Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam”.

Ngày 09/6/2020, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, trong đó xác định mục tiêu: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học” và Nghị quyết cũng đề ra bảy nhiệm vụ, bốn giải pháp trong đó có: “Xây dựng mỗi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống; giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ. Xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đoàn kết, dân chủ, văn minh, đạt chuẩn thực chất về văn hóa; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh. Ngày 24/3/2021 Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng ban hành Chỉ thị số 42-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2021 – 2030, ngày 28/8/2021 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1501/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2021 – 2026”, trong đó đã đưa ra mục tiêu và các chỉ tiêu chủ yếu để từ đó xây dựng được 6 nhiệm vụ giải pháp cũng như giao trách nhiệm tổ chức cho các Bộ, ngành thực hiện.

Ngoài ra, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 06/2025/TT-BGDĐT ngày 12/4/2025, về quy định quy tắc ứng xử trong các cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên trong đó đề cập đến quy tắc ứng xử chung, quy tắc ứng xử của cán bộ quản lý, của giáo viên, của nhân viên, của học sinh, của cha mẹ học sinh…

Trong nền kinh tế toàn cầu như hiện nay, nhất là khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại thế giới với nhiều thời cơ và thách thức, mặt trái của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế đã tác động lớn đến xã hội nói chung cũng như giáo dục (GD) nói riêng, nó làm cho bộ mặt văn hóa (VH) của xã hội dần bị biến dạng và đã có nhiều biểu hiện xuống cấp, tha hóa. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên tham gia vào các tệ nạn xã hội, đạo đức nhà giáo xuống cấp, tình trạng thiếu công bằng, gian lận trong thi cử, những hình ảnh về bạo lực học đường, về bạo hành trẻ em trong các cơ sở mầm non… liên tục được tung lên mạng Internet. Tất cả điều đó đã gây ra những hệ lụy đáng tiếc cho xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng giáo dục. Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Dưới góc độ thực tiễn của người quản lý nhà trường, thiết nghĩ: việc xây dựng văn hóa nhà trường để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nhà trường là vô cùng quan trọng, bởi nhà trường là cơ sở nền tảng, là tế bào của hệ thống GD. Thế nhưng, đề xuất các biện pháp hiệu quả để xây dựng văn hóa nhà trường (VHNT) hiện nay vẫn còn chưa được quan tâm đúng mức, các yếu tố tiêu cực từ môi trường VHNT tự phát đang tác động sâu sắc đến quá trình GD trong các trường Trung học phổ thông (THPT). Vậy các cán bộ quản lý cần phải làm gì để xây dựng và phát triển một môi trường VHNT lành mạnh, tích cực?

Tại các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, công tác xây dựng cảnh quan sư phạm được quan tâm, bước đầu đã xây dựng được các giá trị VHNT, cơ bản thiết lập được các quy tắc ứng xử, tiếp tục thực hiện các phong trào do Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) phát động…tuy nhiên cần tiếp tục tổ chức xây dựng VHNT một cách thực chất và hiệu quả hơn. Điều đó thúc đẩy chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương” làm luận văn thạc sỹ với hy vọng góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận, tìm hiểu về xây dựng VHNT THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, đồng thời đề xuất một số biện pháp trong công tác xây dựng VHNT, góp phần xây dựng môi trường GD lành mạnh, tích cực, nâng cao chất lượng GD toàn diện trong trường.

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận VHNT, đề tài tìm hiểu phân tích công tác xây dựng VHNT ở các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Từ đó, đề xuất các biện pháp xây dựng VHNT ở các trường THPT tại địa phương.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Công tác quản lý nhà trường ở trường Trung học phổ thông.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Xây dựng văn hóa nhà trường và các biện pháp thực hiện ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

4. Giả thuyết khoa học Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Công tác xây dựng văn hóa nhà trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã được quan tâm, thể hiện cụ thể như: Công tác xây dựng cơ sở vật chất, cảnh quan môi trường tự nhiên được chú trọng, bước đầu đã xây dựng được các giá trị VHNT, cơ bản thiết lập được các quy tắc ứng xử, tiếp tục thực hiện các phong trào do Bộ GD&ĐT phát động…tuy nhiên khuôn viên nhà trường, các khu vực học thực hành có lúc chưa thực hiện vệ sinh thường xuyên, văn hóa giao tiếp còn hạn chế, quy tắc ứng xử chưa thực hiện nghiêm túc, các giá trị văn hóa chưa rõ nét, công tác triển khai, kiểm tra xây dựng VHNT chưa được thực hiện sâu sát…

Nếu phân tích, đánh giá đúng thực trạng xây dựng VHNT ở các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương thì đề tài có thể đề xuất các biện pháp xây dựng VHNT ở các trường THPT tại địa phương có tính cần thiết và khả thi cao.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa lý luận về VHNT và xây dựng
  • Tìm hiểu và phân tích công tác xây dựng VHNT ở các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
  • Đề xuất các biện pháp xây dựng VHNT ở các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

6. Phạm vi nghiên cứu

6.1. Về nội dung

Văn hóa nhà trường bao gồm nhiều yếu tố đa dạng, phong phú. Đề tài tập trung nghiên cứu công tác xây dựng văn hóa nhà trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương dưới sự điều hành, lãnh đạo của hiệu trưởng nhà trường về một số lĩnh vực như: định hướng chiến lược phát triển nhà trường (tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị cốt lõi); giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong nhà trường; cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm.

6.2. Về địa bàn

Đề tài khảo sát công tác xây dựng VHNT ở các trường THPT công lập trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, gồm 4 trường THPT: Dầu Tiếng, Thanh Tuyền, Phan Bội Châu và Long Hòa.

6.3. Về thời gian

Đề tài khảo sát thực trạng trong thời gian hai năm học là năm học 2022 – 2023 và năm học 2023 – 2024.

7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

7.1. Phương pháp luận

7.1.1. Quan điểm hệ thống – cấu trúc

Vận dụng quan điểm hệ thống – cấu trúc vào nghiên cứu đề tài, chúng tôi xem xét xây dựng văn hóa nhà trường là một bộ phận của công tác quản lý nhà trường. Xây dựng văn hóa nhà trường là quá trình thực hiện các nội dung quản lý hệ thống với các bộ phận hợp thành: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu, nội dung, chức năng, phương pháp, qui trình có liên quan với nhau. Chủ thể quản lý với mục tiêu được xác định trong xây dựng văn hóa nhà trường, thực hiện các nội dung và chức năng quản lý bằng các biện pháp quản lý cụ thể tác động vào đối tượng quản lý để đạt được kết quả.

7.1.2. Quan điểm lịch sử – logic

Quan điểm lịch sử được người nghiên cứu vận dụng để đánh giá thực trạng văn hóa nhà trường và xây dựng văn hóa nhà trường tại các trường Trung học phổ thông trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, trong bối cảnh phát triển giáo dục của huyện nhà dưới sự chỉ đạo của Sở GD&ĐT tỉnh Bình Dương.

Quan điểm logic được người nghiên cứu vận dụng vào việc sắp xếp cấu trúc của đề tài theo logic nghiên cứu: lý luận là cơ sở, làm nền tảng và soi đường cho việc nghiên cứu thực tiễn; đề tài đặt ra giả thuyết nghiên cứu có tính chất phỏng đoán; việc nghiên cứu thực trạng nhằm tìm kiếm bằng chứng để chứng minh cho giả thuyết; nếu giả thuyết được chứng minh, giả thuyết sẽ trở thành kết luận của đề tài.

7.1.3. Quan điểm thực tiễn

Dựa theo quan điểm này, người nghiên cứu tiến hành khảo sát, phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh tại các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng để biết được những khó khăn, hạn chế và những biện pháp đã thực hiện trong xây dựng VHNT cũng như nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, hạn chế đó là gì, từ đó đề ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng VHNT tại các trường THPT của địa phương.

7.2. Phương pháp nghiên cứu

7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về văn hóa tổ chức, VHNT, xây dựng VHNT, vai trò lãnh đạo, quản lý trong việc xây dựng VHNT, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để hình thành cơ sở lý luận cho đề tài.

Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu, tài liệu trong và ngoài nước về lý luận quản lý, lý luận về văn hóa nhà trường, xây dựng VHNT để hình thành khung lý luận về xây dựng văn hóa nhà trường tại các trường THPT.

7.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích khảo sát: thu thập thông tin về công tác xây dựng văn hóa nhà trường dưới sự điều hành lãnh đạo của hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Đối tượng khảo sát: chúng tôi sử dụng 2 loại bảng hỏi: Loại thứ nhất dành cho cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên; loại thứ 2 dành cho học sinh.

Nội dung khảo sát: Tìm hiểu nhận thức về xây dựng văn hóa nhà trường, những thuận lợi, khó khăn trong xây dựng văn hóa nhà trường; công tác xây dựng văn hóa nhà trường tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Chúng tôi cũng sử dụng bảng hỏi để khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.

  • Phương pháp quan sát

Phương pháp này thực hiện bằng cách tiếp cận và xem xét cảnh quan sư phạm, bố trí, sắp xếp cơ sở vật chất, bảng hiệu, băng rôn, khẩu hiệu… để thu thập dữ liệu thực tế về công tác xây dựng văn hóa nhà trường tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

  • Phương pháp phỏng vấn

Trao đổi, trò chuyện với cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh… để nắm bắt thêm tình hình thực tế của nhà trường với mục đích tìm các kết luận thỏa đáng trong việc đánh giá kết quả thực trạng văn hóa nhà trường và đề xuất những biện pháp cụ thể, có tính khả thi.

  • Phương pháp phân tích hồ sơ, tài liệu, sản phẩm hoạt động

Thông qua các loại hồ sơ quản lý, các nội quy, quy định, các kế hoạch, các báo cáo…của các trường THPT trên địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập các minh chứng về công tác quản lý, xây dựng văn hóa nhà trường.

7.2.3. Phương pháp thống kê toán học Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Người nghiên cứu sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS for Windows, phiên bản 20.0 để xử lý các thông tin, phân tích các dữ liệu trong phiếu điều tra. Từ đó rút ra những kết luận, những so sánh.

8. Đóng góp của đề tài

Về lý luận: đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về công tác xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường Trung học phổ thông.

Về thực tiễn: nhận xét, đánh giá đúng công tác xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, từ đó đề xuất các biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường hiệu quả nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.

9. Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.
  • Chương 2: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
  • Chương 3: Biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Trên thế giới

Văn hóa nhà trường là một nội dung quan trọng của quản lý và lãnh đạo nhà trường. Việc xây dựng văn hóa trong các nhà trường nói chung và nhà trường THPT nói riêng từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đi sâu vào vấn đề này. Xuất phát điểm để nghiên cứu VHNT đó là xã hội học văn hóa và văn hóa tổ chức.

Dưới góc độ văn hóa tổ chức, tác giả Schein, E.H (1985) đã nghiên cứu một cách chi tiết về văn hóa tổ chức, các cấp độ cũng như biểu hiện của văn hóa tổ chức, sự hình thành và phát triển của văn hóa trong các loại hình tổ chức khác nhau. Đồng thời, nhà nghiên cứu cũng phân tích cụ thể vai trò lãnh đạo trong xây dựng, thay đổi nhằm phát triển, cải thiện văn hóa của tổ chức. Những nghiên cứu này của ông được sử dụng như một cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu VHNT – một tổ chức với những đặc trưng riêng biệt. Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Một tác giả khác cũng có nhiều đóng góp trong nghiên cứu văn hóa tổ chức là Geert Hofstede. Tác giả đưa ra các chiều đo văn hóa tổ chức, trên cơ sở đó phân tích sự khác nhau giữa văn hóa của các tổ chức, các quốc gia. Năm chiều đo kích thước văn hóa Geert Hofstede đưa ra bao gồm: khoảng cách quyền lực, chủ nghĩa cá nhân, nam tính hay nữ tính, sự không chắc chắn, định hướng dài hạn. Những nghiên cứu của ông cho đến nay vẫn là vấn đề được quan tâm tranh luận, đồng thời có những nghiên cứu trực tuyến sử dụng năm chiều đo kích thước VH để đánh giá văn hóa của các quốc gia trên toàn cầu (Geert Hofstede, 1991).

Với tính chất của một tổ chức, VHNT được nghiên cứu bởi nhiều tác giả.

  1. Kent E. Peterson và Terrence Deal là những người có nghiên cứu quan trọng về VHNT. Hai tác giả đã chỉ ra những biểu hiện cụ thể của VHNT, sự hình thành của VHNT, phân tích các yếu tố của VHNT tích cực cũng như chỉ ra các biểu hiện cụ thể của VHNT độc hại. Để khắc phục những yếu tố độc hại còn tồn tại trong VHNT và nuôi dưỡng những yếu tố của VHNT tích cực đòi hỏi phải có vai trò lãnh đạo của người hiệu trưởng. Trong cuốn “Shaping school culture fieldbook”,
  2. Kent E. Peterson và Terrence Deal đã đưa ra các chỉ dẫn cụ thể để đánh giá VHNT và định hình lại VHNT theo hướng tích cực (D. Kent E. Peterson và Terrence Deal, 2010).

Ngoài ra, các tác giả khác như Christopher R. Wagner, Gerald C. Ubben, Larry W. Hugies, Cynthia J. Norris… cũng đã nghiên cứu cụ thể về ảnh hưởng của VHNT đến chất lượng GD, đồng thời đưa ra một số công cụ để đánh giá thực trạng VHNT, qua đó làm cơ sở cho việc nuôi dưỡng vun trồng những giá trị VH tích cực, cải thiện những yếu tố độc hại còn tồn tại trong VHNT.

1.1.2. Ở Việt Nam

VHNT từ lâu đã được nghiên cứu ở nước ta nhưng là nghiên cứu ở một số khía cạnh, biểu hiện cụ thể đơn lẻ như văn hóa học đường, văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp… trong nhà trường.

VHNT với tính trọn vẹn như văn hóa của một tổ chức chỉ được đề cập đến trong các nghiên cứu gần đây về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường. Tác giả Trần Kiểm (2008) nghiên cứu theo hướng áp dụng các vấn đề cơ bản của văn hóa tổ chức vào giáo dục và quản lý giáo dục. Tác giả chỉ ra bộ ba cấu thành nên văn hóa tổ chức đó là nhận thức – hành vi – thái độ và được xem xét trong mối quan hệ với các yếu tố bên trong và với môi trường bên ngoài của tổ chức.

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong tài liệu về quản lý VHNT của mình đã hệ thống lại các vấn đề cơ bản của văn hóa tổ chức cũng như VHNT, từ đó đưa ra những gợi ý và những hướng vận dụng trong xây dựng VHNT đối với các nhà trường ở Việt Nam.

Tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2020) trong chuyên đề xây dựng và phát triển nhà trường đã nêu lên những vấn đề cơ bản của VHNT để từ đó đề xuất các nội dung, biện pháp cũng như xác định vai trò của hiệu trưởng trong xây dựng VHNT. Phạm Quang Huân (2007) trong bài “Văn hóa tổ chức – Hình thái cốt lõi của VHNT” cũng tiếp tục khẳng định, VHNT là văn hóa của một tổ chức. Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Tác giả phân tích 7 biểu hiện trong hình thái và cấp độ biểu hiện của VHNT đồng thời đưa ra 5 lý do để khẳng định tầm quan trọng của VHNT đối với chất lượng giáo dục: văn hóa là tài sản lớn của bất kỳ một tổ chức nào, VHNT tạo động lực làm việc, VHNT hỗ trợ điều phối và kiểm soát, VHNT hạn chế tiêu cực và xung đột, văn hóa nâng cao chất lượng các hoạt động trong nhà trường.

Trong quyển sách “Bối cảnh mới, ngôi trường mới, nhà quản lý GD mới” của tác giả Tô Xuân Dân chủ biên (2006) đã đề cập đến xây dựng VH tổ chức trong ngôi trường mới với cấu trúc VH tổ chức, những hình thái cốt lõi của VHNT, tạo dựng hệ giá trị cốt lõi và xây dựng, duy trì, phát triển VH học đường.

Trong Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ GD&ĐT đã phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2019 với mục tiêu, yêu cầu và nội dung cụ thể trong đó đề cập đến năm nội dung thực hiện như: xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn. Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của HS ở mỗi địa phương, giúp HS tự tin trong học tập. Rèn luyện kỹ năng sống cho HS. Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh. HS tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, VH ở địa phương.

Tóm lại, các nghiên cứu, các văn bản chỉ đạo nói trên nhìn chung tập trung vào hai hướng cơ bản: thứ nhất, các vấn đề lý thuyết của VHNT (sự hình thành và phát triển của VHNT, cấu trúc, các cấp độ và biểu hiện của VHNT, vai trò của VHNT, vai trò của hiệu trưởng trong xây dựng VHNT…), thứ hai, nghiên cứu và xây dựng các công cụ, đưa ra các hướng dẫn để vận dụng vào thực tiễn nhằm đánh giá VHNT, định hình VHNT theo hướng tích cực; thực hiện những nghiên cứu cụ thể về đánh giá VHNT hay xây dựng các giá trị của văn hóa trường học như những gợi ý hay hướng dẫn để các nhà trường có thể áp dụng vào điều kiện thực tế của trường mình.

Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về “Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương”.

1.2. Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

1.2.1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

  • Khái niệm quản lý

Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia trong mọi thời đại mà qua đó có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Tuy các cách diễn đạt về quản lý có những điểm khác nhau nhưng chúng tôi nhận thấy khái niệm quản lý bao hàm ý nghĩa chung là:

Quản lý là một dạng hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo hoàn thành công việc chung qua việc phối hợp những nỗ lực của mọi người trong tổ chức.

Quản lý là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là một nhà nước.

Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý, thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động khiến hệ thống ổn định, phát triển, đạt được những mục tiêu đã định.

Dựa vào những quan niệm nêu trên, chúng tôi hiểu: quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu chung. Bản chất của quản lý là một loại lao động đặc biệt nhằm điều khiển lao động xã hội ngày càng phát triển. Các loại hình lao động càng phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng.

  • Khái niệm quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành. Cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Những khái niệm về quản lý giáo dục (QLGD) tuy có những điểm khác nhau trong cách diễn đạt nhưng nhìn chung đó là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.

Trong QLGD, chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy QLGD từ Trung ương đến Địa phương, còn đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục đào tạo. Hiểu một cách cụ thể là:

QLGD là hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng bị quản lý.

QLGD là sự tác động lên tập thể GV, HS và các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt được những mục đích đã định.

Như vậy, có thể hiểu khái quát: QLGD là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, thực hiện các chức năng quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu mong muốn.

  • Khái niệm quản lý nhà trường Trung học phổ thông Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Nhà trường hay trường học là “Nơi tiến hành công tác giảng dạy, đào tạo toàn diện hay về một lĩnh vực chuyên môn nào đó cho những tập thể học sinh, học viên” (Hoàng Phê – chủ biên, 1992).

Như vậy, trường học là cơ sở GD, trực tiếp GD, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước; là nơi thực hiện việc giáo dục đạo đức, lối sống cũng như tư tưởng chính trị cho HS.

Quản lý trường học là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS, hoạt động phục vụ việc dạy và học của cán bộ, nhân viên trong nhà trường. Nhà trường là cơ quan chuyên môn của ngành GD&ĐT, là đơn vị cơ sở trực tiếp GD&ĐT, hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú nhưng cũng vô cùng phức tạp, nên việc quản lý, lãnh đạo khoa học sẽ bảo đảm đoàn kết, thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục.

Theo tác giả Phạm Minh Hạc (1996): “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”.

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý nhà trường phổ thông là quản lý dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác, để dần tới mục tiêu giáo dục”.

Như vậy QL nhà trường là những hoạt động của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến tập thể GV, NV, tập thể HS, cha mẹ HS, các lực lượng xã hội (trong và ngoài nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường. Quản lý nhà trường chính là quản lý cơ sở GD, quản lý ở tầm vi mô. Có thể thấy công tác quản lý nhà trường bao gồm xử lý các tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường.

1.2.2. Khái niệm văn hoá, văn hoá tổ chức, văn hóa nhà trường

  • Văn hóa

Khi bàn về phạm trù “Văn hóa nhà trường”, đã có nhiều ý kiến xoay quanh việc sử dụng thuật ngữ “Văn hóa” để lý giải cho khái niệm VHNT. Đến nay các nhà khoa học vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về văn hóa.

Khái niệm văn hóa được lý giải theo hai nguồn gốc phương Đông và phương Tây. Trong tiếng Hán, “văn” nghĩa là đẹp, “hóa” nghĩa là thay đổi, biến đổi, từ đó “văn hóa” được hiểu là làm cho đẹp đẽ. Về sau, “văn hóa” được hiểu là dùng Thi, Thư, Lễ, Nhạc… để giáo hóa dân chúng, đối lập với dùng uy quyền, vũ lực, áp chế. Với phương Tây, văn hóa có nguồn gốc từ tiếng La Tinh là Cultura, tiếng Pháp là Culture, tiếng Anh là Culture, tiếng Đức là Kultur. Cultura gốc Cultus nghĩa khởi nguyên là canh tác, vun trồng, vốn là một thuật ngữ trong lĩnh vực nông nghiệp, trồng trọt. Một hạt giống nếu được vun trồng, chăm sóc cẩn thận đúng cách sẽ lớn nhanh, ra hoa kết trái, phục vụ lợi ích con người. Ngược lại nếu không được chăm sóc sẽ lụi tàn, cằn cỗi, hoang dại. Sau đó người ta thấy sự chăm sóc này cũng cần thiết đối với quá trình trưởng thành của một con người. Do đó, cultura mang theo nét nghĩa mở rộng “giáo dục, rèn luyện để bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho con người”.

Theo định nghĩa của UNESCO, “Văn hóa là một bộ phận không thể tách rời của cuộc sống và nhận thức – một cách hữu thức cũng như vô thức – của các cá nhân và các cộng đồng. Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc…” (Dẫn theo Lê Thị Ngọc Thúy, 2020).

Theo định nghĩa của Trần Ngọc Thêm (2006) thì “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.

Như vậy, theo chúng tôi thấy định nghĩa của Trần Ngọc Thêm về VH được coi là khá đầy đủ và toàn diện vì VH là một hệ thống hữu cơ, nó bao gồm cả các giá trị vật chất lẫn tinh thần, được con người sáng tạo, tích lũy qua nhiều thế hệ trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường.

  • Văn hóa tổ chức Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Trong một xã hội, có rất nhiều cấp độ văn hóa khác nhau như: Văn hóa dân tộc, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa nhà trường… Định nghĩa văn hóa tổ chức được đưa ra bởi nhiều nhà nghiên cứu.

Theo Shwartz và Davis, “Văn hóa tổ chức là lối tư duy và lối làm việc đã thành thói quen và truyền thống, nó được chia sẻ ở mức độ nhiều hay ít giữa các tất cả các thành viên; những điều đó các thành viên mới phải học và ít nhất phải chấp nhận một phần để hòa đồng với các thành viên và tổ chức” (Dẫn theo Nguyễn Thu Linh, Hà Hoa Lý, 2005).

Theo Tô Xuân Dân (2011): Văn hóa tổ chức là hệ thống niềm tin, giá trị và chuẩn mực ứng xử được xây dựng trong quá trình hình thành và phát triển của tổ chức đó và được thể hiện trong các hình thái vật chất, phi vật chất và hành vi của các thành viên.

Dựa vào những quan niệm nêu trên, chúng tôi hiểu: Văn hóa tổ chức chính là những giá trị được tích lũy trong quá trình hình thành và phát triển của tổ chức, là những cách thức đúng định hướng cho các thành viên trong tổ chức nhận thức, suy nghĩ, hành động. Văn hóa tổ chức tạo nên nét riêng biệt của tổ chức đó so với các tổ chức khác.

  • Văn hóa nhà trường

Văn hoá nhà trường có đầy đủ đặc tính của văn hóa tổ chức song nó có những đặc trưng riêng. Theo Christopher R. Wagner, “VHNT là sự chia sẻ những kinh nghiệm cả trong và ngoài nhà trường (truyền thống và lễ kỉ niệm), tạo nên những cảm xúc về cộng đồng, gia đình và thành viên của một nhóm”.

Kent D. Peterson and Terrence E. Deal (2010) định nghĩa “VHNT là một dòng chảy ngầm của những chuẩn mực, giá trị, niềm tin, truyền thống và nghi lễ được hình thành theo thời gian do con người làm việc cùng nhau, giải quyết các vấn đề và đối mặt với các thách thức…định hình suy nghĩ, cảm xúc và hành động của con người trong nhà trường… tạo cho nhà trường sự khác biệt”. Hai tác giả này nhấn mạnh: “Trường học cũng là một nền văn hóa có cá tính độc đáo của riêng mình”.

Định nghĩa của Joan Richardson nhấn mạnh vào sự hình thành của VHNT: “VHNT là sự tích lũy các giá trị và chuẩn mực của nhiều người. Đó là sự đồng thuận về những gì quan trọng. Đó là những kì vọng của tập thể chứ không phải những kì vọng của một cá nhân” (Dẫn theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc). Các tác giả Urben G.C., Hugies L.W., Noris C.J. đưa ra định nghĩa về VHNT gắn liền với chất lượng giáo dục: “Một nhà trường tốt có chuẩn chất lượng cao, có kì vọng cao đối với học sinh, có môi trường giảng dạy và học tập tốt, hay nói cách khác là có văn hóa nhà trường tốt” (Dẫn theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc).

  • Từ những định nghĩa trên có thể rút ra những vấn đề cơ bản trong định nghĩa VHNT đó là:

VHNT là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử…VHNT là những nét đặc trưng riêng biệt, tạo nên sự khác biệt của nhà trường với các tổ chức khác và sự khác biệt giữa trường này với trường khác.

VHNT liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của một nhà trường. VHNT là những giá trị tốt đẹp được hình thành bởi một tập thể và được mỗi cá nhân trong nhà trường chấp nhận. VHNT tốt hướng tới chuẩn chất lượng cao.

Như vậy, VHNT có thể được hiểu là hệ thống niềm tin, giá trị, chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổ chức sư phạm.

1.2.3. Khái niệm xây dựng văn hóa nhà trường trung học phổ thông Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1992) thì xây dựng là làm cho hình thành một tổ chức hay một chỉnh thể về xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá theo một phương hướng nhất định hoặc xây dựng là tạo ra, sáng tạo ra cái có giá trị tinh thần, có ý nghĩa trừu tượng.

  • Từ khái niệm văn hóa nhà trường và khái niệm xây dựng trình bày ở trên có thể hiểu:

Xây dựng VHNT là tạo ra hay hình thành được những hệ thống niềm tin, giá trị, chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổ chức sư phạm.

Văn hóa nhà trường có ảnh hưởng to lớn đối với giáo dục của nhà trường. Xây dựng và phát triển VHNT có ý nghĩa tích cực đối với CBQL, GV, NV và HS. Hình thành, phát triển VHNT là một quá trình, đòi hỏi trách nhiệm của nhiều người, trong đó hiệu trưởng đóng vai trò quyết định.

Để một trường phổ thông hoạt động hiệu quả, người hiệu trưởng phải biết đóng vai trò như một nhà quản lý, một huấn luyện viên, một nhà lãnh đạo luôn quan tâm sâu sát, tập trung đồng bộ vào rất nhiều nội dung như: quản lý đội ngũ nhà giáo, quản lý HS, quản lý hoạt động dạy học, quản lý CSVC, quản lý các nguồn lực; xây dựng các chiến lược, các kế hoạch, thiết lập các mối quan hệ và tổ chức triển khai, phân công nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh các mặt hoạt động…

Ngoài những nội dung quản lý ở trên, có một nội dung không kém phần quan trọng đó là xây dựng VHNT vì khi bước vào một nhà trường, người ta cảm nhận được bầu không khí đặc trưng của nhà trường qua hàng loạt các dấu hiệu, biểu hiện dễ thấy hoặc ngầm định khó thấy. Mỗi nhà trường đều tự mình biểu lộ ra bên ngoài một hình ảnh tốt đẹp hoặc tầm thường nào đó. Hình ảnh này được tạo nên bởi người dạy, người học, người quản lý nhà trường, được chuyển tải và phản ánh bởi đồng nghiệp trong địa phương và phụ huynh cũng như cộng đồng xã hội xung quanh, bởi cơ quan quản lý và người sử dụng sản phẩm giáo dục.

1.3. Lý luận về văn hóa nhà trường trung học phổ thông Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

1.3.1. Khái quát về trường trung học phổ thông

Theo Điều lệ nhà trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2026/TT- BGDĐT ngày 15/9/2026 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT: Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng. Trường Trung học được tổ chức theo hai loại hình:

  • Trường trung học công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập và trực tiếp quản lý. Nguồn đầu tư xây dựng CSVC và kinh phí cho chi thường xuyên của trường trung học công lập chủ yếu do ngân sách nhà nước bảo đảm.
  • Trường trung học tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và bảo đảm điều kiện hoạt động, được thành lập theo quy định của pháp luật. Nguồn đầu tư xây dựng CSVC và kinh phí hoạt động của trường trung học tư thục là nguồn ngoài ngân sách nhà nước.

Hệ thống trường trung học bao gồm: Trường trung học có một cấp học. Trường phổ thông có nhiều cấp học. Trường chuyên biệt và cơ sở giáo dục khác trong đó:

  • Trường trung học có một cấp học bao gồm: Trường trung học cơ sở. Trường trung học phổ thông.
  • Trường phổ thông có nhiều cấp học bao gồm: Trường tiểu học và trung học cơ sở. Trường trung học cơ sở và trung học phổ thông. Trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Theo Điều lệ nhà trường qui định, trường Trung học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

  • Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển nhà trường gắn với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương; xác định tầm nhìn, sứ mệnh, các giá trị cốt lõi về giáo dục, văn hóa, lịch sử và truyền thống của nhà trường.
  • Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường theo chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành. Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong tổ chức các hoạt động giáo dục.
  • Tuyển sinh và tiếp nhận HS, quản lý HS theo quy định của Bộ GD&ĐT. Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công. Tổ chức cho GV, NV, HS tham gia các hoạt động xã hội. Quản lý giáo viên, nhân viên theo quy định của pháp luật.
  • Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục theo quy định của pháp luật. Quản lý, sử dụng và bảo quản CSVC, trang thiết bị theo quy định của pháp luật. Thực hiện các hoạt động về bảo đảm chất lượng giáo dục, đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục theo quy định của Bộ GD&ĐT.
  • Thực hiện công khai về cam kết chất lượng giáo dục, các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục và thu, chi tài chính theo quy định của pháp luật. Thực hiện dân chủ, trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục trong quản lý các hoạt động giáo dục; bảo đảm việc tham gia của học sinh, gia đình và xã hội trong quản lý các hoạt động giáo dục theo quy định của pháp luật. Thực hiện các nhiệm vụ và quyền khác theo quy định của pháp luật.

1.3.2. Cấu trúc và biểu hiện của văn hóa nhà trường trung học phổ thông Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Hầu hết các nhà nghiên cứu khi bàn về cấu trúc VHNT đều nhất trí với một trong hai mô hình cấu trúc sau đây:

Mô hình thứ nhất – Mô hình tảng băng (hai tầng bậc): Mô hình này được đưa ra bởi Frank Gonzales (1978). Theo ông, văn hóa tổ chức giống như một tảng băng, có văn hóa biểu hiện ở bề mặt và văn hóa ở chiều sâu. Trong đó, bề mặt văn hóa là những thành tố dễ nhìn thấy, dễ quan sát được và dễ thay đổi. Bề sâu của văn hóa là các giá trị, niềm tin và các ý nghĩ của con người mà chúng ta khó quan sát được hoặc khó thay đổi. Đây là mô hình nhiều nhà nghiên cứu của Việt Nam sử dụng khi bàn về cấu trúc của VHNT. Theo mô hình này, VHNT giống như tảng băng, bao gồm phần nổi và phần chìm.

Sơ đồ 1.1. Mô hình tảng băng (hai tầng bậc)

  • Mô hình thứ hai – Mô hình cấu trúc 3 tầng bậc:

Đây là mô hình của văn hóa tổ chức mà Edgar H. Schein đưa ra và được áp dụng vào VHNT. Theo mô hình này, VHNT bao gồm 3 tầng bậc:

Tầng thứ nhất: những yếu tố hữu hình – có thể quan sát được như trang phục của giáo viên, của học sinh, việc thiết kế các tòa nhà, việc bố trí lớp học, phòng làm việc, khu vực vui chơi, giải trí, khu vực vệ sinh, khu vực trồng cây xanh, hoa kiểng; việc sắp xếp các khẩu hiệu, logo, nội quy, chuẩn mực đạo đức, sơ đồ nhà trường… trong khuân viên, trong từng dãy nhà, trong từng phòng học, phòng làm việc, yếu tố vệ sinh trong khuôn viên, trong các hành lang các khối nhà, trong lớp học, trong phòng bộ môn, trong phòng làm việc, hiệu lệnh trống/ chuông trong nhà trường cũng như cơ sở vật chất khác.

Tầng thứ hai: những giá trị được thể hiện, bao gồm tầm nhìn, sứ mệnh, triết lý hoạt động, giá trị cốt lỗi, niềm tin, thái độ, cách ứng xử, thái độ của cán bộ, GV, HS, các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp, các chính sách tạo cơ hội công bằng, chất lượng dịch vụ.

Tầng thứ ba: những giả thiết cơ bản – bao gồm những yếu tố liên quan đến môi trường xung quanh, thực tế của tổ chức, đến hoạt động và mối quan hệ giữa con người trong tổ chức. Ngầm định nền tảng về niềm tin, nhận thức và xúc cảm được coi là đương nhiên. Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Trong hai mô hình này, mô hình 3 cấp độ của VHNT phản ánh chặt chẽ và đầy đủ hơn về cấu trúc của VHNT. Trong đó, đặc biệt cần nhấn mạnh ở đây là những giả thiết cơ bản – tầng thứ ba trong cấu trúc văn hóa. Theo Edgar H. Schein (1985), tầng giả định cơ bản bề sâu chính là những giả thiết ban đầu, được hỗ trợ bởi một linh cảm hay một giá trị nào đó, được sử dụng liên tục khi giải quyết một vấn đề, dần dần trở thành hiện thực. Tầng giả thiết cơ bản bề sâu này sẽ quyết định đến cách giải quyết, nhìn nhận, xem xét mọi vấn đề của tổ chức, nó chi phối việc lựa chọn phương án nào, giá trị nào. Ví dụ: nếu giả định là các thành viên có người tích cực, có người lười biếng, biện pháp tổ chức sử dụng là giám sát chặt chẽ việc chấp hành giờ giấc làm việc của mỗi cá nhân. Ngược lại, nếu giả định là tất cả các thành viên đều năng động và có trách nhiệm, tổ chức sẽ khuyến khích mọi người làm việc theo cách riêng và theo tốc độ riêng của mỗi người. Tầng giả định cơ bản này có mối quan hệ chặt chẽ, chi phối đến hai tầng còn lại là những yếu tố hữu hình và những giá trị được thể hiện.

Tuy nhiên để có thể xác định được tầng giả định trong cấu trúc VHNT đòi hỏi phải có thời gian dài tìm hiểu, thâm nhập vào thực tế nhà trường. Có thể thấy, mô hình của Edgar. H. Schein có cách tiếp cận VHNT rất độc đáo, rõ ràng và toàn diện cả chiều rộng lẫn chiều sâu, chỉ ra được mối quan hệ mật thiết giữa các yếu tố. Tuy vậy, giữa các tầng còn có sự trùng lặp nhất định.

Đối với hai mô hình trên, mô hình tảng băng được minh họa cụ thể, dễ quan sát, dễ nắm bắt vấn đề và được chia thành hai phần rõ ràng như trên. Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung đề cập tới xây dựng VHNT bao gồm một số yếu tố cơ bản của VHNT là: cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm, mối quan hệ giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong nhà trường cũng như định hướng chiến lược về tầm nhìn, sứ mệnh, các giá trị cơ bản của nhà trường…

VHNT là tập hợp tất cả những yếu tố làm nên đặc trưng riêng biệt của nhà trường này so với nhà trường khác và so với các tổ chức khác cho nên các biểu hiện của VHNT đặc biệt phong phú. Tuy nhiên, khi tìm hiểu về VHNT, các biểu hiện cụ thể thường được đề cập đến đó là:

  • Định hướng chiến lược của nhà trường bao gồm sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi:

Sứ mệnh khẳng định mục đích, lý do sự tồn tại của nhà trường; các lĩnh vực phục vụ ưu tiên và cách thức phục vụ sẽ thực hiện để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Tuyên ngôn sứ mệnh sẽ làm rõ trọng tâm của nhà trường, giúp giáo viên và học sinh hiểu rõ nhu cầu của họ sẽ được đáp ứng như thế nào. Hơn thế nữa, tuyên ngôn sứ mệnh của nhà trường không chỉ nhắm vào đối tượng giáo viên và học sinh, mà còn hướng tới các đối tượng mà nhà trường phục vụ, trong đó có cả cha mẹ học sinh, các doanh nghiệp và cộng đồng xã hội.

Tầm nhìn là ý tưởng về tương lai của nhà trường có thể đạt được, thể hiện mong muốn của nhà trường và cộng đồng.

Liên quan tới cả sứ mệnh và tầm nhìn là giá trị. Nếu như sứ mệnh phản ánh đặc điểm tổng quát của nhà trường, tầm nhìn phản ánh cảm hứng và khát vọng của nhà trường, thì giá trị phản ánh trái tim và tâm hồn của nhà trường. Giá trị là điều mà nhà trường cam kết thực hiện cho các bên có liên quan, các nguyên tắc chỉ đạo hành vi của các thành viên trong nhà trường. Những giá trị cốt lõi của nhà trường là những giá trị tạo thành nền tảng, trên cơ sở đó nhà quản lý tổ chức và quản lý mọi hoạt động. Giá trị trường học thường được diễn đạt bao gồm: thái độ của CBQL, GV, NV và HS; các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp; các chính sách tạo cơ hội công bằng; chất lượng giáo dục.

Cảnh quan sư phạm: Là toàn bộ cách sắp xếp, bố trí tranh ảnh, khẩu hiệu, cây cảnh, cây xanh, phòng học, phòng làm việc, thư viện, phòng thực hành, sân chơi, bãi tập, nhà vệ sinh, nhà để xe… và các cơ sở vật chất khác phục vụ cho hoạt động dạy học – giáo dục, nghiên cứu khoa học của nhà trường. Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Môi trường sư phạm: bao gồm cả môi trường tự nhiên (môi trường vật chất) và môi trường xã hội. Môi trường sư phạm của nhà trường phải đạt yêu cầu cao về xanh – sạch – đẹp – an toàn. Môi trường tự nhiên thể hiện qua độ chiếu sáng trong phòng học, phòng làm việc; thông gió, mát mẻ; sơn trần, sơn tường; cây xanh, bóng mát; tiếng ồn, độ thông thoáng; vệ sinh môi trường; qui cách bàn ghế; sự thuận lợi khi di chuyển giữa các khối công trình để liên hệ, phối hợp công tác; phương tiện truyền thông v.v… Môi trường xã hội thể hiện ở bầu không khí tâm lý trong tập thể, sự thân thiện, cởi mở, đoàn kết trong nội bộ, sự ảnh hưởng hoặc không bị ảnh hưởng bởi các tệ nạn xã hội, môi trường an toàn…

Quan hệ giao tiếp, ứng xử: bao gồm quan hệ giữa con người với nhau; con người với công việc; con người với môi trường và con người với chính mình.

Quan hệ giữa con người với con người. Đó là quan hệ giữa thầy cô giáo và học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục thể hiện trong văn hóa ứng xử giữa thầy và trò. Đó là quan hệ giữa cán bộ, GV với nhau. Đây là mối quan hệ hợp tác, tin cậy, giúp đỡ nhau trong chuyên môn, chia sẻ, cảm thông với những hoàn cảnh riêng tư của nhau, tôn trọng cá tính của nhau. Đó là quan hệ giữa những người lãnh đạo với cấp dưới. Người lãnh đạo tôn trọng mọi người, khéo léo trong ứng xử, quan tâm đến cuộc sống, tâm tư tình cảm của cấp dưới, khách quan, vô tư trong cư xử, không lạm dụng quyền lực, biết lắng nghe và thấu hiếu, biết phát huy tinh thần sáng tạo của cấp dưới. Cấp dưới tôn trọng, tin tưởng sự điều hành, chỉ đạo của người lãnh đạo. Đó là quan hệ giữa HS với nhau. Cần xây dựng mối quan hệ đoàn kết hợp tác, giúp đỡ nhau trong học tập và cuộc sống…

Quan hệ giữa con người với công việc. Đó là quan hệ giữa người lãnh đạo với công tác quản lý, điều hành; người giáo viên với công việc giảng dạy, giáo dục; người cán bộ nhân viên với công việc chuyên môn nghiệp vụ của mình; người học sinh với nhiệm vụ học tập và rèn luyện. Mối quan hệ giữa con người với công việc thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của mỗi cá nhân với công việc của mình và hoàn thành công việc với chất lượng cao.

Quan hệ giữa con người với môi trường. Đó là ý thức sử dụng và bảo vệ môi trường sống và làm việc: sử dụng cơ sở vật chất đúng mục đích, yêu cầu công việc; có ý thức giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường; xây dựng môi trường an toàn và tiết kiệm năng lượng.

Quan hệ giữa con người với chính mình. Mỗi người phải biết tự đánh giá mình, tự tin nhưng không tự mãn. Mỗi người phải biết tự học, tự rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ…

1.3.3. Vai trò của văn hóa nhà trường trung học phổ thông Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

VHNT có ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động diễn ra trong nhà trường đó. Theo Deal và Peterson (2010), văn hóa ảnh hưởng và định hình đến cách mà giáo viên, học sinh, cán bộ quản lí suy nghĩ, cảm nhận và hành động. VHNT quyết định đến việc các thành viên trong nhà trường tập trung chú ý vào cái gì, họ cam kết như thế nào với nhà trường, họ nỗ lực làm việc đến đâu và mức độ họ đạt được mục tiêu đề ra. Như vậy, VHNT định hướng sự tập trung của các thành viên nhà trường vào hành vi hàng ngày và tăng cường sự chú ý vào những gì quan trọng và có giá trị. Nếu các giá trị và chuẩn mực cơ bản củng cố cho việc học tập, nhà trường sẽ tập trung vào hoạt động học tập trong nhà trường. VHNT giúp xác định và xây dựng cam kết của nhà trường đối với các giá trị cốt lõi. Nếu những nghi lễ, truyền thống, lễ kỷ niệm tạo ra tình cảm cộng đồng, đội ngũ nhà giáo, học sinh và cộng đồng đó sẽ xác định với nhà trường và cam kết với những giá trị cốt lõi và các mối quan hệ ở đây. Đồng thời, VHNT tích cực làm tăng động lực làm việc. Khi nhà trường công nhận những thành quả, giá trị của những nỗ lực và cổ vũ cho những cam kết, đội ngũ nhà giáo cảm thấy có thêm động lực để làm việc chăm chỉ, cải tiến và ủng hộ sự thay đổi. Nếu một nhà trường có bối cảnh không rõ ràng về mục đích, thiếu một tầm nhìn có khả năng truyền cảm hứng tới mọi người, ít các buổi lễ mừng thành quả, đội ngũ nhà giáo sẽ biểu hiện thiếu năng lượng trong suốt quá trình làm việc. Ngoài ra, VHNT tích cực góp phần quan trọng cải thiện hiệu quả và năng suất làm việc trong nhà trường. Giáo viên và học sinh thành công hơn trong một môi trường văn hóa mà ở đó nuôi dưỡng sự nỗ lực làm việc, cam kết với những giá trị đến cuối cùng, chú ý giải quyết các vấn đề và tập trung vào việc học tập của tất cả học sinh.

Craig Jerald (2006) cũng cho rằng, một VHNT tích cực có thể nhận ra ngay lập tức khi ta bước chân vào ngôi trường đó. Biểu hiện của nó là một bầu không khí yên ổn, trật tự, kỷ luật, thúc đẩy các hoạt động trong nhà trường bằng một cảm giác thú vị, sống động về những mục đích mà nhà trường hướng tới. Trong môi trường đó, HS cảm thấy tự tin và đĩnh đạc, GV nói về công việc của họ với cường độ và tính chuyên nghiệp. GV, HS đều cảm thấy hạnh phúc, tự tin hơn là áp lực và căng thẳng. Tất cả mọi người đều biết rõ họ là ai và tại sao họ ở đây. Giáo viên – học sinh đối xử với nhau bằng sự tôn trọng như những đối tác. Theo Craig Jerald, để VHNT phục vụ hiệu quả cho kết quả GD, cần phải làm cho nó trở nên tích cực thông qua tầm nhìn và giá trị của nhà trường, đồng thời phải làm cho nó trở nên mạnh mẽ thông qua tất cả các mối liên kết trong nhà trường.

Văn hóa có tác động rất lớn đến chất lượng giáo dục trong nhà trường thông qua những ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến người dạy và người học.

Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận sự ảnh hưởng của VHNT đến chất lượng giáo dục khi so sánh hai môi trường VHNT: Môi trường VHNT tích cực và môi trường VHNT độc hại. Một môi trường văn hóa tích cực sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. Ngược lại, môi trường VHNT có những yếu tố độc hại sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng GD trong nhà trường. VHNT ảnh hưởng đến chất lượng GD bởi nó ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động trong nhà trường. Tuy nhiên, để nghiên cứu những ảnh hưởng của VHNT đến chất lượng giáo dục có thể chỉ thông qua một số tác động cụ thể của VHNT đến HS, đến GV và đến các mối quan hệ của HS, CBQL, GV trong nhà trường.

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, tác động của VHNT thể hiện cụ thể qua những ảnh hưởng đến GV, đến HS và đến mối quan hệ giữa GV – HS trong nhà trường.

1.4. Lý luận về xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

1.4.1. Các căn cứ pháp lý để xây dựng văn hóa nhà trường THPT

Xây dựng văn hóa nhà trường cần dựa vào nền tảng văn hóa công sở, ở nước ta, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Qui chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính Nhà nước (Ban hành kèm theo Quyết định số 129/2007/QĐ- TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ). Qui chế này nêu các nguyên tắc thực hiện văn hóa công sở. Đó là: phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc và điều kiện kinh tế – xã hội; phù hợp với định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, hiện đại; phù hợp với các quy định của pháp luật và mục đích, yêu cầu cải cách hành chính, chủ trương hiện đại hoá nền hành chính nhà nước.

Ngày 04/11/2019, BCH Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 29- NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trong Nghị quyết đã nêu lên các thành tựu đạt được trong lĩnh vực GD&ĐT cũng như chỉ ra được những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế để đưa ra các định hướng đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT với các mục tiêu cần đạt và 7 quan điểm chỉ đạo, 9 giải pháp thực hiện. Trong các giải pháp, nội dung giải pháp thứ hai có đề cập đến việc: “Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Ngày 09/6/2020, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, trong đó xác định mục tiêu: “Xây dựng nền VH và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”. Nghị quyết cũng đề ra sáu nhiệm vụ, bốn giải pháp trong đó có đề cập đến: “Xây dựng mỗi trường học phải thực sự là một trung tâm VH GD, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống; giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ. Xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đoàn kết, dân chủ, văn minh, đạt chuẩn thực chất về văn hóa; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh…”.

Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong Chỉ thị cũng nêu lên 5 nội dung cần thực hiện và nhấn mạnh đến trách nhiệm của những cá nhân, tổ chức cụ thể.

Căn cứ Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2021 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2021 – 2030, ngày 28/8/2021 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1501/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2021 – 2026”, trong đó đã đưa ra mục tiêu và các chỉ tiêu chủ yếu để từ đó xây dựng được 6 nhiệm vụ giải pháp cũng như giao trách nhiệm tổ chức cho các Bộ, ngành thực hiện. Các nội dung giải pháp đã đề cập đến rất nhiều vấn đề nhưng chủ yếu là tập trung cho giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng. Trong giải pháp thứ hai của đề án có đề cập, yêu cầu các trường THPT “Lựa chọn các nội dung giáo dục có giá trị và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, tình cảm và sự phát triển của học sinh, của xã hội và thời đại; giáo dục hành vi và chuẩn mực đạo đức; giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật, kỹ năng sống và giá trị sống đúng đắn trong chương trình giáo dục phổ thông mới”, “Tăng cường các hoạt động tập thể, lao động, vệ sinh trường, lớp học, hoạt động xã hội; các hoạt động câu lạc bộ văn hóa, thể thao, các phong trào thi đua trong nhà trường phổ thông”. Trong giải pháp thứ năm cũng nêu “Xây dựng và thực hiện Quy tắc ứng xử VH trong các nhà trường… Xây dựng trường học xanh, sạch, đẹp, an toàn, thân thiện, mỗi trường học có ít nhất một không gian văn hóa gắn với giáo dục lịch sử, truyền thống, ý thức công dân cho HS”.

Để cụ thể hóa Quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 28/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2021 – 2026”, ngày 04/02/2022 Bộ GD&ĐT cũng ban hành Quyết định số 410/QĐ-BGDĐT để triển khai kế hoạch thực hiện Quyết số 1501/QĐ-TTg với 4 yêu cầu, 6 chỉ tiêu và 6 giải pháp chủ yếu tập trung cho giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng kèm theo bản phụ lục quy định nhiệm vụ trong từng giai đoạn, thời gian hoàn thành, sản phẩm hoàn thành, đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp. Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/04/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nêu cụ thể về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, lối sống, tác phong, luôn giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo nhằm giúp các nhà giáo nỗ lực tự rèn luyện phù hợp với nghề dạy học, nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất và lương tâm nghề nghiệp trong sáng, có tính tích cực học tập, không ngừng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp sư phạm, có lối sống và cách ứng xử chuẩn mực, thực sự là tấm gương cho người học noi theo.

Ngày 12/4/2025, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 06/2025/TT- BGDĐT về quy định quy tắc ứng xử trong các cơ sở GD mầm non, cơ sở GD phổ thông và cơ sở GD thường xuyên trong đó đề cập đến quy tắc ứng xử chung, quy tắc ứng xử của CBQL, của GV, của NV, của HS, của cha mẹ HS…

Thông tư số 26/2023/TT-BGDĐT ngày 18/10/2023 của Bộ GD&ĐT cũng đề cập đến những Quy định tổ chức hoạt động văn hóa của học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục, trong đó chú trọng tổ chức hiệu quả các hoạt động văn hóa, văn nghệ; từng bước xây dựng, hoàn thiện và triển khai bộ quy tắc ứng xử văn hóa; xây dựng, sử dụng khẩu hiệu phù hợp trong khuôn viên trường học góp phần xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện.

Hướng dẫn số 282/BGDĐT-CTHSSV ngày 25/01/2023 của Bộ GD&ĐT về việc đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa trong trường học, trong đó đề cập đến việc tăng cường tổ chức các hoạt động văn hóa, xây dựng và triển khai bộ quy tắc ứng xử văn hóa trong trường học, xây dựng, sử dụng khẩu hiệu phù hợp trong khuôn viên trường học.

Như vậy, qua trình bày các văn bản nói trên cho thấy, hiệu trưởng trường THPT có các căn cứ pháp lý để tổ chức xây dựng VHNT.

1.4.2. Nội dung quản lý của hiệu trưởng trong xây dựng văn hóa nhà trường THPT

Xây dựng VHNT là công việc của tất cả các thành viên trong và ngoài nhà trường, trong đó hiệu trưởng đóng vai trò quản lý, lãnh đạo. Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi nghiên cứu công tác quản lý, lãnh đạo của hiệu trưởng trong xây dựng VHNT về các nội dung sau: Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

  • Định hướng chiến lược phát triển nhà trường

Ngày nay, nhiều chuyên gia về quản lý cho rằng có bốn chức năng quản lý cơ bản mà mọi nhà quản lý đều thực hiện, bao gồm: Kế hoạch hóa – tổ chức – lãnh đạo – kiểm tra. Thế nên, việc lập kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường là cần thiết, là chức năng đầu tiên trong quản lý.

Lập kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường là đưa ra những định hướng lớn, thể hiện hình ảnh hiện thực trong tương lai mà trường mong muốn đạt tới và các giải pháp chiến lược để đạt được mục tiêu trên cơ sở khả năng hiện tại. Lập kế hoạch chiến lược không phải là một hành động bị động mà nó là quá trình sẽ làm những gì để đạt được mục đích và mục tiêu đã thống nhất. Đó là chính nền tảng để các nhà lãnh đạo hoàn toàn chủ động trước mọi tình huống. Các định hướng chiến lược của nhà trường cần tập trung vào các vấn đề sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi như sau:

Sứ mệnh (Misiion): thể hiện vai trò, vị trí, trách nhiệm của nhà trường với đời sống kinh tế – xã hội của quốc gia, của địa phương trong từng giai đoạn phát triển tương ứng. Nội dung trong các tuyên bố sứ mệnh của trường thể hiện được những giá trị, những mong muốn của nhà trường, sẽ làm rõ trọng tâm của nhà trường, giúp giáo viên và học sinh hiểu rõ nhu cầu của họ sẽ được đáp ứng như thế nào. Khi xác định sứ mệnh phải củng cố được các giá trị cốt yếu đối với các thành viên trong nhà trường và đưa ra các thông điệp cho các thành viên mới. Sứ mệnh phải được công bố, quán triệt đến tất cả CB-GV-NV và HS toàn trường và niêm yết công khai tại các vị trí dễ quan sát trong khuôn viên nhà trường.

Tầm nhìn (Vision): thể hiện rõ hình ảnh tương lai mong muốn của nhà trường. Nó cần được nêu rõ viễn cảnh tương lai trên cơ sở những định hướng, phân tích, dự báo dài hạn đáng tin cậy, có cơ sở và khả thi, có sức lôi cuốn, hấp dẫn mọi thành viên của nhà trường đặt niềm tin, hy vọng vào tương lai. Mục tiêu hoạt động của nhà trường hướng vào mục tiêu giáo dục quốc gia trong từng giai đoạn, nó được xây dựng trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, của quốc gia trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống đã giúp cho nhà trường tồn tại và phát triển.

Hệ thống giá trị cơ bản (Values Scan): thể hiện triết lý nhất quán phát triển của nhà trường với tư cách là một tổ chức trên cơ sở nhận thức những giá trị cơ bản của xã hội, cộng đồng. Hệ thống giá trị thể hiện kỳ vọng, lý tưởng mà toàn thể nhà trường theo đuổi trong quá trình hình thành và phát triển của mình. Các giá trị ấy bao gồm những điều quan trọng muốn đạt tới, các kỳ vọng của nhà trường theo đuổi, định hướng hành động của nhà trường, thái độ, cách ứng xử, tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của các thành viên trong nhà trường cũng như chất lượng GD toàn diện, những chính sách, những cơ hội phát triển của nhà trường. Hệ thống các giá trị cở bản của nhà trường là những giá trị tạo thành nền tảng, là cơ sở cho người hiệu trưởng tổ chức và quản lý mọi hoạt động trong trường mình. Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Ngoài tầm nhìn, sứ mạng, các giá trị cốt lõi, hiệu trưởng khi xây dựng những mục tiêu phải đảm bảo các tiêu chí thật cụ thể, có thể đo được, đạt được, định hướng được kết quả, giới hạn được thời gian kèm theo các biện pháp, chiến lược phát triển khả thi. Các giải pháp chiến lược cần được nêu và phân tích rõ các mục tiêu, nội dung, cách thức, nguồn lực và các điều kiện thực hiện các giải pháp. Làm rõ mối quan hệ của các giải pháp và các lựa chọn ưu tiên, xác định giải pháp mang tính đột phá phù hợp với tình hình, lợi thế cụ thể của trường để đạt được các mục tiêu chiến lược trong từng giai đoạn chiến lược.

Trong qua trình thực hiện, để bản chiến lược phát triển nhà trường phát huy hiệu quả, hiệu trưởng phải biết xây dựng chương trình hành động chiến lược hợp lý, xác định một mục tiêu cần có nhiều giải pháp và một giải pháp cho thể tác động thực hiện nhiều mục tiêu nên cần có phân tích mối quan hệ giữa hệ mục tiêu và các giải pháp thật chặt chẽ, chi tiết.

  • Xây dựng cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm

Trong mỗi nhà trường, văn hóa tồn tại một cách tự nhiên, khách quan. Do vậy, nhà trường nào cũng có văn hóa của riêng mình, để tạo lập và phát triển bản sắc văn hóa riêng ấy, mỗi nhà trường cần nhận thức rõ bản chất văn hóa của trường mình cũng như xác định được việc phát triển văn hóa ở một nhà trường phải là cả một quá trình liên tục, việc làm lâu dài, có chủ đích rõ ràng.

Ấn tượng đầu tiên đối với bất cứ ai bước vào một ngôi trường đó chính là cảnh quan, môi trường sư phạm liên quan đến hình thức của nhà trường về kiến trúc, trang trí, bố trí khuôn viên cũng như sắp xếp, bày trí tranh ảnh, khẩu hiệu, trang trí ở trong lớp học, phòng làm việc, phòng thí nghiệm, phòng thực hành bộ môn, việc xây dựng, sử dụng nhà xe, nhà tập đa năng, nhà bảo vệ, sân chơi, bãi tập, hệ thống điện, nước… và các CSVC khác phục vụ cho hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học của nhà trường.

Khi xây dựng nội dung, sử dụng lắp đặt các bảng hiệu, khẩu hiệu phải phù hợp trong khuôn viên trường học, đảm bảo đúng nguyên tắc khi xây dựng khẩu hiệu để chuyển tải được các giá trị cần lưu truyền đến thế hệ sau, đồng thời cũng là lời hiệu triệu để mọi thành viên trong nhà trường suy ngẫm và cố gắng phấn đấu trong học tập, trong công tác để góp phần hoàn thiện bản thân và phát triển nhà trường. Khẩu hiệu cần ngắn gọn, thể hiện mục đích, ý nghĩa giáo dục, định hướng hành động, đảm bảo tính giáo dục, tính thực tiễn, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, thiết thực, ấn tượng, có tính thẩm mỹ, tính truyền thống và hội nhập.

Bên cạnh việc quan tâm đến các khối công trình xây dựng, sân chơi, bãi tập, hệ thống điện, nước, các khẩu hiệu…, hiệu trưởng cũng cần luôn chú ý đến cảnh quan sư phạm như bố trí khu vực trồng cây xanh, loại cây có bóng mát, phù hợp với môi trường giáo dục, thường xuyên chăm sóc, cắt tỉa nhánh cây; bố trí kinh phí mua sắm, trồng, trang trí hoa kiểng ở những khu vực hợp lý, đảm bảo vẻ mỹ quan, luôn chăm sóc, cải tạo, thay mới thường xuyên. Thuê nhân công hoặc phân công nhân viên, học sinh hỗ trợ một cách khoa học, hợp lý cho việc dọn dẹp, đảm bảo vệ sinh môi trường trong các phòng học, phòng làm việc, nhà vệ sinh, sân chơi, bãi tập… cũng như toàn bộ trong/ ngoài khuôn viên. Cảnh quan sư phạm của nhà trường phải đảm bảo luôn xanh – sạch – đẹp – an toàn- văn minh kể cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.

Đối với môi trường tự nhiên, người hiệu trưởng luôn quan tâm đến các vấn đề màu sơn của các khối công trình xây dựng, ánh sáng, độ thông thoáng gió, độ cách âm, việc trang bị các bàn ghế theo đúng quy chuẩn của trường THPT, việc sắp xếp bàn ghế,… trong phòng học, phòng bộ môn, phòng làm việc, nhà tập đa năng. Việc bố trí các phòng học, phòng bộ môn, phòng làm việc…cũng phải tạo được sự thuận lợi, liên thông khi di chuyển giữa các khối công trình để làm việc, giảng dạy, giải trí, liên hệ công tác nhanh, hiệu quả. Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Ngoài các nội dung trên, người hiệu trưởng cũng phải quan tâm đến bầu không khí tâm lý trong nhà trường qua cách giao tiếp, ứng xử của các thành viên trong nhà trường ra sao, tính hợp tác, tính đoàn kết nội bộ như thế nào, sự tác động của các tệ nạn xã hội vào trường học tích cực hay tiêu cực…

  • Xây dựng mối quan hệ giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên trong nhà trường

Trong một nhà trường có nhiều mối quan hệ đó là quan hệ giữa con người với nhau; con người với công việc; con người với môi trường và con người với chính mình. Các mối quan hệ này đều có ảnh hưởng đến phát triển nhà trường nói chung và phát triển VHNT nói riêng. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi tập trung chủ yếu đề cập đến mối quan hệ giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên trong nhà trường đó là:

Quan hệ giữa những người lãnh đạo với cấp dưới: người lãnh đạo tôn trọng mọi người, chia sẻ quyền lực, mạnh dạn trao quyền cho cấp dưới trong công việc, trong hoạt động dạy học; luôn tin cậy, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lới cho cấp dưới phát huy năng lực; khéo léo trong quan hệ, ứng xử, quan tâm đến cuộc sống, tâm tư tình cảm của cấp dưới, công bằng, khách quan, vô tư trong cư xử, không lạm dụng quyền lực, biết lắng nghe và thấu hiếu, biết phát huy tinh thần sáng tạo, tinh thần dân chủ của cấp dưới. Cấp dưới tôn trọng, tin tưởng, chấp hành sự phân công, sự điều hành, chỉ đạo của người lãnh đạo; tích cực hợp tác, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng, phát triển nhà trường. Tiếp nhận, chọn lọc, đề xuất các phản ánh của học sinh, của cha mẹ học sinh, của nhà giáo khác cho lãnh đạo nhà trường nắm bắt kịp thời nhằm chấn chỉnh, điều chỉnh bản thân, điều chỉnh công tác quản lý, lãnh đạo.

Quan hệ giữa GV và HS trong quá trình dạy học và GD thể hiện trong văn hóa ứng xử giữa thầy và trò: GV quan tâm phát huy tính tích cực của HS; có trách nhiệm, yêu thương HS; luôn tôn trọng quyền tự do, tự chủ của HS và tin cậy, khuyến khích HS rèn luyện, phấn đấu, bày tỏ, phát biểu chính kiến cá nhân; GV phải hòa đồng, cởi mở, thân thiện và chấp nhận những nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau của HS. Học sinh phải tôn trọng, lễ phép với GV; tích cực hợp tác, tham gia các hoạt động với GV để hoàn thành các mục tiêu GD, để đạt thành tích cao nhất trong rèn luyện hạnh kiểm, trong tiếp nhận những tri thức; luôn gần gũi, chủ động đề xuất với GV hướng dẫn, giúp đỡ trong quá trình rèn luyện, học tập.

Quan hệ giữa cán bộ, giáo viên với nhau: đây là mối quan hệ đoàn kết, hợp tác, học hỏi, tin cậy, tôn trọng, giúp đỡ nhau trong chuyên môn để hoàn thành nhiệm vụ và tiến bộ; hiểu biết, cảm thông, quan tâm, chia sẻ kinh nghiệm trong chuyên môn lẫn cuộc sống, tôn trọng cá tính của nhau. Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Quan hệ giữa HS với nhau: cần xây dựng mối quan hệ đoàn kết, thân ái, học hỏi lẫn nhau, có sự hợp tác, giúp đỡ nhau tiến bộ trong học tập…

Khi xây dựng các mối quan hệ giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong nhà trường, hiệu trưởng cần tăng cường tổ chức hợp lý, hiệu quả các hoạt động văn hóa, văn nghệ, hoạt động hội trại, hoạt động thể dục thể thao, hoạt động trải nghiệm, tổ chức tham quan, du lịch, tổ chức các câu lạc bộ, tổ chức các cuộc thi, các chuyên đề… để tập hợp, thu hút, giáo dục toàn diện bằng nội dung và hình thức phù hợp với các điều kiện thực tiễn của nhà trường nhằm tạo mối giao lưu, gắn kết các thành viên trong nhà trường, góp phần xây dựng môi trường học đường an toàn, lành mạnh, thân thiện; kịp thời biểu dương, khen thưởng đối với những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc.

Ngoài ra, hiệu trưởng cần thiết lập các quy định về nội quy, trang phục, đồng phục, nghi lễ, phong cách giao tiếp, tác phong quản lý, chuẩn mực đạo đức, xây dựng chất lượng GD toàn diện, nâng cao uy tín của nhà trường, chú trọng đến phương pháp dạy và học, cách thức tự học, tự nghiên cứu. Tổ chức xây dựng và triển khai bộ quy tắc ứng xử văn hóa trong trường học theo quy trình hợp lý, huy động sự đóng góp của các thành viên trong, ngoài nhà trường vì quy tắc ứng xử trong trường học là những chuẩn mực, giá trị và hành vi ứng xử văn hóa thông qua các hoạt động giao tiếp, sinh hoạt, làm việc, học tập…, nhằm điều chỉnh cách thức ứng xử của mọi thành viên trong nhà trường theo thuần phong mỹ tục; tạo môi trường làm việc, học tập thân thiện, hợp tác, trách nhiệm, cởi mở, trung thực, văn minh, tổ chức mạng lưới thông tin thông suốt trong nhà trường.

Ngoài các nội dung quản lý trên, hiệu trưởng phải luôn quan tâm đến chất lượng GD toàn diện, dự giờ trao đổi chuyên môn với GV. Có phương án tham mưu lãnh đạo cấp trên tuyển dụng GV, hàng năm bố trí sử dụng đội ngũ GV hiệu quả, tạo điều kiện, đảm bảo công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy, bồi dưỡng tin học, ngoại ngữ, bồi dưỡng quản lý…đáp ứng yêu cầu đổi mới GD, chú trọng công tác tự học suốt đời, bồi dưỡng thường xuyên. Tổ chức đánh giá, quy hoạch đội ngũ nhà giáo đảm bảo chính xác, khoa học, xây dựng khối đoàn kết nội bộ, giải quyết hợp lý, hợp tình, hiệu quả các mâu thuẫn, xung đột (nếu có); chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ nhà giáo và HS; công khai, dân chủ mọi hoạt động trong nhà trường, đặc biệt là công tác tài chính kịp thời. Quan tâm đến HS, tạo cho các em yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, chăm sóc giúp các em con gia đình chính sách, các em có hoàn cảnh khó khăn, học sinh khuyết tật. Khuyến khích cha mẹ HS tham gia các hoạt động của nhà trường, luôn suy nghĩ để học hỏi, để đổi mới và nâng cao uy tín trong nhà trường, giúp đỡ GV trao đổi kỹ năng giao tiếp.

1.4.3. Vai trò của hiệu trưởng trong xây dựng văn hóa nhà trường Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Người hiệu trưởng trong nhà trường giữ vai trò của một người lãnh đạo, giống như một thủ lĩnh trong nhà trường. Vai trò của người lãnh đạo được thể hiện rõ nhất khi tổ chức có sự thay đổi theo hướng phát triển hoặc khi tổ chức phải đối đầu với những bất ổn, thách thức, trở ngại cần phải vượt qua. Lãnh đạo theo John. C. Maxwell là khả năng thu phục lòng người, thu phục nhân tâm. Lãnh đạo là khả năng lôi cuốn những người đi theo mình, khả năng tác động đến con người và gây ảnh hưởng đến con người.

Cụ thể, trong một tổ chức, người lãnh đạo là người xác định tầm nhìn cho toàn tổ chức, dẫn dắt tổ chức để thực hiện tầm nhìn đó. Là người tổ chức lập kế hoạch chiến lược cho tổ chức. Người lãnh đạo phải là người có uy tín – được tạo nên bởi phong cách lãnh đạo, bởi việc tạo được ảnh hưởng và việc truyền đạt tầm nhìn đến mọi người. Người lãnh đạo cũng phải là người thực sự quan tâm đến việc xây dựng văn hoá của tổ chức, tạo cho tổ chức mình có được văn hoá riêng.

Như vậy, để xây dựng VHNT, người hiệu trưởng vừa thực hiện vai trò của một nhà quản lý, vừa thực hiện vai trò của một người lãnh đạo. Trong đó, vai trò của người lãnh đạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc định hình VHNT. Thực hiện vai trò lãnh đạo nhà trường, hiệu trưởng cần tác động vào suy nghĩ, hành vi của CBQL, GV, NV và HS để họ hoạt động theo những mục tiêu chung của nhà trường. Với vai trò lãnh đạo nhà trường, hiệu trưởng chính là người định hướng VHNT, là tâm điểm thống nhất các giá trị trong nhà trường.

Hoạt động quản lý – lãnh đạo nhà trường của người hiệu trưởng như đã phân tích ở trên là một hoạt động mang tính toàn diện, quán xuyến tất cả các phương diện của một nhà trường, từ định hướng chiến lược phát triển nhà trường, xây dựng đội ngũ nhà giáo, tổ chức hoạt động dạy học – giáo dục… cho đến xây dựng cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm và các mối quan hệ trong nhà trường cũng như mối quan hệ nhà trường với cộng đồng. Do đó, xây dựng VHNT cũng là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý, lãnh đạo nhà trường của người hiệu trưởng nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục của nhà trường. VHNT là sản phẩm được tạo nên bởi tập thể đội ngũ nhà giáo, học sinh – những thành viên của tổ chức nhà trường chứ không phải là sản phẩm mang tính cá nhân. Tuy nhiên, trong việc xây dựng và phát triển VHNT bao giờ cũng có ảnh hưởng quyết định của người đứng đầu nhà trường. Hiệu trưởng giữ vai trò lãnh đạo phát triển VHNT, quyết định/chi phối sự phát triển VHNT.

Theo những tổng hợp của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, hiệu trưởng có ảnh hưởng quyết định đến VHNT vì tư duy phát triển giáo dục của người hiệu trưởng ảnh hưởng đến VHNT; hiệu trưởng có vai trò quan trọng trong việc hình thành các chuẩn mực, các giá trị cốt lõi, niềm tin trong nhà trường; sự quan tâm, chú ý của hiệu trưởng vào các vấn đề sẽ ảnh hưởng chi phối VHNT; hiệu trưởng xác định, tập hợp tạo lập hệ thống giá trị cốt lõi của trường; hiệu trưởng xác định các đặc trưng và chia sẻ tầm nhìn đến đội ngũ nhà giáo, học sinh nhà trường. Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng trong xây dựng văn hóa nhà trường THPT

1.5.1. Các yếu tố khách quan

  • Chủ trương, chính sách của chính quyền các cấp và của ngành GD

BCH Trung ương Đảng đã ban hành những Nghị quyết chỉ đạo, Chính phủ, các Bộ đã có những Chỉ thị, Quyết định và văn bản hướng dẫn thi hành. Ngoài ra, các cấp chính quyền và ngành GD ở địa phương cũng ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết để chỉ đạo thực hiện hoặc lồng ghép trong các văn bản hướng dẫn công tác chuyên môn. Những Nghị quyết của Đảng, Chỉ thị, văn bản hướng dẫn của Chính phủ, của ngành GD và chính quyền địa phương các cấp tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà trường có căn cứ pháp lý để tiến hành xây dựng VHNT.

Công tác xây dựng VHNT có điều kiện phát triển mạnh mẽ khi nó được xác định là một trong những nhiệm vụ chính trị hàng đầu của nhà trường, được quan tâm chỉ đạo, có cơ chế chính sách riêng về nó. Mặt khác công tác xây dựng VHNT sẽ được quan tâm hơn nếu nó được đưa vào trong kế hoạch chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục; được quan tâm trong các đợt thanh kiểm tra trường học; đánh giá xếp loại thi đua của nhà trường.

Để đáp ứng những đòi hỏi nêu trên rất cần đến cơ chế chính sách, sự chỉ đạo tích cực của ngành giáo dục, nhất là đối với Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT. Như vậy có thể nói cơ chế chính sách, sự chỉ đạo của ngành giáo dục là một yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý VHNT.

  • Điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của địa phương

Điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của địa phương có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới công tác quản lý VHNT, bởi vì:

Điều kiện kinh tế của địa phương ảnh hưởng đến việc cung cấp các nguồn lực về tài chính, CSVC cho nhà trường. Chính điều kiện kinh tế của địa phương đã tạo nền tảng cho các nhà trường xây dựng CSVC, đầu tư mua sắm các thiết bị GD; tạo điều kiện cho các nhà trường, các GV có điều kiện thuận lợi tập trung thời gian, công sức, trí tuệ cho giáo dục.

Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện luôn giữ vững sẽ là môi trường xã hội thuận lợi để giáo dục nhân cách HS. Môi trường xã hội lành mạnh sẽ hạn chế được các tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự an ninh, hạn chế được các tác động tiêu cực từ bên ngoài xã hội. Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Môi trường văn hóa địa phương lành mạnh, phát triển sẽ tác động trực tiếp đến công tác quản lý văn hóa của mỗi nhà trường, mỗi HS vì các nhà trường và HS không thể đứng trong môi trường khép kín.

  • Sự quan tâm và phối hợp giáo dục của chính quyền địa phương

Mức độ quan tâm, ủng hộ và phối hợp giáo dục của chính quyền địa phương có tác động rất lớn đến đầu tư về CSVC theo lộ trình hoặc hàng năm của nhà trường; sự quan tâm và phối hợp của chính quyền địa phương đến đời sống vật chất, tinh thần của GV và chất lượng đội ngũ nhà giáo, chất lượng giáo dục HS có ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả giáo dục của nhà trường. Ngoài ra, lãnh đạo các cấp luôn sát sao, chỉ đạo, kiểm tra, nhắc nhở, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng cảnh quan sư phạm, môi trường sư phạm ở mỗi nhà trường.

  • Sự hiểu biết và phối hợp của phụ huynh học sinh

Học sinh chỉ có mặt tại trường tham gia các hoạt động giáo dục trong một thời gian nhất định, phần lớn các em có thời gian sinh sống tại gia đình và giao lưu trong xã hội. Vì thế, gia đình và xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến HS nói chung trong việc hình thành phát triển nhân cách, văn hóa nói riêng.

Nếu môi trường giáo dục gia đình không nề nếp, không văn hóa; môi trường xã hội không lành mạnh, văn minh thì khó có thể tạo ra những HS có nhân cách toàn diện.

1.5.2. Các yếu tố chủ quan

  • Nhận thức của hiệu trưởng và các thành viên trong nhà trường

Để công tác quản lý VHNT hiệu quả thì trước tiên hiệu trưởng và các thành viên trong nhà trường cần phải có nhận thức đầy đủ, đúng đắn, rõ nét về nó; phải thấy rõ về ý nghĩa, tầm quan trọng, nội dung và phương thức, con đường quản lý VHNT. Nhận thức đúng là cơ sở, điều kiện để hành động đúng. Đối với trường THPT, xây dựng VHNT là một quá trình với sự tham gia của tất cả các thành viên trong nhà trường và các lực lượng có liên quan bên ngoài nhà trường. Vì vậy, cần nâng cao nhận thức của hiệu trưởng, của GV, NV, HS và của cha mẹ học sinh trong việc xây dựng VHNT.

  • Trình độ, năng lực của hiệu trưởng Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý VHNT cũng như quá trình xây dựng và thay đổi VHNT, năng lực và phẩm chất của đội ngũ lãnh đạo, quản lý, đứng đầu là hiệu trưởng có yếu tố tác động mạnh nhất.

Tuy nhiên, thực tiễn chỉ ra rằng, với bản chất của hoạt động quản lý thì thách thức lớn nhất của quản lý là làm việc với con người và thông qua con người. Chính vì vậy, mục đích cũng là vai trò quan trọng nhất của các nỗ lực quản lý, điều hành là tăng cường cam kết, trách nhiệm và hứng khởi trong đội ngũ nhà giáo và học sinh mà trước nhất là hiệu trưởng. Để có được uy tín trong quản lý nhà trường nói chung và để thực hiện tốt vai trò của người “đứng mũi chịu sào” trong xây dựng VHNT. Với vai trò là người định hướng giá trị trong nhà trường để tạo ra môi trường tích cực cho quá trình GD và phát triển con người trong nhà trường, bản thân người hiệu trưởng phải thể hiện sự làm gương trong tất cả các hoạt động giáo dục.

  • Điều kiện các nguồn lực hiện có

Việc đầu tư xây dựng CSVC, mua sắm thiết bị phục vụ cho nhu cầu hưởng thụ văn hóa một cách thiết thực như phòng học, phòng bộ môn, nhà thi đấu đa năng, sân khấu, thư viện, sân bãi thể dục thể thao…Không thể yêu cầu hay phát động mọi người xây dựng môi trường văn hóa, sống có văn hóa trong khi các CSVC cần thiết để hỗ trợ thực hiện điều đó lại thiếu thốn hoặc không có.

Nơi làm việc của lãnh đạo nhà trường, của GV, của NV hay nơi học tập của HS đều cần được bố trí đảm bảo khoa học, tiện dụng, an toàn và thẩm mỹ. Muốn thầy và trò hiểu biết, giàu kiến thức phải có các trang, thiết bị phù hợp, hiện đại để hỗ trợ và phát triển văn hóa đọc trong họ. Có thể bắt đầu từ thư viện, máy tính, hệ thống các cơ sở dữ liệu trên mạng lưới thư viện, có tài khoản thư viện cho GV và HS, các diễn đàn trên mạng giúp chia sẻ, lan tỏa dữ kiện mà các cá nhân có được.

Muốn nhà trường hiện đại, làm việc theo tác phong chuyên nghiệp để tạo ra các thế hệ HS chuyên nghiệp, làm việc theo phong cách hiện đại, thầy cô phải là hiện thân của các phong cách đó, từ tư tuy, tác phong, thái độ đến cách thực hiện nhiệm vụ, bài giảng được tin học hóa – sử dụng các phần mềm và thiết bị tiện ích để giảng dạy.

Tiểu kết chương 1

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về văn hóa, một số đã bàn luận về văn hóa học đường song có ít tác giả tập trung nghiên cứu lý luận một cách có hệ thống chuyên sâu về xây dựng văn hóa nhà trường THPT.

Ở nội dung chương 1, chúng tôi đã cố gắng làm rõ thêm một số khái niệm về văn hóa, văn hóa tổ chức, văn hóa nhà trường. Chúng tôi cũng phân tích được những nét chính trong cấu trúc và các biểu hiện của văn hóa nhà trường THPT gồm cả phần nổi lẫn phần chìm. Ngoài ra đã đề cập đến vai trò của văn hóa nhà trường THPT, vai trò của hiệu trưởng trong xây dựng văn hóa nhà trường THPT, các nội dung quản lý của hiệu trưởng trong xây dựng VHNT cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến công tác lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng trong xây dựng văn hóa nhà trường THPT.

Chương 1 là cơ sở lý luận để chúng tôi nghiên cứu, phân tích công tác xây dựng VHNT ở các trường THPT trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương trong chương 2 của luận văn. Luận văn: Xây dựng văn hóa nhà trường Trung học phổ thông.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường Trung học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993