Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường Trung học phổ thông tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình giáo dục huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
2.1.1. Khái quát về tình hình kinh tế – xã hội của huyện Bắc Tân Uyên
Huyện Bắc Tân Uyên được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2022 theo Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29/12/2021 của Chính phủ trên cơ sở chia tách huyện Tân Uyên để thành lập thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên.
Sau khi chia tách, huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bình Dương, phía Đông của huyện giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp thị xã Tân Uyên và huyện Bàu Bàng, phía Nam giáp thị xã Tân Uyên và phía Bắc giáp huyện Phú Giáo. Huyện có diện tích tự nhiên là 40.087 ha; có hai con sông lớn chảy qua là sông Bé và sông Đồng Nai, diện tích chủ yếu là trồng cây cao su và cây ăn quả có múi (cam, quýt, bưởi da xanh, bưởi da cam). Dân số toàn huyện hiện nay là 62.392 người với 12651 hộ.
Huyện có 10 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 08 xã thuộc vùng khó khăn theo Quyết định số 1234/QĐ-UBND ngày 09/5/2020 của UBND tỉnh Bình Dương: Tân Lập, Tân Thành, Tân Định, Lạc An, Đất Cuốc, Thường Tân, Tân Mỹ và Hiếu Liêm (trừ xã Tân Bình và xã Bình Mỹ) với 54 ấp. Cơ cấu kinh tế của huyện là Nông lâm nghiệp – Công nghiệp – Dịch vụ (46,58% – 29,98% – 23,44%). Nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế , giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp ước thực hiện 2056 tỷ đồng. Trong đó, trồng trọt chiếm tỷ trọng 80,52% chăn nuôi chiếm 19,48%. GDP bình quân đầu người đạt 39,5 – 40 triệu đồng/người/năm. Đến cuối năm 2024, Huyện có 07/10 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Trong bối cảnh có nhiều khó khăn thách thức nhưng nhìn chung đến nay, tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh trên địa bàn huyện tiếp tục có chuyển biến tích cực, các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch; an sinh xã hội được đảm bảo. Cơ sở hạ tầng và giao thông nông thôn tiếp tục được đầu tư, xây dựng; tình hình sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp duy trì hoạt động ổn định. Thị trường hàng hóa tương đối ổn định, số lượng hàng hóa đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Thu ngân sách ước đạt kế hoạch đề ra. Tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn huyện được giữ vững và ổn định. Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và công nhân xa quê được quan tâm và thực hiện tốt. Ngành giáo dục, y tế đạt được nhiều kết quả tích cực trong nâng cao trình độ đào tạo và chăm sóc sức khỏe. Hoạt động văn hóa, TDTT được tổ chức, từng bước đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của người dân. (Trích báo cáo số 418/BC-UBND ngày 28/12/2024 về tình hình phát triển KT-XH, QP-AN năm 2024 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2025)
2.1.2. Khái quát tình hình giáo dục và đào tạo của huyện Bắc Tân Uyên Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
Đi lên cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời kế thừa truyền thống hiếu học của miền quê Tân Uyên, Chiến khu Đ, ngành Giáo dục và Đào tạo huyện trong những năm qua, đặc biệt từ khi tách huyện năm 2022 đến nay đã có bước phát triển và đạt được một số những thành tựu đáng kể, đóng góp xứng đáng vào phong trào giáo dục tỉnh Bình Dương cũng như sự phát triển kinh tế – xã hội địa phương.
Cơ sở vật chất trường học ngày càng được quan tâm đầu tư tăng cường, quy mô GD&ĐT phát triển và tương đối đồng đều, chất lượng giáo dục ổn định và được nâng lên qua từng năm. Toàn huyện có 10 xã với tổng số trường là 25 (trong đó: Mầm non-Mẫu giáo: 10 (06 Mầm non, 04 mẫu giáo), 10 trường Tiểu học; 02 trường THCS và 03 trường THPT (có cấp THCS)). Với tổng số công chức, viên chức, nhân viên toàn ngành giáo dục (các trường công lập) là 1055 người. Cụ thể:
Phòng Giáo dục và Đào tạo: 13 người (07 nữ), trong đó điều động từ trường 3 GV. Phòng GDĐT có 09/10 công chức có trình độ đại học (90%), 01 đang học Đại học và 01 đang học Thạc sỹ QLGD.
Bậc học Mầm non: có 328 người, trong đó GV dạy lớp 190 người, CBQL 31 người (31 nữ), nhân viên hành chính 107 người. Tỷ lệ GV đạt chuẩn trở lên đạt 100% (190/190), trong đó trung cấp 82/190 (43.16%), cao đẳng 60/190 (31.58%), đại học 48/190 (25.26%).
Bậc Tiểu học: có 384 người, trong đó GV 250 người, CBQL 24 người, nhân viên hành chính 110 người. Tỷ lệ GV đạt chuẩn trở lên chiếm 99.2%: trung cấp 19/250 (7,6%), cao đẳng 83/250 (33,2%), đại học 145/250 (58%), thạc sỹ 01/250 (0.4%); cấp học còn 02 GV chưa đủ chuẩn (0.8%).
- Bậc trung học
Cấp Trung học cơ sở: 02 trường Trung học cơ sở có 73 người, trong đó GV 43 người, CBQL 04 người (01 nữ), nhân viên hành chính 26 người. Tỷ lệ GV đạt chuẩn trở lên đạt 100% (43/43): cao đẳng 17/43 (39.53%), đại học 26/43 (60.47%).
Hiện nay, toàn huyện có 3 trường THPT có 2 cấp học – THPT và THCS, đó là các trường: Trường THPT Lê Lợi, Trường THPT Thường Tân, Trường THPT Tân Bình. Tổng số CB, GV, NV là 257 người, trong đó GV dạy lớp cấp THCS có 107 người, GV dạy cấp THPT có 91 người, CBQL có 11 người (04 nữ), nhân viên hành chính 48 người.
2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
2.2.1. Mục đích nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tại Huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
2.2.2. Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
- Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.2.3.1 Đối với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mẫu khảo sát
Khảo sát với 91 đối tượng là HT, Phó HT, Tổ trưởng, tổ phó chủ nhiệm, Giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương.
Mẫu khảo sát được chọn theo kỹ thuật lấy mẫu “Phân tầng không theo tỷ lệ” [30, tr.29], 3 trường được chọn khảo sát là:
Trường THPT Lê Lợi (mã hóa: A), Trường THPT Thường Tân (mã hóa: B ), Trường THPT Tân Bình (mã hóa: C)
Mẫu khảo sát với đối tượng là CBQL gồm 11 người là HT và hiệu phó tại 3 trường THPT, Tổ trưởng chủ nhiệm: 9 người là những GVCN cốt cán, được phân công làm tổ trưởng chủ nhiệm mỗi khối có 1 người.
- Bảng 2.1. Cơ cấu đội ngũ CBQL theo chức vụ của mẫu khảo sát
Mẫu khảo sát với đối tượng là GVCN gồm 71 người trong đó có 30 GVCN trực tiếp làm CTCN lớp và 41 GV đã từng làm CTCN lớp. Cụ thể như sau:
- Bảng 2.2. Kinh nghiệm làm GVCN của mẫu khảo sát
- Thiết kế bảng hỏi Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
Để tìm hiểu thực trạng QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, chúng tôi đã xây dựng bảng hỏi dựa trên cơ sở lý luận về CTCN lớp đã được xây dựng ở chương I.
- Bảng hỏi dành cho CBQL (phụ lục 1.1) gồm 8 câu hỏi, bao gồm 2 phần:
Phần I. Thực trạng về CTCN lớp gồm 05 câu hỏi liên quan về: Tầm quan trọng, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp giáo dục trong CTCN lớp.
Phần II. Thực trạng QL CTCN lớp gồm 3 câu hỏi liên quan về: sự cần thiết, các hoạt động QL CTCN lớp (công tác xây dựng kế hoạch, công tác tổ chức thực hiện, công tác lãnh đạo, chỉ đạo đội ngũ GVCN, công tác kiểm tra đánh giá CTCN lớp, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả QL CTCN lớp).
- Bảng hỏi dành cho GVCN (phụ lục 1.2) gồm 8 câu hỏi, bao gồm 2 phần:
Phần I. Thực trạng về CTCN lớp gồm 5 câu hỏi, trong đó có 5 câu hỏi như bảng hỏi đối với CBQL
Phần II. Thực trạng QL CTCN lớp gồm 2 câu hỏi về các hoạt động QL CTCN lớp (công tác xây dựng kế hoạch: thực hiện kế hoạch, thiết lập mục tiêu rõ ràng, xác định các nguồn lực, công tác tổ chức thực hiện, công tác lãnh đạo, công tác kiểm tra đánh giá giống bảng hỏi với CBQL), những thuận lợi, khó khăn trong CTCN lớp.
2.2.3.2. Đối với phương pháp phỏng vấn
- Mẫu khảo sát
Thực hiện phỏng vấn trên nhóm đối tượng GVCN và CBQL. Mẫu khảo sát gồm 3 CBQL và 9 GVCN đã được chọn nghiên cứu.
- Thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn
- Chúng tôi xây dựng bảng hỏi gồm:
Đối với GVCN có 4 câu hỏi với các nội dung là: GVCN có được giảng dạy các kỹ năng làm CTCN lớp khi còn là sinh viên; có được bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu về CTCN lớp; số tiết chủ nhiệm 4 tiết/ tuần có còn hợp lý với điều kiện ngày nay; có xác định tiêu chuẩn cán bộ lớp trước khi quyết định chọn ra ban cán bộ lớp; phân công phân nhiệm cho các cá nhân phụ trách CTCN lớp có rõ ràng (phụ lục 2.1).
Đối với CBQL có 2 câu hỏi với các nội dung là: mức độ triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT trong CTCN lớp; có tổ chức hội thi GVCN giỏi tại đơn vị (phụ lục 2.2).
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
2.2.4.1. Xây dựng thang đo
Về cách tính trị trung bình và ý nghĩa của trị trung bình:
Giá trị khoảng cách: (Maximum-Minimun)/n = 0,8. Đối với thang đo Likert bậc 5 sắp theo mức độ tăng dần: Điểm số được quy đổi theo thang bậc 5. Điểm thấp nhất là 1, cao nhất là 5 và chia làm 5 mức, theo đó ta có cách cho điểm như sau:
- 1 điểm: Không thực hiện/ Không sử dụng/ Không quan tâm/ Không quan trọng/ Không thỏa đáng / Không học BD/ Ít hơn 20h/tuần/ Kém.
- 2 điểm: Ít thực hiện/ Ít sử dụng/ Ít quan tâm/ Ít quan trọng/ Ít thỏa đáng/ Học HD 1 buổi/tuần/ Từ 20-30h/tuần/ Yếu.
- 3 điểm: Khá thường xuyên/ Khá quan tâm/ Khá quan trọng/ Khá thỏa đáng/ Học BD 2 buổi/tuần/ Từ 30-40h/tuần/ Trung bình.
- 4 điểm: Thường xuyên/ Quan tâm/ Quan trọng/ Thỏa đáng/ Học BD 3 buổi/tuần/ Từ 40h/tuần trở lên/ Khá.
- 5 điểm: Rất thường xuyên/ Rất quan tâm/ Rất quan trọng/ Rất thỏa đáng/ Học BD từ 3 buổi/tuần trở lên/ Không xác định/ Tốt
Bảng 2.11. Thang đo trị trung bình và mức ý nghĩa
2.2.4.2. Xử lý số liệu
- Phương pháp xử lý số liệu thu được từ bảng hỏi
Trình tự xử lý: Sau khi thu phiếu trưng cầu ý kiến, chúng tôi tiến hành làm sạch dữ liệu, đánh số thứ tự các phiếu trưng cầu ý kiến và sử dụng phần mềm thống kê IBM SPSS 20.0 (Statistical Package for the Social Sciences) để xử lý số liệu, từ đó đánh giá, nhận xét và rút ra kết luận về thực trạng QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên.
Các chỉ số thống kê được sử dụng bao gồm: Bảng phân bố tần số (Frequencies), tỉ lệ phần trăm (%); trị trung bình (Mean) (TTB); độ lệch chuẩn (Std. Deviation) (ĐLC); số trung vị (Median); số yếu vị (Mode); hệ số tương quan tuyến tính Pearson (Rp); kiểm định trung bình (T-Test).
- Kiểm định trị trung bình
- Đặt giả thuyết:
H0: Không có sự khác biệt mang ý nghĩa về mặt thống kê trong việc đánh giá một chỉ tiêu nghiên cứu giữa hai hay nhiều nhóm đối tượng được khảo sát. Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
H1: Có sự khác biệt mang ý nghĩa về mặt thống kê trong việc đánh giá một chỉ tiêu nghiên cứu giữa hai hay nhiều nhóm đối tượng được khảo sát.
- Kết quả:
Nếu giá trị Sig. (2-tailed) nhỏ hơn 0.05, ta bác bỏ H0 và chấp nhận H1. Nếu giá trị Sig. (2-tailed) lớn hơn hoặc bằng 0.05, ta chấp nhận H0.
- Lưu ý:
Dùng kiểm định One-Way Anova kiểm tra sự khác biệt về mặt ý nghĩa trong việc đánh giá một chỉ tiêu nghiên cứu giữa 3 đơn vị trường được chọn khảo sát.
Dùng kiểm định Independent-samples T-test kiểm tra sự khác biệt về mặt ý nghĩa trong việc đánh giá một chỉ tiêu nghiên cứu giữa CBQL và GV.
- Phương pháp xử lý số liệu phỏng vấn
Trình tự: Tác giả chọn mẫu, trực tiếp gặp, trao đổi, thu âm và ghi nhận dữ liệu, sau đó so sánh, đối chiếu để có những phân tích phù hợp với thực tế, làm rõ kết quả điều tra về thực trạng QL CTCN ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên.
Xử lý số liệu phỏng vấn: Chúng tôi mã hóa mẫu phỏng vấn của 3 CBQL theo thứ tự từ CB1 đến CB3 tương ứng với 3 CBQL thuộc 3 Trường A, B và C. Mã hóa mẫu phỏng vấn của 9 GVCN từ GVCN1 đến GVCN9, Trường A có 3 GVCN được phỏng vấn, mã hóa từ GVCN1-GVCN3; Trường B có 3 GVCN được phỏng vấn, mã hóa từ GVCN4-GVCN6; Trường C có 3 GVCN được phỏng vấn, mã hóa từ GVCN7-GVCN9.
2.3. Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
2.3.1. Thực trạng đội ngũ GVCN tham gia CTCN tại 3 trường khảo sát
2.3.1.1. Thông tin đặc điểm đội ngũ cán bộ quản lý
- Bảng 2.3. Tuổi đời công tác QL của đội ngũ CBQL
- Biểu đồ 2.1. Tuổi đời công tác QL của đội ngũ CBQL
Từ số liệu ở Bảng 2.3. cho chúng ta thấy rằng trị trung bình đạt 3.25 với số trung vị 3.00 và yếu vị là 3, thấy rằng tuổi đời của đội ngũ CBQL tập trung độ tuổi từ 35 đến 45 tuổi. Hơn nữa quan sát đồ thị hình 2.1 có dạng chuông hơi lệch về phía phải cho thấy đội ngũ CBQL có độ tuổi dưới 25 năm chiếm tỷ lệ thấp.
- Biểu đồ 2.2. Thâm niên công tác QL của đội ngũ CBQL
Từ số liệu bảng 2.3. cho chúng ta thấy thâm niên công tác của CBQL có trị trung bình 2.35, trung vị 2.5 và yếu vị là 3, thấy rằng thâm niên công tác QL tập trung vào khoảng từ 10 đến 15 năm. Hơn nữa quan sát đồ thị hình 2.2 có đỉnh lệch về phía phải điều đó cho thấy thâm niên công tác của đội ngũ CBQL trên 15 năm chiếm tỷ lệ khá thấp.
Như vậy với độ tuổi từ 35 đến 45 tuổi và có thâm niên từ 10 đến 15 năm làm công tác QL cho chúng ta thấy đây là độ tuổi với nhiều kinh nghiệm trong công tác. Đây là cũng là lợi thế. Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
- Bảng 2.4. Trình độ tin học của đội ngũ cán bộ QL
- Bảng 2.5. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ QL
Qua bảng phân tích số liệu trên thấy rằng trình độ tin học và trình độ chuyên môn của cán bộ QL đạt chuẩn 100%. Trong đó trình độ tin học nâng cao chiếm tới 90% và không có cán bộ QL nào không có chứng chỉ tin học. Về trình độ chuyên môn trên chuẩn vẫn còn đạt tỷ lệ khá thấp chiếm 5%.
2.3.1.2. Thông tin đặc điểm đội ngũ giáo viên chủ nhiệm
- Bảng 2.6. Tuổi đời của đội ngũ GVCN
- Biểu đồ 2.3. Tuổi đời của đội ngũ GVCN
Từ bảng số liệu trên ta thấy rằng tuổi đời của đội ngũ GVCN tập trung độ tuổi từ 25 đến 35 tuổi (chiếm 53.5%). Đây là độ tuổi vàng, GVCN đã có nhiều kinh nghiệm, là độ tuổi chín chắn trong các vấn đề xử lý tình huống cũng như giáo dục ý thức học sinh.
Đây là thế mạnh của các trường được khảo sát về mặt nguồn nhân lực. Bên cạnh đó quan sát đồ thị hình 2.3 ta thấy có dạng hình chuông nhọn với đỉnh hơi lệch về phía phải, có giá trị trung bình là 2.25 cho thấy độ tuổi cao chiếm khá thấp (4.2%)
- Bảng 2.7. Thâm niên CTCN của đội ngũ GVCN
- Biểu đồ 2.4. Thâm niên CTCN của đội ngũ GVCN
Từ bảng số liệu trên ta thấy rằng. Thâm niên công tác của đội ngũ GVCN chủ yếu trong khoảng từ 5 đến 15 năm (66.2%). Bên cạnh đó quan sát đồ thị hình 2.4 ta thấy có dạng hình chuông, đỉnh hơi lệch phải cho thấy rằng thâm niên trên 15 năm chiếm tỷ lệ khá ít (4.2%)
- Bảng 2.8. Trình độ tin học của đội ngũ GVCN
Từ số liệu bảng cho chúng ta thấy trình độ tin học của GVCN như sau: 7 GV có chứng chỉ A chiếm tỷ lệ (9.9%), 57 GV có chứng chỉ B chiếm tỷ lệ (80.3%), 7 GV có chứng chỉ khác, đó là những GV dạy tin học nên có bằng cử nhân tin chiếm tỷ lệ (9.9%), GV không có chứng chỉ là 0%. Như vậy thì 100% GV đạt trình độ tin học theo quy định, trong đó số GV đạt trình trình độ cơ bản 9.9%, GV đạt trình độ nâng cao chiếm 90.2%.
Đây là ưu thế để GVCN có thể ứng dụng CNTT trong việc QL hồ sơ sổ sách, sử dụng phần mềm để liên hệ với CMHS một cách dễ dàng nhanh chóng. Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
- Bảng 2.9. Trình độ chuyên môn của đội ngũ GVCN
Từ số liệu bảng trên ta thấy rằng 100% GV đạt về chuẩn trình độ chuyên môn. Tuy nhiên số lượng GV đạt trên chuẩn về chuyên môn còn khá hạn chế với 3 GV chiếm tỷ lệ 4.2%.
- Bảng 2.10. Công việc làm thêm ngoài lĩnh vực giáo dục của đội ngũ GVCN
Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng 100% GVCN không làm thêm ngoài lĩnh vực giáo dục. Đây là điều kiện thuận lợi vì tất cả GVCN đều tập trung vào các hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động giáo dục HS nói riêng.
Như vậy qua nghiên cứu về thực trạng đội ngũ GVCN ta có kết luận như sau: (1) Về đội ngũ có tuổi đời từ 25 đến 35 tuổi, (2) thâm niên công tác trên 5 năm chiếm tỷ lệ cao, (3) Về trình độ chuyên môn 100% đạt chuẩn và (4) 100% GVCN đều tập trung vào lĩnh vực hoạt động giáo dục, không làm thêm bên ngoài.
2.3.2. Thực trạng nhận thức của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm và cán bộ quản lý về tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT
Để đánh giá thực trạng nhận thức của đội ngũ GVCN và cán bộ QL về tầm quan trọng của CTCN lớp ở trường THPT, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và kết quả như sau:
- Bảng 2.12. Ý kiến của GV về mức độ quan trọng của CTCN lớp trong trường THPT
Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng có đến 73.24% GVCN và 100% cán bộ QL đánh giá CTCN lớp là rất quan trọng. Tuy nhiên có 15.49% GVCN đánh giá ở mức “khá quan trọng” và 11.27% GVCN đánh giá mức “quan trọng”. Không có GVCN nào đánh giá mức “ít quan trọng” và “không quan trọng”. Qua đó cho thấy một số bộ phận nhỏ GVCN vẫn chưa có nhận thức được tầm quan trọng CTCN lớp. Vì thế HT cần phải có những biện pháp để nâng cao nhận thức cho GVCN về tầm quan trọng CTCN lớp.
- Bảng 2.13. Ý kiến của CBQL và GV về nhận thức CTCN lớp Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
Từ bảng 2.13 kết quả khảo sát nhận thức của CBQL và GVCN về mục đích CTCN lớp. Qua đó, chúng tôi nhận thấy mục đích (2) được CBQL và GVCN đánh giá cao nhất với 97.8%; mục đích (3) được xếp thứ hai với 92.3% ý kiến; mục đích (1) xếp thứ ba với 90.1% ý kiến. Kết quả trên thể hiện CBQL và GVCN đã nhận thức khá đầy đủ về mục đích của CTCN lớp. Bên cạnh đó, vẫn còn 68.1% cho rằng CTCN lớp nhằm đạt mục đích (4) và không có ai có ý kiến thêm mục đích khác.
- Bảng 2.14. Ý kiến của CBQL và GVCN về mức độ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của GVCN
Từ bảng số liệu trên cho thấy rằng, nội dung (3) có Trị trung bình nhỏ nhất là 4.32 và nội dung (5) với trị trung bình lớn nhất là 4.75. Từ đó cho thấy CBQL và GVCN rất đồng ý với những chức năng, nhiệm vụ của GVCN. Bên cạnh đó chúng tôi tiến hành kiểm định Independent – Samples T – Test (Phụ lục 4.1), chúng tôi nhận thấy giữa CBQL và GVCN có sig là 0.22 >0.05 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa trong ý kiến đánh giá mức độ thực hiện chức năng nhiệm vụ của GVCN. Tuy nhiên với các chức năng nhiệm vụ (2), (3), (4), (5) có sig <0.05 ta thấy rõ có sự đánh giá khác biệt giữa 2 đối tượng. Cụ thể: đội ngũ CBQL đánh giá mức độ thực hiện nội dung (2) là 4.25 so với đội ngũ GVCN 4.75, chức năng, nhiệm vụ (3) là 3.95 so với đội ngũ GVCN 4.42, tương tự với nội dung (4) là 3.85 so với đội ngũ GVCN 4.54, nội dung (5) 4.25 so với đội ngũ GVCN 4.89. Từ đó chúng tôi tiến hành phỏng vấn GVCN và CBQL để biết được vì sao lại có sự đánh giá khác nhau. Thì 9 GVCN có ý trả lời gần giống nhau, ví dụ GVCN 1 cho biết rằng: “Đã kịp thời phát hiện ra những xung đột trong lớp và đã có các biện pháp giải quyết và ngăn chặn kịp thời, hồ sơ sổ sách thì hoàn thành đúng mẫu mà Ban giám hiệu phổ biến, phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường theo chỉ đạo của Ban giám hiệu.”. Nhưng dưới góc độ nhà QL, khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn thì CBQL 1, CBQL 2, CBQL 3 đã đánh giá mức độ thực hiện chức năng, nhiệm vụ của GVCN đều có ý gần giống nhau, ví dụ như CBQL 3 trả lời như sau: “GVCN chỉ thực hiện ở mức độ Khá tốt, vì chưa chủ động trong việc phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường, thường thụ động chờ chỉ đạo, hồ sơ sổ sách làm theo đúng mẫu nhưng không sáng tạo, vẫn làm theo hình thức đối phó, chưa có sự đầu tư. Trong việc phát hiện kịp thời những xung đột vẫn còn rất nhiều trường hợp HS đánh nhau trong và ngoài nhà trường do GVCN không phát hiện kịp thời những xích mích của các em HS khi mới manh nha nên những mâu thuẫn đó dồn nén lại dẫn đến bạo lực học đường.”.
Như vậy qua phỏng vấn chúng tôi cũng đã biết được thực trạng đánh giá mức độ thực hiện chức năng, nhiệm vụ của GVCN qua câu trả lời của GVCN và CBQL
2.3.2. Mức độ thực hiện và kết quả đạt được của nội dung và phương pháp công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
Để đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được của GVCN về nội dung và phương pháp CTCN lớp ở trường THPT. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát CBQL và kết quả như sau:
- Bảng 2.15. Ý kiến của CBQL về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của CTCN lớp
Qua bảng phân tích số liệu trên ta thấy rằng đội ngũ CBQL đánh giá mức độ thực hiện của nội dung (1), (2) ở mức độ thường xuyên (với TTB lần lượt 3.65 và 4.10) và kết quả của 2 nội dung đều đạt kết quả tốt (TTB 4.2 và 4.25). Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có độ lệch chuẩn thấp nhất là 0.641 cho thấy có sự phân tán trong ý kiến đánh giá ở nội dung khảo sát này. Vì thế chúng tôi thực hiện kiểm định Independent – samples T- Test (Phụ lục 4.2.1) giữa đội ngũ CBQL và đội ngũ GVCN. Thì thấy rằng nội dung (1) có sig là 0.97 và nội dung 2 có sig là 0.494 không có sự khác biệt trong đánh giá giữa 2 đối tượng này. Vì thế chúng tôi tiến hành sử dụng One – Way Anova để xét sự đánh giá mức độ thực hiện của các trường (Phụ lục 4.2.2), kết quả cho thấy không có sự khác nhau có ý nghĩa khi đánh giá mức độ thực hiện của 2 nội dung. CBQL và GVCN đều đánh giá mức độ thực hiện và kết quả thực hiện việc tìm hiểu và phân loại HS đều ở mức thường xuyên và tốt. Qua đó thấy rằng GVCN rất quan quan tâm đến việc nghiên cứu hồ sơ lý lịch tìm hiểu đối tượng HS. Vì khi GVCN nắm vững tình hình HS về mọi mặt sẽ là cơ sở giúp cho GVCN xây dựng kế hoạch, dự kiến nhiều phương án cho CTCN lớp của lớp mình, có thể phân loại nhóm HS theo các đặc điểm về học lực, tính cách, năng lực… để có thể đưa ra các phương pháp giáo dục phù hợp có hiệu quả cho từng đối tượng.
- Bảng 2.16. Ý kiến của CBQL và GV về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của CTCN
Qua bảng phân tích số liệu trên ta thấy rằng CBQL đánh giá mức độ thực hiện nội dung CTCN có trị trung bình nhỏ nhất là 2.9 và trị trung bình lớn nhất là 4.95. Như vậy họ đánh giá mức độ thực hiện nội dung CTCN trong phạm vi thấp nhất là “khá thường xuyên”, kết quả đạt được có trị trung bình nhỏ nhất là 3.21 và trị trung bình lớn nhất là 4.9. Chúng ta có thể kết luận kết quả đạt được các nội dung CTCN lớp ở mức độ từ khá đến tốt.
Đối với GVCN đánh giá mức độ thực hiện CTCN lớp có trị trung bình nhỏ nhất là 3.32 và trị trung bình lớn nhất là 4.83 và kết quả đạt được trị trung bình nhỏ nhất là 3.96 và trị trung bình lớn nhất là 4.93. Như vậy kết quả thực hiện ở đạt mức độ từ khá đến tốt.
Tuy nhiên trong bảng số liệu có những chỗ cần lưu ý đó là nội dung (4) thấy rằng trong mức độ triển khai thì ĐLC của GV 0.497, CBQL là 0.513 có độ phân tán tập trung, tuy nhiên mức độ thực hiện chỉ được đánh giá ở mức độ “khá thường xuyên”. Để tìm hiểu vấn đề này sâu hơn, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu các GVCN “có xác định tiêu chuẩn cán bộ lớp trước khi quyết định chọn ra ban cán bộ lớp không?” thì GV1, GV2, GV4, GV5, GV6, GV7 có ý kiến giống nhau, ví dụ như GVCN 7 đã cho chúng tôi biết “Chỉ chọn ban cán bộ lớp theo sự tín nhiệm của tập thể lớp qua việc bình bầu dân chủ đầu mỗi năm học mà không theo một tiêu chuẩn lựa chọn ban cán bộ lớp nào cả”. GV3, GV8, GV9 có ý kiến gần giống nhau, ví dụ GVCN 8 cho biết “Trao đổi GVCN năm trước để biết được ban cán bộ lớp năm trước đó hoạt động có tốt hay không để tiến hành chọn lại hoặc nhờ GVCN năm trước tham vấn chọn ban cán bộ lớp và cũng không biết tiêu chuẩn chọn ra ban cán bộ lớp”.
Như vậy qua đó chúng tôi thấy rằng việc bầu chọn ban cán bộ lớp không theo một tiêu chuẩn nào và thậm chí GVCN cũng không biết tiêu chuẩn để chọn ban cán bộ lớp mà chỉ chọn theo cảm tính hoặc theo tham vấn của GVCN năm trước. Vì thế đội ngũ ban cán bộ lớp chưa thật sự phát huy hết năng lực của mình để có thể hỗ trợ GVCN hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục.
Bên cạnh đó nội dung (6) CBQL đánh giá mức độ thực hiện ở mức “khá thường xuyên” (TTB 2.9) và kết quả đạt được là mức “khá” (TTB 3.85), GVCN đánh giá mức độ thực hiện ở mức “khá thường xuyên” (TTB 3.21) và kết quả đạt được là “khá” (TTB 4.13). ĐLC của CBQL và GVCN >0.5 được đánh giá tập trung. Qua đó chúng tôi thấy rằng đây là nội dung rất quan trọng nhưng chưa được GVCN chú trọng thực hiện thường xuyên, các em chưa được hướng dẫn một cách cụ thể về nhiệm vụ, công việc mà các em cần làm. Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
- Bảng 2.17. Ý kiến của GV về mức độ thực hiện, hiệu quả đạt được của các phương pháp giáo dục trong CTCN lớp.
Qua bảng số liệu 2.17, chúng tôi nhận thấy, đa số các phương pháp giáo dục trong CTCN được hỏi ý kiến đều được GVCN đánh giá đa số sử dụng ở mức “thường xuyên” và hiệu quả đạt được ở mức “khá”, dẫn đầu là phương pháp (1) với TTB là 4.55 và hiệu quả đạt được mức “tốt”. Riêng phương pháp (5) chỉ được các GV đánh giá ở mức sử dụng “ít thực hiện” với TTB là 2.23, kết quả đạt được ở mức “trung bình” (TTB là 3.21) và không có GVCN nào chọn phương pháp khác.
Như vậy, các phương pháp GVCN đã sử dụng trong CTCN lớp rất đa dạng. Tuy nhiên, phương pháp đàm thoại, trò chuyện trực tiếp với HS, GVBM, CMHS là một trong những phương pháp quan trọng và hiệu quả nhưng chưa được các GVCN sử dụng khá thường xuyên và kết quả đạt được còn hạn chế, điều này ảnh hưởng nhiều đến CTCN lớp của GVCN, bởi vì khi ít trao đổi thông tin với HS, GVBM, CMHS thì khó tìm ra được các giải pháp hay và cụ thể. Vì vậy, HT cần tạo điều kiện về các phương tiện trao đổi thông tin liên lạc để GVCN dễ dàng trao đổi, nắm bắt thông tin HS và lựa chọn các biện pháp tối ưu nhất để giáo dục HS.
2.3.3. Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên chủ nhiệm trong công tác chủ nhiệm lớp
Nhằm tìm hiểu trong CTCN, GVCN đã gặp những thuận lợi, hay khó khăn gì thì chúng tôi đã tiến hành khảo sát những thuận lợi và khó khăn của GVCN trong quá trình CTCN. Kết quả như sau:
- Bảng 2.18. Đánh giá của GVCN về những thuận lợi trong CTCN
Qua bảng 2.18 cho chúng tôi những thông tin cơ bản về các điều kiện thuận lợi cho GVCN trong CTCN lớp. Cụ thể như sau: 100% GVCN cho rằng “GVCN có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực, có lòng yêu nghề” là yếu tố thuận lợi nhất; tiếp đến là yếu tố (5): “Được sự hỗ trợ của Ban giám hiệu, các tổ chức Đoàn thể trong nhà trường” được 81.7% GVCN lựa chọn. Yếu tố (1) “Cơ sở vật chất ngày càng hoàn thiện, hệ thống phòng học, sân chơi đúng tiêu chuẩn” đạt tỷ lệ 66.2%. Yếu tố (6) “Hệ thống thống thông tin liên lạc của trường phát triển mạnh, hỗ trợ cho GVCN liên lạc dễ dàng và nhanh chóng với CMHS” đạt tỷ lệ 57.7%. Nhưng với yếu tố (3) “GVCN được bồi dưỡng, tập huấn nâng cao CTCN lớp” chỉ đạt 29.6% và yếu tố (2) “Có nhiều chế độ ưu đãi, quan tâm của Huyện, ngành và nhà trường đến GVCN” có tỷ lệ % thấp nhất đạt 25.4%. và không có GVCN nào trình bày thêm những thuận lợi khác.
Như vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho GVCN, HT cần QL tốt việc GVCN được bồi dưỡng tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn; đồng thời còn phải đặc biệt tăng cường chế độ, chính sách ưu đãi đối với GVCN nhằm tạo động lực để GVCN hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
- Bảng 2.19. Đánh giá của GVCN về những khó khắn trong CTCN
Từ bảng 2.19 trên, chúng tôi thấy rằng vấn đề khó khăn nhất của GVCN đó là “Số tiết chủ nhiệm quá ít 4 tiết/ tuần trong khi CTCN lớp ngày nay quá nhiều” chiếm tỷ lệ 83.1%, “Chế độ ưu đãi, quan tâm, khen thưởng của huyện, ngành và nhà trường đến GVCN vẫn còn quá ít, chưa tương xứng với những nổ lực phấn đấu của GVCN” là khó khăn xếp thứ 2 của GVCN với tỷ lệ 81.7%, khó khăn tiếp theo là “Sỉ số HS trên mỗi lớp quá đông” gây cho GVCN gặp khó khăn trong CTCN với tỷ lệ 80.3%. “CMHS chưa thực sự quan tâm đến con em, chưa phối hợp tốt với GVCN” là khó khăn mà GVCN gặp chiếm tỷ lệ 76.1%. “Bị áp lực về công việc của bản thân, chạy theo thành tích của nhà trường.” là vấn đề khó khăn của GVCN nhưng chiếm tỷ lệ không cao 40.8% và không có GVCN nào trình bày thêm khó khăn khác.
Với số liệu phân tích ở trên, để tháo gỡ những khó khăn cho GVCN, HT cần tham mưu các cấp QL trong việc xem xét về số tiết chủ nhiệm theo quy định có còn hợp lý nữa hay không để kiến nghị xin điều chỉnh, hoặc có thể tìm các nguồn kinh phí nào đó để có thể hỗ trợ thêm cho GVCN để GVCN có thêm động lực và yên tâm công tác.
2.4. Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương
Để khảo sát thực trạng QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên chúng tôi tiến hành khảo sát với các nội dung tương ứng với các chức năng QL bao gồm: lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; lãnh đạo, chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá. Đồng thời với mỗi chức năng QL chúng tôi khảo sát đánh giá theo hai tiêu chí đó là: mức độ thực hiện và kết quả đạt được của hoạt động QL CTCN lớp ở các trường THPT.
2.4.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý về sự cần thiết của quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương
Để đánh giá nhận thức của CBQL về sự cần thiết của QL CTCN lớp ở trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và kết quả đạt được như sau: Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
- Bảng 2.18. Đánh giá của CBQL về sự cần thiết của QL CTCN
Qua bảng phân tích số liệu trên cho thấy rằng: có 12 CBQL chiếm 60% đánh giá mức rất cần thiết và 8 CBQL chiếm 40% đánh giá mức cần thiết. Không có CBQL nào đánh giá mức “khá cần thiết”, “ít cần thiết” và “không cần thiết”. Hơn nữa TTB là 4.6 cho thấy đội ngũ CBQL đánh giá hoạt động QL CTCN lớp là rất cần thiết. Hơn nữa ĐLC là 0.503 cho thấy ý kiến đánh giá của đội ngũ CBQL rất tập trung. Có thể nói đây là điều kiện thuận lợi trong việc triển khai nghiên cứu, cũng như khẳng định được tính cấp thiết và tính giá trị của đề tài nghiên cứu.
- 2.4.2. Thực trạng xây dựng kế hoạch quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương
Để có được kế hoạch hay thì công tác chuẩn bị cho việc xây dựng kế hoạch CTCN lớp rất quan trọng. Vì thế để biết được đánh giá của CBQL về mức độ thực hiện và kết quả đạt được cuả công tác chuẩn bị cho việc xây dựng kế hoạch CTCN lớp. Chúng tôi tiến hành khảo sát, kết quả như sau:
- Bảng 2.19. Đánh giá của CBQL về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của công tác chuẩn bị cho việc xây dựng kế hoạch CTCN lớp
Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng đội ngũ CBQL “rất thường xuyên” thực hiện việc nội dung (1), (2) có TTB lần lượt là 4.6 và 4.6. Kết quả đạt được của các hoạt động này được đội ngũ CBQL đánh giá ở mức “tốt” (với TTB lần lượt là 4.5 và 4.6). Việc thực hiện những nội dung này là một trong những hoạt động rất quan trọng để đảm bảo về tính giá trị và tính khả thi của một kế hoạch. Từ kết quả trên cho thấy đội ngũ CBQL thực hiện đảm bảo được hoạt động này và đây là tiền đề quan trọng và cũng là khâu đầu tiên trong QL CTCN lớp. Ngoài ra thấy ĐLC >0.5 chứng tỏ sự đánh giá của các CBQL ở đây rất tập trung. Như vậy nội dung (1), (2) đã được quán triệt rộng rãi trong đội ngũ CBQL và điều này cũng thể hiện tính dân chủ trong hoạt động lãnh đạo, QL việc lập kế hoạch thực hiện CTCN lớp tại đơn vị.
- Bảng 2.20. Đánh giá của CBQL về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của các loại kế hoạch QL CTCN lớp ở trường THPT
Từ bảng phân tích trên ta thấy rằng đội ngũ CBQL đánh giá việc thực hiện các kế hoạch ở mức độ “thường xuyên” và “rất thường xuyên” và kết quả đạt được được đánh giá mức độ “tốt”. Tuy nhiên từ bảng phân tích trên ta thấy rằng ở mức độ triển khai có MinĐLC là 0.510 cho thấy có sự phân tán trong ý kiến đánh giá ở các nội dung khảo sát này giữa đội ngũ CBQL ở các trường trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên. Để tìm hiểu sâu hơn, chúng tôi tiến hành kiểm định One – Way Anova để so sánh sự khác biệt trong đánh giá ở các đơn vị (Phụ lục bảng 4.3). Kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa giữa trường B với 2 trường còn lại là trường A và trường C trong việc thực hiện triển khai “Kế hoạch ứng dụng CNTT trong CTCN lớp”. Trường B chỉ đánh giá ở mức độ “khá thường xuyên” với TTB là 3.33, trong khi 2 trường còn lại đánh giá việc thực hiện ở mức độ “rất thường xuyên” với TTB của trường A, C lần lượt là 5.00 và 4.43. Vì thế chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu CBQL trường C thì được biết “Mức độ triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT trong CTCN lớp chỉ thực hiện ở mức độ “khá thường xuyên” do một số nguyên nhân sau “(1) Cơ sở vật chất chưa đảm bảo, mạng Internet chưa đủ mạnh, chỉ có phòng máy cho HS thực hành và chỉ có 2 Máy tính cho GV sử dụng khi cần thiết. (2) Nguồn kinh phí để mua phần mềm QL CTCN lớp và sử dụng “Phiếu liên lạc điện tử” thì không có, chủ yếu là vận động từ CMHS nhưng vẫn chưa được sự đồng ý từ CMHS các lớp. Vì thế chưa thể thực hiện được kế hoạch ứng dụng CNTT trong CTCN lớp một cách thường xuyên, chủ yếu là do GVCN tự chủ động. Mặc dù Ban giám hiệu nhà trường cũng thấy được những lợi ích từ việc ứng dụng CNTT trong việc QL CTCN lớp cũng như sử dụng “Phiếu liên lạc điện tử để liên lạc với CMHS”.
Qua kết quả khảo sát cho thấy hoạt động xây dựng các kế hoạch CTCN lớp ở các trường THPT trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên được thực hiện ở mức độ “thường xuyên” và đạt được kết quả “tốt”. Như vậy hoạt động lập các kế hoạch CTCN lớp ở các trường THPT được HT thực hiện đảm bảo đầy đủ và đúng về mặt lý luận khoa học và sát với tình hình thực tiễn tại đơn vị. Điều này đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình thực hiện QL CTCN lớp tại các đơn vị.
2.4.3. Thực trạng thực hiện kế hoạch quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
Để biết được mức độ thực hiện và kết quả đạt được việc tổ chức thực hiện kế hoạch QL CTCN lớp ở trường THPT huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương được thực hiện như thế nào, chúng tôi tiến hành khảo sát và kết quả như sau:
- Bảng 2.21. Đánh giá của CBQL, GV về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của tổ chức thực hiện CTCN lớp
Từ kết quả phân tích trên cho thấy đội ngũ CBQL đánh giá việc thực hiện và kết quả đạt được của hoạt động tổ chức thực hiện QL CTCN lớp. Trong đó đội ngũ CBQL đánh giá nội dung (1), (3), (4) ở mức độ thực hiện “rất thường xuyên” (TTB lần lượt là 4.45, 4.50, 4.50) và kết quả đạt được là “tốt” (TTB lần lượt là 4.70, 4.80, 4.75). Nội dung (2) đội ngũ CBQL đánh giá mức độ thực hiện chỉ ở mức “khá thường xuyên” (TTB là 2.95) và kết quả đạt được mức độ “khá” (TTB là 3.80). Nội dung (5) được CBQL đánh giá mức độ thực hiện ở mức “thường xuyên” (TTB là 4.05) và kết quả đạt được ở mức “tốt” (TTB là 4.7).
Bên cạnh đó, chúng tôi thực hiện kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đội ngũ CBQL và đội ngũ GVCN. Kết quả từ bảng Phụ lục 4.4.1 và 4.4.2 cho thấy, sig>0.05 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng này khi đánh giá về mức độ thực hiện và kết quả đạt được đối với các nội dung liên quan đến hoạt động tổ chức thực hiện QL CTCN lớp.
Từ những nhận xét trên ta thấy rằng trong nội dung (2) chỉ được thực hiện ở mức “khá thường xuyên”. Vì thế chúng tôi tiến hành phỏng vấn GVCN thì GVCN 1, GVCN 2, GVCN 3, GVCN 5, GVCN 7, GVCN 8, GVCN 9 được biết “Việc phân công phân nhiệm không rõ ràng, ngoài việc hoàn thành các công việc của GVCN thì GVCN phải làm hầu hết các công việc khác như: làm học bạ đối với GVCN lớp 10, ghi điểm trung bình của tất cả các môn học vào học bạ, thu các khoản tiền đóng đầu năm, tiền học tăng tiết, phụ đạo… Nhiều lúc GVCN được giao làm rất nhiều việc bản thân cũng không biết đó có phải là trách nhiệm của mình hay không”. GVCN 4, GVCN 6 còn cho biết thêm “Hàng ngày phải có mặt sớm 15 phút đầu giờ để cho lớp sinh hoạt mà GVCN không được hỗ trợ thêm bất kỳ kinh phí nào, bên cạnh đó còn xây dựng kế hoạch chương trình và tập luyện cho HS trong các dịp kỉ niệm, chào mừng các ngày Lễ…” Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
2.4.4. Thực trạng công tác chỉ đạo quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương
Công tác chỉ đạo QL CTCN lớp đóng vai trò rất quan trọng. Vì thế chúng tôi đã tiến hành khảo sát đội ngũ CBQL, GVCN về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của công tác lãnh đạo, chỉ đạo đội ngũ GVCN thực hiện kế hoạch. Kết quả như sau:
- Bảng 2.22: Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về mức độ triển khai và kết quả đạt được của công tác lãnh đạo, chỉ đạo đội ngũ GVCN thực hiện kế hoạch
Từ kết quả điều tra trên cho thấy đội ngũ CBQL đánh giá HT “thường xuyên” thực hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo thông qua việc quan tâm, khuyến khích, hướng dẫn quá trình thực hiện CTCN lớp của GVCN (TTB là 4.65) và kết quả đạt được ở mức “tốt” (TTB là 4.75). Đánh giá mức độ thực hiện nội dung (2), (3), (7) được CBQL đánh giá ở mức “rất thường xuyên” (TTB lần lượt là 4.35, 4.40, 4.25) và kết quả đạt được ở mức “tốt” (TTB lần lượt là 4.70, 4.85, 4.75). Đối với công tác (4) được CBQL đánh giá mức độ thực hiện ở mức “khá thường xuyên” (TTB là 3.05) và kết quả đạt được ở mức “Khá” (TTB là 4.00). Công tác (5) được CBQL đánh giá ở mức “khá thường xuyên” với TTB là 3.25 và kết quả đạt được là “khá” với TTB là 3.90. Công tác (6) được CBQL đánh giá ở mức “ít thực hiện” với TTB là 2.60 và kết quả đạt được ở mức “khá” với TTB là 3.60.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã thực hiện kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đội ngũ CBQL và GV. Kết quả từ bảng phụ lục 4.5.1 và 4.5.2 cho thấy, với các giá trị sig> 0.05 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng này khi đánh giá về mức độ triển khai và kết quả đạt được đối với các nội dung liên quan đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo đội ngũ GVCN ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên.
Tóm lại từ những đánh giá ở trên có 3 nội dung đạt mức độ thực hiện từ “ít thực hiện” đến mức “khá thường xuyên” và kết quả đạt được ở mức độ “Khá” đó là 3 nội dung: nội dung (4), (5) và (6). Chúng tôi tiến hành phỏng vấn CBQL tại 3 trường về nội dung (5) thì CBQL 1, CBQL 2 và CBQL 3 đều cho rằng “Hội thi GVCN Giỏi mới ra đời vào năm 2020, trong đó đối với cấp huyện, phòng giáo dục thì 2 năm/lần; cấp tỉnh, sở giáo dục 4 năm/lần, cấp toàn quốc 5 năm/lần. Hướng dẫn cùng với tiêu chí đánh giá GVCN giỏi của Bộ Giáo dục đưa ra dưới hình thức chung chung, chưa cụ thể để các trường có thể tự chủ động xây dựng theo từng trường. Hội thi GVCN giỏi thường diễn ra vào gần cuối năm học, khi đó có rất nhiều việc Ban giám hiệu phải thực hiện như chỉ đạo GV lo việc ôn tập, thi cử cho HS, các loại báo cáo cuối năm học… ngoài ra để chọn GVCN đủ điều kiện để thi GVCN Giỏi vòng trường cũng khó. GVCN phải đảm bảo các điều kiện như: lớp không có HS nghỉ bỏ học, có SKKN viết về CTCN lớp, lớp của GVCN tham gia dự thi GVCN giỏi phải có thứ hạng thi đua cao trong trường, có sự tín nhiệm của HS, CMHS, các bộ phận liên quan trong nhà trường qua hình thức bỏ phiếu bầu…. Mặc dù biết hội thi GVCN giỏi mang lại nhiều lợi ích nhưng tùy theo tình hình thực tế tại trường để tổ chức Hội thi GVCN giỏi”. Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
Đối với nội dung (6) chúng tôi tiến hành phỏng vấn GVCN và được 9 GVCN đều trả lời như nhau đó là “Công tác tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn liên quan đến CTCN lớp được tổ chức rất ít. Trong giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2025, GVCN được Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương chọn đi tập huấn trong dịp hè đúng 1 lần. Ngoài ra tại trường cũng ít khi tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn liên quan đến CTCN lớp, nếu có cũng chỉ là tập hợp các GVCN lại sau đó Ban giám hiệu hướng dẫn thực hiện hồ sơ sổ sách cho đồng bộ, hoặc cử GVCN cốt cán lên chia sẻ kinh nghiệm QL lớp, xử lý những tình huống đã gặp, chứ không được các chuyên gia chuyên về CTCN lớp bồi dưỡng, tập huấn”. Bên cạnh đó chúng tôi cũng đã tiến hành phỏng vấn thêm về vấn đề khi còn là sinh viên học tại các trường sư phạm thì GV có được đào tạo về “Kỹ năng làm CTCN lớp hay không?” thì chúng tôi nhận được câu trả lời giống nhau từ 9 GVCN đó là “Được đào tạo các môn học như: tâm lý học, giáo dục học, thực tập sư phạm để bổ trợ cho CTCN lớp sau này, nhưng mang tính lý thuyết nhiều, mang tính chung chung chưa cụ thể, ít thực tế, khi được đi thực tập thực tế thì chủ yếu tại các trường THPT và cũng được các Thầy cô làm CTCN lớp tại trường THPT hướng dẫn chủ yếu về việc hồ sơ chủ nhiệm, được dự giờ 1 tiết sinh hoạt chủ nhiệm do GVCN thực hiện, được thực hành 1 tiết SHCN, và không có được các chuyên gia chuyên về CTCN lớp tập huấn hay hướng dẫn”.
Từ những phân tích trên chúng tôi nhận thấy rằng vai trò lãnh đạo của người HT là yếu tố rất quan trọng, mang tính định hướng và dẫn dắt đội ngũ GVCN thực hiện thành công CTCN lớp. Do đó, HT ở đơn vị thực hiện tốt vai trò lãnh đạo thông qua sự quan tâm, khuyến khích, hướng dẫn đội ngũ GV hiệu quả thì công tác chỉ đạo GVCN cũng sẽ đạt hiệu quả.
2.4.5. Thực trạng kiểm tra, đánh giá công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương
Sau khi xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo chỉ đạo thì kiểm tra đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được đóng vai trò không kém phần quan trọng. Vì khi đó HT mới có thể nhìn nhận, đánh giá, bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch tiếp theo. Vì vậy chúng tôi tiến hành khảo sát đội ngũ CBQL và GVCN về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của việc ban hành các tiêu chí, quy định về kiểm tra đánh giá CTCN lớp. Kết quả như sau:
- Bảng 2.23. Đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của việc ban hành các tiêu chí, quy định về công tác kiểm tra, đánh giá CTCN lớp
Từ kết quả bảng 2.23 cho thấy CBQL đánh giá việc thực hiện nội dung (3) chỉ đạt ở mức độ “khá thường xuyên” với TTB là 3.20 và kết quả đạt được “khá” (TTB là 3.85). Đối với nội dung (2) thì CBQL đánh giá thực hiện ở mức “thường xuyên” (TTB là 3.75) và kết quả đạt được “tốt” (TTB là 4.45). Đối với nội dung (1) được CBQL đánh giá ở mức thực hiện “rất thường xuyên” (TTB là 4.55) và kết quả đạt được “tốt” (TTB là 4.75). Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã tiến hành kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đội ngũ CBQL và GVCN. Kết quả từ bảng phụ lục 4.6.1 và 4.6.2 cho thấy rằng, các giá trị sig. >0.05 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng khi đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được với các nội dung liên quan đến công tác kiểm tra đánh giá CTCN lớp.
- Bảng 2.24. Đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của kiểm tra đánh giá CTCN lớp
Từ kết quả phân tích ở bảng 2.24 trên cho thấy: nội dung (1), (2) được CBQL đánh giá ở mức độ thực hiện “thường xuyên” (TTB lần lượt là 4.15, 3.70) và mức độ thực hiện “tốt” với TTB lần lượt là 4.70, 4.35. Với nội dung (3) được thực hiện ở mức độ “ít thực hiện” với TTB là 2.50 và kết quả đạt được là “khá” với TTB là 3.50. Bên cạnh đó, chúng tôi tiến hành kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đội ngũ CBQL và GVCN. Kết quả từ bảng phụ lục 4.7.1 và 4.7.2 cho thấy rằng, các giá trị sig.>0.05 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng khi đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được với các nội dung liên quan đến kiểm tra đánh giá CTCN lớp.
Qua phân tích trên chúng tôi nhận thấy chỉ có nội dung (3) là “ít thực hiện” với kết quả là “khá”. Chúng tôi tiến hành phỏng vấn CBQL của 3 trường để tìm hiểu nguyên nhân thì CBQL trả lời rằng “Ít khi dự giờ tiết sinh hoạt chủ nhiệm mà thường dự giờ công tác chuyên môn, vì theo quy định 1 năm Ban giám hiệu phải đảm bảo dự ít nhất 01 tiết dạy/ 01 GV. Như vậy với trường cấp 2 & 3 như 3 trường THPT trên địa bàn Bắc Tân Uyên có số lượng GV rất đông. Vì thế Ban giám hiệu dự giờ tiết chuyên môn còn chưa đủ. Vì thế việc dự giờ tiết sinh hoạt chủ nhiệm là rất ít, thậm chí là không có, chỉ trừ trường hợp lớp luôn luôn đứng hạng thấp trong thi đua, vi phạm điều cấm của nhà trường thì Ban giám hiệu mới dự giờ đột xuất lớp đó, hoặc dự giờ những GVCN đăng ký thi GVCN giỏi vòng trường”
Vì vậy sau khi khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng về xây dựng tiêu chí thì việc xây dựng và ban hành các quy định về hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến CTCN lớp của GVCN chỉ đạt mức “khá thường xuyên” và kết quả đạt được ở mức “khá”, và việc lập kế hoạch kiểm tra, dự giờ tiết sinh hoạt chủ nhiệm còn “ít thực hiện” và kết quả đạt được ở mức “khá”.
2.4.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác chủ nhiệm lớp tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
Để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến QL công tác ở các trường THPT huyện Bắc Tân Uyên, chúng tôi tiến hành khảo sát mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến QL CTCN lớp ở các trường THPT tham gia khảo sát. Kết quả xử lý thông tin trong phiếu khảo sát như sau:
- Bảng 2.25. Đánh giá của CBQL về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả QL CTCN lớp
Từ bảng 2.25, chúng tôi thấy rằng với các yếu tố có TTB từ 4.40 đến 4.6. Điều đó chứng tỏ CBQL hoàn toàn đồng ý với tất cả yếu tố đó đã ảnh hưởng đến hiệu quả QL CTCN lớp tại đơn vi. Trong đó CBQL đánh giá yếu tố chủ quan (1) là quan trọng nhất, tiếp theo là yếu tố khách quan (1), (2). Trong thực tế thì 3 yếu tố này là thực sự cần thiết trong việc QL CTCN lớp. Nó quyết định CTCN lớp có thành công hay không. Bên cạnh đó chúng tôi thấy MinĐLC là 0.503 và MaxĐLC là 0.513 điều đó cho thấy các ý kiến đánh giá khá tập trung và không có CBQL nào đưa ra thêm các yếu tố khác.
2.4.7. Đánh giá chung về thực trạng công tác chủ nhiệm lớp và quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương
Qua điều tra thực trạng QL CTCN lớp tại các trường THPT huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương, chúng tôi rút ra một số nhận định sau đây:
2.4.7.1. Ưu điểm
Nhận thức của đa số CBQL, GV về vai trò, vị trí, tầm quan trọng và mục đích của CTCN lớp cũng như QL CTCN lớp khá đầy đủ và toàn diện; từ đó có những nổ lực, cố gắng góp phần nâng cao hiệu quả QL CTCN lớp.
- Đối với thực trạng CTCN lớp thì có những ưu điểm sau:
GVCN đã thực hiện các mức độ từ “thường xuyên” đến “rất thường xuyên” và kết quả đạt được “tốt” các nội dung và phương pháp giáo dục trong CTCN lớp.
GVCN cũng đã có được những thuận lợi như: được sự hỗ trợ từ Ban giám hiệu và các lực lượng giáo dục trong nhà trường, hệ thống thông tin liên lạc phát triển hỗ trợ rất nhiều cho CTCN lớp, cơ sở vật chất ngày càng hoàn thiện, hệ thống phòng học đạt tiêu chuẩn….
Đối với thực trạng QL CTCN lớp có những ưu điểm sau:
- HT đã nhận thức về hoạt động QL CTCN lớp là rất cần thiết.
- HT cơ bản đảm bảo đầy đủ các chức năng trong QL CTCN lớp tại đơn vị. Cụ thể:
Đối với công tác xây dựng kế hoạch QL CTCN lớp thì: HT đã thiết lập các mục tiêu cụ thể, rõ ràng; xây dựng cụ thể các kế hoạch ứng dụng CNTT; kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn; kế hoạch phối hợp giữa GVCN với các lực lượng trong và ngoài nhà trường; kế hoạch thi GVCN giỏi; kế hoạch huy động nguồn kinh phí cho việc bồi dưỡng, tập huấn, khen thưởng.
Đối với công tác tổ chức thực hiện QL CTCN lớp: HT ra quyết định phân công GVCN và thành lập các tổ chủ nhiệm vào đầu năm học; thành lập các đội ngũ GVCN cốt cán; xây dựng các Văn bản quy định; tổ chức thực hiện việc ứng dụng CNTT trong QL CTCN lớp. Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
Đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo đội ngũ: HT rất quan tâm, theo dõi, động viên, khuyến khích, hướng dẫn GVCN thực hiện CTCN lớp tại đơn vị; chỉ đạo thống nhất các nội dung; chỉ đạo việc ứng dụng CNTT trong QL hồ sơ sổ chủ nhiệm, phối hợp CMHS tương đối tốt, đã chỉ đạo tổ chức hội thi GVCN giỏi; chỉ đạo GVCN tham gia các lớp tập huấn do Sở GD&ĐT Bình Dương tổ chức; chỉ đạo tốt công tác phối hợp giữa GVCN với các lực lượng trong và ngoài nhà trường.
Đối với công tác kiểm tra đánh giá: HT đã thường xuyên xây dựng kế hoạch kiểm tra CTCN; kế hoạch kiểm tra việc ứng dụng CNTT trong QL CTCN lớp; kế hoạch dự giờ các tiết SHCN. HT cũng đã xây dựng bộ tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu trong CTCN lớp rất rõ ràng và thường xuyên; xây dựng các bộ tiêu chí đánh giá việc ứng dụng CNTT trong công tác QL cũng như xây dựng và ban hành các hình thức khen thưởng, kỷ luật.
2.4.7.2. Hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm đã nêu trên, trong QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên vẫn tồn tại một số hạn chế sau:
Một số GVCN chưa chủ động trong việc phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường, thường thụ động chờ chỉ đạo, chưa có sự đổi mới trong công tác chủ nhiệm, vẫn làm theo hình thức đối phó, chưa có sự đầu tư.
Đa số GVCN chỉ chọn ban cán bộ lớp theo sự tín nhiệm của tập thể lớp qua việc bình bầu dân chủ đầu mỗi năm học mà chưa theo một tiêu chuẩn lựa chọn ban cán bộ lớp nào cả trong khi đây là lực lượng quan trọng hỗ trợ đắc lực cho GVCN hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Một số GVCN chưa xem trọng công tác bồi dưỡng cho cán bộ lớp để các em có ý thức trách nhiệm cao đối với lớp, phục vụ tập thể lớp, biết phê bình và tự phê bình.
Có sử dụng nhiều phương pháp giáo dục trong CTCN lớp tuy nhiên phương pháp đàm thoại, trò chuyện trực tiếp với HS, GVBM, CMHS (một trong những phương pháp quan trọng và hiệu quả) nhưng chưa được các GVCN sử dụng khá thường xuyên và hiệu quả đạt được còn hạn chế. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục HS
- Đối với hoạt động QL CTCN lớp tại đơn vị cũng vẫn tồn tại một số hạn chế sau:
Đối với công tác xây dựng kế hoạch: thì kế hoạch ứng dụng CNTT trong CTCN lớp chỉ đạt mức độ thực hiện thường xuyên. Tuy nhiên trường B gặp khó khăn trong việc ứng dụng CNTT trong CTCN lớp do điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị không đủ.
Đối với công tác tổ chức chỉ đạo: Phân công, phân nhiệm chưa rõ ràng cho các cá nhân, bộ phận phụ trách công tác quản lí CTCN lớp. Dẫn đến GVCN phải làm hầu hết các công việc khác như: làm học bạ đối với GVCN lớp 10, ghi điểm trung bình của tất cả các môn học vào học bạ, thu các khoản tiền đóng đầu năm, tiền học tăng tiết, phụ đạo… Nhiều lúc GVCN được giao làm rất nhiều việc bản thân cũng không biết đó có phải là trách nhiệm của mình hay không.
Đối với công tác lãnh đạo chỉ đạo: Chỉ đạo việc ứng dụng CNTT trong QL hồ sơ HS, sổ chủ nhiệm, phối hợp CMHS; chỉ đạo tổ chức hội thi GVCN giỏi; chỉ đạo tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn liên quan đến CTCN lớp chỉ được thực hiện ở mức “khá thường xuyên”. Ngoài ra khi là sinh viên học tại các trường sư phạm thì không được đào tạo kỹ năng làm CTCN lớp tại trường, mà chỉ được đi thực tập thực tế tại các trường THPT được hướng dẫn chủ yếu về việc hồ sơ chủ nhiệm, được dự giờ 1 tiết SHCN do GVCN thực hiện, được thực hành 1 tiết SHCN, và không có được các chuyên gia chuyên về CTCN lớp tập huấn hay hướng dẫn. Dẫn đến GVCN thiếu nhiều kỹ năng, cách xử lý tình huống trong CTCN lớp
Đối với công tác kiểm tra đánh giá thì: việc kiểm tra, dự giờ tiết SHCN của HT là rất ít thực hiện, thậm chí có nơi không có, hoặc chỉ diễn ra trong quá trình thi GVCN giỏi. Bên cạnh đó, việc xây dựng ban hành các quy định về hình thức khen thưởng kỷ luật chỉ đạt ở mức khá thường xuyên. Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
2.4.7.3. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại
Sự quan tâm của các cấp QL đối với CTCN lớp chưa đúng mức, chưa được coi trọng và đầu tư thích đáng, mặc dù đóng vai trò rất quan trọng.
Tài liệu tham khảo, nghiên cứu về QL CTCN lớp nhất là những đổi mới phương pháp, kỹ năng QL CTCN lớp rất ít.
Các lớp tập huấn, hội thảo chuyên đề về CTCN lớp do Sở GD & ĐT Bình Dương được tổ chức rất ít, chủ yếu là tập huấn về công tác chuyên môn. GVCN chưa được tổ chức đi tham quan, học tập kinh nghiệm tại những trường khác.
Đặc điểm tâm sinh lý của HS THPT với nhiều thay đổi lớn, chưa hoàn thiện về nhân cách cùng với môi trường xã hội ngày càng phức tạp với nhiều tệ nạn xã hội đã ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý HS nên rất khó trong công tác giáo dục HS.
Cơ sở vật chất chưa đảm bảo dẫn đến việc ứng dụng CNTT vào QL hồ sơ gặp nhiều khó khăn.
Số tiết chủ nhiệm hiện nay quá ít, mỗi tuần GVCN có thể gặp HS được 1 tiết SHCN và có thể 1 hoặc 2 tiết trong dạy bộ môn của mình, nhưng trong giờ dạy bộ môn thì GVCN không thể bàn về vấn đề HS mà phải tập trung vào tiết dạy của mình, vì thế GVCN phải sử dụng những giờ ngoài giờ dạy để có thể gặp gỡ, trao đổi HS hoặc CMHS. Mà chế độ dành cho GVCN thì chưa phù hợp với thực tế công việc mà đội ngũ GVCN đang làm.
Kinh phí ngân sách đầu tư cho CTCN lớp của các nhà trường còn rất hạn hẹn chủ yếu GVCN hưởng 4 tiết theo quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo. Công tác thi đua khen thưởng chưa đánh giá đúng mức hiệu quả giáo dục của GVCN.
Việc kiểm tra, dự giờ tiết SHCN không thực hiện thường xuyên do quy định Ban giám hiệu phải dự mỗi GV ít nhất 1 tiết, trường trong địa bàn huyện Bắc Tân Uyên là trường cấp 2 & 3 nên số lượng GV rất nhiều, dẫn đến Ban giám hiệu không có nhiều thời gian để dự giờ tiết SHCN vì phải ưu tiên dự giờ các tiết dạy bộ môn.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
Trên cơ sở khái quát về tình hình kinh tế – xã hội, GD-ĐT của huyện Bắc Tân Uyên, luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng CTCN lớp và thực trạng QL CTCN lớp tại 3 trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, kết quả như sau:
Đối với công tác xây dựng kế hoạch: thì kế hoạch ứng dụng CNTT trong CTCN lớp chỉ đạt mức độ thực hiện thường xuyên.
Đối với công tác tổ chức chỉ đạo: Phân công, phân nhiệm chưa rõ ràng cho các cá nhân, bộ phận phụ trách công tác quản lí CTCN lớp
Đối với công tác lãnh đạo chỉ đạo: Chỉ đạo việc ứng dụng CNTT trong QL hồ sơ HS, sổ chủ nhiệm, phối hợp CMHS; chỉ đạo tổ chức hội thi GVCN giỏi; chỉ đạo tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn liên quan đến CTCN lớp chỉ được thực hiện ở mức “khá thường xuyên”
Đối với công tác kiểm tra đánh giá thì: việc kiểm tra, dự giờ tiết SHCN của HT là rất ít thực hiện, thậm chí có nơi không có, hoặc chỉ diễn ra trong quá trình thi GVCN giỏi
Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ rõ, trong thời gian qua, HT các trường THPT huyện Bắc Tân Uyên đã sử dụng các biện pháp QL CTCN lớp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, của nhà trường, nhìn chung đã đạt được hiệu quả nhất định trong thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, mức độ thực hiện và mức độ tác dụng của các biện pháp còn ở mức độ thấp hơn so với mức độ nhận thức, việc sử dụng các biện pháp QL chưa đồng bộ nên hiệu quả QL còn chưa cao.
Nghiên cứu lý luận QL CTCN lớp và kết quả điều tra, phân tích thực trạng là cơ sở gợi mở cho việc đề xuất, hoàn thiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên trong chương 3 của đề tài này. Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
