Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về kinh tế – xã hội, giáo dục và đào tạo thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
2.1.1. Khái quát về kinh tế – xã hội
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Thị xã Bến Cát được thành lập theo Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ. Là một trong 09 đơn vị hành chính tỉnh Bình Dương. Thị xã Bến Cát nằm ở trung tâm tỉnh Bình Dương, thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Trung tâm thành phố cách thành phố Thủ Dầu Một 20 km và cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 km theo quốc lộ 13, có sông Sài Gòn và sông Thị Tính chảy qua.
Thị xã Bến Cát có diện tích 234,35 km².
2.1.1.2. Dân cư và lao động
Theo Niên giám thống kê tỉnh, dân số Bến Cát tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2022 là 355.663 người; Dân số thường trú là 118.443 người và dân số tạm trú là 237.220 người. Tỷ lệ tăng dân số 7,49%, trong đó tăng tự nhiên là 0,68%, tăng cơ học là 6,52%.
- Bảng 2.1. Dân số và mật độ dân số thị xã Bến Cát năm 2022
Dân số trong độ tuổi lao động là 292.763 người (chiếm 82,31% dân số của thị xã). Trong đó, lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 211.279 người, gồm: lao động phi nông nghiệp là 203.225 người, chiếm tỷ lệ 96,19%; lao động nông nghiệp toàn thị xã là 8.054 người, chiếm tỷ lệ 3,81%.
Dân số khu vực nội thị của thị xã Bến Cát là 339.558 người, dân số trong độ tuổi lao động là 280.475 người. Trong đó, lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 198.991 người, gồm: lao động phi nông nghiệp khu vực nội thị là 192.554 người, chiếm tỷ lệ 96,77%; lao động nông nghiệp là 6.437 người, chiếm tỷ lệ 3,23%
Dân số khu vực ngoại thị của thị xã Bến Cát là 16.105 người, dân số trong độ tuổi lao động là 12.288 người. Trong đó, lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 12.288 người, gồm: lao động phi nông nghiệp khu vực ngoại thị là 10.671 người, chiếm tỷ lệ 86,84%; lao động nông nghiệp là 1.617 người, chiếm tỷ lệ 13,16%.
2.1.1.3. Tình hình phát triển kinh tế Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
Vào năm 2022, mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19 và khủng hoảng kinh tế, các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở địa phương tạm ngừng trong một thời gian, nhưng kinh tế – xã hội của thị xã Bến Cát trong năm 2022 vẫn tiếp tục phát triển, cơ bản hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng, chủ yếu đã đề ra, trong đó có nhiều chỉ tiêu tăng so với năm 2021. Hiện tại, thị xã Bến Cát có 8 khu công nghiệp với tổng diện tích 4.030ha và 1 khu sản xuất tập trung có diện tích 47,7ha (tại huyện Tân Định), giải quyết việc làm cho khoảng 180.000 lao động. Năm 2022, thị xã tiếp tục thu hút 610 dự án đầu tư, tăng 6,5% so với năm 2021; Có 557 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn 4.588 tỷ đồng và 53 dự án đầu tư nước ngoài với dự án với tổng vốn đăng ký hơn 156 triệu USD.
Giai đoạn 2018-2023 kinh tế của thị xã Bến Cát tăng trưởng bình quân khá cao đặc biệt năm 2019 đạt 23,5%; năm 2020 đạt 17,3% và năm 2021 đạt 17,15%, năm 2022 đạt 12,58%, năm 2023 ước tính đạt 12,1% Tỷ trọng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây dựng là 74,36%; Thương mại – dịch vụ chiếm 25,33%; Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 0,31% trong cơ cấu kinh tế của TX Bến Cát.
- Hình 2.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã Bến Cát giai đoạn 2018-2023
Trên địa bàn hiện có 08 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích 4.030 ha, 01 khu sản xuất tập trung với diện tích 47,7 ha. Tính đến thời điểm hiện tại, hầu hết các KCN đã được sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng theo theo quy hoạch được duyệt và theo tiến độ đã lập, với các dịch vụ như: Hệ thống giao thông nội bộ KCN kết nối với đường Tỉnh lộ KCN; Hệ thống công trình cấp thoát nước sạch, hệ thống điện, bưu chính viễn thông, nhà máy xử lý nước thải tập trung, khu dịch vụ… đã đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn TX năm 2021 đạt 138 triệu đồng, năm 2020 đạt 135 triệu đồng, năm 2019 đạt 127 triệu đồng/người/năm.
2.1.2. Khái quát về giáo dục tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
TX.Bến Cát là địa chỉ người lao động ở khắp nơi tìm về sinh cơ lập nghiệp.
Từ đó nhu cầu học tập của con em người lao động cũng tăng lên. Hàng năm, TX.Bến Cát là một trong số những địa phương có số học sinh tăng cao. Đáp ứng nhu cầu học tập của các em, những năm qua ngành GD-ĐT tích cực tham mưu UBND thị xã cho phép cải tạo, sửa chữa nâng cấp mở rộng cơ sở vật chất trường lớp hiện có. Ngoài ra, ngành còn xây dựng thêm nhiều công trình trường mới ở những địa phương có số học sinh tăng cao. Quan tâm đến sự nghiệp trồng người, lãnh đạo địa phương, các ngành có liên quan đã tập trung đầu tư xây dựng trường lớp ngày càng khang trang, hiện đại, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
Hiện nay, TX.Bến Cát 17 trường tiểu học được đầu tư xây dựng kiên cố và và có hệ thống cơ sở vật chất đồng bộ. Đến nay, các trường đã được tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm cho việc tổ chức hoạt động dạy học trong trường theo hướng thực học, lý thuyết gắn với thực hành và thực tiễn, phục vụ cho giáo dục hướng nghiệp và phân luồng đạt hiệu quả. Tuy nhiên, do dân số tăng cơ học nhanh, nên áp lực về cơ sở vật chất ở TX. Bến Cát luôn ở mức cao, nhiều trường có sĩ số HS/ lớp cao hơn quy định, có trường giảm số lớp học 2 buổi/ngày để đáp ứng đủ chỗ học cho học sinh.
Do có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, kinh tế xã hội đang có chiều hướng phát triển tốt nên ngành GD&ĐT TX. Bến Cát cũng đang phát triển kịp và vượt so với các huyện, thị xã trong tỉnh. Đặc biệt trong những năm gần đây, ngành GD&ĐT TX. Bến Cá luôn nhận được sự quan tâm và chỉ đạo sâu sát của Sở GD&ĐT tỉnh Bình Dương, của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và sự phối hợp của các Ban, ngành, các tổ chức đoàn thể có liên quan; nhiều chủ trương, chính sách được ban hành và thực hiện kịp thời đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp GD&ĐT đáp ứng được nhu cầu dạy – học ở tất cả các cấp học, bậc học nói chung và bậc tiểu học nói riêng góp phần đáng kể vào việc “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho huyện nhà. Có thể khái quát như sau:
Về quy mô trường, lớp: Toàn thị xã Bến Cát hiện có 17 trường tiểu học với 597 lớp trong năm học 2022-2023 và 28.731 học sinh. Số liệu cụ thể như sau:
- Bảng 2.2. Tổng hợp mạng lưới trường, lớp và học sinh của các trường tiểu học thị xã Bến Cát
- Bảng 2.2 cho thấy số lượng lớp và số lượng học sinh trên địa bàn thị xã Bến
Cát tăng liên tục trong 3 năm học vừa qua. Từ năm học 2021-2022 đến nay, trên địa bàn thị xã đã bổ sung thêm 2 trường tiểu học: Lương Thế Vinh và Trần Văn Ơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân trên địa bàn.
- Về đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên:
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục tiểu học của 17 trường trên địa bàn khảo sát hiện có 34 người, tất cả cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn trên chuẩn, tỷ lệ 100%, có năng lực quản lý và có phẩm chất đạo đức tốt, sáng tạo trong tổ chức, quản lý, có tinh thần trách nhiệm trong công tác và luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
- Bảng 2.3. Đội ngũ giáo viên ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương năm học 2022 – 2023
Số liệu bảng 2.3 cho thấy đội ngũ giáo viên ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát được phân bổ khá chênh lệch tại 17 trường tùy theo số lớp và số lượng học sinh, giáo viên tập trung đông ở một số trường trọng điểm như tiểu học Thới Hòa (60 GV, 60 lớp và 2.963 học sinh), tiểu học Trần Quốc Tuấn (47 GV, 49 lớp, 2.330 HS). Trong tổng số 602 giáo viên, số người có trình độ đại học chiếm đại đa số (có 584 người, chiếm tỷ lệ 97,01%); số giảng viên có trình độ thạc sĩ chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn (có 04 người, ). GV tham gia bậc học tiểu học chủ yếu là GV nữ, chiếm tỷ lệ 88,54%, số lượng GV là đảng viên chiếm tỷ lệ khá cao, 51,83%. Trong năm học 2022-2023, số lượng GV đạt thành tích GV dạy giỏi cấp tỉnh khá khiêm tốn, 6 người, chiếm tỷ lệ 1%.
- Về chất lượng học sinh: Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
Số liệu thống kê kết quả học tập, rèn luyện hạnh kiểm của học sinh 17 trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát cho thấy số lượng học sinh khá, giỏi của các trường đều đạt trên 90%. Học sinh trên địa bàn thị xã Bến Cát khá ngoan hiền, thực hiện tốt nội quy nhà trường, chuyên cần trong học tập và rèn luyện. Rất ít học sinh bị xếp loại hạnh kiểm yếu. Ý thức học tập và rèn luyện đạo đức, chấp hành nội quy trường lớp của học sinh tốt là yếu tố hết sức thuận lợi đối với đội ngũ GVCN ở các trường thị xã Bến Cát.
- Về cơ sở vật chất:
Thị xã Bến Cát là địa phương có nhiều công ty, nhà máy, xí nghiệp hoạt động, thu hút lượng lớn người lao động từ các địa phương khác đến làm việc và sinh sống. Vì thế, nhu cầu học tập của con em trên địa bàn ngày một tăng. Đó cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng quá tải ở một số trường, đặc biệt là ở cấp học mầm non và tiểu học. Từ thực tế này, hàng năm, Phòng Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) TX. Bến Cát đều tổ chức kiểm tra, rà soát hiện trạng cơ sở vật chất ở từng trường học; từ đó tham mưu cho UBND thị xã bố trí kinh phí duy tu, sửa chữa và xây mới những hạng mục đã xuống cấp, hư hỏng hoặc còn thiếu, mua sắm trang thiết bị cho các nhà trường nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trên địa bàn. CSVC các trường học trên địa bàn tỉnh ngày càng được đầu tư khang trang, hiện đại. Thực tế hiện nay, nhiều đơn vị, trường học trên địa bản tỉnh có số HS/ lớp vượt cao so với quy định. Nhiều trường giảm lớp học 2 buổi/ngày do thiếu phòng học. Đặc biệt, nhiều trường thực hiện dạy học 1 buổi/ngày đối với lớp 1 gây ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018 về thời gian, thời lượng học tập và công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia…
Những năm gần đây, ngành GD-ĐT TX. Bến Cát đẩy mạnh bổ sung bộ thiết bị dạy học thông minh, ứng dụng công nghệ thông tin ở tất cả các trường học. Những tiết học có ứng dụng công nghệ thông tin trở nên vô cùng sinh động, hấp dẫn, thú vị với học sinh. Nhờ đó, chất lượng giáo dục được nâng cao, phổ cập giáo dục được duy trì, giáo dục mũi nhọn chuyển biến tích cực. Thời gian qua nhiều giáo viên TX. Bến Cát đã tiếp cận và bắt đầu sử dụng những thiết bị cao cấp để đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng hiện đại. Nhờ đó, kết quả dạy và học của các trường có bước tiến đáng ghi nhận. Năm học 2021-2022, TX.Bến Cát có nhiều học sinh đạt giải tại các cuộc thi học sinh giỏi cấp tỉnh và đạt giải cao các cuộc thi khác.
2.2. Khái quát khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Đánh giá thực trạng tổ chức HĐTN và quản lý HĐTN của hiệu trưởng các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh của Hiệu trưởng các trường tiểu học của bàn thị xã Bến Cát.
2.2.2. Đối tượng khảo sát
20 cán bộ quản lý (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) và 180 giáo viên của 10 trường: TH An Tây A, TH An Tây B, TH An Điền, TH Hồ Hảo Hớn, TH Trần Quốc Tuấn, TH Lương Thế Vinh, TH Mỹ Phước, TH Chánh Phú Hòa, TH Duy Tân, TH Thới Hòa.
Phân bố mẫu như sau:
- Bảng 2.4: Phân bố mẫu khảo sát
Trong 10 trường trên, tác giả tiến hành khảo sát 2 cán bộ quản lý và số còn lại là giáo viên giảng dạy trong trường. Như vậy, có thể nói đối tượng khảo sát là đa dạng nên ý kiến của họ phản ánh được thực trạng nhận thức và thực trạng quản lý HĐTN cho học sinh tiểu học các trường trên địa bàn thị xã.
2.2.3. Nội dung khảo sát Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
- Thực trạng hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát.
- Thực trạng về quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát.
- Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát.
- Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi các biện pháp đề xuất.
2.2.4. Phương pháp khảo sát và xử lý số liệu
- Phương pháp khảo sát
Sử dụng phiếu khảo sát đối với HT, Phó HT, giáo viên của 10 trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (Phụ lục 3, 4). Đây là phương pháp chính nhằm thu thập thông tin về thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Phỏng vấn trực tiếp các HT, Phó HT, giáo viên (Phụ lục 1, 2). Phương pháp này được thực hiện nhằm tìm hiểu các thông tin liên quan đến công tác quản lý HĐTN cho học sinh tại các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Thu thập các hồ sơ liên quan.
- Quan sát thực tiễn công việc tại các nhà trường.
- Đề tài xử lý số liệu khảo sát qua phần mềm SPSS: Phân tích ĐTB; ĐLC;
Phân tích xếp hạng. Sau khi thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20 và Microsoft Excel 2010 để xử lí thông tin mang tính định lượng. Đối với thông tin định tính (từ bảng khảo sát, phỏng vấn, phân tích hồ sơ), chúng tôi tiến hành trích lọc các ý kiến để phân tích thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
- Thời gian khảo sát
Thời gian khảo sát: từ tháng 11-12/2023.
- Xử lý kết quả khảo sát Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
Thang đo sử dụng trong 02 phiếu khảo sát chủ yếu là thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để xác định các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần số, tỉ lệ %,… Ngoài ra, chúng tôi sử dụng thang đo danh nghĩa để xác định tên gọi và đặc điểm của đối tượng khảo sát.
Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert với 5 mức độ.
- Giá trị trung bình = (Max – Min)/N = (5-1)/5 = 0.8
- Do đó, ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng cụ thể trong bảng sau:
Bảng 2.5. Quy ước mức đánh giá, phân tích số liệu
2.3. Thực trạng hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
2.3.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về vai trò của hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Việc đánh giá tầm quan trọng của HĐTN trong các trường tiểu học có ý nghĩa rất lớn trong quá trình định hướng và thực hiện các nội dung giáo dục HĐTN. Kết quả tìm hiểu nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của việc thực hiện HĐTN theo chương trình giáo dục phổ thông mới được thể hiện qua hình 2.2.
Kết quả cho thấy, đa số cán bộ quản lý, giáo viên tại các trường tiểu học trên địa bàn TX Bến Cát đều cho rằng việc thực hiện HĐTN theo chương trình giáo dục phổ thông mới là Rất quan trọng (chiếm 86,5%), 13,5% ý kiến cho rằng Quan trọng. Điều đó có thể khẳng định có sự thống nhất cao trong đánh giá mức độ quan trọng của việc thực hiện hoạt động giáo dục này. Trên thực tế, việc thực hiện HĐTN trong các nhà trường đặc biệt là cấp tiểu học được quan tâm chú ý bởi đây là lứa tuổi cần được giáo dục về kĩ năng sống, được trải nghiệm thực tế những điều đã học, được thực hành, luyện tập những kĩ năng quan trọng. Trên cơ sở đó, học sinh tiểu học hình thành và phát triển những phẩm chất và kĩ năng cần thiết, chuẩn bị cho các cấp học cao hơn.
- Bảng 2.6: Nhận thức vai trò của HĐTN đối với học sinh tiểu học
Hầu hết cán bộ QL, giáo viên của các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát đã xác định được vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong công tác bồi dưỡng, giáo dục học sinh trở thành những con người phát triển toàn diện, đáp ứng được yêu cầu phát triển của XH. Kết quả khảo sát cho thấy 100% CBQL và 76,5% giáo viên cho rằng công tác chủ nhiệm là “rất quan trọng”. Về phía giáo viên, họ xác định được vai trò của mình là người hướng dẫn, dẫn dắt các hoạt động trải nghiệm của học sinh, điều hành mọi hoạt động phong trào của lớp thật khoa học và hiệu quả, phải chịu trách nhiệm trước lãnh đạo trường về những vấn đề diễn ra trong quá trình giảng dạy. Có 76,5% cho là rất quan trọng 13,5% cho là quan trọng. Kết quả khảo sát cho thấy không một đối tượng được khảo sát nào cho rằng công tác quản lý các hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học là ít quan trọng hoặc không quan trọng. Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
2.3.2. Thực trạng mức độ thực hiện mục tiêu, nội dung, các loại hình hoạt động và hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Hoạt động trải nghiệm là một trong những hoạt động giáo dục quan trọng trong chương trình giáo dục của Nhà trường, góp phần hiện thực hóa mục đích giáo dục học sinh Tự chủ, Tự lập, Trách nhiệm. Nhận thức được tầm quan trọng của HĐTN trong giáo dục tiểu học, các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát thực hiện nghiêm túc Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Đội ngũ xây dựng và tổ chức hoạt động trải nghiệm, hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp tại các tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương được giao cho một điều phối viên chuyên trách và một giáo viên bộ môn kiêm nhiệm.
Chương trình hoạt động trải nghiệm quy định các mục tiêu đầu ra cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi mà Nhà trường mong muốn các em học sinh đạt được, cùng với nội dung chủ đề, hình thức tổ chức. Trên cơ sở Chương trình khung, Nhà trường tiến hành lập kế hoạch triển khai chi tiết các hoạt động chủ đề trải nghiệm, câu lạc bộ và hình thức đánh giá kết quả giáo dục của hoạt động. Nhà trường đồng thời tham khảo ý kiến của cha mẹ học sinh, giáo viên và học sinh để điều chỉnh hoạt động trải nghiệm phù hợp với thực tế triển khai, đảm bảo mục tiêu giáo dục năng lực, phẩm chất học sinh của Nhà trường.
Thực trạng mục tiêu của hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học thông qua sự đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên và của học sinh về mức độ thực hiện các mục tiêu của hoạt động giáo dục trải nghiệm cho học sinh tiểu học như sau:
Bảng 2.7: Mức độ thực hiện mục tiêu của hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học trong các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Theo kết quả thống kê từ bảng 2.7 cho thấy mục tiêu của hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học trong các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cụ thể:
Nội dung: “Trang bị cho học sinh một số KNS cần thiết. Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; đồng thời loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày”; “Phát huy khả năng tư duy logic, sáng tạo và giải quyết vấn đề” và “Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.” rất thường xuyên thực hiện, đạt mức 5 – mức tốt. Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
Bên cạnh đó, các nội dung: “Cung cấp kiến thức đa dạng, nâng cao kỹ năng mềm; Kích thích khả năng sáng tạo của học sinh” được CBQL và giáo viên, NV đánh giá có điểm trung bình đạt mức hiếm khi và không thực hiện. Qua đó cho thấy việc nâng cao kỹ năng mềm cho học sinh còn chưa phát huy, chưa kích thích khả năng sáng tạo cho học sinh.
Như vậy, theo đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cụ thể đã chú trọng chú trọng xác định mục tiêu của hoạt động trải nghiệm. Mức độ thực hiện các nội dung được đánh giá ở mức trung bình, với điểm trung bình chung là 3.26 điểm.
Bên cạnh đó, cũng còn nhiều mục tiêu mà các nhà trường vẫn chưa thực hiện tốt cần quan tâm và đẩy mạnh trong thời gian tiếp theo. Nhưng cũng xem đây là các hướng triển khai cơ bản trong việc thực hiện hoạt động trải nghiệm nhằm mang lại hiệu quả cao, đạt mục tiêu đề ra.
Kết quả khảo sát thực trạng phương pháp thực hiện hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tiểu học của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh cho học sinh tiểu học trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương được thể hiện trong các bảng như sau:
Bảng 2.8: Mức độ thực hiện nội dung của hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học trong các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Theo thống kê bảng 2.8 cho thấy nội dung: “10 chủ đề dành cho học sinh lớp 1,2,3” và “10 chủ đề dành cho học sinh lớp 4,5” được CBQL, GV, NV đánh giá đạt mức thực hiện rất thường xuyên mức 5 và đã có hiệu quả mức Tốt.
Hoạt động giáo dục theo chủ đề: mỗi năm học có 10 chủ đề, tương ứng mỗi tháng một chủ đề. Mục tiêu và nội dung hoạt động trong mỗi chủ đề sẽ được chia thành hai mức độ dành riêng cho học sinh lớp 1,2, 3 và lớp 4,5 để phù hợp với thể chất và tâm lý các em. Sau mỗi buổi trải nghiệm sẽ có buổi tổng kết chung lại hoạt động giáo dục đã triển khai, kết hợp với hoạt động sinh hoạt dưới cờ.
Hoạt động câu lạc bộ gồm 02 hình thức: câu lạc bộ trong giờ học và câu lạc bộ ngoài giờ học. Câu lạc bộ trong giờ học là hoạt động giáo dục chính thức của Nhà trường, vì vậy, học sinh sẽ được đánh giá như trong các môn học/hoạt động giáo dục khác. Học sinh lựa chọn tối đa 2 câu lạc bộ/ kỳ học và có thể đổi câu lạc bộ sau mỗi kỳ học. Trong khi đó, câu lạc bộ ngoài giờ học là câu lạc bộ để học sinh lựa chọn tham gia theo nhu cầu căn cứ vào lịch của Nhà trường. Danh sách các câu lạc bộ trong giờ học và ngoài giờ học như sau: Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
Bảng 2.9: Danh sách các câu lạc bộ trong và ngoài giờ học
- Đánh giá mức độ thực hiện các loại hình hoạt động trải nghiệm
Nội dung HĐTN được cụ thể hóa thành các loại hình hoạt động khác nhau, đó là: sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ, hoạt động câu lạc bộ, hoạt động giáo dục theo chủ đề. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện sẽ có những khó khăn và thuận lợi nhất định. Kết quả khảo sát mức độ thực hiện các loại hình hoạt động trên được thể hiện trong bảng dưới đây:
- Bảng 2.10: Mức độ thực hiện các loại hình hoạt động trải nghiệm
Trong số các loại hình hoạt động nêu trên, sinh hoạt lớp và sinh hoạt dưới cờ là hai loại hình được tổ chức rất thường xuyên hơn cả với ĐTB lần lượt là 4,57 và 4,50. Trong đó tất cả các ý kiến đều đánh giá 02 hình thức HĐTN này được tổ chức với mức độ thực hiện rất thường xuyên, kết quả thực hiện đạt mức 5 – mức tốt. Khi chưa có chương trình GDPT mới thì hai loại hình hoạt động này cũng đã được tổ chức dưới hình thức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Mặc dù là những hoạt động được tổ chức thường xuyên nhưng vẫn chưa thực sự gây nhiều hứng thú cho học sinh.
Hoạt động câu lạc bộ là các hoạt động được thực hiện theo nhu cầu, sở thích, năng khiếu của học sinh. Tuy nhiên, ở các nhà trường vẫn chưa có nhiều câu lạc bộ đa dạng, việc duy trì thực hiện sinh hoạt câu lạc bộ còn gặp những khó khăn nhất định như vấn đề quản lý, kinh phí, thời gian, địa điểm, số lượng hội viên. Đánh giá mức độ thực hiện của loại hình hoạt động này với ĐTB = 2,47, kết quả thực hiện mức 3 – mức trung bình. Có 14,5% ý kiến cho rằng các hoạt động của CLB được tổ chức ở mức thỉnh thoảng.
Hoạt động giáo dục theo chủ đề bao gồm HĐTN thường xuyên và HĐTN định kỳ. Trong đó, HĐTN thường xuyên có sự tham gia theo dõi, giám sát và đánh giá không chỉ giáo viên mà cả cha mẹ học sinh. Còn HĐTN định kỳ vẫn thường được lãnh đạo nhà trường lên kế hoạch mỗi kỳ, mỗi năm học, các hoạt động này được thực hiện mức độ rất thường xuyên với ĐTB = 4,28, kết quả thực hiện mức – mức tốt. Trong đó có 29% ý kiến các hoạt động này được tổ chức ở mức thường xuyên, 20,5% ý kiến cho rằng các hoạt động này được tổ chức ở mức rất thường xuyên tại trường TH của họ.
- Đánh giá mức độ thực hiện các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm
Theo chương trình giáo dục phổ thông mới, HĐTN là một dạng hoạt động giáo dục chứ không phải là môn học. Do đó, HĐTN được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Kết quả khảo sát được thể hiện trong bảng sau:
- Bảng 2.11: Các hình thức tổ chức HĐTN cho học sinh tiểu học
Trong số các hình thức tổ chức HĐTN cho học sinh tiểu học thì có 6/11 hình thức được đánh giá ở mức rất thường xuyên với ĐTB khá cao từ 4,22 – 4,75 bao gồm: Tổ chức trò chơi; Hội thi; Tham quan, dã ngoại; Lao động công ích; Giao lưu, tọa đàm; Hoạt động nhóm theo sở thích . Cụ thể: Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
Hình thức “Tổ chức trò chơi” được đánh giá là hình thức tổ chức được thực hiện Rất thường xuyên với ĐTB = 4,75. Theo tìm hiểu với CBQL và giáo viên chủ nhiệm một số lớp cho thấy việc tổ chức trò chơi được thực hiện lồng ghép trong các buổi sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp và những buổi sinh hoạt câu lạc bộ và thăm quan, dã ngoại… Lý do để hình thức tổ chức này được thực hiện thường xuyên bởi vì nó dễ tổ chức, tạo không khí vui vẻ, thoải mái và thu hút sự tập trung, chú ý tham gia của nhiều học sinh.
Hình thức tiếp theo được đánh giá ở mức độ thực hiện rất thường xuyên là “Hội thi” với điểm trung bình đạt 4,67. Hoạt động này diễn ra thường xuyên, 37,5% ý kiến đánh giá là “rất thường xuyên”, 38,5% ý kiến đánh giá là “thường xuyên”, 14% ý kiến đánh giá là “bình thường”, 10% ý kiến đánh giá là “không thường xuyên”, không có ý kiến đánh giá là “rất không thường xuyên”. Các hội thi/cuộc thi với chủ đề chủ yều tìm hiểu lịch sử, văn hóa vùng miền, chủ điểm môn học, an toàn giao thông, IOE, Trạng nguyên Tiếng Việt,…
Hình thức “Tham quan, dã ngoại” đạt 4,57 điểm cho thấy đây là hình thức tổ chức rất thường xuyên tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, với 39% ý kiến đánh giá là “rất thường xuyên”, 34% ý kiến đánh giá là “thường xuyên”, 16,5% ý kiến đánh giá là “bình thường”, không có ý kiến đánh giá “rất không thường xuyên”. Với hình thức này đem lại cho học sinh cảm nhận về bài học lý thuyết trên lớp rất bổ ích, gần gũi, dễ hiểu, các hoạt động vận động cho bản thân rất thích thú như tham gia bảo tàng, dã ngoại công viên hoặc các điểm du lịch sinh thái, khu vui chơi giải trí,… Cả CBQL và giáo viên cho rằng đây là hình thức dễ thực hiện, “các học sinh rất thích thú khi tham gia hoạt động ngoài trời”.
Các hình thức tổ chức khác như: hoạt động nhân đạo, đóng kịch, cắm trại, hoạt động tuyên truyền cũng được tổ chức nhưng không nhiều bởi nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tổ chủ quan và khách quan như: thời gian, địa điểm, kế hoạch năm học…
Riêng hình thức hoạt động theo dự án còn ít được thực hiện, chưa thực sự thu hút sự quan tâm chú ý của các em học sinh đầu cấp. Những dự án thực hiện và duy trì được còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, đây là hình thức hoạt động còn được cho là khá mới mẻ nhưng nếu được thực hiện thường xuyên sẽ rèn luyện cho học sinh nhiều kĩ năng sống như: kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng hợp tác, kĩ năng đặt mục tiêu, kĩ năng đánh giá…và cũng là cơ hội để học sinh được trải nghiệm thực tế.
Như vậy, có thể thấy HĐTN có nhiều nội dung và loại hình hoạt động cũng như hình thức tổ chức khác nhau. Tuy nhiên, muốn thực hiện tốt các nội dung giáo dục của HĐTN cần tổ chức tốt việc thực hiện các loại hình hoạt động cũng như những hình thức tổ chức hoạt động tương ứng. Có như vậy mới thực hiện có hiệu quả HĐTN cho học sinh trong các nhà trưởng tiểu học.
2.3.3. Đánh giá một số kết quả bước đầu thực hiện hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
Trong những năm gần đây, mỗi nhà trường tiểu học đã nghiêm túc thực hiện các yêu cầu về đổi mới chất lượng dạy và học. Mỗi người giáo viên, cán bộ quản lý nâng cao hơn nữa vai trò và trách nhiệm của mình đối với việc thực hiện HĐTN cho học sinh. Kết quả thực hiện sự đổi mới đó được thể hiện ở nhiều mặt, nhiều nội dung khác nhau. Có thể kể đến một số HĐTN mà các trường tiểu học trên địa bàn đã tổ chức trong năm học vừa qua:
Trường tiểu học Định Phước phối hợp với Ban chỉ huy Quân sự thị xã Bến Cát tổ chức hoạt động trải nghiệm “Một ngày em làm chiến sĩ” cho các em học sinh của trường. Nhân dịp này các em học sinh đã được nghe tuyên truyền ý nghĩa và hình ảnh của Bộ đội Cụ Hồ, được trò chuyện giao lưu với các chú Bộ đội, được nghe các chú bộ đội tuyên truyền về những tấm gương của các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, quá trình hình thành, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam; kể về công việc, đời sống và nhiệm vụ hàng ngày trong môi trường Quân đội từ đó giúp các em xác định thái độ, ý thức đúng đắn trong học tập, rèn luyện đạo đức, tác phong của người học sinh. Ngoài ra các em còn được trải nghiệm các hoạt động văn nghệ chào mừng, hào hứng sôi nổi khi được xem các chú biểu diễn bài đồng diễn thể dục, võ thuật, gấp xếp chăn màn, tháo lắp súng…
Trường tiểu học An Lợi tiến hành tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh từ khối 1 đến khối 5 với chủ đề” Trải nghiệm để thích nghi, đồng hành và sáng tạo”. Với sự chuẩn bị chu đáo từ nguồn lực hỗ trợ, trang thiết bị đầy đủ,…. cùng sự nhiệt tình từ tập thể Cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh buổi hoạt động trải nghiệm diễn ra thật vui tươi, ý nghĩa và thiết thực. Hoạt động vừa giúp học sinh được vận dụng kiến thức, kỹ thuật trồng rau vừa bao hàm yếu tố tìm hiểu về công nghệ STEM cơ bản (thẩm thấu nước->tưới cây nhỏ giọt qua vật dẫn là dây bấc, hoặc các sản phẩm từ vải không dệt) giúp tiết kiệm nước, giáo dục tinh thần đoàn kết, hợp tác, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, giáo dục giữ gìn vệ sinh môi trường, tiết kiệm nguyên liệu, sử dụng lại các sản phẩm nhựa đã qua sử dụng vừa góp phần bảo vệ môi trường vừa tiết kiệm tiền mua vật dụng. Sau hơn 2 giờ hoạt động thật sôi nỗi và hiệu quả buổi hoạt động trải nghiệm đã đạt được hiệu quả như mong đợi. Thông qua hoạt động Ban tổ chức gửi mong muốn học sinh phát huy hơn nữa sự vận dụng, sự lan toả ý thức thay đổi vì môi trường, giảm thiểu hiệu ứng nhà kính, tiết kiệm năng lượng,…. Thường xuyên thực hành tiết kiệm nước, năng lượng, tích cực sử dụng tiết kiệm, hợp lí, hiệu quả gắn với hưởng ứng Giờ Trái đất ngày 25/3/2023 (từ 20 giờ 30 phút -21 giờ 30 phút) góp phần tạo nên lợi ích cho bản thân, gia đình và toàn xã hội. Mỗi thành viên của xã hội, mỗi công dân Việt Nam nói chung và học sinh tiểu học nói riêng thực hiện làm những việc có ích, phù hợp với độ tuổi tâm sinh lý.
Liên đội trường tiểu học Trần Quốc Tuấn vừa tổ chức chương trình học kỳ quân đội “Một ngày em tập làm chiến sĩ” cho học sinh, đội viên của liên đội. Các em học sinh, đội viên được trải nghiệm “một ngày làm chiến sĩ” tại Sư đoàn 9, huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh. Tại đây, học sinh được tham gia nhiều hoạt động như tham quan nhà truyền thống; tập thể dục kết hợp sắp xếp đội ngũ, ổn định đội hình trong quân đội; gấp xếp nội vụ; tham quan thao trường quân đội; tham quan và trải nghiệm khu tăng gia sản xuất; giao lưu văn nghệ…
Các hoạt động nêu trên được tổ chức đã thu hút sự quan tâm của cha mẹ học sinh cũng như sự tham gia nhiệt tình của các em học sinh. Mong muốn của học sinh cũng như cha mẹ của các em là có thêm nhiều hoạt động hơn nữa để học sinh có cơ hội trải nghiệm, rèn luyện các kĩ năng sống cơ bản và giao lưu, học hỏi lẫn nhau.
Như vậy, thực hiện theo chương trình giáo dục phổ thông mới đối với HĐTN ở cấp tiểu học, mỗi nhà trường đều tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau và bước đầu đã có được một số kết quả tích cực. Các nội dung HĐTN được lồng ghép vào nhiều hoạt động của nhà trường, các tiết học cũng được giáo viên tích hợp nhiều nội dung gắn với thực tế, phát huy khả săng sáng tạo của học sinh cũng như dành nhiều thời gian hơn để học sinh được thực hiện, được trải nghiệm những điều đã học, đã biết ở trên lớp. Tuy nhiên, để tổ chức HĐTN cho học sinh ở các trường tiểu học đạt hiệu quả và chất lượng thì vẫn cần có sự quản lý, hướng dẫn tổ chức của lãnh đạo nhà trường cũng như sự tham gia tích cực của đội ngũ giáo viên và các lực lượng giáo dục khác.
2.4. Thực trạng thực hiện quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
2.4.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Nhận thức đúng về sự cần thiết của công tác quản lý HĐTN theo chương trình giáo dục phổ thông mới có ý nghĩa quan trọng đối với việc tổ chức, thực hiện cũng như quản lý HĐTN trong các nhà trường tiểu học. Với ý nghĩa đó, đề tài tiến hành khảo sát về tính cần thiết của việc quản lý HĐTN theo chương trình giáo dục phổ thông mới và thu được kết quả như sau:
- Hình 2.2: Mức độ cần thiết của việc quản lý HĐTN trong các trường tiểu học
Hầu hết ý kiến đều tập trung nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc quản lý HĐTN theo chương trình giáo dục phổ thông mới tại các nhà trường tiểu học (chiếm tỉ lệ 94,5%). HĐTN muốn thực hiện có hiệu quả phải có sự quản lý, giám sát và chỉ đạo kịp thời của bộ phận lãnh đạo cũng như có sự hướng dẫn, quản lý của đội ngũ giáo viên khi tổ chức hoạt động cho học sinh. Đối với lực lượng xã hội ngoài nhà trường phải nói đến vai trò quản lý của cha mẹ học sinh trong việc theo dõi, hướng dẫn trẻ. HĐTN không phải là một môn học chỉ diễn ra trên lớp mà là hệ thống các hoạt động giáo dục khác nhau nhằm hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh. Với tính đặc thù thể hiện ở sự đổi mới về không gian, thời gian, địa điểm, nội dung, phương pháp mới…và sự quản lý mới. Do đó, nhận thức đúng về sự cần thiết của việc quản lý HĐTN sẽ là cơ sở để tổ chức một cách hiệu quả, khoa học hoạt động này trong nhà trường tiểu học.
2.4.2. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Xây dựng kế hoạch công tác giáo dục, trong đó có HĐTN là việc làm quan trọng của người làm công tác quản lý tại mỗi nhà trường ở bậc GDPT nói chung và bậc GDTH nói riêng. Khi xây dựng kế hoạch HĐTN, người quản lý cần phải căn cứ vào nhiệm vụ mỗi năm học, điều kiện thực hiện của nhà trường, vì đây là cơ sở để xây dựng kế hoạch HĐTN một cách khoa học và có chất lượng, hiệu quả. Trong thực tế việc xây dựng kế hoạch HĐTN cho học sinh tiểu học còn chưa được quan tâm đúng mức, tác giả tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi với 20 CBGV và 180 giáo viên của các trường tiểu học thị xã Bến Cát điểm trung bình đạt 3,65 điểm, cho thấy hoạt động này khá thường xuyên, cụ thể như sau:
- Bảng 2.12: Thực trạng việc xây dựng kế hoạch HĐTN của hiệu trưởng các trường tiểu học
Nội dung quản lý việc xây dựng kế hoạch HĐTN theo chương trình giáo dục phổ thông mới được thể hiện ở khâu chỉ đạo giáo viên, tổ chuyên môn lập kế hoạch thực hiện và khâu triển khai các kế hoạch đã được xây dựng. Kết quả khảo sát trong bảng 2.10 cho thấy: Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
Tiêu chí “Xác định rõ mục tiêu của HĐTN” đạt 4,89 điểm, được đánh giá cao nhất, rất thường xuyên thực hiện, kết quả thực hiện đạt mức 5 – mức tốt. Trong đó có 34% ý kiến đánh giá là “rất cần thiết”, 43% ý kiến đánh giá là “cần thiết”, 23% ý kiến đánh giá là “khá cần thiết”, không có ý kiến đánh giá là “ít cần thiết” và không cần thiết”. Kết quả này cho thấy việc xác định rõ mục tiêu các hoạt động nói chung và mục tiêu của HĐTN rất quan trọng trong quá trình thực hiện nhằm xây dựng đề cương học phần chính xác, phân bổ nguồn lực hợp lý, tạo hiệu quả tốt trong quá trình thực hiện.
Tiêu chí “Xây dựng kế hoạch HĐTN cụ thể cho từng năm học” đạt 3,06 điểm, xếp thứ hai, rất thường xuyên thực hiện, kết quả thực hiện đạt mức 5 – mức tốt. Trong đó có 20,5% ý kiến đánh giá là “rất cần thiết”, 50% ý kiến đánh giá là “cần thiết”, 29,5% ý kiến đánh giá là “ khá cần thiết”, không có ý kiến đánh giá là “ít cần thiết” và “không cần thiết”. Qua kết quả cho thấy công tác xây dựng kế hoạch chung HĐTN và cho từng khối lớp được nhà quản lý quan tâm thực hiện. CBQL đều cho ý kiến đây là công tác thực hiện thường xuyên, đôn đốc cả giáo viên và học sinh hàng năm, có kế hoạch triển khai phù hợp từng khối.
Kết quả xử lý số liệu cho thấy rằng trong khâu quản lý chỉ đạo giáo viên, tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch HĐTN thì nhà trường đã làm tốt được việc xây dựng kế hoạch tổ chức HĐTN theo từng năm học. Những việc được đánh giá là đã làm khá tốt như: Xác định rõ mục tiêu của HĐTN; Xây dựng các HĐTN phù hợp với mục tiêu; Phân bổ nguồn lực cụ thể cho từng hoạt động; Hướng dẫn các tổ chuyên môn lập kế hoạch HĐTN; Phê duyệt kế hoạch HĐTN của tổ chuyên môn; Hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch HĐTN theo chương trình giáo dục phổ thông mới. Kết quả khảo sát cũng thể hiện cả cán bộ quản lý và giáo viên đều đồng
với việc mà hiệu trưởng làm tương đối hiệu quả, đó là có hướng dẫn các tổ chuyên môn, giáo viên lập kế hoạch và phê duyệt kế hoạch. Điều này cho thấy hiệu trưởng đã quan tâm đến công tác lập kế hoạch và quản lý kế hoạch của đội ngũ cán bộ và giáo viên của mình.
Bên cạnh đó, trong quá trình quản lý việc xây dựng kế hoạch HĐTN cũng gặp phải những khó khăn và hạn chế nhất định. Chẳng hạn như: Xác định biện pháp và cách thức thực hiện các hoạt động thiết thực, Huy động các lực lượng tham gia xây dựng kế hoạch; với ĐTB chỉ từ 1,93 – 2,92 hiếm khi thực hiện, kết quả thực hiện đạt mức 2 – mức yếu. Việc huy động các lực lượng cùng tham gia xây dựng kế hoạch ở các trường còn hạn chế. Khi xây dựng kế hoạch tổ chức HĐTN còn thiếu tính sáng tạo, mang tính máy móc chưa có sự linh hoạt. Đặc biệt là sự đổi mới qua từng năm học. Điều này cũng dẫn đến việc các tổ chuyên môn và giáo viên xây dựng kế hoạch chưa hiệu quả. Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
2.4.3. Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Để tìm hiểu thực trạng công tác tổ chức thực hiện kế hoạch HĐTN cho học sinh của hiệu trưởng đã triển khai, tác giả tiến hành khảo sát, trao đổi với CBQL, GV của 10 trường tiểu học, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.13: Thực trạng tổ chức HĐTN cho học sinh theo chương trình giáo dục phổ thông mới
Nội dung này có 09 tiêu chí đánh giá, điểm trung bình toàn bộ thang đo là 2,89. Nhìn chung, đã có sự quản lý kế hoạch tổ chức HĐTN cho học sinh tuy nhiên mức độ hiệu quả chưa cao, điểm trung bình của các nội dung chênh lệch tử 2,64 – 2.89. Cụ thể như sau:
Có 4/9 tiêu chí khảo sát được đánh giá mức độ hiệu quả cao với ĐTB đạt từ 2,89. Đó là: Thành lập ban chỉ đạo triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới, trong đó có HĐTN; Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực thực hiện HĐTN cho giáo viên và các lực lượng giáo dục khác; Phát huy vai trò tổ chuyên môn trong tổ chức thực hiện kế hoạch HĐTN; Phối hợp tốt với tổ chức Đoàn, Đội trong triển khai HĐTN cho học sinh. Trong đó tiêu chí được đánh giá cao nhất là “Phát huy vai trò tổ chuyên môn trong tổ chức thực hiện kế hoạch HĐTN” với điểm trung bình đạt 3,12; kết quả thực hiện đạt mức 3 – mức trung bình; có 16% ý kiến đánh giá là “rất cần thiết”, 60,5% ý kiến đánh giá là “cần thiết”, 22% ý kiến đánh giá là “khá cần thiết”, 1,5% ý kiến đánh giá là “ít cần thiết” và không có ý kiến đánh giá ở mức “không cần thiết”. Khi tiếp cận chương trình GDPT mới, các trường đều nghiêm túc tiếp nhận chỉ đạo và khẩn trương thành lập Ban chỉ đạo triển khai tới toàn thể đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường. Tổ chức bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên, nhất là những giáo viên đã được giao nhiệm vụ thực hiện trực tiếp các hoạt động. Trực tiếp chỉ đạo, giám sát giáo viên là các tổ chuyên môn trong thực hiện HĐTN.
Có 2/9 nội dung khảo sát còn thực hiện chưa cao là “Phát huy vai trò tham gia của ban đại diện cha mẹ học sinh trong tổ chức HĐTN” (ĐTB đạt 2,64) và Huy động được các lực lượng khác trong xã hội cùng tham gia thực hiện HĐTN cho học sinh (ĐTB đạt 2,83). Thực tế cho thấy ở các lớp giáo viên đều tổ chức các buổi họp có sự tham gia của cha mẹ học sinh nhưng vì điều kiện và hoàn cảnh mỗi gia đình học sinh khác nhau nên khó phát huy được sự tham gia của họ khi tổ chức các HĐTN cho học sinh, nếu có thì chỉ có một số lượng rất ít. Ngoài ra, việc huy động các lực lượng giáo dục khác như: cơ quan, tổ chức, đoàn thể, các nhà máy, công ty, doanh nghiệp… trên địa bàn nhà trường đóng còn gặp những khó khăn nhất định, cũng đã có sự tham gia nhưng chưa nhiều hoặc chưa hiệu quả.
Như vậy cần tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực thực hiện HĐTN cho giáo viên và các lực lượng giáo dục khác để cải thiện chất lượng giáo dục, nâng cao hiệu suất học tập và đáp ứng yêu cầu thay đổi của xã hội hiện nay.
2.4.4. Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
Để HĐTN diễn ra có kết quả cần có sự chỉ đạo, giám sát việc thực hiện hoạt động giáo dục đó cho học sinh. Đánh giá hiệu quả của việc chỉ đạo thực hiện HĐTN các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát được thể hiện trong bảng dưới đây:
- Bảng 2.14: Thực trạng chỉ đạo thực hiện HĐTN cho học sinh
Kết quả khảo sát tại Bảng 2.11 cho thấy, Tiêu chí này có 06 nội dung đánh giá, điểm trung bình của tiêu chí là 3,55. Kết quả cho thấy hầu hết các nội dung chỉ đạo thực hiện HĐTN đã được quan tâm, tuy nhiên mức độ cũng chưa cao, chưa thực sự hiệu quả. Có 2/6 nội dung được đánh giá ở mức hiệu quả cao hơn là: Chỉ đạo giáo viên thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, đánh giá kết quả HĐTN của học sinh (ĐTB = 4,22) rất thường xuyên thực hiện, kết quả thực hiện đạt mức 5 – mức tốt và Chỉ đạo tăng cường cơ sở vật chất, tài chính phục vụ tổ chức HĐTN có hiệu quả (ĐTB = 3,01) thỉnh thoảng thực hiện, kết quả thực hiện đạt mức 3 – mức trung bình.
Trong quá trình quản lý việc chỉ đạo thực hiện HĐTN cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn, cán bộ quản lý còn gặp hạn chế trong Chỉ đạo giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp và đa dạng hóa các hình thức tổ chức HĐTN (ĐTB = 2,20) hiếm khi thực hiện, kết quả thực hiện đạt mức 2 – mức yếu. Bởi vì HĐTN theo chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 là chương trình mới được triển khai và nó có những điểm khác rất lớn với các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trước đây đã tổ chức nên việc tiếp cận nó còn gặp nhiều khó khăn. Việc chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức HĐTN cần có thời gian và sự phối hợp triển khai thực hiện của nhiều lực lượng. Do đó quản lý chỉ đạo giáo viên phối kết hợp với tổ chức Đoàn, Đội các lực lượng giáo dục khác trong tổ chức HĐTN cũng chưa thực sự có hiệu quả cao (ĐTB = 2,96) thỉnh thoảng thực hiện, kết quả thực hiện đạt mức 3 – mức trung bình.
Bên cạnh đó, Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch hoạt động thường xuyên: kế hoạch cá nhân, nội dung và hình thức HĐTN theo từng chủ đề, chủ điểm và Chỉ đạo giáo viên thực hiện có hiệu quả nội dung, chương trình HĐTN cũng vẫn còn những hạn chế nhất định nên đánh giá các nội dung này với ĐTB đạt từ 2,97 – 2,98 thỉnh thoảng thực hiện, kết quả thực hiện đạt mức 3 – mức trung bình. Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
Mặc dù đã có sự quan tâm, chỉ đạo, hướng dẫn giáo viên thực hiện HĐTN theo chương trình giáo dục phổ thông mới nhưng việc xây dựng kế hoạch hoạt động với những nội dung và hình thức phù hợp và thực hiện nó có hiệu quả còn ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: nhân lực, thời gian, địa điểm, sự phối hợp lực lượng tham gia, loại hình phù hợp với độ tuổi của học sinh…
Như vậy, việc quản lý chỉ đạo thực hiện HĐTN đã có nhưng hiệu quả chưa thật sự cao. Để thực hiện tốt điều này cần tới vai trò lớn của đội ngũ giáo viên, cán bộ nhà trường trong việc tiếp nhận chỉ đạo và thực hiện đúng với yêu cầu của cấp quản lý. giáo viên phải nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện HĐTN cho học sinh, tuân thủ những yêu cầu, quy định trong quá trình tổ chức hoạt động. 2.4.5. Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Kiểm tra đánh giá là một khâu rất quan trọng trong hoạt động quản lý. Thực hiện tốt chức năng kiểm tra, đánh giá sẽ giúp nhà quản lý đánh giá đúng chất lượng hoạt động, có tác dụng thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của đối tượng quản lý và điều chỉnh sự tác động quản lý của chủ thể. Trong quản lý HĐTN cho học sinh tiểu học cũng vậy, nếu nhà quản lý không tổ chức kiểm tra sẽ dẫn đến tình trạng làm ít báo cáo nhiều, hình thức đối phó trong tổ chức hoạt động, dẫn đến khả năng điều chỉnh kế hoạch không có, hiệu quả HĐTN thấp. Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện HĐTN giúp Hiệu trưởng kịp thời phát hiện và điều chỉnh những lệch lạc, sai sót trong quá trình thực hiện kế hoạch từ đó đưa ra những uốn nắn, sửa chữa cần thiết. Để biết được việc tổ chức HĐTN ở mức độ nào thì cần có sự theo dõi, giám sát nhất là trong việc kiểm tra, đánh giá việc thực hiện HĐTN cho học sinh mỗi nhà trường. Tìm hiểu hiệu quả quản lý việc kiểm tra, đánh giá HĐTN ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, tác giả thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.15: Thực trạng kiểm tra, đánh giá HĐTN theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở tiểu học
Tiêu chí “Thực trạng kiểm tra, đánh giá HĐTN theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở tiểu học” có 5 nội dung đánh giá, điểm trung bình của tiêu chí là 3,00 điểm trung bình từng nội dung dao động trong phạm vi 2,99 – 3,00.
Trong 05 nội dung được khảo sát thì tiêu chí “Giáo viên chủ nhiệm thực hiện tổng hợp kết quả đánh giá kết quả giáo dục của học sinh” được cho là hiệu quả nhất với ĐTB = 3,04 thỉnh thoảng thực hiện, kết quả thực hiện đạt mức 3 – mức trung bình, có 25,5% ý kiến đánh giá là “rất cần thiết”, 66,5% ý kiến đánh giá là “cần thiết”, 8% ý kiến đánh giá là “ khá cần thiết”, không có ý kiến đánh giá “ít cần thiết” và “không cần thiết”. Theo đó, sau khi thực hiện HĐTN thì việc tổng hợp kết quả giáo dục của học sinh là do giáo viên chủ nhiệm phụ trách. Kết quả tổng hợp sẽ được lưu giữ trong hồ sơ hoặc sổ theo dõi học sinh. giáo viên chủ nhiệm sẽ chịu trách nhiệm trước tổ chuyên môn và hiệu trưởng nhà trường về những kết quả đánh giá mà mình đã tổng hợp.
Bên cạnh đó, công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá HĐTN cho học sinh còn được thể hiện ở việc Hướng dẫn giáo viên đánh giá kết quả giáo dục dựa trên mức độ đạt được của học sinh so với yêu cầu về phẩm chất và năng lực và Sử dụng đa dạng các hình thức đánh giá kết quả giáo dục của học sinh một cách có hiệu quả. Kết quả khảo sát cho thấy hai nội dung này cũng được đánh giá ở mức khá hiệu quả với ĐTB 3,00 thỉnh thoảng thực hiện, kết quả thực hiện đạt mức 3 – mức trung bình. HĐTN trong chương trình giáo dục phổ thông mới đã nêu rõ những yêu cầu về phẩm chất và năng lực cần đạt của học sinh khi tham gia các hoạt động giáo dục. Do đó, căn cứ trên các yêu cầu đó để người giáo viên xem xét và xác định các tiêu chí để đánh giá học sinh một cách chính xác nhất. Đây cũng là cơ sở để các đối tượng tham gia đánh giá như học sinh, cha mẹ học sinh, giáo viên phụ trách Đoàn, Đội…đánh giá đúng kết quả giáo dục khi thực hiện HĐTN của học sinh. Việc đánh giá dưới nhiều hình thức như: Tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng, đánh giá của cha mẹ học sinh và cộng đồng, đánh giá của giáo viên.
Có hai nội dung trong quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục trong HĐTN cho học sinh còn thực hiện ở mức Trung bình là Đánh giá kết quả giáo dục học sinh trên cả hai loại thông tin: định tính và định lượng và Thực hiện đánh giá học sinh về các: mặt nhận thức, thái độ, kĩ năng, đóng góp của học sinh, số giờ tham gia các hoạt động với ĐTB = 2,99. Chẳng hạn trong cứ liệu đánh giá thì việc thu thập thông tin định tính nhiều khi còn chưa được khách quan, nguồn nhận xét còn không được kịp thời. Còn những thông tin định lượng thì dễ xác định hơn vì có ghi chép cụ thể theo từng hoạt động mà giáo viên tổ chức. Như vậy, trong việc quản lý kiểm tra, đánh giá HĐTN cho học sinh mặc dù có sự chênh lệch về tính hiệu quả ở các nội dung được khảo sát nhưng nhìn chung hiệu quả quản lý vẫn chưa cao, còn nhiều vấn đề khó khăn cần có thời gian để tháo gỡ và đánh giá chính xác hơn. Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Đề tài nghiên cứu khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học của 10 trường trên địa bàn TX. Bến Cát. Có 07 tiêu chí đưa vào khảo sát. Kết quả như sau:
Bảng 2.16: Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý HĐTN cho học sinh các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Kết quả đánh giá công tác quản lý HĐTN cho học sinh tiểu học thị xã Bến Cát chịu ảnh hưởng các yếu tố như sau:
Một là, điều kiện CSVC, tài chính phục vụ cho HĐTN có điểm trung bình 4,75 kết quả thực hiện rất ảnh hưởng đạt mức 5 – mức tốt, có 46% ý kiến đánh giá là rất ảnh hưởng, 51,5% ý kiến đánh giá là ảnh hưởng, 2,5% ý kiến đánh giá ở mức bình thường và 0% ý kiến là không ảnh hưởng. Khi phỏng vấn sâu, các cán bộ giáo viên cho rằng, để HĐTN diễn ra thành công thì đòi hỏi phải có CSVC phục vụ, chẳng hạn môn học lịch sử, các em học sinh cần đến bảo tàng hoặc danh lam thắng cảnh, di tích,… nhà trường bố trí xe đưa đón, kinh phí hỗ trợ mua vé, ăn uống, nghỉ ngơi,… đều cần các nguồn lực tham gia không chỉ trích từ nguồn học phí mà huy động tiền đóng góp của phụ huynh học sinh, các cá nhân, tổ chức tài trợ,… nên CSVC và tài chính là nhân tố quan trọng có tính quyết định đến công tác quản lý hiệu quả mức độ nào. CBQL khi được phỏng vấn đều nhấn mạnh vai tro của điều kiện CSVC, tài chính là yếu tố quan trọng đóng góp cho chất lượng HĐTN.
Hai là “Thái độ, hứng thú tham gia hoạt động của học sinh” có điểm trung bình 4,57 kết quả thực hiện rất ảnh hưởng đạt mức 5 – mức tốt. Thực tế cho thấy học sinh là trung tâm của HĐTN. Sự hứng thú thúc đẩy học sinh chủ động và tự nguyện tham gia hoạt động cùng bạn và giáo viên. Các hoạt động trải nghiệm mang lại hứng thú đối với học sinh thường là: Hoạt động có các câu đố mà học sinh cần giải khi thực hiện nhiệm vụ; Hoạt động có tính thử thách học sinh cần phải vượt qua; Hoạt động có âm nhạc trong quá trình thực hiện; Hoạt động có yêu cầu học sinh ca hát, nhảy múa; Hoạt động tác động đến nhiều giác quan của các em, các em được quan sát (mắt), nghe (tai), nói (miệng), làm việc bằng tay với đồ dùng, vật liệu (xúc giác),…
Ba là, khả năng của người tổ chức HĐTN cho học sinh, đó là CBQL, CBGV tham gia vào chương trình HĐTN với ĐTB đạt 4,57 kết quả thực hiện rất ảnh hưởng đạt mức 5 – mức tốt, có 40,5% ý kiến đánh giá là rất ảnh hưởng, 47% ý kiến đánh giá là ảnh hưởng và không có ý kiến là không ảnh hưởng. Chính sách đối với GV, cán bộ Đoàn tham gia tổ chức cho học sinh còn chưa chi tiết, rõ ràng; Bên cạnh đó năng lực tổ chức hoạt động của giáo viên còn hạn chế đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng hoạt động và hiệu quả HĐTN của học sinh.
Thứ tư, khả năng quản lý, tổ chức, lãnh đạo của Hiệu trưởng với ĐTB là 4,22 có kết quả thực hiện rất ảnh hưởng đạt mức 5 – mức tốt, có 74,5% ý kiến đánh giá là ảnh hưởng và rất ảnh hưởng, 25,5% ý kiến đánh giá là bình thường và không có ý kiến là không ảnh hưởng. Hiện nay còn tình trạng một số hiệu trưởng trường tiểu học còn mang nặng tư duy truyền thống, thay đổi thói quen môn học khi điều chỉnh tiết học giữa lý thuyết và thực hành (thông qua HĐTN) còn hạn chế, nhất nhất phải theo chương trình truyền thống đó là hạn chế, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng này không phải là quá nhiều đến công tác quản lý HĐTN trong trường tiểu học. Giáo viên được phỏng vấn đều khẳng định vai trò của người lãnh đạo/CBQL nhà trường trong đưa ra các quyết định, năng lực, tổ chức thực hiện chương trình HĐTN.
2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
2.6.1. Những kết quả đạt được Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trong các trường tiểu học trên địa bàn thành phố TX. Bến Cát có phẩm chất tốt, có năng lực chuyên môn, đạt nhiều thành tích cao trong dạy và học.
Đa số học sinh rất tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, đặc biệt là các HĐTN được giáo viên nhà trường tổ chức. Thông qua các hoạt động đó, các em được trải nghiệm thực tế, phát huy được tính tự giác, tích cực của học sinh.
Hầu hết cán bộ quản lý và giáo viên các trường đều nhận thức đúng về mục tiêu, ý nghĩa của HĐTN, sự cần thiết phải thay đổi hình thức và cách thức tổ chức hoạt động để thu hút học sinh cũng như phát triển năng lực người học. Đồng thời, trong quá trình thực hiện họ cũng đều nhận thức đúng vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và các lực lượng giáo dục trong nhà trường trong việc tổ chức, quản lý các HĐTN cho học sinh.
Hiệu trưởng các trường đã quan tâm đến công tác chỉ đạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức và năng lực chuyên môn trong tổ chức các HĐTN cho đội ngũ giáo viên, do đó bước đầu thực hiện HĐTN cho học sinh đã có những kết quả nhất định. Có nhiều phụ huynh học sinh quan tâm tới các hoạt động giáo dục trong nhà trường, sẵn sàng tham gia cùng và hỗ trợ một phần kinh phí cho các nhà trường để tổ chức các hoạt động có ý nghĩa cho học sinh.
Về công tác lập kế hoạch tổ chức hoạt động trải cho nghiệm cho học sinh tiểu học trên địa bàn TX. Bến Cát đã thực hiện ngay từ đầu năm học; các tổ, nhóm chuyên môn đã phải trao đổi, thống nhất trong tổ, nhóm để lựa chọn các HĐTN trong một năm học do tổ, nhóm hoặc liên môn thực hiện và báo cáo về ban giám hiệu nhà trường để xây dựng kế hoạch năm học.
Về công tác tổ chức thực hiện hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn TX. Bến Cát: Thường xuyên giám sát, đôn đốc, nhắc nhở; Tạo điều kiện thuận lợi để CBGV thực hiện nhiệm vụ; Khen thưởng, xử lý kịp thời, công bằng, chính xác; Chuẩn bị mọi nguồn lực để thực hiện HĐTN của học sinh. Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
2.6.2. Hạn chế
Về công tác lập kế hoạch hoạt động trải cho nghiệm cho học sinh ở tiểu học trên địa bàn TX. Bến Cát còn mang nặng tính hình thức, năm sau theo năm trước mà chưa có sự đột phá, cải cách trong thay đổi các chương trình, nội dung, tính mới cho HĐTN.
Về công tác tổ chức thực hiện hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở trường tiểu học TX. Bến Cát: các nội dung công việc trong kế hoạch HĐTN của hiệu trưởng và CBQL đều được tổ chức thực hiện nhưng thực hiện chỉ ở mức trung bình, chưa thực hiện thường xuyên, nhất là phân công cụ thể công việc cho từng tổ, nhóm, cá nhân CBGV, công tác bồi dưỡng giáo viên về HĐTN; Có cơ chế phối hợp cụ thể giữa giáo viên và các lực lượng khác.
Về công tác chỉ đạo triển khai các hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở trường tiểu học TX. Bến Cát: các nội dung chỉ đạo chưa được quan tâm tiến hành thường xuyên; Chỉ đạo thực hiện nội dung HĐTN theo chủ đề rèn luyện KNS và Phối hợp các lực lượng giáo dục trong tổ chức HĐTN còn hạn chế.
2.6.3. Nguyên nhân của hạn chế
- Nguyên nhân của mặt mạnh:
Có được những kết quả như vậy là do các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát đã được UBND tỉnh, thị xã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất cho các nhà trường, 100% các trường tiểu học trong thành phố đều là nhà cao tầng kiến cố, trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Hằng năm đều có kế hoạch cấp phát bổ sung các thiết bị đồ dùng phục vụ cho các hoạt động trong nhà trường.
Phòng GD&ĐT quan tâm chỉ đạo sát sao các hoạt động chuyên môn. Các kế hoạch trong năm học được xây dựng cụ thể và triển khai kịp thời. Tích cực kiểm tra tư vấn công tác chuyên môn, tổ chức nhiều các buổi chuyên đề cho giáo viên các trường tham gia.
- Nguyên nhân của những hạn chế:
Năng lực tổ chức HĐTN của giáo viên còn hạn chế, một bộ phận giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức các HĐTN cho học sinh, phương tiện dạy học chưa đáp ứng đầy đủ và mang tính khả thi.
Các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát chưa phát huy được vai trò chủ động trong việc hợp tác các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường, chưa xây dựng được cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội nên việc tổ chức HĐTN cho học sinh của nhà trường còn gặp những khó khăn nhất định.
Do nguồn tài chính còn hạn hẹp, nên cơ sở vật chất phục vụ cho tổ chức HĐTN mặc dù đã được Ủy ban nhân dân tỉnh và thị xã quan tâm, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ, một số trường còn thiếu điều kiện để tổ chức HĐTN.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
Công tác quản lý, tổ chức thực hiện HĐTN của các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát trong những năm học qua bước đầu đã đạt được một số kết quả nhất định. Trong đó, việc lập kế hoạch hoạt động và tổ chức thực hiện HĐTN đã được quan tâm với sự tham gia chủ yếu là các lực lượng giáo dục trong nhà trường. Các hình thức tổ chức HĐTN được tổ chức với sự tham gia tích cực của học sinh. Tuy nhiên, việc quản lý HĐTN cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn hiệu quả vẫn chưa cao thể hiện ở nhiều nội dung như: quản lý việc xây dựng kế hoạch HĐTN, quản lý việc tổ chức thực hiện kế hoạch, quản lý việc chỉ đạo thực hiện HĐTN, quản lý việc đánh giá kết quả giáo dục trong HĐTN và quản lý việc sử dụng cơ sở vật chất trong tổ chức các hoạt động.
Có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến việc quản lý tổ chức HĐTN cho học sinh ở các trường tiểu học của thị xã Bến Cát. Trong đó, phải kể đến các yếu tố thuộc về năng lực quản lý của hiệu trưởng và sự phối hợp của các lực lượng giáo dục trong tổ chức HĐTN cho học sinh.
Xuất phát từ thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm tại 10 trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, chúng tôi cho rằng, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý cần phải tìm hiểu, nghiên cứu, xây dựng những giải pháp quản lý tích cực mang tính đồng bộ, khoa học để nâng cao chất lượng hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học.
Trên cơ sở làm rõ thực trạng tổ chức HĐTN cũng như thực trạng quản lý HĐTN cho học sinh sẽ là những chỉ báo quan trọng để tác giả đề xuất những biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý HĐTN cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
