Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội và tình hình giáo dục tại Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội tại Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức
2.1.1.1 Về kinh tế
Thành phố Thủ Đức là một quận mới xác nhập từ Quận 9, Quận Thủ Đức và Quận 2, được thành lập vào ngày 01 tháng 01 năm 2021. Đây được xem là thành phố trong thành phố đầu tiên thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Với tổng diện tích 211,56 km2 và có tổng cộng 1.013.795 người với mật độ 4.792 người/km2. (Nghị Quyết 1111, 2020). Thành phố Thủ Đức có tổng diện tích 47,76 km², chia thành 3 khu vực để tiện việc quản lý. Khu vực 3 có vị trí địa lý tiếp giáp với các khu vực xung quanh như: Phía Bắc giáp các thành phố Dĩ An và Thuận An, tỉnh Bình Dương – Phía Nam giáp các quận Bình Thạnh và Gò Vấp – Phía Đông giáp quận 9 – Phía Tây giáp quận 12. Và khu vực 3 gồm 12 phường: Bình Chiểu, Bình Thọ, Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Linh Chiểu, Linh Đông Linh Tây, Linh Trung, Linh Xuân, Tam Bình, Tam Phú, Trường Thọ. (Nghị Quyết 1111, 2020).
Về kinh tế, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Khu vực 3, thành phố Thủ Đức thực hiện đạt 4.350 tỷ đồng, đạt 45% so chỉ tiêu pháp lệnh. Toàn địa bàn có 1.092 doanh nghiệp thành lập mới/tổng vốn đăng ký 22.255 tỷ đồng, nâng tổng số doanh nghiêp đang hoạt động trên địa bàn 11.320 doanh nghiệp. (Đảng bộ Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh Đại hội lần thứ VI, nhiệm kỳ 2020 – 2025.)
2.1.1.2. Về xã hội
Khu vực 3, thành phố Thủ Đức đã triển khai thực hiện Đề án xây dựng đô thị thông minh, Chuyển đổi số giai đoạn 2021 – 2025; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành hoạt động nội bộ của lãnh đạo TP Thủ Đức. Đến cuối năm 2019, có 213/244 đơn vị đạt chuẩn văn hóa, 6 phường đạt chuẩn văn minh đô thị. Tỉ lệ hộ gia đình văn hóa, khu phố văn hóa vượt chỉ tiêu nghị quyết (Đảng bộ Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh Đại hội lần thứ VI, nhiệm kỳ 2020 – 2025). Tuy nhiên, tại Khu vực 3, thành phố Thủ Đức, phần lớn là người dân lao động với cuộc sống còn nhiều khó khăn. Đối tượng dân cư đa phần là dân nhập cư vì thế tình hình an ninh xã hội cũng còn nhiều phức tạp.
2.1.2. Khái quát chung về giáo dục tiểu học tại Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
- Qui mô, chất lượng giáo dục
Năm học 2022-2023, TP Thủ Đức có 58 trường công lập, 3 trường ngoài công lập với 93.272 HS tiểu học. Trong đó, Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức có 27 trường tiểu học công lập và 2 trường ngoài công lập. Khu Vực 3 luôn có tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100% hàng năm; 100% HS hoàn thành chương trình tiểu học, tỷ lệ trường công lập đạt chuẩn quốc gia là 97,9%. 100% trẻ từ lớp 1 trở lên được dạy tiếng Anh, đạt nhiều thành tích cao trong các hội thi quốc gia và quốc tế (Phòng GD và Đào tạo thành phố Thủ Đức, 2023).
- Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
Trong những năm qua, việc bố trí, sắp xếp đội ngũ CBQL và GV các cơ sở GD phổ thông đã được UBND thành phố và các cấp, các ngành quan tâm thực hiện, cơ bản đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD và triển khai thực hiện tốt Chương trình GD phổ thông trên địa bàn Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức. Đến nay, tổng số CBQL trường tiểu học là 81 người, giáo viên là 1350 người (Báo cáo thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tại thành phố Thủ Đức, 2022). Điểm nổi bật của đội ngũ CBQL và GV tại Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức có tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, tâm huyết với nghề, thực hiện tốt quy định về đạo đức nghề nghiệp. (Báo cáo thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tại thành phố Thủ Đức, 2022)
- Cơ sở vật chất
Căn cứ Công văn số 4133/BGDĐT-CSVC ngày 26 tháng 8 năm 2022 của Bộ GD và Đào tạo về việc thực hiện nhiệm vụ về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học trong các cơ sở GD mầm non, phổ thông, năm học 2022-2023 tại các trường thuộc Khu Vực 3 đều được trang bị tối thiểu các thiết bị dạy học cơ bản nhất phục vụ cho hoạt động GD. Thư viện của trường có không gian thoáng mát, trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, kho sách phong phú phục vụ tốt cho công tác tự học của giáo viên và HS. Ngoài ra, tăng cường đầu tư và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, dạy học. Nhiều trường trên địa bàn có phòng đa chức năng: nhà thi đấu đa năng, phòng gym, phòng vi tính, phòng nhạc, thư viện, phòng thí nghiệm,….
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1. Mục đích khảo sát
Phân tích, đánh giá đúng đắn và khách quan, tìm ra mặt mạnh, mặt yếu trong thực hiện hoạt động GDGT cho HS và quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức.
2.2.2. Nội dung khảo sát
- Nhận thức của CBQL, GV, CMHS, HS về hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức.
- Thực trạng hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
- Thực trạng quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
- Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
2.2.3. Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng và đối tượng khảo sát
Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Chúng tôi sử dụng 02 mẫu khảo sát:
- Mẫu 1: Dành cho CBQL, GV của 09 trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Phụ lục 1)
- Mẫu 2: Dành cho CMHS của 09 trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Phụ lục 2)
- Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức có 27 trường tiểu học công lập, được chia thành 3 loại chính:
- Loại 1 là trường đạt chuẩn kiểm định mức 1; theo hướng tiên tiến hiện đại: Trường tiểu học Linh Chiểu; Hoàng Diệu; Lương Thế Vinh; Nguyễn Văn Nở; E- School Thạnh Mỹ Lợi; Nguyễn Trung Trực; Nguyễn Văn Triết
- Loại 2 là trường đạt chuẩn kiểm định mức 2: Trường tiểu học Trương Văn Hải; Thái Văn Lung; Đỗ Tấn Phong; Bình Chiểu; Nguyễn Văn Lịch; Hiệp Bình Phước; Nguyễn Văn Tây; Đào Sơn Tây; Bình Triệu.
- Loại 3 là trường chưa đạt chuẩn kiểm định mức 1, 2: Trường tiểu học Bình Quới; Hiệp Bình Chánh; Linh Tây; Xuân Hiệp; Đặng Văn Bất; Đặng Thị Rành; Từ Đức; Linh Đông; Nguyễn Văn Banh; Tam Bình; Trần Văn Vân.
Tác giả chọn ngẫu nhiên 09 trường ở 3 loại khác nhau mang đầy đủ đặc điểm của các trường tiểu học trong khu vực. Đó là các trường: Trường tiểu học Hoàng Diệu; Trường tiểu học Linh Chiểu; Trường tiểu học Lương Thế Vinh; Trường tiểu học Bình Triệu; Trường tiểu học Trương Văn Hải; Trường tiểu học Bình Chiểu; Trường tiểu học Linh Đông; Trường tiểu học Từ Đức; Trường tiểu học Bình Quới.
Để tiến hành khảo sát thực trạng hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học và quản lý hoạt động GDGT cho HS ở các trường tiểu học khu vực 3, thành phố Thủ Đức, người nghiên cứu tiến hành hỏi ý kiến của 75 CBQL, 105 GV và 400 CMHS của 09 trường tiểu học trên địa bàn. Số lượng và đặc điểm đối tượng CBQL, GV khảo sát được trình bày ở bảng 2.1, 2.2 sau đây:
- Bảng 2. 1: Bảng thống kê số lượng CBQL, GV khảo sát
- Bảng 2.2. Đặc điểm CBQL và GV được khảo sát
Theo số liệu ở bảng 2.2 cho thấy đối tượng khảo sát là CBQL, GV có sự chênh lệch giữa giới tính nam và nữ. Cụ thể: nam là 17,8%, nữ là 82,2% do cấp tiểu học thường chiếm ưu thế là giáo viên nữ. Về độ tuổi từ 30 đến 50 tuổi chiếm đến 52,2%. Thâm niên công tác của các đối tượng tập trung khoảng trên 15 năm với tỉ lệ 35,6%. CBQL, GV có trình độ chuyên môn đạt chuẩn là 94,4% và trên chuẩn là 3,9%.
Đặc điểm cha mẹ HS được khảo sát trình bày ở bảng 2.3 dưới đây:
- Bảng 2.3: Đặc điểm cha mẹ HS được khảo sát
Như vậy, qua phân tích ở các bảng 2.1, 2.2, 2.3 cho thấy đối tượng khảo sát đa dạng, phong phú về độ tuổi, giới tính, trình độ đào tạo, vị trí công tác…cho phép đề tài thu thập được thông tin đa chiều về thực trạng hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường TH Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức.
Đối với phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng là Hiệu trưởng (03), Phó hiệu trưởng (03), tổ trưởng chuyên môn (03), GV (06), CMHS (03), HS (03) của 09 trường tiểu học nhằm thu thập các thông tin định tính hỗ trợ cho kết quả nghiên cứu khảo sát. Chúng tôi đã tiến hành mã hóa đối tượng được phỏng vấn đối với CBQL: HT1, HT2, HT3; PHT1, PHT2, PHT3; TT1, TT2, TT3; đối với GV: GV1, GV2, GV3, GV4, GV5, GV6; đối với CMHS: PH1, PH2, PH3; đối với HS: HS1, HS2, HS3.
Tập hợp, phân loại, nghiên cứu hồ sơ quản lý như kế hoạch; biên bản; báo cáo sơ kết, tổng kết; sản phẩm sau khi thực hiện của CBQL, GV và HS có liên quan đến hoạt động GDGT của 09 trường tiểu học trên địa bàn Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức.
Sau khi thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm SPSS mã nguồn mở và Microsoft Excel 2010 để xử lí thông tin mang tính định lượng. Đối với số liệu thông tin định tính (từ phỏng vấn, phân tích hồ sơ), tác giả tiến hành phân tích và trích dẫn các ý kiến để phân tích thực trạng của vấn đề.
2.2.4. Mẫu khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
09 trường đã chọn trong Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức với tổng số CBQL, GV 299 đối tượng thì cách xác định cỡ mẫu theo công thức của Slovin (1984) trích dẫn bởi Võ Thị Thanh Lộc (2010) với độ tin cậy là 95%, mức sai số là 5%, ta có:
Trong đó:
- N: Tổng số CBQL, GV
- n: Số CBQL, GV cần điều tra, khảo sát e: Sai số cho phép
Vậy mẫu để điều tra, khảo sát là 171 phiếu hợp lệ phải nhận được. Do đó tác giả lấy cỡ mẫu là 180 để tránh sai số. Còn đối tượng là CMHS với số lượng 400 phiếu trưng cầu.
2.2.5. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo
Thang đo được đề cập ở đây là một hệ thống các tiêu chí hoặc các câu hỏi thể hiện được những khía cạnh của một nội dung. Để thiết kế được một thang đo tốt cần làm rõ các tiêu chí/câu hỏi/biến quan sát và phải phản ánh đầy đủ mọi khía cạnh của khái niệm, những vấn đề cần đo lường và các tiêu chí này không bị trùng lặp nhau về nội dung.
Để kiểm tra độ tin cậy thang đo, chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS mã nguồn mở nhằm xác định hệ số Cronbach Alpha. Hệ số Cronbach Alpha đòi hỏi cần phải có tối thiểu là ba biến đo lường (biến quan sát). Giá trị Alpha của Cronbach nằm trong từ 0 đến 1. Các giá trị gần hơn với 1 cho thấy sự thống nhất của các biến trong. Thang đo có hệ số Cronbach Alpha ≥ 0.6 là thang đo chấp nhận được về mặt độ tin cậy.
Kết quả kiểm tra độ tin cậy của các thang đo hoạt động GDGT cho HS trình bày ở bảng 2.4:
- Bảng 2.4: Hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo hoạt động GDGT
Kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo công tác quản lý hoạt động GDGT cho HS trình bày ở bảng 2.5:
- Bảng 2.5: Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo công tác quản lý hoạt động GDGT
Như vậy, với kết quả độ tin cậy của thang đo được trình bày trong bảng 2.5 (các giá trị Cronbach’s Alpha đều > 0.8) đã nói lên một cách đầy đủ mọi khía cạnh của khái niệm và không có sự trùng lắp giữa các biến quan sát. Tác giả kết luận rằng: thang đo có độ tin cậy tốt. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
2.2.6. Qui ước thang đo
Thang đo được tác giả sử dụng trong 02 phiếu khảo sát đa phần là thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để xác định các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần số, tỉ lệ %,…Ngoài ra, tác giả sử dụng thang đo danh nghĩa để xác định tên gọi và đặc điểm của đối tượng khảo sát.
Xây dựng thang đo Likert với 5 mức độ nhằm thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong.
Giá trị trung bình giữa các khoảng = (Max – Min)/N = (5-1)/5 = 0.8
Vì vậy, ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng cụ thể trong bảng 2.6 như sau:
- Bảng 2.6. Quy ước đánh giá, phân tích số liệu
Những quy ước này sẽ được sử dụng để phân tích thực trạng.
2.3. Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động GD giới tính tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
2.3.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ HS về vị trí, vai trò của hoạt động GD giới tính cho HS tiểu học
Để đánh giá mức độ nhận thức của CBQL, GV về vị trí và vai trò của hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học, đề tài tiến hành khảo sát ý kiến của 180 CBQL, GV các trường tiểu học tại Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả trình bày ở bảng 2.7 như sau:
- Bảng 2.7: Ý kiến của CBQL, GV về vị trí và vai trò của hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học
Bảng 2.7 cho thấy, đa số CBQL, GV đều nhận thức được tầm quan trọng trong hoạt động GDGT cho HS tiểu học nên kết quả nhận được đạt mức độ đồng ý cao (ĐTB chung: 4.18). ĐLC <1 nghĩa là, các ý kiến khá tương đồng. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận CBQL, GV chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của hoạt động GDGT cho HS. Số liệu ở bảng 2.7 cho thấy, 33.3% số CBQL và GV được khảo sát chỉ đồng ý một phần, không đồng ý và hoàn toàn không đồng ý với quan niệm, tầm quan trọng của GDGT “Chuẩn bị cho HS hành trang vững vàng bước vào những thay đổi về xúc cảm, tình bạn, tình yêu khác giới”. Các tiêu chí còn lại, đặc biệt là tiêu chí hoạt động GDGT “Hình thành cho HS hiểu biết về cấu trúc và chức năng của các hệ cơ quan trong cơ thể nhất là cơ quan sinh dục ”có đến 28,9% CBQL và GV chỉ đồng ý một phần và 6,1% không đồng ý.
Ngoài ra, đánh giá mức độ nhận thức của CMHS về vị trí, vai trò của hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học, tác giả khảo sát ý kiến của 400 CMHS các trường tiểu học tại Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức. Kết quả trình bày ở bảng 2.8 (Phụ lục 5 trang 31). Kết quả khảo sát cho thấy, đa số CMHS đều nhận thức được tầm quan trọng trong hoạt động GDGT cho HS tiểu học nên kết quả nhận được đạt mức độ đồng ý cao (4.21). Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận CMHS chưa nhận thức được đầy đủ vị trí, vai trò của hoạt động GDGT cho HS. Cụ thể là, 17% số CMHS được khảo sát chỉ đồng ý một phần, không đồng ý và hoàn toàn không đồng ý với quan niệm, vị trí, vai trò của GDGT. So sánh 2 bảng khảo sát cho thấy, không chỉ CBQL, GV mà cả CMHS đều quan tâm đến hoạt động GDGT cho HSTH. Nhưng vẫn còn một bộ phận CBQL, GV cũng như CMHS được khảo sát chưa nhận thức đầy đủ về vị trí vai trò của hoạt động GDGT.
Như vậy, cần có biện pháp nâng cao nhận thức của CBQL, GV và CMHS về vị trí, vai trò của hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới GD trong giai đoạn hiện nay.
2.3.2. Thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục giới tính cho học sinh tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Mục tiêu GDGT cho HS là kết quả cần đạt của hoạt động GDGT. Kết quả khảo sát trình bày ở bảng 2.9.
- Bảng 2.9: Ý kiến của CBQL, GV và CMHS về thực trạng thực hiện mục tiêu GDGT
Nhìn vào bảng 2.9 cho thấy:
Về mức độ thực hiện: CBQL, GV đánh giá khá cao mức độ thực hiện mục tiêu của hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học, có ĐTB chung = 93, ứng với mức “Thường xuyên”. Mục tiêu “Giúp HS có được khả năng làm chủ bản thân, kỹ năng vệ sinh cơ thể theo đặc thù giới tính” (ĐTB: 4.69), ứng với “Rất thường xuyên”. Nội dung này phù hợp với thực trạng hiện nay vì đối với độ HSTH điều cần nhất chính là kĩ năng vệ sinh cơ thể và những yêu cầu riêng đặc thù giới tính cá nhân. Ngược lại, mục tiêu “Giúp HS có những kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong quan hệ với người khác giới” được đánh giá thấp nhất, chỉ ở mức “Thỉnh thoảng” (ĐTB = 2.91). Do đó cần chú ý tăng cường những kỹ năng giao tiếp cho HS khi tiếp xúc với người khác giới.
CMHS đánh giá khá cao mức độ thực hiện mục tiêu GDGT cho HS tại các trường TH, ĐTB chung = 78, ứng với mức “Thường xuyên”. Mục tiêu “GD HS có thái độ tích cực, lịch sự trong quan hệ với người khác giới.” (ĐTB: 4.19) được đánh giá cao nhất. Nội dung này cũng phù hợp với nhu cầu thực tế của xã hội hiện nay khi HSTH có cơ hội tiếp xúc nhiều với xung quanh qua các hoạt động ngoài nhà trường. Ngược lại, mục tiêu “Giúp HS hình thành kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong quan hệ với người khác giới” được đánh giá thấp nhất, chỉ ở mức “Thỉnh thoảng.
- Về kết quả thực hiện:
CBQL, GV đánh giá kết quả thực hiện của hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3 ở mức khá (ĐTB chung: 87). Cao nhất là “Giúp HS có được khả năng làm chủ bản thân, kỹ năng vệ sinh cơ thể theo đặc thù giới tính.” (ĐTB: 4.66). Mục tiêu có kết quả thực hiện ở mức “Trung bình” là “Giúp HS có những kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong quan hệ với người khác giới” (ĐTB: 2.71). Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
CMHS đánh giá kết quả thực hiện của hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3 ở mức khá (ĐTB chung: 77). Mục tiêu được đánh giá đạt kết quả cao nhất là “Giúp HS có được khả năng làm chủ bản thân, kỹ năng vệ sinh cơ thể theo đặc thù giới tính” (ĐTB: 4.11). Mục tiêu được đánh giá kết quả thực hiện thấp nhất là “Giúp HS có những kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong quan hệ với người khác giới” (ĐTB: 2.69) kết quả đánh giá ở mức trung bình.
So sánh kết quả khảo sát giữa CBQL, GV và CMHS cho thấy có sự tương đồng ở việc đánh giá mức độ thực hiện và kết quả thực hiện của mục tiêu “Giúp HS có những kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong quan hệ với người khác giới”. Các đối tượng khảo sát đều nhìn nhận chỉ thực hiện ở mức thỉnh thoảng và kết quả ở mức trung bình. Các mục tiêu còn lại cũng có sự khác biệt cho thấy suy nghĩ, lo lắng của CMHS và CBQL, GV cũng khá phong phú, đa dạng.
Tóm lại, nhìn vào kết quả khảo sát ta thấy việc triển khai mục tiêu GDGT cho HS tại các trường tiểu học còn hạn chế, mới chú trọng nhiều vào GD thái độ cho HS với người khác giới nhưng lại hạn chế GD rèn kĩ năng. Đây cũng là điều cần cải thiện về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện mục tiêu GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
2.3.3. Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục giới tính cho học sinh tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức có rất nhiều nội dung phong phú và đa dạng, bám sát theo chương trình GD 2006, 2018. Kết quả khảo sát thực trạng về mức độ cần thiết và kết quả thực hiện nội dung GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức được trình bày ở bảng 2.10 như sau:
- Bảng 2.10: Ý kiến của CBQL, GV về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện nội dung hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học
Bảng 2.10 cho thấy, ý kiến của CBQL, GV về mức độ thực hiện như sau:
Hầu hết CBQL, GV cho rằng các nội dung GDGT được thực hiện thường xuyên (ĐTB chung: 3,68). Kết quả khảo sát cho thấy, CBQL và GV đánh giá về mức độ thực hiện nội dung: “GD tuổi dậy thì” (ĐTB: 4,67) rất thường xuyên do độ tuổi dậy thì của HS ngày càng trẻ hóa và nhiều nhất ở độ tuổi lớp 4, 5. Nội dung “GD kĩ năng phòng, chống hành vi xâm hại tình dục” cũng được đánh giá thực hiện rất thường xuyên (ĐTB: 4,66). Thực tiễn xã hội ngày nay rất cần những kĩ năng quan trọng để tự bảo vệ bản thân. Còn những nội dung còn lại được đánh mức độ thực hiện “Thường xuyên”. Cuối cùng là 2 nội dung được đánh giá mức độ thực hiện “Hiếm khi”: “GD HS phân biệt sự di truyền, các thế hệ”, “GD kĩ năng ứng xử với bạn bè khác giới” cho thấy nhà trường chưa chú trọng thực hiện 2 nội dung này, phần nhiều là do chú trọng lý thuyết hơn GD kĩ năng và ảnh hưởng từ tâm sinh lý của HSTH. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Trên thực tế, trong năm học 2022 – 2023 tác giả nghiên cứu kế hoạch dạy học của GV các trường cho thấy, các nội dung GDGT được lồng ghép trong các môn học như: Tự nhiên và xã hội, Khoa học, Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Lịch sử, Hoạt động trải nghiệm,…Tuy nhiên, “GD kĩ năng ứng xử với bạn bè khác giới” chỉ được nói sơ qua trong các tiết sinh hoạt lớp hoặc một vài trường hợp trao đổi riêng với HS. Cần thực hiện nội dung này thường xuyên hơn, có thể thêm hẳn vào 1 tiết trong kế hoạch dạy học (GV3). Trong những năm qua Phòng GD và Đào tạo thành phố Thủ Đức đã tổ chức nhiều Chuyên đề như: “Phòng, chống xâm hại cho trẻ tiểu học”, “Vệ sinh tuổi dậy thì”, “Trường học an toàn – hạnh phúc”. Các khóa tập huấn kỹ năng phòng, tránh xâm hại tình dục do trung tâm GD kĩ năng sống GAIA liên kết với các trường tiểu học tại thành phố Thủ Đức tổ chức,…
Bảng 2.10 cho thấy, ý kiến CBQL, GV về kết quả thực hiện nội dung hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học, Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức ở mức khá (ĐTB chung: 3.71).
Các nội dung đa phần, đều được đánh giá kết quả thực hiện tốt. Nhưng có 2 nội dung “GD HS phân biệt sự di truyền, các thế hệ”, “GD kĩ năng ứng xử với bạn bè khác giới” chỉ được đánh giá kết quả thực hiện ở mức trung bình.
Ngoài ra, kết quả khảo sát ở bảng 10 cũng cho thấy: các nội dung GDGT được cho là “Rất thường xuyên” thì kết quả thực hiện đạt mức “Tốt”; các nội dung GDGT được đánh giá là “Hiếm khi” thực hiện thì kết quả cũng ở mức “Trung bình”. Còn lại nội dung GDGT được cho là thường xuyên thì được đánh giá mức thực hiện khá.
Tác giả thực hiện phép kiểm định ANOVA về việc thực hiện nội dung “GD kĩ năng ứng xử với bạn bè khác giới” tại 09 trường và cho kết quả Sig = 0.884 ~ 8.84% > 5% có nghĩa là không có sự khác biệt ý kiến của CBQL, GV ở các trường với nội dung này. Nói cách khác, khảo sát ở 09 trường tiểu học đều nhận định nội dung “GD kĩ năng ứng xử với bạn bè khác giới” với mức độ thực hiện “Hiếm khi” và kết quả đạt được chỉ ở mức “Trung bình”. Xét về thực tế, các trường dù ở khu vực trung tâm hay khu vực ven thành phố Thủ Đức đều chưa chú trọng GD nội dung trên, dù đây là nội dung GDGT quan trọng cho HSTH.
Và phỏng vấn PHT2 có ý kiến: Phần nhiều HS chỉ quan tâm đến ba mẹ, ông bà những người gần gũi với mình nên hiểu biết về di truyền cũng như các thế hệ khác rất hạn chế. Các trường cũng không chủ động triển khai nội dung GD này vì nghĩ rằng đây là nội dung không cần thiết.
Từ những phân tích trên cho thấy, nội dung GDGT cần được điều chỉnh chuyên sâu hơn nữa, giúp cho chất lượng GDGT tại trường tiểu học đạt chất lượng cao. Người nghiên cứu cũng hỏi ý kiến CMHS về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện nội dung GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3. Kết quả khảo sát được thể hiện ở Biểu đồ 2.1 (Phụ lục 5, trang 30). Đánh giá của CMHS về mức độ thực hiện nội dung GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh với ĐTB chung = 3,52, tương ứng mức độ “Thường xuyên”. Trong đó nội dung “GD kĩ năng phòng, chống xâm hại tình dục” được CMHS đánh giá cao nhất với ĐTB = 4,69, phù hợp với nhu cầu của CMHS vì hiện nay nguy cơ bị xâm hại của trẻ ngày càng cao. Nội dung “GD HS phân biệt sự di truyền, các thế hệ” được hầu hết CMHS đánh giá mức thực hiện thấp nhất với ĐTB = 2.65 ở mức thực hiện “Thỉnh thoảng”. Ngoài ra, 2 nội dung được CMHS khảo sát cho rằng thực hiện cũng chỉ mức thỉnh thoảng là nội dung “GD kĩ năng ứng xử với bạn bè cùng giới”, “GD kĩ năng ứng xử với bạn bè khác giới”.
Về kết quả đạt được, đánh giá của CMHS được khảo sát với ĐTB chung = 3.73, tương ứng với kết quả thực hiện “khá”. Nhìn chung CMHS và CBQL, GV không có sự khác biệt ở nhận định. Cụ thể là, nội dung mà CMHS cho rằng kết quả thực hiện ở mức tốt nhất cũng chính là “GD kĩ năng phòng, chống hành vi xâm hại tình dục” với ĐTB = 4,65 cũng như nhận định của CBQL, GV. Dựa vào khảo sát thấy được CMHS đánh giá cao về việc rèn dũa cho HS có được những kĩ năng tự bảo vệ mình trước các mối nguy hiểm về xâm hại tình dục. Còn về nội dung “GD kĩ năng ứng xử với bạn bè khác giới” CMHS cũng có sự đánh giá tương đồng với kết quả khảo sát CBQL, GV với ĐTB = 2,83 được đánh giá ở mức trung bình.
Như vậy, các trường tiểu học khu vực 3, thành phố Thủ Đức đã thực hiện thường xuyên nội dung GDGT cho HS và đạt được kết quả ở mức độ khá. Tuy nhiên, một số nội dung còn hạn chế về mức độ thực hiện dẫn đến kết quả đạt được chưa cao. Vì vậy, cần thường xuyên GDGT cho HS với các nội dung GD đa dạng để nâng cao hiệu quả GDGT cho HS tại các trường TH góp phần phát triển toàn diện tri thức, kĩ năng và thái độ của HS trong xã hội hiện nay.
2.3.4. Thực trạng sử dụng phương pháp và hình thức giáo dục giới tính cho học sinh tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả khảo sát CBQL, GV về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện phương pháp và hình thức GDGT được trình bày như bảng 2.11 dưới đây: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Bảng 2.11: Đánh giá của CBQL, GV về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện phương pháp và hình thức GDGT cho HS tại trường tiểu học
- Phương pháp giáo dục giới tính
Dựa vào kết quả khảo sát ở bảng 2.11, cho thấy mức độ thực hiện các phương pháp GDGT được CBQL, GV đánh giá ở mức “Thỉnh thoảng” (ĐTB chung = 3,38).
Và cho kết quả thực hiện các phương pháp GD ở mức trung bình (ĐTB chung = 3,04). Cụ thể như sau:
- Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân
Phương pháp nêu gương được nhận định là thực hiện “Thường xuyên” với ĐTB = 3,83. Tuy nhiên kết quả thực hiện phương pháp này chỉ ở mức “trung bình” (ĐTB = 3,11). Như vậy, GV cần vận dụng phương pháp hiệu quả hơn vào các hoạt động GDGT cho HS nhằm hình thành ý thức cá nhân cho các em, đúng với tâm lý của trẻ thích được khen và tuyên dương. Phương pháp giảng giải được đánh giá thấp nhất với ĐTB = 3.13 ứng với mức “Thỉnh thoảng”. Kết quả thực hiện phương pháp giảng giải chỉ được đánh giá ở mức yếu (ĐTB = 2,44). Hai phương pháp đàm thoại và kể chuyện được đánh giá ở mức thường xuyên. Tuy nhiên, CBQL, GV đánh giá kết quả thực hiện các phương pháp này ở mức trung bình.
- Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động và hình thành kĩ năng ứng xử
Phương pháp rèn luyện được CBQL và GV các trường tiểu học đánh giá cao nhất với ĐTB = 3,67 ứng ở mức “Thường xuyên”. Tuy nhiên, kết quả thực hiện của phương pháp này chỉ ở mức độ “Trung bình”. Như vậy cho thấy rằng GV cần vận dụng phương pháp này hiệu quả hơn vào các hoạt động GDGT cho HS nhằm giúp các em hình thành kĩ năng, hành vi ứng xử đúng mực.
- Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi
Thực trạng nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi có sự khác biệt rõ rệt trong kết quả khảo sát, cụ thể phương pháp khuyến khích được thực hiện “Thường xuyên” với ĐTB = 4,13 cao nhất và kết quả thực hiện với ĐTB = 4.13 tương ứng với mức “Khá”. Còn phương pháp trách phạt chỉ thực hiện “Thỉnh thoảng” với ĐTB = 2,37 thấp nhất trong các phương pháp GDGT. Kết quả thực hiện phương pháp này cũng chỉ đạt mức “Yếu” với ĐTB = 2.39. Phỏng vấn HT3, nêu ý kiến: Tôi không cổ súy cho việc vận dụng phương pháp trách phạt trong GDGT cho HSTH vì theo quy định của thông tư 22, 27 và 30, GV cần động viên HS để phát triển kiến thức, kĩ năng, thái độ thay vì chỉ nghĩ cách trách phạt HS.
Ngoài ra, CMHS được khảo sát về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện phương pháp GDGT cho HS tại các trường tiểu học được thể hiện ở Biểu đồ 2.2 (Phụ lục 5, trang 30). Ý kiến của CMHS về mức độ và kết quả thực hiện phương pháp GDGT được đánh giá ở mức khá cao, ĐTB chung = 3.77 tương ứng với mức “Thường xuyên” và kết quả được đánh giá ở mức “Khá” với ĐTB chung = 3.57. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Các phương pháp được đánh giá ở mức “Thường xuyên” và kết quả thực hiện “Khá” là: “Phương pháp nêu gương” (ĐTB = 4.2), kết quả thực hiện (ĐTB = 3.97);“Phương pháp tập luyện” (ĐTB = 3.6), kết quả thực hiện (ĐTB = 3.64); “Phương pháp thảo luận” (ĐTB = 4.03), kết quả thực hiện (ĐTB = 3.54); “Phương pháp rèn luyện” (ĐTB = 4.2), kết quả thực hiện (ĐTB = 3.51); “Phương pháp khuyến khích” (ĐTB = 4.11), kết quả thực hiện (ĐTB = 3.50); “Phương pháp “Bàn tay nặn bột” (ĐTB = 4.05), kết quả thực hiện (ĐTB = 3.45).
Tuy nhiên, các phương pháp được đánh giá mức độ thực hiện “Thỉnh thoảng” và cho kết quả thực hiện “Trung bình” là: “Phương pháp đàm thoại” (ĐTB = 3.2); “Phương pháp kể chuyện” (ĐTB = 3.2); “Phương pháp giảng giải” (ĐTB = 2.9). Đối với các phương pháp này, thực trạng đánh giá cũng có nét tương đồng với đánh giá của CBQL, GV tại các trường tiểu học.
Phương pháp được đánh giá ở mức thấp nhất là “Phương pháp trách phạt” (ĐTB = 2.5) tương ứng với mức “Yếu”. Với ý kiến của PH2 cho rằng: Hiện nay, việc sử dụng phương pháp trách phạt với HS đặc biệt là lứa tuổi tiểu học là hoàn toàn “thất bại”. Bởi vì, hầu như trẻ em hiện nay cá tính rất cao nên việc sử dụng các hình thức trách phạt sẽ gây ra tác dụng ngược không đạt được hiệu quả giảng dạy. Tác giả cũng đồng tình với quan điểm trên, việc dùng đòn roi hay hình phạt với trẻ trong GDGT là hoàn toàn sai lầm, sử dụng phương pháp này sẽ khiến trẻ có khoảng cách với GV và xây dựng những biểu hiện chống đối nguy hại.
Như vậy, từ kết quả khảo sát cho thấy, các phương pháp GDGT đã được triển khai song kết quả thực hiện còn hạn chế. Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này như: công tác quản lý của các trường, năng lực vận dụng phương pháp của GV, nhận thức của đối tượng GD,…Vì thế, cần có biện pháp khắc phục nhằm nâng cao kết quả thực hiện các phương pháp GDGT.
- Hình thức GD giới tính
Dựa vào kết quả khảo sát ở bảng 2.11, mức độ thực hiện và kết quả thực hiện hình thức GDGT cho HS tại các trường tiểu học được CBQL, GV khảo sát đánh giá như sau:
Về mức độ thực hiện các hình thức GDGT được CBQL, GV đánh giá ở mức “Thỉnh thoảng” (ĐTB chung = 3,25) và kết quả thực hiện cũng chỉ đạt mức “Trung bình” (ĐTB chung = 3.06). Hình thức GDGT được đánh giá cao nhất về mức độ thực hiện là “Lồng ghép trong các môn học như: môn Tự nhiên và xã hội, Khoa học,…” ĐTB = 4.14 tương ứng với mức “Thường xuyên” và kết quả thực hiện “Khá” với ĐTB = 4.12. Kiểm tra kế hoạch bài dạy của GV các khối cũng thấy được sự linh động, lồng ghép trong tiết học với nhiều hoạt động và phương pháp khác nhau. Hình thức “Lồng ghép trong các hoạt động GD: Trong học tập, vui chơi, lao động, sinh hoạt hàng ngày…” với ĐTB = 2.52 ứng với mức “Hiếm khi” là hình thức được CBQL, GV khảo sát cho là thấp nhất và kết quả thực hiện chỉ đạt “Yếu” với ĐTB = 2.52. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Ngoài ra, người nghiên cứu đã khảo sát CMHS về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của hình thức GDGT cho HS tại các trường tiểu học được nêu rõ qua Biểu đồ 2.3 (Phụ lục 5, trang 31). Kết quả khảo sát mức độ thực hiện hình thức GDGT được CMHS đánh giá với ĐTB chung = 3.18 tương ứng với mức “Thỉnh thoảng” và kết quả thực hiện với ĐTB chung = 3.23 tương ứng với mức “Trung bình”. Nhìn chung CMHS không đánh giá cao về mức độ và kết quả thực hiện hình thức GDGT tại các trường tiểu học. Trong đó, hình thức được đánh giá cao nhất là “Lồng ghép trong các môn học: như Tự nhiên và xã hội, Khoa học,…” (ĐTB = 4.0) tương ứng mức “Thường xuyên” và cho kết quả thực hiện “Khá” (ĐTB= 4.11), ý kiến này cũng tương đồng với đánh giá của CBQL, GV. Các hình thức được còn lại được CMHS đánh giá thực hiện ở mức “Thỉnh thoảng” và kết quả thực hiện “Trung bình”.
Như vậy, từ kết quả khảo sát và phỏng vấn cho thấy giáo viên chưa sử dụng nhiều hình thức để GDGT cho HS và kết quả thực hiện chỉ ở mức trung bình. Để nâng cao chất lượng GDGT cần đa dạng hóa các hình thức GD và thực hiện GDGT có kết quả tốt hơn.
2.3.5. Thực trạng kiểm tra, đánh giá giáo dục giới tính cho học sinh tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Kiểm tra, đánh giá GDGT cho HS sẽ cung cấp thông tin phản hồi về mức độ đạt được của từng HS, nhận thức của HS về giới, giới tính, các kĩ năng cần đạt được liên quan đến giới tính của mình,…; từ đó giúp cho CBQL, GV nhận biết được các hạn chế trong quá trình thực hiện GGDT cho HS. Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng kiểm tra, đánh giá két quả GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Bảng 2.12: Ý kiến của CBQL, GV và CMHS về thực trạng thực hiện đánh giá kết quả GDGT cho HS tại các trường tiểu học
- Về nội dung kiểm tra, đánh giá kết quả GDGT
Bảng 2.12 cho thấy, CBQL, GV nhận định mức độ thực hiện nội dung kiểm tra, đánh giá GDGT với ĐTB chung là 3.46 tương ứng với mức “Thường xuyên”, song kết quả thực hiện chỉ ở mức “Trung bình” (ĐTB chung: 3,28). Còn CMHS nhận định mức độ thực hiện là “thỉnh thoảng” (ĐTB chung: 3.28) và kết quả thực hiện ở mức khá (ĐTB chung: 3.41). Nội dung được CBQL, GV và CMHS đánh giá cao nhất về mức độ thực hiện là: “Kỹ năng hành vi của HS trong giao tiếp với người khác giới” với mức “Rất thường xuyên”. Kết quả thực hiện nội dung này cũng đạt mức “Khá”.
Như vậy, các trường chú trọng nhiều về việc kiểm tra, đánh giá hành vi của HS trong giao tiếp với người khác giới. Kiểm tra hồ sơ họp tổ chuyên môn của khối 5 tại 1 trường TH, thấy rõ công tác kiểm tra, đánh giá kĩ năng ứng xử của HS xuyên suốt trong các nội dung triển khai về nền nếp lớp học mỗi kì sinh hoạt chuyên môn.
2 nội dung kiểm tra, đánh giá “Nhận thức của HS về giới, giới tính” và “Thái độ của HS trước các vấn đề về giới và giới tính” đều được CBQL, GV và CMHS đánh giá ở mức “Thỉnh thoảng” và kết quả thực hiện “Trung bình”. Tác giả phỏng vấn TT3 được biết: Hiện nay tại các trường tiểu học đều chú trọng hình thành kĩ năng cho HS nhằm đáp ứng với yêu cầu của Chương trình GD 2018 ban hành. Vì thế, việc thực hiện nội dung kiểm tra, đánh giá về “Kỹ năng hành vi của HS trong giao tiếp với người khác giới” được chú trọng hơn. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
- Về phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả GDGT
Kết quả khảo sát trong bảng 2.12 cho thấy mức độ thực hiện các phương pháp kiểm tra, đánh giá GDGT được CBQL, GV đánh giá với ĐTB chung là 3.39 và CMHS có ĐTB chung là 3.25 ứng với mức “Thỉnh thoảng”. Kết quả thực hiện được CBQL, GV đánh giá ở mức “Khá” (ĐTB chung =3.60); CMHS chỉ đánh giá ở mức “trung bình” (ĐTB chung: 3.26).
Phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả GDGT được cả CBQL, GV và CMHS đánh giá cao nhất là “Đánh giá thông qua nhận xét của các giáo viên khác, của gia đình, của người xung quanh về những kiến thức, kĩ năng, thái độ HS cần hình thành” (ĐTB lần lượt là 4.28; 4.27) ứng với mức “Rất thường xuyên” và kết quả thực hiện “Tốt” (ĐTB lần lượt là 4.21; 4.38). Tiếp theo, “Đánh giá thông qua quan sát thực hành” đều được CBQL, GV và CMHS nhận định là thực hiện ở mức “Khá” mặc dù CBQL, GV cho rằng thực hiện thường xuyên, còn CMHS nhận định là thỉnh thoảng thực hiện. Trên thực tế phương pháp kiểm tra, đánh giá này được khá nhiều trường chú trọng thực hiện vì các nội dung GDGT cho HS không phải nội dung giáo điều mà cần HS hiểu và thực hiện trực tiếp. Ý kiến của PHT3 nêu rằng: Đánh giá qua hành động là một hình thức minh chứng thuyết phục nhất hơn rất nhiều hình thức giáo điều sách vở.
Hai phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả GDGT là “Đánh giá thông qua các bài trắc nghiệm” và “Đánh giá thông qua các tình huống giả định” đều được CBQL, GV và CMHS nhận định là “Thỉnh thoảng” thực hiện và kết quả thực hiện ở mức “Trung bình”. Xem hồ sơ tổ chuyên môn khối 1, GV6 lí giải thêm: Đối với HS lớp 1 mà đưa ra bài trắc nghiệm cho HS đọc và chọn đáp án là một việc khá khó, bởi vì đâu phải em nào cũng đọc được trôi chảy chữ viết và nội dung trong đề trắc nghiệm. Nên nhà trường ít thực hiện phương pháp kiểm tra, đánh giá này. Ngoài ra, bảng 2.12 cũng cho thấy độ lệch chuẩn nhỏ, chứng tỏ ý kiến của CBQL, GV và CMHS khá đồng thuận.
Như vậy, kết hợp phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn và nghiên cứu hồ sơ có thể đưa ra nhận định: Các trường tiểu học Khu vực 3 thành phố Thủ Đức đã triển khai kiểm tra, đánh giá kết quả GDGT cho HS song nội dung kiểm tra chưa toàn diện, mới tập trung kiểm tra. Các phương pháp kiểm tra, đánh giá khác chưa thường xuyên thực hiện và kết quả thực hiện còn hạn chế.
2.3.6. Thực trạng điều kiện giáo dục giới tính cho học sinh tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Điều kiện GDGT cũng góp phần rất nhiều vào hiệu quả GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3. Thông qua việc lấy ý kiến đánh giá về thực trạng điều kiện GDGT của CBQL, GV và CMHS cho kết quả khảo sát qua Biểu đồ 2.4 và 2.5 (Phụ lục 5, trang 31 ). Kết quả khảo sát cho thấy, điều kiện, “Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội” được CBQL, GV đánh giá cao nhất với (ĐTB: 3.94) chiếm 28.77% tương ứng với mức “Khá”. Theo quan điểm của CBQL, GV thì điều kiện thực hiện tốt nhất trong công tác là việc phối hợp tốt với gia đình, xã hội. Phỏng vấn HT2, cho biết: Để GD một đối tượng phải có sự liên kết giữa 3 môi trường chính “Gia đình – Nhà trường – Xã hội”. Điều kiện “Nguồn nhân lực trong nhà trường” cũng được đánh giá tương đối cao ở mức “Khá” với ĐTB: 3.69 chiếm 27.58%, cho thấy nhân lực nhà trường quyết định cao đến hiệu quả trong hoạt động GDGT. Nhưng điều kiện “Cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học và tài liệu” (ĐTB: 2.63) chiếm 19.66% và “Nguồn kinh phí” (ĐTB: 3.21) chiếm 23.99% lại chỉ đạt mức “Trung bình”. CMHS đánh giá điều kiện “Nguồn nhân lực trong nhà trường” cao nhất (ĐTB: 4.34) tương ứng với mức “Tốt”. PH2, cũng nêu: Để GDGT cho HS được kết quả tốt nhất thì không chỉ GV mà còn cả lực lượng nhân sự của nhà trường cũng đóng vai trò quan trọng. Điều kiện “Nguồn kinh phí” cũng được CMHS đánh giá ở mức “Tốt”. Tuy nhiên, 2 điều kiện được CMHS đánh giá mức “Trung bình” là “Cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học và tài liệu” (ĐTB: 2.87) và “Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội” (ĐTB: 2.65).
2.4. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
2.4.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Quản lý GDGT tại trường TH là những tác động có mục đích, có kế hoạch thực hiện rõ của chủ thể quản lý tới quá trình GDGT và những lực lượng liên quan, nhằm tổ chức và vận hành có hiệu quả mục tiêu, nội dung GGDT đề ra góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện năng lực, phẩm chất cho HS.
Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, được ghi nhận trong bảng 2.13 như sau:
- Bảng 2.13. Ý kiến của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học
Nhìn vào bảng 2.14 nhận thấy, CBQL, GV có nhận thức tương đối cao về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học (ĐTB = 4.12). Bảng 2.14 cũng cho thấy không có ý kiến nào ở mức độ “Rất không đồng ý”, và “Không đồng ý”. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy còn một bộ phận CBQL, GV chỉ “Đồng ý một phần” với các nội dung về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GDGT cho HS. Có nghĩa là, còn một bộ phận CBQL, GV chưa nhận thức đúng và đầy đủ về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GDGT. Vì thế, rất cần có những biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của CBQL, GV để công tác GDGT cho HS đạt được những mục tiêu đề ra.
2.4.2. Thực trạng thực hiện các chức năng quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
- Thực trạng lập kế hoạch giáo dục giới tính tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Lập kế hoạch hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học là chức năng đầu tiên trong 4 chức năng quản lý. Lập kế hoạch là công cụ quản lý giúp Hiệu trưởng nhà trường đưa ra những định hướng phù hợp theo yêu cầu cần đạt về GDGT cho HS. Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV về thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức được trình bày trong Bảng 2.14 như sau:
- Bảng 2.14: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học
Từ bảng 2.14 cho thấy, mức độ và kết quả thực hiện xây dựng kế hoạch hoạt động GDGT cho HS theo CBQL, GV được khảo sát như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
- Mức độ thực hiện:
Thực trạng về mức độ thực hiện xây dựng kế hoạch hoạt động GDGT cho HS được CBQL, GV đánh giá khá cao, tương ứng với điểm trung bình chung là 3.49 ở mức “Thường xuyên”. ĐLC < 1, có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Trên thực tế, các trường hầu như chưa có kế hoạch GDGT riêng biệt mà kế hoạch này chỉ được lồng ghép trong kế hoạch chuyên môn của nhà trường hoặc trong các kế hoạch phong trào của Đoàn Đội. Kết quả khảo sát cho thấy, việc “xác định điều kiện GD như: nhân lực, cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng GD trong trường và ngoài trường” được CBQL, GV đánh giá thực hiện “rất thường xuyên” với ĐTB: 4.36. Điều đó có nghĩa là, ngay từ bước đầu trong công tác lập kế hoạch cho hoạt động GDGT, CBQL đã xác định rõ các điều kiện cần và đủ để GDGT cho HS. Tuy nhiên, các nội dung “Sắp xếp tiến độ thực thi các hoạt động GDGT phù hợp” được đánh giá thấp nhất với ĐTB: 2.67 tương ứng với mức “Thỉnh thoảng”; nội dung “Phân tích thực trạng GDGT, xác định được ưu và nhược điểm của công tác GDGT” cũng chỉ thỉnh thoảng thực hiện (ĐTB: 3.24).
- Kết quả thực hiện
Theo ý kiến của CBQL, GV được khảo sát, kết quả thực hiện xây đựng kế hoạch hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học đạt mức khá (ĐTB chung: 3.52). Công việc “Xác định điều kiện GD như: nhân lực, cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng GD trong trường và ngoài trường.” được đánh giá cao nhất, với ĐTB: 4.39 ứng với mức tốt. Các công việc như “Xây dựng kế hoạch GDGT cụ thể cho từng năm học”; “Xác định rõ mục tiêu”; “Xây dựng các nội dung GDGT phù hợp với mục tiêu”; “Hướng dẫn các tổ chuyên môn lập kế hoạch GDGT theo chương trình GD phổ thông mới”…được đánh giá kết quả thực hiện ở mức khá. Tuy nhiên, có 2 công việc được đánh giá ở mức trung bình là “Phân tích thực trạng GDGT, xác định được ưu và nhược điểm của công tác GDGT” và “Sắp xếp tiến độ thực thi các hoạt động GDGT phù hợp”. Điều này phản ánh đúng tình hình thực tế.
Như vậy, các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức đã thực hiện xây dựng kế hoạch hoạt động GDGT cho HS ở mức độ thường xuyên và đạt kết quả khá. Tuy nhiên, vẫn còn hạn chế trong phân tích thực trạng GDGT, xác định được ưu và nhược điểm của công tác GDGT; sắp xếp tiến độ thực thi các hoạt động và hướng dẫn các tổ chuyên môn lập kế hoạch GDGT theo chương trình mới. Vì vậy, cần có biện pháp cải tiến việc xây dựng kế hoạch hoạt động GDGT cho HS, đảm bảo kế hoạch có tính khoa học, cụ thể và khả thi, là điều kiện thực hiện các chức năng tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra hoạt động GDGT.
- Thực trạng công tác tổ chức hoạt động giáo dục giới tính tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học là chức năng quan trọng trong công tác quản lý và hiệu trưởng là người thực hiện.
Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng tổ chức hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh được ghi nhận trong Bảng 2.15 dưới đây:
- Bảng 2.15: Ý kiến khảo sát của CBQL, GV về thực trạng tổ chức hoạt động GD giới tính cho HS tại các trường tiểu học
Nhìn vào bảng 2.15 cho thấy, mức độ thực hiện và kết quả thực hiện tổ chức hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học theo đối tượng CBQL, GV được khảo sát như sau:
- Mức độ thực hiện:
Thực trạng về mức độ thực hiện tổ chức hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học được CBQL, GV đánh giá với ĐTB chung là 3.69 ở mức “Thường xuyên”. Các nội dung tổ chức hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học được thực hiện “Rất thường xuyên” gồm: “Bàn bạc, trao đổi với phụ huynh, HS, cơ quan quản lý GD cấp trên, chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, tổ chức GD khác… về chương trình GDGT cho HS” (ĐTB: 4.42) và “Tổ chức thông tin trong suốt quá trình GDGT cho HS” (ĐTB = 4.51).
Nội dung tổ chức hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học được thực hiện “Thường xuyên” gồm: nội dung “Hiệu trưởng phân công nhiệm vụ của các bộ phận, cá nhân trong Ban tham vấn và phụ trách nhánh GDGT” (ĐTB: 3.63); “Hiệu trưởng triển khai cho GV toàn trường về mục tiêu, yêu cầu và biện pháp thực hiện GDGT” (ĐTB: 3.76); “Hiệu trưởng tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực GDGT cho GV” (ĐTB: 3.65); “Phổ biến thông tin về mục tiêu GD, văn bản chỉ đạo, kế hoạch tổ chức GDGT của nhà trường cho các lực lượng GD ngoài nhà trường” (ĐTB: 3.61). Tuy nhiên, còn một số nội dung được đánh giá ở mức thực hiện là thỉnh thoảng là: “Thành lập Ban tham vấn học đường trong đó có nhánh nhỏ tham vấn GDGT cho HS tại trường” (ĐTB: 3.37); “Hiệu trưởng xây dựng môi trường GD tích cực nhằm thu hút giáo viên và HS tham gia GDGT” (ĐTB: 3.19); “Kêu gọi sự ủng hộ về tinh thần, trí tuệ, sức lực từ các lực lượng GD ngoài nhà trường để xây dựng chương trình, tổ chức hoạt động” (ĐTB: 3.11). Nội dung “Kêu gọi sự ủng hộ về tinh thần, trí tuệ, sức lực từ các lực lượng GD ngoài nhà trường để xây dựng chương trình, tổ chức hoạt động” được đánh giá thấp nhất do nhiều nguyên nhân.
Nội dung “Hiệu trưởng xây dựng môi trường GD tích cực nhằm thu hút giáo viên và HS tham gia GDGT” được CBQL, GV đánh giá thực hiện ở mức thỉnh thoảng cần được quan tâm thực hiện tốt hơn.
- Kết quả thực hiện Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Thực trạng về kết quả thực hiện tổ chức hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học được CBQL, GV đánh giá khá cao, với điểm trung bình chung là 57 ở mức “Khá”. ĐLC từ 0.521 đến 0.925, có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Nội dung tổ chức GDGT cho HS tại các trường tiểu học được đánh giá ở mức độ “Tốt” là nội dung “Tổ chức thông tin trong suốt quá trình GDGT cho HS” (ĐTB: 4.28), nội dung này cũng được CBQL, GV đánh giá là thực hiện “Rất thường xuyên” như tác giả đã nêu trên.
Các nội dung được đánh giá kết quả thực hiện ở mức độ “Khá” là nội dung: “Hiệu trưởng phân công nhiệm vụ của các bộ phận, cá nhân trong Ban tham vấn và phụ trách nhánh GDGT” (ĐTB: 3.61); “Hiệu trưởng triển khai cho GV toàn trường về mục tiêu, yêu cầu và biện pháp thực hiện GDGT” (ĐTB: 3,61); “Hiệu trưởng tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực GDGT cho GV” (ĐTB: 3.52); “Phổ biến thông tin về mục tiêu GD, văn bản chỉ đạo, kế hoạch tổ chức GDGT của nhà trường cho các lực lượng GD ngoài nhà trường” (ĐTB: 3.54); “Bàn bạc, trao đổi với phụ huynh, HS, cơ quan quản lý GD cấp trên, chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, tổ chức GD khác… về chương trình GDGT cho HS” (ĐTB: 4.14). Nhìn vào kết quả khảo sát thấy được mối liên hệ giữa mức độ thực hiện và kết quả thực hiện. Những nội dung thực hiện ở mức “Thường xuyên”, “Rất thường xuyên” thì kết quả thực hiện tương ứng ở mức “Khá”, “tốt”.
Bảng 2.15 cũng cho thấy các nội dung “thỉnh thoảng” thực hiện thì kết quả chỉ đạt mức “trung bình”. Các nội dung được đánh giá kết quả thực hiện ở mức “Trung bình” là: “Thành lập Ban tham vấn học đường trong đó có nhánh nhỏ tham vấn GDGT cho HS” (ĐTB: 3.27); “Hiệu trưởng xây dựng môi trường GD tích cực nhằm thu hút giáo viên và HS tham gia GDGT” (ĐTB: 3.17); “Kêu gọi sự ủng hộ về tinh thần, trí tuệ, sức lực từ các lực lượng GD ngoài nhà trường để xây dựng chương trình, tổ chức hoạt động.”(ĐTB: 3.01). Các nội dung này đều cần thiết khi tổ chức thực hiện hoạt động GDGT. Tuy nhiên, trên thực tế chưa được hiệu trưởng các trường thực sự quan tâm.
Như vậy, các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức đã thực hiện tổ chức hoạt động GDGT cho HS thực hiện ở mức độ thường xuyên nhưng có nhiều nội dung kết quả chưa cao chỉ dừng lại ở mức “Trung bình”. Chính vì vậy, để tổ chức hoạt động GDGT cho HS, nhà trường cần sử dụng Ban tham vấn hiệu quả hơn; cần huy động các nguồn lực để phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội để thực hiện hiệu quả các hoạt động GDGT trong nhà trường.
- Thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục giới tính tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Hoạt động chỉ đạo trong GDGT cho HS là nhiệm vụ quan trọng của Hiệu trưởng nhà trường. Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng chỉ đạo hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh được trình bày trong Bảng 2.16 dưới đây:
Bảng 2.16: Ý kiến khảo sát của CBQL, GV về thực trạng chỉ đạo hoạt động GD giới tính cho HS tại các trường tiểu học
- Mức độ thực hiện:
Thực trạng về mức độ thực hiện chỉ đạo hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học được CBQL, GV đánh giá thực hiện “thường xuyên”, (ĐTB chung là 3.56). Nội dung chỉ đạo được thực hiện “Rất thường xuyên” là “Chỉ đạo thực hiện GDGT thông qua các môn học như: Môn Tự nhiên và xã hội, Khoa học,…” (ĐTB: 4.24) được đánh giá cao nhất, còn nội dung “Chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên về GDGT cho HS” (ĐTB: 12) được đánh giá thấp nhất, ứng với mức thỉnh thoảng thực hiện.
Dựa vào kết quả kháo sát ta thấy rõ sự chênh lệch mức độ thực hiện giữa 2 hoạt động “Chỉ đạo thực hiện GD giới tính thông qua các môn học như: Môn Tự nhiên và xã hội, Khoa học,…” và “Chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên về GDGT cho HS”. Khi kiểm tra hồ sơ họp tổ chuyên môn của từng khối lớp cho thấy, việc tích hợp GDGT vào các nội dung bài học cụ thể, rút kinh nghiệm cho tiết dạy hoặc xây dựng kế hoạch bài dạy của tiết thực tập sư phạm. Nội dung “Chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên về GDGT cho HS” chưa được quan tâm thực hiện. Khi phỏng vấn GV4 cho hay: Các chuyên đề nâng cao năng lực của GV về GDGT ở trường có triển khai nhưng không nhiều, còn hình thức và thiếu tính thực tế.
Ngoài ra, nhìn vào kết quả khảo sát cho thấy, có những hoạt động được CBQL, GV đánh giá mức độ thực hiện “Thường xuyên” như: “Chỉ đạo thực hiện GDGT thông qua hoạt động GD ngoài giờ lên lớp” (ĐTB = 3.6); “Chỉ đạo phối hợp các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường để GDGT cho HSTH” (ĐTB = 3.67).
Cuối cùng nội dung cũng được đánh giá thực hiện ở mức “Thỉnh thoảng” là: “Chỉ đạo thực hiện GDGT thông qua hoạt động tuyên truyền, sinh hoạt tập thể của HS” (ĐTB = 3.17). Lý do là các hoạt động sinh hoạt tập thể, sinh hoạt dưới cờ đều có hướng dẫn theo chủ đề của cả năm học giống như chương trình khung nên việc GDGT cho HS cũng hạn chế về mặt thời gian (GV1).
- Kết quả thực hiện Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Đánh giá của CBQL, GV về kết quả thực hiện chỉ đạo hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học đạt mức tương đối thấp (ĐTB chung: 3.34), ứng với mức “Trung bình”. Các nội dung chỉ đạo GDGT cho HS tại các trường tiểu học được đánh giá ở mức độ “Khá” gồm: nội dung “Chỉ đạo thực hiện GDGT thông qua các môn học như: Môn Tự nhiên và xã hội, Khoa học,…” (ĐTB: 3.99) được đánh giá cao nhất; “Chỉ đạo thực hiện GDGT thông qua hoạt động GD ngoài giờ lên lớp” (ĐTB: 3.46); “Chỉ đạo phối hợp các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường để GDGT cho HS tiểu học” (ĐTB: 3.69). Còn các nội dung được đánh giá kết quả thực hiện ở mức “Trung bình” như: “Chỉ đạo thực hiện GDGT thông qua hoạt động tuyên truyền, sinh hoạt tập thể của HS” (ĐTB: 2.81); “Chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên về GDGT cho HS tiểu học” (ĐTB: 2.77) đánh giá thấp nhất. Đối với 2 nội dung được đánh giá ở mức “Trung bình” xuất phát từ nguyên nhân chung của các trường.
Kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn cho thấy, thực trạng chỉ đạo các nội dung GDGT còn nhiều hạn chế trong nhiều khâu, nguyên nhân chủ yếu là do các trường chưa thực hiện thường xuyên dẫn đến kết quả của các nội dung chưa cao. Như vậy, CBQL các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh cần chủ động, tích cực hơn trong việc chỉ đạo thực hiện GDGT cho HS thông qua các môn học cũng như hoạt động tuyên truyền, sinh hoạt tập thể của HS; tăng cường chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên về GDGT cho HSTH.
- Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục giới tính tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả khảo sát thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động GDGT cho HS được tổng hợp ở biểu đồ 2.6 dưới đây:
- Biểu đồ 2.6: Ý kiến CBQL, GV về thực trạng kiểm tra hoạt động GDGT tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức
Về mức độ thực hiện: biểu đồ 2.6 cho thấy ý kiến đánh giá của CBQL, GV về mức độ thực hiện kiểm tra hoạt động GDGT cho HS các trường tiểu học Khu vực 3, với ĐTB chung là 3.39, ứng với mức thỉnh thoảng thực hiện. Cụ thể như sau:
Nội dung được đánh giá cao nhất là “Khen thưởng, phê bình các cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện hoạt động GDGT” (ĐTB: 12) tương ứng mức thường xuyên. Khen thưởng kích thích sự hứng thú của đội ngũ GV trong công tác GDGT cũng như phê bình kịp thời nhằm giúp GV nhìn được hạn chế, khuyết điểm để sớm khắc phục – Ý kiến GV2.
Những nội dung được đánh giá mức độ thực hiện thường xuyên sau nội dung “Khen thưởng, phê bình các cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện hoạt động GDGT” là các nội dung: “Triển khai kế hoạch kiểm tra đánh giá hoạt động GDGT cho HS đến các bộ phận trong nhà trường” (ĐTB: 44); “Tổ chức kiểm tra hoạt động GDGT trong từng giai đoạn với các phương pháp, hình thức cụ thể” (ĐTB: 3.93); “Kiểm tra, đánh giá về năng lực GD của giáo viên” (ĐTB: 3.83). Các nội dung này được thực hiện thường xuyên tại các đơn vị, nhìn chung đều là những nội dung quan trọng trong công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Nội dung được khảo sát với mức độ thực hiện thấp nhất là “Kiểm tra công tác chủ nhiệm lớp của GV” (ĐTB: 89) tương ứng với mức thỉnh thoảng. Phỏng vấn GV5, cho biết: Hầu như nhà trường không kiểm tra đánh giá về công tác chủ nhiệm của GV, vì nghĩ chỉ cần kiểm tra hồ sơ kế hoạch bài dạy là đủ, vì chỉ chú trọng nhiều đến công tác chuyên môn, hồ sơ kế hoạch giảng dạy.
Các nội dung cũng được đánh giá ở mức “Thỉnh thoảng” thực hiện là: “Xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm tra hoạt động GDGT” (ĐTB: 2.91); “Kiểm tra, đánh giá nguồn lực, điều kiện, CSVC, trang thiết bị phục vụ GDGT” (ĐTB: 92); “Kiểm tra đánh giá việc sử dụng phương tiện, trang thiết bị, dụng cụ trong GDGT” (ĐTB: 3.19) ; “Thường xuyên sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và điều chỉnh hoạt động quản lý GDGT” (ĐTB: 3.29). Những nội dung trên chưa được các trường chú trọng thực hiện nên công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GDGT của các trường tiểu học còn hạn chế, chưa mang tính bao quát.
Về kết quả thực hiện: Ý kiến của CBQL, GV về kết quả thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động GDGT cho HS các trường tiểu học được nhận định với ĐTB chung là 3.50, ứng với mức khá.
“Tổ chức kiểm tra hoạt động GDGT trong từng giai đoạn với các phương pháp, hình thức cụ thể” là kết quả thực hiện nội dung kiểm tra, đánh giá được khảo sát cao nhất (ĐTB: 4.13) ở mức khá. Phỏng vấn PHT4, nêu rõ: Tại cơ sở GD chung trên địa bàn đều có cách thức kiểm tra, đánh giá khác nhau, nhưng nhìn chung vẫn sử dụng những phương pháp hỗ trợ giúp công tác kiểm tra, đánh giá được thuận tiện hơn. Nếu kiểm tra, đánh giá mà không có phương pháp, hình thức cụ thể là đánh giá hình thức, không đạt được hiệu quả cao.
Nội dung khảo sát có kết quả thấp nhất “Xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm tra hoạt động GDGT” (ĐTB: 3,04) ứng với mức “Trung bình”. Hầu như việc kiểm tra, đánh giá được xem như việc làm thường lệ nhưng mỗi năm đều sẽ có các ảnh hưởng khách quan, chủ quan khác nhau nên không thể nào kiểm tra, đánh giá theo cảm tính mà không xây dựng các tiêu chí đánh giá cụ thể, thậm chí còn phải xây dựng tiêu chí đánh giá theo từng năm, từng giai đoạn. GV1 nêu quan điểm.
Thực hiện kiểm định ANOVA giữa các trường về nội dung kiểm tra, đánh giá “Xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm tra hoạt động GDGT” cho Sig kiểm định ANOVA = 0.007 ~ 0.7% < 5%, nghĩa là có sự khác biệt ý kiến của CBQL, GV của các trường trên địa bàn Khu vực Nói cách khác, kết quả thực hiện về xây dựng tiêu chí đánh giá ở 9 trường mà đề tài khảo sát là không đồng đều. Xét cụ thể thì các trường đạt chuẩn kiểm định loại I và ở khu vực trung tâm vẫn chú trọng và thực hiện đạt hiệu quả cao hơn các trường trong 2 nhóm còn lại.
Như vậy, đánh giá của CBQL, GV về kết quả thực hiện kiểm tra hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức còn nhiều bất cập. Đặc biệt là, chưa xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể cho công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GDGT. Kiểm tra, đánh giá nguồn lực, điều kiện, CSVC, trang thiết bị phục vụ GDGT và kiểm tra, đánh giá về năng lực GD của giáo viên chưa được chú trọng, còn mang tính chung chung.
2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
2.5.1. Các yếu tố chủ quan Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học, trong đó năng lực quản lý của Hiệu trưởng, năng lực GD của đội ngũ GV, sự phối hợp giữa CBQL, GV, nhân viên và CMHS là yếu tố chủ quan hay yếu tố bên trong tác động trực tiếp đến kết quả đạt được trong quản lý hoạt động GDGT cho HS.
Kết quả khảo sát thực trạng của CBQL, GV về các yếu tố chủ quan tác động đến quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh được thể hiện trong Biểu đồ 2.11 dưới đây:
- Biểu đồ 2.7: Ý kiến của CBQL, GV về các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học
Nhìn vào biểu đồ 2.7, tác giả nhận thấy hầu hết CBQL, GV đều đánh giá các yếu tố chủ quan ảnh hưởng rất nhiều đến quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học với ĐTB chung là 4,33. Cụ thể là: “Năng lực quản lý của Hiệu trưởng” với ĐTB là 4.61; tiếp theo “Sự phối hợp giữa CBQl, GV, nhân viên và CMHS” với ĐTB là 4,25 và “Năng lực GD của đội ngũ GV” với ĐTB là 4,13.
Qua phỏng vấn, GV4 cho rằng: Năng lực quản lý của Hiệu trưởng nhà trường được đánh giá thường niên qua các báo cáo của Ngành, qua kiểm định năng lực hiệu trưởng hằng năm. Vì thế, hiệu trưởng tác động rất lớn đến hoạt động quản lý GDGT cho HS tại các trường tiểu học.
Các yếu tố chủ quan trên thúc đẩy cho quản lý hoạt động GDGT đạt được hiệu quả cao. Cũng như PHT3 có nêu: Hằng năm chúng tôi đều tổ chức các hoạt động đánh giá năng lực chuyên môn của GV theo công văn chỉ đạo và theo chuẩn Ngành quy định. Và hoạt động GDGT đòi hỏi GD trực tiếp từ GV, có thể nói, GV là người quyết định chất lượng GDGT cho HS. Vì thế, yếu tố năng lực của đội ngũ GV thúc đẩy đến hiệu quả quản lý hoạt động GDGT tại nhà trường.
Như vậy, nhìn chung các yếu tố chủ quan đều có ảnh hưởng thúc đẩy đến quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức. Bởi vì, để thực hiện được mục tiêu, nội dung, kết quả của hoạt động GDGT đòi hỏi người hiệu trưởng đứng đầu cần đạt chuẩn trình độ chuyên môn và trình độ quản lý thể hiện trong các khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo công tác và kiểm tra đánh giá kết quả của hoạt động GDGT. Có như thế công tác quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức mới đạt được kết quả cao. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
2.5.2. Các yếu tố khách quan
Những chủ trương, chính sách, định hướng và sự chỉ đạo của ngành GD; Điều kiện kinh tế – xã hội, môi trường văn hoá của địa phương; Nhận thức và trình độ văn hoá của gia đình và các tổ chức xã hội có liên quan; Đặc điểm tâm sinh lý của HSTH là những yếu tố khách quan trong quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức. Tuy các yếu tố này không tác động trực tiếp đến kết quả đạt được trong quản lý hoạt động GDGT nhưng lại có mối quan hệ mật thiết và ảnh hưởng đến chất lượng quản lý hoạt động GDGT.Kết quả khảo sát thực trạng các yếu tố khách quan tác động đến quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh được thể hiện trong Biểu đồ 2.8 dưới đây:
- Biểu đồ 2.8: Ý kiến của CBQL, GV về các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học
Nhìn vào biểu đồ 2.12, tác giả nhận thấy hầu hết CBQL, GV đều đánh giá mức độ từ “Ảnh hưởng” đến “Ảnh hưởng rất nhiều” với ĐTB chung là 4.14 về các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học. Cụ thể là: “Đặc điểm tâm sinh lý của HS tiểu học” với ĐTB là 4.29; tiếp theo, “Nhận thức và trình độ văn hóa của gia đình và các tổ chức xã hội có liên quan” với ĐTB là 4.23 và “Chủ trương, chính sách định hướng và sự chỉ đạo của ngành GD” ĐTB là 4.05. Cuối cùng là “Điều kiện kinh tế – xã hội, môi trường văn hóa của địa phương được đánh giá ở mức “Ảnh hưởng” với ĐTB: 3.98. Tuy có sự chênh lệch về kết quả khảo sát nhưng nhìn chung CBQL, GV vẫn đánh giá yếu tố này cũng ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDGT. Yếu tố chủ trương, chỉ đạo của ngành là thúc đẩy vì có các văn bản chỉ đạo cụ thể như: Luật GD 2019; Quyết định số 16; Thông tư số 32;…
Khi phỏng vấn GV6 nêu rõ: Đặc điểm tâm sinh lý của HS tiểu học khá phong phú và rất khác biệt so với thời đại trước đây. Các em có cơ hội tìm hiểu những điều mới trong thời đại 4.0, đầy đủ về dinh dưỡng nên đều phát triển nhanh về mặt thể chất lẫn suy nghĩ. Đây như một rào cản cho việc GDGT vì HS có sự phát triển nhanh sẽ kéo theo nhiều hệ lụy như: Không kìm chế được xúc cảm với bạn khác giới sinh ra những hành vi thiếu chuẩn mực, cơ thể phát triển nhanh chưa biết bảo vệ và tôn trọng cơ thể của mình cũng như người khác….
Yếu tố nhận thức và trình độ văn hóa của gia đình và các tổ chức xã hội có liên quan đến điều kiện khách quan tác động thúc đẩy quản lý hoạt động GDGT. PHT5 cho hay: Gia đình có nền nếp, coi trọng GDGT cho con em hoặc các tổ chức xã hội chú trọng đến hoạt động GDGT tại địa phương, phần nhiều tác động tích cực cho công tác quản lý hoạt động GDGT đạt hiệu quả cao.
Đối với điều kiện kinh tế – xã hội, môi trường văn hoá của địa phương thì lại được nhận định là yếu tố rào cản trong quản lý hoạt động GDGT. Phỏng vấn ý kiến của GV5 được biết: Khu Vực 3, thành phổ Thủ Đức phức tạp về điều kiện dân trí, phần nhiều là người dân lao động như công nhân, buôn bán nhỏ lẻ hoặc người già. Nhưng bù lại Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức lại có tình hình trị an tốt, tệ nạn xã hội ở mức thấp vì thế người dân đều nghĩ không nhất thiết GDGT cho HSTH trong giai đoạn hiện nay.
2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn như điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn, nghiên cứu sản phẩm và xử lí dữ liệu, người nghiên cứu đưa ra một số nhận định chung về ưu điểm và hạn chế của hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức.
2.6.1. Những ưu điểm
- Hoạt động GDGT
Đa số CBQL, GV và CMHS có nhận thức đúng đắn về vị trí vai trò của hoạt động GDGT; Các trường đã triển khai hoạt động GDGT với nội dung, phương pháp và hình thức GD cụ thể. Kết quả thực hiện mục tiêu GDGT đạt mức khá; Kiểm tra, đánh giá kết quả GDGT được thực hiện, các trường đã chú trọng nhiều việc kiểm tra, đánh giá hành vi của HS khi giao tiếp với người khác giới; Điều kiện GDGT được CBQL, GV và CMHS đánh giá đáp ứng yêu cầu.
- Quản lý hoạt động GDGT
Đa số CBQL, GV có nhận thức đúng đắn về quản lý hoạt động GDGT cho HS. Đây cũng là yếu tố đảm bảo cho các hoạt động GD trong nhà trường được triển khai đúng hướng. Hiệu trưởng các trường tiểu học đã thực hiện các chức năng quản lý GDGT: kế hoạch GDGT được lồng ghép trong kế hoạch GD chung của nhà trường, xác định mục tiêu cụ thể, xác định điều kiện GD như: nhân lực, cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng GD trong trường và ngoài trường, hướng dẫn tổ chuyên môn và giáo viên xây dựng kế hoạch GDGT theo chương trình GD phổ thông mới. Nhìn chung công tác tổ chức, chỉ đạo hoạt động GDGT được thực hiện thường xuyên và đạt kết quả khá. Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GDGT đã được quan tâm, đặc biệt là chú trọng “Tổ chức kiểm tra hoạt động GDGT trong từng giai đoạn với các phương pháp, hình thức cụ thể” và “khen thưởng, phê bình các cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện hoạt động GDGT”.
2.6.2. Những hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
- Về hoạt động GDGT
Một bộ phận CBQL, GV và CMHS chưa nhận thức đầy đủ về vị trí vai trò của hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học. Do đó, phần nào ảnh hưởng đến công tác triển khai và thực hiện; Nội dung GDGT chưa đa dạng và kết quả thực hiện chưa cao. Một số nội dung GDGT chưa được chú ý thực hiện như: GD HS phân biệt sự di truyền, các thế hệ; GD kĩ năng ứng xử với bạn bè khác giới; Từ kết quả khảo sát cho thấy, các phương pháp GDGT và hình thức GDGT đã được triển khai song kết quả thực hiện còn hạn chế. Giáo viên chưa sử dụng nhiều hình thức để GDGT cho HS và kết quả thực hiện chỉ ở mức trung bình; Các trường tiểu học Khu vực 3 thành phố Thủ Đức đã triển khai kiểm tra, đánh giá kết quả GDGT cho HS song nội dung kiểm tra chưa toàn diện, mới tập trung kiểm tra “Kỹ năng hành vi của HS trong giao tiếp với người khác giới”. Phương pháp kiểm tra kết quả GDGT chưa đa dạng, chủ yếu “thông qua nhận xét của các giáo viên khác, của gia đình, của người xung quanh về những kiến thức, kĩ năng, thái độ HS cần hình thành” và “thông qua quan sát thực hành”, chưa chú ý kiểm tra thông qua các tình huống giả định, các bài tập trắc nghiệm.
Các phương pháp kiểm tra, đánh giá khác chưa thường xuyên thực hiện và kết quả thực hiện còn hạn chế.
- Về quản lý hoạt động GDGT
Một bộ phận CBQL, GV chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học; CBQL nhà trường đã xây dựng kế hoạch hoạt động GDGT lồng ghép với kế hoạch GD chung. Tuy nhiên, còn nhiều hạn chế. Việc phân tích thực trạng GDGT, xác định ưu và nhược điểm của công tác GDGT được xem là quan trọng nhưng lại chỉ được thỉnh thoảng thực hiện và theo lối mòn từ những năm trước. Kế hoạch thường lặp đi lặp lại ở các năm khác nhau. Các nội dung như: phân tích thực trạng GDGT, xác định được ưu và nhược điểm của công tác GDGT; sắp xếp tiến độ thực thi các hoạt động và hướng dẫn các tổ chuyên môn lập kế hoạch GDGT theo chương trình mới chưa thực hiện thường xuyên và còn có tính hình thức; Công tác tổ chức hoạt động GDGT cho HS đã được triển khai song có nhiều nội dung như: “xây dựng môi trường GD tích cực nhằm thu hút giáo viên và HS tham gia GDGT”; “Kêu gọi sự ủng hộ về tinh thần, trí tuệ, sức lực từ các lực lượng GD ngoài nhà trường để xây dựng chương trình, tổ chức hoạt động” thực hiện chưa thường xuyên và kết quả thực hiện ở mức “Trung bình”; Đối với chức năng chỉ đạo hoạt động GDGT, HT các trường đã chỉ đạo GDGT thông qua các môn học, thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp song việc chỉ đạo thực hiện GDGT thông qua hoạt động tuyên truyền, sinh hoạt tập thể của HS; Chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên về GDGT cho HSTH còn hạn chế; Kiểm tra hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ còn nhiều bất cập. Đặc biệt là, chưa xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể cho công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GDGT. Kiểm tra, đánh giá nguồn lực, điều kiện, CSVC, trang thiết bị phục vụ GDGT và kiểm tra, đánh giá về năng lực GD của giáo viên chưa được chú trọng, còn mang tính chung chung.
2.6.3. Nguyên nhân của thực trạng Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Qua việc thực hiện phỏng vấn, trao đổi với một số CBQL và phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, người nghiên cứu rút ra một số nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau:
- Nguyên nhân khách quan
Văn bản hướng dẫn cho công tác GDGT được triển khai đầy đủ và chỉ đạo cụ thể trong xây dựng kế hoạch hoạt động GDGT vì thế hoạt động GDGT được thực hiện nghiêm túc, đáp ứng cơ bản các mục tiêu đề ra; Điều kiện kinh tế – xã hội và dân trí ở địa phương còn khó khăn, phức tạp là rào cản trong các hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT cho HS; – Nguồn kinh phí phục vụ cho hoạt động GDGT còn hạn chế, tài liệu để GDGT cho HS tiểu học còn ít là khó khăn trong hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT; Nhận thức từ phía gia đình HS cũng khác nhau, có gia đình chú trọng việc GDGT nhưng có gia đình không quan tâm GDGT cho con em, gây tác động không nhỏ đến quản lý hoạt động GDGT; HSTH còn nhỏ suy nghĩ ngây thơ, nhưng cũng có những HS phát triển nhanh về tầm vóc và tâm lý, có xu hướng tìm tòi những điều mới xung quanh về giới tính nhưng không biết chọn lọc. Điều này có ảnh hưởng đến GDGT và quản lý hoạt động GDGT.
- Nguyên nhân chủ quan
Đa số CBQL, GV có nhận thức đúng về hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT, tuy nhiên còn một bộ phận CBQL, GV chưa có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về các hoạt động này; Đa số CBQL, GV có năng lực và phẩm chất tốt, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý và GD HS. Điều này tác động tích cực đến hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận GV thiếu kỹ năng GDGT cho HS; Sự phối hợp giữa CBQL, GV, nhân viên và CMHS chưa thống nhất. Vì vậy, chưa thuận lợi trong quản lý hoạt động GDGT cho HS.
Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Thành phố Thủ Đức là một thành phố trong thành phố đầu tiên của thành phố Hồ Chí Minh, với tốc độ phát triển đô thị hóa nhanh chóng. Trong nhiều năm gần đây, các trường tiểu học ở Khu Vực 3 thành phố Thủ Đức đã đạt Chuẩn Quốc gia ở các cấp độ; nhiều trường tiểu học đang phát triển theo mô hình tiên tiến hiện đại, hội nhập với xu hướng GD của thế giới. Vận dụng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, đề tài đã khảo sát, phân tích thực trạng GDGT và quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số CBQL, GV, CMHS đã có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học. Các trường đã tổ chức nhiều hoạt động phù hợp với HS, thu hút được sự tham gia của các lực lượng bên trong và bên ngoài nhà trường, bước đầu có phản hồi tích cực, góp phần nâng cao năng lực, phẩm chất và hình thành nhân cách cho trẻ. Tuy nhiên, còn một bộ phận CBQL, GV chưa có nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác này. Kết quả của việc thực hiện mục tiêu, nội dung, sử dụng các phương pháp và hình thức GDGT chưa phong phú, đa dạng và kết quả thực hiện chỉ ở mức trung bình đến khá. Phương tiện, trang thiết bị, điều kiện tổ chức hoạt động GDGT chưa được chú trọng đầu tư thỏa đáng.
Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDGT qua việc thực hiện các chức năng quản lý: Xây dựng kế hoạch hoạt động GDGT. Tổ chức thực hiện hoạt động GDGT; Chỉ đạo thực hiện hoạt động GDGT và kiểm tra, đánh giá thực hiện hoạt động GDGT cho HS ở các trường Tiểu học Khu vực 3, thành phố Thủ Đức. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập về nhận thức, về việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, đánh giá hoạt động GDGT cho HS, đòi hỏi có những biện pháp quản lý hiệu quả hơn. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh.
Những kết quả nghiên cứu ở chương 2 là cơ sở thực tiễn để tác giả đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh trình bày ở chương 3 của luận văn.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục giới tính cho học sinh

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
