Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương Việt Nam Trong Thời Gian Qua dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Do đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi sang kinh tế thị trường, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để phát triển kinh tế, chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam đã có những thay đổi vượt bậc, dẫn theo sát với những dấu hiệu của thị trường và có những tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu. Để làm rõ thực trạng này, trong chương 2, tác giả sẽ phân tích rõ nét hơn về thực trạng của tỷ giá hối đoái, thực trạng của ngoại thương Việt Nam và đánh giá tác động của tỷ giá hối đoái tới ngoại thương thông qua việc sử dụng mô hình lực hấp dẫn.
2.1. Thực trạng tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam.
Để có thể phân tích, đánh giá một cách chính xác tác động của tỷ giá tới cán cân thương mại Việt Nam, chúng ta chia diễn biến tỷ giá theo các giai đoạn sau:
2.1.1.Giai đoạn trước 1998
Trong giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đóng cửa và hướng nội, là thời kỳ của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Với cơ chế quản lý độc quyền về ngoại thương và ngoại hối, nhà nước Việt Nam can thiệp trực tiếp vào việc xác định giá ngoại tệ và tồn tại chế độ tỷ giá cố định – đa tỷ giá. Các bạn hàng của nước ta chủ yếu là các nước xác hội chủ nghĩa trong hội đồng tương trợ kinh tế. Phương pháp xác định tỷ giá trong giai đoạn này là dựa trên cơ sở so sánh sức mua của hai đồng tiền và sau đó được quy định thành mức tỷ giá được thỏa thuận trong các hiệp định song phương, đa phương giữa các nước XHCN. Tỷ giá hối đoái thường cố định trong một thời gian dài.
Một đặc trưng nữa của tỷ giá trong giai đoạn này là chế độ đa tỷ giá, tức là việc tồn tại song song nhiều loại tỷ giá: tỷ giá mậu dịch, tỷ giá phi mậu dịch, tỷ giá kết hối nội bộ và tỷ giá kiều hối.
Tỷ giá mậu dịch (còn được gọi là chính thức) được xác định dựa trên cơ sở so sánh giá xuất khẩu bằng VND và giá ngoại tệ của những mặt hàng xuất khẩu đó. Đây là tỷ giá dùng trong thanh toán có liên quan đến mua, bán hàng hóa, dịch vụ vật chất giữa các nước XHCN.
Tỷ giá phi mậu dịch là tỷ giá dùng trong thanh toán, chi trả hàng hóa hoặc dịch vụ vật chất không mang tính thương mại, như chi về ngoại giao, đào tạo, hội thảo… Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Tỷ giá kết toán nội bộ được tính trên cơ sở tỷ giá chính thức cộng thêm hệ số phần trăm theo từng nhóm hàng nhằm bù lỗ cho các đơn vị xuất khẩu. Tỷ giá này không công bố ra ngoài mà chỉ áp dụng trong thanh toán nội bộ. Nó thoát ly tỷ giá mậu dịch nhằm bù đắp những khoản thua lỗ trong kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp nhà nước. Đây thực chất là một hình thức bù lỗ có tính chất bao cấp thông qua tỷ giá.
Tỷ giá kiều hối được tính bằng tỷ giá chính thức cộng thêm tỷ lệ phần trăm có tính chất phụ thêm vào tỷ giá chính thức đối với ngoại tệ thuộc khu vực các các nước tư bản nhằm khuyến khích các dòng ngoại tệ mạnh từ những nước này chảy vào Việt Nam.
Với chế độ tỷ giá trên, các yếu tố tác động tới tỷ giá hối đoái như lãi suất, lạm phát, cung – cầu ngoại hối không được xét khi xác định tỷ giá hối đoái. Tỷ giá chính thức có sự chênh lệch khác xa so với giá cả hình thành trên thị trường chợ đen. Kể từ năm 1996, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1995) về đổi mới nền kinh tế, tỷ giá hối đoái chính thức đã nhiều lần được được điều chỉnh và ngày càng tiếp cận với thị trường tự do, chênh lệch hai loại tỷ giá hối đoái giảm từ 666.6 % năm 1994 còn 66,6% năm 1997.
- Bảng 2.1.Diễn biến tỷ giá hối đoái thời kỳ 1994 – 1997
Thời kỳ này, đồng Việt Nam được định giá quá cao so với các đồng tiền khác gồm cả các đồng tiền của các nước XHCN và các đồng tiền tự do chuyển đổi. Chế độ tỷ giá hối đoái cố định với cơ chế quản lý tập trung dẫn đến hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn.
Tóm lại, chế độ tỷ giá cố định – đa tỷ giá của Việt Nam trong giai đoạn này do nhà nước độc quyền xác định mà không tính đến các yếu tố cung cầu trên thị trường. Điều này đã làm triệt tiêu môi trường và điều kiện để hình thành, phát triển thị trường ngoại hối, nơi hình thành nên tỷ giá thị trường. Chế độ tỷ giá này đã gây nhiều khó khăn trong việc quản lý, điều hành trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ.
2.1.2. Giai đoạn 1998 đến 2008
Có thể nói đây là giai đoạn có dấu mốc quan trọng trong việc lần đầu tiên dỡ bỏ thế độc quyền của nhà nước trong kinh doanh ngoại hối. Nghị định 53/HĐBT ra đời, quy định về việc tách hệ thống ngân hàng Việt Nam từ một cấp thành hai cấp, bao gồm Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện chức năng quản lý vĩ mô và hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ và tín dụng. Tỷ giá ngoại tệ do NHNN công bố được xác định dựa trên tổng hợp các yếu tố như lãi suất, lạm phát, cung cầu ngoại hối…Tỷ giá mua bán các NHTM được phép dựa trên cơ sở tỷ giá chính thức do NHNN công bố cộng trừ theo biên độ cho phép.
Để giảm bớt chênh lệch tỷ giá nhằm tiến tới điều hành tỷ giá dựa chủ yếu vào quan hệ cung cầu trên thị trường. Nhà nước đã thông qua chính sách tỷ giá linh hoạt hơn, điều chỉnh tỷ giá chính thức theo tỷ giá trên thị trường tự do. Thời kỳ này, VND được giảm giá liên tục cùng với chính sách tự do hóa một bước hoạt động xuất nhập khẩu và các chính sách khác đã có tác động thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Bảng 2.2 cho thấy, tỷ giá biến động rất mạnh kể từ khi hợp nhất tỷ giá. Chênh lệch tuyệt đối giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do ngày càng được rút ngắn lại. Những số liệu này cũng cho thấy xu hướng lên giá của đồng USD ở cả khu vực Nhà nước và thị trường tự do giai đoạn 1998 – 2000
- Bảng 2.2.Diễn biến tỷ giá VND/USD từ 1998 – 2001 Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Trước nguy cơ lạm phát và sự mất giá của đồng Việt Nam, Chính phủ đã đổi mới cách quản lý ngoại tệ cũng như cơ chế điều hành chính sách tỷ giá hối đoái. NHNN đề nghị với chính phủ thành lập quỹ điều hòa ngoại tệ tại NHNN để có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá. Việc thành lập quỹ ngoại tệ đã làm dịu những biến động thất thường của tỷ giá trên thị trường. Thàng 9/2000, NHNN đã thành lập một trung tâm giao dịch ngoại tệ tại thành phố Hồ Chí Minh và tháng 11/2000, một trung tâm giao dịch thứ ở Hà Nội cũng ra đời. Tỷ giá được yết 2-3 lần mỗi tuần với sự tham gia của NHNN, các NHTM và các công ty XNK chủ chốt. Tỷ giá này là cơ sở tham chiếu cho tỷ giá mà các NHTM áp dụng cho khách hàng. Việc thành lập hai trung tâm giao dịch là nước ngoặt đầu tiên của hệ thống ngân hàng trong quá trình đổi mới thực sự theo hướng thị trường. Thông qua hoạt động của hai trung tâm, với vai trò là người tổ chức và điều hành, NHNN đã kịp thời nắm bắt cung cầu ngoại tệ trên thị trường để điều hành chính sách tiền tệ cũng như tỷ giá phù hợp với tín hiệu thị trường.
Năm 2001, do NHNN can thiệp vào thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD/VND đã dần ổn định, làm suy yếu tâm lý đầu cơ, khiến các doanh nghiệp tập trung ngoại tệ cho hoạt động xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, thặng dư cán cân thương mại năm 2001 cũng đã góp phần làm cung ngoại tệ tăng, gây sức ép lên giá VND. Theo đà đó, từ năm 2002 trở đi, VND liên tục chịu sức ép lên giá. Để khắc phục xu hướng này, nhà nước đã thực hiện một số biên pháp sau:
Thông qua các giao dịch ngoại tệ, NHNN luôn kịp thời can thiệp vào thị trường để ổn định tỷ giá hối đoái. Trong hầu hết các phiên giao dịch quý 1 năm 2002, hệ thống ngân hàng đã phải mua đồng USD vào nhằm hạn chế xu hướng lên giá của VND.
Nhà nước còn vận dụng công cụ lãi suất để ổn định giá. NHNN đã chủ trương giảm bớt sự chênh lệch lãi suất bằng cách nâng lãi suất ngoại tệ để vừa ổn định tỷ giá, vừa thu hút ngoại tệ vào ngân hàng, bổ sung nguồn dự trữ ngoại hối.
- Biểu đồ 2.1. Tỷ giá hối đoái chính thức Việt Nam giai đoạn 2001 – 2008
Ngày 20/10/2003, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được thành lập thay thế hai trung tâm giao dịch ngoại tệ. Đây là bước ngoặt lịch sử trong qúa trình hình thành và phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. Do thị trường liên ngân hàng có quy mô lớn hơn, linh hoạt hơn, tỷ giá hối đoái ngày càng phản ánh đầy đủ hơn quan hệ cung cầu thị trường. Qua thị trường liên ngân hàng, NHNN có thể nắm bắt dấu hiệu thị trường về tỷ giá hối đoái, công bố tỷ giá chính thức hàng ngày và biên độ giao dịch cho các NHTM [8, tr.01]. Có thể nói, những đổi mới trong chính sách tỷ giá hối đoái đó đã góp phần nào xóa đi tâm lý găm giữ ngoại tệ, góp phần giảm giá USD và tỷ giá được duy trì tương đối ổn định trong giai đoạn 2001 – 2006 (biểu đồ).
Năm 2006, đặc biệt là vào nửa cuối năm, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở các nước Đông Nam Á, đồng Việt Nam chịu áp lực giảm giá mạnh đã khiến thị trường ngoại hối rơi vào tình trang đầu cơ, tích trữ ngoại tệ. Đường tỷ giá trong giai đoạn này là những bậc thang dứt khoát, thể hiện những đợt phát giá VND của NHNN. Tỷ giá VND/USD có xu hướng tăng nhanh, đồng thời đột biến theo những cơn sốt giá ngoại tệ. Tỷ giá VND/USD được điều chỉnh tăng liên tục, đồng thời nới lỏng biên độ giao dịch. [9, tr.01] [10, tr.01]
Ngày 14/02/2007, Quyết định số 37/2007/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ được ban hành nhằm đổi mới một số vấn đề về quản lý ngoại hối với mục đích góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện cán cân thương mại, từng bước thực hiện khả năng chuyển đổi chuyển đổi.
2.1.3. Giai đoạn 2008 đến nay Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Thời kỳ này đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng đối với thị trường ngoại hối Việt Nam khi NHNN thay đổi hoàn toàn cơ chế xác định tỷ giá, từ xác định tỷ giá một cách chủ quan theo ý chí của NHNN sang cơ chế xác đinh tỷ giá khách quan hơn trên cơ sở cung cầu của thị trường, cơ chế thả nổi có quản lý. Theo các quyết định số 64/2008/QĐ-NHNN7 và 65/2008/QĐ-NHNN7 ngày 25/2/2008, kể từ ngày 26/2/2008, tỷ giá hối đoái chính thức mà NHNN công bố hàng ngày được xác định trên cơ sở tỷ giá bình quân mua bán thực tế trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giao dịch gần nhất. Tỷ giá giao dịch của các NHTM được xác định trong phạm vi +-0,1% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng và tới 1/7/2011, biên độ được điều chỉnh lên đến mức +- 0,25 % [11, tr. 01]. Để điều chỉnh tỷ giá, NHNN có thể điều chỉnh cung cầu bằng cách mua vào hoặc bán ra ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, giảm bớt tâm lý hoang mang như mỗi lần điều chỉnh giá trước đây. Cơ chế quản lý này mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, và phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần tăng cường sự hòa nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới.
Trong giai đoạn này, thị trường ngoại hối nhìn chung tương đối ổn định, tỷ giá diễn biến theo chiều hướng tăng (Biểu đồ 2.2). Tuy nhiên, trong từng năm tỷ giá lại có những diễn biến thất thường.
Năm 2012, tỷ giá VND/USD khá ổn định mặc dù USD mất giá mạnh so với các ngoại tệ chủ chốt khác và có diễn biến phức tạp trên thị trường ngoại hối thế giới.
Năm 2013, tình hình tỷ giá tương đối ổn định do một số nguyên nhân. Thứ nhất, đồng USD mất giá trên thị trường quốc tế. Thứ hai, nguồn cung USD dồi dào nhờ hoạt động trực tiếp nước ngoài, hoạt động du lịch, xuất khẩu dầu mỏ, kiều hối. Sự ổn định tỷ giá như vậy có lợi ích cho cả xuất khẩu và nhập khẩu, giúp kiềm chế lạm phát, cải thiện cán cân thanh toán. Nếu chính sách tỷ giá thay đổi nhằm khuyến khích xuất khẩu thì sẽ không thể có lợi cho nhập khẩu và ngược lại. Đặc biệt, đối với Việt Nam nhiều mặt hàng xuất khẩu lại dựa chủ yếu vào nguyên liệu nhập khẩu, do đó chính sách tỷ giá ổn định thì sẽ có lợi cả cho xuất khẩu và nhập khẩu. Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
- Biểu đồ 2.2. Tỷ giá chính thức của Việt Nam từ năm 2008 đến 2024
Năm 2014, tỷ giá giữa VND tăng so với USD và giảm so với các loại ngoại tệ mạnh khác (Bảng 2.3). Nguyên nhân là do USD lên giá mạnh so với các loại ngoại tệ đó, cụ thể tăng 14,2% so với EUR, tăng 14% với JPY [22, tr. 01]… trong khi nhu cầu EUR, GBP, JPY ở trong nước không lớn. Hơn thế nữa, nguồn thu từ xuất khẩu, viện trợ của Việt Nam chủ yếu bằng USD (chiếm 88% tổng kim ngạch xuất khẩu).
- Bảng 2.3. Diễn biến tỷ giá giữa VNĐ và các loại ngoại tệ mạnh năm 2014
Sau khi gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) vào tháng 1/2016, Việt Nam đã dần dần thực hiện tự do hóa thị trường theo đúng cam kết mở cửa kinh tế. Ngay từ cuối năm 2015, sự bùng nổ của thị trường chứng khoán đã khiến Việt Nam được coi là một điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Lượng vốn đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp cũng như kiều hối lớn đổ vào làm cho cung USD vượt quá cầu USD, gây áp lực tăng giá VND. Ngày 2/1/2016, NHNN đã phải mở rộng biên độ giao dịch tỷ giá từ +- 0,25 lên +-0,5 và tiếp tục nới rộng lên +-0,75% (24/12/2016), +-1% (7/3/2017) [12, tr.01]
Kể từ đầu quý 4/2017, để chống đỡ với những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, NHNN đã thực hiện điều chỉnh chính sách theo hướng giảm giá VND so với USD nhằm tạo thuận lợi cho xuất khẩu. Cụ thể biên độ giao dịch tỷ giá VND/USD được nới rộng đến mức +-2%, +-3% và đỉnh điểm là +-5% (25/3/2018) [15, tr.01]. Năm 2018, tỷ giá biến động mạnh, mức chênh lệch giữa thị trường chính thức và thị trường tự do luôn ở mức cao. Vì thế, NHNN đã nâng biên độ tỷ giá lên +- 5% đồng thời thắt chặt hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do. Tuy nhiên, trong những tháng cuối năm 2018, tình trạng này vẫn chưa được cải thiện. Ngày 25/11, NHNN quyết định tăng tỷ giá đồng thời thu hẹp biên độ xuống +-3% từ ngày 26/11 [17, tr.01].
Tăng khá mạnh trong 2 năm (2017, 2018), sang đến tháng 1/2019, tỷ giá VND/USD giảm nhẹ. Sự giảm giá này của USD là do sự tạm thời “dư thừa” ngoại tệ, kết quả của hàng loạt chính sách được NHNN ồ ạt ban hành. Trước sức ép của thị trường, tháng 8/2019, NHNN buộc phải tăng giá bình quân liên ngân hàng thêm 2,1%, lên mức 18.932 VND/USD. Cuối tháng 11, tỷ giá tăng vọt lên mức 21.380 – 21.450 VND/USD, trên thị trường tự do tỷ giá vượt qua mức 21500 VND/USD. Chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chợ đen so với tỷ giá giá chính thức đến 10% [03, tr.01]. Sự bất thường của tỷ giá còn cho thấy sức mạnh của yếu tố tâm lý người dân. Bất chấp sự mất giá của USD trên thế giới, người dân, doanh nghiệp vẫn găm giữ USD. Việc găm giữ này, xét trên góc độ kinh tế, xã hội là do tình trạng đô la hóa của Việt Nam ngày càng trầm trọng. Năm 2019, đồng USD mất giá so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt trên thế giới (9,8% so với JPY, 8% so với AUD…). Việc VND mất giá so với USD và USD lại mất giá so với các đồng tiền khác làm cho VND càng mất giá mạnh so với các tiền tệ đó. Tính từ đầu năm 2019 đến nay theo tỷ giá chính thức, VNĐ mất giá 17% so với đồng JPY, 16% so với Mỹ, 15,8% so với THB, 8,76% so với CNY. Tuy nhiên, VND lại tăng giá 3,57% so với EUR do đồng tiền này mất giá 9,4% so với USD. [21, tr.01].
Giai đoạn 2020-2024, để ổn định tỷ giá và thị trường ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thay đổi cơ chế tỷ giá và can thiệp sâu vào thị trường ngoại tệ bằng những biện pháp mua bán, duy trì chính sách chênh lệch lãi suất VNĐ và USD nhằm đảm bảo nắm giữ tiền đồng có lợi hơn so với USD. Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Cụ thể, ngày 11/2/2020, NHNN ban hành Quyết định 230/QĐ-NHNN điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên 20,693 VNĐ, tăng 9.3% so với mức 18,932 VNĐ trước đó, đồng thời thu hẹp biên độ giao dịch từ ±3% xuống ±1% [18, tr.01]. NHNN cũng ban hành Thông tư số 07/TT-NHNN ngày 24/3/2020 thu hẹp đối tượng cho vay ngoại tệ của tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng vay là người cư trú.
Tiếp đó, NHNN ban hành hàng loạt văn bản quy định giảm trần lãi suất huy động USD từ 6%/năm xuống 2%/năm, điều chỉnh tăng dự trữ bắt buộc tiền gửi ngoại tệ đối với các TCTD thêm 2% lên 6%, mở rộng đối tượng doanh nghiệp. Nhà nước thực hiện bán ngoại tệ cho các TCTD, chuyển dần quan hệ huy động-cho vay ngoại tệ trong nước của TCTD sang quan hệ mua bán ngoại tệ, xử lý các giao dịch ngoại tệ bất hợp pháp trên thị trường tự do.
Qua đó, cuối năm 2020, tỷ giá đạt 20,282 VNĐ, tăng 10.01% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thanh toán tổng thể thặng dư khoảng 3.1 tỉ USD, so với mức thâm hụt 3.07 tỉ USD vào năm 2019.
Bước sang năm 2021, NHNN tiếp tục đặt mục tiêu ổn định tỉ giá trong biên độ tăng không quá 2-3%/năm và hạn chế tình trạng đô la hóa nền kinh tế, NHNN đã ban hành Thông tư số 03/TT-NHNN ngày 08/3/2021 thu hẹp các trường hợp được vay vốn bằng ngoại tệ. Theo đó, khách hàng chỉ được vay ngoại tệ nếu có đủ nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh để trả nợ vay, những trường hợp khác phải có sự chấp thuận bằng văn bản của NHNN. Đến cuối năm 2021, giá USD mua vào tại các NHTM giảm trung bình 1% so với cuối năm 2020.
Sang năm 2022, NHNN tiếp tục duy trì mục tiêu tỷ giá trong biên độ không quá 2-3% nhằm kiểm soát kỳ vọng về sự mất giá của VNĐ. Tuy nhiên, tại một số thời điểm trong năm 2022, áp lực tỉ giá tăng nhẹ theo diễn biến trên thị trường tài chính trong nước và quốc tế, một số NHTM đã nâng giá USD lên kịch trần cho phép, thậm chí tăng giá mua bằng giá bán lên kịch trần 21,036 VNĐ, giá bán USD trên thị trường tự do lên tới 21,320 VNĐ.
Để chấm dứt áp lực lên tỷ giá, ngày 27/6/2022, NHNN đã điều chỉnh tăng tỉ giá bình quân liên ngân hàng thêm 1% lên mức 21,036 VNĐ/USD, sau 1.5 năm ổn định ở mức 20,828 VNĐ. Sau thời gian đó, nhu cầu USD tại các NHTM bắt đầu hạ nhiệt, gây tác động lan tỏa sang thị trường tự do. Trong những ngày cuối năm 2022, giá USD tại các NHTM quanh mức 21,140 VNĐ. Trên thị trường tự do, giá USD phổ biến ở mức 21,180-21,200 VNĐ. Bên cạnh đó, tỷ lệ “đô la hóa” (tiền gửi ngoại tệ trong tổng phương tiện thanh toán) giảm xuống 13.2% từ mức 15.8% vào cuối năm 2020.
Đến năm 2023, NHNN đề ra mục tiêu tỷ giá trong biên độ không quá ±2%. Đây cũng là năm mà tín dụng VNĐ tăng chậm, theo đó, NHNN đã nới lỏng đối tượng được vay ngoại tệ theo chủ trương của Chính phủ, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên và khả năng cân đối ngoại tệ của NHTM. Với lãi suất thấp hơn 4-5%/năm so với vay vốn VNĐ, các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn tín dụng giá rẻ. Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Do tín dụng ngoại tệ tăng cao, giá mua bán USD được duy trì ở mức cao, cùng với tâm lý kỳ vọng về khả năng NHNN sẽ sớm điều chỉnh tăng tỷ giá sau những thông điệp của Thống đốc và định hướng chính sách tỉ giá trong năm 2023, NHNN đã quyết định nâng tỉ giá chính thức thêm 1% lên 21,246 VNĐ/USD, có hiệu lực từ ngày 19/6/2023. Đây là lần điều chỉnh tỉ giá đầu tiên trong vòng một năm và là lần thứ 2 trong gần 3 năm 2020-2023.
Năm 2024, được coi là một năm đầy biến động, nhiều thách thức trong chính sách tiền tệ và chính sách tỉ giá trước bối cảnh USD liên tục lên giá do kỳ vọng Fed điều chỉnh tăng lãi suất và Trung Quốc bất ngờ điều chỉnh mạnh tỷ giá đồng Nhân dân tệ, kéo theo làn sóng giảm giá mạnh của các đồng tiền của các đối tác thương mại chính của Việt Nam. Ở trong nước, việc huy động trái phiếu Chính phủ (TPCP) để bù đắp thâm hụt ngân sách không thành công đã đẩy lãi suất TPCP tăng cao, tạo áp lực kép lên thị trường tiền tệ. Dư thừa thanh khoản trong ngắn hạn trong khi lãi suất tăng cao trong dài hạn, qua đó gián tiếp cản trở mục tiêu tiếp tục giảm lãi suất cho vay và ổn định tỷ giá.
Trước tình hình đó, ngay sau khi NHTW Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ vào ngày 11/8, ngày 12/8, NHNN đã điều chỉnh biên độ tỉ giá giữa VNĐ và USD tăng từ +/-1% lên +/-2%. Tiếp đó, đón đầu các tác động bất lợi của khả năng Fed tăng lãi suất và biến động của thị trường tài chính thế giới, ngày 19/8, NHNN đã điều chỉnh tỉ giá bình quân liên ngân hàng giữa VNĐ và USD thêm 1%, đồng thời mở rộng biên độ tỉ giá từ +/-2% lên +/-3%. Như vậy, tính chung trong năm 2024, NHNN thực hiện điều chỉnh tăng tỉ giá 3% và nới biên độ thêm 2% từ mức +/-1% lên +/-3%./.
Theo NHNN, các biện pháp này sẽ tạo điều kiện để điều hành tỷ giá chủ động, phù hợp với tình hình cung cầu ngoại tệ, bảo đảm tính thanh khoản của thị trường, góp phần kiềm chế nhập siêu và hỗ trợ cho việc thực thi chính sách tiền tệ, chủ động hơn, linh hoạt hơn.
2.2. Thực trạng ngoại thương Việt Nam từ 2004 – 2024 Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
2.2.1. Giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2004-2024
Trong bối cảnh thế giới có nhiều sự thay đổi theo xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, Việt Nam chúng ta cũng đã và đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đặc biệt là trên phương diện kinh tế với những thành tựu to lớn đạt được trong những năm vừa qua. Những thành tựu đó không chỉ đem lại sự phát triển phồn vinh cho nền kinh tế, cuộc sống ấm no cho nhân dân mà còn góp phần quan trọng mang lại sự ổn định về các mặt chính trị và xã hội. Với phương châm “đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá mối quan hệ kinh tế” Việt Nam đang bằng con đường xuất nhập khẩu hàng hoá, tìm kiếm, mở rộng thị trường, nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế, trong tiến trình tiếp cận, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Vì vậy, mà phần này sẽ phân tích tổng quan về giá trị xuất, nhập khẩu của Việt Nam cũng như tốc độ tăng trưởng của chúng thời gian gần đây. Bảng 2.4 dưới đây biểu diễn diễn biến giá trị xuất, nhập khẩu và tốc độ tăng trưởng ngoại thương của Việt Nam giai đoạn 2004-2024.
- Bảng 2.4.Số liệu Thống kê trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2004-2024
- Biểu 2.3. Biểu đồ trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2024
Nhìn vào biểu đồ ta thấy Ngoại thương Việt Nam trong suốt thời kì 2004-2024 không ngừng mở rộng qui mô và tăng trưởng đều qua các năm. Giai đoạn 2004 – 2009: Giai đoạn này là những năm đầu của đất nước ta sau đổi mới, nền kinh tế còn yếu, nên kim ngạch xuất nhập khẩu không cao. Năm 2004, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam là 13.604,3 triệu USD. Đến năm 2009, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mới chỉ là 30.119,2 triệu USD. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân giai đoạn này là 22%, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu bình quân là 14%.
Tuy nhiên, Hiệp định thương mại Việt – Mỹ được ký kết vào năm 2010 đã tạo nên một lực đẩy rất lớn đối với tăng trưởng thương mại. Từ 2010 trở đi, nền kinh tế đã vượt xa hơn rất nhiều so với những dự đoán kinh tế trước đây. Năm 2011, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 17% từ 31.247 triệu USD năm 2010 lên 36.451 triệu USD năm 2011. Sang đến năm 2022 mức tăng trưởng xuất nhập khẩu đã lên đến 25% so với năm 2011.
Tháng 11 năm 2015, Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Sau khi vào WTO, thực hiện các cam kết quốc tế, thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam được mở rộng cả về quy mô, đối tác, hàng hoá, dịch vụ. Tổng mức lưu chuyển ngoại thương năm 2016 đạt 111.326 triệu USD, tăng 31% so năm 2015.
Nhìn biểu đồ ta có thể thấy giai đoạn 2010 – 2020, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng lên một cách đáng kể. Mà nguyên nhân chính là sự tăng lên nhanh chóng của kim ngạch nhập khẩu. Trong vòng 10 năm này, kim ngạch nhập khẩu luôn nhiều hơn kim ngạch xuất khẩu khoảng 10%, cán cân thương mại luôn thâm hụt. Năm 2010 nhập khẩu là 16, 217 tỉ $ trong khi xuất khẩu là 15,029 tỉ $, nhập siêu 1,19 tỉ $. Đến năm 2020, kim ngạch nhập khẩu là 106,7 tỉ $ và kim ngạch xuất khẩu là 96,905 tỉ $, nhập siêu 9,8 tỉ $. Xét một cách khách quan, nhập siêu không phải là xấu, trong chừng mực nào đó, nhập siêu thể hiện nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế, nhập siêu do đó sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thế nhưng đối với ngoại thương Việt Nam, nhập siêu dường như thể hiện hiệu ứng ngược lại, nhập siêu càng tăng, mức tăng kim ngạch xuất khẩu càng chậm lại. Năm 2011, xuất khẩu tăng 11,2% thì nhập khẩu tăng 22,1%. Đỉnh điểm là năm 2016, xuất khẩu tăng 22%, nhập khẩu tăng 40%. Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Việc tốc độ tăng nhập khẩu luôn lớn hơn tốc độ tăng xuất khẩu gây ra tình trạng nhập siêu một phần do các mặt hàng xuất khẩu của ta đa số cần nguồn nguyên liệu từ nhập khẩu trong khi giá nguyên vật liệu lại liên tục tăng, phần khác là do các yếu tố về thị trường, cơ cấu sản phẩm.
Mặt khác, mức nhập siêu đỉnh điểm 18 tỷ USD năm 2017 được xem là dấu hiệu của hiện tượng nhập khẩu tràn lan, nhiều máy móc thiết bị được nhập khẩu về với giá đắt hơn nhiều lần so với giá chuẩn của thế giới, một số hàng hóa Việt Nam có thể sản xuất được vẫn được nhập khẩu. Nếu như giai đoạn 2004 – 2009, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng dựa trên tăng trưởng chủ đạo của cả xuất khẩu và nhập khẩu (mức xuất khẩu xấp xỉ bằng nhập khẩu) thì nay, sự tăng lên không ngừng của tổng giá trị xuất nhập khẩu lại chủ yếu dựa vào sự gia tăng đáng kể của nhập khẩu. Mặc dù nhập khẩu tăng cũng có biểu hiện tích cực đó là nhu cầu tiêu dùng của người dân được đáp ứng, làm tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trong nước song do cơ cấu xuất nhập khẩu chưa hợp lý nên đối với ngoại thương Việt Nam, sự tăng mạnh mẽ trong kim ngạch xuất nhập khẩu là biểu hiện không tốt. Nguyên nhân thâm hụt là do cơ cấu xuất-nhập khẩu lạc hậu. Xuất tài nguyên (nông, lâm, thủy sản), hàng thâm dụng lao động với giá trị gia tăng thấp. Trong khi đó, Việt Nam nhập phần lớn công nghệ, máy móc thiết bị, hàng công nghiệp, nguyên liệu đầu vào với giá trị gia tăng cao hơn. Một phần nữa là do gia nhập WTO chịu tác động mạnh của “sáng tạo thương mại”.
Năm 2018, kim ngạch xuất nhập khẩu đột ngột giảm mạnh từ 143,4 tỉ $ năm 2017, xuống 127 tỉ $ năm 2018. Ta có thể nhìn thấy rõ điều này trên biểu đồ 1. Điều này có thể là do ảnh hưởng của cơn bão khủng hoảng tài chính thế giới khiến cả xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam giảm mạnh.
Từ năm 2021 trở đi, trong điều kiện nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, kinh tế thế giới suy giảm và cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đã ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế Việt Nam. Mặc dù vậy, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2021 đạt 228,3 tỉ $ tăng 13% so với năm 2020. Từ sơ đồ ta có thể thấy, giai đoạn 2021 – 2024 cột giá trị nhập khẩu gần như bằng giá trị xuất khẩu. Trong 4 năm này, cán cân thương mại luôn thặng dư hoặc cân bằng. Năm 2022, giá trị xuất khẩu bằng giá trị nhập khẩu, cán cân thương mại cân bằng. Năm 2023, Việt Nam Xuất siêu 2,3 triệu $.
Đến năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 327,76 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2023. Cán cân thương mại hàng hóa cả nước thâm hụt 3,54 tỷ USD và ngược lại so với xu hướng thặng dư 2,37 tỷ của năm trước.
2.2.2. Thị trường xuất nhập khẩu chính của Việt Nam trong giai đoạn 2004 -2024 Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập vào thương mại thế giới và xuất nhập khẩu giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong ngân sách quốc gia. Trong tiến trình hội nhập, Việt Nam đã và đang đạt được nhiều thành tựu, mở rộng ngày càng nhiều hơn nữa mối quan hệ với các quốc gia trên thế giới. Tính đến nay nước ta đã có quan hệ buôn bán với trên 160 quốc gia và khu vực. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam ngày càng được đa dạng, hàng hóa Việt Nam đã dần dần khẳng định chỗ đứng trên trường quốc tế.
2.2.2.1. Thị trường xuất khẩu chính
- Biểu 2.4.Các khối thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam 2004 – 2024
- Biểu 2.5.Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2024
Trong các nhóm thị trường xuất khẩu của Việt Nam, Apec luôn chiếm thị phần lớn nhất. Năm 2004, Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường Apec là 3,9 tỉ USD chiếm 69% tỉ trọng xuất khẩu. Các thị trường Asean, Eu, Opec chiếm tỉ trọng tương ứng là 17%, 12% và 2%. Trong suốt 20 năm qua, tuy tỉ lệ phần trăm có tăng lên giảm xuống 1 vài phần trăm song cơ cấu đó gần như không có sự thay đổi nhiều. Đến năm 2024, Việt Nam xuất khẩu sang Apec là 106,4 tỉ $ chiếm 66%, trong khi đó xuất sang EU là 19%, Asean là 11% và Opec chỉ có 4%. Điều này có thể là do các nước nằm trong khối Apec đều là các nước mà Việt Nam xuất khẩu sang với trị giá lớn như: Mỹ, Úc, Trung Quốc, Hồng Kong, Nhật Bản, Hàn Quốc. Nhóm thị trường mà Việt Nam xuất khẩu sang luôn ít nhất là OPEC, bởi vì tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ bao gồm những nước ở Châu Phi và Nam Mỹ. Đây là những nước mà Việt Nam có mối quan hệ ngoại thương rất ít.
Nhìn vào biểu đồ ta thấy, những nước mà Việt Nam xuất khẩu sang nhiều nhất là Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đức…Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ là 30,8 tỉ $, Trung Quốc là 15,5 tỉ $ và Nhật Bản là 13,1 tỉ $
Trong các năm 2004 – 2014, xuất khẩu Việt Nam sang các thị trường luôn có giá trị thấp và tập trung vào các thị trường có vị trí địa lý gần với Việt Nam như Trung Quốc, Hồng Kong, Singapo, Nhật Bản, Hàn Quốc… Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản là 1461 triệu USD chiếm 23% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Singgapo là 690 triệu USD chiếm 13%. Đây là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam lúc bấy giờ.
Tuy nhiên, bước vào những năm 2009, thị trường xuất khẩu của Việt Nam có những sự thay đổi rõ rệt. Xuất hiện nhiều thị trường tiềm năng khác có vị trí địa lý cách xa Việt Nam như Mỹ, Đức, Pháp, Canada, Úc…
Năm 2014, Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng, trong đó đã có tới 8 thị trường với kim ngạch ước đạt trên 1 tỷ USD: Mỹ (5,9 tỷ USD), Nhật Bản (4,3 tỷ USD), Trung Quốc (3,2 tỷ USD), Úc (2,7 tỷ USD), Singapo (1,9 tỷ USD) và Đức (1,08 tỷ USD), Malayxia (1,02 tỉ USD), Anh (1,01 tỷ USD). Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Năm 2018, tổng kim ngạch xuất khẩu giảm hẳn so với năm 2017, có lẽ là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới. Trong năm này, dẫn đầu vẫn luôn là thị trường Mỹ (11,4 tỷ USD) giảm 0,4 tỷ USD so với năm 2017. Đứng thứ 2 là Nhật (6,3 tỷ USD) giảm 2,1 tỷ USD so với 2017, Trung Quốc đứng thứ 3 (5,4 tỷ USD).
Từ năm 2019 đến 2024, Hoa Kỳ đã và đang là thị trường xuất khẩu số 1 của Việt Nam với kim ngạch tăng trung bình trên 10%/năm. Năm 2024, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu tạo kim ngạch lớn nhất của Việt Nam, trên 33,5 tỷ USD, tăng 16,9% so với năm 2023. Thặng dư thương mại đạt trên 25,7 tỷ USD. Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất vào nước này là: dệt may, giày dép, máy vi tính, linh kiện điện tử… Đứng thứ 2 là Trung Quốc với kim ngạch trên 17 tỉ USD. Nhật Bản là thị trường đứng thứ 3 với kim ngạch xuất khẩu 14,1 tỉ USD
2.2.2.2. Thị trường nhập khẩu chính
- Biểu 2.6.Các nhóm thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2024
- Biểu 2.7.Các thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2024
Trong số các thị trường xuất khẩu sang Việt Nam thì Apec luôn là nhóm thị trường có kim ngạch xuất khẩu sang Việt Nam lớn nhất. Năm 2004, Việt Nam nhập khẩu từ Apec 6494 triệu USD, Asean 2270 triệu USD, EU 710 triệu USD, Apec 214 triệu USD. Trong suốt 20 năm qua, tuy tỉ lệ phần trăm có tăng lên giảm xuống 1 vài phần trăm song cơ cấu đó gần như không có sự thay đổi nhiều. Đến năm 2024, Việt Nam nhập khẩu từ Apec là 138 tỉ USD chiếm 79% tổng nhập khẩu, Asean là 23,8 tỉ USD, trong khi đó nhập khẩu từ EU chỉ có 10 tỉ USD và OPEC là 2 tỉ USD. Điều này có thể là do các nước nằm trong khối Apec đều là các nước mà Việt Nam nhập khẩu với trị giá lớn như: Mỹ, Úc, Trung Quốc, Hồng Kong, Nhật Bản, Hàn Quốc. Nhóm thị trường mà Việt Nam xuất khẩu sang luôn ít nhất là OPEC, bởi vì tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ bao gồm những nước ở Châu Phi và Nam Mỹ. Đây là những nước mà Việt Nam có mối quan hệ ngoại thương rất ít.
Nhìn vào biểu đồ ta thấy, những nước mà Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất là Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kong, Đức…Năm 2024, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Mỹ là 7,7 tỉ $, Trung Quốc là 44,4 tỉ $ và Nhật Bản là 14,36 tỉ $.
Thị trường nhập khẩu có xu hướng ngược lại với thị trường xuất khẩu, tỷ trọng nhập khẩu từ các nước Châu Á lại tăng dần qua các năm và chiếm vai trò chủ đạo trong các thị trường nhập khẩu của Việt Nam. Các thiết bị, máy móc chủ yếu nhập khẩu từ các thị trường có nền công nghệ trung gian như Thái Lan, Singapo, Đài Loan, Hàn Quốc…
Cùng với sự tăng mạnh nhập khẩu từ các nước Châu Á, tỷ trọng thị trường nhập khẩu từ các nước Châu Âu lại có xu hướng giảm dần, mức giảm trung bình giai đoạn 2004 – 2014 khoảng 5%/năm. Nguyên nhân chủ đạo trong sự tăng mạnh nhập khẩu từ các nước Châu Á, giảm dần từ các nước Châu Âu chính là do đầu tư nước ngoài từ các quốc gia Châu Á tăng mạnh mẽ. Đa số các doanh nghiệp liên doanh giữa Việt Nam và các quốc gia Châu sử dụng công nghệ nhập khẩu từ nước họ. Tỷ trọng nhập khẩu máy móc thiết bị riêng đối với khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay đã lên đến gần 30% tổng giá trị nhập khẩu. Mặt khác, cũng có thể thấy rằng nước nào hỗ trợ ODA cho Việt Nam càng nhiều thì máy móc, thiết bị, phụ tùng, nguyên vật liệu…của nước họ càng được xuất nhiều sang Việt Nam. Ví như giai đoạn 2004 – 2010, Singapore vừa là quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam lại vừa là thị trường Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất (năm 2010 nhập khẩu 2,478 tỉ USD). Trong những thời gian sau, các nước có đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam lớn như Hàn Quốc, Nhật Bản thì nhập khẩu từ nước đó cũng rất cao. Như năm 2024, nhập khẩu từ Nhật là 14,3 tỉ USD, Hàn Quốc là 27,6 tỉ USD.
Từ đây ta có thể thấy: việc nhập khẩu không đơn giản chỉ phụ thuộc vào cầu trong nước mà còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác đặc biệt là đầu tư nước ngoài nên thị trường nhập khẩu trước mắt vẫn tiếp tục đi theo chiều hướng tăng tỷ trọng nhập khẩu từ các nước Châu Á, giảm tỷ trọng từ Châu Âu và các châu lục khác.
Tuy nhiên đến năm 2012, Trung Quốc từ vị trí thứ 5 trong năm 2011 đã trở thành thị trường nhập khẩu lớn nhất vào Việt Nam năm 2012. Báo cáo của Bộ Công Thương cho thấy, kim ngạch nhập khẩu năm 2022 từ thị trường châu Á chiếm tỷ trọng lớn nhất trong số các thị trường nhập khẩu của Việt Nam (tới 80,6%), riêng Trung Quốc chiếm hơn 27,5% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước. Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) được ký kết ngày 29/11/2013, có hiệu lực từ đầu năm 2014 và các nước bắt đầu thực hiện cắt giảm thuế từ ngày 01/7/2014. Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, vượt qua cả Nhật Bản và Hàn Quốc. Tỷ trọng nhập khẩu hàng hoá Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ năm 2009 đến nay liên tục gia tăng (năm 2009 2014 2019 2021 các tỷ lệ tương ứng là 8,9 16,0 23,8 25,3%), lớn hơn bất kỳ một nước hay khu vực nào khác.
Tình hình nhập khẩu năm 2012 cũng có những thay đổi lớn về phía Mỹ: Lần đầu tiên, thị trường nhập khẩu từ Mỹ đạt mức 1,143 tỷ $. Đây là một tín hiệu tốt bởi Hoa Kỳ là thị trường công nghệ nguồn hàng đầu thế giới, nhập khẩu máy móc thiết bị từ Hoa Kỳ sẽ giúp chúng ta có được các trang thiết bị hiện đại phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Năm 2015, một bước tiến mới trong thị trường nhập khẩu của Việt Nam có 3 thị trường mới đạt trên 1 tỷ USD đó là: Indonesia (1,012 tỷ USD), Thụy Sĩ (1,357 tỷ USD ), Úc (1,099 tỷ USD). Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật, Hàn Quốc vẫn là 5 thị trường Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất. Tính đến tháng 11/2016, Việt Nam nhập khẩu đến 76,3% hàng hóa từ các nước trên. Ngoài ra, giá đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới sụt giảm so với một số ngoại tệ mạnh cũng là nhân tố làm gia tăng giá trị nhập khẩu, khi qui đổi về USD.
Trong giai đoạn 2017 – 2020, Việt Nam không ngừng gia tăng nhập khẩu để phục vụ cho xuất khẩu các mặt hàng chủ lực. Các đối tác Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất đều thuộc khu vực Đông Á: Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông.
Đáng chú ý là kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc không ngừng tăng cao, năm 2018 chiếm đến 23.5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Nhìn chung Việt Nam vẫn còn lệ thuộc nhiều vào các thị trường nhập khẩu này.
Đây trở thành vấn đề nan giải cho nền kinh tế nước ta khi muốn tăng lượng xuất khẩu, nhất thiết phải tăng nhập khẩu nguyên phụ liệu để sản xuất.
Tính đến năm 2024, ta có thể điểm lại được 8 thị trường mà Việt Nam Nhập khẩu lớn nhất là Trung Quốc (chiếm 25,3 % tổng kim ngạnh nhập khẩu) của Việt Nam vượt xa so với thị trường đứng thứ 2 là Hàn Quốc chiếm 13,6 tổng kim ngạch nhập khẩu. Đứng thứ 3 là Nhật Bản chiếm 10,2 tổng kim ngạch nhập khẩu. EU là thị trường đứng thứ 4 chiếm 7,7 % tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Đứng thứ 5 là Đài Loan chiếm 7,5 % tổng kim ngạch nhập khẩu, Thứ 6 là Singapo, Thứ 7 là Thái Lan, và thị trường Mỹ hiện nay đang đứng thứ 8. Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
2.2.3. Phân tích cấu trúc ngoại thương của Việt Nam trong giai đoạn 2004-2024
Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng nhập siêu như đã đề cập trên chính là yếu tố cấu trúc trong hoạt động ngoại thương. Xét một cách tổng thể thì cơ cấu ngoại thương Việt Nam trong suốt thập kỉ 90 thế kỉ trước đến nay đã có một số biến chuyển nhất định, song sự thay đổi đó còn chậm và chưa phù hợp với xu thế hội nhập ngày nay. Ông Haward Mc. Kneal (Mỹ), nhân viên được cử sang làm việc tại WB (Việt Nam) khi được hỏi đã nhận định “cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam còn chuyển dịch chậm, năng lực cạnh tranh hàng xuất khẩu Việt Nam còn kém. Tốc độ hội nhập về ngoại thương được đánh giá ở mức trung bình và cần thiết phải có một bước đột phá về cơ cấu mới có thể cải thiện được tình hình ngoại thương Việt Nam…”. Việc nghiên cứu cơ cấu ngoại thương dưới đây sẽ thông qua đánh giá về cơ cấu cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu.
2.2.3.1. Cơ cấu xuất khẩu
- Biểu 2.8.Cơ cấu xuất khẩu theo khu vực kinh tế giai đoạn 2004 – 2024
- Biểu 2.9.Cơ cấu xuất khẩu theo nhóm hàng giai đoạn 2004 – 2024
Cơ cấu xuất khẩu theo khu vực kinh tế của nước ta có những chuyển biến rõ rệt. Năm 2004, tỉ trọng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 27 % bằng 1/3 khu vực có vốn đầu tư trong nước. Nhưng đến năm 2024, tỉ trọng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư trong nước là 31,8 % bằng ½ khu vực FDI.
Nhìn vào biểu đồ cơ cấu xuất khẩu theo nhóm hàng ta thấy tỉ trọng của hàng công nghiệp nặng và khoáng sản luôn là lớn nhất, đứng thứ 2 là công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, hàng nông sản và thủy sản đứng thứ 3 và cuối cùng là Lâm sản và Vàng, Phi tiền tệ.
Tuy nhiên, theo sự thay đổi của từng năm thì CN nặng và khoáng sản, CN nhẹ và tiểu thủ CN có tỉ trọng tăng lên. Năm 2004, CN nặng và khoáng sản có tỉ trọng là 25,3 %, CN nhẹ và tiểu thủ công nghiệp có tỉ trọng là 28,4%. Đến năm 2024, CN nặng và khoáng sản có tỉ trọng là 44,3 %, CN nhẹ và tiểu thủ công nghiệp có tỉ trọng là 38,6%. Điều này thể hiện việc chuyển dịch tích cực trong cơ cấu xuất khẩu . Vàng và phi tiền tệ chỉ xuất hiện từ năm 2017 đến nay, rõ nét nhất là 2018. Còn các năm còn lại thì chiếm tỉ trọng không đáng kể.
Nhìn chung, cơ cấu xuất khẩu mặc dù đã có sự chuyển biến song tốc độ còn chậm.
2.2.3.2. Cơ cấu nhập khẩu
- Biểu 2.10.Cơ cấu nhập khẩu theo khu vực kinh tế giai đoạn 2004 – 2024
- Biểu 2.11. Cơ cấu nhập khẩu theo nhóm hàng giai đoạn 2004 – 2024
Cơ cấu nhập khẩu theo khu vực kinh tế của nước ta có những chuyển biến rõ rệt. Năm 2004, tỉ trọng nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 18 bằng 1/4 khu vực có vốn đầu tư trong nước. Nhưng đến năm 2024, tỉ trọng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư trong nước là 41,3 % và khu vực FDI là 58,7%.
Trái với cơ cấu xuất khẩu, cơ cấu nhập khẩu theo nhóm hàng của Việt Nam thiên về nhóm hàng tư liệu sản xuất, nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu cũng diễn ra khá chậm, tỷ trọng nhập khẩu hàng tiêu dùng diễn biến thất thường, thể hiện sự bấp bênh, yếu kém trong điều hành, quản lý nhập khẩu nhóm hàng này.
Nhìn vào biểu đồ cơ cấu nhập khẩu theo nhóm hàng ta thấy tỉ trọng của tư liệu sản xuất luôn là lớn nhất, đứng thứ 2 nguyên nhiên vật liệu, thứ 3 là máy móc thiết bị và thứ 4 là hàng tiêu dùng. Còn các mặt hàng còn lại chiếm tỉ trọng không đáng kể. Năm 2023, tư liệu sản xuất chiếm 47% tổng kim ngạch nhập khẩu, máy móc thiết bị chiếm 19,5%, nguyên nhiên vật liệu 27,8%. Trong khi đó hàng tiêu dùng là 4,5%, hàng y tế là 0,7%.Tỷ trọng nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu càng lớn chứng tỏ cơ cấu sản xuất của ta càng phụ thuộc nguyên vật liệu nhập khẩu và cũng thể hiện sự yếu kém trong công tác triển khai sản xuất hàng hóa, nguyên vật liệu thay thế nhập khẩu. Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Trong khi xuất khẩu có sự chuyển biến về cơ cấu theo năm khá rõ nét thì tốc độ chuyển dịch cơ cấu của nhập khẩu diễn ra khá chậm. Tỷ trọng nhập khẩu máy móc thiết bị trong tổng cơ cấu nhập khẩu từ năm 2004 đến 2024 cũng có thay đổi, song không đáng kể. Việc giảm tỷ trọng nhập khẩu máy móc thiết bị năm trước lại đi kèm với mức tăng trong năm sau, nguyên nhân chủ yếu vẫn do nhu cầu đầu tư lớn, nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, nghiên cứu tăng mạnh. Nhập siêu đứng ở mức cao do cầu nhập khẩu máy móc thiết bị cho cả mục đích nghiên cứu lẫn tiêu dùng có độ co giãn thấp nên việc giảm kim ngạch nhập khẩu thông qua giảm lượng nhập khẩu là công việc vô cùng khó khăn. Bên cạnh đó, với chiến lược đi tắt, đón đầu công nghệ, các công nghệ tiên tiến được nhập về trong khi ta chưa chuẩn bị kỹ nguồn nhân lực để có thể đủ trí lực tiếp quản, vận hành dẫn đến hiện tượng máy móc nhập về để đấy, gây tốn kém hàng triệu đô la. Chưa hết, tiếp theo đó, một công nghệ khác với trình độ vừa phải phù hợp với trình độ sẽ được nhập khẩu tiếp tục phục vụ sản xuất dẫn đến nhập siêu bị đội lên rất cao. Thậm chí có những hàng hóa mà Việt Nam có thể sản xuất đủ tiêu dùng vẫn được nhập khẩu tràn lan, ví như năm 2011 trong khi giá đường trong nước ở mức thấp, số lượng đường tồn kho ở mức cao thì đường ngoại quốc vẫn tiếp tục được nhập khẩu. Chính vì thế, hiệu quả nhập khẩu không cao và đến thời điểm này, có thể kết luận chiến lược thay thế nhập khẩu áp dụng những năm trở lại đây chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam hiện nay là Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại, sắt thép, chất dẻo, ô tô nguyên chiếc các loại…Dự báo trong tương lai, các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu như xăng dầu, phân bón, sắt thép, máy móc thiết bị vẫn sẽ tiếp tục tăng do khả năng sản xuất trong nội bộ nền kinh tế chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng.
Trị giá nhập khẩu tăng và xu hướng tăng tỷ trọng tư liệu sản xuất là kết quả tất yếu của chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu. Nguyên, nhiên, vật liệu nhập khẩu chiếm tỷ trọng cao, đồng thời tỷ trọng nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng chưa được cải thiện trong khoảng thời gian dài cho thấy xuất khẩu nước ta quá phụ thuộc vào nguyên liệu nước ngoài và công nghệ chậm được thay đổi và mở rộng. Đây là hệ quả của sự phát triển yếu kém ngành công nghiệp hỗ trợ cũng như sản xuất thay thế nhập khẩu. Do đó, nếu không nhanh chóng đổi mới công nghệ, việc nhập khẩu các sản phẩm trung gian sẽ không cải thiện được giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu. Điều này sẽ hạn chế không nhỏ việc cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn.
Nói tóm lại, cơ cấu xuất nhập khẩu còn chứa đựng nhiều điểm bất hợp lý, sự chuyển dịch cơ cấu quá chậm sẽ xói mòn ngoại thương, làm cạn kiệt nguồn ngoại tệ, hủy hoại xuất khẩu và rất có thể sẽ dẫn đến sự “phá sản” của chiến lược ngoại thương Việt Nam.
2.3.Ảnh hướng biến động tỷ giá hối đoái tới ngoại thương Việt Nam từ 2004 – 2024 Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Để lượng hóa tác động của tỷ giá hối đoái tới xuất, nhập khẩu của Việt Nam, phần tiếp theo tác giả sẽ đề cập đến việc xây dựng hai phương trình lực hấp dẫn và trình bày số liệu được dùng trong phương trình này.
2.3.1. Xây dựng mô hình kinh tế lượng
2.3.1.1 Mô hình kinh tế lượng
Mô hình lực hấp dẫn (gravity model) được Tinbergen (1962) khởi xướng và được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm nhằm lượng hóa tác động về mặt thương mại của các khối liên kết kinh tế. Mô hình được xây dựng dựa trên định luật Hấp dẫn (Law of Gravity) của Newton theo đó lực hấp dẫn tỷ lệ thuận với trọng lượng của hai vật thể và tỷ lệ nghịch với khoảng cách giữa chúng. Mô hình trọng lượng (gravity model) đã đạt được những thành công không thể phủ nhận trong việc giải thích các loại dòng chảy quốc tế và liên khu vực, trong đó có thương mại quốc tế nói chung và thương mại nội ngành nói riêng. Mô hình hình trọng lực nghiên cứu dự đoán về dòng thương mại song phương phụ thuộc vào quy mô nền kinh tế và khoảng cách giữa các nước. [02, tr. 754].
Mô hình lực hấp dẫn cổ điển được mô tả bởi phương trình (1) dưới đây: Fij = G*(Mi Mj )/Dij (1)
Trong đó:
- Fij là giá trị trao đổi thương mại giữa nước i và nước j
- Mi là độ lớn về quy mô kinh tế của nước i (thường dùng giá trị GDP, hay GNP)
- Mj là độ lớn về quy mô kinh tế của nước j (thường dùng giá trị GDP, hay GNP)
- Dij là khoảng cách giữa nước i và j (thường dùng đơn vị km đo cung tròn lớn nhất giữa 2 nước)
- G là hằng số
Sau nhiều thập kỉ phát triển, nó được phát triển dưới nhiều cấu trúc khác nhau và nhiều biến mới được thêm vào để đánh giá tác động của chúng tới quan hệ thương mại giữa các nước như: tỷ giá hối đoái, các hiệp đinh thương mại tự do, khủng hoảng, biên giới, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chính sách thương mại, yếu tố văn hóa, ngôn ngữ, lịch sử về quan hệ thuộc địa, chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập các nước dành cho nhau, mức độ xâm nhập thị trường, độ mở cửa về thương mại v.v.
Theo lý thuyết kinh tế, GDP Việt Nam và GDP nước đối tác sẽ tương quan dương với thương mại. Nền kinh tế có quy mô càng lớn hay mức thu nhập càng cao, khối lượng trao đổi hàng hóa sẽ càng lớn.
Khoảng cách được giả thiết là có tương quan âm với thương mại, cả xuất khẩu và nhập khẩu. Khoảng cách càng lớn, chi phí vận tải sẽ càng cao và hạn chế trao đổi buôn bán giữa các nước. Khoảng cách giữa các nước được tính từ khoảng cách địa lý giữa thủ đô hoặc các trung tâm kinh tế giữa các nước và được điều chỉnh cho tỷ trọng dân số của thủ đô hay trung tâm kinh tế trong dân số của cả nước. Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Tỷ giá hối đoái thực giữa đồng Việt Nam và đồng tiền của nước đối tác thương mại sẽ tương quan thuận với khối lượng xuất khẩu và tương quan nghịch với khối lượng nhập khẩu. Tỷ giá hối đoái thực đo lường mức giá tương đối giữa hàng hóa của Việt Nam và của nước đối tác thương mại. Khi tỷ giá hối đoái thực tăng (tức là có sự mất giá thực của đồng Việt Nam), xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng. Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái thực giảm (tức là có sự nâng giá thực của đồng Việt Nam), nhu cầu đối với hàng nhập khẩu sẽ tăng và nhập khẩu tăng. Tỷ giá hối đoái thực giữa đồng Việt Nam và đồng tiền của nước đối tác thương mại được tính thông qua tỷ giá giữa các đồng tiền với USD, và được điều chỉnh cho mức lạm phát ở Việt Nam và ở nước đối tác thương mại.
Các biến giả cho FTA và WTO sẽ có dấu âm hoặc dấu dương tùy thuộc vào kết quả ước tính. Khi một biến giả có dấu dương, điều đó có nghĩa là khu vực thương mại đang xem xét có tác động tích cực đối với thương mại của Việt Nam và nước đối tác thương mại và ngược lại.
Biến giả khủng hoảng sẽ có giả thuyết mang dấu âm. Bởi khủng hoảng hoảng càng nghiêm trọng sẽ càng ảnh hưởng càng sâu sắc đến kim ngạch xuất nhập khẩu của nền kinh tế. Biến chung đường biên giới giả thuyết sẽ có hệ số dương. Bởi những nước có chung đường biên giới thì chi phí vận tải ít đi, kích thích xuất nhập khẩu giữa hai nước.
Do vậy, tác giả đã lựa chọn các biến sau vào đưa vào mô hình:
- LnEXjt = β10 + β11LnGDPVNt + β12LnGDPjt + β13LnDISVNj + β14LnRERCURj/VNDt + γ1FTAijt + γ2 WTOVNjt + γ3CRIj2006 + γ4CRIj2017 + γ5BORVNj + ε1VNj (2) RERCURj/VNDt
- LnIMjt = β20 + β21LnGDPVNt + β22LnGDPji + β23LnDISVNj + β24LnRERCURj/VNDt + γ11FTAijt + γ12 WTOVNjt + γ3CRIj2006 + γ14CRIj2017 + γ15BORVNj + ε2VNj (3)
Trong đó:
- EXjt là giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang nước j năm t (USD)
- IMjt là giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ nước j năm t (USD)
- GDPVNt là giá trị GDP thực tế của Việt Nam năm t (USD)
- GDPjt là giá trị GDP thực tế của nước j năm t (USD)
- DISVNj là khoảng cách giữa Việt Nam và nước j (km) – được lấy từ công trình của CEPII là tỷ giá hối đoái thực tế giữa VND và đơn vị tiền tệ của nước j năm t xác định bằng công thức sau:
- RERCURj/VNDt = eCURj/VNDt *(CPIjt /CPIVNt) (4)
Trong đó: Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
- RERCURj/VNDt là tỷ giá hối đoái thực tế giữa VND và đơn vị tiền tệ của nước j năm t
- eCURj/VNDt là tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa VND và đơn vị tiền tệ của nước j năm t
- CPIjt là chỉ số giá tiêu dùng của nước j năm t CPIVNt là chỉ số giá tiêu dung của Việt Nam năm t
- FTAijt là biến giả nhị phân có giá trị bằng 1 nếu Việt Nam và nước j là thành viên khu vực mậu dịch tự do ASEAN năm t và ngược lại có giá trị bằng 0.
- WTOVNjt là biến giả nhị phân có giá trị bằng 1 nếu Việt Nam và nước j là thành viên của WTO năm t và ngược lại
- CRIj2006 là biến giả nhị phân có giá trị là 1 nếu nước j chịu tác động khủng hoảng năm 2006 và ngược lại bằng 01 [23, tr. 32-75]
- CRIj2017 là biến giả nhị phân có giá trị là 1 nếu nước j chịu tác động khủng hoảng năm 2017 và ngược lại bằng 02. [23, tr. 32-75]
- BORVNj là biến giả nhị phân có giá trị là 1 nếu Việt Nam và nước j có chung đường biên giới và ngược lại bằng 0.
Giá trị của hai biến khủng hoảng dựa trên công trình nghiên cứu của tác giả Laeven và Valencia (2017), và nhiều nghiên cứu cũng như các phương tiện thông tin đại chúng khác ε1VNj, ε2VNj là các sai số ngẫu nhiên trong đó E(ε1VNj) = 0 và E(ε2VNj) = 0 Tất cả các biến định lượng sẽ dùng logarit tự nhiên (ln) trừ các biến giả nhị phân trong mô hình. Giá trị các biến định lượng được đưa về giá trị thực (giá gốc cố định năm 2019).
2.3.1.2. Số liệu dùng trong mô hình
Tác giả dùng số liệu bảng hỗn hợp (panel data) bao gồm 20 đối tác thương mại ổn định và quan trọng nhất của Việt Nam bao gồm: Australia, Bỉ, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Hong Kong, Nhật Bản, Malaysia, Hà Lan, Phi- líp-pin, Nga, Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan, Italia, Anh, Mỹ, Indonexia và Ấn Độ. 20 đối tác trên chiếm khoảng 80% tổng giá trị xuất, nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2024. Số liệu được thu thập từ nhiều nguồn tin cậy trong và ngoài nước như: Tổng Cục Thống kê (GSO), Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)…
Bảng 2.5. Trình bày nguồn để tổng hợp số liệu sử dụng trong mô hình.
2.3.2. Kết quả ước lượng và phân tích Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Dựa trên số liệu có được và chạy mô hình bằng phần mềm STATA cho ra kết quả của mô hình hồi quy. Sau khi chạy mô hình, ta tiến hành kiểm định xem kết quả ước lượng có đáng tin cậy hay không. Trước tiên, ta kiểm tra mô hình nhập khẩu:
Để kiểm tra phương sai sai số thay đổi dùng Breusch – Pagan để kiểm tra phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity) ta thu được kết quả như bảng sau:
Bảng 2.6. Kết quả kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi mô hình nhập khẩu
Với giả thuyết Ho: phương sai sai số cố định (Constant variance). Kết quả cho thấy xác suất = 0,0000. Do đó ta bác bỏ giả thuyết Ho. Điều này có nghĩa là có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
Để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến ta dùng Vif (Variance inflation factor) để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến ta thu được kết quả như bảng sau:
Bảng 2.7. Kết quả kiểm tra hiện tượng đa công tuyến mô hình nhập khẩu
Ta thấy kết quả Mean vif = 3.17, ta khẳng định không thấy xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến.
Để kiểm tra hiện tượng tự tương quan (autocorrelation) ta dùng Wooldridge để kiểm tra. Sau khi kiểm tra ta thu được kết quả như sau:
Bảng 2.8. Kết quả kiểm tra hiện tượng tự tương quan mô hình nhập khẩu
Với giả thuyết Ho: Không có hiện tượng tự tương quan. Kết quả cho thấy xác suất bằng 0,0000. Do đó bác bỏ giả thuyết Ho chấp nhận H1. Khẳng định xuất hiện hiện tượng tự tương quan.
Tương tự như vậy, ta cũng kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi, đa cộng tuyến và tự tương quan của mô hình xuất khẩu ta thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.9.Kết quả kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi mô hình xuất khẩu
- Bảng 2.10. Kết quả kiểm tra hiện tượng đa công tuyến mô hình nhập khẩu
- Bảng 2.11. Kết quả kiểm tra hiện tượng tự tương quan mô hình nhập khẩu
Như vậy, mô hình nhập khẩu cũng cho kết quả tương tự như mô hình xuất khẩu là: chỉ xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi, tự tương quan mà không bị ảnh hưởng bởi hiện tượng đa cộng tuyến. Để khắc phục những hiện tượng này ta dùng mô hình Pool OLS. Sau khi chạy mô hình ta thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.12. Kết quả ước lượng của mô hình hồi quy dùng Pool OLS
2.3.2.1. Kết quả ước lượng cho mô hình xuất khẩu Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Số liệu tại bảng 2.12 cho thấy mô hình Gravity đã giải thích được 63,08% sự thay đổi của tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến các biến trong mô hình. Về cơ bản, hệ số của các biến đều mang giá trị mong đợi. Hầu hết các hệ số của các biến quan trong đều có ý nghĩa thống kê cao. Điều này cho thấy kết quả nghiên cứu thực nghiệm đều phù hợp với dự đoán về mặt lý thuyết và kết quả của mô hình là tương đối chính xác và đáng tin cậy.
Biến GDPVNt và GDPjt là biến có tác động lớn nhất đến xuất khẩu của Việt Nam. Biến GDPVNt có tác động cùng chiều với xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể, GDP của Việt Nam cứ tăng lên 1% (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi) thì xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng bình quân 1,73%. Điều này đã củng cố cho giả thuyết nêu ra ở phần trên là GDP của Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với xuất khẩu của Việt Nam trong cùng một thời gian t.
Biến GDPjt có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% có nghĩa là GDP của nước đối tác trong cùng thời gian t có tác động cùng chiều với xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể, GDP của nước đối tác cứ tăng 1% thì xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng 0,56 %. Như vậy rất phù hợp với lý thuyết là quy mô nền kinh tế càng lớn sẽ khiến thương mại giữa 2 quốc gia ngày 1 tăng theo (ở đây nói đến xuất khẩu).
Hệ số của biến khoảng cách (DISVNj) mang dấu âm thể hiện tác động ngược chiều đến xuất khẩu. Điều này phù hợp với thực tế là: Khoảng cách càng sẽ sẽ khiến cho quá trình vận chuyển hàng xuất nhập khẩu gặp khó khăn. Vì thế với một nước xuất khẩu thì khoảng cách đến nước nhập khẩu càng lớn thì kim ngạch xuất khẩu đến nước đó sẽ càng bị giảm.
Biến tỷ giá hối đoái RERCURj/VNDt có tác động lớn theo chiều hướng tích cực với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể tỉ giá hối đoái tăng 1% (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi) sẽ làm xuất khẩu Việt Nam tăng bình quân 0,1%. Điều này có nghĩa là giá các hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện đang chịu tác động bởi giá của đồng đô la Mỹ (USD), đồng tiền được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế. Ngoài ra, hệ số của tỷ giá hối đoái thực trong phương trình là khá nhỏ. Điều này phản ánh thực tế phần lớn xuất khẩu của Việt Nam là hàng nông sản và nhiên liệu có độ co giãn theo giá cả thấp.
Khi 2 nước cùng tham gia vào FTA thì sẽ làm cho xuất khẩu của Việt Nam tăng lên trung bình e0,5 -1 = 60% (với điều kiện các yếu tố khác không đổi). Như vậy, có sự khác biệt khi các nước tham gia vào FTA. Biến WTO không có ý nghĩa thống kê, như vậy việc gia nhập WTO không hề tác động đến xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Biến khủng hoảng năm 2006 mang dấu dương và có mức ý nghĩa 1%. Như vậy cuộc khủng hoảng năm 2006 hoàn toàn không ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam. Ngược lại, biến khủng hoảng năm 2017 mang dấu âm và có mức ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Như vậy cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2017 có ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam.
Đối với biến BORVNj, dự đoán trên lý thuyết của tác giả là những nước có chung đường biên giới với Việt Nam sẽ có kim ngạch xuất khẩu cao hơn. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy biến BORVNj không có ý nghĩa thống kê. Như vậy biến này không tác động mạnh đến xuất khẩu của Việt Nam
2.3.2.2. Kết quả ước lượng mô hình nhập khẩu. Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
Từ kết quả hồi quy trong Bảng 2.12 ta thấy, có đến 73% sự thay đổi của nhập khẩu Việt Nam được giải thích bởi các biến trong mô hình trọng lực. Các hệ số hồi quy đều có mức ý nghĩa cao.
Biến GDP thể hiện quy mô nền kinh tế có dấu dương cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và nước đối tác đều có tác động tích cực đến thương mại Việt Nam mà cụ thể ở đây là nhập khẩu. Cả biến GDPVNt và biến GDPjt đều có mức ý nghĩa thống kê là 1%. Tức là khi GDP của Việt Nam tăng lên 1% thì nhập khẩu bình quân của Việt Nam sẽ tăng lên 1,43% và khi GDP của nước đối tác tăng lên 1% (trong khi các yếu tố khác không đổi) thì nhập khẩu bình quân của Việt Nam sẽ tăng lên 0,78%.
Hệ số của biến khoảng cách giữa hai quốc gia mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Kết quả này hoàn toàn hợp lý về mặt lý thuyết. Điều đó có nghĩa là các quốc gia xa nhau về mặt địa lý thường sẽ trao đổi buôn bán với nhau ít hơn so với các quốc gia gần nhau hơn về mặt địa lý. Do đó, nhập khẩu Việt Nam từ các quốc gia này cũng ít đi.
Theo dự kiến trên lý thuyết của tác giả là Tỷ giá hối đoái thực giữa đồng Việt Nam và đồng tiền của nước đối tác thương mại sẽ tương quan nghịch với khối lượng nhập khẩu. Tức là khi tỷ giá hối đoái thực tăng (tức là khi có sự mất giá thực của đồng Việt Nam) thì nhập khẩu sẽ giảm và ngược lại khi tỷ giá hối đoái thực giảm (tức là có sự nâng giá thực của đồng Việt Nam) thì nhập khẩu sẽ tăng. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy điều ngược lại. Mặc dù không có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên hệ số của biến tỷ giá hối đoái có giá trị dương. Tức là dù đồng Việt Nam có mất giá, người tiêu dùng phải bỏ nhiều tiền hơn ra để mua hàng nhập khẩu nhưng nhu cầu về các mặt hàng này vẫn luôn cao. Nguyên nhân của việc này đầu tiên phải kể đến cơ cấu bất hợp lý trong nhập khẩu của nước ta. Trong cơ cấu nhập khẩu tỉ trọng của tư liệu sản xuất luôn là lớn nhất, đứng thứ 2 nguyên nhiên vật liệu, thứ 3 là máy móc thiết bị. Tỷ trọng nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu càng lớn chứng tỏ cơ cấu sản xuất của ta càng phụ thuộc nguyên vật liệu nhập khẩu và cũng thể hiện sự yếu kém trong công tác triển khai sản xuất hàng hóa, nguyên vật liệu thay thế nhập khẩu. Do nền sản xuất phụ thuộc quá nhiều vào nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu nên dù tỷ giá hối đoái thực có tăng cũng khó mà ảnh hướng lớn đến nhập khẩu. Thứ 2, là tâm lý sính ngoại của Dân Việt. Thậm chí có rất nhiều hàng hóa mà Việt Nam có thể sản xuất đủ tiêu dùng vẫn được nhập khẩu tràn lan. Và dự báo trong tương lai, các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu như xăng dầu, phân bón, sắt thép, máy móc thiết bị… vẫn sẽ bắt buộc tăng do khả năng sản xuất trong nội bộ nền kinh tế chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng. Nên dù cho tỷ giá hối đoái thực có tăng lên cũng khó mà có thể ảnh hưởng đến việc nhập khẩu này. Ngoài ra, hệ số của tỷ giá hối đoái thực là khá nhỏ, điều này cho thấy những mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu chiếm phần lớn nhập khẩu của Việt Nam là những mặt hàng có độ co giãn giá cả thấp.
Khi 2 nước cùng tham gia vào FTA thì sẽ làm cho nhập khẩu của Việt Nam tăng lên trung bình là e0,3 -1 = 60% (với điều kiện các yếu tố khác không đổi). Như vậy, có sự khác biệt khi các nước tham gia vào FTA. Trong khi đó nếu cả 2 nước cùng tham gia tổ chức thương mại thế giới WTO, cũng với điều kiện các yếu tố khác không đổi cũng làm cho nhập khẩu của Việt Nam tăng lên 0,15 %. Tuy rằng hệ số này không có ý nghĩa thống kê nhưng ta thấy hệ số này mang dấu dương như vậy tác động của việc gia nhập WTO đối với nhập khẩu Việt Nam là chưa rõ ràng
Biến khủng hoảng năm 2006 mang dấu dương và có mức ý nghĩa 5%. Như vậy cuộc khủng hoảng năm 2006 hoàn toàn không ảnh hưởng đến nhập khẩu của Việt Nam. Ngược lại, biến khủng hoảng năm 2017 mang dấu âm và có mức ý nghĩa thống kê ở mức 10%. Như vậy cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2017 có ảnh hưởng đến nhập khẩu của Việt Nam.
Đối với biến BORVNj, dự đoán trên lý thuyết của tác giả là những nước có chung đường biên giới với Việt Nam sẽ có kim ngạch nhập khẩu cao hơn.
Tuy nhiên kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy điều ngược lại. Hệ số của biến này mang dấu âm, nên nhập khẩu không hề ảnh hưởng đến việc 2 nước có chung đường biên giới hay không. Hay nói cách khác, những nước có chung đường biên giới với Việt Nam không có nghĩa là nhập khẩu sẽ cao hơn các nước không có chung đường biên giới.
- Bảng 2.13.Tóm tắt các chỉ tiêu thống kê
- Bảng 2.14.Ma trận tương quan (Hàm xuất khẩu: LnEXjt)
- Bảng 2.15. Ma trận tương quan (Hàm nhập khẩu: LnIMjt )
Như vậy trong chương 2, tác giả đã phân tích thực trạng của tỷ giá hối đoái, thực trạng của ngoại thương Việt Nam và đánh giá tác động của tỷ giá hối đoái tới ngoại thương thông qua việc sử dụng mô hình lực hấp dẫn (gravity). Với những kết luận rút trong chương 2, trong chương tiếp theo tác giả xin đề cập đến định hướng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong thời gian tới và một số khuyến nghị nhằm cải thiện những tác động của tỷ giá hối đoái đến xuất nhập khẩu của Việt Nam. Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Định hướng chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Tác động tỷ giá hối đoái đến hoạt động ngoại thương […]