Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về tình hình kinh tế – xã hội và giáo dục trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
2.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội thành phố Thủ Dầu Một
Thành phố Thủ Dầu Một là thành phố trực thuộc tỉnh Bình Dương, được Chính phủ công nhận là đô thị loại II theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 02/5/2021 và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2021. Thủ Dầu Một là đô thị nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là trung tâm hành chính, tổng hợp của tỉnh Bình Dương. Diện tích tự nhiên của thành phố Thủ Dầu Một là 11.866,61 ha, với tổng dân số 311.265 người (12/2024), có 14 đơn vị hành chính, gồm 14 phường. Những thành tựu về phát triển kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi và tác động tích cực đến các mặt văn hóa-xã hội tại địa phương, trong đó có lĩnh vực GDĐT.
Thành phố có tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh, diện tích đất nông nghiệp ở Thủ Dầu Một ngày càng thu hẹp, song nhờ có định hướng phát triển phù hợp, nên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở Thủ Dầu Một đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Năm 2024, tổng thu ngân sách thành phố đạt 29.859 tỷ đồng; thu mới ngân sách do thành phố quản lý là 5.200 tỷ đồng, bình quân bằng 91,91%, tăng bình quân 8,88%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 2.640USD, cao hơn bình quân chung cả nước 1,5 lần. Thành phố không còn hộ nghèo (theo tiêu chí của Trung ương). Tỷ lệ đô thị hóa đạt 100%, với 97,7% lao động phi nông nghiệp; diện tích nhà ở bình quân 18,8 m2/người và 93,3% là nhà xây kiên cố, bán kiên cố; gần 100% các hộ dân sử dụng nước sạch; tỷ lệ chất thải rắn được thu gom đạt trên 95%… Tuy nhiên, cùng với nhu cầu tăng trưởng kinh tế, thành phố thu hút rất nhiều lao động ngoại tỉnh đến làm việc làm cho quy mô dân số ngày càng lớn (phần lớn là do gia tăng cơ học), điều này ảnh hưởng đến quy mô phát triển và chất lượng giáo dục địa phương.
2.1.2. Tình hình giáo dục cấp trung hqc cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
Năm học 2025-2026, trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một có 12 trường trung học cơ sở công lập. Tổng số Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên hiện có tại 12 trường THCS công lập là 892 người (QL 33; GV 712; NV 147), với tổng số 14.139 học sinh/381 lớp. Về CSVC có 11/12 trường THCS được lầu hoá, đạt tỷ lệ 91,7%; có 11/12 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 91,7%; có 04/12 trường được công nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục mức độ 3, đạt tỷ lệ 33,3%. Thư viện đạt Chuẩn theo quyết định 01 của Bộ GDĐT là 12/12 trường, đạt tỷ lệ 100%. Thư viện đạt xuất sắc 02/12 trường, đạt tỷ lệ 16,66%; Thư viện đạt Tiên tiến 04/12 trường, đạt tỷ lệ 33,3%.
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng công tác kiểm tra nội bộ trường trung hqc cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Đánh giá đúng thực trạng, làm sáng tỏ những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của công tác KTNB trong hoạt động QL của hiệu trưởng các trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một, làm cơ sở đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác KTNB trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một trong thời gian tới.
2.2.2. Đối tượng khảo sát
- Số lượng điều tra, gồm: Cán bộ QL, chuyên viên Phòng GDĐT; CBQL, giáo viên, nhân viên của 12 trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một là 805.
- Số lượng phỏng vấn là: 03 CBQL, chuyên viên Phòng GDĐT; 05 CBQL trường THCS.
2.2.3. Nội dung khảo sát
- Khảo sát thực trạng nhận thức về vai trò và thẩm quyền công tác KTNB trường THCS.
- Khảo sát về việc xây dựng kế hoạch KTNB trường
- Khảo sát về công tác tổ chức xây dựng lực lượng KTNB trường
- Khảo sát về nội dung, hình thức và phương pháp tổ chức KTNB trường
- Khảo sát về thực hiện quy trình tiến hành KTNB và hoạt động sau kiểm tra
- Khảo sát thực trạng về quản lý, chỉ đạo công tác KTNB của hiệu trưởng
2.2.4. Phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
- Sử dụng phương pháp điều tra An-Két và phương pháp phỏng vấn để thu thập dữ liệu thông tin. Sử dụng phương pháp thống kê toán học để tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin, dữ liệu.
- Với bảng hỏi được quy định cách thức chấm điểm như sau:
Câu 7 là dạng câu hỏi có 2 sự lựa chọn, do đó sẽ được xử lý dưới hình thức tần số, tần suất để cho ra kết quả nghiên cứu.
Tất cả các câu hỏi còn lại ở phần nội dung đều thuộc dạng câu hỏi đánh giá trên 5 mức độ được gợi ý sắn. Câu trả lời thấp nhất được cho 1 và cao nhất được 5 điểm. Trên cơ sở này, điểm trung bình được quy ra thành các mức độ:
Bảng 2.1.1: Cách quy điểm từng câu trong bảng hỏi chính thức
Ngoài ra, tiến hành kết hợp với phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động bằng cách tìm đọc và phân tích các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Sở GDĐT, Phòng GDĐT, các văn bản quản lý của hiệu trưởng và các hồ sơ lưu trữ có liên quan đến công tác KTNB trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để đối chiếu với kết quả khảo sát.
2.2.5. Kế hoạch khảo sát:
- Phương pháp điều tra An-Két: nghiên cứu lý luận thực hiện thiết kế các phiếu hỏi, tiến hành khảo sát và xử lý số liệu (thực hiện trong tháng 4-5/2026).
- Phương pháp phỏng vấn: xây dựng câu hỏi phỏng vấn theo mục đích đã xác định, tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối tượng và tổng hợp kết quả phỏng vấn (thực hiện trong tháng 5-6/2026).
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động (thực hiện tháng 5-6/2026).
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin, dữ liệu đưa ra nhận xét, đánh giá (thực hiện trong tháng 6-7/2026).
- Viết báo cáo tháng 8/2026.
2.2.6. Mô tả mẫu nghiên cứu
- Bảng 2.1.2: Khái quát về khách thể nghiên cứu chính
Sau khi kiểm tra làm sạch dữ liệu, tổng số khách thể nghiên cứu chính của đề tài bao gồm 805 mẫu khảo sát (CBQL-GV-NV đang công tác tại Phòng GDĐT và các trường THCS thuộc thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương). Trong đó, Phòng GDĐT là 9 người (chiếm 1,1%); Trường THCS chưa đạt chuẩn quốc gia là 64 người (chiếm 8,0%); Trường đạt chuẩn quốc gia – Chưa đạt kiểm định CLGD là 606 người (chiếm 75,3%) và Trường đạt KĐCLGD là 126 người (chiếm 15,7%).
2.2.7. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo
Để kiểm tra độ tin cậy của thang đo làm cơ sở đánh giá kết quả nghiên cứu. Tác giả đã tiến hành đo hệ số Cronbach’s Alpha của bộ câu hỏi được biên soạn. Kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.1.3: Hệ số tin cậy của thang do
Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.1.3 cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha là 0.971>0.8. điều này cho phép đi đến kết luận thang đo lường được sử dụng rất tốt. Đây là cơ sở quan trọng để xem xét đánh giá độ tin cậy của những kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày dưới đây.
2.3. Đánh giá thực trạng công tác kiểm tra nội bộ các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
2.3.1 Thực trạng nhận thức về công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
2.3.1.1 Thực trạng nhận thức về khái niệm công tác kiểm tra nội bộ các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
- Bảng 2 .2.1: Mức độ hiểu của GV về khái niệm Kiểm tra nội bộ trường học
KTNBTH là hoạt động nghiệp vụ QL của người HT nhằm điều tra, theo dõi, xem xét, kiểm soát, phát hiện, kiểm nghiệm sự diễn biến và kết quả các hoạt động GD trong phạm vi nội bộ nhà trường và đánh giá kết quả các hoạt động GD đó có phù hợp với mục tiêu, kế hoạch, chuẩn mực, quy chế đã đề ra hay không. KTNBTH, về thực chất gồm hai hoạt động: một là hiệu trưởng tiến hành tổ chức KT công việc, hoạt động, mối quan hệ của các thành viên, bộ phận và những điều kiện, phương tiện phục vụ trong nhà trường; hai là việc tự KT của các bộ phận, cá nhân trong trường và tự KT công tác QL của hiệu trưởng. Kết quả khảo sát ở bảng 2.2.1 cho thấy, ĐTB = 3.68 cho phép chúng tôi kết luận rằng các GV tham gia khảo sát “có hiểu biết” về khái niệm KTNB. Quan sát số liệu tần số, tỉ lệ lựa chọn các mức độ ở bảng 2.2.1 cũng cho thấy, có 506 GV được khảo sát “biết rất rõ” và “có hiểu biết” về khái niệm KTNBTH (chiếm 62.9%).
Tâm lý học Macxit đã chỉ rõ, nhận thức chính là tiền đề, là cơ sở cho thái độ và hành vi. Cụ thể, chủ thể có nhận thức đúng là tiền đề cho việc thực hiện những hành vi đúng và ngược lại. Do đó, để có hành vi đúng đắn trong thực tiễn, việc tác động khiến chủ thể có những nhận thức đúng đắn là việc làm rất quan trọng. Xét trong trường hợp này, việc GV có hiểu biết đúng đắn về khái niệm, bản chất của công tác KTNBTH sẽ là cơ sở để mỗi GV thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ của mình cũng như trở thành một thành phần để giám sát công tác KTNBTH được diễn ra hiệu quả, đúng quy chế, quy định của các cơ quan QLGD. Chính vì vậy, với tỉ lệ 62,9% (hơn 1/2 mẫu nghiên cứu) GV từ “có hiểu biết” đến “biết rất rõ” về khái niệm KTNBTH cũng là một kết quả đáng mừng. Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
Tuy vậy, nếu xem xét kỹ hơn kết quả bảng 2.2.1 cho thấy, vẫn còn tới 37,1% (hơn 1/3 mẫu nghiên cứu) mới chỉ dừng lại ở “biết nhưng không rõ” tới “hoàn toàn không biết gì” về khái niệm KTNBTH. Đây là con số khá cao, báo động tình trạng thiếu nhận thức về công tác KTNBTH đang diễn ra ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một. Kết quả phỏng vấn lãnh đạo và chuyên viên Phòng GDĐT cho thấy việc hiểu và nhận thức đúng về công tác KTNBTH của đội ngũ CBQL trường học còn hạn chế. Đây là kết quả cần phải thực sự được quan tâm nếu muốn nâng cao hiệu quả của công tác KTNBTH.
2.3.1.2 Thực trạng nhận thức về ý nghĩa của công tác kiểm tra nội bộ các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một phố Thủ Dầu Một
- Bảng 2 .2.2: Ý nghĩa của việc KTNBTH dối với việc thực hiện các nhiệm vụ của trường trung học cơ sở
Lenin đã khẳng định: “Quản lý mà không có kiểm tra là không quản lý”. Câu nói này cho thấy mức độ quan trọng của công tác KTNBTH trong hoạt động QL của HT. Thực tế cũng cho thấy, KTNBTH là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình QL đảm bảo tạo lập mối liên hệ ngược thường xuyên, kịp thời giúp HT hình thành cơ chế điều chỉnh hướng đích trong quá trình QL nhà trường. Nếu KT đánh giá chính xác, chân thực sẽ giúp HT có thông tin chính xác về thực trạng của đơn vị mình cũng như xác định các mức độ, giá trị, các yếu tố ảnh hưởng, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề ra các giải pháp điều chỉnh, uốn nắn có hiệu quả. Như vậy, KT vừa là tiền đề, vừa là điều kiện để đảm bảo thực hiện các mục tiêu GD mà nhà trường đã đặt ra. Chỉ khi nhận thức được một cách sâu sắc vai trò của công tác này đối với hiệu quả hoạt động của nhà trường, HT cũng như các cán bộ QLGD, GV trong nhà trường mới tích cực thực hiện nó một cách có hiệu quả.
Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.2.2 cho thấy có tới 90,7% GV tham gia khảo sát đánh giá công tác KTNBTH là “quan trọng” và “rất quan trọng” cùng với ĐTB = 4,25 rơi vào mức độ đánh giá “quan trọng”, chúng tôi đi tới kết luận công tác KTNBTH có vai trò “quan trọng” đối với việc thực hiện các nhiệm vụ của trường theo đánh giá của GV-CBQL các trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại tỉ lệ không nhỏ (75 người, 9.2%) GV-CBQL cho rằng công tác này “hoàn toàn không ý nghĩa” đến vai trò “bình thường” đối với việc thực hiện nhiệm vụ của trường. Qua phỏng vấn CBQL Phòng GDĐT và trường học, trên thực tế, nhiều trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một nói riêng cũng như các trường THCS nói chung, công tác KTNBTH không được diễn ra thường xuyên cũng như ít được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi như các hoạt động khác (như các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, thi đua, xây dựng kế hoạch dạy học…), khiến cho nhiều GV-CBQL ngộ nhận, hiểu sai về vai trò của công tác này đối với việc thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ của trường.
2.3.1.3. Thực trạng nhận thức về thẩm quyền của công tác kiểm tra nội bộ các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
- Như đã phân tích ở cơ sở lý luận, thẩm quyền của công tác KTNB bao gồm:
Hiệu trưởng là người ban hành quyết định KTNBTH và lựa chọn những thành viên của trường thành lập Ban KTNB (Đoàn KTNB) của đơn vị theo kế hoạch trong từng năm học. HT phê duyệt kế hoạch KT và phân cấp thẩm quyền KT trong đội ngũ CBQL nhà trường bao gồm HT và các phó HT nhà trường, các tổ trưởng và những viên chức trong Ban KTNB nhà trường hoặc các viên chức khác được cử tham gia đoàn KT theo quyết định của HT. Ngoài ra, thẩm quyền KTNB trường THCS còn thuộc quyền những người tham gia đoàn KT theo quyết định của cấp QLGD có liên quan tại địa phương (Phòng GDĐT, Sở GDĐT) nhằm thực hiện chức năng KT trong QL theo phân cấp.
Căn cứ vào quy định trên có thể thấy, hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng nhà trường, các tổ trưởng, các viên chức trong Ban KTNB nhà trường hoặc các viên chức khác được cử tham gia theo quyết định của hiệu trưởng, những người tham gia đoàn KT theo quyết định của các cấp QLGD có liên quan tại địa phương (Phòng GDĐT, Sở GDĐT) chính là những người có thẩm quyền KTNBTH.
- Bảng 2.3.1: Nhận thức của GV về thẩm quyền của công tác KTNBTH
Quan sát kết quả nghiên cứu ở bảng 2.3.1 có thể thấy những kết quả rất thú vị. Trong 4 nhóm có thẩm quyền đối với công tác KTNBTH mà đề tài liệt kê (Phòng GDĐT và cấp trên; Hiệu trưởng; Ban TTr nhân dân trường học; thành viên tham gia theo quyết định của hiệu trưởng) thì cả 4 nhóm đều có ĐTB khá gần nhau, từ 3,71 đến 3,95 cho thấy cả 4 nhóm đều được các GV, CBQL tham gia khảo sát “đồng ý” họ có thẩm quyền đối với công tác KTNBTH. Trên thực tế, theo quy định đã nói rõ ở trên, thẩm quyền KTNBTH không thuộc Ban TTr nhân dân trường học. Điều này cho thấy rõ ràng các GV-CBQL tham gia khảo sát vẫn chưa thực sự nhận thức một cách rõ ràng thẩm quyền của công tác KTNBTH.
Hai đối tượng được đồng ý nhiều nhất có thẩm quyền KTNBTH lần lượt được xếp ở thứ hạng đầu tiên là thành viên tham gia theo quyết định của hiệu trưởng (ĐTB = 3,95); Ban TTr nhân dân trường học (ĐTB = 3,88). Trong khi đó, HT người ban hành quyết định KTNBTH và lựa chọn những thành viên của trường thành lập Ban KTNB (Đoàn KTNB) của đơn vị theo kế hoạch trong từng năm học hay nói cách khác, xét trong cấp độ nhà trường, HT chính là người chịu trách nhiệm chính trong công tác KTNBTH thì chỉ xếp thứ 3/4 ở mức độ đồng tình. Kết quả này rất đáng được quan tâm nếu muốn nâng cao hiệu quả công tác KTNBTH bởi khi nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình, những người có thẩm quyển KTNBTH mới tích cực thực hiện công tác này nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của nhà trường.
Bên cạnh đó, đối với các GV và các lực lượng khác, việc nhận thức rõ thẩm quyền đối với công tác KTNBTH sẽ giúp họ có thể thực hiện tốt việc giám sát, kiểm tra công tác KTNBTH ở đơn vị công tác của mình có diễn ra đúng quy chế, quy định hay không, những người có thẩm quyền có thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ hay không. Điều này thúc đẩy công tác KTNBTH diễn ra nhịp nhàng, đồng bộ, có sự giám sát lẫn nhau giữa các lực lượng trong nhà trường, đảm bảo tính hiệu quả cao trong việc thực hiện mọi nhiệm vụ. Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
2.3.1.4. Thực trạng nhận thức về mục đích của công tác kiểm tra nội bộ các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
- Bảng 2.3.2: Nhận thức của GV về mục dích của công tác KTNBTH
Mục đích chính của KTNBTH nhằm góp phần xây dựng và duy trì trật tự kỷ cương trong QLGD nói chung và hoạt động QLNT nói riêng, nhằm xác định rõ nguyên nhân của những sai lệch để uốn nắn sửa chữa và phòng ngừa những sai phạm có thể xảy ra, giúp cho các đối tượng hoàn thành nhiệm vụ. Đồng thời, KT nhằm mục đích giúp cho nhà trường nâng cao hiệu lực và hiệu quả QL, nâng cao chất lượng GDĐT trong nhà trường và góp phần đưa toàn bộ hệ thống QL lên một trình độ cao hơn. Mục đích cuối cùng của KTNB là để phát triển nhà trường, nhà giáo và nhân viên của đơn vị. Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.3.2 cho thấy, cả 6/6 mục đích của công tác KTNBTH được đề tài liệt kê đều có ĐTB từ 3,98 đến 4,27 cho thấy cả 6 mục đích này đều được mẫu nghiên cứu đồng ý. Xem xét cụ thể ở từng tỉ lệ lựa chọn các mức độ đánh giá cũng có thể thấy, cả 6 mục đích đều có tỉ lệ lựa chọn ở mức “đồng ý” và “rất đồng ý” khá cao (>86%). Điều này cho thấy, CBQL- GV ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu một đã nhận thức khá sâu sắc về mục đích của công tác KTNBTH. Cụ thể:
Mục đích được đánh giá ở thứ hạng cao nhất với ĐTB = 4,27 là “Phát hiện ưu điểm, khuyết điểm để điều chỉnh công tác quản lý giúp nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục”. Có thể nói đây là mục đích chính của công tác KTNBTH. HT là người ban hành và chịu trách nhiệm chính cho các hoạt động của nhà trường, nhưng trên thực tế HT không phải là người trực tiếp thực hiện các hoạt động đó, do đó, để biết rõ những kế hoạch, mục tiêu đề ra trên thực tế đã đạt được đến đâu và như thế nào cần thực hiện công tác KTNB. Kiểm tra chẳng những giúp nhà QL thu thập thông tin về hoạt động của đối tượng QL mà còn giúp nhận rõ kết quả triển khai thực hiện kế hoạch, đánh giá kết quả cụ thể các hoạt động của mỗi cá nhân, từng đơn vị, từ đó có các biện pháp chỉ đạo, điều hành, điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả QL. Việc đa số CBQL-GV tham gia khảo sát đều nhận thức được mục đích này của công tác KTNBTH là một điều đáng mừng.
Với ĐTB = 4,26 khá gần với mục đích được xếp ở thứ hạng đầu tiên, Mục đích “Phát huy nhân tố tích cực, phòng ngùa ngăn chặn các sai phạm, giúp đỡ đối tượng kiểm tra (CBGV, HS) hoàn thành tốt nhiệm vụ” được xếp ở thứ hạng tiếp theo. Có thể nói, việc giải quyết một cách hợp lý, hiệu quả các sai phạm xảy ra trong các hoạt động của nhà trường chưa phải là biểu hiện của một nhà QL giỏi. Người QL giỏi cần phải biết phòng ngừa, ngăn chặn các sai phạm trước khi nó xảy ra, biết lường trước những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện công việc để phát huy các nhân tố tích cực, động viên, giúp đỡ GV, HS hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Để làm được điều này, công tác KTNBTH là công cụ đắc lực, giúp hiệu trưởng nắm bắt kịp thời các thông tin từ các đối tượng từ đó giải quyết một cách kịp thời. Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
Mặc dù có ĐTB = 3,98, mục đích “Phát hiện nhũng cá nhân vi phạm để xủ lý” nằm trong mức độ đánh giá “đồng ý” của các khách thể nghiên cứu, nhưng nội dung này vẫn được xếp ở vị trí cuối cùng. Như đã phân tích ở trên, để hoạt động nhà trường diễn ra có hiệu quả, nhiệm vụ của người QL là cần phát hiện và giải quyết trước khi những sai phạm diễn ra, do đó mục đích này được xếp ở vị trí cuối cùng trong các mục đích của công tác KTNBTH cũng là điều hợp lý.
Như vây, có thể kết luận GV-CBQL ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một đã nhận thức đúng đắn về mục đích của công tác KTNBTH, đặc biệt là hai mục đích: Phát hiện ưu điểm, khuyết điểm để điều chỉnh công tác quản lý giúp nhà trường nâng cao chất lượng giáo dṇc; Phát huy nhân tố tích cực, phòng ngùa ngăn ch¾n các sai phạm, giúp đỡ đối tượng kiểm tra (CBGV, HS) hoàn thành tốt nhiệm vṇ. Đây là tiền đề để công tác này được thực hiện một cách đúng đắn, hiệu quả, tránh tình trạng thực hiện qua loa, đại khái hay những tiêu cực có thể nảy sinh trong quá trình thực hiện.
2.3.1.5. Thực trạng nhận thức về dối tượng của công tác kiểm tra nội bộ các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
- Bảng 2.3.3: Nhận thức của GV về dối tượng của công tác KTNBTH
Đối tượng KTNB trường THCS bao gồm HT, phó HT, giáo viên, người lao động (nhân viên kế toán, văn thư, cán bộ thư viện-thiết bị-phòng bộ môn, giám thị, y tế, bảo vệ, phục vụ) và học sinh trong nhà trường đang làm việc trong các lĩnh vực thuộc nội dung QL của nhà trường (bao gồm con người cụ thể với những công việc mà họ đang đảm nhiệm và các mối quan hệ của họ với môi trường xung quanh). Để đo nhận thức của GV-CBQL về đối tượng của công tác KTNBTH, đề tài đã liệt kê 5 đối tượng, trong đó có 4 đối tượng nằm trong phạm vi KTNBTH (Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng; giáo viên; nhân viên trong nhà trường; học sinh) và 1 đối tượng không nằm trong phạm vi KT (Ban đại diện cha mẹ học sinh).
Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.3.3 cho thấy, 4 đối tượng được xếp lần lượt ở 4 thứ hạng đầu tiên được đánh giá ở mức độ “đồng ý” đây là những đối tượng của công tác KTNBTH với ĐTB từ 3,52 đến 4,17: HT, phó HT (ĐTB = 4,17); giáo viên (ĐTB =4,05; nhân viên trong nhà trường (ĐTB = 3,89); học sinh (ĐTB = 3,32). Có thể thấy, 4 đối tượng này đều là đối tượng KTNB theo quy định, do đó có thể kết luận GV-CBQL bước đầu đã có nhận thức đúng đắn về đối tượng của công tác KTNBTH. Trong đó, hai đối tượng được “đồng ý” ở mức độ cao nhất là HT, phó HT và GV đang công tác tại trường. HT, phó HT một mặt là người có thẩm quyền trong công tác KTNBTH, có quyền đưa ra kế hoạch cũng như phân quyền cho những người có khả năng theo quy định để giúp mình thực hiện công tác KT, mặt khác HT, phó HT cũng là những người thuộc đối tượng KTNBTH. Nhận thức được điều này có ý nghĩa rất quan trọng, giúp HT trở nên “bình đẳng” hơn với tất cả các GV, nhân viên cũng như các lực lượng khác đang thực hiện nhiệm vụ trong nhà trường, tránh tình trạng “lạm quyền” của HT, phó HT trong quá trình hoạt động ở nhà trường nói chung và trong quá trình thực hiện công tác KTNBTH nói riêng. Giáo viên cũng trở thành đối tượng thứ hai trong công tác KTNBTH, bởi trên thực tế, GV chính là lực lượng chính thực hiện mọi công tác dạy học, GD trong nhà trường. Chất lượng GD được quyết định bởi hiệu quả công tác của GV. Chính vì vậy, KT để đôn đốc, kịp thời phát hiện những khó khăn, giúp họ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là việc làm rất có ý nghĩa. Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
Đối tượng được xếp ở vị trí cuối cùng trong số các đối tượng được đề tài liệt kê là “Ban đại diện cha mẹ học sinh trường”. Mặc dù đây là đối tượng có ý nghĩa khá quan trọng đối với công tác GD của nhà trường, phản ánh mối liên hệ giữa nhà trường và gia đình trong quá trình GD học sinh. Đây là lực lượng không thể thiếu nếu muốn học sinh phát triển toàn diện về nhân cách. Tuy vậy, ban đại diện cha mẹ học sinh trường không phải là đối tượng của công tác KTNBTH theo quy định. Đối với đối tượng này, những GV-CBQL tham gia khảo sát thể hiện thái độ “phân vân” khi xác định đây có phải là đối tượng của công tác KTNBTH hay không (ĐTB = 3,32) với 58,5% khách thể lựa chọn ở mức độ “đồng ý” và “rất đồng ý” (hơn 1/2 mẫu nghiên cứu). Rõ ràng đây là một lựa chọn sai lầm và tỉ lệ lựa chọn này khá cao, cho phép chúng tôi kết luận GV-CBQL ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một chưa thực sự có nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về đối tượng của công tác KTNBTH. Đây là điều rất đáng được lưu tâm.
2.3.1.6. Thực trạng nhận thức về hình thức của công tác kiểm tra nội bộ các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
- Bảng 2.3.4: Nhận thức của GV về hình thức của công tác KTNBTH
Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.3.4 cho thấy, tuy có ĐTB khác nhau nhưng cả 6 hình thức KTNBTH đề tài liệt kê đều được GV-CBQL tham gia khảo sát đánh giá ở mức độ “đồng ý” (ĐTB từ 3,60 đến 4,09). Xét về mặt lý thuyết, đây đều là những hình thức đang được áp dụng trong công tác KTNBTH ở các trường THCS hiện nay. Điều này cho thấy, các GV-CBQL đã có nhận thức khá đúng đắn về hình thức KTNBTH.
Xếp ở thứ hạng đầu tiên với ĐTB = 4,09 là hình thức “Kiểm tra thường xuyên (theo kế hoạch)”. Đây là hình thức KT theo kế hoạch hàng năm của HT và được thông báo trước cho đối tượng KT, các bộ phận, cá nhân có liên quan. Hình thức KT này giúp nhà QL đánh giá được mức độ tiến bộ của cá nhân hay bộ phận, giúp cho đối tượng bộc lộ hết khả năng trong công việc. Do được thông báo trước trong kế hoạch nên hình thức này giúp cho các đối tượng, các bộ phận, cá nhân được KT cũng như thẩm quyền KT khá chủ động trong công tác chuẩn bị cũng như thực hiện. Vì vậy, hình thức này thường được các nhà trường sử dụng trong công tác KTNB của mình.
Hình thức “Kiểm tra toàn diện cá nhân, bộ phận (bao gồm tất cả các một hoạt động liên quan)” (ĐTB = 3,96) và “Kiểm tra theo chuyên đề cá nhân, bộ phận (bao gồm một số hoạt động)” (ĐTB = 3,95) có ĐTB khá gần nhau và lần lượt được xếp ở vị trí thứ 2 và thứ 3. Hai hình thức này đều thuộc nhóm hình thức KT theo nội dung. Trên thực tế, đây cũng là hình thức được nhiều trường THCS lựa chọn sử dụng khi KTNB, bởi thực chất KTNBTH chính là kiểm tra việc thực hiện các mặt hoạt động của nhà trường.
Tuy vẫn được đánh giá ở mức độ “đồng ý” nhưng có ĐTB thấp nhất trong các hình thức được liệt kê và lần lượt xếp ở hai thứ hạng cuối cùng là hình thức “Kiểm tra đột xuất (không theo kế hoạch)” (ĐTB = 3,61) và “Kiểm tra gián tiếp cá nhân, bộ phận thông qua kết quả hồ sơ ghi hoặc qua nhận xét của người khác” (ĐTB = 3,61). Tỉ lệ lựa chọn các mức độ đánh giá từ “phân vân” đến “hoàn toàn không đồng ý” ở hai hình thức này cũng khá cao (lần lượt là 30,3% và 30,0%). Hình thức KT đột xuất thường được tiến hành khi phát hiện tập thể, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng hoặc do HT giao, nhằm giúp cho người QL biết được tình hình công việc diễn ra trong điều kiện bình thường hàng ngày, đồng thời có tác dụng duy trì kỷ luật lao động, nâng cao tinh thần tự giác, tự KT của các cá nhân, bộ phận trong nhà trường. Tuy nhiên, hình thức này nếu không áp dụng một cách khéo léo có thể gây tình trạng căng thẳng, áp lực không cần thiết trong đội ngũ giáo viên, cán bộ công nhân viên trường học. Hình thức “Kiểm tra gián tiếp cá nhân, bộ phận thông qua kết quả hồ sơ ghi hoặc qua nhận xét của người khác” có lợi thế giúp quá trình kiểm tra diễn ra nhanh hơn, tuy nhiên giữa thực tế thực hiện công việc và kết quả ghi hồ sơ có thể có khoảng cách nhất định, KT thông quá kết quả nhận xét của người khác có thể thiếu đi tính khách quan, công bằng, do đó hai hình thức này thường ít được sử dụng so với những hình thức còn lại trong quá trình KTNBTH. Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
3.2.1.7 Thực trạng nhận thức về vai trò của công tác kiểm tra nội bộ các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
- Bảng 2.4: Nhận thức về vai trò của công tác kiểm tra nội bộ trường học
Hoạt động quản lý bao gồm 4 chức năng cơ bản: Kế hoạch – Tổ chức – Lãnh đạo – Kiểm tra. Như vậy, KT là chức năng của hoạt động QL, nó có một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động QL vì đó là một phương cách duy nhất để các nhà QL biết được mục tiêu của tổ chức, của đơn vị hoạt động như thế nào, đạt hiệu quả ra sao, nhờ đó mà chủ thể QL có cơ sở để tự đánh giá các quyết định QL của mình đưa ra có sát với tình hình thực tiễn của đơn vị hay không, từ đó điều chỉnh, rút kinh nghiệm trong việc QL nâng cao chất lượng GD và đổi mới nhà trường. Phân tích cụ thể, công tác KTNBTH thể hiện 8 vai trò không thể thay thế đối với hiệu quả QL của HT cũng như hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của nhà trường mà đề tài đã liệt kê trong bảng hỏi nhằm khảo sát ý kiến của của các GV-CBQL về mức độ đồng tình của họ với các ý kiến này.
Kết quả khảo sát ở bảng 2.4 cho thấy, cả 8 vai trò đều có ĐTB từ 4,09 đến 4,24 cho phép chúng tôi kết luận cả 8 vai trò đều được GV-CBQL tham gia khảo sát đánh giá ở mức độ “đồng ý”, điều này có nghĩa là mẫu khảo sát đã nhận thức khá đúng đắn, đầy đủ về vai trò của công tác KTNBTH. Trong đó, GV-CBQL tham gia khảo sát đặc biệt đồng ý với các vai trò “Kiểm tra là một chúc năng quan trọng không thể thiếu được trong quá trình quản lý nhà trường” (ĐTB = 4,24); “KTNB của nhà trường nhằm thúc đẩy hoạt động các bộ phận, cá nhân trong nhà trường để đạt được mục tiêu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”; “KTNB của nhà trường nhằm thực hiện tốt vai trò quản lý nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng nhà trường” (ĐTB = 4,20). Kết quả này cho thấy, GV-CBQL đã nhận thức rõ được vai trò của công tác KTNBTH không chỉ có ý nghĩa đối với quá trình QLNT mà quan trọng hơn nó có ý nghĩa đối với mỗi bộ phận, cá nhân trong trường, thúc đẩy hoạt động của các bộ phận, cá nhân diễn ra tích cực, hiệu quả hơn, từ đó hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao góp phần nâng cao chất lượng GD của nhà trường.
Hai vai trò được xếp ở vị trí cuối cùng là “KTNB của nhà trường nhằm cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học đáp úng với yêu cầu của xã hội hiện nay” (ĐTB = 4,11) và “KTNB của nhà trường có liên quan mật thiết với việc tự đánh giá thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục đơn vị” (ĐTB = 4,09). Tuy xếp ở vị trí cuối cùng nhưng ĐTB vẫn khá gần với những ý kiến được xếp ở vị trí đầu tiên, do đó có thể thấy GV-CBQL tham gia khảo sát vẫn đánh giá cao vai trò này của công tác KTNBTH đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
2.3.2. Thực trạng thực hiện kiểm tra nội bộ các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
2.3.2.1. Thực trạng về xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ và mối liên hệ với kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học của trường
Do yêu cầu thực tiễn GDĐT, hoạt động GD, dạy học trong trường học phức tạp, đa dạng. GDĐT con người không được phép phế phẩm, do đó hiệu trưởng nhà trường phải xây dựng kế hoạch KT thường xuyên (hay định kỳ) để KT toàn bộ hoạt động, công việc và mối quan hệ trong trường để phát hiện, theo dõi, kiểm soát, phòng ngừa và đánh giá chính xác nhằm động viên, giúp đỡ, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với mục tiêu, kế hoạch, quy chế và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy trình KT một cách khoa học.
- Bảng 2 . 5: Ý kiến đánh giá của GV về việc xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ
Trong số 8 công việc, yêu cầu cụ thể được liệt kê, kết quả nghiên cứu ở bảng 2.5 cho thấy ĐTB của cả 8 yêu cầu này trải dài từ 4,07 đến 4,30 rơi vào khoảng phỏng định “đồng ý”, điều này có nghĩa là các GV-CBQL tham gia khảo sát đều “đồng ý” với tất cả 8 yêu cầu cần phải thực hiện này trong quá trình lập kế hoạch KTNBTH. Trong đó, cần đặc biệt quan tâm tới các yêu cầu: 1, Hiệu trưởng xây dựng chi tiết kế hoạch KTNB nhà trường (ĐTB = 4,30); 2, Hiệu trưởng có căn cú nhiệm vụ năm học, chỉ đạo của cấp trên, thực trạng nhà trường để xây dựng kế hoạch KTNB (ĐTB = 4,29); 3, “Nội dung kế hoạch kiểm tra thể hiện nhũng gì Hiệu trưởng quan tâm, nhằm đảm bảo chỉ đạo được thực hiện đạt kết quả tốt vào cuối năm học”; “Hiệu trưởng chỉ đạo cho bộ phận, cá nhân tự xây dựng kế hoạch kiểm tra công việc của mình theo thẩm quyền được phân công” (ĐTB = 4,17).
Điều đặc biệt, mặc dù yêu cầu “Kế hoạch KTNB của nhà trường có xác định rõ các tiêu chuẩn để kiểm tra hoạt động của tùng cá nhân, bộ phận” (ĐTB = 4,14) có thứ hạng không cao (7/8) trong đánh giá của của GV-CBQL tham gia khảo sát, nhưng đây được coi là yêu cầu cơ bản, khá quan trọng để thực hiện công tác KTNB. Việc xây dựng chuẩn KT là yêu cầu tất yếu trước khi tiến hành KT, người KT phải căn cứ chuẩn kiểm tra phù hợp với từng nhiệm vụ, từng hoạt động để có thể đo lường, đánh giá hoạt động của các thành viên và các điều kiện cho các hoạt động của nhà trường. Tổ chức xây dựng chuẩn kiểm tra phải đảm bảo tính khoa học, tính dân chủ cũng là một yêu cầu để thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Bên cạnh đó, khi xây dựng được một cách chi tiết, rõ ràng và công khai các tiêu chuẩn đánh giá sẽ giúp cho việc tự đánh giá của mỗi bộ phận, mỗi cá nhân trở nên thuận lợi, đúng đắn hơn, từ đó rút ngắn được quy trình KTNB nhưng hiệu quả công việc lại cao hơn và quá trình KT cũng có thể diễn ra mọi lúc, mọi nơi. Do đó, nội dung yêu cầu này cần phải nhận được sự quan tâm hơn nữa của các GV-CBQL trong nhà trường khi tiến hành xây dựng kế hoạch cũng như thực hiện công tác KTNBTH.
2.3.2.2. Thực trạng về nội dung tổ chức kiểm tra nội bộ các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
Hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường rất phong phú, phức tạp và nhiều mặt. HT là người được giao nhiệm vụ QLNT có trách nhiệm KT toàn bộ công việc, hoạt động, mối quan hệ, kết quả của toàn bộ quá trình dạy học, giáo dục và những điều kiện phương tiện của nó, không loại trừ mặt nào. Do đó, nội dung KTNBTH được xác định gồm nội dung cơ bản sau: Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ được giao của lãnh đạo, viên chức, người lao động; Kiểm tra hoạt động của các tổ, khối chuyên môn, các bộ phận; thư viện, thiết bị, tài chính, văn thư, bán trú, nội trú (nếu có); Kiểm tra tài chính; Kiểm tra công tác quản lý của hiệu trưởng. Trên thực tế, các nội dung kiểm tra này có được thực hiện hay không? Kết quả thực hiện như thế nào tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến đánh giá của GV-CBQL đang công tác tại các trường này. Kết quả khảo sát được thể hiện trong bảng 2.6 dưới đây:
- Bảng 2 . 6: Ý kiến của GV về việc thực hiện nội dung KT tại đơn vị công tác
Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.6 cho thấy, trong số 18 nội dung của công tác KTNBTH được liệt kê, có thể nhận thấy có 17/18 nội dung được các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một thực hiện khá đầy đủ (tỉ lệ có đồng ý đều >98%), trong đó đặc biệt là các nội dung: Kiểm tra hoạt động tổ chuyên môn; Kiểm tra CSVC, hoạt động chuyên môn của phòng thiết bị- phòng bộ môn; Kiểm tra thư viện trường; Kiểm tra cơ sở vật chất trường (khuôn viên trường, phòng học, phòng làm việc cùng các trang thiết bị phục vụ khác). Các nội dung này đều có tỉ lệ đồng ý là 100%. Cá biệt, nội dung “Kiểm tra công tác bán trú” có tỉ lệ không đồng ý lên tới 37,1%. Tuy nhiên, tỉ lệ này phần lớn xuất phát từ các trường không có bán trú, do đó tỉ lệ này cũng không đáng ngại. Ở các nội dung còn lại, tỉ lệ không đồng ý tuy không cao (từ 0,1% đến 1,4%), nhưng đây đều là những nội dung quan trọng của công tác KTNBTH (như: KT việc thực hiện nhiệm vụ của HT, phó HT; KT việc thực hiện nhiệm vụ của từng GV (hoạt động sư phạm nhà giáo); KT việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch năm học, học kỳ, kế hoạch tháng, tuần của trường và các bộ phận; KT thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của trường; phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thực hiện “3 công khai”…) ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới mọi hoạt động của nhà trường, đòi hỏi các trường phải thực hiện đầy đủ và thực hiện hiệu quả, do đó những số liệu này rất cần được quan tâm. Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
Về kết quả thực hiện, tương ứng với mức độ thực hiện, cũng có 17/18 nội dung được đánh giá ở mức độ thực hiện “tốt” (ĐTB trải dài 3,98 đến 4,13). Có thể nhận thấy, mặc dù có ĐTB khác biệt, nhưng phổ điểm khá gần nhau, mức độ chênh lệch ĐTB giữa các nội dung này không nhiều, cho thấy kết quả thực hiện các nội dung này khá đồng đều. Trong đó, đặc biệt phải kể đến một số nội dung: “Kiểm tra hoạt động tổ chuyên môn” (ĐTB = 4,13) là nội dung được xếp ở thứ hạng đầu tiên về kết quả thực hiện. Có thể nói, tổ chuyên môn chính là “linh hồn” của hoạt động sư phạm nhà trường, bởi trong các thành tố của quá trình GD thì GV chính là yếu tố quyết định đến chất lượng dạy học. Việc KT hoạt động tổ/khối chuyên môn giúp cho HT thấy được toàn bộ bức tranh hoạt động sư phạm của tập thể GV, trong đó bộc lộ tất cả các khâu của quá trình dạy học, GD học sinh, thấy rõ tác động của tập thể đến cá nhân và mối quan hệ tương tác giữa các thành viên trong tập thể, từ đó có các biện pháp hợp lý, kịp thời thúc đẩy sự phát triển của tổ chuyên môn, cũng là thúc đẩy sự phát triển chất lượng GD, hình thành uy tín, vị thế của nhà trường trong hệ thống GD địa phương. Chính vì vậy, không khó hiểu khi các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một đều chú trọng thực hiện nội dung này đầy đủ và hiệu quả.
Nội dung được xếp ở vị trí thứ hai về hiệu quả thực hiện trong công tác KTNBTH là “Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của tùng giáo viên (hoạt động sư phạm nhà giáo)” (ĐTB = 4,10). Có thể thấy, nội dung này cũng là nội dung có liên quan mật thiết đến hoạt động của tổ chuyên môn. Kết quả thực hiện mục tiêu của nhà trường phụ thuộc phần lớn vào việc thực hiện hoạt động sư phạm của GV. Việc KT hoạt động sư phạm của nhà giáo nhằm xem xét cụ thể tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ, đối chiếu với những yêu cầu, chuẩn nghề nghiệp về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức và kỹ năng sư phạm mà nhà giáo cần phải đạt nhằm đáp ứng mục tiêu GD. Kết quả này giúp HT điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu, đồng thời cũng là cơ sở để đánh giá, xếp loại thi đua trong năm học, làm căn cứ để xét khen thưởng, kỷ luật cũng như làm căn cứ cho việc đào tạo, bồi dưỡng GV.
Vẫn nằm trong mức đánh giá đồng ý với kết quả thực hiện “tốt” nhưng có ĐTB thấp nhất so với các nội dung còn lại, lần lượt được xếp ở thứ hạng cuối cùng là 16, Kiểm tra việc quản lý và tổ chúc phối hợp giáo dục học sinh (ĐTB = 4,00) và 17, Kiểm tra hoạt động của Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh (ĐTB = 3,98). Cả hai nội dung này đều liên quan đến việc thực hiện nội dung, chương trình GD toàn diện cho học sinh. Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
Nội dung duy nhất trong tổng số 18 nội dung được liệt kê được đánh giá ở mức độ “khá” và cũng là nội dung được xếp ở thứ hạng cuối cùng với ĐTB = 2,90 là nội dung “Kiểm tra công tác bán trú”. Đối với các trường bán trú, việc KT công tác bán trú nhằm thực hiện các nhiệm vụ: KT, đánh giá, tư vấn, thúc đẩy công tác này sẽ ngày càng tốt hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của HS. Nội dung này tuy không ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động dạy học, cũng như chất lượng GD của nhà trường, nhưng rõ ràng khi được đáp ứng đầy đủ và tốt nhất về cơ sở vật chất phục vụ cho các nhu cầu ăn, ở của HS, các em được nuôi dưỡng, chăm sóc một cách an toàn, hiệu quả giúp các em an tâm trong quá trình theo học tại trường. Do đó, cần thúc đẩy hơn nữa hiệu quả thực hiện nội dung này trong KTNBTH.
2.3.2.3. Thực trạng các thành viên tham gia kiểm tra nội bộ các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
- Bảng 2 . 7: Ý kiến của GV về các thành viên tham gia kiểm tra nội bộ ở trường
Theo quy định, người có thẩm quyền KTNBTH bao gồm HT và các viên chức trong Ban KTNB nhà trường hoặc các viên chức khác được cử tham gia đoàn KT theo quyết định của HT. Tùy theo mục đích, nội dung KT, căn cứ vào năng lực, kinh nghiệm của các viên chức trong nhà trường, HT sẽ phân công thành viên trong đoàn KT. Theo kết quả nghiên cứu ở bảng 2.7, cả 9 vị trí công tác được liệt kê đều có tỉ lệ lựa chọn tham gia vào đoàn KTNB khá lớn (từ 75% đến 97,9%). Điều này cho thấy lực lượng cán bộ tham gia vào công tác KTNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một khá phong phú, giữ nhiều chức vụ, vị trí công tác khác nhau liên quan tới tất cả các hoạt động của nhà trường, đảm bảo cho việc KTNB được diễn ra thuận lợi, khách quan và công bằng. Trong đó, có 5/9 vị trí có tỉ lệ được lựa chọn là thành viên đoàn KTNBTH trên 90%, bao gồm: Phó HT (97,9%); HT (97,3%); Tổ trưởng Tổ bộ môn (94,5%); Chủ tịch công đoàn (93%); Đại diện Ban TTND trường học (90,6%). Có thể nhận thấy, đây đều là những vị trí chủ chốt liên quan chặt chẽ tới các nội dung chính của công tác KTNB cũng như liên quan chặt chẽ với các dạng hoạt động chính của nhà trường. Vì vậy, kết quả nghiên cứu này phù hợp về mặt lý luận cũng như thực tiễn đang diễn ra trong công tác KTNB tại các trường THCS.
2.3.2.4. Thực trạng về phẩm chất, năng lực và uy tín của thành viên tham gia kiểm tra nội bộ các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
- Bảng 2 . 8: Ý kiến đánh giá của GV về phẩm chất, uy tín và năng lực của thành viên tham gia kiểm tra nội bộ ở trường Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
Như đã phân tích ở trên, KTNB là công tác quan trọng trong quá trình QL của HT nhằm cung cấp những thông tin ngược giúp HT nắm bắt được quá trình thực hiện mục tiêu của nhà trường diễn ra như thế nào từ đó có thể kịp thời đưa ra những quyết định QL đẩy cao chất lượng GD của nhà trường. Để có được những thông tin chính xác, khách quan trong quá trình KTNB phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó, phẩm chất, năng lực và uy tín của các thành viên trong đoàn KTNB là rất quan trọng. Thành viên KTNB phải vừa có năng lực giỏi, phẩm chất tốt, vừa nhận được sự tin tưởng, kính trọng của các GV, cán bộ, nhân viên nhà trường mới có thể làm tốt nhiệm vụ KTNB. Quan sát kết quả nghiên cứu ở bảng 2.8 có thể thấy cả 17 tiêu chí về năng lực, phẩm chất, uy tín của thành viên đoàn KTNB mà đề tài liệt kê đều được GV đánh giá với ĐTB từ 3,98 đến 4,24, đồng nghĩa với việc các thành viên đoàn KTNB đều có năng lực, phẩm chất và uy tín “tốt” đáp ứng được yêu cầu khi thực hiện nhiệm vụ.
Tuy nhiên, phân tích kỹ tỉ lệ lựa chọn các mức độ đánh giá có thể thấy, ở tất cả các yêu cầu về mặt năng lực, phẩm chất hay uy tín đều còn tồn tại một tỉ lệ nhất định cán bộ KT mới chỉ được đánh giá ở mức “yếu” đến “trung bình” (từ 1%-3% ). Tuy tỉ lệ này không cao, nhưng công tác KTNB đòi hỏi sự chính xác, minh bạch, hơn nữa lại là công việc khá “nhạy cảm” do nó có thể liên quan tới công tác thi đua, khen thưởng cũng như sử dụng cán bộ, vì vậy đây vẫn là số liệu cần phải quan tâm để nâng cao hơn nữa hiệu quả KTNB ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một.
Ba yếu tố có ĐTB cao nhất được xếp ở vị trí đầu tiên đều thuộc nhóm các yêu cầu về mặt phẩm chất của cán bộ kiểm tra, bao gồm: Có phẩm chất chính trị vũng vàng (ĐTB = 4,26); Hiểu biết và làm theo pháp luật (ĐTB = 4,16); Nắm vũng quan điểm đường lối giáo dục (ĐTB = 4,17). Có thể thấy, ba yêu cầu này khá liên quan tới nhau. Hoạt động của nhà trường có thể diễn ra một cách linh hoạt tùy theo từng đối tượng, từng thời điểm nhưng phải đảm bảo đúng pháp luật, đúng quan điểm, đường lối giáo dục mà nhà nước đã đề ra. Do đó, hơn ai hết thành viên của ban KTNBTH phải là những người thấm nhuần một cách sâu sắc những đường lối, quan điểm này mới có thể thực hiện tốt công tác kiểm tra.
Trong các yêu cầu về mặt phẩm chất, điều đặc biệt cần lưu ý là “Tính dũng cảm, kiên quyết (ĐTB = 3,99); Thái độ công bằng, cởi mở, quan tâm đến mọi người (ĐTB = 4,04); Tính trung thực, thẳng thắn (ĐT = 4,07) đều có thứ hạng không cao (lần lượt là thứ hạng 14, 10 và 7) nếu xét trong nhóm các yêu cầu về phẩm chất và các yêu cầu nói chung về nhân cách của thành viên đoàn KTNB mặc dù vẫn được đánh giá ở mức độ “tốt”. Đây đều là những phẩm chất đặc biệt đòi hỏi người làm công tác KT phải có. Chỉ khi có thái độ công bằng, lòng trung thực, thẳng thắn và sự dũng cảm, người làm công tác kiểm tra mới sắn sàng đấu tranh với những cái xấu, cái còn tồn tại trong quá trình hoạt động của nhà trường (bao gồm cả công tác QL của HT, phó HT), từ đó thay đổi để đảm bảo hiệu quả hoạt động GD, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Vì vậy, thành viên đoàn KTNBTH cần đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu về các phẩm chất này. Đây cũng là bài toán đặt ra cho những người có thẩm quyền đối với công tác KTNBTH nếu muốn nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác này.
Xét về mặt năng lực, để thực hiện tốt công tác KTNB, thành viên của đoàn KT không chỉ cần những năng lực riêng liên quan tới chuyên môn của nhà giáo, đòi hỏi phải đáp ứng được một số năng lực chung (quan sát, giao tiếp, phân tích đánh giá…). Kết quả ở bảng nghiên cứu cho thấy, trong số 6 năng lực được liệt kê, năng lực sư phạm được đánh giá ở vị trí cao nhất trong nhóm năng lực và ở vị trí thứ 4 trong toàn bộ các yêu cầu (ĐTB = 4,13). Có thể thấy, như kết quả nghiên cứu ở trên, thành viên của đoàn KTNBTH được lựa chọn đa số là HT, phó HT, tổ trưởng chuyên môn… Để được bổ nhiệm vào các vị trí trên, họ cũng chính là những GV có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm sư phạm nhất định trong quá trình giảng dạy, chính vì vậy họ được đánh giá cao về năng lực sư phạm là điều không khó để lý giải. Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.8 cũng cho thấy, các năng lực còn lại đều không có thứ hạng cao nếu xét trong tổng thể các yêu cầu (các thứ hạng từ 9 đến 17), như: Năng lực cảm hóa, thuyết phục (ĐTB = 3,99); Năng lực tư vấn, thúc đẩy (ĐTB = 3,98); Năng lực phân tích, đánh giá (ĐTB = 3,98). Đây là những năng lực riêng đòi hỏi ở người làm công tác KT, giúp họ có khả năng đánh giá một cách sâu sắc hơn, bớt đi tính cảm tính trong đánh giá cũng như có khả năng tác động, thay đổi đối tượng đánh giá. Kết quả này đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa những năng lực này ở các thành viên trong đoàn KTNBTH.
Cả hai yêu cầu về mặt uy tín của thành viên đoàn KTNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một đều không được đánh giá ở thứ hạng cao (cùng thứ hạng 12) mặc dù vẫn được đánh giá ở kết quả “tốt”. Điều này đồng nghĩa với việc các thành viên đoàn KTNB cần rèn luyện hơn nữa về phẩm chất cũng như năng lực, gần gũi, cởi mở hơn với các CBGV để nhận được sự tin tưởng, kính trọng của họ, vì chỉ khi có uy tín thực sự trong đội ngũ mới có thể tác động tới họ theo điều mà mình mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả QL cũng như hiệu quả dạy học.
Tóm lại, cả ba yêu cầu về mặt năng lực, phẩm chất, uy tín của thành viên ban KTNBTH tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một đều được đánh giá ở mức độ “tốt” trong đó đặc biệt là các phẩm chất chính trị vững vàng; Hiểu biết và làm theo pháp luật; Nắm vững quan điểm đường lối GD và năng lực sư phạm.
2.3.3. Thực trạng về quản lý, chỉ đạo công tác kiểm tra nội bộ của hiệu trưởng các trường trung hqc cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
2.3.3.1. Thực trạng chỉ dạo công tác kiểm tra nội bộ của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
Để QL tốt quá trình thực hiện KTNB, người HT cần QL và tổ chức thực hiện qua 4 khâu: Chuẩn bị, lập kế hoạch kiểm tra, tiến hành kiểm tra, kết thúc kiểm tra, hoạt động sau kiểm tra. Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.9. cho thấy, ĐTB của tất cả các nội dung này trải dài từ 4,00 đến 4,14 cho thấy các nội dung này đều được đánh giá là thực hiện ở mức độ tốt. Hơn thế nữa, ĐTB của các nội dung này cũng khá tương đồng, mức độ chênh lệch không cao, do đó có thể thấy các nội dung này có kết quả thực hiện khá đồng đều, thể hiện sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của HT trong công tác KTNBTH.
Bảng 2.9: Ý kiến đánh giá của giáo viên về việc quản lý, chỉ dạo của Hiệu trưởng thực hiện công tác kiểm tra nội bộ trường
- Công tác chuẩn bị các điều kiện thực hiện KTNB Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
Việc chuẩn bị cho KTNB có thể gồm những công việc là chuẩn bị nhận thức cho đội ngũ nhà trường về mục đích, ý nghĩa, yêu cầu của việc KTNB; phân cấp QL trong nội bộ nhà trường, tìm hiểu thực trạng trường làm căn cứ xây dựng kế hoạch KTNB, xây dựng tiêu chuẩn, quy định KT và lực lượng KT, xây dựng môi trường văn hóa trong nhà trường để tạo điều kiện cho hoạt động KT… Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả 4 nội dung trong quá trình chuẩn bị các điều kiện thực hiện KTNB đều được đánh giá có kết quả thực hiện tốt (ĐTB từ 4,08 đến 4,13), trong đó đặc biệt là các nội dung: Có xây dựng kế hoạch, quy định, quy chế thực hiện công tác kiểm tra (ĐTB = 4,13); Thành lập Ban kiểm tra nội bộ trường học, bố trí, phân công hợp lý, khoa học đội ngũ thực hiện công tác KTNB (ĐTB = 4,11).
Điều đáng lưu ý, trong 4 nội dung này có 2 nội dung vẫn còn tồn tại tỉ lệ kết quả thực hiện “chưa đạt”: Lựa chọn và bồi dưỡng đội ngũ thực hiện công tác KTNB trường học (0,5%); Thành lập Ban kiểm tra nội bộ trường học, bố trí, phân công hợp lý, khoa học đội ngũ thực hiện công tác KTNB (0,4%). Đây là những con số khá nhỏ, nhưng như đã phân tích, việc chuẩn bị cho công tác KTNB, đặc biệt là chuẩn bị về mặt con người càng tốt bao nhiêu thì hiệu quả của công tác KTNB càng cao bấy nhiêu. Do đó, ở những đơn vị còn tồn tại kết quả chưa đạt này cần phải được khắc phục để đảm bảo cho công tác này diễn ra có hiệu quả cao nhất.
- Chỉ đạo tổ chức xây dựng kế hoạch thực hiện công tác kiểm tra
Tương tự như bước chuẩn bị, việc chỉ đạo tổ chức xây dựng kế hoạch thực hiện công tác KT được HT các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một thực hiện ở mức tốt (ĐTB từ 4,08 đến 4,14). Điều đáng mừng là ở nội dung này, không có đơn vị nào được đánh giá kết quả thực hiện ở mức không đạt (0,0%). Như vậy, có thể kết luận các trường THCS đã thực hiện tốt công tác chỉ đạo xây dựng kế hoạch thực hiện công tác KT trong quy trình KTNBTH.
- Chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác kiểm tra
Với ĐTB từ 4,03 đến 4,11, các nội dung chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác KT được đa số CBGV đánh giá thực hiện ở mức độ tốt. Riêng nội dung “Giám sát và điều chỉnh nhũng lệch lạc trong quá trình thực hiện kiểm tra” (ĐTB = 4,03) xếp ở vị trí cuối cùng trong công tác này vẫn còn 0,2% GV đánh giá ở mức độ thực hiện “chưa đạt”. Giám sát và điều chỉnh những lệch lạc trong quá trình thực hiện KT là điều cần thiết, bởi giữa kế hoạch và thực tiễn thực hiện bao giờ cũng có những khoảng cách nhất định.
- Kết thúc kiểm tra
Mặc dù cả 5 nội dung trong quá trình kết thúc KT đều có ĐTB >4,00 đồng nghĩa với việc được đánh giá ở mức độ thực hiện “tốt” và các ĐTB này cũng không có sự chênh lệch đáng kể, nhưng có thể thấy có 4/5 nội dung vẫn còn tồn tại tỉ lệ 0,4% GV đánh giá kết quả thực hiện các nội dung này “chưa đạt”, bao gồm: Chỉ đạo thực hiện đủ 4 nhiệm vụ: kiểm tra, đánh giá, tư vấn, thúc đẩy; Chỉ đạo lập đầy đủ hồ sơ (biên bản, tài liệu minh chứng, báo cáo kết quả…) theo quy định; Có thông báo kết luận sau kiểm tra và chỉ đạo cho cá nhân, tập thể thực hiện theo các kết luận; Chỉ đạo, thúc đẩy tự KT việc thực hiện các kiến nghị qua hoạt động KT. Bên cạnh đó, căn cứ vào thứ hạng của các nội dung có thể thấy, trong quá trình kết thúc KT, việc “Chỉ đạo lập đầy đủ hồ sơ (biên bản, tài liệu minh chứng, báo cáo kết quả…) theo quy định” (thứ hạng 1), “Cung cấp thông tin kết quả KT cho các bên liên quan để có phối hợp thực hiện theo nhiệm vụ” (thứ hạng 2) được quan tâm thực hiện tốt hơn so với “Chỉ đạo thực hiện đủ 4 nhiệm vụ: KT, đánh giá, tư vấn, thúc đẩy” (thứ hạng 5) và “Chỉ đạo, thúc đẩy tự KT việc thực hiện các kiến nghị qua hoạt động KT” (thứ hạng 4). Điều này cho thấy HT cũng như những người có thẩm quyền KTNB cần đi sâu hơn nữa vào bản chất, mục tiêu sau cùng của công tác KT. Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
- Tiến trình sau khi kết thúc KTNB
Có thể nói, mục đích cao nhất của công tác KTNBTH là tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhà trường. Do đó, kết thúc KT chưa phải là khâu cuối cùng của quá trình KTNB. Cần phải thực hiện thêm một giai đoạn nữa mới đạt được mục đích cao nhất của quá trình KT đó là tiến trình sau khi kết thúc KTNB. Ở tiến trình này, căn cứ trên kết quả KTNB, căn cứ những đánh giá của HT nhà trường qua thực tế KT và những thông tin có được trong công tác QL, HT nhà trường phải phân tích đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, những nội dung tồn tại có tính hệ thống… để có kế hoạch giúp đỡ, tư vấn, điều chỉnh kịp thời những tồn tại, đồng thời phát huy, nhân rộng những điểm mạnh, những cá nhân tiên tiến với mục đích chính là tạo ra và thúc đẩy sự chuyển biến tích cực cho từng cá nhân, bộ phận và cả tập thể nhà trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 4 nội dung trong tiến trình sau khi kết thúc KTNB đều được đánh giá thực hiện ở mức độ tốt. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, ở tiến trình này, HT tập trung nhiều vào công việc bên ngoài (lưu trữ hồ sơ KT, tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm) hơn là tập trung vào các nội dung bên trong (cải tiến hoạt động KT, xây dựng chính sách thúc đẩy đội ngũ tự bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và tự KT theo chuẩn quy định). Điều này không sai nhưng nó khiến cho công tác QL của HT chưa thực sự có chiều sâu. Điều này cũng thể hiện ở tỉ lệ kết quả “chưa đạt” khi thực hiện tiến trình này cũng cao hơn so với các nội dung ở trên (0,6%-0,7%). Trên thực tế, có không ít trường hợp nhà trường tổ chức KTNB, sau đó kết quả kiểm tra không được thông báo đến đội ngũ CBGV của trường khiến cho hiệu quả của công tác kiểm tra bị giảm sút.
2.3.3.2 Thực trạng quản lý việc lập hồ sơ báo cáo kết quả kiểm tra nội bộ của thành viên, tổ kiểm tra
Bảng 2 . 10: Ý kiến đánh giá của giáo viên về việc lập hồ sơ báo cáo kết quả hoạt động KTNB của thành viên, tổ kiểm tra ở trường
Hồ sơ KTNB trường học là cơ sở để tổ chức QL các hoạt động của nhà trường, là một trong những nguồn minh chứng để đánh giá tập thể sư phạm, thực hiện kiểm định chất lượng GD, xử lý các vụ việc liên quan đến CB, GV, NV, HS. Hồ sơ KTNB còn là dữ liệu quan trọng phục vụ cho công tác đánh giá, thi đua khen thưởng, quy hoạch, luân chuyển, đề bạt cán bộ. Do đó, người QL cần đầu tư xem xét tính hợp pháp, chất lượng nội dung của biên bản, tài liệu đính kèm, số lượng từng loại trong việc thiết lập các loại hồ sơ KT theo quy định; QL chặt chẽ, khai thác hiệu quả hồ sơ KTNB.
Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy, cả 7 nội dung liên quan đến việc lập hồ sơ báo cáo kết quả hoạt động KTNB của thành viên, tổ kiểm tra đều được đánh giá có kết quả thực hiện tốt (ĐTB từ 4,00 đến 4,18). Trong đó, 3 nội dung được thực hiện tốt nhất, không có đơn vị nào thực hiện “chưa đạt” (tỉ lệ 0,0%) bao gồm: Hồ sơ kiểm tra thiết lập đầy đủ theo mẫu quy định (ĐTB = 4,18); Thực hiện đúng thủ tục, quy chế chặt chẽ theo quy định về việc sao lưu hồ sơ minh chúng (ĐTB = 4,13); Có thực hiện lưu trũ, ghi nhận đầy đủ các hồ sơ minh chúng theo tùng vấn đề được kiểm tra (ĐTB = 4,13).
Các nội dung còn lại có ĐTB chênh lệch không nhiều so với các nội dung xếp thứ hạng đầu tiên và vẫn được đánh giá ở mức độ thực hiện tốt, tuy nhiên vẫn còn tồn tại tỉ lệ nhỏ đơn vị thực hiện “chưa đạt” (từ 0,1% đến 0,7%) lần lượt được xếp ở những thứ hạng cuối cùng: Các ghi chép trong hồ sơ chính xác, khách quan; Có thông qua các biên bản KT và yêu cầu cá nhân, bộ phận ký xác nhận vào hồ sơ để lưu trũ (ĐTB = 4,07); Nhận xét, đánh giá nêu bật được ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của đối tượng KT theo nhiệm vụ được phân công, ghi nhận đầy đủ các kiến nghị của các bên; Có các kiến nghị cụ thể, có các ý kiến tư vấn có giá trị với công tác QL của HT (ĐTB = 4,00). Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
2.3.3.3 Thực trạng quản lý việc tiến hành sau kiểm tra nội bộ của các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
Bảng 2 . 11: Ý kiến đánh giá của GV về việc tiến hành sau KTNB ở trường
Như đã phân tích ở trên, mục tiêu cuối cùng của công tác KTNBTH là thúc đẩy sự chuyển biến của các lực lượng trong nhà trường. Do đó, sau khi kết thúc quá trình KT, HT cần có những thao tác QL tiếp theo để nâng cao chất lượng hoạt động của nhà trường căn cứ vào những kết quả KT đã thu thập được.
Trong số 9 nội dung mà đề tài đề cập trong việc tiến hành sau KT, kết quả nghiên cứu cho thấy cả 9 nội dung có ĐTB dao động từ 4,00 đến 4,22 có thể kết luận các nội dung này đều được đánh giá là thực hiện ở mức độ tốt. Trong đó, đặc biệt phải kể đến các nội dung được thực hiện tốt hơn cả: 1, HT có thông tin, kết luận cụ thể về kết quả KT trong các cuộc họp sinh hoạt định kỳ toàn trường (ĐTB = 4,22); 2, HT có tổng hợp các kiến nghị của Ban KTNB để tiến hành các điều chỉnh hoạt động của nhà trường (ĐTB = 4,15); 3, HT sủ dụng biện pháp góp ý, nhắc nhở khi xảy ra nhũng vấn đề phát sinh vi phạm (ĐTB = 4,09). Điều này cho thấy trong QL công tác KTNBTH, HT đã chú trọng đến tính công khai, minh bạch thông tin trong quá trình KT, đồng thời tích cực sử dụng kết quả KT để nhắc nhở, điều chỉnh các hoạt động của các bộ phận cũng như cá nhân trong trường. Đây là tín hiệu đáng mừng trong bối cảnh yêu cầu đổi mới QL công tác TTr-KT đang trở nên cấp thiết.
Tuy vậy, cả 9 nội dung này vẫn còn tồn tại tỉ lệ CBGV đánh giá kết quả thực hiện ở mức chưa đạt (0,2% đến 1,1%). Xét trong mối tương quan với tầm quan trọng của các hoạt động này thì tỉ lệ này tuy nhỏ nhưng vẫn cần phải được khắc phục, bởi tỉ lệ này còn tồn tại có nghĩa vẫn còn một bộ phận CBQL thực hiện công tác KTNBTH một cách hời hợt, hình thức, bề mặt mà chưa đi vào chiều sâu, cốt lõi của công tác KT.
Có thể nói, QL mà không KT thì xem như không QL, nhưng KT mà không xử lý kết quả, không sử dụng kết quả đó vào quá trình QL tiếp theo thì KT cũng không có giá trị. Do đó, rất cần có những biện pháp cụ thể thúc đẩy việc tiến hành sau KTNBTH diễn ra một cách sâu sắc và hiệu quả hơn.
2.3.3.4 Thực trạng việc sử dụng và lưu trữ kết quả kiểm tra nội bộ của các trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một
- Bảng 2 . 12: Ý kiến của GV về việc sử dụng và lưu trữ kết quả kiểm tra nội bộ hiện nay ở nhà trường
Có thể nói, việc sử dụng và lưu trữ kết quả KTNBTH là việc làm mang tính chất hành chính, do đó nó đòi hỏi tính chính xác, hiệu quả và thuận lợi trong quá trình trích xuất, chia sẻ kết quả KT. Hiện nay, theo định hướng đổi mới công tác KTNBTH, nhiều đơn vị đã ứng dụng CNTT trong việc số hóa, lưu trữ và QL trực tiếp hồ sơ KTNB trên hệ thống máy tính để đảm bảo việc lưu trữ, chia sẻ và sử dụng kết quả trong nhiều năm, việc đánh giá cá nhân, tập thể sẽ toàn diện và chính xác hơn. Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng và lưu trữ kết quả KTNB hiện nay ở nhà trường có phải đơn vị nào cũng thực hiện hiệu quả? Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.12. cho thấy, theo đánh giá của CBGV tham gia khảo sát, việc lưu trữ kết quả KTNB hiện nay được thực hiện ở mức tốt với ĐTB = 4,15. Đây là kết quả khá khả quan. Trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, cơ sở vật chất được các trường chú trọng đầu tư, việc lưu trữ kết quả KT không còn là điều khó khăn, phức tạp. Chính vì vậy, các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một thực hiện tốt công tác này cũng phù hợp với điều kiện thực tế.
Tuy vậy, qua phỏng vấn CBQL của Phòng GDĐT và các trường thì việc lưu trữ tốt kết quả KTNB không phải diễn ra ở tất cả các trường, qua số liệu cũng cho thấy vẫn còn tồn tại 77 GV (chiếm 9,5%) đánh giá việc công việc này thực hiện ở đơn vị công tác của mình có kết quả thực hiện từ “khá” đến “chưa đạt yêu cầu”. Đồng thời việc lưu trữ hồ sơ tại các trường chủ yếu bằng văn bản giấy. Đây là điều đòi hỏi các HT, CBQL phải thực sự quan tâm, nhất là khi điều kiện lưu trữ bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin đang thuận lợi như hiện nay. Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
- So sánh sự khác biệt bằng ANOVA và Indepent-sample T – test:
Thực hiện kiểm định sự khác biệt giữa các ý kiến của GV về vấn đề được khảo sát ở các tiêu chí như: mã trường, độ tuổi, giới tính, đơn vị công tác, chúc vụ, trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, trình độ quản lý giáo dục và thâm niên công tác quản lý, thâm niên giảng dạy… bằng cách phân tích phương sai ANOVA và Indepent-sample T – test, ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95% (hay mức ý nghĩa Sig.< 0.05), chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong mức độ hiểu biết các vấn đề liên quan công tác KTNB trường THCS được khảo sát (xem thêm phụ lục 3 từ 3.1 đến 3.12).
Kết luận chương 2
Công tác kiểm tra nội bộ trường học có tầm quan trọng hết sức đặc biệt, nó có tác động trực tiếp đến quá trình nâng cao chất lượng dạy và học, là động lực thúc đẩy sự phát triển của nhà trường. Chính công tác kiểm tra này sẽ giúp hiệu trưởng nắm được hoạt động hàng ngày lên lớp của giáo viên, cán bộ, nhân viên, tình hình học sinh, đồng thời, góp phần ngăn chặn những tiêu cực có thể xảy ra trong nhà trường. Qua phân tích kết quả nghiên cứu thực tiễn về thực trạng công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, chúng tôi nhận thấy:
Về nhận thức: các chuyên viên Phòng GDĐT; CBQL, giáo viên, nhân viên của 12 trường THCS tại địa bàng khảo sát có nhận thức đúng đắn và sâu sắc về mục đích, ý nghĩa, vai trò, hình thức, công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở. Riêng về nhận thức thẩm quyền đối với công tác KTNBTH, các GV-CBQL tham gia khảo sát vẫn chưa thực sự nhận thức một cách rõ ràng về vấn đề này. Bên cạnh đó, nhận thức của QBQL-GV về đối tượng của công tác kiểm tra nội bộ trường học chưa thực sự đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về đối tượng của công tác KTNBTH. Bởi vì có đến hơn ½ mẫu nghiên cứu thể hiện thái độ phân vân khi không xác định được rằng Ban đại diện cha mẹ học sinh trường có phải là đối trượng của công tác KTNBTH hay không.
Về thực trạng xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ: Việc lập kế hoạch KTNB cũng cần có những yêu cầu cụ thể giúp cho việc xây dựng kế hoạch và quá trình thực hiện kế hoạch sau này diễn ra thuận lợi, hiệu quả, đúng quy chế, quy định của ngành. Trong số các công việc, yêu cầu cụ thể được liệt kê, GV-CBQL tham gia khảo sát đều “đồng ý” với tất cả các yêu cầu cần phải thực hiện này trong quá trình lập kế hoạch KTNBTH. Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
Về việc thực hiện nội dung kiểm tra tại đơn vị công tác: trong các nội dung của công tác KTNBTH được liệt kê, có thể nhận thấy các nội dung được các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một thực hiện khá đầy đủ. Và kết quả thực hiện cũng được đánh giá là tốt, tương ứng với mức độ thực hiện.
Về mặt nhân sự, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy lực lượng tham gia vào công tác KTNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một khá phong phú, giữ nhiều chức vụ, vị trí công tác khác nhau liên quan tới tất cả các hoạt động của nhà trường, đảm bảo cho việc KTNB được diễn ra thuận lợi, khách quan và công bằng. Bên cạnh đó, các khách thể cũng đồng ý rằng cá nhân tham gia công tác KTNB cần có nhiều phẩm chất tốt. Và ba phẩm chất được ưu tiên đó là có phẩm chất chính trị vững vàng, hiểu biết và làm theo pháp luật, nắm vững quan điểm đường lối giáo dục.
Về thực trạng quản lý, chỉ đạo công tác kiểm tra nội bộ của hiệu trưởng: kết quả nghiên cứu cho thấy các nội dung này đều được đánh giá là thực hiện ở mức độ tốt và có kết quả thực hiện khá đồng đều, thể hiện sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của hiệu trưởng trong công tác KTNBTH. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nội dung liên quan đến việc lập hồ sơ báo cáo kết quả hoạt động KTNB, việc tiến hành sau KTNB và việc lưu trữ kết quả KTNB của thành viên, tổ kiểm tra đều được đánh giá là thực hiện ở mức độ tốt. Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
