mô hình.
Kết luận chương 5
Dựa trên kết quả nghiên cứu của chương 4, tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị dành cho doanh nghiệp ngành xây dựng và cơ quan quản lý, nhằm kiểm soát tốt các nhân tố tác động tới cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra, khoá luận đã đưa ra một số gợi ý giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp có được cấu trúc vốn hợp lý bằng cách sử dụng tỷ lệ nợ vay phù hợp. Và phần cuối của khoá luận, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của đề tài này nhằm mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo.
KẾT LUẬN CHUNG
Đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” với mục đích của nghiên cứu là tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nợ hay vốn tự có của các công ty xây dựng tại Việt Nam trong cả ngắn hạn và dài hạn, đồng thời đánh giá chiều hướng tác động của từng nhân tố nhằm để có đề xuất các biện pháp giải quyết, sẽ làm tăng sự lựa chọn nợ hoặc vốn chủ sở hữu của các công ty xây dựng để nâng cao hiệu quả đòn bẩy tài chính của các công ty xây dựng. Cơ sở lý thuyết của đề tài dựa trên lý thuyết cân bằng, lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết chi phí trung gian và lý thuyết Modigliani và Miller. Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp với sử dụng mô hình kinh tế lượng. Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến cấu trúc vốn bên trong và bên ngoài cũng được trình bày để chứng minh khoảng cách nghiên cứu. Chương 3 cũng trình bày chi tiết các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để xác định kết quả nghiên cứu trong Chương 4. Luận văn cho thấy cấu trúc vốn của các công ty xây dựng chịu ảnh hưởng của 7 nhân tố chính bao gồm quy mô công ty, tài sản cố định hữu hình, tính thanh khoản, khả năng sinh lời, tốc độ tăng trưởng, thuế thu nhập doanh nghiệp và tuổi của doanh nghiệp. Mặt khác, kết quả xem xét khảo sát cho thấy ngoài các yếu tố nêu trên, còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của công ty như hành vi của nhà quản lý, rủi ro, chính sách, các giai đoạn phát triển của công ty… cũng được một số tác giả đề cập đến trong nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, các yếu tố này không được xem xét trong nghiên cứu này và đây cũng là một gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo về cấu trúc vốn. Kết quả nghiên cứu trên giúp các doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế sau phát hành cổ phiếu tìm hiểu rõ hơn các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn từ đó đưa ra quyết định xây dựng cấu trúc vốn phù hợp với mục tiêu đề ra. Trên cơ sở kết quả này, chương 5 trình bày một số khuyến nghị đối với các nhà quản lý doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn liên quan đến xây dựng cơ cấu vốn hợp lý. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp […]