Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng về định danh khách hàng điện tử trong hoạt động ngân hàng theo pháp luật hiện hành dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Trong quá trình hoạt động chuyển đổi số của ngành Ngân hàng tại Việt Nam, định danh khách hàng điện tử hay còn gọi là eKYC (Electronic Know Your Customer) đang trở thành một xu hướng phát triển tất yếu. Công nghệ này cho phép các ngân hàng tại Việt Nam cung ứng dịch vụ số hóa, nâng cao trải nghiệm của khách hàng và tối ưu hóa chi phí hoạt động, đặc biệt các giao dịch liên quan đến tài khoản thanh toán. Đề tài đã tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về hoạt động eKYC. Thông qua việc tìm hiểu các quy định nội bộ tại các ngân hàng và thống kê các kết quả đạt được cho thấy quá trình triển khai thời gian qua tại các ngân hàng đã có được một số thành tích trong việc tăng trưởng chuyển dịch kênh số, thúc đẩy số hóa toàn diện hơn. Tuy nhiên, việc ứng dụng pháp luật vào thực tiễn không tránh khỏi những vướng mắc, bất cập trong các quy định pháp luật. Trên cơ sở đó, người viết đã sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,… để đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và phát triển dịch vụ eKYC. Những giải pháp kết hợp giữa pháp lý và công nghệ, nhân lực sẽ góp phần thúc đẩy quá trình eKYC và số hóa ngân hàng đạt hiệu quả cao hơn nữa trong tương lai, hướng đến xây dựng một hệ thống ngân hàng tại Việt Nam phát triển hiện đại và ổn định.
Từ khóa: Định danh khách hàng điện tử; chuyển đổi số; tài khoản thanh toán; hoạt động ngân hàng; Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Với bối cảnh kinh tế thế giới ngày nay, quá trình chuyển đổi số đang ngày càng phát triển với tốc độ nhanh chóng, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng. Hoạt động chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam thời gian gần đây đang bước vào giai đoạn bùng nổ khi các ngân hàng liên tục cải tiến công nghệ, kĩ thuật. Các giải pháp công nghệ mới như điện toán đám mây, phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ chuỗi khối (Blockchain),… được ứng dụng rộng rãi vào quy trình hoạt động của ngân hàng nhằm tăng tính hiệu quả. Trong quá trình hoạt động ngân hàng, KYC là rất quan trọng, đây là bước khởi đầu cho tiến trình khởi tạo giao dịch với một khách hàng. Việc xác định chủ thể giao dịch và những thông tin dữ liệu kèm theo sẽ có vai trò cầu nối cho những phát sinh về sau. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Trong quá trình số hóa, việc phát triển KYC truyền thống thành eKYC là điều rất cần thiết. Pháp luật Việt Nam cũng đã đưa ra hành lang pháp lí cho hoạt động này nhằm đảm bảo an ninh thông tin và sự an toàn trong hoạt động của ngân hàng, do đó việc nghiên cứu pháp luật về eKYC là một nhu cầu cần thiết và cấp bách tại Việt Nam hiện nay. Trong nội dung đề tài này, trên cở sở đánh giá lý luận và thực tiễn người viết sẽ đề xuất một số giải pháp mang tính khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật về eKYC trong hoạt động ngân hàng.
1.2. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Việt Nam, quy định về eKYC còn khá mới mẻ và chưa có nhiều quy định cụ thể về khái niệm này. Những quy định về nguyên tắc, cách thức áp dụng eKYC cũng còn khá mơ hồ, nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau. Cách hiểu về eKYC trong pháp luật Việt Nam hình thành thông qua các quy định cho phép sử dụng, áp dụng và triển khai số hóa điện tử trong quá trình thực hiện cung ứng dịch vụ tài khoản thanh toán hay các giao dịch trong lĩnh vực ngân hàng. eKYC trong hoạt động kinh doanh tại ngân hàng thường xuất hiện trong các giao dịch chính yếu như mở tài khoản thanh toán, thay đổi hay cập nhật thông tin tài khoản và các giao dịch thanh toán như: chuyển tiền, rút tiền về tài khoản, đáo hạn tiền gửi,…
Trong quá trình triển khai áp dụng, nhiều vấn đề pháp lý về eKYC vẫn đang được xem là thách thức, bất cập đối với các nhà hoạch định chính sách, pháp luật ở nước ta. Việc nghiên cứu thực trạng và hoàn thiện khung pháp luật về eKYC ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là hết sức cấp bách vì những lý do sau:
Thứ nhất, vấn đề chuyển đổi số trong hệ thống ngân hàng là một xu thế tất yếu. Thực tế triển khai dịch vụ eKYC đã trở thành một dịch vụ thay thế cho định danh khách hàng truyền thống. Trước hết, nó đã đáp ứng nhu cầu của xã hội trong việc tạo thuận lợi, tăng tính chính xác, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham gia giao dịch, nhất là vấn đề bảo mật dữ liệu khách hàng. Vì vậy, các quy định pháp luật đưa ra cần đảm bảo sự thuận lợi cho quá trình định danh điện tử và bảo mật thông tin cá nhân của khách hàng, bên cạnh các quy định về việc đáp ứng yêu cầu về công nghệ, chuẩn hóa dữ liệu và vận hành liên tục của ngân hàng. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Thứ hai, pháp luật về eKYC tại Việt Nam trong những năm qua đang được hình thành và từng bước hoàn thiện. Không thể phủ nhận những giá trị mà dịch vụ này mang lại nhưng việc chưa hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh đã nảy sinh ra nhiều bất cập trong thực tiễn như: việc lúng túng trong áp dụng pháp luật; hệ thống của ngân hàng chưa đáp ứng được nhu cầu; việc các cơ sở dữ liệu về xác minh thông tin khách hàng chưa được hoàn thiện… Những bất cập nêu trên cần phải được nghiên cứu để có những giải pháp pháp lý phù hợp và kịp thời, đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn xã hội.
Thứ ba, vấn đề hội nhập quốc tế trong quá trình eKYC. Tại nhiều nước trên thế giới, quá trình này đã hình thành từ sớm và ở mức độ hoàn thiện. Với tốc độ phát triển kinh tế và xã hội Việt Nam hiện nay thì cần nhanh chóng hoàn thiện quy định pháp luật về eKYC không chỉ để giải quyết các vướng mắc về pháp lý hiện tại mà các quy định này phải có tính dự liệu, được kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với tốc độ số hóa và hạn chế những phát sinh trong quá trình áp dụng.
Vì những lý do trên, người viết đã lựa chọn đề tài: “Thực trạng về định danh khách hàng điện tử trong hoạt động ngân hàng theo pháp luật hiện hành” làm đề tài nghiên cứu cho đề án thạc sĩ của mình.
2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Là một vấn đề áp dụng pháp luật trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam, eKYC hiện đang là lĩnh vực nghiên cứu của các nhà nghiên cứu tại Việt Nam. Hiện nay, ở cấp độ luận văn, đề tài về eKYC được nghiên cứu ở góc độ chuyên ngành tài chính – ngân hàng mà chưa được nghiên cứu ở góc độ luật học. Các công trình nghiên cứu về đề tài này ở góc độ luật học chỉ dừng lại ở các bài viết được công bố trên các tạp chí khoa học, hội thảo khoa học ở nhiều cấp độ khác nhau, cụ thể:
Vũ Thị Kim Oanh (2022), “Phát triển định danh khách hàng trực tuyến (eKYC) tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Ngoại Thương. Tác giả đã đưa ra một loạt các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển định danh khách hàng trực tuyến bao gồm hành lang pháp lý, sự lựa chọn mô hình phát triển định danh khách hàng trực tuyến của ngân hàng thương mại, nguồn nhân lực hiểu biết về định danh khách hàng trực tuyến, cơ sở hạ tầng để triển khai định danh khách hàng trực tuyến và các tiêu chí đánh giá sự phát triển định danh khách hàng trực tuyến. Từ các dữ liệu thu thập về các văn bản triển khai, quy trình thực định danh khách hàng trực tuyến của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, tác giả”đánh giá hoạt động phát triển định danh khách hàng trực tuyến thông qua các chỉ tiêu: số lượng khách hàng mở tài khoản trực tuyến theo giới tính, số lượng khách hàng mở tài khoản trực tuyến theo độ tuổi, doanh số tiền gửi của tài khoản thanh toán mở bằng phương thức trực tuyến, phí dịch vụ của tài khoản thanh toán mở bằng phương thức trực tuyến.”Kết quả nghiên cứu cho thấy Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã có được những thành tựu nhất định về định danh khách hàng trực tuyến, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế về đối tượng khách hàng triển khai định danh khách hàng trực tuyến. Từ đó, luận văn cũng đề xuất các giải pháp phát triển cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam như:”(i) tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, (ii) đổi mới công nghệ ứng dụng trong ngân hàng, (iii) phát triển đa dạng định danh khách hàng trực tuyến, (iv) cân bằng giữa việc tăng trải nghiệm của khách hàng với việc tuân thủ các quy định pháp luật, (v) tăng cường công tác truyền thông thương hiệu, hình ảnh ngân hàng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đến khách hàng nói chung và các dịch vụ định danh khách hàng trực tuyến nói riêng, và một số đề xuất kiến nghị cho cơ quan. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Nguyễn Thị Thái Hưng (2020), “Bảo mật thông tin khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng số”, Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 3+4. Trong bài viết, tác giả đã phân tích tác động của ngân hàng số, rủi ro khi sử dụng các dịch vụ của ngân hàng số mà eKYC là một trong số các dịch vụ đó, nêu lên vấn đề bảo mật thông tin của khách hàng trong thời đại số hóa , từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường quản trị rủi ro hoạt động ngân hàng, đảm bảo an ninh môi trường mạng và bảo vệ thông tin của người dùng. Kết quả của bài viết có một số giá trị tham khảo cho tác giả khi nghiên cứu các nội dung tại chương 2 khi đưa ra những kiến nghị và giải pháp về eKYC trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam.
Nguyễn Duy Việt (2021), “Kinh nghiệm triển khai định danh khách hàng trực tuyến eKYC và bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ, số 1+2, tr. 64-72. Trong bài viết này, tác giả đã nêu ra bốn mô hình định danh khách hàng trực tuyến phổ biến từ các ví dụ điển hình ở một số quốc gia trên thế giới như: Hồng Kông, Đức, Thụy Điển, Ấn Độ, Anh, từ đó nhận định một số khó khăn và thách thức trong việc triển khai định danh khách hàng trực tuyến. Tiếp theo đó, tác giả trình bày thực tiễn áp dụng tại Việt Nam: về khuôn khổ pháp lý và thực tế triển khai tại các ngân hàng. Thông qua thực tiễn, tác giả nêu ra một số giải pháp và kiến nghị để phát triển định danh khách hàng trực tuyến ở Việt Nam, giải pháp chủ yếu về phía ngân hàng và phía Nhà nước.
Nguyễn Thị Kim Thoa (2020), “Bảo đảm an toàn, bí mật thông tin khách hàng trong ngân hàng điện tử tại Việt Nam – Nhìn từ góc độ pháp lý”, Tạp chí Ngân hàng, số 16. Bài viết phân tích một số khía cạnh pháp lý theo quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến an toàn và bảo mật thông tin khách hàng của các tổ chức tín dụng khi cung ứng dịch vụ ngân hàng điện tử, từ đó đưa ra một số giải pháp liên quan. Hiện nay, hoạt động eKYC mà đề án hiện đang nghiên cứu được thực hiện trên dịch vụ ngân hàng điện tử, do đó bài viết có tính tham khảo cho một số vấn đề lí luận chung.
Nguyễn Thị Kim Thoa (2020), “Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế -Luật (Đại học quốc gia TPHCM). Tại Luận án, tác giả đã làm rõ một số nội dung như: (i) những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng; (ii) Phân tích, so sánh, đối chiếu pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước trên thế giới về những vấn đề pháp lý có liên quan; (iii) Phân tích, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam; (iv) Đề xuất các định hướng, giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực thi pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong họat động ngân hàng ở ViệtNam”. Tuy nhiên, xét về tính liên quan đến vấn đề eKYC mà đề án đang nghiên cứu, Luận án chỉ thể hiện một phẩn nhỏ do toàn bộ nội dung đang tập trung phân tích, đánh giá những vấn đề chung về bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng. Do đó, một số kết quả nghiên cứu của luận án được tác giả tham khảo và kế thừa, phát triển rõ ràng hơn khi nghiên cứu cụ thể về hoạt động eKYC. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Ngoài ra, còn một số bài viết tạp chí khác về đề tài eKYC như: Nguyễn Ngọc Chánh (2019), “Smart eKYC: Giải pháp đột phá giúp các ngân hàng Việt Nam “nhận diện khách hàng trực tuyến””, Tạp chí Công Thương, số 14, năm 2019, tr. 221 – 225; Nguyễn Văn Trung – Phạm Ngọc Thanh Hà – Vũ Phan Kim Anh, “Hoàn thiện pháp luật về định danh khách hàng điện tử ở Việt Nam – Kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 376, tháng 3/2023; Viên Thanh Nhã, Tiếp Sỹ Minh Phụng, Nguyễn Hoàng Tú, Đỗ Thị Kim Dung, Lê Đinh Phú Cường (2022), “Xây dựng hệ thống trích xuất thông tin giấy tờ tùy thân từ hình ảnh cho hệ thống định danh khách hàng điện tử”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 2, năm 2022, tr. 54 – 57,…
Nhìn chung, các bài viết đã được công bố trên các tạp chí khoa học có đề cập đa dạng và phong phú các khía cạnh về eKYC về các khái niệm, vai trò, quy định, trách nhiệm của ngân hàng cung cấp dịch vụ. Các tác giả nhận định eKYC là một giải pháp tiên tiến nhằm cải thiện quy trình nhận diện khách hàng trên môi trường trực tuyến, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải áp dụng công nghệ mới trong ngành ngân hàng, xây dựng hệ thống trích xuất thông tin từ giấy tờ tùy thân nhằm nâng cao tính chính xác và hiệu quả của quy trình eKYC. Các nghiên cứu trình bày được nhiều khía cạnh của vấn đề nhưng hầu như được thể hiện dưới góc nhìn tài chính – ngân hàng mà chưa khai thác sâu về góc nhìn luật học và các giải pháp pháp lý. Có thể nhận thấy một số điểm hạn chế của các nghiên cứu nêu trên như: (i) chỉ mang tính đại diện, chưa có độ bao quát: luận văn của tác giả Vũ Thị Kim Oanh đang tập trung vào thực trạng tại một ngân hàng cụ thể, chưa thể phản ánh đầy đủ tình hình chung của toàn ngành ngân hàng Việt Nam trong việc triển khai eKYC, do đó các giải pháp đưa ra không đủ sự phù hợp để áp dụng cho toàn hệ thống ngân hàng; (ii) thiếu dữ liệu thực tiễn trong quá trình triển khai eKYC khi đánh giá kết quả đạt được trong quá trình eKYC nên khó đánh giá được tính hiệu quả; (iii) tính cập nhật của khung pháp lý: một số nội dung nghiên cứu đưa ra giải pháp về khung pháp lý có thể không theo kịp sự thay đổi nhanh chóng trong công nghệ và quy định pháp luật, dẫn đến việc các kiến nghị không còn phù hợp; (iv) các giải pháp tập trung vào công nghệ mà chưa liên kết với khía cạnh pháp lý hay bảo vệ quyền riêng tư của khách hàng, đề cao sự tự chủ của các ngân hàng dẫn đến thiếu tính đồng bộ trong quá trình áp dụng pháp luật, chưa chú trọng đến yếu tố con người và thiếu sự phối hợp giữa các bên liên quan. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Từ những hạn chế nêu trên, người viết hoàn thiện đề án của mình bằng những nghiên cứu toàn diện hơn về eKYC trong hoạt động ngân hàng, như: tổng quan về thực trạng pháp luật Việt Nam quy định về eKYC, nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về eKYC thông qua phân tích, so sánh các quy trình nội bộ cụ thể được triển khai tại các ngân hàng thương mại, cập nhật các kết quả đạt được trong quá trình triển khai từ toàn hệ thống và chi tiết các ứng dụng triển khai eKYC tại các ngân hàng, phát hiện ra những điểm còn tồn đọng, hạn chế. Từ thực trạng đó, người viết đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật có tính khả thi và cần thiết như hoàn thiện khái niệm về eKYC trong hoạt động ngân hàng, bổ sung quy định về các phương thức xác thực ngoài sinh trắc học, tạo dựng hành lang pháp lý cho phép chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan nhà nước và các ngân hàng với nhau, hướng đến thiết lập một quy trình eKYC chuẩn. Đây là các vấn đề mà các nghiên cứu hiện tại đã công bố còn chưa khai thác triệt để. Bên cạnh đó, nhằm bổ sung thêm các giải pháp về mặt công nghệ, người viết sẽ đưa ra những kiến nghị về cải tiến công nghệ phù hợp hơn với thị hiếu của khách hàng và có sự kết hợp giữa công nghệ và con người – nhân sự hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về eKYC trong hoạt động ngân hàng. Vì vậy, những nghiên cứu của người viết trong đề án này sẽ có giá trị tham khảo nhất định cho học viên khi thực hiện những công trình nghiên cứu liên quan.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề án tập trung nghiên cứu quy định pháp luật về eKYC. Phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về eKYC, tình hình thực hiện, những vướng mắc, bất cập trong các quy định pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về vấn đề này tại các ngân hàng. Từ đó, đưa ra những quan điểm khoa học, rút ra những kiến nghị, giải pháp nhằm xây dựng, hoàn thiện chính sách pháp luật tại Việt Nam, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về eKYC trong hoạt động ngân hàng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu những quy định của pháp luật và thực tiễn về hoạt động eKYC trong hoạt động ngân hàng, đánh giá các quy định pháp luật về eKYC hiện hành.
- Về không gian: Thực tiễn áp dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.
- Về thời gian: Từ năm 2020 đến nay – kể từ khi Ngân hàng Nhà nước cho phép triển khai áp dụng eKYC trong hoạt động ngân hàng.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát: Hoạt động eKYC là một hoạt động quan trọng trong quá trình chuyển đổi số của ngành ngân hàng, là cơ sở để khách hàng có thể thao tác, sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử. Việc nắm rõ các quy định pháp luật để triển khai và ứng dụng công nghệ rất cần thiết đối với mỗi ngân hàng. Vì vậy, đề tài đưa ra những giá trị nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về hoạt động eKYC, cung cấp những thông tin về hạn chế và bất cập của thực trạng thực hiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất những kiến nghị và giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về eKYC trong hoạt động ngân hàng nhằm thúc đẩy hệ thống ngân hàng hiện đại, an toàn và vững mạnh.
- Mục đích cụ thể:
Nghiên cứu, phân tích thực trạng quy định pháp luật về định danh khách điện tử trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Đề tài phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về eKYC tại các ngân hàng, từ đó làm rõ những ưu điểm, những hạn chế trong quy định pháp luật về eKYC trong hoạt động ngân hàng và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay.
Đề xuất những phương hướng, kiến nghị những giải pháp lý cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về eKYC trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Nghiên cứu, phân tính nhằm đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam quy định về eKYC và thực tiễn thực hiện pháp luật về eKYC trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam hiện nay.
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về eKYC trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành đề tài này, người viết tập trung sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò chủ đạo của các ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng và tổ chức tín dụng nói chung trong việc áp dụng eKYC trong hoạt động ngân hàng góp phần vào sự phát triển hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, người viết còn kết hợp với các phương pháp phân tích luật viết để làm rõ các nội dung nghiên cứu:
Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp chủ đạo, được sử dụng để làm sáng tỏ nội dung về những quy định của pháp luật và đánh giá tính hiệu quả cũng như chỉ rõ những bất cập còn tồn tại trong quá trình áp dụng quy định của pháp luật hiện hành về eKYC.
Phương pháp tổng hợp: Từ những vấn đề được phân tích, phương pháp tổng hợp được người viết dùng trong tất cả các chương của Đề tài để tổng hợp các quan điểm khác nhau về nhận thức khoa học xoay quanh các khái niệm và quy phạm pháp luật liên quan đến pháp luật về eKYC ở Việt Nam.
Phương pháp so sánh: Người viết đã so sánh quá trình áp dụng pháp luật về eKYC tại một số ngân hàng thương mại cổ phần, từ đó rút ra những nhận xét khách quan cho những ưu điểm và hạn chế trong việc áp dụng pháp luật về eKYC tại Việt Nam.
Ngoài các phương pháp nêu trên, trong quá trình nghiên cứu người viết còn sử dụng một số phương pháp khác để tập trung tìm ra những nguyên nhân của vấn đề và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm khắc phục được những hạn chế, từ đó đưa ra những kết luận trong quá trình thực hiện pháp luật.
6. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Về những đóng góp ở mặt khoa học, đề tài góp phần làm sáng rõ thêm các vấn đề lý luận của pháp luật về eKYC tại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh vừa mới ban hành Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Giao dịch điện tử vừa có hiệu lực. Những nghiên cứu, đề xuất của đề tài góp phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả quá trình áp dụng pháp luật về eKYC trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam hiện nay. Về thực tiễn, toàn thể nội dung của đề tài nghiên cứu “Thực trạng về định danh khách hàng điện tử trong hoạt động ngân hàng theo pháp luật hiện hành” mang lại những đóng góp sau:
Thứ nhất, đề tài đưa ra khái quát pháp lý về eKYC thông qua việc nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về bản chất, đặc điểm, vai trò của eKYC trong các quy định pháp luật hiện nay.
Thứ hai, đề tài phân tích thực trạng pháp luật về eKYC trong hoạt động ngân hàng. Từ đó, đánh giá khách quan những ưu, nhược điểm trong quá trình áp dụng và thực hiện pháp luật cho eKYC.
Thứ ba, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về eKYC. Việc hoàn thiện pháp luật về eKYC giúp các nhà lập pháp nhìn nhận bao quát, toàn diện về những tồn đọng đang gặp phải với hoạt động này.
Thứ tư, là đề tài đầu tiên nghiên cứu toàn diện về eKYC ở góc độ Luật học tính tới thời điểm này. Đây là nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu pháp luật về eKYC trong tương lai. Từ đó, sẽ là cơ sở để phát triển và hình thành các hướng nghiên cứu về eKYC nói riêng và định danh khách hàng nói chung trong tương lai.
7. BỐ CỤC CỦA ĐỀ ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề án gồm có 2 chương:
- Chương 1: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về định danh khách hàng điện tử trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam.
- Chương 2: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về định danh khách hàng điện tử trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam.
CHƯƠNG 1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐỊNH DANH KHÁCH HÀNG ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
1.1. Thực trạng pháp luật về định danh khách hàng điện tử trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm, cách thức, vai trò của định danh khách hàng điện tử trong hoạt động ngân hàng
Trong chuỗi quá trình hoạt động ngân hàng, quá trình định danh khách hàng (know your customer, gọi tắt là KYC) rất quan trọng để xây dựng kho dữ liệu khách hàng và tăng tính bảo mật hệ thống. Các ngân hàng cần xác thực được khách hàng đang sử dụng dịch vụ của ngân hàng là ai, với các thông tin cá nhân cụ thể là gì và đã được lưu trữ thông tin khách hàng trong kho dữ liệu như thế nào. Trong quá trình số hóa, việc phát triển định danh khách hàng truyền thống thành định danh khách hàng điện tử – hay còn gọi là eKYC đã trở thành một xu thế tất yếu. Theo tổ chức Lực lượng đặc nhiệm tài chính quốc tế – FATF (Financial Action Task Force) cho rằng eKYC là quy trình điện tử nhằm xác minh danh tính của khách hàng bằng cách sử dụng công nghệ, giúp các tổ chức tài chính tuân thủ các quy định về phòng chống rửa tiền (AML) và tài trợ khủng bố (CFT). eKYC hình thành tại các quốc gia trên thế giới thông qua việc xác định và xác minh các thông tin liên quan đến danh tính khách hàng so với những thông tin mà họ cung cấp thông qua cách thức điện tử, điển hình như video call, công nghệ trí tuệ nhân tạo xác thực khuôn mặt, nhận diện kí tự quang học, thông tin sinh trắc học… Các phương thức điện tử này sẽ giúp đọc dữ liệu và trích xuất thông tin cá nhân tức thời với cơ sở dữ liệu tập trung về danh tính của cá nhân khách hàng. Hình thức này cho phép khách hàng thực hiện được giao dịch với ngân hàng mà không cần gặp mặt hay tới trực tiếp chi nhánh/ phòng giao dịch của ngân hàng mà có thể thực hiện tại bất cứ đâu, chỉ cần có phương tiện công nghệ hiện đại (máy tính bảng, điện thoại thông minh…). Căn cứ dùng để định danh khách hàng cá nhân chủ yếu là chứng minh nhân dân/căn cước công dân/ hộ chiếu dựa trên các đặc điểm bảo mật của các loại hình giấy tờ tùy thân này và so sánh khuôn mặt khách hàng với hình ảnh trên giấy tờ đó. Tuy nhiên chứng minh nhân dân và hộ chiếu hiện nay không còn được dùng để xác thực danh tính do không đối chiếu được với dữ liệu quốc gia về dân cư, thay vào đó các ngân hàng chỉ ưu tiên căn cước công dân có gắn chip. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Quy định về eKYC tại Việt Nam hiện nay còn khá mới mẻ và vẫn chưa có nhiều quy định cụ thể về khái niệm này. Những quy định về nguyên tắc, cách thức áp dụng eKYC cũng còn khá mơ hồ, nằm rải rác trong một số văn bản pháp luật khác nhau. Cách hiểu về eKYC trong pháp luật Việt Nam hình thành thông qua các quy định cho phép triển khai sử dụng, áp dụng và cập nhật tính năng số hóa điện tử trong quá trình thực hiện hoạt động cung ứng các sản phẩm dịch vụ liên quan đến tài khoản thanh toán hay các giao dịch trong lĩnh vực ngân hàng. eKYC trong hoạt động tài khoản thanh toán tại ngân hàng thường xuất hiện trong các giao dịch chính yếu như mở tài khoản thanh toán, thay đổi hay cập nhật thông tin tài khoản và các giao dịch thanh toán như: Chuyển tiền, rút tiền về tài khoản, đáo hạn tiền gửi,… Một số khái niệm cơ bản về eKYC được đưa ra từ các công trình nghiên cứu như:
Tác giả Nguyễn Duy Việt (2021) cho rằng “định danh khách hàng (KYC) là một thủ tục để xác định và xác nhận danh tính khách hàng đúng với những gì họ đã khai báo, quá trình này bao gồm các bước được thực hiện trong giai đoạn đầu doanh nghiệp tiếp xúc với khách hàng, để xác minh rằng khách hàng là thật. Việc xác minh được thực hiện thông qua việc so khớp thông tin từ các tài liệu xác định danh tính và thông qua sự hiện diện của khách hàng. eKYC dựa trên quy trình KYC với sự hỗ trợ từ các công nghệ trí tuệ nhân tạo như xác thực khuôn mặt”, nhận diện ký tự.
Tác giả Vũ Thị Kim Oanh (2022) nêu rõ: “eKYC (electronic know your customer) – định danh khách hàng trực tuyến là quá trình thẩm định khách hàng, xác minh khách hàng thông qua các phương tiện điện tử, cho phép nhận dạng khách hàng trực tuyến tự động mà không cần tương tác trực tiếp, thông qua các công nghệ bao gồm kiểm tra và đối chiếu thông tin cá nhân ngay lập tức”.
Theo người viết, khái niệm về eKYC trong hoạt động ngân hàng nên được xây dựng từ khái niệm “định danh điện tử” theo pháp luật Việt Nam hiện nay đã định nghĩa như sau: “Định danh điện tử” là hoạt động đăng ký, đối soát, tạo lập và gắn danh tính điện tử với chủ thể danh tính điện tử. Như vậy có thể hiểu eKYC trong hoạt động ngân hàng là quá trình giúp ngân hàng thu thập thông tin khách hàng, nắm rõ được dữ liệu để xác định danh tính khách hàng thông qua phương tiện công nghệ kết hợp với hoạt động đăng ký, đối soát, tạo lập và gắn danh tính điện tử với chủ thể danh tính điện tử. Từ đó có thể xác định khách hàng đang thực hiện các giao dịch là chính chủ, trong trường hợp xảy ra gian lận thông tin hay xuất hiện các giao dịch thanh toán gian lận có thể giúp ngân hàng và cơ quan chức năng truy xuất dữ liệu một cách nhanh chóng. eKYC phối hợp hoạt động với hệ thống thông tin và các ứng dụng điện tử của ngân hàng dựa trên cơ chế xác minh thông tin là có thật, giúp minh bạch trong giao dịch và sử dụng dữ liệu giao dịch. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Về cách thức định danh điện tử khách hàng cá nhân: khách hàng là người Việt Nam truy cập vào ứng dụng ngân hàng trực tuyến để thực hiện quá trình định danh, sử dụng căn cước công dân/ thẻ căn cước có chip để thực hiện định danh; tiến hành chụp và đăng tải hình ảnh hoặc thực hiện quét chip của giấy tờ này để công nghệ hoặc mô hình mà ngân hàng phục vụ đang sử dụng định danh thực hiện đọc dữ liệu, bao gồm các thông tin tối thiểu sau: họ và tên, số giấy tờ tùy thân, ngày tháng năm sinh, giới tính, giới tính, quê quán, ngày cấp – nơi cấp – ngày hết hạn của giấy tờ tùy thân; sau đó chụp ảnh khuôn mặt để đối chiếu với dữ liệu lưu trữ của cơ quan cấp giấy tờ tùy thân; thực hiện thêm các bước xác minh khác nếu có; sau đó hệ thống sẽ trả về kết quả xác minh. Kết quả được cho là trùng khớp khi hệ thống ngân hàng xác định sự khớp đúng giữa các dữ liệu mà khách hàng cung cấp so với dữ liệu ngân hàng được chia sẻ từ Bộ Công an hoặc cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hoặc từ kho dữ liệu chung của ngân hàng đã xây dựng. Để thực hiện được quá trình này, ngân hàng cần phát triển kết hợp các mô hình công nghệ cho phép triển khai eKYC và dữ liệu được chia sẻ từ cơ quan nhà nước để có được dữ liệu sinh trắc học của từng khách hàng. Kết quả không trùng khớp hoặc xảy ra lỗi do dữ liệu sau khi so sánh không khớp nhau hoặc do lỗi hệ thống trong quá trình thực hiện. Trong trường hợp này, khách hàng có thể thực hiện lại sau hoặc được hỗ trợ định danh tại quầy giao dịch của ngân hàng.
Việc áp dụng eKYC cho hoạt động ngân hàng cho phép tất cả các hồ sơ và dữ liệu được lưu trữ trong hệ thống ngân hàng đang phục vụ khách hàng. Do đó, khi xuất hiện hành vi lạm dụng thông tin tài khoản nhằm thực hiện các hành động thu lợi bất chính hoặc hoạt động bất hợp pháp xảy ra, đều có thể được truy xuất trở lại cho cá nhân hoặc các bên liên quan đến các giao dịch hoặc sử dụng dịch vụ đó. So với phương thức định danh khách hàng truyền thống, khách hàng sẽ phải mang giấy tờ tùy thân tới trụ sở chi nhánh/ phòng giao dịch của ngân hàng để thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản thanh toán và nhận diện danh tính. Quá trình này được thực hiện dựa trên việc gặp mặt và đối chiếu thông tin trực tiếp, tức dựa vào khả năng nhận diện của con người là giao dịch viên tại các ngân hàng bên cạnh việc trang bị thiết bị quét, nhận diện khuôn mặt tại các quầy giao dịch của Ngân hàng.
Nhìn chung, hoạt động eKYC trong lĩnh vực ngân hàng là một bước phát triển tất yếu trong quá trình chuyển đổi số của ngành và không thể phủ nhận được vai trò mang lại của eKYC. Từ việc tạo dựng một kho dữ liệu thông tin định danh khách hàng khổng lồ cho ngân hàng, tiết kiệm thời gian so với giao dịch thủ công thông thường, tăng tính trải nghiệm cho khách hàng cho đến việc giảm thiểu các rủi ro gian lận, giúp các ngân hàng đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật, eKYC còn giúp ngân hàng tiếp cận đến lượng khách hàng vãng lai, tiềm năng bất kể khoảng cách địa lý hay không gian, thời gian.
1.1.2. Quy định pháp luật về định danh khách hàng điện tử trong hoạt động ngân hàng Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Nhìn vào thực tiễn chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng hiện nay, việc cải tiến, nâng cấp và ứng dụng eKYC vào hệ thống hoạt động khi cung ứng dịch vụ trực tuyến của ngân hàng và các giao dịch tài chính liên quan đến tài khoản thanh toán là xu hướng số hóa toàn diện trong tương lai của ngân hàng số, phù hợp với sự phát triển của lĩnh vực ngân hàng tại các quốc gia trên thế giới. Hầu hết các ngân hàng đã, đang thực hiện việc chuyển đổi sang ngân hàng số mà việc số hóa quá trình KYC là điều bắt buộc, hơn nữa đây là một trong những yếu tố quyết định đến hoạt động của các tổ chức tín dụng trong kỉ nguyên số. Quá trình chuyển đổi KYC sang eKYC hiện tại còn khá phức tạp, mất thời gian, nhân sự để duy trì hoạt động và tốn kém chi phí. Trong thời gian qua, tại Việt Nam đã có ban hành và cập nhật sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề này.
Trước đây, hoạt động mở và sử dụng các dịch vụ liên quan đến tài khoản thanh toán tại các đơn vị cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán đã được quy định tại”Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt”(được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 80/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016), Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 16/2020/TT-NHNN ngày 04/12/2020), trong đó nêu rõ đối với quy trình mở tài khoản thanh toán, tại Điều 12, Điều 14 Thông tư số 23/2014/TT-NHNN đã quy định chặt chẽ về hồ sơ, thủ tục mở tài khoản thanh toán: các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phải áp dụng đầy đủ các biện pháp nhận biết và xác minh thông tin khách hàng mở tài khoản thanh toán, đảm bảo tuân thủ quy định về phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, Điều 5, Điều 6 của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN quy định chặt chẽ về quy trình mở và sử dụng tài khoản thanh toán: “(i) Quy định rõ quyền và nghĩa vụ của chủ tài khoản thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán; (ii) Quy định về các hành vi bị cấm trong mở, sử dụng tài khoản thanh toán bao gồm mở hoặc duy trì tài khoản nặc danh, mạo danh, chủ tài khoản thanh toán không được cho thuê, cho mượn tài khoản thanh toán của mình và không được sử dụng tài khoản thanh toán để thực hiện cho các giao dịch nhằm mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, lừa đảo, gian lận hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác”.
Từ năm 2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Quyết định số 2617/QĐ-NHNN ngày 28/12/2018“về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường năng lực tiếp cận Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025. Một trong những mục tiêu NHNN đưa ra là, ít nhất 20% các quy trình phải được tự động hóa vào năm 2020, tăng lên 35% vào năm 2025,”bên cạnh đó, trong nhóm giải pháp triển khai còn nêu lên rằng các tổ chức tín dụng chủ động ứng dụng các giải pháp công nghệ trong eKYC. Cơ sở pháp lí đầu tiên tại Việt Nam tạo tiền đề cho hoạt động áp dụng các giải pháp về eKYC là“Nghị định số 87/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 116/2013/NĐ-CP ngày 04/10/ 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền.” Theo đó, Khoản 5 Điều 1 Nghị định số 87/2019/NĐ-CP quy định theo hướng trao quyền cho tổ chức, cá nhân khi giao dịch với khách hàng có thể “được quyết định gặp mặt trực tiếp hoặc không gặp mặt trực tiếp khách hàng khi lần đầu thiết lập mối quan hệ. Trường hợp không gặp mặt trực tiếp khách hàng, đối tượng báo cáo phải đảm bảo có các biện pháp, hình thức và công nghệ để nhận biết và xác minh khách hàng”. Quy định này khá rộng và chưa được cụ thể khi xét đối với những hoạt động kinh doanh tại ngân hàng mang tính đặc thù.
Nhằm tiếp tục mục tiêu cụ thể hóa các quy định về eKYC trong hoạt động mở tài khoản thanh toán,“NHNN đã ban hành Thông tư số 16/2020/TT-NHNN ngày 04/12/2020 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của Thống đốc NHNN hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.”Thông tư này chỉ gói gọn trong việc sửa đổi, bổ sung quy định hoạt động mở tài khoản thanh toán, một trong những phân nhánh hoạt động ngân hàng mà eKYC có thể tiếp cận. Đối với eKYC, ngoài việc tuân thủ các quy định chung về mở, sử dụng tài khoản thanh toán nêu trên, tại Thông tư số 16/2020/TT-NHNN này đã bổ sung các quy định về quy trình mở tài khoản thanh toán bằng phương thức điện tử, cụ thể: Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Thứ nhất, về đối tượng áp dụng: “Chỉ áp dụng đối với khách hàng cá nhân là người Việt Nam, không áp dụng đối với khách hàng cá nhân là người nước ngoài và các đối tượng quy định tại điểm b, c, d Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 23/2014/TT-NHNN (bao gồm người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; người chưa đủ 15 tuổi, người hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người đại diện theo pháp luật; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người giám hộ)”.
Thứ hai, về quy trình mở tài khoản thanh toán, phải đáp ứng các yêu cầu: “(i) Có giải pháp, công nghệ để thu thập, kiểm tra, đối chiếu, đảm bảo sự khớp đúng giữa thông tin nhận biết khách hàng, dữ liệu sinh trắc học của khách hàng với các thông tin, yếu tố sinh trắc học tương ứng trên giấy tờ tùy thân của khách hàng;
Xây dựng quy trình quản lí, kiểm soát, đánh giá rủi ro, trong đó có biện pháp ngăn chặn các hành vi mạo danh, can thiệp, chỉnh sửa, làm sai lệch việc xác minh thông tin nhận biết khách hàng trước, trong và sau khi mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; biện pháp để kiểm tra, xác minh thông tin nhận biết khách hàng, đảm bảo khách hàng thực hiện giao dịch trên tài khoản thanh toán được mở bằng phương thức điện tử là chủ tài khoản thanh toán đó”.
Thứ ba, về hạn mức giao dịch (ghi Nợ) qua tài khoản thanh toán được mở bằng phương thức điện tử: Không vượt quá 100 triệu đồng/tháng/khách hàng.
Hiện nay, việc mở tài khoản thanh toán bằng phương tiện điện tử được thực hiện theo Điều 16 Thông tư số 17/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Ngân hàng Nhà nước quy định việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, các quy định được cụ thể hơn về quy trình, công nghệ, và trách nhiệm của ngân hàng trong việc thu thập và xác minh thông tin sinh trắc học của khách hàng, đối chiếu với các nội dung chính yếu từ Điều 14 Thông tư số 16/2020/TT-NHNN nêu trên, có sự cập nhật như sau:
Thứ nhất, về đối tượng áp dụng: chủ tài khoản thanh toán được phép là khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức (đại diện bởi người đại diện hợp pháp), kể cả khách hàng cá nhân là người nước ngoài, vì quy định chỉ không áp dụng đối với: “tài khoản thanh toán chung, tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ, khách hàng cá nhân theo quy định tại điểm b (Người chưa đủ 15 tuổi, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người đại diện theo pháp luật), c (Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người giám hộ) khoản 1 Điều 11 Thông tư số 17/2024/TT-NHNN, khách hàng cá nhân là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi”. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Thứ hai, về quy trình mở tài khoản thanh toán: yêu cầu ngân hàng phải sử dụng thông tin sinh trắc học và xác minh với dữ liệu mã hóa, điều này cho thấy một mức độ bảo mật và xác minh cao hơn, đó là đối chiếu với “dữ liệu sinh trắc học được thu thập và kiểm tra sinh trắc học hoặc được lưu trong bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa của thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước đã được xác thực chính xác là do cơ quan Công an cấp hoặc thông qua xác thực tài khoản định danh điện tử của người đó do Hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập”. Như vậy, đối với giấy tờ tùy thân khi thực hiện mở tài khoản thanh toán bằng phương tiện điện tử chỉ được dùng thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước.
Thứ ba, không đề cập đến quy định về hạn mức giao dịch (ghi Nợ) vào tài khoản thanh toán đã được mở bằng phương thức điện tử. Như vậy, các ngân hàng cần chủ động trong việc ban hành quy định về hạn mức giao dịch và phương thức xác minh thêm tại quầy, thông qua việc kết hợp với các quy định liên quan đến thanh toán trực tuyến.
Như vậy, các quy định pháp luật hiện hành về eKYC được cụ thể hóa thông qua quy định về quy trình mở tài khoản thanh toán bằng phương thức điện tử. Các ngân hàng thương mại nếu muốn cung cấp dịch vụ mở tài khoản bằng hình thức eKYC buộc phải xây dựng hệ thống quét thông tin, nhận diện khuôn mặt, các đặc điểm sinh trắc học của khách hàng,… đáp ứng yêu cầu về công nghệ, chuẩn hóa dữ liệu và vận hành liên tục.
Kể từ năm 2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành kế hoạch, chỉ thị nhằm nhanh chóng và quyết liệt triển khai Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ việc chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030” theo Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là “Đề án 06”). Điều này đã tác động tích cực quá trình ứng dụng eKYC trong hoạt động ngân hàng. Trong đó, nổi bật là việc cho phép các tổ chức tín dụng được khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, khai thác thông tin trên căn cước công dân gắp chíp và sử dụng tài khoản định danh điện tử (VNeID) do Bộ Công an cung cấp. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Bên cạnh việc ban hành các quy định áp dụng triển khai eKYC vào lĩnh vực ngân hàng, NHNN cũng đã tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống và ngăn ngừa hành vi lừa đảo, gian lận thông qua mở và sử dụng tài khoản thanh toán, đặc biệt công tác kiểm soát sau nhằm kịp thời phát hiện các thông tin định danh sai lệch và các dấu hiệu bất thường trong toàn bộ giai đoạn khách hàng mở và sử dụng eKYC, đây cũng là một lí giải cho việc hạn mức giao dịch thông qua tài khoản mở bằng eKYC bị giới hạn. Có thể kể đến một số quy định như:“Nghị định số 117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 của Chính phủ về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng yêu cầu về việc ban hành các quy định nội bộ về giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin khách hàng của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;”Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 ngày 18/01/2024 (sẽ có hiệu lực vào ngày 01/7/2024) quy định về công tác bảo mật thông tin khách hàng (theo Điều 13. Bảo mật thông tin), đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động ngân hàng (Điều 14. An toàn dữ liệu và bảo đảm hoạt động liên tục). Theo đó, trong quá trình cung ứng các dịch vụ ngân hàng, bao gồm các dịch vụ thực hiện trên phương tiện điện tử, các tổ chức tín dụng phải đảm bảo bí mật thông tin khách hàng, không được cung cấp thông tin cho bên thứ ba khi không có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc không được sự chấp thuận của chính khách hàng đó.
Ngoài việc Ngân hàng Nhà nước đã cho phép các tổ chức tín dụng mở tài khoản bằng hình thức eKYC, Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28/6/2023 của Ngân hàng Nhà nước đã cho phép tổ chức tín dụng cho vay theo phương thức điện tử cũng như quy định việc nhận biết, xác minh thông tin nhận biết khách hàng bằng phương tiện điện tử (eKYC) áp dụng đối với khách hàng là cá nhân – vay vốn phục vụ nhu cầu đời sống, lần đầu thiết lập mối quan hệ, với hạn mức vay tối đa là 100 triệu đồng. Theo đó, các tổ chức tín dụng đã được trao quyền quyết định biện pháp, hình thức, công nghệ phục vụ hoạt động cho vay bằng phương tiện điện tử phù hợp theo quy định. Như vậy, các hoạt động chính của ngân hàng là tiền gửi, tiền vay và thanh toán đều đã được phép thực hiện trên môi trường điện tử. Từ đó càng cho thấy tầm quan trọng của việc hoàn thiện pháp luật về eKYC trong hoạt động ngân hàng. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2023. Theo đó, các ngân hàng phải chịu trách nhiệm rất cao trong việc bảo vệ thông tin khách hàng do bảo vệ dữ liệu cá nhân là điều hết sức quan trọng. Trong tương lai gần, Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 ngày 22/6/2023 đã được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 5 năm 2023 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024, góp phần đảm bảo an toàn thông tin, quyền công dân, bí mật riêng tư cho người dân. Điều này giúp các khách hàng an tâm hơn khi sử dụng các dịch vụ tại ngân hàng, thông qua đó, dữ liệu về thông tin của họ thông qua tài khoản thanh toán và giao dịch phát sinh với ngân hàng, bao gồm cả giao dịch thông qua hình thức eKYC đều sẽ được bảo đảm an toàn thông tin hơn. Có thể thấy, pháp luật Việt Nam đã và đang bắt kịp xu thế về chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng, tích cực xây dựng và ban hành các quy định để các cá nhân, tổ chức có liên quan trong lĩnh vực này có thể áp dụng, phát triển theo hướng hiện đại hóa hơn nữa trong thời gian tới.
Gần đây, theo Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định về triển khai các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng (đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2024), khách hàng khi thực hiện các giao dịch vượt ngưỡng theo quy định của NHNN hoặc khi thực hiện giao dịch đầu tiên khi cài đặt mới hoặc cài đặt lại ứng dụng di động trên thiết bị mới sẽ cần bổ sung bước xác thực sinh trắc học bằng khuôn mặt, cụ thể chuyển tiền qua tài khoản trực tuyến hoặc nạp tiền vào ví điện tử trên 10 triệu đồng phải được xác thực sinh trắc học qua khuôn mặt và vân tay; thanh toán trong ngày vượt quá 20 triệu phải được xác thực bằng sinh trắc học (có thể dùng căn cước công dân gắn chip, tài khoản VNeID hoặc dữ liệu sinh trắc học lưu trong cơ sở dữ liệu của ngân hàng). Kể từ khi quyết định này có hiệu lực, rất nhiều ngân hàng đã đồng loạt triển khai xác thực, định danh, cập nhật căn cước công gân gắn chip của khách hàng để đảm bảo quá trình sử dụng tài khoản thanh toán không bị gián đoạn.
1.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về định danh khách hàng điện tử trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
1.2.1. Quy định và quy trình định danh khách hàng điện tử tại một số ngân hàng
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam (VietinBank) là một trong bốn “ngân hàng quốc doanh” tại Việt Nam, hiện đã ban hành và áp dụng “Quy trình Định danh khách hàng điện tử bằng phương thức điện tử để mở tài khoản thanh toán, phát hành thẻ trực tuyến” ban hành lần đầu vào năm 2021, dựa trên cơ sở pháp luật Việt nam về các quy định có liên quan đến hoạt động ngân hàng, tài khoản thanh toán, giao dịch điện tử và eKYC.
Theo đó, VietinBank định nghĩa khái niệm về định danh khách hàng bằng phương thức điện tử, gọi tắt là eKYC: “là phương thức nhận biết khách hàng trực tuyến, không cần gặp mặt trực tiếp trên nền tảng internet. Dựa trên công nghệ AI (trí tuệ nhân tạo), xác minh thông tin khách hàng, đọc và trích xuất các thông tin trên giấy tờ tùy thân của khách hàng, rút ngắn thời gian nhập liệu và giảm thiểu sai sót mang lại trải nghiệm tốt cho khách hàng. Đồng thời nhận dạng, so sánh khớp đúng khuôn mặt để xác minh danh tính một cách chính xác giữa ảnh chân dung và ảnh trên giấy tờ tùy thân, cũng như tự động phát hiện gian lận, giả mạo giấy tờ tùy thân.” VietinBank cũng quy định giấy tờ tùy thân bao gồm các loại giấy tờ như chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu và quy định “Tài khoản thanh toán trực tuyến” là tài khoản thanh toán được mở theo hồ sơ thông tin khách hàng khởi tạo trên cơ sở các hồ sơ điện tử của giấy tờ và thông tin mà khách hàng khai báo đăng ký thông qua hệ thống định danh khách hàng trực tuyến.
Về đối tượng áp dụng: eKYC bằng phương thức điện tử để mở tài khoản thanh toán, phát hành thẻ trực tuyến: khách hàng là cá nhân người Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam và không thuộc các đối tượng sau: (i) Công dân Mỹ hoặc đối tượng cư trú Mỹ hoặc có địa chỉ thường trí ở Mỹ hoặc có thẻ xanh hoặc là đối tượng nộp thuế thu nhập Mỹ, (ii) Có chủ sở hữu hưởng lợi khác và (iii) Là người nhận ủy thác của ủy thác nước ngoài.
Về nguyên tắc định danh khách hàng qua eKYC: hồ sơ thông tin khách hàng được khởi tạo trên cơ sở đáp ứng yêu cẩu sau:
Ảnh chụp giấy tờ tùy thân được chụp trực tuyến từ bản gốc, các thông tin, hình ảnh trên giấy tờ tùy thân đảm bảo nguyên gốc, không bị chỉnh sửa, đáp ứng hợp lệ các dấu hiện nhận diện thật giả của giấy tờ tùy thân.
Ảnh chụp trực tuyến hình ảnh động các góc của khuôn mặt khách hàng, đảm bảo đầy đủ thông tin nhận diện, hình ảnh trùng khớp với hình ảnh trên giấy tờ tùy thân theo tỷ lệ quy định từng thời kỳ và đảm bảo các yêu cầu về sự khớp đúng đặc điểm nhận dạng, các yếu tố sinh trắc học khác. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Các giao dịch trên tài khoản thuộc hồ sơ mở qua eKYC được thực hiện duy nhất qua ứng dụng ngân hàng có tên “VietinBank iPay”, khách hàng phải xác thực bằng khuôn mặt, không được phép cài đặt hạn mức xác thực giao dịch bằng khuôn mặt như với khách hàng mở trực tiếp tại quầy. Toàn bộ hồ sơ, dữ liệu thực hiện thành công sẽ được ngân hàng thực hiện hậu kiểm.
Về quy định mở tài khoản thanh toán qua eKYC và tại VietinBank iPay: mỗi khách hàng chỉ được mở tối đa 5 tài khoản thanh toán qua eKYC và chỉ được mở tài khoản thanh toán VNĐ.
Về hạn mức và phí: hạn mức giao dịch đối với khách hàng mở tài khoản thanh toán trực tuyến gắn với hồ sơ trực tuyến theo luồng eKYC phải tuân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và VietinBank theo từng thời kỳ. Hạn mức giao dịch/ 1 khách hàng tại thời điểm triển khai eKYC không vượt quá 100 triệu VNĐ/ tháng (không báo gồm các giao dịch gửi tiết kiệm; các giao dịch do ngân hàng chủ động trích nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước tại điểm a khoản 1 điều 6 thông tư 16/2020/TT-NHNN).
- Về quy trình mở tài khoản qua eKYC:
Về quy trình hậu kiểm tài khoản trực tuyến mở qua eKYC: nhân viên nghiệp vụ thực hiện giám sát toàn bộ hồ sơ chứng từ của tất cả khách hàng mở tài khoản tại VietinBank thông qua eKYC thông qua cách thức như kiểm tra nội dung, hình thức giấy tờ, đối chiếu so sánh giấy tờ với ảnh chụp hoặc các chứng từ liên quan đảm bảo khớp đúng, logic; tham chiếu các nguồn dữ liệu khác như Trung tâm Tín dụng Quốc gia, điện lực, thuế, bảo hiểm xã hội,… Thời gian hậu kiểm: hàng ngày.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HD Bank) là một trong những ngân hàng triển khai hoạt động eKYC sớm trong hệ thống, ngay khi Ngân hàng Nhà nước cho phép ứng dụng eKYC trong năm 2022. HD Bank đã ban hành thông báo triển khai ra mắt tính năng eKYC trên ứng dụng ngân hàng điện tử của HD Bank: bao gồm hướng dẫn đăng ký tài khoản iMoney – tài khoản được xác thực từ phương thức eKYC và quy trình eKYC. Theo đó, các thao tác định danh trực tuyến trên ứng dụng ngân hàng điện tử của HD Bank khi thực hiện mở mới tài khoản thanh toán gồm 9 bước: (1) đăng nhập ứng dụng ngân hàng điện tử HD Bank bằng tên đăng nhập và mật khẩu iMoney đã đăng ký; (2) chọn “Định danh khách hàng” tại menu bên trái trang chủ của ứng dụng; (3) chọn “Tôi chấp nhận điều kiện, điều khoản” và “Đồng ý”; (4) chọn loại giấy tờ định danh; (5) cho phép ứng dụng truy cập camera của thiết bị nếu chưa cho phép trước đó; (6) chụp ảnh mặt trước của giấy tờ định danh; (7) chụp ảnh mặt sau của giấy tờ định danh; (8) quét khuôn mặt khách hàng theo hướng dẫn trên ứng dụng; (9) hệ thống tự nhận dạng các thông tin trên giấy tờ tùy thân và so khớp hình ảnh khách hàng với hình ảnh trên giấy tờ tùy thân. Khách hàng kiểm tra lại các thông tin hiển thị và có thể điều chỉnh, sau đó chọn “Tiếp tục” để hoàn tất định danh, thông tin định danh sẽ được cập nhật trên hệ thống ngay sau khi xác thực thành công. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Nhằm tuân thủ các quy định liên quan đến việc thu thập dữ liệu sinh trắc học và xác thực các giao dịch trên kênh ngân hàng điện tử bằng dữ liệu sinh trắc học dã thu thập dành cho khách hàng cá nhân, đáp ứng quy định Luật Căn cước năm 2023 và Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2024, HD Bank đã ban hành quy định hướng dẫn thu thập dữ liệu sinh trắc học từ thẻ CCCD gắn chip và xác thực giao dịch bằng dữ liệu sinh trắc học đã thu thập, cùng hiệu lực với hai văn bản pháp luật nêu trên. Theo đó các thao tác định danh trực tuyến trên ứng dụng ngân hàng điện tử của HD Bank thay đổi từ bước 9 so với quy trình đã nêu trên, cụ thể: (9a) hiển thị màn hình để khách hàng thực hiện quét dữ liệu trên căn cước công dân gắn chip (sử dụng công nghệ NFC – Near Field Communication: là công nghệ giao tiếp không dây tầm ngắn cho phép kết nối hai thiết bị điện tử với nhau để truyền tải dữ liệu khi chúng được đặt gần nhau (khoảng cách dưới 4cm), sau khi quét thông tin từ căn cước công dân gắn chip thành công, hệ thống thực hiện so khớp thông tin với Bộ Công an, nếu thông tin hợp lệ sẽ chuyển sang bước 10, nếu không hợp lệ sẽ chuyển sang thực hiện NFC tại quầy hoặc đổi thiết bị có hỗ trợ công nghệ NFC trực tuyến; (10) đăng ký dịch vụ ngân hàng điện tử, hạn mức giao dịch tài khoản trực tuyến; (11) hệ thống thông báo kết quả đăng ký dịch vụ.
Việc thực hiện quản lý, kiểm soát và đánh giá rủi ro trong quá trình ứng dụng eKYC cũng được HD Bank chú trọng thông qua quy định kiểm soát hồ sơ thông tin eKYC và kiểm tra thông tin khách hàng để phòng chống các hành vi giả mạo, rửa tiền. HD Bank quy định hậu kiểm 100% hồ sơ mở tài khoản trực tuyến trong vòng 24 giờ, áp dụng kiểm soát thêm thông tin khách hàng qua các kênh khác như bảo hiểm xã hội, tổng cục thuế,… nếu có. Vào tháng 6 và tháng 12 hàng năm đơn vị kiểm soát truy xuất dữ liệu khách hàng eKYC đáng ngờ/ giấy tờ tùy thân hết hiệu lực từ hệ thống để rà soát thông tin khách hàng mở và sử dụng tài khoản thanh toán trực tuyến, đảm bảo đúng theo quy định HD Bank từng thời kì và quy định pháp luật hiện hành.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) công bố quy trình mở tài khoản eKYC VPBank với 6 bước rút gọn như sau: (1) tải, cài đặt ứng dụng ngân hàng điện tử VPBank NEO; (2) mở giao diện VPBank NEO, bắt đầu đăng ký mở tài khoản, nhập các thông tin như số điện thoại, email hoặc tài khoản số đẹp nếu khách hàng có nhu cầu; (3) chọn số tài khoản mà khách hàng muốn sở hữu để đăng ký; (4) quét hoặc chụp ảnh 2 mặt giấy tờ tùy thân còn hiệu lực để tải lên và tiến hành nhận diện khuôn mặt theo các chỉ dẫn của hệ thống; (5) điền đầy đủ các thông tin cá nhân như họ trên, ngày sinh, địa chỉ, sau đó lựa chọn chi nhánh hoặc phòng giao dịch để thuận tiện giao dịch; (6) hệ thống sẽ gửi mã OTP xác nhận về số điện thoại mà khách hàng dùng để đăng ký xác nhận danh tính, tiến hành điền vào để xác nhận kết thúc quá trình mở tài khoản mới bằng eKYC. Đối với khách hàng cá nhân khi mở tài khoản bằng eKYC thành công sẽ được trải nghiệm các dịch vụ chuyển khoản, nạp tiền vào các ví điện tử, thanh toán dịch vụ,… với hạn mức nạp tiền tối đa 10.000.000 đồng/ngày và hết hạn khi tổng hạn mức nạp tiền đạt 300.000.000 đồng. Không chỉ triển khai áp dụng eKYC cho khách hàng cá nhân, VPBank còn tiên phong sáng tạo giải pháp mở tài khoản doanh nghiệp trực tuyến 100% với tiêu chí siêu tốc – an toàn – hiện đại, đây là dịch vụ mà hiện nay VietinBank và HD Bank vẫn chưa triển khai trên thị trường. Để tiếp cận được dịch vụ này, khách hàng doanh nghiệp cần cung cấp hồ sơ mở tài khoản, điền các thông tin theo biểu mẫu tạo sẵn, yêu cầu phải có chữ ký số tích hợp để xác nhận về việc mở tài khoản, ngân hàng sẽ tiến hành eKYC đối với người đại diện pháp luật của doanh nghiệp.
Nhìn chung, dựa theo quy định pháp luật hiện hành, các ngân hàng đã cụ thể hóa các quy trình nội bộ cụ thể, chi tiết về eKYC bằng phương thức điện tử để mở và sử dụng các dịch vụ liên quan đến tài khoản thanh toán. Về sơ bộ, các bước thực hiện trong quy trình xác thực danh tính khách hàng là tương tự nhau giữa các ngân hàng, trong đó yếu tố bắt buộc là khách hàng có sử dụng thiết bị điện tử tương thích với công nghệ mà ngân hàng áp dụng để có thể xác thực sinh trắc học và đọc dữ liệu trên giấy tờ tùy thân. Ngoài việc rà soát, sửa đổi quy định thực hiện, các ngân hàng cũng thường xuyên cải tiến, cập nhật ứng dụng ngân hàng điện tử nhằm đem đến trải nghiệm hiện đại và linh hoạt với nhiều đối tượng khách hàng trong quá trình sử dụng dịch vụ ngân hàng.
1.2.2. Kết quả đạt được trong quá trình thực hiện pháp luật về định danh khách hàng điện tử Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Năm 2023 vừa qua thuộc giai đoạn triển khai kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo quyết định phê duyệt số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của NHNN, đồng thời cũng là năm hưởng ứng thông điệp của Thủ tướng Chính phủ “Năm 2023 – năm Dữ liệu số, tạo lập và khai thác dữ liệu để tạo ra giá trị mới”. Với kế hoạch hành động cụ thể và những biến chuyển tích cực đã mang lại một số kết quả nhất định. Theo NHNN, các chỉ số thanh toán không dùng tiền mặt tăng cao về số lượng và giá trị giao dịch. “Số lượng giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sự chuyển đổi từ thanh toán bằng tiền mặt sang thanh toán số đang được khách hàng ưa chuộng. So với cùng kỳ năm 2022, trong 8 tháng đầu năm 2023, giao dịch qua Internet tăng 76% về số lượng và 1,79% về giá trị; giao dịch qua kênh QR code tăng 152% về số lượng và 301% về giá trị; giao dịch qua mobile tăng 65% về số lượng và 77% về giá trị; doanh thu từ thị trường thanh toán điện tử đạt 20,5 tỷ USD; giao dịch rút tiền mặt qua ATM giảm 4% về số lượng và giảm 6% về giá trị,… đã góp phần thúc đẩy nhanh hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế”. Bước đệm cho việc tăng trưởng này là sự đẩy mạnh ứng dụng eKYC trong các hoạt động giao dịch của khách hàng liên quan đến tài khoản thanh toán nói riêng và các giao dịch ngân hàng nói chung.
Với bước đầu áp dụng eKYC trong việc xác minh danh tính khi mở tài khoản thanh toán trực tuyến và từ tài khoản đó, khách hàng có thể thao tác những giao dịch khác như chuyển tiền, mở sổ tiết kiệm online, thanh toán các loại hóa đơn… Đặc biệt tại một số ngân hàng có quá trình “số hóa” hiện đại hơn, đã cập nhật thêm các tính năng đăng kí khoản vay chỉ bằng phương thức điện tử trên ứng dụng ngân hàng. Mặc dù vẫn còn giới hạn về hạn mức giao dịch, song đây vẫn là tín hiệu đáng mong đợi cho quá trình chuyển đổi số của ngành Ngân hàng. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Kể từ khi NHNN cho phép các ngân hàng áp dụng phương thức eKYC trong việc mở tài khoản cho khách hàng, ngày 26/5/2023 tại TP. Hồ Chí Minh, tại Họp báo công bố chuỗi sự kiện hưởng ứng Ngày không tiền mặt năm 2023 (16/6/2019 – 16/6/2023), Vụ Thanh toán – NHNN cho biết “trong năm qua, các dịch vụ thanh toán trực tuyến phát triển mạnh mẽ; những giải pháp thanh toán mới, hiện đại, tiết kiệm chi phí như thanh toán qua mã phản hồi nhanh (QR code), thanh toán phi tiếp xúc (contactless)… đã được các tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán áp dụng, tích hợp vào sản phẩm, dịch vụ để nâng cao tiện ích, an toàn bảo mật, đem lại lợi ích lớn, giá trị thiết thực cho khách hàng. Nhiều dịch vụ ngân hàng được thực hiện hoàn toàn trên kênh số với quy trình, thủ tục đơn giản, nhanh chóng, có ngay kết quả. Theo đó, tính đến cuối năm 2022, có 40 ngân hàng đã triển khai chính thức quy trình mở tài khoản thanh toán eKYC với hơn 11,9 triệu tài khoản thanh toán mở bằng eKYC đang hoạt động”.
Theo họp báo thông tin về sự kiện chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2024 đã thống kê: “tính đến tháng 12/2023, các nghiệp vụ cơ bản đã được số hóa hoàn toàn 100% (tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kì hạn, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, mở thẻ ngân hàng, ví điện tử, chuyển tiền, cho vay…); phần lớn các tổ chức tín dụng tại Việt Nam có tỉ lệ trên 90% giao dịch thực hiện trên kênh số; 77,41% người Việt Nam trưởng thành có tài khoản ngân hàng, hơn 35 triệu tài khoản thanh toán và khoảng 14,9 triệu thẻ được mở bằng phương thức điện tử eKYC đang hoạt động. Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt và hoạt động ngân hàng số trong hai tháng đầu năm 2024 so với cùng kì năm 2023 tiếp tục đạt tỉ lệ tăng trưởng khá: Giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 59,6% về số lượng và 32,73% về giá trị; qua kênh internet tăng tương ứng 51,60% và 23,88%; qua kênh điện thoại di động tăng tương ứng 63,24% và 33,43%; qua phương thức QR code tăng tương ứng 846,41% và 1.146,14%; qua POS tăng 2,53% và 3,56%”. Tại buổi họp báo cũng đã tổng kết kể từ khi triển khai Đề án 06 đã có 48 tổ chức tín dụng đã và đang triển khai hoạt động xác thực khách hàng bằng căn cước công dân có gắn chip thông qua ứng dụng điện thoại, 14 tổ chức tín dụng đang trong quá trình triển khai thử nghiệm ứng dụng tài khoản định danh và xác thực điện tử (VNeID) vào các nghiệp vụ ngân hàng như: mở tài khoản thanh toán, xác thực giao dịch thanh toán, đối chiếu, xác thực thông tin khách hàng.
Có thể liệt kê một số ngân hàng điển hình đi đầu trong việc áp dụng eKYC trong hoạt động liên quan đến tài khoản thanh toán với việc tạo lập mô hình ngân hàng điện tử chuyên biệt, cụ thể như: kết quả triển khai eKYC tại VietinBank
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank): VPBank đã xây dựng một nền tảng công nghệ sinh trắc học (biometrics) toàn diện, kết hợp với công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và chữ kí điện tử (eSignature) trong việc triển khai eKYC. “Giải pháp eKYC do VPBank phát triển cho phép ngân hàng này vượt qua mọi rào cản địa lí và thời gian để định danh khách hàng 100% online mà không cần gặp mặt trực tiếp như quy trình truyền thống tại quầy. Với bước đi đột phá này, VPBank là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam cho phép khách hàng mở tài khoản thanh toán và thực hiện giao dịch hoàn toàn online mà không cần chờ đợi tại quầy giao dịch cùng với cơ hội trải nghiệm các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số của VPBank”.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong (TPBank) với mô hình Livebank: Livebank giống như một mô hình giao dịch trực tuyến thông minh, tự động được ra mắt vào năm 2017. Do đó, ngay khi NHNN cho phép triển khai eKYC, TPBank là một trong những ngân hàng đi đầu áp dụng hình thức eKYC vào các máy Livebank được đặt tại nhiều trụ điểm tương tự các trụ ATM. Thông qua mô hình Livebank, khách hàng có thể làm rất nhiều giao dịch mong muốn mà không cần đến ngân hàng như chuyển tiền, rút tiền, gửi tiết kiệm, mở tài khoản thanh toán… thông qua một “giao dịch viên online” hiển thị hướng dẫn tại các điểm máy. LiveBank hoạt động 24/7, cả ngày nghỉ và lễ tết, thủ tục mở tài khoản thanh toán bằng eKYC tại Livebank chỉ mất khoảng 5 phút, sau đó thực hiện các giao dịch khác theo ý muốn. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam (VietinBank): ứng dụng ngân hàng điện tử của VietinBank là VietinBank Ipay lần đầu ra mắt vào năm 2010 để thực hiện các giao dịch tài chính với phương thức xác thực hai tầng gồm mật khẩu và mã xác thực gửi qua số điện thoại. Đến năm 2021, bằng việc kết nối công nghệ eKYC vào ứng dụng VietinBank iPay đã giúp VietinBank trở thành ngân hàng số toàn diện. VietinBank là “ngân hàng quốc doanh” đầu tiên của Việt Nam chính thức triển khai eKYC tới khách hàng, ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 16/2020/TT-NHNN bổ sung quy định về mở tài khoản thanh toán của cá nhân bằng phương thức điện tử, thông tư có hiệu lực từ ngày 05/3/2021. Để triển khai eKYC, VietinBank đã sử dụng kết hợp các công nghệ: sinh trắc học, trí tuệ nhân tạo, so sánh khuôn mặt.23 Theo công bố tại Hội nghị Nhà đầu tư và Chuyên gia phân tích năm 2024 vào ngày 01/3/2024, trong năm 2023 ứng dụng VietinBank iPay tiếp tục thu hút gần 7,8 triệu KH sử dụng, tăng 23% so với năm 2022; đạt 1.180 triệu giao dịch (tương đương hơn 98 triệu giao dịch được thực hiện mỗi tháng), tăng 58,5% so với năm 2022. Tỷ trọng giao dịch qua kênh ngân hàng điện tử năm 2023 đạt 91,6% tổng giao dịch khách hàng cá nhân, tăng trưởng 5,8% so với năm 2022.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank): Ngân hàng này bắt đầu áp dụng eKYC vào tháng 8/2020 nhằm kịp thời hỗ trợ khách hàng giao dịch online khi dịch Covid 19 tái bùng phát, thông qua việc cho phép khách hàng mở tài khoản iMoney ngay trên ứng dụng điện tử của ngân hàng. Để hoàn tất giao dịch mở tài khoản thanh toán, ứng dụng sẽ tự nhận dạng các thông tin và hình ảnh chụp chứng minh nhân dân/căn cước công dân và xác thực khuôn mặt là sẽ mở tài khoản chỉ trong vòng hai phút. Sau đó, khách hàng có thể thực hiện giao dịch trực tuyến với nhiều tính năng như thanh toán hóa đơn, nạp tiền điện thoại, đặt vé tàu xe… theo nhu cầu. Thống kê cho thấy, 40% khách hàng thực hiện các giao dịch online trên nền tảng ngân hàng số HDBank thường xuyên, tăng trưởng 25% so với các tháng trước khi triển khai eKYC. Số lượng khách hàng mới tăng thêm 20% đến từ tháng đầu triển khai eKYC. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Hiện nay, còn rất nhiều ngân hàng tại Việt Nam đang áp dụng eKYC nhờ vào tính năng tiện lợi, nhanh chóng. Việc duy trì liên tục hoạt đông ngân hàng trong giai đoạn Covid năm 2020 – 2021 đã đặt ra rất nhiều thách thức cho các ngân hàng, là cơ hội cho những cải tiến công nghệ số, điển hình là việc ứng dụng eKYC vào các giao dịch điện tử cho khách hàng trải nghiệm. Các ứng dụng ngân hàng điện tử không chỉ là một sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, mà còn là một hệ sinh thái số hóa, phục mọi nhu cầu đời sống hàng ngày của khách hàng. Ngoài việc thực hiện các giao dịch thanh toán, trên nền tảng này còn xuất hiện các liên kết dịch vụ của bên thứ ba như đặt vé xe, vé máy bay, thanh toán hóa đơn, mua sắm trực tuyến, mua bảo hiểm,… Để triển khai an toàn và có hiệu quả các dịch vụ kết hợp này, khách hàng tối thiểu phải được định danh. Việc ứng dụng eKYC giúp dữ liệu quản lí của ngân hàng được truyền tải tức thời và tự động hóa, tạo dựng cho ngân hàng một kho dữ liệu khách hàng đồng nhất trong hệ thống nội bộ mà không cần mất quá nhiều thời gian từ sự can thiệp thủ công như trước đây. Điều này giúp ngân hàng tiết kiệm được một lượng lớn chi phí cho nhân sự so với quá trình vận hành truyền thống. Ngoài ra, hồ sơ khách hàng cũng được lưu trữ lâu dài, có thể nhanh chóng trích xuất và truy vết các giao dịch đáng ngờ, lừa đảo khi cần.
1.2.3. Những hạn chế và khó khăn trong quá trình thực hiện pháp luật về định danh khách hàng điện tử Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
- Về quy định:
Thứ nhất, một số quy định còn thiếu rõ ràng hoặc chưa được đồng bộ, thiếu định nghĩa rõ ràng: hiện nay dù có nhiều quy định liên quan đến eKYC nhưng chưa có một định nghĩa cụ thể về các khái niệm quan trọng như “định danh khách hàng điện tử”, “thông tin khách hàng”, hay “dữ liệu nhận dạng”, dẫn đến cách hiểu khác nhau và chưa thống nhất trong cách diễn đạt. Các ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc xây dựng quy trình nội bộ và chính sách bảo mật dữ liệu khách hàng, điều này có thể dẫn đến việc thu thập thông tin không đầy đủ hoặc không đúng quy định, làm tăng rủi ro vi phạm pháp luật. Bên cạnh đó, đối với nhân viên làm việc trong lĩnh vực ngân hàng cũng khó tiếp cận đúng và đủ sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mình trong quá trình đào tạo, giảm hiệu quả tư vấn cho khách hàng.
Thứ hai, chưa đa dạng các phương thức nhận dạng khách hàng. Trong quá trình thực hiện chuyển đổi số hiện nay, tại nhiều ngân hàng đang áp dụng eKYC vẫn còn trường hợp công nghệ chưa đủ mạnh để đảm bảo quá trình này diễn ra an toàn. Hiện nay, tại Việt Nam, eKYC chủ yếu sử dụng hình thức nhận dạng khuôn mặt, tuy nhiên, khuôn mặt có thể thay đổi theo thời gian hoặc do các biến cố trong cuộc sống, vì vậy có thể xem xét đến việc bổ sung “chữ ký điện tử”, vân tay,… như là một hình thức xác thực bổ sung để tăng thêm tính cá nhân hóa của khách hàng đó. Sau khi khách hàng đến trực tiếp quầy giao dịch để cập nhật chữ ký, giao dịch viên có thể đối chiếu thêm để xác định các thông tin khách hàng trùng khớp với dữ liệu khách hàng cung cấp trực tiếp tại quầy.
Thứ ba, thiếu quy định rõ ràng về trách nhiệm bảo mật thông tin trong các văn bản pháp luật liên quan đến eKYC, có thể nêu ra những vấn đề sau:
Thiếu trách nhiệm cụ thể cho các bên liên quan: Các quy định hiện hành chưa nêu rõ trách nhiệm của từng tổ chức trong chuỗi cung ứng dịch vụ tài chính. Ví dụ, không có quy định rõ ràng về trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ thanh toán, ngân hàng, và các bên thứ ba trong việc bảo mật thông tin khách hàng. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Không có yêu cầu cụ thể về quy trình bảo mật: Các quy định có thể chỉ đề cập đến nguyên tắc bảo mật chung mà không yêu cầu chi tiết về cách thực hiện. Điều này dẫn đến tình trạng mỗi tổ chức tự xây dựng quy trình bảo mật theo cách riêng, có thể không hiệu quả hoặc không đáp ứng đủ tiêu chuẩn cần thiết.
Thiếu quy định về việc thông báo vi phạm: Nhiều quy định không yêu cầu các tổ chức phải thông báo cho khách hàng hoặc cơ quan chức năng trong trường hợp có vi phạm bảo mật thông tin. Điều này có thể khiến cho khách hàng không được biết đến các rủi ro liên quan đến thông tin cá nhân của họ.
Không nêu rõ hậu quả pháp lý: Các quy định không chỉ ra rõ ràng hậu quả pháp lý đối với các tổ chức nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo mật thông tin. Điều này có thể dẫn đến việc các tổ chức không đủ động lực để đầu tư vào bảo mật thông tin.
Thiếu cơ chế giám sát và kiểm tra: Không có quy định cụ thể về việc cơ quan chức năng nào sẽ giám sát và kiểm tra việc thực hiện trách nhiệm bảo mật thông tin của các tổ chức. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc đảm bảo các tổ chức tuân thủ quy định.
Không có khung đánh giá rủi ro: Các quy định có thể thiếu một khung pháp lý rõ ràng cho việc đánh giá rủi ro bảo mật thông tin. Điều này khiến các tổ chức gặp khó khăn trong việc xác định mức độ bảo vệ cần thiết cho thông tin khách hàng.
- Về quá trình triển khai:
Thứ nhất, nhân viên tại các ngân hàng thường chào bán dịch vụ ngân hàng điện tử thông qua gọi điện, đầu mối chi lương tại các doanh nghiệp hoặc trực tiếp tại quầy, mà chưa có sự kết nối thông qua các ứng dụng của các đơn vị sự nghiệp công lập như hệ thống dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội,… Đây là các kênh có lượng dữ liệu khách hàng rất lớn và có nhiều tiềm năng khai thác cho ngân hàng. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Bên cạnh đó, quy định eKYC hiện tại dù đã cho phép khách hàng thực hiện cập nhật gói tài khoản, hạn mức giao dịch sau khi cập nhật chữ ký, xác thực tại quầy, tuy nhiên chưa ban hành quy định chi tiết cho phép khách hàng cập nhật thay đổi giấy tờ tùy thân trên ứng dụng điện tử. Thực tế nhiều khách hàng đang trong quá trình chuyển đổi từ chứng minh nhân dân sang thẻ căn cước hoặc đổi mới thẻ căn cước đã hết hạn, nhưng phải tốn thời gian ra quầy cập nhật trong khi bước này có thể làm trên ứng dụng điện tử kết hợp với xác thực định danh điện tử giữa khuôn mặt và giấy tờ tùy thân cũ/ mới.
Thứ hai, quá trình thực hiện mở mới tài khoản và xác thực điện tử đôi khi gặp trục trặc về đường truyền hoặc hệ thống lỗi mà khách hàng không được nhận thông báo của hệ thống hoặc nhân viên hướng dẫn thực hiện, gây mất thời gian hoặc có thể bỏ lỡ khách hàng mới; bên cạnh đó, ứng dụng điện tử cũng chưa có mục ghi nhận lỗi/ khiếu nại, đóng góp ý kiến từ khách hàng ngay trên ứng dụng, mà khách hàng chỉ có thể thông tin qua số điện thoại của Tổng đài chăm sóc khách hàng chung hoặc liên hệ trực tiếp tại quầy.
1.3. Pháp luật quốc tế về định danh khách hàng điện tử và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hoạt động định danh khách hàng điện tử đã được hình thành và phát triển rất sớm trên thế giới. Nhiều quốc gia đã ban hành quy định pháp luật cụ thể về hoạt động này như: Ở Ấn Độ quy định trong Đạo luật Phòng, chống rửa tiền năm 2002 (Đạo luật PML) hay Quy định Aadhaar (Đạo luật Aadhaar năm 2016); Ở Đức được thể hiện trong Thông tư số 3/2017 về thủ tục nhận dạng video; tại Liên minh Châu Âu (EU) ban hành hàng hoạt các văn bản pháp luật về eKYC như Quy định 910/2014 của EU về nhận dạng điện tử (eIDAS), Chỉ thị 2018/1673 về chống rửa tiền (AMLD), Chỉ thị 2015/2366 về Dịch vụ thanh toán (PSD2) Quy định 2016/679 của EU về bảo vệ dữ liệu chung (GDPR) và Quy định 2024/1183 về khung nhận dạng kỹ thuật số (eIDAS 2.0),… Trong khi đó, tại Việt Nam, hoạt động eKYC được hình thành từ một số quy định cho phép thực hiện eKYC và nằm rải rác tại một số quy định pháp luật khác nhau. Cụ thể một số điểm nổi bật mà Việt Nam có thể tham khảo tại các quốc gia: Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Tại Ấn Độ – một trong những nước đi đầu trong lĩnh vực triển khai eKYC đã quy định một trong những nguyên tắc quan trọng trong eKYC là nguyên tắc giảm thiểu dữ liệu. eKYC dựa trên Quy định Aadhaar cho phép xác minh danh tính và địa chỉ của khách hàng bằng phương pháp điện tử thông qua xác thực Aadhaar, làm cho toàn bộ quy trình khi thực hiện sẽ không cần đến giấy tờ. Khách hàng đồng ý (bằng cách cung cấp sinh trắc học hoặc mã xác thực OTP) cho dịch vụ eKYC để tạo các bằng chứng nhận dạng và bằng chứng địa chỉ điện tử. Phạm vi dữ liệu đã được xác định rõ ràng và việc sử dụng eKYC chỉ được giới hạn trong các mục đích định danh khách hàng. Đạo luật PML quy định rõ ràng rằng, để xác định khách hàng là chủ sở hữu thụ hưởng, xác thực hoặc xác minh ngoại tuyến, thông tin sinh trắc học cốt lõi hoặc số Aadhaar của họ sẽ không được lưu trữ. Đạo luật Aadhaar năm 2016 cũng bắt buộc một thực thể yêu cầu không được lưu trữ, xuất bản hoặc chia sẻ thông tin sinh trắc học cốt lõi cho bất kỳ mục đích nào hoặc giữ một bản sao của thông tin này. Tuy nhiên, Đạo luật Aadhaar năm 2016 cho phép KUA lưu trữ, với sự đồng ý của người giữ số Aadhaar, dữ liệu eKYC của người giữ số Aadhaar nhận được khi xác thực eKYC ở dạng mã hóa và sau đó chia sẻ dữ liệu eKYC với bất kỳ cơ quan nào khác khi nhận được sự đồng ý từ chủ sở hữu số Aadhaar cho mục đích đó. Nếu chủ sở hữu số Aadhaar yêu cầu hủy chia sẻ thông tin, KUA sẽ xóa mọi dữ liệu eKYC và không chia sẻ thêm.26 Quy định này rất tối ưu trong việc bảo vệ người dùng và tôn trọng quyền riêng tư về dữ liệu của họ, đáp ứng được mục tiêu tăng cường bảo mật và minh bạch hóa thông tin trong hoạt động eKYC.
Tại Đức – một trong những quốc gia tiên phong áp dụng mô hình eKYC qua video, theo quy định Thông tư 3/2017 về thủ tục nhận dạng video quy định rõ các chủ thể tham gia vào eKYC gồm: Tổ chức tín dụng, tổ chức dịch vụ tài chính, tổ chức thanh toán, tổ chức tiền điện tử, doanh nghiệp và những người thuộc nội dung của mục 2 (1) số 2c của Đạo luật rửa tiền của Đức, các công ty quản lý tài sản, chi nhánh của các công ty quản lý Liên minh châu Âu và các công ty quản lý AIF nước ngoài, các công ty quản lý AIF nước ngoài mà Cộng hòa liên bang Đức là quốc gia thành viên tham chiếu và được giám sát bởi Cơ quan Giám sát tài chính liên bang Đức theo mục 57 (1) câu 3 của Bộ luật Đầu tư Đức, các công ty bảo hiểm cung cấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hoặc hợp đồng bảo hiểm tai nạn có hoàn lại phí bảo hiểm cũng như các công ty nắm giữ tài chính và công ty nắm giữ tài chính hỗn hợp tại Cộng hòa liên bang Đức. Đối chiếu với quy định tại Việt Nam hiện nay, theo khoản 1 Điều 16 Thông tư số 17/2024/TT-NHNN thì chủ thể được thực hiện mở thanh toán bằng phương thức điện tử bao gồm ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Ngoài ra, theo quy định tại Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022, chủ thể thực hiện định danh khách hàng điện tử gồm: (i) Tổ chức tài chính; (ii) Tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành, nghề phi tài chính có liên quan; (iii) Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức nước ngoài, người nước ngoài, tổ chức quốc tế có giao dịch với tổ chức tài chính, tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành, nghề phi tài chính có liên quan; (iv) Tổ chức, cá nhân khác và các cơ quan có liên quan đến phòng, chống rửa tiền. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Tại Liên minh Châu Âu (EU), theo Quy định 2016/679 của EU về bảo vệ dữ liệu chung, Điều 22 quy định về việc xử lý dữ liệu tự động yêu cầu mọi công nghệ, chẳng hạn như trí tuệ nhân tạo (AI) hoặc nhận dạng sinh trắc học, phải đảm bảo quyền của khách hàng và cung cấp cơ chế kiểm tra, minh bạch trong quy trình xác minh danh tính, đặc biệt khi áp dụng cho việc chống rửa tiền (Kylmänen, 2018). Điều này giúp tăng cường độ chính xác và tính xác thực trong xác minh danh tính, giảm thiểu gian lận trong các giao dịch tài chính liên quan đến rửa tiền. Ngoài ra, Điều 97 Chỉ thị 2015/2366 về Dịch vụ thanh toán yêu cầu sử dụng ít nhất hai yếu tố bảo mật khác nhau, chẳng hạn như sinh trắc học hoặc mã OTP trong quy trình xác minh danh tính và giao dịch tài chính (Bundesbank, 2019). Ngoài ra, về sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia trong xác minh khách hàng, Điều 6 Quy định 2016/679 của EU về bảo vệ dữ liệu chung quy định dữ liệu cá nhân có thể được xử lý và sử dụng từ các cơ sở dữ liệu quốc gia khi có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu hoặc khi việc xử lý là cần thiết để thực hiện hợp đồng, thực hiện nghĩa vụ pháp lý, hoặc vì lợi ích hợp pháp của các tổ chức liên quan (Leonard, 2014). Bên cạnh đó, Điều 13, Điều 14 Quy định 910/2014 của EU về nhận dạng điện tử yêu cầu các quốc gia thành viên thiết lập cơ sở dữ liệu định danh điện tử quốc gia và cho phép sử dụng những cơ sở dữ liệu này trong các dịch vụ nhận dạng điện tử, nhằm tăng cường tính chính xác và bảo mật khi thực hiện các giao dịch điện tử xuyên biên giới. Tại Việt Nam, mô hình ứng dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư như trên cũng đang trong quá trình thử nghiệm tại một số ngân hàng– thuộc kế hoạch triển khai Đề án 06, cho phép kết nối ứng dụng dữ liệu về dân cư (VNEID) với Ngân hàng để khai thác thông tin trong quá trình định danh và xác thực điện tử. Do đó, có thể tham khảo các quy định của Liên minh Châu Âu.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
Trong những năm gần đây, hoạt động eKYC đã trở thành xu hướng phổ biến trong hoạt động ngân hàng và cung ứng dịch vụ thanh toán của người dân. Nhu cầu chuyển đổi số và tối ưu hóa quy trình giao dịch dịch vụ ngân hàng trực tuyến đã thúc đẩy các ngân hàng áp dụng quy định pháp luật kết hợp với các công nghệ eKYC. Tại Việt Nam đã ban hành một số quy định liên quan đến eKYC, tạo ra cơ sở pháp lý cho việc áp dụng eKYC trong ngân hàng, các quy định đang dần hoàn thiện sau quá trình ứng dụng, triển khai nhằm phù hợp với thực tiễn. Hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam đã đưa ra thị trường các ứng dụng điện tử, quy trình xác thực, định danh khách hàng. Các con số tăng trưởng về lượng tài khoản mở mới thông qua định danh điện tử, các giao dịch trực tuyến không dùng tiền mặt,… cho thấy sự chuyển mình mạnh mẽ trong quá trình chuyển đổi số ngành ngân hàng, với nhiều cơ hội và thách thức. Việc áp dụng eKYC không chỉ giúp hoạt động ngân hàng phù hợp với xu thế công nghệ hiện đại mà còn tăng sự bảo mật và nâng cao trải nghiệm khách hàng, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng trong kỷ nguyên số. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng không tránh khỏi những khó khăn, bất cập gây gián đoạn. Để hoạt động eKYC được hiệu quả và hoàn thiện hơn trong tương lai, rất cần thiết và nhanh chóng tìm tòi, nhìn nhận và đánh giá các khó khăn về công nghệ, bất cập, thiếu thông tin về pháp lý hay lỗ hỏng của quy định nội bộ ngân hàng, nhất là tại các ngân hàng nhỏ và vừa. Các cơ quan ban ngành, NHNN và hệ thống ngân hàng cần cùng nhau xây dựng và triển khai mạnh mẽ các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước, thị hiếu và nhu cầu của khách hàng để tăng cường sự phát triển quá trình số hóa ngân hàng theo kịp với tốc độ phát triển công nghệ, hội nhập quốc tế. Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về định danh khách hàng điện tử

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng định danh khách hàng điện tử trong NH […]