Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế-xã hội, văn hóa giáo dục thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế-xã hội địa phương

Ninh Thuận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp Biển Đông. Diện tích tự nhiên 3.358 km², có 07 đơn vị hành chính gồm 01 thành phố và 06 huyện. Thành phố Phan Rang-Tháp Chàm là thành phố trực thuộc tỉnh, là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh Ninh Thuận, cách thành phố Hồ Chí Minh 350 km, cách sân bay Cam Ranh 60 km, cách thành phố Nha Trang 105 km và cách thành phố Đà Lạt 110 km, thuận tiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế-xã hội.

Dân số hiện nay có khoảng 600 ngàn người, mật độ dân số trung bình 176 người/km², phân bố không đều, tập trung chủ yếu vùng đồng bằng ven biển. Cộng đồng dân cư gồm 3 dân tộc chính là dân tộc Kinh chiếm 76,5%, dân tộc Chăm chiếm 11,9%, dân tộc Raglai chiếm 10,4%, còn lại là các dân tộc khác. Dân số trong độ tuổi lao động có 365.700 người, chiếm khoảng 64%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 40%. Cơ cấu lao động hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm 51,99%, công nghiệp xây dựng chiếm 15%, khu vực dịch vụ chiếm 33,01%.

Toàn tỉnh có 308 trường/2.721 phòng học phổ thông các cấp học, trong đó có 21 trường THPT/ 435 phòng học, có 27 trường đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 12,1%), có 88 trường mẫu giáo, nhà trẻ /531 phòng học. Hệ thống giáo dục phổ thông và nội trú đã hình thành ở tất cả các huyện, thành phố. Hệ thống các trường đào tạo gồm: Phân hiệu Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh tại Ninh Thuận, Trường Cao đẳng Sư phạm, Trường Chính trị, Trung tâm ĐH2- Đại học Thủy lợi, Trường Trung cấp Nghề, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp và dạy nghề các huyện, thành phố có nhiệm vụ nâng cao trình độ chuyên môn và tay nghề cho người lao động. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

2.1.2 Khái quát tình hình giáo dục và đào tạo trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.

Đối với bậc học THPT, toàn tỉnh có 22 trường, 463 lớp/17.434 học sinh; trong đó có 01 trường chuyên, 01 trường THPT DTNT, 01 trường phổ thông DTNT có 02 cấp học THCS, THPT; 03 trường THPT có 02 cấp học và 02 trường ngoài công lập có 03 cấp học (TH, THCS, THPT); 07 trường đạt chuẩn quốc gia chiếm tỉ lệ 32%.

Trong những năm qua, giáo dục và đào tạo trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận có sự phát triển cả chiều rộng và chiều sâu. Số lượng trường THPT tăng từ 12 trường THPT năm 2007 lên 22 trường THPT ở giai đoạn hiện nay. Đặc biệt, có 02 trường THPT ngoài công lập chất lượng cao. Tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông luôn tăng qua các năm, tỉ lệ học sinh đậu vào các trường cao đẳng, đại học luôn ở mức trên 80% trong những năm gần đây.

2.1.3 Sơ lược về các trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang-Tháp Chàm

  • Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn

Nhà trường có 78 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; trong đó có 1 tiến sĩ, 43 thạc sĩ đảm nhận giảng dạy cho 644 học sinh, biên chế 18 lớp. Trong đó, khối lớp 10 có 218 học sinh; khối lớp 11 có 212 học sinh; khối lớp 12 có 214 học sinh. Hội đồng sư phạm nhà trường đoàn kết triển khai thực hiện nhiều giải pháp đổi mới công tác quản lý, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, hội nhập và nâng cao vai trò trách nhiệm của giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm lớp. Đồng thời thực hiện các giải pháp nâng cao tinh thần học tập rèn luyện của các em học sinh tự tin, tương tác tốt với môi trường học tập hiện đại.

  • Trường THPT Nguyễn Trãi

Từ nhiều năm nay, “thương hiệu” Trường THPT Nguyễn Trãi đã trở thành “địa chỉ tin cậy” của đông đảo bậc phụ huynh, là niềm tự hào của các thế hệ giáo viên và học sinh trong tỉnh. Được thành lập năm 1954, trải qua gần 70 năm thành lập (trước năm 1975 là Trường Trung học Duy Tân) và phát triển, thầy và trò trường THPT Nguyễn Trãi luôn đoàn kết, nỗ lực vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy và học tập.

  • Trường THPT Chu Văn An

Là đơn vị tiêu biểu trong phong trào thi đua dạy tốt- học tốt. Tập thể Hội đồng sư phạm nhà trường đoàn kết tận tâm chăm lo đào tạo nguồn nhân lực trẻ chất lượng cao cho tỉnh nhà. Qua 26 năm thành lập và phát triển, mái trường mang tên nhà giáo lỗi lạc Chu Văn An thực sự trở thành cơ sở giáo dục uy tín, đào tạo nhiều thế hệ học sinh trưởng thành, tích cực đóng góp xây dựng quê hương, đất nước. Đội ngũ thầy cô giáo trường THPT Chu Văn An có tinh thần trách nhiệm cao với nghề nghiệp, giàu lòng thương yêu, tận tâm dạy dỗ học sinh. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

  • Trường THPT Tháp Chàm

Trường THPT Tháp Chàm được thành lập đi vào hoạt động từ năm học 1993- 1994. Qua 30 năm xây dựng và phát triển, Hội đồng sư phạm nhà trường đã nỗ lực chăm lo đào tạo nguồn nhân lực trẻ cho tỉnh nhà trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu “Dù khó khǎn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên huy động mọi nguồn lực đầu tư xây dựng phòng ốc khang trang, đổi mới phương pháp dạy và học đã tạo nên bước phát triển đáng tự hào trong sự nghiệp “trồng người” trên địa bàn tỉnh.

  • Trường THCS, THPT Trần Hưng Đạo

Trường THCS, THPT Trần Hưng Đạo trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở Trường THCS Trần Hưng Đạo thuộc thành phố Phan Rang-Tháp Chàm và cơ sở vật chất hiện hữu của Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn. Từ năm học 2021-2022 trở đi, nhà trường chịu trách nhiệm tuyển sinh và tổ chức đào tạo cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 khu vực các phường Mỹ Hải, Mỹ Đông, Mỹ Bình, Đông Hải các vùng lân cận và tuyển sinh, tổ chức đào tạo từ lớp 10 đến lớp 12 từ năm học 2021-2022 trở đi.

  • Trường phổ thông DTNT THPT Ninh Thuận

Là cơ sở giáo dục dành cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số, chất lượng đầu vào của học sinh còn chưa cao, khả năng giao tiếp chưa có nhiều linh động. Mặt khác, học sinh thuộc nhiều dân tộc, phong tục tập quán khác nhau. Để nâng cao chất lượng giảng dạy, nhà trường đã rất cố gắng trong việc tổ chức phân luồng học sinh để có phương pháp giảng dạy phù hợp với năng lực của từng em. Từ đó cho thấy rằng nhà trường đã rất linh hoạt, nỗ lực không ngừng để nâng cao chất lượng dạy và học, giúp đỡ học sinh nhiều nhất có thể.

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT quốc gia qua các năm học luôn đạt trên 95%. Trường phổ thông DTNT THPT tỉnh đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng Bằng khen có thành tích trong các phong trào thi đua “Dạy tốt-Học tốt”; nhiều năm liền đạt được danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc.

2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng hoạt động giáo dục an toàn giao thông và quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

2.2.1 Mục đích khảo sát

Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục ATGT và quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận; tìm hiểu và thu thập thông tin, dữ liệu để có thể đánh giá một cách chi tiết, đúng đắn về vấn đề nghiên cứu.

2.2.2 Nội dung khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Thực trạng nhận thức của CBQL, GV, PHHS, HS về hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Thực trạng về thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, các điều kiện ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

2.2.3 Đối tượng khảo sát

CBQL, GV, PHHS, HS của của 06 trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Cụ thể: 61/72 CBQL, 139/448 GV, 381/7843 HS và 381/7843 PHHS. (áp dụng công thức tính số mẫu 1+𝑁(𝑒)2 trong đó:

  • n là cỡ mẫu, e=0.05, N: tổng thể).

2.2.4 Phương pháp và công cụ khảo sát

Sau khi nghiên cứu cơ sở lý luận trong chương 1, tác giả sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, kết hợp phương pháp phỏng vấn, phương pháp nghiên cứu qua sản phẩm hoạt động để thu thập thêm thông tin định tính nhằm làm sáng tỏ thêm cho dữ liệu định lượng đối với vấn đề nghiên cứu.

2.2.5 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đề tài thiết kế bảng hỏi dành cho nhóm khách thể là các CBQL, GV, PHHS và HS tại 06 trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Quy trình thiết kế bảng hỏi được thực hiện qua 03 giai đoạn:

  • Giai đoạn 01: Thiết kế bảng hỏi mở
  • Giai đoạn 02: Thiết kế và hoàn thiện bảng khảo sát chính thức
  • Giai đoạn 03: Tiến hành khảo sát chính thức

2.2.6 Phương pháp phỏng vấn Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Tiến hành phỏng vấn CBQL, GV và HS nhằm bổ sung thêm thông tin để góp phần làm sáng tỏ kết quả khảo sát; kiểm tra độ trung thực của các kết quả trả lời phiếu điều tra ý kiến; tìm hiểu sâu hơn về đối tượng nghiên cứu qua một số CBQL, GV, HS điển hình.

Cách thức tiến hành: tác giả liên hệ, trao đổi, phỏng vấn với 03 CBQL, 03 GV, 03 HS của 06 trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận để làm rõ về thực trạng hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh và quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Để đảm bảo tính bảo mật cho CBQL, GV và HS tác giả đã mã hóa đối tượng phỏng vấn, đối với CBQL: QL1, QL2, QL3; đối với GV: GV1, GV2, GV3; đối với học sinh: HS1, HS2, HS3. Tác giả tiến hành phỏng vấn dựa trên bảng phỏng vấn với câu hỏi đã chuẩn bị sẵn theo mục đích nghiên cứu. Có thể sử dụng thêm những câu hỏi phát sinh tùy theo vấn đề nảy sinh trong nội dung trả lời của khách thể nghiên cứu.

2.2.7 Phương pháp nghiên cúu tài liệu, sản phẩm hoạt động

Tập hợp, phân loại, nghiên cứu hồ sơ quản lý như kế hoạch; biên bản; báo cáo sơ kết, tổng kết; sản phẩm sau khi thực hiện của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh có liên quan đến hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại 06 trường trung học phổ thông công lập thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Sau khi thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20 và Microsoft Excel 2013 để xử lí thông tin mang tính định lượng. Đối với thông tin định tính (từ bảng khảo sát; phỏng vấn; phân tích tài liệu, hồ sơ), chúng tôi tiến hành trích lọc các ý kiến để phân tích thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

2.2.8 Xây dựng thang đo

Thang đo sử dụng trong 02 phiếu khảo sát chủ yếu là thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để xác định các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần số, tỉ lệ %,…Ngoài ra, chúng tôi sử dụng thang đo danh nghĩa để xác định tên gọi và đặc điểm của đối tượng khảo sát. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu một cách hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert với 05 mức độ.

Giá trị khoảng cách trung bình = (Max – Min)/N = (5-1)/5 = 0.8 Do đó, ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng cụ thể trong bảng sau:

  • Bảng 2. 1: Quy ước múc đánh giá, phân tích số liệu

Những quy ước này sẽ được sử dụng để phân tích kết quả khảo sát thực trạng.

  • Kiểm tra độ tin cậy của thang đo

Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha là phép kiểm định phản ánh mức độ tương quan chặt chẽ giữa các biến quan sát trong cùng một khái niệm. Kết quả phép kiểm định cho biết trong các biến quan sát của một khái niệm, biến nào đã đóng góp vào việc đo lường khái niệm. Kết quả Cronbach’s Alpha của khái niệm tốt thể hiện rằng các biến quan sát đo lường khái niệm là hợp lý, thể hiện được đặc điểm của khái niệm.

Thang đo được đề cập ở đây là một tập hợp các tiêu chí hoặc các câu hỏi thể hiện được những khía cạnh của một khái niệm. Một thang đo tốt là một thang đo tập hợp được các tiêu chí/câu hỏi/biến quan sát phản ánh đầy đủ mọi khía cạnh của khái niệm, vấn đề cần đo lường và các tiêu chí này không bị trùng lặp nhau về nội dung.

Để kiểm tra độ tin cậy của thang đo, chúng tôi sử dụng phần mềm dùng trong nghiên cứu xã hội SPSS 20 nhằm xác định hệ số Cronbach’s Alpha. Để tính Cronbach’s Alpha cho một thang đo thì thang đo phải có tối thiểu là ba biến đo lường (biến quan sát). Alpha của Cronbach thường nằm trong khoảng từ 0 đến 1. Các giá trị gần hơn với 1 cho thấy sự thống nhất bên trong của các biến trong thang đo. Nói cách khác, giá trị alpha của Cronbach cao hơn cho thấy độ tin cậy ở quy mô lớn hơn. Thang đo có hệ số Cronbach Alpha ≥ 0.6 là thang đo chấp nhận được về mặt độ tin cậy.

Kết quả kiểm tra độ tin cậy của các thang đo.

  • Bảng 2. 2: Hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo

Kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo công tác quản lý

  • Bảng 2. 3: Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo công tác quản lý

Như vậy, với kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo được trình bày ở trên (các giá trị Cronbach’s Alpha đều > 0.730) đã phản ánh một cách đầy đủ mọi khía cạnh của khái niệm và không có sự trùng lắp giữa các biến quan sát. Chúng tôi kết luận rằng: thang đo có độ tin cậy. Đặc biệt, đối với các thang đo công tác quản lý có hệ số Cronbach’s Alpha đều > 0.979 cho biết thang đo có độ tin cậy rất cao.

2.3. Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

2.3.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên; phụ huynh học sinh và học sinh về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông

Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh và học sinh được xem là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức, am hiểu thông qua tích lũy kinh nghiệm, suy nghĩ, giác quan.

Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL, GV; PHHS và HS về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh các trường trung học phổ thông như sau:

Bảng 2. 4: Ý kiến của CBQL, GV; PHHS; HS về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông

Bảng 2.4 cho thấy các đối tượng được khảo sát nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh trong môi trường học đường. Công tác “giáo dục ATGT giúp học sinh có hiểu biết về các qui định của pháp luật khi tham gia giao thông” chỉ được đánh giá ở mức “đồng ý một phần” với điểm TB 2,95. Bên cạnh đó, hoạt động giáo dục ATGT giúp nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông, giúp học sinh có hành vi đúng đắn khi tham gia giao thông cũng được đánh giá khá thấp (đồng ý một phần)

Như vậy, cần nâng cao nhận thức cho CBQL, GV, PHHS và HS để các đối tượng này có thể hiểu biết một cách đầy đủ và đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh THPT.

2.3.2. Thực trạng thực hiện mục tiêu của hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Mục tiêu của hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông là một bộ phận quan trọng của quá trình giáo dục nói chung. Giáo dục ATGT góp phần thực hiện mục đích chung của quá trình giáo dục, hình thành cho các em học sinh những thói quen ứng xử có văn hóa, đúng pháp luật khi tham gia giao thông. Giúp học sinh THPT xác định được cách phòng tránh tai nạn giao thông và xử lý tình huống khi có tai nạn giao thông trong khả năng của mình khi tham gia giao thông.

Kết quả từ việc khảo sát 200 CBQL, GV, 381 HS và 381 PHHS của 06 trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận về thực trạng thực hiện mục tiêu của hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh THPT được trình bày như sau:

Bảng 2.5: Ý kiến của CBQL, GV, PHHS và HS về thực hiện mục tiêu của hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông

Bảng 2.5 cho thấy, ý kiến từ các đối tượng khảo sát đánh giá việc thực hiện mục tiêu hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh THPT ở mức trung bình đến khá. Hai mục tiêu của giáo dục ATGT cho học sinh THPT sẽ giúp “phát triển nhận thức cho học sinh về an toàn giao thông” (điểm TB 3,53) và các em học sinh có thể “áp dụng được các kỹ năng thực tế vào các hành vi hàng ngày khi các em đi trên đường” (điểm TB 3,63) được đánh giá thực hiện ở mức khá. Trong khi đó, các mục tiêu “Xây dựng thói quen ứng xử có văn hoá, đúng pháp luật, xoá bỏ những thói quen tuỳ tiện vi phạm quy tắc giao thông, hình thành ý thức tự giác tuân thủ pháp luật khi tham gia giao thông” hay “Biểu lộ thái độ không đồng tình với những hành vi vi phạm luật giao thông” và “Học sinh xác định được cách phòng tránh tai nạn giao thông và xử lý tình huống khi có tai nạn giao thông trong khả năng của mình khi tham gia giao thông” chỉ đạt mức đánh giá “trung bình” (điểm TB từ 2,91 đến 3,01).

Qua phỏng vấn, CBQL, GV và HS đều cho rằng giáo dục ATGT cho học sinh sẽ giúp các em học sinh nâng cao kiến thức, ý thức trách nhiệm và ứng xử có văn hoá khi tham gia giao thông. Hạn chế học sinh vi phạm pháp luật về an toàn giao thông, góp phần giảm thiểu vi phạm an toàn giao thông, tai nạn, ùn tắc giao thông trong phạm vi cả nước. Tuy nhiên, công tác giáo dục ATGT cho học sinh vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn, tình trạng học sinh vi phạm ATGT tăng cao. (CBQL1, CBQL2, CBQL3, GV1, GV2, HS1, HS2, HS3).

Như vậy, mục tiêu đặt ra đối với hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh tại các trường THPT thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận chưa đạt được kết quả cao. Các nhà trường cần xây dựng những biện pháp hữu hiệu trong công tác giáo dục ATGT cho học sinh THPT tại địa phương.

2.3.3. Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Nội dung giáo dục ATGT cho học sinh tại các trường THPT do Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, Cục Cảnh sát giao thông-Bộ Công An, chuyên gia giáo dục, nhà khoa học cũng như tham khảo ý kiến đóng góp từ các thầy cô giáo và học sinh trực tiếp tham gia trong quá trình dạy và học; với sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả của công ty Honda Việt Nam. Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện nội dung giáo dục ATGT cho học sinh tại các trường THPT thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Bảng 2. 6: Ý kiến của CBQL, GV; PHHS; HS về thực trạng thực hiện nội dung giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông

Về múc độ thực hiện: Bảng 2.6 cho thấy, tất cả các nội dung giáo dục ATGT cho học sinh THPT được các nhà trường thường xuyên triển khai thực hiện. Tập trung ở các nội dung “Hệ thống báo hiệu giao thông đường bộ” (điểm TB 3,71); giáo dục “An toàn giao thông đường sắt và đường thủy” (điểm TB 3,66; ). Thành phố Phan Rang-Tháp Chàm có tuyến đường sắt Bắc-Nam chạy qua thành phố nên việc giáo dục ATGT đường sắt là rất cần thiết. Học sinh THPT trực tiếp tham gia giao thông trên đường nên rất cần được giáo dục về “Cách đi xe đạp, xe đạp điện an toàn và trang phục khi tham gia giao thông” (điểm TB 3,57); “Chuẩn bị điều khiển xe mô tô, xe gắn máy an toàn” (ĐTB: 3,53).

Về kết quả thực hiện: Ý kiến đánh giá của các đối tượng khảo sát đối với thực hiện nội dung giáo dục ATGT khá khả quan. 5 trong số 6 nội dung giáo dục ATGT được đánh giá mức khá (điểm TB từ 3,48 đến 3,69). Chỉ nội dung “Cách đi xe đạp, xe đạp điện an toàn và trang phục khi tham gia giao thông” được các đối tượng khảo sát đánh giá thực hiện mức trung bình. Trên thực tế, đa số các em học sinh chấp hành tốt Luật Giao thông đường bộ, tuyên truyền và vận động mọi người cùng thực hiện tốt các quy tắc giao thông đường bộ. Học sinh nhận dạng và nêu được các nhóm biển báo, một số biển báo giao thông trong nhóm biển báo trong hệ thống báo hiệu đường bộ. Các em tuân thủ, chấp hành hệ thống biển báo hiệu đường bộ khi tham gia giao thông. Vận dụng được các kiến thức đã học để tuyên truyền mọi người cùng tuân thủ.

Một số học sinh cho biết các em có thể xác định được các tình huống nguy hiểm khi tham gia giao thông, cách phòng tránh các nguy hiểm, tai nạn. Các em hiểu rằng đi xe máy đến trường khi chưa đủ điều kiện (tuổi, giấy pháp lái xe) là vi phạm Luật giao thông. Các em đã vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học để tham gia giao thông đường sắt, đường thủy an toàn. (GV1, GV3, HS1, HS2, HS3).

Bên cạnh đó, một số em học sinh vẫn còn đi xe đạp, xe đạp điện thiếu an toàn. Các em điều khiển xe đạp điện không đúng làn đường, phần đường quy định; vượt đèn đỏ; sử dụng điện thoại di động, thiết bị âm thanh khi đi xe đạp điện; đùa giỡn, lạng lách, đu bám xe khác; đi xe vào ban đêm nhưng lại thiếu đèn báo hiệu; không đội mũ bảo hiểm đúng quy định; trang phục quần áo, giày dép, khẩu trang, găng tay còn gây vướng víu và không phù hợp. (CBQL2, CBQL3, GV2, GV3)

Như vậy, nội dung giáo dục ATGT cho học sinh THPT đã được các nhà trường quan tâm, thường xuyên tổ chức thực hiện và mang lại hiệu quả bước đầu. Các em đã hiểu được tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy tắc an toàn giao thông đường bộ; nắm sơ lược hệ thống báo hiệu giao thông đường bộ; có khả năng dự đoán và phòng tránh nguy hiểm khi tham gia giao thông; điều khiển xe mô tô, xe gắn máy an toàn (dưới 50cc); thực hiện quy định an toàn giao thông đường sắt và đường thủy. Tuy nhiên, có một số em học sinh chưa ý thức, xem thường các quy tắc giao thông và gây nguy hiểm cho những người cùng tham gia giao thông. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

2.3.4. Thực trạng thực hiện phương pháp giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Trong quá trình triển khai hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh THPT, các nhà trường đã triển khai một số phương pháp giáo dục phù hợp như: phương pháp khuyên giải; phương pháp tranh luận; phương pháp nêu gương; phương pháp trò chơi, cuộc thi; phương pháp khen thưởng, trách phạt, thi đua,…Kết quả khảo sát từ các CBQL, GV, CMHS và HS các trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang-Tháp Chàm thu được như sau:

Bảng 2. 7: Ý kiến của CBQL, GV; PHHS; HS về thực trạng sủ dụng phương pháp giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông

Về múc độ thực hiện: Kết quả khảo sát cho thấy, các phương pháp khen thưởng và trách phạt chỉ thỉnh thoảng được các nhà trường sử dụng. Các phương pháp còn lại “Phương pháp khuyên giải”; “Phương pháp tranh luận”; “Phương pháp trò chơi, cuộc thi”; “Phương pháp nêu gương”; “Phương pháp thi đua” được thực hiện một các thường xuyên có điểm TB từ 3,50 đến 3,73.

Về kết quả đạt được: Theo kết quả khảo sát, tất cả các phương pháp được áp dụng đều mang lại kết quả khá. Trong đó, lần lượt các phương pháp “phương pháp khuyên giải” (điểm TB 4,01) ; “phương pháp nêu gương” (điểm TB 3,94 ); “phương pháp khen thưởng” (điểm TB 3,72); “phương pháp tranh luận” (điểm TB 3,72) có mức đánh giá kết quả thực hiện cao hơn so với các phương pháp còn lại.

Nhà trường đã chỉ đạo Đoàn thanh niên, giáo viên bộ môn Ngữ Văn, Giáo dục Kinh tế và Pháp luật, Lịch Sử cập nhật thường xuyên nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục ATGT (CBQL1, CBQL3, GV1, GV3). Các em học sinh được tranh luận, khuyên giải và tham gia các trò chơi đố vui có thưởng, ký cam kết tham gia giao thông an toàn,…(GV1, GV2, HS1, HS2, HS3). Ý kiến trao đổi của các đối tượng phỏng vấn khá phù hợp với kết quả khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Phan Rang-Tháp Chàm.

Như vậy, các phương pháp đã được nhà trường sử dụng trong việc giáo dục ATGT cho học sinh, mỗi phương pháp đều mang lại hiệu quả nhất định trong việc giáo dục giao thông an toàn.

2.3.5. Thực trạng thực hiện hình thức giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Các nhà trường đã kết hợp hết sức khéo léo trong việc sử dụng các hình thức giáo dục ATGT cho học sinh THPT thành phố Phan Rang-Tháp Chàm. Phát huy vai trò, sức mạnh của tập thể hội đồng sư phạm nhà trường, tổ chức Đoàn thanh niên cũng như phối hợp với các tổ chức chính trị, đoàn thể trong và ngoài nhà trường để giáo dục an toàn giao thông cho các em học sinh. Mức độ thực hiện và kết quả đạt được khi triển khai các hình thức giáo dục ATGT được thể hiện cụ thể ở bảng 2.8 sau đây:

Bảng 2. 8: Ý kiến của CBQL, GV; PHHS; HS về thực trạng triển khai các hình thúc giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông

Bảng số liệu 2.8 cho thấy, công tác triển khai các hình thức giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông được nhà trường thực hiện thường xuyên và mang lại kết quả nhất định. Nhà trường chủ yếu tập trung sử dụng các hình thức “Tuyên truyền, giáo dục học sinh chấp hành các quy định về an toàn giao thông qua các buổi ngoại khóa.” (điểm TB 3,63); “Lồng ghép, tích hợp ATGT đối với các bộ môn Ngữ văn, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Lịch sử” (điểm TB 3,63). Trong đó , hình thức giáo dục thông qua “Tuyên truyền, giáo dục học sinh chấp hành các quy định về an toàn giao thông qua các buổi ngoại khóa.” (điểm TB 3,71) được các đối tượng khảo sát đánh giá đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất trong tất cả các hình thức giáo dục đã áp dụng.

CBQL, GV, HS cho biết, công tác giáo dục ATGT cho học sinh được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như: sinh hoạt dưới cờ, các Hội thi, cuộc thi, đối thoại, tiểu phẩm, sân khấu hóa, hướng dẫn kỹ năng ATGT từ cảnh sát giao thông, thông qua Lễ tưởng niệm các nạn nhân tai nạn giao thông, dạy lồng ghép vào các môn văn hóa,…

Như vậy, các nhà trường đã thường xuyên triển khai các hình thức giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông. Xây dựng chương trình giáo dục ATGT có cấu trúc, mục tiêu và nội dung rõ ràng, phù hợp với độ tuổi và khả năng của học sinh.

2.3.6. Thực trạng các điều kiện ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh THPT cần có một số điều kiện. Các điều kiện đó chính là: nhân sự; cơ sở vật chất, trang thiết bị; tài chính; sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Kết quả khảo sát về thực trạng các điều của hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang – Tháp Chàm trình bày ở bảng 2.9 như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Bảng 2. 9: Ý kiến của CBQL, GV; PHHS; HS về thực trạng các điều kiện ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông

Các đối tượng khảo sát đều có nhận định chung rằng các điều kiện về nhân sự; cơ sở vật chất, trang thiết bị; tài chính; sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh THPT ở mức khá. Trong đó, điều kiện nhân sự có ảnh hưởng khá nhiều so với các điều kiện về vật chất, trang thiết bị hay tài chính. Chính lực lượng nhân sự là chìa khóa tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh trong nhà trường phổ thông.

2.4. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

2.4.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về sự cần thiết của quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông

Nhận thức của CBQL, GV về công tác quản lý hoạt động giáo dục ATGT là điều cần thiết để thiết lập nên chuỗi giá trị khi thực hiện giáo dục ATGT cho học sinh. Nếu CBQL, GV có cái nhìn đầy đủ, chính xác, khách quan và vạch ra mục tiêu cụ thể cho cả quá trình thì sẽ giúp các nhà trường đẩy mạnh được hiệu quả công tác giáo dục ATGT cho học sinh và ngược lại. Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL, GV về sự cần thiết của quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh các trường trung học phổ thông được thể hiện ở biểu đồ 2.1 sau đây:

Biểu đồ 2. 1 Ý kiến của CBQL, GV về sự cần thiết của quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh trung học phổ thông

Biểu đồ 2.1 cho thấy, có 98,5% ý kiến khảo sát cho rằng việc quản lý giáo dục ATGT cho học sinh THPT là cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Chỉ có một tỉ lệ rất nhỏ khoảng 1,5% ý kiến khảo sát cho rằng việc quản lý giáo dục ATGT cho học sinh THPT là ít cần thiết mà cần tập trung hơn cho những nội dung giáo dục văn hóa.

Như vậy, CBQL, GV nhận thức một cách đầy đủ về sự cần thiết của công tác quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh THPT sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho người quản lý trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục ATGT trong nhà trường.

2.4.2. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Xây dựng kế hoạch giáo dục ATGT cho học sinh THPT là nhiệm vụ hàng năm của CBQL nhà trường. Việc xây dựng kế hoạch giáo dục nhằm tuyên truyền mạnh mẽ về các hoạt động bảo đảm trật tự an toàn giao thông ở tất cả các lĩnh vực đường bộ, đường sắt, đường thủy trong nhà trường; trang bị những kỹ năng cần thiết và quan trọng trong việc định hướng người học có những hành vi tuân thủ pháp luật và đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của bản thân và của mọi người. Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV các trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Phan Rang-Tháp Chàm như sau:

Bảng 2. 10: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông

Công tác xây dựng kế hoạch giáo dục ATGT cho học sinh được các nhà trường thực hiện thường xuyên và kết quả đạt được ở mức khá theo kết quả từ các đối tượng được khảo sát cho biết. Cụ thể là việc “Xác định mục tiêu của hoạt động giáo dục ATGT” được đánh giá ở mức “thường xuyên” (điểm TB 3,75) và kết quả đạt được ở mức khá (điểm TB 3,63); Nhà trường cũng đã “Dự kiến các biện pháp thực hiện và hình thức thực hiện mục tiêu giáo dục ATGT” ở mức “thường xuyên” (điểm TB 3,82) và kết quả đạt được cũng ở mức khá (điểm TB 3,60).

Khi phỏng vấn lãnh đạo các trường THPT trên địa bàn thành phố đều cho biết: công tác lập kế hoạch được thiết lập ngay từ đầu năm học, được dự tính một cách khoa học, có đầy đủ mục tiêu rõ ràng (CBQL1, CBQL2, CBQL3).

Khi tìm hiểu các kế hoạch thực hiện trong năm học, kế hoạch hoạt động Đoàn thanh niên, kế hoạch bài dạy của giáo viên bộ môn đều được thể hiện nội dung giáo dục ATGT khá rõ nét. Trong đó, kế hoạch tổ chức giáo dục ATGT được các nhà trường tách riêng và thể hiện khá chi tiết nhiệm vụ, mục tiêu, các nguồn lực và nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức thực hiện. Điều này minh chứng cho kết quả khảo sát thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thêm phần tin cậy. Tuy nhiên, kế hoạch giáo dục ATGT của các trường được lặp đi, lặp lại, ít có sự cải thiến, thay đổi khi thực tế tình hình giao thông trên địa bàn có nhiều diễn biến phức tạp, nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng đã xảy ra.

Như vậy, công tác lập kế hoạch giáo dục ATGT cho học sinh đã được các trường THPT thành phố Phan Rang-Tháp Chàm hết sức quan tâm và thường xuyên thực hiện song kết quả chỉ đạt mức khá. Cần có cải tiến trong lập kế hoạch giáo dục ATGT cho học sinh trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

2.4.3 Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục ATGT nhằm hiện thực hóa kế hoạch giáo dục. Để đạt được những mục tiêu đặt ra đối với công tác giáo dục ATGT, Hiệu trưởng nhà trường cần phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; xây dựng các tiêu chí thi đua; phân công nhiệm vụ thật cụ thể cho các thành viên thực hiện hoạt động giáo dục, cũng như cách thức phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh, giữa nhà trường với các lực lượng xã hội trong giáo dục ATGT cho học sinh. Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh THPT được thể hiện trong bảng số liệu dưới đây:

Bảng 2. 11: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng tổ chúc hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông

Việc tổ chức thực hiện giáo dục ATGT cho học sinh THPT thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận được các đối tượng khảo sát đánh giá khá cao. Các nhà trường thường xuyên “Tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức về an toàn giao thông” (điểm TB 3,83). Đồng thời “Ban hành văn bản hướng dẫn về giáo dục an toàn giao thông cho học sinh.” (điểm TB 3,71); “Tổ chức triển khai giáo dục ATGT theo các mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục đã xác định” (điểm TB 3,71); “Xây dựng tiêu chí thi đua giữa các lớp về thực hiện ATGT” (điểm TB 3,71). Thông qua công tác tổ chức giáo dục ATGT cho học sinh của CBQL, các nhà trường đã “Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh, giữa nhà trường với các lực lượng xã hội trong giáo dục ATGT cho học sinh” (điểm TB 3,71); “Tổ chức hệ thống thông tin thông suốt, kịp thời cho hoạt động giáo dục ATGT trong nhà trường” (điểm TB 3,74). Đảm bảo các hoạt động tổ chức thường xuyên trong suốt năm học và mang lại hiệu quả thiết thực đối với các em học sinh THPT.

Nhìn nhận thực tế vấn đề giáo dục ATGT cho học sinh, các đối tượng được phỏng vấn cho biết: Tuy nhà trường có kế hoạch và phương hướng cụ thể nhưng một số nội dung khi tổ chức còn chưa sát thực, chưa toàn diện, chỉ mới tập trung vào một số đợt cao điểm, nội dung giáo dục pháp luật về ATGT chưa sát thực tế, hình thức còn thiếu sáng tạo, chưa gây hứng thú và hiệu quả giáo dục chưa thiết thực đối với học sinh (CBQL1, CBQL2, CBQL3).

Như vậy, công tác tổ chức hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông được thực hiện thường xuyên và kết quả đạt được ở mức độ khá. Cần có biện pháp tổ chức tốt hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh.

2.4.4 Thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh THPT với mục đích đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy. Chỉ đạo từ việc xây dựng ý tưởng, thiết kế hoạt động, hướng dẫn tổ chức thực hiện đến việc xây dựng các mối quan hệ phối kết hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong tổ chức giáo dục ATGT cho học sinh. Đồng thời đôn đốc, động viên, hỗ trợ, tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị và thời gian, kinh phí cho hoạt động giáo dục ATGT. Kết quả khảo sát từ các đối tượng CBQL, GV về công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục ATGT của các trường THPT thành phố Phan Rang-Tháp Chàm như sau:

Bảng 2. 12: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Kết quả khảo sát ở bảng 2.12 cho thấy, CBQL các trường đã thường xuyên “Chỉ đạo xây dựng ý tưởng các hoạt động giáo dục ATGT” (điểm TB 3,75); “Chỉ đạo giáo viên các lớp xây dựng ý tưởng thiết kế các hoạt động để giáo dục ATGT cho học sinh.” (điểm TB 3,82); “Chỉ đạo lồng ghép tích hợp các nội dung giáo dục ATGT vào từng môn học cụ thể.” (điểm TB 3,71); “Chỉ đạo xây dựng các mối quan hệ phối kết hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong tổ chức giáo dục ATGT cho học sinh.” (điểm TB 3,71); và “Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị và thời gian, kinh phí cho hoạt động giáo dục ATGT.” (điểm TB 3,83). Trong đó, việc “Chỉ đạo lồng ghép tích hợp các nội dung giáo dục ATGT vào từng môn học cụ thể.” (điểm TB 3,83); “Chỉ đạo thiết kế hoạt động giáo dục ATGT” (điểm TB 3,82) mang lại hiệu quả tích cực.

Qua phỏng vấn, một số nội dung chỉ đạo được nêu cụ thể là: chỉ đạo ký cam kết tham gia giao thông an toàn đối với học sinh và phụ huynh; Tuyên truyền, nhắc nhở học sinh thực hiện nghiêm túc luật giao thông khi tham gia giao thông; không được đi xe máy đến trường khi chưa đủ điều kiện theo quy định; Giáo viên bộ môn chọn lọc nội dung kiến thức tích hợp vào các bài dạy, lồng ghép tuyên truyền, giáo dục Luật giao thông,…(CBQL1). Phối hợp với công an thành phố Phan Rang-Tháp Chàm tăng cường công giáo dục pháp luật về trật tự, ATGT trong nhà trường. (CBQL1, CBQL2, CBQL3). Như vậy, công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông đã được thực hiện một cách chủ động, nhưng hiệu quả đạt được chỉ ở mức khá. Cụ thể, các nhà trường còn hạn chế trong công tác chỉ đạo thiết kế hoạt động giáo dục ATGT và chỉ đạo xây dựng các mối quan hệ phối kết hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong tổ chức giáo dục ATGT cho học sinh.

2.4.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Công tác kiểm tra, đánh giá là chức năng thứ tư của nhà quản lý. Đây là chức năng khá quan trọng, ảnh hưởng đến hiệu quả của quy trình quản lý hoạt động giáo dục ATGT trong nhà trường. Kết quả khảo sát thực trạng được trình bày trong bảng số liệu dưới đây:

Bảng 2. 13: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông

Kết quả khảo sát cho thấy, trong quá trình thực hiện chức năng quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh THPT, các CBQL đã thường xuyên thực hiện kiểm tra việc thiết lập các tiêu chuẩn cần đạt khi đánh giá hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh. Kiểm soát kế hoạch bài dạy, kiểm tra việc lồng ghép, tích hợp ATGT qua các môn học bằng cách dự giờ thăm lớp; sơ kết, tổng kết, khen thưởng, động viên các cá nhân, bộ phận hoàn thành tốt hoạt động giáo dục ATGT. Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tra, đánh giá CBQL chỉ thỉnh thoảng tiến hành điều chỉnh sự lệch chuẩn nếu kết quả đo lường không đạt được mục tiêu giáo dục ATGT. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Trong quá trình tìm hiểu những tài liệu, hồ sơ được lưu trữ đối với hoạt động giáo dục ATGT của các nhà trường, tác giả nhận thấy nhà trường có những quyết định có liên quan đến hoạt động giáo dục ATGT; Biên bản xử lí vi phạm của học sinh; Hình ảnh minh chứng, cam kết thực hiện ATGT của học sinh, của phụ huynh. Tuy nhiên, trong những báo cáo sơ kết, tổng kết của nhà trường không thể hiện được công tác kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục ATGT. Chưa thể hiện rõ công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục ATGT cho học sinh cũng như không có danh sách cá nhân được khen thưởng vì đã hoàn thành tốt công tác giáo dục ATGT.

Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông vẫn chưa “Lấy ý kiến đánh giá phản hồi từ phía HS, GV và các lực lượng giáo dục về hiệu quả các hoạt động giáo dục ATGT đã thực hiện.” (điểm TB 3,36); chưa thể “Đo lường mức độ đạt được của học sinh so với tiêu chuẩn đã đề ra để có cơ sở tiến hành bước tiếp theo” là đánh giá hiệu quả của công tác lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện giáo dục ATGT cho học sinh THPT.

Trong quá trình trao đổi, phỏng vấn CBQL được biết, nhà trường chủ yếu chú trọng công tác tuyên truyền, có những biện pháp xử lí đối với học sinh vi phạm giao thông nhưng chưa có điều kiện sơ tổng kết để đánh giá một cách tổng quát. Nhà trường đã ban hành thang điểm đánh giá, xếp loại thi đua về chấp hành nội quy, quy định về đảm bảo an ninh trật tự, ATGT. Giao ban thi đua tổng hợp đánh giá xếp loại thi đua của các lớp hàng tuần. GVCN đánh giá xếp loại học sinh về kết quả rèn luyện hàng tuần(CBQL1, CBQL3). Chưa thể đo lường mức độ đạt được của học sinh so với tiêu chuẩn đã đề ra để có cơ sở tiến hành bước tiếp theo. Chưa có những biện pháp điều chỉnh sự lệch chuẩn nếu kết quả đo lường không đạt được mục tiêu giáo dục ATGT. (CBQL2).

Như vậy, công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông chưa được thực hiện một cách toàn diện và cụ thể. Nhà trường không có thông tin cụ thể về cách thức theo dõi, giám sát và đánh giá hoạt động này. Điều này có thể gây khó khăn trong việc đo lường và cải thiện hiệu quả giáo dục ATGT cho học sinh.

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Công tác quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan và chủ quan. Mỗi yếu tố sẽ tác động đến công tác quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh THPT ở một mức độ nhất định. Kết quả khảo sát từ CBQL, GV các trường THPT công lập thành phố Phan Rang-Tháp Chàm cho chúng ta biết các mức ảnh hưởng cụ thể qua bảng số liệu sau đây:

  • Yếu tố khách quan

Bảng 2. 14: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông

Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông chủ yếu mang tính chất thúc đẩy công tác quản lý giáo dục ATGT hiệu quả. Các đối tượng khảo sát đánh giá khá khách quan và kết quả đạt được có nhiều mức độ khác nhau. Cụ thể:

  • Ảnh hưởng mức trung bình: Môi trường Kinh tế – Xã hội – Giáo dục; Văn hóa địa phương
  • Ảnh hưởng mức khá: Cơ chế và công cụ hỗ trợ hoạt động giáo dục ATGT
  • Rất ảnh hưởng: Giáo dục an toàn giao thông ngoài nhà trường; Giáo dục của gia đình.

Qua kết quả khảo sát phần nào cho chúng ta thấy được vai trò quan trọng của việc giáo dục ATGT ở phạm vi gia đình và những hoạt động giáo dục khác xảy ra ở bên ngoài nhà trường. Cha mẹ, người thân, người dân tham gia giao thông là tấm gương trong việc chấp hành Luật Giao thông. Cộng đồng tạo môi trường giao thông trật tự, an toàn, văn minh, thân thiện, từng bước giúp các em học sinh hình thành thói quen cư xử có văn hóa, đúng pháp luật, xóa bỏ những thói quen tùy tiện dẫn đến vi phạm Luật Giao thông.

  • Yếu tố chủ quan

Bảng 2. 15: Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông

Đối với các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông, kết quả khảo sát cho thấy: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

  • Ít ảnh hưởng: Nhận thức của cán bộ quản lý nhà trường về giáo dục ATGT cho HS trung học
  • Ảnh hưởng mức trung bình: Cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính
  • Ảnh hưởng mức khá: Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục ATGT cho HS trung học
  • Rất ảnh hưởng: Mức độ nhận thức của học sinh về việc chấp hành Luật giao thông

Nhận thức của cán bộ quản lý nhà trường về giáo dục ATGT cho học sinh trung học theo các đối tượng khảo sát thì ít ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động giáo dục ATGT. Điều quan trọng hơn cả chính là nhận thức của giáo viên và học sinh đối với hoạt động giáo dục này. Mỗi giáo viên, học sinh vừa là tấm gương trong việc chấp hành Luật Giao thông, vừa là một tuyên truyền viên tích cực trong việc giáo dục học sinh, bạn bè chấp hành tốt Luật Giao thông, góp phần đảm bảo trật tự an toàn giao thông, giảm thiểu tai nạn giao thông và các hành vi vi phạm khác.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Kết hợp các phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn, nghiên cứu hồ sơ và xử lí dữ liệu, người nghiên cứu có nhận định về ưu điểm, hạn chế của quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận như sau:

2.6.1. Ưu điểm

Đa số CBQL, GV, PHHS, HS nhận thức được tầm quan trọng, sự cần thiết của hoạt động giáo dục ATGT và quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh;

Các trường THPT đã xây dựng kế hoạch, chương trình giáo dục ATGT theo định kỳ năm học hoặc các buổi tổ chức chuyên đề đặc biệt về an toàn giao thông cũng như thông qua việc tích hợp, lồng ghép trong bộ môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật. Nhà trường cung cấp kiến thức và những kỹ năng cần thiết giúp học sinh hiểu và tuân thủ quy tắc giao thông an toàn.

Nhà trường đã thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa thông qua các cuộc thi, Hội thảo, trò chơi và chương trình giáo dục ngoại khóa liên quan đến an toàn giao thông. Những hoạt động này giúp học sinh thực hành và ứng dụng kiến thức giao thông vào thực tế. Giáo viên và cán bộ quản lý các nhà trường thường tham gia huấn luyện và hướng dẫn học sinh về an toàn giao thông. Điều này bao gồm việc hướng dẫn về Luật giao thông, kỹ năng lái xe, đi bộ an toàn, sử dụng phương tiện công cộng và giải quyết các tình huống giao thông phức tạp.

Các nhà trường đảm bảo môi trường trường học và xung quanh trường là an toàn cho học sinh tham gia giao thông; phối hợp với các tổ chức chính trị, đoàn thể trong và ngoài nhà trường để tổ chức các buổi tuyên truyền, tư vấn, thuyết trình hoặc chương trình giảng dạy về an toàn giao thông giúp học sinh hiểu rõ hơn về quy định giao thông và tăng cường tương tác với những chuyên gia trong lĩnh vực này.

2.6.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Bên cạnh những ưu điểm được nêu ở trên thì vẫn tồn tại một số hạn chế cần phải khắc phục đối với công tác quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh THPT. Cụ thể:

Một bộ phận CBQL, GV, PHHS và HS chưa nhận thức được đầy đủ về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh. Vẫn còn khá nhiều học sinh ý thức chấp hành luật giao thông chưa tốt. Các nhà trường chưa giúp học sinh hình thành thói quen ứng xử có văn hoá, đúng pháp luật; xoá bỏ những thói quen tuỳ tiện vi phạm quy tắc giao thông của học sinh.

Mục tiêu của hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông chỉ đạt ở mức trung bình-khá. Học sinh vẫn chưa xác định được cách phòng tránh tai nạn giao thông và xử lý tình huống khi có tai nạn giao thông trong khả năng của mình khi tham gia giao thông. Thậm chí, cách đi xe đạp, xe đạp điện an toàn và trang phục khi tham gia giao thông vẫn chưa được các em học sinh tuân thủ. Các phương pháp, hình thức giáo dục được sử dụng trong hoạt động giáo dục ATGT của các nhà trường chưa đa dạng, thu hút sự tham gia đông đảo, tích cực của học sinh. Điều kiện về nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính, sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội đối với hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tại các trường trung học phổ thông cần được cải thiện và nâng cao.

Công tác xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục ATGT chưa dự kiến tốt các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực và thời gian) cho hoạt động giáo dục ATGT. Các nhà trường chỉ thỉnh thoảng chỉ đạo thiết kế hoạt động giáo dục ATGT. Công tác phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong tổ chức hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh chưa tốt. Các nhà trường chưa đo lường mức độ đạt được kết quả giáo dục ATGT của học sinh so với tiêu chuẩn đã đề ra để có cơ sở tiến hành bước tiếp theo. Chưa tổ chức lấy ý kiến đánh giá phản hồi từ phía HS, GV và các lực lượng giáo dục về hiệu quả các hoạt động giáo dục ATGT đã thực hiện. Do đó, CBQL chưa tiến hành điều chỉnh sự lệch chuẩn một khi kết quả đo lường không đạt được mục tiêu giáo dục ATGT đề ra.

2.6.3. Nguyên nhân của thực trạng

  • Nguyên nhân khách quan Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Môi trường xã hội và kinh tế thành phố Phan Rang-Tháp Chàm ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và phát triển hệ thống giáo dục an toàn giao thông. Tuy nhiên, là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh Ninh Thuận nên giao thông trên địa bàn thành phố khá phức tạp đòi hỏi nâng cao nhận thức của HS về ATGT;

Kinh phí và nguồn lực có sẵn được sử dụng để cải thiện cơ sở vật chất, đào tạo giáo viên và cung cấp tài liệu giảng dạy chưa đầy đủ có ảnh hưởng đến kết quả thực hiện giáo dục ATGT cho học sinh;

Cơ chế quản lý chặt chẽ và các công cụ hỗ trợ như chính sách, quy định và quy trình đảm bảo rằng hoạt động giáo dục ATGT được thực hiện hiệu quả và đồng nhất trên toàn bộ hệ thống giáo dục là điều kiện thuận lợi trong giáo dục ATGT cho học sinh;

Văn hóa và giá trị địa phương ảnh hưởng đến nhận thức và ý thức về an toàn giao thông của cộng đồng. Hiện nay trên địa bàn thành phố đa số người dân coi trọng việc tuân thủ quy tắc giao thông và đặt sự an toàn lên hàng đầu, do đó hoạt động giáo dục ATGT được đánh giá cao và hưởng ứng tích cực.

Các hoạt động giáo dục ATGT diễn ra bên ngoài nhà trường, bao gồm các chương trình giáo dục của cơ quan chức năng, tổ chức xã hội và các tổ chức phi chính phủ được triển khai và có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả của hoạt động giáo dục ATGT.

Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục ATGT chưa chặt chẽ. Điều này ảnh hưởng đến kết quả giáo dục ATGT bởi vì, yếu tố gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt nhận thức và giáo dục ATGT cho học sinh. Mức độ chú trọng và hỗ trợ của gia đình trong việc giáo dục ATGT ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của học sinh trong quá trình tham gia giao thông.

  • Nguyên nhân chủ quan

Đa số CBQL, GV và HS nhận thức đúng đắn về giáo dục ATGT song một bộ phận CBQL, GV, HS chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về vấn đề này. Điều này ảnh hưởng đến mức độ ưu tiên và chất lượng của hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh.

Nhận thức của học sinh về quy tắc và quy định giao thông, cũng như khả năng áp dụng chúng vào hành vi thực tế còn hạn chế nên cũng ảnh hưởng đến kết quả giáo dục ATGT.

Ngoài ra, sự đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính cung cấp điều kiện cho hoạt động giáo dục ATGT (Ví dụ, phương tiện giảng dạy, bảng phụ, mô phỏng, tài liệu học tập và nguồn lực tài chính để tổ chức các hoạt động giáo dục ATGT) chưa được chú trọng nhiều cũng ảnh hưởng đến kết quả hoạt động giáo dục ATGT cho HS.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn và xử lí dữ liệu thống kê, người nghiên cứu đã khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động giáo dục ATGT và công tác quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh tại các trường THPT thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Qua khảo sát cho thấy, các nhà trường đã thực hiện giáo dục ATGT cho học sinh và đạt được một số kết quả khá tốt về: Phát triển nhận thức cho học sinh về an toàn giao thông; Áp dụng được các kỹ năng thực tế vào các hành vi hàng ngày khi các em đi trên đường.

Bên cạnh những ưu điểm đã nêu ở trên thì những hạn chế cũng thể hiện rõ như: Các nhà trường chưa xây dựng cho học sinh thói quen ứng xử có văn hoá, đúng pháp luật; chưa thể xoá bỏ những thói quen tuỳ tiện vi phạm quy tắc giao thông, hình thành ý thức tự giác tuân thủ pháp luật khi tham gia giao thông. Học sinh còn thờ ơ với những hành vi vi phạm luật giao thông, chưa xác định được cách phòng tránh tai nạn giao thông và xử lý tình huống khi có tai nạn giao thông trong khả năng của mình khi tham gia giao thông.

Quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh THPT là những tác động có chủ đích của Hiệu trưởng nhà trường thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra đánh giá nhằm giúp học sinh trung học phổ thông đạt được những kiến thức và kỹ năng cần thiết về giao thông, để mỗi học sinh khi tham gia giao thông đều có sự định hướng, ý thức chấp hành, tuân thủ luật giao thông do nhà nước quy định. Đề tài đã phân tích thực trạng quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh ở các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm theo các chức năng quản lý của hiệu trưởng. Kết quả khảo sát cho thấy, các trường đã lập kế hoạch, triển khai tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra thực hiện kế hoạch giáo dục ATGT cho học sinh khá thường xuyên và được đánh giá kết quả thực hiện khá. Tuy nhiên, vẫn còn một số CBQL, GV, PHHS, HS chưa có nhận thức đầy đủ về giáo dục ATGT. Trong quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho HS còn bất cập, hạn chế trong thực hiện một số công việc của các năng quản lý. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS.

Những ưu điểm, hạn chế và những nguyên nhân được nêu ở chương 2 là cơ sở thực tiễn để người nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ATGT cho học sinh tại các trường THPT thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục an toàn giao thông cho HS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993