Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường mầm non tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục mầm non đã tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi; khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền móng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Do đó, giáo dục mầm non luôn được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của các cấp quản lý từ trung ương đến địa phương. Định hướng phát triển chất lượng giáo dục mầm non ngày càng tốt hơn, giúp trẻ phát triển thể chất, tinh thần, tư duy sáng tạo, các nhà quản lý giáo dục cần phải nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ ở trường mầm non có tính khả thi và phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương.
Tác giả thực hiện luận văn với đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường mầm non tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương”, kết quả nghiên cứu như sau:
Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường mầm non: Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước và ngoài nước: Nêu một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài; trình bày cơ sở lý luận về giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN; quản lý giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN; nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng khách quan và chủ quan đến công tác quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non.
Khảo sát, đánh giá chính xác thực trạng về quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường MN tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Nội dung bao gồm: thực trạng giáo dục DD cho trẻ 3-5 tuổi trong trường MN tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; thực trạng quản lý giáo dục DD cho trẻ 3-5 tuổi trong trường MN tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục DD cho trẻ 3-5 tuổi trong trường MN tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương;
Đề tài đã đề xuất được 6 biện pháp quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường mầm non phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Đó là:
- Biện pháp 1: Nâng cao phẩm chất, năng lực quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN cho Hiệu trưởng và Ban Giám hiệu. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
- Biện pháp 2: Tổ chức bồi dưỡng thái độ, rèn luyện kỹ năng về giáo dục dinh dưỡng cho trẻ ở trường MN cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên.
- Biện pháp 3: Kế hoạch hóa hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN.
- Biện pháp 4: Cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN.
- Biện pháp 5: Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN.
- Biện pháp 6: Tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN.
Các biện pháp đề xuất được khảo nghiệm, đánh giá về mức độ cần thiết và khả thi cao. Như vậy, lãnh đạo các trường mầm non có thể vận dụng các biện pháp trong thực tiễn quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường MN tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Bên cạnh những kết quả đạt được, luận văn còn những tồn tại, hạn chế nhất định, trong thời gian tới, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu để đề tài được hoàn thiện hơn./.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục trẻ mầm non góp phần vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Nhằm tạo những con người phát triển toàn, đầy đủ cả năm mặt, đặc biệt quan trọng cho trẻ về việc phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành cho trẻ nhân cách đầu tiên để chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. Chính vì vậy mà giáo dục MN cho trẻ giai đoạn từ 3-5 tuổi giữ vai trò rất quan trọng và có tính chất quyết định, tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ cho giai đoạn phát triển của trẻ và được coi là “giai đoạn vàng, thời kỳ vàng” đối với phát triển con người để giáo dục là tạo nền móng cho sự phát triển của trẻ trong tương lai. Do đó, giáo dục (GD) mầm non (MN) luôn được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sắc của các cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương. Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội nước ta từ 2021 đến 2030 đã xác định: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.138); Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã nêu: “Khuyến nghị, phổ biến chế độ dinh dưỡng, khẩu phần ăn phù hợp cho từng nhóm đối tượng, nguồn nguyên liệu, khẩu vị của người Việt”. Đến năm 2030, “Tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi dưới 15%; khống chế tỉ lệ béo phì ở người trưởng thành dưới 10%. Chiều cao trung bình thanh niên 18 tuổi đối với nam đạt 168,5 cm, nữ 157,5 cm”. (Ban chấp hành Trung ương Đảng, 2017).
Điều 27, Luật Giáo dục năm 2019 đã quy định về chính sách phát triển giáo dục mầm non: “Nhà nước có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển giáo dục mầm non nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội” (Quốc Hội Việt Nam, 2019).
Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mầm non là việc hết sức quan trọng, đây được xem là một trong những yếu tố có tính quyết định đến sự phát triển toàn diện của trẻ ở lứa tuổi 3-5 tuổi. Ngoài việc dạy dỗ, chăm sóc thì vấn đề dinh dưỡng trong mỗi bữa ăn của trẻ luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở các trường mầm non.
Những chất dinh dưỡng thay đổi phù hợp theo nhu cầu của từng lứa tuổi sẽ giúp trẻ phát triển một cách khỏe mạnh và toàn diện. Dinh dưỡng là nhu cầu cần thiết không thể không có. Nếu thiếu một trong những chất dinh dưỡng cơ thể trẻ sẽ chậm phát triển kèm theo các biểu hiện như: nhẹ cân, suy dinh dưỡng, chậm chạp, khả năng vận động kém… Ngược lại khi trẻ thừa các chất dinh dưỡng thì có nguy cơ mắc các bệnh như: béo phì, tim mạch, mỡ trong máu… là rất cao. Vì vậy việc đảm bảo một chế độ dinh dưỡng hợp lý là vô cùng quan trọng với sức khỏe của trẻ đặc biệt là trẻ mầm non. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ GD&ĐT tập trung chỉ đạo thực hiện: “Tăng cường lồng ghép các chương trình giáo dục thay đổi hành vi về dinh dưỡng hợp lý và vận động thể lực phù hợp với trẻ em, học sinh trong trường học vì mục đích phát triển trẻ thơ toàn diện” (Thủ tướng Chính phủ, 2017)
Điều 18, Điều lệ Trường Mầm non đã quy định rõ hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em: “Hoạt động nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe thực hiện theo quy định của Chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và quy định về công tác y tế trường học; Hoạt động nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe trẻ em khuyết tật học hòa nhập được thực hiện theo quy định về giáo dục hoà nhập trẻ em khuyết tật.”. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020).
Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng quốc gia thì dinh dưỡng có sự ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của trẻ. Trẻ được nuôi dưỡng tốt, ăn uống đầy đủ thì da dẻ hồng hào, thịt chắc nịch và cân nặng đảm bảo. Sự ăn uống không điều độ sẽ ảnh hưởng đến sự tiêu hóa của trẻ. Nếu cho trẻ ăn uống không khoa học, không có giờ giấc, thì thường gây ra rối loạn tiêu hóa và trẻ có thể mắc một số bệnh như tiêu chảy, còi xương, khô mắt do thiếu VitaminA. Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định mục tiêu: “Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm xuống dưới 10%”. (Chính phủ, 2012). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Hiện nay ở các trường mầm non thì công tác giáo dục dinh dưỡng cho trẻ góp phần vô cùng quan trọng trong việc đào tạo con người phát triển toàn diện. Những năm gần đây sự quan tâm sâu sắc của Đảng, nhà nước tỷ lệ suy dinh dưỡng ngày càng giảm đáng kể. Tuy nhiên so với khu vực thì còn cao, với vùng sâu, xa, đặc biệt khó khăn, riêng vùng đô thị thì tỷ lệ thừa cân, béo phì, cũng là vấn đề nan giải. Vì vậy tình trạng dinh dưỡng đặc biệt quan tâm chương trình giáo dục dinh dưỡng tại trường mầm non là việc đảm bảo một chế độ dinh dưỡng hợp lý là vô cùng quan trọng với sức khỏe của trẻ đặc biệt là trẻ ở độ tuổi mầm non nói chung và 3-5 tuổi nói riêng.
Thực hiện nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngành GD mầm non đã đưa nội dung giáo dục dinh dưỡng sức khỏe vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non. Việc đưa các nội dung giáo dục dinh dưỡng sức khỏe vào giảng dạy cho trẻ là một việc rất cần thiết, như vậy sẽ tạo ra sự liên thông về giáo dục dinh dưỡng liên tục từ tuổi mầm non đến tuổi học đường. Nội dung giáo dục cho trẻ mầm non phải “Phù hợp với sự phát triển tâm lý, sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021).
Như vậy, hoạt động nuôi dưỡng đối với trẻ mầm non đã được quan tâm từ rất sớm. Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ quan tâm đến ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sức khỏe và bệnh tật của trẻ. Đồng thời các tác giả cũng cho rằng: để có cơ thể phát triển tốt, tránh được bệnh tật thì cần phải đảm bảo một chế độ dinh dưỡng, ăn uống khoa học, hợp lý và vệ sinh. Nhưng chưa có một tác giả nào đề cập đến việc quản lý hoạt động dinh dưỡng của trẻ ở các trường mầm non.
Năm học 2022 – 2023, ngành GD&ĐT tỉnh Bình Dương đã xác định nhiệm vụ GD mầm non: “Xây dựng, nhân rộng các mô hình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ, đặc biệt là mô hình phối hợp nhà trường, gia đình, cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non” (Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương, 2022).
Lứa tuổi từ 3-5 tuổi là lứa tuổi còn non nớt, rất nhạy cảm với môi trường xung quanh và có khả năng tiếp thu được những điều mà người lớn dạy bảo một cách nhanh chóng. Việc thực hiện giáo dục dinh dưỡng cho trẻ từ 3-5 tuổi có đóng góp to lớn trong công cuộc tạo ra lớp thế hệ trẻ có đầy đủ sự hiểu biết về các vấn đề dinh dưỡng và sức khỏe, cũng biết cách lựa chọn thông minh và tự giác trong việc ăn uống để có thể giữ gìn sức khỏe của bản thân. Công tác giáo dục này cần được phổ biến rộng rãi tới các bậc cha mẹ trẻ và các ban ngành đoàn thể có liên quan; cần được tuyên truyền cho mọi người về các nội dung giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Và qua đó mọi người sẽ phối hợp cùng với nhà trường để chăm sóc và nuôi dưỡng các em.
Thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương quản lý hoạt động nuôi dưỡng cho trẻ mầm non còn nhiều bất cập, cơ sở vật chất, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ quản lý, giáo viên, nhân viên cấp dưỡng có nhiều hạn chế, bất cập và khó khăn trong lập kế hoạch, chiết tính khẩu phần ăn, chế biến các món ăn để thay đổi thực đơn hàng tuần, đảm bảo một tháng không trùng món ăn lại với nhau, quan trọng là phải cân đối các dưỡng chất cho trẻ theo lứa tuổi và phù hợp mức thu của từng trường hiện nay. Ngoài ra, các quản lý trường mầm non phụ trách công tác bán trú cũng gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý chất lượng của hoạt động giáo dục dinh dưỡng tại trường mầm non theo xu hướng mới mà còn phụ thuộc vào các thực đơn, chế độ dinh dưỡng từ trước.
Ngoài ra, theo Báo cáo Tổng kết ngành Giáo dục mầm non từ năm 2021 đến năm 2023 của Phòng giáo dục và đào tạo thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương: các trường Mầm non công lập tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, mỗi năm học tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân béo phì vẫn còn chiếm tỉ lệ khá cao. Theo số liệu thống kê cho thấy tỉ lệ này đang có xu hướng tăng dần theo các năm học trong đó chủ yếu rơi vào tỉ lệ trẻ thừa cân,béo phì. Đây chính là một điểm quan trọng cần được lưu ý trong quá trình nghiên cứu thực trạng cũng như đề xuất các biện pháp có giá trị về mặt lý luận lẫn thực tiễn nhằm giáo dục dinh dưỡng cho trẻ tại trường mầm non trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn giáo dục dinh dưỡng trên, tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương” làm luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường mầm non; khảo sát, thực trạng quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ ở các trường mầm non.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
4. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
4.1. Về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu việc quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương từ năm 2021 đến năm 2023, dưới sự điều hành quản lý của Hiệu trưởng. Chủ thể quản lý là Hiệu trưởng.
4.2. Về địa bàn
Địa bàn khảo sát ở các những trường mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Bao gồm 07 trường mầm non công lập: Mầm non Hoa Hồng (phường Thái Hòa); Mầm non Thạnh phước (phường Thạnh Phước); Mầm non Hoa Hướng Dương (phường Khánh Bình); Mầm non Hội Nghĩa (phường Hội Nghĩa); Mầm non Phú chánh (phường Phú Chánh); Mầm non Thạnh Hội (xã Thạnh Hội); Mầm non Hoa Mai (xã Bạch Đằng).
Số lượng CBQL, GV khảo sát là 126 người, trong đó CBQL là 24, GV là 102.
4.3. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu của luận văn từ tháng 02/2023 đến tháng 8/2023. Số liệu sử dụng trong luận văn được thu thập từ năm học 2020-2021 đến năm học 2022- 2023.
5. Giả thuyết khoa học
Trong thời gian qua thực tế quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3 đến 5 tuổi ở các trường mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã tích cực triển khai thực hiện và đạt kết quả nhất định giúp trẻ mầm non đảm bảo an toàn sức khỏe cơ thể và tâm lý, đồng thời hạn chế được một số dịch bệnh. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động GDDD cho trẻ 3 đến 5 tuổi, đảm bảo cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường mầm non phát triển toàn diện thì cần thiết phải có biện pháp quản lý phù hợp. Nếu việc nghiên cứu, tìm ra những biện pháp quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3 đến 5 tuổi có tính khoa học và phù hợp thực tế giáo dục của địa phương thì sẽ khắc phục những hạn chế, nâng cao chất lượng GDDD cho trẻ 3 đến 5 tuổi ở các trường MN, góp phần nâng cao chất lượng GDDD cho trẻ 3 đến 5 tuổi ở các trường MN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường MN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương và nguyên nhân của thực trạng.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường MN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp.
7. Phương pháp nghiên cứu. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp phân loại các tài liệu về công tác quản lí hoạt động giáo dục dinh dưỡng nhằm xây dựng cơ sở lí luận của đề tài. Phương pháp nghiên cứu lý luận bao gồm việc sử dụng luận văn, phân tích, và tổng hợp thông tin để đạt được một kết luận hoặc trả lời.
Tác giả nghiên cứu hồ sơ quản lý chuyên môn mầm non bao gồm các bản ghi về lý luận, kinh nghiệm, và kỹ năng của người quản lý trong việc quản lý các hoạt động giáo dục mầm non, các bản ghi của các nhà giáo dục trong lĩnh vực này, các chứng chỉ của họ, và các năm kinh nghiệm trong một lĩnh vực chăm sóc giáo dục và nuôi dưỡng.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập những thông tin từ cán bộ quản lí, giáo viên, cha mẹ trẻ về thực trạng quản lý hoạt động GDDD, đồng thời khảo sát tính cần thiết, khả thi của hệ thống biện pháp đề xuất.
- Nội dung: Khảo sát thực trạng hoạt động GDDD ở trường mầm non; Khảo sát tính cần thiết và khả thi của hệ thống biện pháp đề xuất.
- Công cụ khảo sát: Sử dụng phiếu khảo sát cho cán bộ quản lí, giáo viên.
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả trao đổi, xin ý kiến trực tiếp của cán bộ quản lí, giáo viên, ý kiến cha mẹ trẻ về quản lí hoạt động GDDD ở trường MN, nhằm rõ hơn những vấn đề nghiên cứu thực trạng từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, sản phẩm hoạt động
Mục đích: Sử dụng phương pháp này nhằm thu nhập những thông tin từ các cấp quản lý về thực trạng quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường MN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Nội dung: nghiên cứu các kế hoạch, báo cáo chuyên đề, báo cáo tổng kết của các trường MN của các cơ quan đơn vị trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; phòng GD&ĐT thị xã Tân Uyên; các bảng số liệu thống kê liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
7. 3. Nhóm phương pháp xử lý dữ liệu
Phương pháp xử lý số liệu là một nhóm các thuật toán và phương pháp được sử dụng để xử lý các tập hợp dữ liệu để có thể thực hiện các tác vụ nghiên cứu. Phương pháp này bao gồm các phương pháp phân tích, xử lý và trích xuất thông tin của các tập hợp dữ liệu.
Nội dung: quá trình xử lý số liệu để nắm bắt và hiểu thông tin từ nguồn dữ liệu. Các bước trong quá trình xử lý số liệu bao gồm thu thập dữ liệu, kiểm tra và chuẩn hóa dữ liệu, phân tích dữ liệu, trực quan hóa dữ liệu, và đưa ra các kết luận từ dữ liệu đã xử lý.
- Cách thức thực hiện:
Đối với dữ liệu định lượng: Sau khi thu nhập các phiếu khảo sát, dựa vào kết quả trả lời thu được, tác giả sử dụng chương trình SPSS 20.0, mã nguồn mở để xử lý số liệu, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc, tính một số mối tương quan và kiểm định thống kê của các số liệu thu được.
Đối với dữ liệu định tính: Xử lý dữ liệu định tính là quá trình xử lý dữ liệu định tính để nắm bắt và hiểu rõ hơn những thông tin từ nguồn dữ liệu định lượng.
8. Đóng góp mới của đề tài
8.1. Về mặt lí luận
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường mầm non.
8.2. Về mặt thực tiễn
Khảo sát, đánh giá chính xác thực trạng về quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường MN công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, đồng thời đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường MN công lập thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đảm bảo cơ sở khoa học, phù hợp và mang tính khả thi, góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT của thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non.
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường MN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở các trường MN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC DINH DƯỠNG CHO TRẺ 3-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới
Khám phá về dinh dưỡng từ những ngày đầu của lịch sử đã có một tác động tích cực đến sức khỏe, sự phát triển tinh thần và trí tuệ của con người. Chăm sóc, giáo dục trẻ 3-5 tuổi và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một là vấn đề được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Các trưởng Đại học Tufts Gerald J. và Dorothy R. Friedman (Hoa Kỳ) là những trường tiên phong về phát triển dinh dưỡng và được thành lập năm 1981 với nhiệm vụ tập hợp y học, sinh học, xã hội chính trị và khoa học, các nhà khoa học đã tiến hành các cuộc nghiên cứu, giáo dục và các chương trình cộng đồng dịch vụ để cải thiện sức khỏe và dinh dưỡng cho toàn thế giới.
Trong bài viết của Robert. G. Mayer đã nhấn mạnh “Tại sao phải đầu tư vào chương trình chăm sóc và phát triển trẻ thơ từ những năm nhỏ tuổi, coi đây là một phần của chiến lược cơ bản, bởi vì cũng như trước khi xây dựng tòa nhà, ta cần xây dựng một cái nền bằng đá vững chắc trên cơ sở đó làm nền tảng xây nên toàn bộ công trình kiến trúc”.
Theo Tsunesaburo Makiguchi (1994), môi trường giáo dục tích cực sẽ giúp trẻ được tham gia an toàn trong các hoạt động trải nghiệm, trẻ được vận động tích cực và khám phá các giá trị qua thực tiễn cuộc sống hằng ngày. Như vậy, để giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, cũng như nâng cao chất lượng trong các hoạt động chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ, nhà trường cần phải xây dựng mỗi trưởng giáo dục tích cực trong đó mọi hoạt động đều hướng đến đứa trẻ với đầy đủ những trang thiết bị an toàn, đa dạng và sinh động phù hợp với trẻ (Makiguchi, 1994).
Peter Mittler (2000) đã đề cập đến việc thay đổi môi trường giáo dục nhà trường và hệ thống quản lí giáo dục, theo Peter Mittler việc thay đổi môi trường giáo dục và hệ thống quản lí giáo dục có vai trò rất quan trọng đối với chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm đảm bảo an toàn cho trẻ phát triển toàn diện. Quan điểm của tác giả được tập trung vào việc điều chỉnh và sắp xếp chương trình phù hợp, lựa chọn giáo viên, vai trò năng lực của giáo viên, sự tham gia của cha mẹ trẻ và tất cả phải được xây dựng kế hoạch cụ thể và theo giai đoạn phát triển của trẻ (Peter Mittler, 2000).
Friedrich Froebel (2005) cho rằng, trường mầm non phải được thiết kế như một môi trường giáo dục mà ở đó trẻ em có thể phát triển theo một định hướng đúng đắn thông qua việc tự hoạt động, sử dụng các trò chơi, bài hát, những câu chuyện và các hoạt động. Như vậy, qua hoạt động vui chơi, trẻ giao tiếp và bắt chước các hoạt động kinh tế và xã hội của người lớn, từ đó trẻ sẽ được dẫn dắt từ từ vào một thế giới rộng lớn hơn dưới sự hướng dẫn của đội ngũ giáo viên đầy tình yêu thương.
Theo tác giả Montessori cho rằng “Khiếm khuyết của tâm trí là vấn đề của giáo dục chứ không phải là vấn đề của y khoa”, đồng thời bà phát hiện, trẻ từ 0 – 6 tuổi rất nhạy cảm cũng là quảng thời gian quan trọng và quý giá nhất trong cuộc đời con người. Sự phát triển và trải nghiệm của trẻ trong giai đoạn này ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống tương lai của trẻ, chúng có thể tiếp nhận thông tin từ môi trường sống xung quanh rất nhanh” (Montessori, Tạ Khai Mông & Ngủ Hiểu Huy, 2007, tr.12-20). Do đó, từ lúc lọt lòng mẹ đến lúc 6 tuổi, trẻ cần được sự chăm sóc, đầu tư hỗ trợ phát triển về thể chất, tinh thần và hiểu biết xã hội. Để đảm bảo trẻ được phát triển đẩy đủ về thể chất cũng như tinh thần nhà trường phải đảm bảo các điều kiện về vật chất, trang thiết bị đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ em, cũng như có đội ngũ giáo viên, nhân viên được đào tạo chính quy, có kinh nghiệm thực tế. biết phối hợp với phụ huynh trẻ trong các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ.
Nhà tâm lý học S.Freud (1835-1993), trong suốt sự nghiệp nghiên cứu của mình về trẻ em cũng đã nhận thấy rằng: Sự ăn uống có ảnh hưởng rất lớn đến cân nặng của trẻ. Ông khẳng định: “Trong trường hợp thiếu ăn, các xương cốt vẫn dài ra, trái lại, cân nặng đứng nguyên hay sụt đi” (Nguyễn Ý Đức, 2005). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Năm 1907, tiến sĩ Maria Montessori đã thành lập trường mẫu giáo đầu tiên tại Roma. Ngay từ đầu thành lập trường, vấn đề chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ và chuẩn bị kiến thức, tâm thế cho trẻ vào lớp một đã được bộ hết sức chú trọng. Điều này được thể hiện qua hệ thống các quan điểm và phương pháp giáo dục (phương pháp Montessori). Montessori đặt nền tảng tự do, nhu cầu và hứng thú của trẻ lên trên hết. Khi các nhu cầu của trẻ được đáp ứng, trẻ phát triển cân đối về thể chất, trí tuệ, tâm lý. Đặc biệt, trẻ được tạo động lực để có hứng thú trong việc học và cư xử hòa nhã lịch sự với mọi người. Phương pháp Montessori sau đó được phát triển và mở rộng ở các nước châu Âu mà Mỹ cho đến tận ngày nay. (Diên San, 2008).
Hypocrat, một danh y đã nhắc đến vai trò ăn uống trong điều trị. Ông viết: “Thức ăn cho bệnh nhân phải là một phương tiện điều trị và trong phương tiện điều trị của chúng ta phải có các chất dinh dưỡng”, ông cũng nhận xét: “Hạn chế và ăn thiếu chất bổ rất nguy hiểm đối với người mắc bệnh mạn tính”.
Năm 1992 có hội nghị thượng đỉnh ở Roma vào năm 1994 đã tổ chức hội thảo kỷ niệm 200 năm ngày mất của Lavoadien, người sáng lập ngành dinh dưỡng trên cơ sở khoa học thực nghiệm. Môn học mới mẻ này ra đời lúc đầu chỉ phát triển ở các cơ sở nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm sinh lý, sinh lý bệnh, hoá sinh, miễn dịch, hóa thực phẩm, độc thực phẩm. Các nhà dinh dưỡng, dựa trên các kết quả nghiên cứu đã đề ra các nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể, xây dựng ra các tiêu chuẩn dinh dưỡng cho các ngành nghề và các lứa tuổi và y học cộng đồng hướng tới sức khỏe cho mọi người dân đến năm 2000 đã có cả một chương trình hành động về dinh dưỡng.
Trong công trình nghiên cứu “Chất lượng giáo dục mầm non”, tác giả S.V.Nhikitina đã đưa ra quan điểm về chất lượng GD trẻ MN, thực trạng chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ ở các vườn trẻ ở Liên Bang Nga hiện nay, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng GDMN và bà cũng đề cập tới vấn đề chuẩn bị các điều kiện để chuẩn bị cho trẻ vào lớp một. Theo bà, tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng GD trẻ, để trẻ có điều kiện theo học ở các trường phổ thông, được thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:
- Sức khỏe và sự phát triển thể chất của trẻ;
- Nhận thức và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ;
- Phát triển xã hội và cá nhân của trẻ;
- Phát triển nghệ thuật và thẩm mỹ của trẻ.
Ngoài việc bàn luận về khái niệm chất lượng GDMN, trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả V.I.Slobodchikova nhấn mạnh việc sử dụng tích hợp các phương pháp tiếp cận cơ bản để đánh giá chất lượng GDMN, các chỉ số và tiêu chí về chất lượng GD trẻ ở trường MN nói chung và các chỉ số, tiêu chí về chất lượng GD trẻ 5 tuổi. Tác giả cũng đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của giáo dục MN gồm yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài.
Tác giả U.Elena trong bài viết “Đánh giá chất lượng trường mầm non” đã xác định mục tiêu và nhiệm vụ xác định chất lượng GDMN trong đó có đề cập tới GDMN trẻ 5 tuổi, cơ sở triết học của chất lượng trường MN; các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng GDDD trẻ ở trường MN. (Annabel Karmel, 2012)
Ngoài ra, chất lượng GD trẻ MN nói chung và trẻ MN 3-5 tuổi nói riêng được quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau: Overchuk với “Chất lượng giáo dục mầm non: thực trạng, vấn đề và triển vọng”; Hội thảo khoa học Chelyabinsk về “Chất lượng giáo dục mầm non: lý luận và kinh nghiệm thực tiễn”; Pamela Morris Cybele Raver Chirshana M.Lloyd Megan Millenky với “Vai trò của GVMN đối với chất lượng GD trẻ” (Lloyd Megan Millenkfy, 2010); Alison Elliott với “Giáo dục trẻ mầm non hướng tới chất lượng và công bằng cho mọi trẻ em” (Alison Elliott, 2006)…
Với những công trình nghiên cứu ở nước ngoài về hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3- 5 tuổi ở các trường MN đã được nghiên cứu về nhiều khía cạnh, nhưng việc nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo ở các trường MN công lập chưa được nghiên cứu ở nước ngoài một cách bài bản.
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Quá trình giáo dục trẻ ở trường mầm non là nền tảng cơ bản để trẻ chuyển tiếp lên tiểu học, góp phần quan trọng trong việc phát triển tư duy và nhân cách cho trẻ sau này. Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Chiến lược đã đề ra mục tiêu tổng quát là “Thực hiện dinh dưỡng hợp lý để cải thiện tình trạng dinh dưỡng phù hợp với từng đối tượng, địa phương, vùng, miền, dân tộc, góp phần giảm thiểu gánh nặng bệnh tật, nâng cao tầm vóc, thể lực và trí tuệ của người Việt Nam” (Thủ tướng Chính phủ, 2022)
Do đó, để GDMN phát triển một cách vững bền, người hiệu trưởng ở các trường MN cần có tinh thần trách nhiệm cao, năng lực quản lý và tổ chức các mặt hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi phù hợp với điều kiện có được của nhà trường do mình phụ trách. Nội dung chăm sóc, giáo dục trẻ trong trường MN đã được quán triệt trong chương trình GDMN của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT tạo gồm 4 yêu cầu: Giáo dục cho trẻ phát triển thể chất, giáo dục cho trẻ phát triển về nhận thức, giáo dục cho trẻ phát triển về ngôn ngữ và giáo dục cho trẻ phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020)
Các tác giả Phạm Thị Châu, Nguyễn Thị Oanh, Trần Thị Sinh cũng đã đề cấp đến giai đoạn chuyển tiếp, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 trong cuốn “Giáo dục học mầm non”, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2001. (Phạm Thị Châu và cộng sự, 2001)
Để giúp cơ thể trẻ khỏe mạnh tăng sức đề kháng giúp phòng chống dịch bệnh cho trẻ cần có chế độ ăn cung cấp đầy đủ năng lượng protein và khoáng chất, uống đủ nước hoạt động thể lực hợp lí. Chất đạm là nguyên liệu trọng quan trọng để tạo ra các kháng thể có từ thực phẩm như thịt, cá, trứng, sữa thủy sản và đậu đỗ… Ngoài ra cần cung cấp đủ các vitamin và khoáng chất cần thiết như là vitamin A, C, D,E, Sắt kẽm xelen và các chất chống oxy hóa như Flavonoid. Ăn đủ lượng thực phẩm theo quy định tháp dinh dưỡng hợp lý cho trẻ từ 3 – 5 tuổi của Viện Dinh dưỡng. Bữa ăn chính tại trường mầm non và ở nhà cần có trên 10 loại thực phẩm trong đó có 2-3 loại thực phẩm cung cấp chất đạm và 3-5 loại rau, củ.
Trong những năm gần đây các công trình nghiên cứu về hình thái và thể lực của trẻ em được triển khai trên toàn quốc. Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu khoa học của Lê Nguyễn Minh Huyền, Vũ yến Khanh, Bùi Thị Nhung (2017), … Các công trình nghiên cứu trên đã công bố các kết quả điều tra về cân nặng, chiều cao, các yếu tố làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ em như: Dinh dưỡng, bệnh tật…bên cạnh đó còn có nhiều dự án của các tổ chức, cá nhân tiến hành nghiên cứu về thể lực và dinh dưỡng, đặc biệt là vấn đề ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể trẻ.
Nhóm nghiên cứu bao gồm: Phạm Ngọc Hùng. Vũ Việt Dũng. Trần Trọng Hóa, Nguyễn Thành Nhân, Lê Khánh Trinh, Phạm Văn Doanh ở Khoa Công nghệ thông tin, trường Đại Học Công nghệ – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã nghiên cứu sản phẩm có tên gọi: “Hệ thống quản lý dinh dưỡng cho các trường mầm non và tiểu học” (UETNUTRISCHOOL).
Những công trình nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng, GD dinh dưỡng cho trẻ em, quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ em ở trường MN như “Dinh dưỡng học” của tác giả Lê Doãn Diên, Vũ Thị Thư; “Dinh dưỡng và điều trị” của tác giả Nguyễn Ý Đức; “Giáo trình Dinh dưỡng trẻ em” của Lê Thị Mai Hoa; “Giáo trình Vệ sinh dinh dưỡng” của Lê Thị Mai Hoa và Trần Văn Dần; “Những điều cần biết về dinh dưỡng và thực phẩm” của Diên San; “Giáo trình GD dinh dưỡng cho trẻ em” của Nguyễn Thị Kim Thanh; “Giáo trình quản lý giáo dục mầm non” của Hồ Thị Hạnh (chủ biên); “Giáo trình Dinh dưỡng trẻ em” của tác giả: Nguyễn Ngọc Hiền… Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Kế hoạch 1823/KH -UBND ngày 3/5/2018 thực hiện chương trình sữa học đường cải thiện tình trạng dinh dưỡng góp phần nâng cao tầm vóc trẻ em đến năm 2020, dinh dưỡng quốc gia phối hợp cùng nhãn hiệu sữa vinamill công bố dự án hợp tác thực hiện công trình nghiên cứu về khoa học dinh dưỡng nhằm cải thiện sức khỏe và dinh dưỡng cho trẻ em Việt Nam. Đây là lần đầu tiên, một nghiên cứu chuyên sâu có quy mô lớn được thực hiện về tình trạng dinh dưỡng, phát triển trí tuệ và vận động thể lực của trẻ em Việt Nam. Nghiên cứu này được bắt đầu từ cuối tháng 5/2018 và kéo dài sang năm 2020 trên phạm vi toàn quốc, với gần 3.000 trẻ em dưới 12 tuổi tham gia. Nghiên cứu này không chỉ nhận định mối quan hệ tương quan giữa chế độ dinh dưỡng với phát triển trí tuệ và thể lực trẻ em mà còn đưa ra những giải pháp hỗ trợ nhằm điều chỉnh, rà soát và cải thiện sức khỏe cho trẻ. Dự án cũng sẽ cung cấp những dữ liệu khoa học cho các nhà quản lý tiếp tục làm cơ sở để xây dựng và hoạch định các chính sách cải thiện dinh dưỡng cho trẻ em Việt Nam.
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu hoạt động nuôi dưỡng cho trẻ em trong những năm gần đây có một số công trình khoa học như đề tài “Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi trong quá trình hướng dẫn trẻ làm quen môi trường xung quanh” (Trần Thị Kim Cúc, 2009).
Vấn đề công tác GD dinh dưỡng trẻ ở lứa tuổi 3- 5 tuổi ở các trường MN đã được các nhà quản lý, nhà GD đề cập từ những năm 80 của thế kỷ 20. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, vấn đề này vẫn chưa được quan tâm đúng mực. Trước tình hình đó, năm 2014-2015, VVOB đã nghiên cứu và phát hành cuốn tài liệu “Nâng cao năng lực quản lý sự thay đổi của Hiệu trưởng để hỗ trợ trẻ trong giai đoạn chuyển tiếp từ mầm non lên tiểu học”.
Năm học 2015-2016, VVOB tiếp tục nghiên cứu và cho ra đời cuốn tài liệu “Giáo viên hỗ trợ trẻ trong giai đoạn chuyển tiếp từ mầm non lên tiểu học”. Nội dung của cuốn tài liệu này nhằm cung cấp cho đội ngũ giáo viên, đặc biệt các giáo viên MN những kiến thức cần thiết để GD dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo.
Ngoài ra, liên quan đến vấn đề quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3- 5 tuổi ở các trường MN có một số công trình như sau:
Tác giả Nguyễn Ngọc Hiền (2015) cho rằng: Trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non hiện nay, dinh dưỡng trẻ em là học phần nhằm trang bị cho SV những kiến thức khoa học cơ bản và cập nhật về dinh dưỡng trẻ em độ tuổi mầm non.
Trong luận văn Thạc sỹ viết năm 2015 của Nguyễn Thị Minh Nguyệt với đề tài “Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ của Hiệu trưởng các trường Mầm Non Quận 3, Thành phố HCM”, tác giả cũng đã đề cập đến những biện pháp quản lý công tác giáo dục tại các trường MN nói chung và quản lý hỗ trợ trẻ trong giai đoạn chuyển tiếp nói riêng.
Theo tác giả Trần Thị Kim Chung (2022), cho rằng: quản lý hoạt động giáo dục DD cho trẻ mẫu giáo ở trường MN là quá trình hoạt động có định hướng của cán bộ quản lý đến hoạt động giáo dục dinh dưỡng một cách có mục đích, có kế hoạch. Quá trình quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng được xác định thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá hoạt động GD dinh dưỡng.
Thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, nơi có nhiều khu công nghiệp, có điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, việc nghiên cứu đề tài quản lý hoạt động GDDD cho trẻ ở trường MN nhằm hỗ trợ trẻ trong giai đoạn chuyển tiếp từ mầm non lên tiểu học cần được nghiên cứu nhằm mục đích hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của trẻ sau này.
1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
1.2.1. Quản lý; quản lý giáo dục; quản lý trường mầm non.
- Quản lý
Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công. Hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định. Sự phân công, hợp tác lao động đó nhằm đạt hiệu quả và năng suất lao động cao hơn, do vậy cần có người đứng đầu, chỉ huy, phối hợp điều hành, kiểm tra, điều chỉnh…Chính vì vậy, người ta quan niệm quản lý là một thuộc tính lịch sử vì nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, thường xuyên biến đổi, nó là hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Có nhiều quan niệm về quản lý tùy thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau.
Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500 năm nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện. Với nhiều cách tiếp cận khác nhau từ các lĩnh vực khoa học, giáo dục, kinh tế, xã hội…. các nhà khoa học trong nước và ngoài nước cũng khái niệm quản lý như sau:
W.Taylor(1991), người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động đã nêu: “Quản lý là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất và rẻ nhất”.
Một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo HarorKoontz: “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định.” (Haror Koontz, 1999). H.Koonts cho rằng “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được những mục đích của nhóm. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được những mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
Theo tác giả M.I.Kondacov: “Quản lí giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch hóa, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng”.
Theo Từ điển Giáo dục học, quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng có mục đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Các chức năng cơ bản của quản lý: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (hoặc lãnh đạo) và kiểm tra. (Bùi Hiền và cộng sự, 2001)
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1989): “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.
Tác giả Vũ Dũng (2017) định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể quản lý đến khách thể của nó”. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Tác giả Phạm Viết Vượng (2010) quan niệm rằng: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan”.
Như vậy, quản lý là một hoạt động, là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL đến đối tượng QL trong một tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Hoạt động của QL bắt nguồn từ sự phân công và sự hợp tác lao động trong tổ chức đó. Sự phân công, hợp tác lao động đạt hiệu quả và năng suất cao sẽ cho thấy hoạt động QL thành công.
Theo tác giả Trần Kiểm: “Chức năng quản lý là một loại hoạt động quản lý đặc biệt, sản phẩm của quá trình phân công lao động và chuyên môn hóa trong quản lý, tiêu biểu bởi tính chất tương đối độc lập của những bộ phận của quản lý” (Trần Kiểm, 2010, tr.44)
Để quản lý có hiệu quả, nhà quản lý phải linh hoạt vận dụng các lý thuyết vào những tình huống cụ thể. Nó đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mục tiêu. Nghệ thuật này chủ yếu phải được học ngay trong thực tiễn. Qua một số định nghĩa về quản lý, ta có thể rút ra kết luận như sau:
Quản lý là hoạt động mang tính xã hội, đồng thời là hoạt động mang tính khoa học và tính nghệ thuật cao. Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) một cách có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một hệ thống, nhằm làm cho hệ thống này vận hành đến mục tiêu mong muốn.
Từ quan điểm chung của các định nghĩa trên, có thể hiểu: “Quản lý là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý, nhằm tạo cho đối tượng vừa được vận hành trong hệ thống ổn định, vừa tạo sự phát triển theo mục đích đề ra được thực hiện thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá”.
- Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là việc quản lý và điều hành các hoạt động liên quan đến giáo dục, bao gồm cả các chương trình, nội dung, tài liệu, kỹ năng và cơ sở vật chất của trường học. Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động. Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý. Mọi hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởi vậy con người là nhân tố quan trọng nhất trong quản lý giáo dục. Có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực QLGD, nên có những định nghĩa về khái niệm QLGD khác nhau:
Theo Từ điển Giáo dục học, quản lý giáo dục (nghĩa rộng) là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Giáo dục thế hệ trẻ là bộ phận nòng cốt của lĩnh vực giáo dục cho toàn xã hội. (Bùi Hiền và cộng sự, 2001)
Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát, là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, điều hành các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội”
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lí giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra”. (Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2010)
QLGD về thực chất là hoạt động quản lý có hiệu quả chất lượng giáo dục được thực hiện thông qua các tác động có mục đích, có kế hoạch, qua các chức năng tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá định kì và đột xuất.
Nguyễn Ngọc Quang đưa ra nhận định: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL (hệ GD nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thế hệ trẻ, đưa hệ GD tới các mục tiêu dự kiến, tiến tới trạng thái mới về chất) ” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989, tr.35). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Tác giả Đặng Quốc Bảo khái quát “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội”.
Tác giả Phạm Minh Hạc cũng nhấn mạnh “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới về chất” (Phạm Minh Hạc, 1997).
Như vậy, quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động này có tính khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch trong việc dạy và học theo mục tiêu đào tạo chung.
Những quan niệm nói trên có sự đồng bộ trong khi chỉ ra những tác động có định hướng trong QLGD. Như vậy, có thể hiểu: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, phù hợp với quy luật của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các yếu tố, các quá trình của hệ thống GD nhằm làm cho hệ thống vận hành, ổn định và phát triển bền vững.
- Quản lí trường mầm non
- Quản lí nhà trường:
Trường học là đơn vị cơ sở của ngành giáo dục đào tạo và quản lý nhà trường là một phần quan trọng trong quản lý giáo dục. Trường học là một trong những tổ chức cơ sở của hệ thống GD nơi tập hợp những con người (giáo viên, nhân viên) thực hiện nhiệm vụ chung: GD&ĐT những nhân cách theo mục tiêu đề ra (Trần Thị Hương (chủ biên), 2012, tr. 69).
Quản lý nhà trường là thực hiện hoạt động quản lý giáo dục trong tổ chức nhà trường. Hoạt động quản lý nhà trường do chủ thể quản lý nhà trường thực hiện, bao gồm các hoạt động: quản lý giáo viên; quản lý học sinh; quản lý quá trình dạy học, giáo dục; quản lý cơ sở vật chất, thiết bị nhà trường; quản lý tài chính; quản lý lớp học; quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục;…Quản lý nhà trường chịu tác động của những chủ thể quản lý bên trên nhà trường (Bùi Hiền và cộng sự, 2001, tr.328).
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã cho rằng: “QL nhà trường là QL hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi tác động những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng dẫn của chủ thể QL trên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội – kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và GD thế hệ đang lớn lên” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Quản lý nhà trường là quá trình điều hành và quản lý các hoạt động trong một cơ sở giáo dục, bao gồm cả các quy trình hành chính và giáo dục. Nhiệm vụ chính của quản lý nhà trường là đảm bảo một môi trường học tập tốt nhất cho trẻ và giáo viên. Công việc của quản lý nhà trường bao gồm lập kế hoạch và tổ chức các khóa học, kiểm soát chất lượng giáo dục, quản lý tài chính và nguồn lực, giám sát ngân sách và các chiến dịch tài trợ.
Theo tác giả Trần Kiểm: Quản lý trường học về bản chất là quản lý con người. Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không chỉ bởi cơ chế hoạt động theo những quy luật khách quan của một tổ chức xã hội (nhà trường), mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lý của chính bản thân GV và HS. Trong nhà trường, GV và HS vừa là đối tượng, vừa là chủ thể quản lý. Với tư cách là đối tượng quản lý, họ chịu sự tác động của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng); với tư cách chủ thể quản lý, họ là người tham gia chủ động, tích cực vào hoạt động quản lý chung và biến nhà trường thành hệ tự quản lý. Cho nên quản lý nhà trường không chỉ là trách nhiệm riêng của Hiệu trưởng mà còn là trách nhiệm chung của tất cả các thành viên trong nhà trường (Trần Kiểm, 2011, tr.12).
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Quản lý nhà trường phải quán triệt, gắn bó với bốn chức năng:
- Kế hoạch hóa: Xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
- Tổ chức: Quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
- Chỉ đạo (Lãnh đạo): Quá trình chỉ đạo hay tác động; việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.
- Kiểm tra: Theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết (Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2010).
Tác giả Bùi Minh Hiền – Nguyễn Vũ Bích Hiền cho rằng:“quản lý nhà trường phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý chung nhưng phải phù hợp với đặc điểm của quản lý giáo dục trong trong nhà trường”. Các nguyên tắc quản lý nhà trường gồm:
- Nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Nguyên tắc phân cấp quản lý.
- Nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích.
- Nguyên tắc mối liên hệ ngược.
- Nguyên tắc trách nhiệm pháp lý.
- Nguyên tắc hiệu quả quản lý.
- Nguyên tắc năm bao quát, chú ý toàn diện, xác định những vấn đề ưu tiên, tập trung xử lý khâu yếu. (Bùi Minh Hiền – Nguyễn Vũ Bích Hiền, 2022). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Tóm lại, quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục. Quản lý nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm khoa học và có tính định hướng của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng trong thực tiễn Việt Nam.
Quản lý GDMN là bộ phận quan trọng của quản lý GD, việc quản lý con người là yếu tố trung tâm của quản lý GDMN. Trình độ và năng lực của cán bộ quản lý GDMN thể hiện trước hết ở khả năng làm việc với những con người, biết đánh giá, bồi dưỡng và phát huy khả năng của mỗi con người”. (Hồ Thị Hạnh, 2011).
Quản lý trường mầm non có thể hiểu là quá trình vận dụng nguyên lý, khái niệm, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực chăm sóc giáo dục trẻ mầm non. Quản lý trường mầm non là sự tác động có chủ đích của hiệu trưởng trường mầm non đến cán bộ, giáo viên, nhân viên, trẻ em, cha mẹ trẻ trong trường mầm non nhằm đạt mục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ mầm non theo quy định. QL trường MN là sự tác động có chủ đích của hiệu trưởng đến các giáo viên, nhân viên, trẻ trong trường MN nhằm đạt mục tiêu chăm sóc, nuôi dưỡng, GD trẻ MN theo quy định. Hoặc có thể nói, QL trường MN là sự tác động có ý thức của người QL nhà trường (Hiệu trưởng) nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, GD trẻ của đội ngũ CBQL, giáo viên trong nhà trường, là sự huy động các nguồn lực khác nhau nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả GD của nhà trường.
QL trường MN bao gồm nhiều nội dung song QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ là nội dung trọng tâm, trong đó quản lý hoạt động GD cho trẻ là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng.
1.2.2. Dinh dưỡng; giáo dục dinh dưỡng
- Khái niệm dinh dưỡng
Dinh dưỡng là chức năng mà các cá thể sử dụng thức ăn để duy trì sự sống, nghĩa là thực hiện các hoạt động sống như: sinh trưởng, phát triển, vận động. Khoa học về dinh dưỡng nghiên cứu mối quan hệ giữa các cá thể và thức ăn, chế độ ăn uống, sinh lý nuôi dưỡng, biến đổi bệnh lý… Thành ngữ “dinh dưỡng và sức khỏe cộng đồng” dùng để chỉ mối quan hệ giữa chế độ ăn uống và sức khỏe hoặc bệnh tật trong một phạm vi cộng đồng dân số xác định, với mục đích đấu tranh chống các bệnh tật do ăn uống không đúng cách. Trong khái niệm về dinh dưỡng, mối liên quan giữa dinh dưỡng với các lãnh vực khác được thể hiện:
Trong Đại từ điển tiếng Việt (1999), “Dinh dưỡng là một quá trình phức hợp bao gồm việc đưa vào cơ thể thức ăn cần thiết qua quá trình tiêu hóa và hấp thụ để bù đắp hao phí năng lượng trong quá trình hoạt động sống của cơ thể và để tạo ra sự đổi mới các tế bào và mô cũng như điều tiết các chức năng của cơ thể”.
Từ điển tiếng Việt đề cập đến: “Dinh dưỡng là một quá trình các tế bào, cơ quan trọng cơ thể hấp thu và sử dụng các chất cần thiết cho việc cấu tạo và hoạt động của cơ thể” (Hoàng Phê, 2000).
Tác giả Lê Doãn Diên, Vũ Thị Thư cho rằng “Dinh dưỡng là chức năng mà các cá thể sử dụng thức ăn để duy trì sự sống, nghĩa là thực hiện các hoạt động sống như: sinh trưởng, phát triển, vận động” (Lê Doãn Diên, Vũ Thị Thư, 1996).
Theo tác giả Lê Thị Mai Hoa, quá trình trao đổi chất chính là quá trình dinh dưỡng của cơ thể quá trình này thực hiện được nhờ sự tiêu hóa thức ăn trong hệ tiêu hóa. Đây là quá trình chuyển hóa, hấp thụ các chất dinh dưỡng trong ống tiêu hóa từ những thức ăn phức tạp ngoài môi trường được đưa vào cơ thể (Lê Thị Mai Hoa, 2007, tr.7). Dinh dưỡng giữ một vị trí rất quan trọng đối với con người đặc biệt là trẻ em vì cơ thể trẻ em đang ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ vì vậy nhu cầu DD cho cơ thể là rất lớn. Trong khi đó bộ máy tiêu hóa lại chưa hoàn chỉnh do bất cứ sai lầm nhỏ nào về DD cũng gây ra rối loạn tiêu hóa cho trẻ. Nếu cung cấp DD không hợp lý sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe của trẻ.
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thị Thu Hương, Lê Thị Ánh Tuyết, dinh dưỡng có sự ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của trẻ. Trẻ được nuôi dưỡng tốt, ăn uống đầy đủ thì da dẻ hồng hào, thịt chắc nịch và cân nặng đảm bảo. Sự ăn uống không điều độ sẽ ảnh hưởng đến sự tiêu hóa của trẻ. Nếu cho trẻ ăn uống không khoa học, không có giờ giấc, thì thường gây ra rối loạn tiêu hóa và trẻ có thể mắc một số bệnh như tiêu chảy, còi xương, khô mắt do thiếu VitaminA… (Trần Thị Ngọc Trâm và cộng sự, 2009). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Từ những nhận định về dinh dưỡng của các tác giả trên, tôi nêu khái niệm dinh dưỡng như sau: Dinh dưỡng là một quá trình phức hợp bao gồm việc đưa vào cơ thể thức ăn cần thiết, qua quá trình tiêu hóa và hấp thụ để bù đắp hao phí năng lượng trong quá trình hoạt động sống của cơ thể và để tạo ra sự đổi mới các tế bào và mô cũng như điều tiết các chức năng của cơ thể.
Dinh dưỡng là những chất hay hợp chất hóa học giữ vai trò duy trì và phát triển sự sống, hoạt động của mỗi cơ thể thông qua quá trình trao đổi chất và thường được cung cấp qua đường ăn uống. Đối với con người, chất dinh dưỡng được cung cấp chính qua các bữa ăn mỗi ngày. Chất dinh dưỡng gồm 2 loại là các chất sinh năng lượng và chất không sinh năng lượng: các chất sinh năng lượng gồm chất đạm, chất béo và chất bột đường; các chất không sinh năng lượng bao gồm các vitamin, các chất khoáng và nước.
- Khái niệm giáo dục dinh dưỡng
Trong cuốn Giáo dục học đại cương, Nguyễn Văn Hộ định nghĩa giáo dục như sau: “Trong thực tiễn có thể hiểu phạm trù giáo dục theo nghĩa rộng và hẹp: Giáo dục (nghĩa rộng) là quá trình toàn vẹn nhằm hình thành phát triển nhân cách con người, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục nhằm truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy trong lịch sử. Đó là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có phương pháp mà nhà giáo dục trong các cơ quan giáo dục chuyên nghiệp” (Nguyễn Văn Hộ, Hà Thị Đức, 2002).
Giáo dục dinh dưỡng là quá trình truyền đạt kiến thức và kỹ năng cần thiết để con người có thể tự quản lý chế độ dinh dưỡng và sự lựa chọn thức ăn lành mạnh và cân bằng. Nó có mục đích cung cấp cho mọi người thông tin về các nhóm thực phẩm, cách chế biến và lưu trữ an toàn, cách đọc và hiểu các nhãn hiệu thực phẩm, và nhận biết và giải quyết các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng. Mục tiêu của giáo dục dinh dưỡng là tạo ra nhận thức và nhận thức sâu rộng về tác động của dinh dưỡng đúng cách đến sức khỏe và khích lệ mọi người thực hiện lựa chọn thực phẩm thông minh trong cuộc sống hàng ngày và ở mọi lứa tuổi.
Giáo dục dinh dưỡng là một quá trình giáo dục của cộng đồng được thiết kế để nâng cao sự hiểu biết của người dân về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và dinh dưỡng. Nó cũng cung cấp cho cộng đồng các công cụ và khả năng để thay đổi hành vi liên quan đến dinh dưỡng.
Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mầm non là việc hết sức quan trọng, đây được xem là một trong những yếu tố chính quyết định đến sự phát triển toàn diện của trẻ trong độ tuổi mầm non cả về thể chất lẫn trí tuệ. Ngoài việc chăm sóc, nuôi dưỡng thì vấn đề dinh dưỡng trong mỗi bữa ăn của trẻ luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu tại các trường mầm non. Đây chính là nguồn dưỡng chất thiết yếu giúp trẻ phát triển một cách khỏe mạnh và toàn diện. Một đứa trẻ có thể cao lớn thông minh hay không một phần lớn là nhờ vào chế độ dinh dưỡng phù hợp với từng độ tuổi.
Theo Lê Thị Mai Hoa, Trần Văn Dần, “GD dinh dưỡng là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến tình cảm, lý trí của con người nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và hành động để đi đến tự giác chăm lo vấn đề ăn uống và sức khỏe của cá nhân, tập thể và cộng đồng”. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Như vậy, dựa trên những khái niệm ở trên chúng tôi xác định khái niệm hoạt động giáo dục DD cho trẻ như sau: “Hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có phương pháp nhằm giúp trẻ phát triển cơ thể khỏe mạnh, phát triển nhân cách toàn diện”.
Tác giả Lê Thị Mai Hoa, Trần Văn Dần đã nhận định: “GD dinh dưỡng là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến tình cảm, lý trí của con người nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và hành động để đi đến tự giác chăm lo vấn đề ăn uống và sức khỏe của cá nhân, tập thể và cộng đồng” (Lê Thị Mai Hoa, Trần Văn Dần, 2011).
Như vậy, dựa trên những khái niệm ở trên tác giả xác định khái niệm hoạt động giáo dục DD cho trẻ như sau: “GDDD cho trẻ từ 3-5 tuổi là chuỗi hoạt động có sự quản lý, chỉ đạo của giáo viên và những người xung quanh trẻ có ảnh hưởng đến tình cảm, cảm xúc, lí trí nhằm hình thành cho trẻ ý thức, kiến thức, thái độ và hành động để có thể tự giác trong việc ăn uống và chăm lo cho sức khỏe của bản thân. Giáo dục MN đặt ra nhiều mục tiêu căn bản, trong đó GDDD sức khỏe là một trong những mục tiêu ấy”.
1.2.3. Đặc điểm trẻ 3-5 tuổi
Trẻ em ở độ tuổi từ 3-5 tuổi thường được gọi là độ tuổi đi Mẫu giáo preschoolers). Trẻ Mẫu giáo thường có những bước phát triển nhanh và thể hiện sự thích thú đối với thế giới xung quanh. Trẻ thích sờ, nếm, ngửi, cầm nắm, và nghịch với các đồ vật. Bằng cách chơi đùa và thử nghiệm trực tiếp với các vật thể mới, trẻ Mẫu giáo học được rất nhiều từ các kinh nghiệm thực tế này. Các kỹ năng khác nhờ vậy mà cũng phát triển theo rất nhanh: ngôn ngữ, thể chất, tinh thần, tuy vậy trẻ cũng còn gặp khó khăn trong việc kiểm soát các cảm nghĩ và các mối quan hệ xung quanh.
Các kỹ năng thể chất cũng phát triển vượt bậc ở độ tuổi này. Một trẻ, từ chỗ phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự trợ giúp của người lớn trong mọi việc, thì nay các em có thể tự mình làm hầu hết mọi việc, bằng cách sử dụng các kỹ năng điều khiển cơ bắp lớn và nhỏ.
Trẻ 3-5 tuổi có thể tự đi và ăn một cách độc lập. Chúng ta cũng nên nhắc lại về các kỹ năng điều khiển cơ, có hai kỹ năng điều khiển cơ quan trọng trong sự phát triển thể chất của trẻ em, đó là: kỹ năng điều khiển cơ lớn (gross motor skills) và kỹ năng điều khiển cơ nhỏ (fine motor skills). Kỹ năng điều khiển cơ lớn được dùng trong việc di chuyển toàn bộ cơ thể như chạy, bò, lườn, trườn,… Trong khi kỹ năng điều khiển cơ nhỏ được dùng vào các việc nhỏ nhưng đòi hỏi tính chính xác của các ngón tay, bàn tay.
Nói chung, trẻ em 3-5 tuổi thường cao thêm khoảng 5~7,6cm mỗi năm. Sức khỏe của trẻ phụ thuộc nhiều vào chế độ ăn uống và sinh hoạt, vì thế các em cần phải tập thể thao thường xuyên, ngủ đủ giấc, ăn uống theo chế độ ăn kiêng cân bằng và hợp lý để đảm bảo cơ thể có thể phát triển đầy đủ các cơ, xương và chiều cao.
1.2.4. Quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Thiết kế một kế hoạch bữa ăn hàng ngày đảm bảo đủ các nhóm thực phẩm cơ bản như rau, cá, thịt, trái cây, đạm, tinh bột, và chất béo. Đảm bảo rằng các món ăn được chế biến một cách đa dạng và hấp dẫn, giúp trẻ quan tâm và khám phá thêm về các loại thực phẩm khác nhau.
Đảm bảo các nhân viên của trường được đào tạo về các nguyên tắc cơ bản về dinh dưỡng, cách chuẩn bị và cung cấp bữa ăn an toàn và cân bằng.
Trường có thể tạo ra một môi trường thúc đẩy cho trẻ ăn uống lành mạnh bằng cách đưa ra mô hình tốt về việc ăn uống tạo ra không gian ăn uống thoải mái và chia sẻ thông tin về lợi ích của việc ăn uống lành mạnh đối với sức khỏe.
Tổ chức các hoạt động giáo dục về dinh dưỡng như xem phim, đọc sách, hoặc thực hiện thực tế như phân loại thực phẩm, trồng rau, để trẻ hiểu về các loại thực phẩm khác nhau và cách chúng ảnh hưởng đến sức khỏe.
Theo tác giả Trần Thị Kim Chung, quản lý hoạt động giáo dục DD cho trẻ mẫu giáo ở trường MN là quá trình hoạt động có định hướng của cán bộ quản lý (hiệu trưởng) đến hoạt động giáo dục dinh dưỡng một cách có mục đích, có kế hoạch. Quá trình quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng được xác định thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá hoạt động GD dinh dưỡng (Trần Thị Kim Chung, 2022).
Trên cơ sở phân tích các lý luận trên, tác giả đã đưa ra khái niệm như sau: Quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN là quá trình những hoạt động có định hướng của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) đến hoạt động GDDD một cách có mục đích và kế hoạch nhằm hình thành cho trẻ nhận thức, thái độ và hành vi, kỹ năng để trẻ biết tự giác trong vấn đề ăn uống và chăm sóc sức khỏe của bản thân. Quá trình quản lý hoạt động GDDD được xác định thông qua các hoạt động xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá hoạt động GDDD.
1.3. Lý luận về hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
1.3.1. Tầm quan trọng của hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN
Dinh dưỡng là nhu cầu sống cấp thiết hàng ngày của mỗi con người. Trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển toàn diện về cả thể lực lẫn trí lực. Trẻ em nếu được nuôi dưỡng tốt sẽ mau lớn, khỏe mạnh, thông minh, và học giỏi. Ngược lại, nếu nuôi dưỡng không đúng cách, trẻ sẽ bị còi cọc, chậm lớn, chậm phát triển và dễ dàng mắc bệnh. Dinh dưỡng không hợp lý kể cả thiểu hoặc thửa đều có tác động không tốt đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Khi thiếu dinh dưỡng, cơ thể của trẻ phát triển chậm lại và tình trạng đỏ có thể phục hồi khi lượng thức ăn đưa vào đầy đủ và cân đối. Nếu tình trạng dinh dưỡng không hợp lý kéo dài sẽ căn trở quá trình phục hồi của trẻ. Hoạt động GDDD đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển và nuôi dưỡng sức khỏe của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non.
Hoạt động GDDD giúp trẻ nhận biết và lựa chọn thực phẩm cần thiết để cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, bao gồm protein, carbohydrate, chất béo, vitamin và khoáng chất. Đây là cơ sở quan trọng cho sự phát triển toàn diện của trẻ.
Hoạt động GDDD trong trường Mầm non giúp trẻ xây dựng các thói quen ăn uống là mạnh từ sớm. Trẻ sẽ học cách ăn đa dạng, chọn lựa thực phẩm tốt cho sức khỏe và đúc kết những thói quen như không ăn quá nhiều đường, không ăn thức ăn nhanh và tự phục vụ thức ăn.
Hoạt động giáo dục dinh dưỡng giúp trẻ học cách tự phục vụ trong việc chọn lựa, chế biến và ăn uống thực phẩm. Trẻ cần được hướng dẫn và thực hành các kỹ năng như cắt, gọt, trộn và phục vụ thức ăn, từ đó phát triển kỹ năng sống tự lập và tự tin.
Hoạt động GDDD giúp trẻ hiểu về các thực phẩm và vai trò của đối với sức khỏe. Trẻ sẽ được giáo dục về tác động của chất dinh dưỡng và thực phẩm đối với sự phát triển toàn diện, vận động, sự phát triển trí tuệ và hấp thụ vitamin và khoáng chất.
Hoạt động GDDD giúp trẻ hiểu về an toàn thực phẩm và giữ gìn vệ sinh trong quá trình chế biến và tiêu thụ thực phẩm. Trẻ sẽ học cách rửa tay trước và sau khi ăn, giữ sạch đồ ăn, kiểm traạn sử dụng và phân biệt thực phẩm tươi và không tươi.
Nhờ vào hoạt động GDDD, các em nhỏ có thể phát triển những thói quen dinh dưỡng lành mạnh và nhận được những kiến thức quan trọng về sức khỏe và an toàn thực phẩm. Điều này sẽ giúp trẻ tăng cường sức đề kháng, phát triển một cách toàn diện và có nền tảng tốt cho một cuộc sống khỏe mạnh và thành công hơn trong tương lai.
GD dinh dưỡng cho trẻ ở trường mầm non là việc hết sức quan trọng, đây được xem là một trong những yếu tố chính quyết định đến sự phát triển toàn diện của trẻ trong độ tuổi mẫu giáo cả về thể chất lẫn trí tuệ. Bởi đây chính là nguồn dưỡng chất giúp trẻ phát triển một cách khỏe mạnh và toàn diện. Ngoài việc dạy dỗ chăm sóc thì vấn đề dinh dưỡng trong mỗi bữa ăn của trẻ luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu tại các trường mầm non. Vì vậy việc đảm bảo một chế độ dinh dưỡng hợp lý là vô cùng quan trọng với sức khỏe của trẻ đặc biệt là trẻ ở độ tuổi mầm non.
Tuy nhiên thực hiện tốt việc GD dinh dưỡng cho trẻ ở trường MN không hề đơn giản, nó đòi hỏi các cán bộ, GV, CMT cần có những hiểu biết nhất định về dinh dưỡng, sức khỏe cũng như quy trình chế biến nấu ăn đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra cũng cần sự sáng tạo trong mỗi bữa ăn giúp kích thích cảm giác thèm ăn ở trẻ để trẻ ăn ngon miệng hơn. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
1.3.2. Nội dung hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN
Mục tiêu giáo dục thể hiện ở 3 mặt: Kiến thức, kỹ năng và thái độ. Do đó, mục tiêu GDDD ở trẻ MN cũng cần xác định ở 3 mặt: Kiến thức, kỹ năng và thái độ. Theo Chương trình GD mầm non, nội dung GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN bao gồm:
Nhận biết một số món ăn, thực phẩm thông thường và ích lợi của trẻ đối với sức khỏe: Nhận biết một số thực phẩm thông thường trong các nhóm thực phẩm (trên tháp dinh dưỡng); Nhận biết dạng chế biến đơn giản của một số thực phẩm, món ăn; Nhận biết các bữa ăn trong ngày và ích lợi của ăn uống đủ lượng và đủ chất; Nhận biết sự liên quan giữa ăn uống với bệnh tật (ỉa chảy, sâu răng, suy dinh dưỡng, béo phì…).
Tập làm một số việc tự phục vụ trong sinh hoạt: Làm quen cách đánh răng, lau mặt; Tập rửa tay bằng xà phòng; Thể hiện bằng lời nói về nhu cầu ăn, ngủ, vệ sinh; Tập đánh răng, lau mặt; Rèn luyện thao tác rửa tay bằng xà phòng; Đi vệ sinh đúng nơi quy định;
Giữ gìn sức khỏe và an toàn: Tập luyện một số thói quen tốt về giữ gìn sức khỏe; Lợi ích của việc giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường đối với sức khỏe con người (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021).
Làm quen với một số thao tác đơn giản trong chế biến một số món ăn, thức uống; Sử dụng một số đồ dùng trong ăn uống; luyện tập thói quen tự phục vụ; vệ sinh văn minh trong ăn uống…Chấp nhận và thử các thức ăn mới, không kén chọn các loại thức ăn; hăng say, hào hứng với việc chế biến các món ăn; thích thú tìm hiểu về DD; biết yêu quý và tôn trọng sản phẩm của lao động…
1.3.3. Phương pháp hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
GDDD thực chất là tác động của việc học nói chung và khoa học ăn uống nói riêng, đến sự nhận thức của con người để biết tự giác ăn uống và chăm lo đến sức khỏe của bản thân và cộng đồng. Phương pháp GDDD cho trẻ MN ở trường MN là cách thức làm việc của giáo viên và trẻ có sự hướng dẫn và tổ chức của giáo viên, từ đó giúp trẻ tiếp thu những kiến thức, kỹ năng hình thành thái độ đúng đắn về DD và trẻ có nhu cầu ăn các chất DD. Để GDDD cho trẻ mẫu giáo đạt hiệu quả cao, giáo viên cần sử dụng hợp lí và kết hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau. Chương trình giáo dục mầm non đã quy định nội dung GD dinh dưỡng cho trẻ ở trường MN, bao gồm:
- Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm
- Phương pháp thực hành thao tác với đồ vật, đồ chơi: Trẻ sử dụng và phối hợp các giác quan, làm theo sự chỉ dẫn của giáo viên, hành động đối với các đồ vật, đồ chơi (cầm, nắm, sờ, đóng mở, xếp chồng, xếp cạnh nhau, xâu vào nhau,…) để phát triển giác quan và rèn luyện thao tác tư duy.
- Phương pháp dùng trò chơi: sử dụng các loại trò chơi với các yếu tố chơi phù hợp để kích thích trẻ tự nguyện, hứng thú hoạt động tích cực giải quyết nhiệm vụ nhận thức, nhiệm vụ giáo dục đặt ra.
- Phương pháp nêu tình huống có vấn đề: Đưa ra các tình huống cụ thể nhằm kích thích trẻ tìm tòi, suy nghĩ dựa trên vốn kinh nghiệm để giải quyết vấn đề đặt ra.
- Phương pháp luyện tập: Trẻ thực hành lặp đi lặp lại các động tác, lời nói, cử chỉ, điệu bộ theo yêu cầu của giáo viên nhằm củng cố kiến thức và kỹ năng đã được thu nhận.
Nhóm phương pháp trực quan – minh họa (quan sát, làm mẫu, minh họa). Phương pháp này cho trẻ quan sát, tiếp xúc, giao tiếp với các đối tượng, phương tiện (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh); hành động mẫu; hình ảnh tự nhiên, mô hình, sơ đồ và phương tiện nghe nhìn (phim vô tuyến, đài, máy ghi âm, điện thoại, vi tính) thông qua sử dụng các giác quan kết hợp với lời nói nhằm tăng cường vốn hiểu biết, phát triển tư duy và ngôn ngữ của trẻ.
- Nhóm phương pháp dùng lời nói.
Sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (đàm thoại, trò chuyện, kể chuyện, giải thích) nhằm truyền đạt và giúp trẻ thu nhận thông tin, kích thích trẻ suy nghĩ, chia sẻ ý tưởng, bộc lộ những cảm xúc, gợi nhớ những hình ảnh và sự kiện bằng lời nói. Lời nói, câu hỏi của giáo viên cần phải ngắn gọn, cụ thể, gần với kinh nghiệm sống của trẻ.
- Nhóm phương pháp giáo dục bằng tình cảm và khích lệ.
Phương pháp dùng cử chỉ điệu bộ kết hợp với lời nói thích hợp để khuyến khích và ủng hộ trẻ hoạt động nhằm khơi gợi niềm vui, tạo niềm tin, cổ vũ sự cố gắng của trẻ trong quá trình hoạt động.
- Nhóm phương pháp nêu gương – đánh giá Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
- Phương pháp nêu gương: Sử dụng các hình thức khen, chê phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ. Biểu dương trẻ là chính, nhưng không lạm dụng.
- Phương pháp đánh giá: Thể hiện thái độ đồng tình hoặc chưa đồng tình của người lớn, của bạn bè trước việc làm, hành vi, cử chỉ của trẻ. Từ đó đưa ra nhận xét, tự nhận xét trong từng tình huống hoặc hoàn cảnh cụ thể. Không sử dụng các hình phạt làm ảnh hưởng đến sự phát triển tâm – sinh lý của trẻ.
Hình thức tổ chức hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN Hình thức triển khai nội dung GDDD cho trẻ MN được lồng ghép theo hướng tích hợp vào các chủ đề, chủ điểm và các hoạt động khác nhau của trẻ ở trường MN ở mọi thời điểm trong ngày. Cụ thể:
Lồng ghép GDDD vào hoạt động học tập: GDDD được tiến hành dưới hình thức lồng ghép tích hợp vào hoạt động học tập một cách linh hoạt ở các mức độ khác nhau nhưng phải phù hợp với nội dung hoạt động và chủ đề thực hiện.
Lồng ghép GDDD theo chủ đề: Nội dung GDDD đều có thể lồng ghép vào các chủ đề trong chương trình chăm sóc giáo dục dinh dưỡng trẻ mầm non nhưng nội dung GDDD phải phù hợp với chủ đề đó như chủ đề: Bản thân, thế giới động vật, thế giới thực vật….
Lồng ghép GDDD vào các môn học: Thông qua các giờ học, các lĩnh vực phát triển giúp trẻ lĩnh hội được các kiến thức đơn giản về GDDD, từ đó trẻ có kĩ năng, vận dụng vào thực tế hàng ngày.
Lồng ghép nội dung GDDD vào hoạt động vui chơi: Ở lứa tuổi 3-5, vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ. Vì vậy, hoạt động vui chơi có vai trò to lớn đối với việc giáo dục toàn diện nói chung và giáo dục dinh dưỡng cho trẻ nói riêng. Bởi vì, khi lồng ghép nội dung GDDD vào trò chơi sẽ thu hút trẻ, cũng như tạo hứng thú cho trẻ quyết tâm thực hiện hành động chơi bằng nhiều cách khác nhau để đi đến kết quả cuối cùng. Qua việc tham gia vào các trò chơi có tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng, trẻ lĩnh hội được những kiến thức mới về dinh dưỡng, giúp trẻ thay đổi thái độ, kỹ năng đối với vấn đề dinh dưỡng để từ đó tự giác ăn uống, chăm lo sức khỏe của bản thân.
Lồng ghép GDDD cho trẻ qua chế độ sinh hoạt hàng ngày: Cuộc sống của trẻ ở trường mầm non, ngoài hoạt động chính còn diễn ra một số hoạt động sinh hoạt khác như: Đón trẻ, giờ ăn, giờ ngủ, giờ dạo chơi, trả trẻ, trò chuyện với trẻ. Dựa vào trình tự, tính chất các hoạt động sinh hoạt của trẻ để lồng ghép nội dung GDDD một cách linh hoạt, trực quan. Đây cũng là hình thức GDDD một cách hiệu quả, giúp trẻ nhận thức vấn đề một cách tự nhiên, thoải mái.
Lồng ghép GDDD cho trẻ thông qua hoạt động trải nghiệm: Trong các hoạt động trải nghiệm thực tế, giáo viên đều có thể lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng một cách hợp lý giúp trẻ tích lũy kinh nghiệm.
1.3.5. Kiểm tra, đánh giá hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN
Để kiểm tra và đánh giá hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường Mầm non, có thể áp dụng các phương pháp và quy trình sau: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Nhìn xem trẻ đã hình thành những thói quen ăn uống lành mạnh chưa. Theo dõi xem trẻ chọn lựa và tiêu thụ thực phẩm như thế nào, xem xét việc trẻ có ăn đủ loại thực phẩm khác nhau hay không.
Đánh giá xem trẻ đã hiểu và tuân thủ những nguyên tắc cơ bản về dinh dưỡng như không ăn tối quá muộn, không ăn quá nhiều đường, không ăn thức ăn nhanh, không bỏ bữa,…
Dùng bảng danh sách các nhóm thực phẩm để xem xét xem trẻ có kiến thức về các nhóm thực phẩm cần được ăn hàng ngày hay không. Đánh giá xem trẻ có biết chọn lựa các thực phẩm từ các nhóm này hay không.
Trò chuyện với nhân viên và gia đình trẻ để hiểu thêm về thói quen ăn uống của trẻ tại nhà. Thông qua đó, có thể đánh giá được sự hợp tác giữa gia đình và trường trong việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ.
Sử dụng đánh giá bằng cách hỏi đáp hoặc trò chơi: Sử dụng các câu hỏi hoặc trò chơi liên quan đến dinh dưỡ để kiểm tra kiến thức và nhận thức của trẻ về dinh dưỡng. Ví dụ, tạo bàn cờ với các câu hỏi về các loại thực phẩm và công dụng của chúng.
Quan sát xem trẻ có tham gia tích cực vào hoạt động giáo dục dinh dưỡng không. Xem xét sự tương tác của trẻ với nhau và với giáo viên trong quá trình học tập về dinh dưỡng.
Xem xét xem hoạt động giáo dục dinh dưỡng đã đạt được những kết quả gì, có thể đo lường bằng việc so sánh những thay đổi trong kiến thức và thói quen ăn uống của trẻ trước và sau khi tham gia hoạt động này.
Những đánh giá được thu được từ các phương pháp trên sẽ giúp định rõ mức độ hiệu quả của hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường Mầm non. Dựa vào đó, trường có thể điều chỉnh và cải thiện phương pháp giảng dạy và hoạt động giáo dục dinh dưỡng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu dinh dưỡng của trẻ.
Nội dung kiểm tra, đánh giá giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN bao gồm:
- Tình trạng sức khỏe của trẻ.
- Trạng thái cảm xúc, thái độ và hành vi của trẻ.
- Kiến thức, kỹ năng của trẻ.
1.4 Lý luận về quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
1.4.1. Chủ thể quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN
Chủ thể quản lý hiệu trưởng, hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng môi trường ăn uống lành mạnh và đảm bảo chất lượng dinh dưỡng cho các em nhỏ. Dưới đây là các nhiệm vụ và trách nhiệm của chủ thể này:
Xác định chính sách dinh dưỡng: Chủ thể quản lý có trách nhiệm xây dựng chính sách dinh dưỡng trong trường mầm non dựa trên các quy định của bộ giáo dục và chính sách dinh dưỡng quốc gia. Chính sách này bao gồm các quy tắc ăn uống, mục tiêu dinh dưỡng, và các biện pháp để đảm bảo chất lượng dinh dưỡng cho trẻ.
Chiết tính cân đối khẩu phần ăn cho trẻ: Hiệu trưởng chỉ đạo quản lý chăm sóc nuôi dưỡng hoặc tổ trưởng cần đảm bảo cân đối các chất cân đối đầy đủ, phù hợp cần thiết cho trẻ 3-5 tuổi cho sự phát triển của trẻ. Điều này bao gồm cung cấp đầy đủ các nhóm thực phẩm như rau, củ, quả, thịt, cá, đạm, các loại chất béo và carbohydrate.
Chủ thể quản lý có trách nhiệm thúc đẩy nhận thức về dinh dưỡng lành mạnh và tăng cường giáo dục dinh dưỡng cho cả trẻ, giáo viên và cha mẹ trẻ. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc tổ chức các buổi giao lưu, thảo luận, đào tạo, và cung cấp tài liệu về dinh dưỡng.
Chủ thể quản lý cần đảm bảo rằng quy định về dinh dưỡng được thực hiện một cách đúng quy định và hiệu quả. Kiểm tra và đánh giá định kỳ việc thực hiện và chất lượng dinh dưỡng trong trường giúp chủ thể quản lý điều chỉnh và cải thiện chính sách và các hoạt động dinh dưỡng.
Xây dựng liên kết với cha mẹ trẻ và cộng đồng: Chủ thể quản lý cần xây dựng liên kết với cha mẹ trẻ và cộng đồng để tăng cường nhận thức và sự tham gia trong việc cung cấp chế độ dinh dưỡng lành mạnh cho các em nhỏ. Chủ thể quản lý có thể tổ chức các cuộc họp, buổi tư vấn, hoặc tham gia vào hoạt động cộng đồng về dinh dưỡng.
Hiệu trưởng đóng vai trò là chủ thể quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi đòi hỏi kiến thức về dinh dưỡng, khả năng lãnh đạo và kỹ năng quản lý, cùng với sự quan tâm và áp dụng đúng chính sách và quy định về dinh dưỡng.
Kết luận lại, Hiệu trưởng là người có quyền hạn và trách nhiệm to lớn ở trường mầm non trong công tác quản lý giáo viên và nhân viên, quản lý các hoạt động trong và ngoài trường; phải phân công công tác, có kiểm tra đánh giá khen thưởng kịp thời động viên đội ngũ làm tốt công tác tại các đơn vị theo qui định nhà nước.
1.4.2. Nội dung quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
- Lập kế hoạch hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN
Theo tác giả Trần Kiểm, lập kế hoạch trong GD cho phép nhà quản lý lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho tổ chức. Kế hoạch không cho phép hoạt động tùy tiện, tản mạn, rời rạc và cũng không chấp nhận sự quyết định vội vàng, thiếu cân nhắc (Trần Kiểm, 2011, tr.48).
Công tác lập kế hoạch hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN đòi hỏi người quản lý có: khả năng hiểu biết về nhu cầu giáo dục và đào tạo; khả năng tiếp cận những thông tin cần thiết; khả năng phân bổ và quản lý nguồn lực dành cho giáo dục và đào tạo ở trường mầm non. Xây dựng kế hoạch GDDD cho trẻ 3-5 tuổi là kế hoạch chung nằm trong kế hoạch phát triển giáo dục toàn diện của trẻ trong nhà trường. Chất lượng của kế hoạch và hiệu quả thực hiện kế hoạch quyết định chất lượng hiệu quả của hoạt động GDDD cho trẻ.
Lập kế hoạch thực hiện hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi, Hiệu trưởng cần tiến hành các công việc sau:
Nghiên cứu văn bản của các ban ngành, cơ quan về hoạt động GDDD cho trẻ, nghiên cứu các quy định của Bộ, Sở, Phòng có liên quan đến hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi.
Xác định mục tiêu và nội dung riêng cho hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi từ mục tiêu chung của nhà trường, hình thành và GDDD cho trẻ 3-5 tuổi thông qua việc sử dụng các nguồn lực đã có và khai thác trong và ngoài trường mầm non.
Phân tích thực trạng của hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ, qua đó thấy được ưu điểm, nhược điểm, thời cơ, thách thức, và những nguyên nhân của thực trạng.
Xây dựng các loại kế hoạch hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi theo tuần, tháng, năm phù hợp với chủ đề để định hướng cho các bản kế hoạch giáo dục cụ thể của giáo viên trong từng độ tuổi của trẻ.
Xác định các biện pháp, các hành động cụ thể để thực hiện kế hoạch hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi.
Xác định những cách thức và xây dựng các tiêu chí đánh giá kết quả giáo dục cho hoạt động GD dinh dưỡng theo từng giai đoạn. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Xác định các điều kiện thực hiện hoạt động giáo dục như: thời gian, chi phí, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và trang thiết bị…để đảm bảo quá trình hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi.
Xác định các nguồn lực trong và ngoài nhà trường để đạt các mục tiêu cho hoạt động GD dinh dưỡng.
Khi lập kế hoạch thực hiện hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi, Hiệu trưởng phải dựa trên kế hoạch giáo dục tổng thể và mục tiêu toàn diện của nhà trường vì vậy cần đảm bảo kế hoạch phải khoa học, phù hợp với thực tế và có tính khả thi cao. Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi với mục tiêu giáo dục trong nhà trường; phải đảm bảo lựa chọn nội dung, hình thức phù hợp với hoạt động tâm sinh lý của trẻ 3-5 tuổi để đạt hiệu quả giáo dục cao.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN
Đây là giai đoạn cụ thể hóa kế hoạch thành những công tác mà nhà trường phải thực hiện. Bởi quá trình này thực hiện sau khi lập kế hoạch và đòi hỏi sự phối hợp giữa các lực lượng trong nhà trường: nhân lực, vật lực, tài lực để hoàn thành tiêu chung của nhà trường. Theo Phạm Viết Vượng, người quản lý “phân công, phân nhiệm rõ ràng cho từng nội dung công việc đến từng người thực hiện. Sự phân công phải cụ thể theo từng nội dung công việc, thời gian hoàn thành, sản phẩm phải đạt được” (Phạm Viết Vượng, 2017, tr.369).
Trên cơ sở bản kế hoạch, Hiệu trưởng tổ chức thực hiện hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi. Vận dụng những ý tưởng mới nhất để đạt được sự cộng tác, hợp tác giữa người lãnh đạo với các thành viên, giữa các thành viên với nhau, giữa bộ phận này với bộ phận khác trong việc GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi. Quá trình tổ chức thực hiện hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi, người quản lý cần thực hiện những công việc sau:
- Tổ chức phổ biến cho giáo viên nắm rõ mục tiêu của GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi.
- Tổ chức việc soạn bài, soạn nội dung chuyên đề về GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi.
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho CBQL, GV, NV tham gia GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi.
- Tổ chức các buổi thực hành, trải nghiệm thực tế về GD dinh dưỡng cho đội ngũ CBQL, GV, NV trong nhà trường.
Thường xuyên mời cha mẹ trẻ trao đổi về vấn đề GD dinh dưỡng cho trẻ MG. Khi tổ chức việc thực hiện hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi trong nhà trường, người Hiệu trưởng cần đảm bảo tính khoa học và hiệu quả của hoạt động. Khi phân công công việc cần sắp xếp hợp lý, phù hợp với năng lực, nguyện vọng để họ có thể phát huy tối đa khả năng của bản thân phục vụ cho hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi. Bên cạnh đó cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng GD để hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi đạt được hiệu quả tốt.
Tổ chức các điều kiện tối ưu cho việc thực hiện mục tiêu GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi trong nhà trường. Hiệu trưởng phải từng bước sắp xếp và hoàn thiện các trang thiết bị, cơ sở vật chất đúng chuẩn, bảo quản và sử dụng hiệu quả để phục vụ cho công tác GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Tổ chức, sử dụng nguồn kinh phí hợp lý đúng quy chế và hiệu quả để giúp nâng cao phát triển chất lượng hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi.
- Chỉ đạo thực hiện hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN
Chỉ đạo là tác động tới con người trong tổ chức để họ làm tốt công việc được giao hoặc tự nguyện hướng đến mục tiêu của tổ chức. Theo Phạm Viết Vượng, “chỉ đạo thực hiện chính là giám sát quá trình công tác, tổ chức phối hợp các bộ phận chức năng. Hỗ trợ, hướng dẫn các đơn vị thực hiện kế hoạch” (Phạm Viết Vượng, 2017, tr.369).
Chỉ đạo thực hiện hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN là quá trình hiệu trưởng hướng dẫn, điều chỉnh công việc nhịp nhàng phối hợp liên kết các thành viên trong tổ chức với nhau để thực hiện mục tiêu hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN. Đồng thời động viên, khuyến khích, khen thưởng các thành viên trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu hình thành nhân cách toàn diện cho trẻ. Để công tác chỉ đạo cho hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi đạt được kết quả tốt, đáp ứng được mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức đã đề ra, người Hiệu trưởng cần thực hiện các công việc sau đây:
- Xác định các phương án, định hướng, mục tiêu phù hợp tối ưu nhất, nhất trí kế hoạch đưa ra.
- Chỉ đạo tổ chức tuyên truyền cho CBQL, giáo viên, nhân viên, cha mẹ trẻ nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ của hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi, từ đó họ tự giác tham gia và hỗ trợ nhà trường trong công tác GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi.
- Chỉ đạo tổ chức bồi dưỡng, huấn luyện cho CBQL, giáo viên, nhân viên học tập kinh nghiệm với các trường, địa phương khác về hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi.
- Chỉ đạo tổ chuyên môn, giáo viên thực hiện lồng ghép các hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi thông qua các hoạt động giáo dục như: hoạt động vui chơi, hoạt động trải nghiệm….
- Giám sát, động viên, khuyến khích, đôn đốc, thúc đẩy các lực lượng tham gia hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi hoàn thành nhiệm vụ công việc.
- Thông qua các cuộc họp hội đồng sư phạm trao đổi và rút kinh nghiệm để đưa ra phương án điều chỉnh cho hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi.
- Điều chỉnh những sai lệch xuất hiện trong quá trình thực hiện hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi như giáo viên dạy kiểu đối phó, không có đồ dùng. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Khi chỉ đạo hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN, Hiệu trưởng cần hiểu rõ con người đang làm việc trong tổ chức của mình, thường xuyên tiếp xúc, làm việc trực tiếp với các thành viên để có thể đưa ra các quyết định thích hợp và lựa chọn đúng phương pháp quản lý, giúp họ thực hiện đạt được mục tiêu kế hoạch hoạt động GDDD cho trẻ. Thường xuyên động viên, khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện cho giáo viên để họ thể hiện hết kinh nghiệm của bản thân, để phát triển không chỉ sự tự nguyện làm việc mà còn là tự nguyện làm việc với một sự nhiệt tình, nghiêm chỉnh, chăm chú trong công tác GDDD cho trẻ 3-5 tuổi.
- Kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3- 5 tuổi ở trường MN
Kiểm tra, đánh giá hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN là khâu then chốt để nắm được chất lượng của đơn vị, của từng khối lớp, của từng người CBQL, GV, NV. Qua công tác kiểm tra, bên cạnh việc nắm được thực trạng GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường, tiếp tục điều chỉnh, xây dựng kế hoạch GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi, Hiệu trưởng còn có thể rút kinh nghiệm và cải tiến công tác quản lý nhà trường để nâng cao chất lượng GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN.
Kiểm tra, đánh giá hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi là chức năng của quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi trong trường MN, thông qua đó Hiệu trưởng theo dõi giám sát hoạt động và kết quả hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi và uốn nắn sửa chữa, khắc phục những sai lệch cần thiết trong hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ so với mục tiêu, kế hoạch đề ra, để có thể đổi mới và không ngừng hoàn thiện hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non. Đây là nội dung quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 rất quan trọng, giúp Hiệu trưởng nắm được thực trạng quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi để có thể đưa ra các giải pháp quản lý kịp thời, chấn chỉnh những vấn đề tồn tại và hạn chế trong thực tiễn đồng thời phát huy được những vấn đề có tính chất tích cực, thế mạnh. Tiến trình kiểm tra hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi được thực hiện theo các công việc sau:
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá, hình thức kiểm tra và phương pháp đánh giá.
- Kiểm tra, đánh giá hoạt động triển khai thực hiện các hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi của các lực lượng giáo dục.
- Kiểm tra, đánh giá về mức độ thực hiện các mục tiêu, nội dung, phương pháp, tuổi hình thức GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi.
- Tiến hành điều chỉnh kế hoạch nếu chưa đạt được mục tiêu đề ra các hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ trong nhà trường.
- Tổng kết, đánh giá. Tuyên dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân thực hiện tốt hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi. Có hành động nhắc nhở, kiểm điểm, phê bình những cá nhân chưa thực hiện tốt công tác này.
Khi kiểm tra việc thực hiện hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi yêu cầu người Hiệu trưởng phải theo dõi, quan sát, xem xét diễn biến hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ có phù hợp với mục tiêu, kế hoạch, các tiêu chuẩn cụ thể đã đặt ra hay không. Qua đó kịp thời động viên và điều chỉnh hoạt động GD dinh dưỡng để kịp thời nhằm tăng hiệu quả công việc của từng bộ phận trong nhà trường. Kết hợp đa dạng phương pháp đánh giá trực tiếp hoặc gián tiếp như quan sát, dự giờ nấu ăn cấp dưỡng, giờ trẻ ăn, qua kế hoạch, sổ sách, báo cáo… và xây dựng hình thức đánh giá bằng cách xếp loại, qua sự tín nhiệm của tập thể trong quá trình kiểm tra.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
1.5.1. Các yếu tố khách quan
Công tác quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN chịu sự tác động của các yếu tố khách quan sau đây:
Chủ trương chính sách, cơ chế quản lý của nhà nước với giáo dục mầm non: Tất cả các văn bản quy chế, thông tư đều mang tính pháp lý để các trường mầm non tổ chức và thực hiện. Các văn bản pháp lý của nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo có tác động và ảnh hƣởng đến việc thực hiện hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi. Chính vì vậy, hệ thống các văn bản phải rõ ràng không bị chồng chéo, phù hợp với thực tiễn sẽ tạo sự thuận lợi trong quá trình tổ chức hoạt động cho trẻ tại trường mầm non và đạt mục tiêu đề ra.
Yếu tố gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của trẻ khi vừa mới lọt lòng. Nói như thế để thấy được vai trò của gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhân cách của trẻ sau này, đặc biệt là trong vấn đề GD dinh dưỡng cho con cái. Việc GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi có đạt hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều từ gia đình. Do đó, việc gia đình của trẻ, cụ thể là ông bà, cha mẹ những người lớn trong gia đình có nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của GD dinh dưỡng cho trẻ hay không là rất quan trọng. Gia đình nên kết hợp chặt chẽ với nhà trường trong công tác GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi. Đặc biệt là cha mẹ trẻ phải nắm bắt tình hình của con em mình, đồng thời cũng có những phản hồi kịp thời để công tác kết hợp GD dinh dưỡng cho trẻ thực sự đạt hiệu quả.
Sự phát triển kinh tế – xã hội, trình độ dân trí của cộng đồng dân cư của địa phương nói chung và điều kiện của mỗi gia đình nói riêng có tác động không nhỏ đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Trẻ được chăm sóc, nuôi dưỡng tại trường phụ thuộc vào mức đóng góp tiền ăn của gia đình. Kinh tế – xã hội, trình độ dân trí của cộng đồng dân cư ở địa phương là các yếu tố khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi. Đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế và hội nhập quốc tế như hiện nay có sự tác động rất lớn đến đến thay đổi về quan niệm GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN.
Tác động của khoa học và công nghệ (KH&CN). Sự phát triển KH&CN, công nghệ thông tin (CNTT) trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực, tác động mọi quá trình và mọi mặt của đời sống xã hội. Nhiều thành tựu của các khoa học và công nghệ, CNTT, kinh tế học, xã hội học, luật học,… đã trở thành chỗ dựa cho việc QLGD. Nếu như trước đây con người phải mất nhiều thời gian để truyền tải thông tin, thì ngày nay những tiến bộ trong lĩnh vực truyền thông và mạng thông tin toàn cầu khiến cho thông tin được trao đổi với tốc độ nhanh trong hầu hết các lĩnh vực. Người CBQL không chỉ cần có kiến thức chuyên môn, kiến thức QL mà cần phải thay đổi tư duy QL và bổ sung kỹ năng CNTT, kỹ thuật số cần thiết để quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ như các phòng học, thiết bị, dụng cụ chế biến thức ăn, internet, wifi… đầy đủ sẽ tạo điều kiện tốt cho GD thực hiện hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi đạt hiệu quả cao. Trang thiết bị phục vụ nhu cầu vui chơi, học tập của trẻ phải đảm bảo vệ sinh an toàn, các dụng cụ phục vụ ăn uống, ngủ nghỉ phải vệ sinh sạch sẽ để đảm bảo trẻ phát triển thể chất tốt.
1.5.2. Các yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
Chất lượng của hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non được chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó chủ thể quản lý là yếu tố trung tâm (Hiệu trưởng), chi phối các yếu tố khác, liên kết các yếu tố, làm cho các yếu tố phát huy được hết tác dụng. Các yếu tố thuộc về cán bộ quản lý bao gồm:
Năng lực, phầm chất quản lý của người Hiệu trưởng. Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước nhân dân về chất lượng và hiệu quả mọi HĐ của trường MN. Thành công của việc quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN phần lớn phụ thuộc vào năng lực QL của người hiệu trưởng. Hiệu trưởng phải có trình độ nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của việc quản lý hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ; có đầu óc tổ chức thực hiện và có năng lực triển khai trong thực tiễn, nghĩa là phải am hiểu sâu sắc về chủ trương cũng như các yêu cầu đối với việc thực hiện nội dung chương trình GD dinh dưỡng cho trẻ, để quá trình QL của mình sâu sát hơn. Bên cạnh đó, các phẩm chất quản lý của hiệu trưởng sẽ giúp tập thể đạt được thành tích cao trong quá trình GD. Phẩm chất của người hiệu trưởng có tác dụng như chất xúc tác giúp tập thể cùng gắn bó, hợp tác, quyết tâm phấn đấu vì sự phát triển của nhà trường, xây dựng được bầu không khí sư phạm lành mạnh, giúp mọi người yên tâm công tác. Những năng lực, phầm chất này thể hiện trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá của nhà trường trong hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi.
Ý thức trách nhiệm và trình độ đào tạo của đội ngũ giáo viên: Đội ngũ GV mầm non là lực lượng chính trực tiếp tổ chức hoạt – động GD dinh dưỡng cho trẻ 3- 5 tuổi. Chất lượng và mức độ nhanh chóng hình thành và phát triển nhân cách ở trẻ là do người GV góp phần quyết định. Đội ngũ giáo viên đòi hỏi phải có bản lĩnh về kiến thức chuyên môn vững vàng, có trải nghiệm thực tiễn, ứng xử khéo léo, biết quan tâm chia sẽ, gần gũi với trẻ. Từ đó, nhà trường cần phải thực hiện tốt trong công tác tuyển chọn, sử dụng và bồi dưỡng giáo viên theo đúng quy trình và công bằng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường cũng như chất lượng trong hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi tại trường mầm non. Ý thức trách nhiệm và trình độ của đội ngũ GV về tầm quan trọng của công tác quản lý GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi đóng vai trò thúc đẩy vô cùng quan trọng trong quá trình dẫn dắt nhà trường thực hiện hoạt động GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi.
Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong GD dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi. Điều đó có sự tác động lớn trong quá trình GD dinh dưỡng cho trẻ. Lực lượng tham gia hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi cần phải nhận thức được vai trò cũng như ý nghĩa của các hoạt động GDDD và sự phối hợp, nắm rõ nội dung giáo dục. Đồng thời, sử dụng linh hoạt và hiệu quả các phương pháp phù hợp với nội dung, mục tiêu, tâm sinh lý trẻ 3-5 tuổi thông qua các hình thức tổ chức hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi tại trường mầm non.
Tiểu kết chương 1
Nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi là hoạt động hết sức cần thiết, đây được xem là một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển toàn diện của trẻ trong độ tuổi 3-5 cả về thể chất lẫn trí tuệ. Người CBQL, GV trường mầm non cần có kế hoạch cụ thể, rõ ràng để tổ chức có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường, trong đó giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN là rất quan trọng và cần thiết. Qua chương 1, tác giả đã tìm hiểu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi tại các trường MN gồm các nội dung:
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước và ngoài nước: Nêu một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài; trình bày cơ sở lý luận về giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN; quản lý giáo dục dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường MN; nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng khách quan và chủ quan đến công tác quản lý hoạt động GDDD cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non. Cơ sở lý luận của chương 1 là tiền đề để tác giả tiếp tục thực hiện nghiên cứu chương 2 và chương 3. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em […]