Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Trong nhà trường, thư viện đóng vai trò quan trọng hỗ trợ cho giáo viên và học sinh trong việc giảng dạy và học tập. Nó là “linh hồn”, là trung tâm sinh hoạt, học tập và nghiên cứu khoa học của nhà trường. Thư viện góp phần giúp giáo viên thực hiện quá trình dạy học đạt kết quả cao, là nơi bồi dưỡng kiến thức cơ bản về khoa học, xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu của giáo viên, đọc sách của học sinh và xây dựng tác phong làm việc khoa học cho các thành viên trong nhà trường. Thư viện giúp học sinh hình thành tri thức lý thuyết và khả năng thực hành đạt hiệu quả cao trong học tập. Có thể khẳng định việc sử dụng thư viện có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục.
Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, một trong những tiêu chuẩn để đánh giá trường phổ thông đạt chuẩn là thư viện của trường đó phải đạt chuẩn. Thư viện ở một trường phổ thông đạt chuẩn không phải chỉ xét về điều kiện cơ sở vật chất, về số lượng đầu sách báo … mà vấn đề quan trọng là thư viện đó được tổ chức và hoạt động như thế nào? Một thư viện trường học hoạt động tốt hay không phụ thuộc phần lớn vào công tác quản lý hoạt động thư viện ở trường đó. Thực tế cho thấy vai trò của hiệu trưởng rất quan trọng trong vấn đề quản lý, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động thư viện trong một nhà trường. Phải quản lý như thế nào để nâng cao chất lượng hoạt động thư viện, phát huy vai trò tích cực của thư viện đối với công tác dạy học và giáo dục trong nhà trường?
Cùng với cả nước, tỉnh Bình Dương rất quan tâm, chú trọng công tác phát triển thư viện với mong muốn người dân tăng cường các kỹ năng đọc sách báo, với phương châm “Học thường xuyên, suốt đời” và “Học tập để hoàn thiện nhân cách, phát triển bản thân” làm nền móng, dựa trên các mục tiêu tổng quát của việc học là “học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau và học để làm người”.
Là một thị xã phía Bắc của tỉnh Bình Dương, trong những năm qua, ngành giáo dục thị xã Tân Uyên cũng đã góp phần xây dựng được nhiều trường đạt chuẩn quốc gia, nhiều thư viện đạt thư viện tiên tiến. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay một số trường THCS trên địa bàn vẫn còn xem nhẹ công tác thư viện, chưa có sự quan tâm đúng mức về các hoạt động của thư viện nhà trường. Cán bộ thư viện có nơi chỉ làm công tác kiêm nhiệm, cán bộ quản lý còn thiếu sự chỉ đạo và quản lý chặt chẽ về công tác này, hoặc quản lý còn lỏng lẻo dẫn đến hiệu quả hoạt động thư viện chưa cao. Do đó để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục như hiện nay đòi hỏi việc quản lý hoạt động thư viện ở các trường phải có những thay đổi nhằm phát huy nội lực sẵn có của nhà trường và khắc phục những hạn chế nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của thư viện, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Quản lý hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở là quản lý mục tiêu hoạt động thư viện, quản lý cán bộ thư viện, quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật, quản lý vốn tài liệu, quản lý việc phục vụ bạn đọc và quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện. Để quản lý hoạt động thư viện có hiệu quả cần có những biện pháp quản lý thiết thực và hợp lý của Hiệu trưởng để cán bộ thư viện, giáo viên và học sinh ngày càng hứng thú hơn trong việc thường xuyên đến thư viện nghiên cứu, tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao kiến thức.
Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động thư viện tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên cho thấy: quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật, quản lý cán bộ thư viện, quản lý vốn tài liệu được thực hiện ở mức khá. Tuy nhiên, trong công tác quản lý mục tiêu; quản lý việc phục vụ bạn đọc và quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện cũng như việc kiểm tra hoạt động thư viện còn nhiều hạn chế, …
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận của công tác quản lý hoạt động thư viện và thực trạng quản lý hoạt động thư viện tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tác giả đề xuất 5 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động thư viện, đó là: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, cán bộ thư viện, giáo viên và học sinh; Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; Tăng cường đầu tư, xây dựng cải tạo cơ sở vật chất, trang bị cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin; Đẩy mạnh chỉ đạo xây dựng thư viện thân thiện ở các trường trung học cơ sở; Tăng cường kiểm tra hoạt động của thư viện.
Kết quả khảo nghiệm cho thấy các biện pháp được đề xuất có tính cần thiết và khả thi cao. Do đó, các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên và các địa bàn khác có thể nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo những biện pháp này để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý hoạt động thư viện trong các nhà trường, nhằm nâng cao vị thế, phát huy vai trò của thư viện trong việc giáo dục thế hệ trẻ, góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển ở nhiều quốc gia. Ở nước ta, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2020, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” và Nghị quyết cũng đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp, trong đó có giải pháp “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học” (Ban chấp hành trung ương Đảng, 2020). Nhiệm vụ của người giáo viên (GV) là giảng dạy, giáo dục (GD) để giúp học sinh (HS) phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện thói quen tự tìm tòi, tự học, có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Một nơi lý tưởng nhất để tự tìm tòi lượng kiến thức vô cùng phong phú, đó chính là thư viện (TV).
Trong nhà trường, thư viện đóng vai trò quan trọng hỗ trợ cho GV và HS trong việc giảng dạy và học tập. Nó là “linh hồn”, là trung tâm sinh hoạt, học tập và nghiên cứu khoa học của nhà trường. “Thư viện của các trường trong hệ thống giáo dục phổ thông có nhiệm vụ xây dựng vốn tài liệu đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của người dạy và người học” (Nghị định Chính phủ, 2009), và mục tiêu phát triển chủ yếu của thư viện trường phổ thông: “Thư viện trường học phải thực sự trở thành nguồn lực trung tâm của trường học; Thư viện trường học phải đảm bảo thông tin tài liệu cho chương trình học tập, giúp mở rộng kiến thức mọi mặt của các em, hình thành ở các em tính độc lập trong việc đọc, việc học; biết cách thu nhận, phân tích thông tin để hình thành kiến thức mới. Học ở lớp sẽ được củng cố bằng việc đọc (học) ở thư viện trường học” (Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, 2014). Thư viện là thành tố cơ bản của quá trình dạy học, góp phần giúp GV thực hiện quá trình dạy học đạt kết quả cao, là nơi bồi dưỡng kiến thức cơ bản về khoa học, xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu của GV, đọc sách của HS và xây dựng tác phong làm việc khoa học cho các thành viên trong nhà trường. TV là điểm tựa cho HS hình thành tri thức lý thuyết và khả năng thực hành đạt hiệu quả cao trong hoạt động học tập. Có thể khẳng định rằng, việc sử dụng TV có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học và GD của các nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá cao vai trò của thư viện trường học, điều đó thể hiện tại Điều 7-Thông tư số 47/2019/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 12 năm 2019: “Có thư viện theo tiêu chuẩn quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường học” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019), nghĩa là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá trường phổ thông đạt chuẩn là TV của trường đó phải đạt chuẩn. Như vậy, TV ở một trường phổ thông đạt chuẩn không phải chỉ xét về điều kiện cơ sở vật chất, về số lượng đầu sách báo … mà vấn đề quan trọng ở đây là thư viện đó được tổ chức và hoạt động như thế nào? Một TV trường học phát triển tốt hay không phụ thuộc phần lớn vào công tác quản lý (QL) hoạt động thư viện (HĐTV) ở trường đó. Thực tế cho thấy vai trò của người hiệu trưởng là rất quan trọng trong vấn đề quản lý, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động thư viện trong một nhà trường. Phải quản lý như thế nào để thư viện ở trường đó hoạt động đạt hiệu quả? Quản lý như thế nào để nâng cao chất lượng HĐTV, phát huy vai trò tích cực của thư viện đối với công tác dạy học và giáo dục trong nhà trường?
Cùng với cả nước, tỉnh Bình Dương rất quan tâm, chú trọng công tác phát triển thư viện với mong muốn người dân tăng cường các kỹ năng đọc sách báo, với phương châm: “Học thường xuyên, suốt đời” và “Học tập để hoàn thiện nhân cách, phát triển bản thân” (Sở GDĐT Bình Dương, 2024) làm nền móng, dựa trên các mục tiêu tổng quát của việc học là “học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau và học để làm người”.
Là một thị xã phía Bắc của tỉnh Bình Dương, trong những năm qua, ngành giáo dục thị xã Tân Uyên cũng đã góp phần xây dựng được nhiều trường đạt chuẩn quốc gia, nhiều TV đạt thư viện tiên tiến. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay một số trường THCS trên địa bàn vẫn còn xem nhẹ công tác TV, chưa có sự quan tâm đúng mức về các HĐTV của nhà trường. Cán bộ thư viện có nơi chỉ làm công tác kiêm nhiệm, cán bộ quản lý còn thiếu sự chỉ đạo và QL chặt chẽ về công tác này, hoặc QL còn lỏng lẻo dẫn đến hiệu quả HĐTV chưa cao. Với nhận thức sâu sắc về vai trò quan trọng của TV trường THCS, trên cơ sở nghiên cứu thực tế về quản lý HĐTV và hướng đến mục tiêu thư viện phát huy hơn nữa chức năng hỗ trợ giáo dục toàn diện trong nhà trường, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về quản lý hoạt động thư viện và khảo sát thực trạng quản lý hoạt động thư viện tại trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện ở trường THCS trên địa bàn thị xã này.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động thư viện ở trường THCS.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
4. Giả thuyết khoa học
Thư viện nhà trường có vai trò quan trọng góp phần giáo dục toàn diện HS trong nhà trường. Công tác quản lý HĐTV ở trường THCS thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã đạt được những kết quả nhất định góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, khẳng định uy tín nhà trường. Tuy nhiên, công tác quản lý HĐTV ở trường THCS thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương vẫn còn một số hạn chế như đầu tư cơ sở vật chất cho thư viện còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thư viện, quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc và ứng dụng công nghệ thông tin trong HĐTV chưa đem lại hiệu quả thiết thực; công tác kiểm tra, đánh giá HĐTV còn hình thức. Nếu khảo sát, đánh giá đúng thực trạng và xác định được nguyên nhân của thực trạng HĐTV trong nhà trường thì có thể đề xuất các biện pháp quản lý HĐTV đảm bảo tính cần thiết và khả thi cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về hoạt động thư viện và quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS;
- Tìm hiểu và phân tích thực trạng hoạt động thư viện và quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương;
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
6. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Về nội dung: Đề tài khảo sát thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới sự điều hành, lãnh đạo của hiệu trưởng nhà trường.
- Về địa bàn: Đề tài khảo sát thực trạng hoạt động thư viện và quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Về thời gian: Đề tài khảo sát thực trạng trong hai năm học 2023 – 2024 và năm 2024 – 2025.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
7.1.1. Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Quan điểm hệ thống – cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện, trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận. Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển. Qua cách tiếp cận quan điểm này, người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa QL HĐTV với QL cơ sở vật chất nhà trường và QL các hoạt động sư phạm khác ở nhà trường. Thông qua việc nghiên cứu, quan điểm hệ thống – cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác thực trạng công tác QL HĐTV ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
7.1.2. Quan điểm lịch sử – logic
Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của công tác quản lý hoạt động thư viện nói chung, quản lý hoạt động thư viện THCS nói riêng trên thế giới, tại Việt Nam và trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự hợp lý.
7.1.3. Quan điểm thực tiễn Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xuất phát từ thực tiễn của công tác quản lý hoạt động thư viện THCS trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói chung và thị xã Tân Uyên nói riêng để tìm ra những tồn tại, khó khăn trong công tác quản lý hoạt động thư viện ở các cơ sở giáo dục này, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động thư viện phù hợp với thực tiễn.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp này dùng để phân tích, tổng hợp sách báo và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; phân loại và hệ thống hoá những nội dung lý luận nói trên làm cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
7.2.2. Các phương pháp thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: thu thập các thông tin về thực trạng hoạt động thư viện và QL hoạt động thư viện ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên.
Nội dung: Thu thập thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động thư viện. Chúng tôi cũng dùng bảng hỏi để khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mà đề tài đề xuất.
Công cụ khảo sát: xây dựng các bảng hỏi nhằm thu thập thông tin từ các đối tượng khảo sát gồm cán bộ quản lý (CBQL), CBTV, GV, HS.
Phương pháp phân tích hồ sơ, tài liệu, sản phẩm hoạt động (các hồ sơ quản lý, các nội quy, quy định, các kế hoạch, các báo cáo…): Thu thập thông tin về hoạt động thư viện và quản lý hoạt động thư viện tại trường THCS thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Phương pháp phỏng vấn: Thu thập thông tin về hoạt động thư viện và quản lý hoạt động thư viện thông qua phỏng vấn một số CBQL, một số CBTV ở trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
7.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Người nghiên cứu sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS for Windows, phiên bản 20.0 để xử lý các thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
8. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở.
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thư viện (TV) có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. TV là nơi lưu giữ và phổ biến những thông tin, tri thức của nhân loại kết tinh trong tài liệu. Thông tin TV giúp con người nghiên cứu quá khứ, nắm vững hiện tại, hiểu biết được tương lai. Ở các trường học, TV là một bộ phận thiết yếu cấu thành hoạt động dạy và học. Trong thời đại bùng nổ thông tin và trong nền kinh tế tri thức, thông tin TV trở nên vô cùng quan trọng, cần cho mọi người, mọi ngành nghề.
Đối với hoạt động dạy học, TV là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Với tư cách là công cụ lao động sư phạm của GV và HS, trong những trường hợp sử dụng đúng quy trình, phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn, TV đóng vai trò cung cấp nguồn thông tin cho HS trong học tập, là phương tiện để GV trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc, hình thành được ở HS những phương pháp học tập tích cực, chủ động. Thực tế, thư viện ở trường học nào hoạt động hiệu quả sẽ dẫn đến kết quả học tập của HS ở trường đó tốt hơn. Đồng thời thư viện ở các trường học có thể tạo sự thay đổi tích cực đối với sự tự tin của HS, ảnh hưởng đến khả năng học tập độc lập và tinh thần trách nhiệm về việc tự học của HS. Chính vì thế, vấn đề nghiên cứu về hoạt động của TV và QL HĐTV đã được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước dưới nhiều góc độ khác nhau.
- Các nghiên cứu ở nước ngoài Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Ở Liên Xô (cũ), vào năm 1983 tại E – re – van đã diễn ra hội nghị khoa học thực tiễn về hiệu quả và chất lượng phục vụ thư viện – thư mục cho trẻ em và thiếu niên. Hội nghị do Bộ văn hóa Liên Xô, Bộ văn hóa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Ac – mê – ni, thư viện quốc gia Liên Xô mang tên V.I. Lênin, thư viện thiếu nhi của nước Cộng hòa tổ chức. Những vấn đề mà hội nghị quan tâm trao đổi là: Vai trò giáo dục của thư viện trong việc hình thành đời sống tinh thần của bạn đọc trẻ tuổi, lập trường sống tích cực, tính công dân, tình yêu quê hương, tổ quốc, tình yêu lao động. Tại Hội nghị cũng đã khẳng định những ảnh hưởng của sách và thư viện trong quá trình trưởng thành về tinh thần và đạo đức của người công dân trẻ tuổi (Văn Hải, 1986, p. 76).
Tác giả Klaus Ulrich Werner (giám đốc TV đại học tự do Berlin, ủy viên Hội đồng xây dựng thư viện và lưu trữ – Viện tiêu chuẩn Đức) trong bài viết: “Thư viện với vai trò là không gian học tập và là nơi mọi người đều muốn đến” đã nghiên cứu về sự phát triển của TV trong thời đại hiện nay và đưa ra ý kiến nhận định: “Một trong những đều kỳ lạ có thể nói về thư viện là chúng đang trải qua một thời kỳ phục hưng trong kỹ nguyên kỹ thuật số. Sự phục hưng này liên quan đến việc chuyển đổi thư viện từ vai trò là nơi lưu trữ sách trở thành không gian cộng đồng, một phòng khách của thành phố, một trung tâm học tập cho học viên, một “địa điểm thứ ba” và một cửa hàng phương tiện truyền thông phi thương mại”. Ở nhiều nước Châu Âu, TV có các tên mới để miêu tả sự thay đổi vai trò và chức năng của TV như: “trung tâm thông tin”, “cửa hàng ý tưởng”, “trung tâm truyền thông”. Trong bài viết của mình tác giả đã chỉ ra rằng: “ngày nay người sử dụng thư viện thích được lựa chọn các không gian học tập và làm việc khác nhau, các kiểu ghế và bầu không khí khác nhau. Thư viện ngày nay cần phải được thiết kế đảm bảo rằng thư viện có thể vận hành tốt và làm tròn các chức năng của nó: là nơi học tập giao tiếp và nghiên cứu” (Klaus Ulrich Werner, 2021, p. 10).
Công trình nghiên cứu của M. Lonsdale về “Tác động của thư viện trường học tới kết quả học tập của sinh viên” đã đánh giá, tập trung vào các nghiên cứu được thực hiện từ năm 1990, cho thấy các TV trường có thể có tác động tích cực đến thành tích của học sinh – dù thành tích đó có được đo bằng điểm đọc, biết chữ hay học chung, cụ thể trong đó có những nội dung:
- Một chương trình thư viện mạnh được trang bị nhân viên, nguồn lực và tài trợ đầy đủ có thể dẫn đến thành tích học sinh cao hơn bất kể mức độ kinh tế xã hội hay trình độ học vấn của người lớn trong cộng đồng;
- Các thư viện có thể tạo sự khác biệt tích cực đối với lòng tự trọng, sự tự tin, sự độc lập và ý thức trách nhiệm của học viên đối với việc học của họ (Michele Lonsdale, 2010, p. 3).
Ngoài ra, trong bài báo đánh giá về “Tác động của dịch vụ thư viện trường học đối với thành tích của học sinh và ý nghĩa của việc vận động: Đánh giá về văn học”, tác giả Christopher Chan đã đề cập: “Trong một nghiên cứu được thực hiện ở Alaska, có 9 trong 10 trường có cán bộ làm việc toàn thời gian đạt được trình độ trung bình hoặc cao hơn các bài kiểm tra chuẩn, so với 5 trong 10 trường không có thư viện nào cả (Lance, Hamilton-Pennell & Rodney, 2007, p.29). Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng sinh viên ở Illinois có thể đạt được điểm kiểm tra cao hơn khi họ có cơ hội tiếp cận với một thư viện có nguồn nhân lực tốt (Lance, Hamilton-Pennell & Rodney, 2012, p.122)” (Christopher Chan, 2015). Trong bài báo đã cho thấy sự liên kết giữa TV trường với kết quả học tập của sinh viên, đồng thời bài báo cũng đã đánh giá một cách nghiêm túc các tài liệu liên quan đến tác động của TV trường học đối với thành tích của HS. Cụ thể: Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Một thư viện tốt với đầy đủ nhân viên, các nguồn lực và kinh phí có thể làm cho kết quả học tập của sinh viên tốt lên.
- Chất lượng tài liệu có tác động đến việc học của sinh viên.
- Kết quả bài kiểm tra tăng lên khi việc sử dụng thư viện tăng lên.
- Mối quan hệ giữa giảng viên và cán bộ thư viện có tác động cụ thể đến việc học, là mối quan hệ giữa các học phần dự kiến, phát triển nguồn tài liệu và sự phát triển cá nhân.
Trong tác phẩm “Các chương trình truyền thông thư viện trường học chất lượng cao cải thiện thành tích của học sinh ở Bắc Carolina như thế nào” các tác giả Robert Burgin, Pauletta Brown Bracy, Kathy Brown khẳng định: “Các chương trình thư viện trường học ở tiểu học, trung học cơ sở và các trường trung học ở North Carolina có ảnh hưởng đáng kể đến thành tích của học sinh – được đo bằng điểm số về bài đọc chuẩn và các bài thi tiếng Anh”. Và trong bài viết cũng đã khẳng định: “Những phát hiện này phù hợp với những nghiên cứu trước đây ở Alaska, Massachusetts, Colorado, Pennsylvania, Oregon, Texas, Iowa và California, tất cả đều có liên kết tương tự giữa thành tích của học sinh và chất lượng của các chương trình TV trường học.” (Robert Burgin et al., 2010, p. 4).
- Các nghiên cứu trong nước
Khi đề cập đến vai trò và chức năng của TV, tác giả Lê Văn Viết có công trình nghiên cứu, bài báo đề cập đến những vấn đề cơ bản của TV như vị trí, vai trò của TV trong xã hội, chức năng, nhiệm vụ của TV, xu hướng phát triển của TV… (Bùi Loan Thùy và Lê Văn Viết, 2008). Hay trong cuốn: “Quản lý giáo dục” do Bùi Minh Hiền chủ biên, tác giả đã đề cập đến vai trò của TV trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm mà người quản lý TV cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc cùng giải pháp quản lý TV ở trường học trong giai đoạn hiện nay (Bùi Minh Hiền, 2013). Tác giả Đoàn Thị Thu (Đại học khoa học xã hội và nhân văn, thành phố Hồ Chí Minh) nghiên cứu đề tài: “Vai trò của thư viện trường trong việc xây dựng và phát triển tủ sách lớp học ở các thư viện trường phổ thông” cho rằng: Xây dựng và phát triển tủ sách lớp học là động lực giúp TV trường phổ thông nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, từng bước khẳng định được vai trò của TV trong hoạt động dạy và học ở trường phổ thông. Hiệu quả hoạt động của tủ sách lớp học phụ thuộc rất lớn vào mức độ tham gia của TV nhà trường. Để tủ sách lớp học thực sự hữu ích như mong muốn, cần nhất là trình độ và tâm huyết của người cán bộ thư viện trường phổ thông (Đoàn Thị Thu, 2021, p. 26). Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Với mong muốn hoàn thiện hệ thống thư viện, tác giả Nguyễn Huy Chương trong công trình nghiên cứu “Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống thông tin thư viện đại học Mỹ, định hướng vận dụng một số kinh nghiệm vào thư viện đại học Việt Nam” (Luận án tiến sĩ) đã vận dụng một số kinh nghiệm của đại học Mỹ vào quá trình phát triển và hoàn thiện hệ thống TV đại học Việt Nam. Sau đó, ở đề tài nghiên cứu cơ bản cấp đại học quốc gia Hà Nội, tác giả và nhóm điều tra nghiên cứu Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động Trung tâm Thông tin – Thư viện đại học. Trong những nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tiến Hiển cho rằng tổ chức cơ quan thông tin – thư viện là một phần của tổ chức quản lý văn hóa. Đó là sự chỉ đạo, hướng dẫn, sự quan tâm giúp đỡ của các tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội và cá nhân đến tập thể cán bộ của cơ quan thông tin – thư viện đó. Nội dung bao gồm QL con người, QL vốn tài liệu và QL trụ sở, trang thiết bị (Nguyễn Tiến Hiển, 1996, p. 9). Tác giả Nguyễn Văn Hành trong đề tài nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội” đã đưa ra phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới mô hình Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội.
Các vấn đề về QL thư viện hiện đại, có hiệu quả, sáng tạo, bồi dưỡng nhân cách cho HS được các tác giả sau nghiên cứu như: Tác giả Nguyễn Thị Lan Thanh (trường đại học Văn hóa Hà Nội) đã đề cập đến những khái niệm về QL thư viện trong bài viết “Một số vấn đề về quản lý thư viện hiện đại” đăng trên tạp chí TV Việt Nam số 5 tháng 9 năm 2021 đã nêu lên các định nghĩa về QL thư viện và QL thư viện hiện đại. Sự giống nhau và khác nhau giữa QL thư viện truyền thống và QL thư viện hiện đại, tác giả cũng đã khái quát một số nội dung QL thư viện hiện đại như: QL nguồn nhân lực thư viện, QL hoạt động chuyên môn, QL tài chính, QL cơ sở vật chất … Theo tác giả, TV hiện đại là một loại TV được áp dụng những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật mà cụ thể là công nghệ thông tin (CNTT). Dưới tác động của ứng dụng CNTT, TV hiện đại có rất nhiều thay đổi: từ cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực cho đến cơ sở vật chất trang thiết bị. Thư viện hiện đại ngày nay có những cấp độ khác nhau với các tên gọi khác nhau như: TV đa phương tiện, TV điện tử, TV số,. Quản lý TV hiện đại rất
cần người QL có các kiến thức về ứng dụng CNTT vào HĐTV và có kỹ năng thực hành phần mềm QL. Nói cách khác quản lý TV hiện đại là hoạt động được chủ thể QL và đối tượng QL tự giác thực hiện nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu của TV với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại (Nguyễn Thị Lan Thanh, 2021, p. 3). Trong cuốn: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị – thư viện dạy học ở trường phổ thông Việt Nam”, do Trần Quốc Đắc chủ biên, tác giả đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng thiết bị – thư viện, xác định vị trí, vai trò của cơ sở vật chất (CSVC) và thiết bị – thư viện ở trường phổ thông. Các tác giả nhận định: “Thư viện phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thư viện trường học. Sử dụng có hiệu quả thư viện là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người GV. Điều này đòi hỏi người GV phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng thiết bị – thư viện. Người GV không những cần hiểu biết về thiết bị – thư viện, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng thiết bị – thư viện: sử dụng thiết bị – thư viện với mục đích gì, lúc nào, số lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lý HS ra sao; HS cần tham gia hoạt động như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực, sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho HS”. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Nghiên cứu về HĐTV và QL HĐTV, tác giả Nguyễn Thị Kim Xuyến với đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động của Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Tiền Giang” nghiên cứu về hoạt động của TV nhưng chưa làm rõ công tác QL HĐTV. Tác giả Nguyễn Kim Loan với đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn” đã đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, phân tích được những nguyên nhân về thực trạng QL TV của nhà trường, trên cơ sở đó cũng đã đề ra các biện pháp QL để TV của Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn hoạt động đạt hiệu quả. Ngoài ra, một số luận văn Thạc sĩ QLGD của các tác giả sau cũng đã nghiên cứu về hoạt động của TV của các trường phổ thông như: Tác giả Nguyễn Thị Lệ nghiên cứu về “Một số giải pháp quản lý hoạt động thư viện ở các trường tiểu học Quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh” và tác giả Trần Thị Tố Trinh “Quản lý hoạt động thư viện tại các trường tiểu học Quận Ba Đình, Hà Nội”.
Như vậy, công tác quản lý HĐTV hiện nay là một vấn đề rất quan trọng, được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan quản lý giáo dục (QLGD), nhiều nhà khoa học và đông đảo GV. TV được xác định là một thành tố quan trọng trong quá trình dạy học, nó đóng vai trò to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào những góc cạnh và một số nội dung nhất định mang tính lý luận chung của công tác quản lý HĐTV và rất ít tác giả hay tổ chức nào nghiên cứu ở cấp Trung học cơ sở. Việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào từng địa phương cụ thể chưa được triển khai rộng rãi. Do vậy, việc nghiên cứu ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý HĐTV ở các địa phương cụ thể là cần thiết. Vì vậy đề tài luận văn “Quản lý hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương”, sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường trung học cơ sở
- Quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê và đồng các tác giả đã đưa ra: “Quản: Trông coi, điều khiển”, “Lý: Điều được coi là hợp lẽ phải”, Quản lý là một động từ, có nghĩa là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định hoặc tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định (Hoàng Phê – chủ biên, 1997, p. 772).
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý xuất hiện từ rất sớm, tồn tại và phát triển đến ngày nay. Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về quản lý và quan niệm về quản lý theo các cách tiếp cận khác nhau:
Theo các tác giả Harold Koontz, Cyri O’donnell và Heinz Weihrich: “QL là một hoạt động thiết yếu bảo đảm sự hoạt động nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức” (Harold Kootz et al., 1994, p. 33).
Theo tác giả Trần Kiểm: “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” (Trần Kiểm, 2011, p. 8).
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc quan niệm về quản lý trong tác phẩm Đại cương khoa học quản lý: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” (Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2021, p. 9).
Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa: Quản lý là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành, đạt đến mục tiêu đã định với chất lượng và hiệu quả mong muốn.
- Quản lý giáo dục
Theo Hoàng Phê và đồng các tác giả: “Giáo dục: là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” (Hoàng Phê – chủ biên, 1997, p. 379). Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Quản lý giáo dục là một bộ phận trong hệ thống quản lý Nhà nước về lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Có rất nhiều tác giả đã khái quát về QLGD như:
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” (Đặng Quốc Bảo, 1997, p. 31).
Ở gốc độ vĩ mô, tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội” (Trần Kiểm, 2015, p. 10).
Dưới gốc độ vi mô, tác giả Trần Kiểm lại cho rằng: “Quản lý giáo dục vi mô được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục của nhà trường” (Trần Kiểm, 2015, p. 12).
Dù ở cấp độ vĩ mô hay vi mô, quản lý giáo dục có 4 yếu tố: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý.
Tóm lại, từ những phân tích trên, có thể nói: Quản lý giáo dục là dạng lao động xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý một cách có mục đích, có định hướng để đạt được mục tiêu giáo dục và mục tiêu phát triển giáo dục, dựa trên thể chế giáo dục và các nguồn lực giáo dục.
- Quản lý nhà trường
Nhà trường hay trường học là “nơi tiến hành công tác giảng dạy, đào tạo toàn diện hay về một lĩnh vực chuyên môn nào đó cho những tập thể học sinh, học viên” (Hoàng Phê – chủ biên, 1997, p. 1021).
Như vậy, trường học là cơ sở giáo dục, trực tiếp giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước; là nơi thực hiện việc giáo dục đạo đức, lối sống cũng như tư tưởng chính trị cho HS. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Quản lý trường học là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS, hoạt động phục vụ việc dạy và học của cán bộ, nhân viên trong nhà trường. Nhà trường là cơ quan chuyên môn của ngành giáo dục và đào tạo, là đơn vị cơ sở trực tiếp giáo dục và đào tạo, hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú nhưng cũng vô cùng phức tạp, nên việc quản lý, lãnh đạo khoa học sẽ bảo đảm đoàn kết, thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục.
Theo các tác giả Phan Văn và Nguyễn Huy Chương: “Quản lý trường học được hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu đã đề ra” (Phan Văn, Nguyễn Huy Chương, 2008, p. 10).
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” (Phạm Minh Hạc, 2009, p. 13).
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: “Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực của GD để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường” (Phạm Viết Vượng, 2010, p. 205).
Theo tác giả Đặng Thành Hưng: “quản lý trường học là quản lý giáo dục tại cấp cơ sở trong đó chủ thể quản lý là các cấp chính quyền và chuyên môn trên trường, các nhà quản lý trong trường do Hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lý là nhà trường như một tổ chức chuyên môn – nghiệp vụ, nguồn lực quản lý là con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính, đầu tư khoa học – công nghệ và thông tin bên trong trường và được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính sách, cơ chế và chuẩn hiện có”. (Đặng Thành Hưng, 2017, p. 7).
Như vậy, có thể định nghĩa: Quản lý nhà trường là quá trình tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý nhà trường đến các đối tượng quản lý trong nhà trường nhằm thực hiện được mục tiêu, kế hoạch giáo dục của nhà trường. Quản lý nhà trường có nhiều nội dung như: Quản lý dạy học, giáo dục, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất – kỹ thuật, quản lý hoạt động thư viện, quản lý học sinh v.v…Trong luận văn này, tác giả đi sâu nghiên cứu về quản lý hoạt động thư viện ở các trường THCS thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
1.2.2. Thư viện, hoạt động thư viện Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Thư viện
Danh từ thư viện xuất phát từ chữ Hy Lạp. Biblio có nghĩa là sách, thêka nghĩa là kho, nơi bảo quản. Theo Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê và đồng các tác giả đã đưa ra: Thư viện là một danh từ, có nghĩa là nơi tàng trữ, giữ gìn sách báo, tài liệu và tổ chức cho bạn đọc sử dụng. (Hoàng Phê – chủ biên, 1997, p. 937).
Nhà thư viện Nga O. X. Chubarian cho rằng: “Thư viện là cơ quan tư tưởng, văn hóa giáo dục và thông tin khoa học, tổ chức việc sử dụng sách có tính chất xã hội” (Chubarian O.X, 1976, p. 42).
Nhà văn Sô Bô Lép đã nêu khái niệm về thư viện: “Thư viện là kho tàng sách báo đa dạng, phong phú; là cơ thể sống, hoạt động nuôi dưỡng rất nhiều người, là món ăn tinh thần của độc giả, thỏa mãn một cách đầy đủ lợi ích nhu cầu và hứng thú của họ” (Phan Văn, Nguyễn Huy Chương, 2008, p. 44).
Người Trung Hoa quan niệm thư viện là nơi tàng trữ sách (thư là sách, viện là nơi tàng trữ) (Bùi Loan Thùy, Lê Văn Viết, 2008, p. 7).
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO): TV được định nghĩa: “Thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác, kể cả đồ họa, nghe nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí” (Quí Long, Kim Thư (sưu tầm), 2016, p. 7).
Từ những định nghĩa về TV như đã nêu trên, chúng ta thấy định nghĩa của UNESCO là định nghĩa đầy đủ nhất, cho biết cơ cấu cũng như chức năng, nhiệm vụ của thư viện.
Ở Việt Nam, theo Điều 1, Pháp lệnh thư viện ghi rõ: “Thư viện có chức năng, nhiệm vụ giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc; thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hoá, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2007).
Pháp lệnh được nêu trên cho thấy vị trí, vai trò và tác dụng to lớn của hệ thống TV Việt Nam trong đời sống xã hội, càng đặc biệt hơn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.
Theo các nhà nghiên cứu TV được tạo thành từ bốn yếu tố: Vốn tài liệu, cán bộ thư viện, người sử dụng thư viện và cơ sở vật chất kỹ thuật, giữa các yếu tố đó có mối quan hệ biện chứng với nhau.
- Sơ đồ 1.1. Các yếu tố hình thành một thư viện Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Vốn tài liệu: Đây là yếu tố đầu tiên, là tiềm lực, là sức mạnh, là nguồn tài sản quý giá, niềm tự hào của mỗi TV. Vốn tài liệu của TV càng lớn càng phong phú thì khả năng đáp ứng, lôi cuốn bạn đọc càng cao và càng có sức hút. Đối với cán bộ thư viện, tài liệu là đối tượng bổ sung, tổ chức kho, tuyên truyền trong bạn đọc và đưa ra sử dụng chúng. Ngoài ra, vốn tài liệu còn là vật trung gian giữa bạn đọc, cán bộ thư viện và cơ sở vật chất – kỹ thuật của TV. Ngày nay, trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của HS thì nhiệm vụ đặt ra đối với TV nhà trường là phải đầu tư xây dựng vốn tài liệu phong phú để đáp ứng yêu cầu học tập và nghiên cứu ngày càng cao của GV và HS, đáp ứng với xu thế phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.
Cán bộ thư viện: Cán bộ thư viện (CBTV) hay nhân viên thư viện (NVTV) vừa là người quản lý trực tiếp TV, vừa là người đồng hành với cán bộ – giáo viên – học sinh trong việc sử dụng, khai thác các loại tài liệu trong TV một cách có hiệu quả. CBTV là linh hồn của TV và thực hiện nhiệm vụ rất phức tạp. Trong quan hệ với tài liệu, CBTV là người lựa chọn và bảo quản tài liệu, sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định, đúng chuyên môn. Trong quan hệ với cơ sở vật chất – kỹ thuật, CBTV tiến hành trang bị chuyên biệt cho các diện tích và luôn giữ cho cơ sở vật chất – kỹ thuật ở tình trạng tốt nhất. Trong quan hệ với bạn đọc, CBTV không chỉ tích cực tuyên truyền các tài liệu một cách sáng tạo, phù hợp với nhu cầu của người dùng, hướng dẫn đọc, nghiên cứu nhu cầu bạn đọc mà còn tạo ra các dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu đó bằng những mô hình mới như: “thư viện xanh”, “tủ sách dùng chung”, …để xây dựng TV ngày càng tăng số bạn đọc cũng như tăng số lượng sách báo trong TV mà tiết kiệm được kinh phí.
Bạn đọc: Người sử dụng TV chính là bạn đọc – một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo sự ra đời và tồn tại của Chính người sử dụng TV đã đưa toàn bộ cơ chế của các mối quan hệ lẫn nhau giữa vốn tài liệu, CBTV, cơ sở vật chất – kỹ thuật vào hoạt động. Tài liệu, CBTV, cơ sở vật chất – kỹ thuật chỉ là tiền đề để xuất hiện bạn đọc, tạo nên TV như một hiện tượng xã hội. Đối với bất kỳ một loại hình TV nào thì việc phục vụ bạn đọc bao giờ cũng là mục tiêu cuối cùng để khẳng định sự tồn tại và phát triển của mỗi TV.
Cơ sở vật chất – kỹ thuật của TV bao gồm trụ sở, diện tích dành cho TV với toàn bộ trang thiết bị của chúng. Nó có vai trò hết sức to lớn: Đối với tài liệu, nó là nơi chứa và bảo quản tài liệu; đối với bạn đọc, nó là nơi họ làm việc với tài liệu, tiếp xúc với mọi nguồn thông tin trong nước và trên thế giới, là nơi gặp gỡ, trao đổi cảm nghĩ về những gì đã đọc hoặc trao đổi những thông tin khác với bạn bè, đồng nghiệp, là nơi họ sáng tạo; đối với CBTV, cơ sở vật chất – kỹ thuật của TV là ngôi nhà thứ hai của họ, nơi họ thể hiện vai trò của CBTV, những hoài bảo, ước mơ, những kiến thức đã học được ở trường vào thực tiễn.
Con người muốn có sự hiểu biết sâu rộng thì phải không ngừng học hỏi nâng cao trình độ. Thư viện góp phần rất lớn vào việc phát triển tri thức của con người. Thư viện luôn là nơi cập nhật thông tin chính xác, đầy đủ và nhanh nhất đến với người dùng. Mặt khác, thư viện cũng chính là cơ quan giáo dục thứ hai sau nhà trường, là nơi giúp con người tự học, tự nghiên cứu tốt nhất vì kho tri thức đồ sộ, vô giá của nhân loại đã được tổ chức phục vụ trong điều kiện khoa học nhất. Ngày nay, nhiều TV đã trang bị các phương tiện nghe nhìn, các tài liệu đa phương tiện để phục vụ đọc giả. Bên cạnh đó, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và truyền thông, việc áp dụng các công nghệ hiện đại đã làm thay đổi hình thức và nội dung của HĐTV, hình thành một số dạng thư viện mới như: Thư viện đa phương tiện; Thư viện điện tử; Thư viện số.
- Hoạt động thư viện Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, Hoàng Phê và đồng các tác giả đã đưa ra: Hoạt động là một động từ, có nghĩa là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội hoặc là một danh từ, nghĩa là Thực hiện một chức năng nhất định nào đó trong một chỉnh thể (Hoàng Phê – chủ biên, 1997, p. 346).
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Hoạt động là một phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thế giới xung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộc sống của mình” (Từ điển bách khoa Việt Nam, 2013, p. 341)
Hoạt động thư viện là một dạng hoạt động của con người trong xã hội. Có thể xem hoạt động thư viện là một quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến tài liệu trong thư viện, đáp ứng nhu cầu của bạn đọc.
Thư viện là một bộ phận không thể thiếu trong nhà trường. Với chức năng lưu trữ và luân chuyển sách, báo thông qua nội dung sách, báo, TV góp phần tích cực vào nội dung dạy và học, tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng thế giới quan khoa học, nếp sống văn minh cho GV và HS. Các hoạt động tuyên truyền, giới thiệu sách … nhân các ngày kỷ niệm lớn của dân tộc, của ngành … có tác dụng tích cực đối với việc GD tư tưởng và truyền thống cách mạng cho HS, đồng thời chống mọi tàn dư văn hóa tiêu cực xâm nhập vào nhà trường. Mặt khác, nếu TV được bổ sung sách đầy đủ thường xuyên và hoạt động có nghiệp vụ sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. TV góp phần tích cực trong việc chỉ đạo, sử dụng sách báo, đồng thời cũng là một địa chỉ tiêu thụ sách quan trọng, do đó cần củng cố và đổi mới HĐTV đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay.
Ngoài ra, các hoạt động của TV còn phục vụ việc tự học và tự bồi dưỡng cho GV, HS. Việc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phương pháp tự học, hướng dẫn các em biết cách nghiên cứu sách, báo, thảo luận chuyên đề, ghi chép tư liệu, sử dụng hệ thống mục lục, thư mục để tra tìm và lựa chọn tài liệu, biết sử dụng kho sách là nhiệm vụ rất quan trọng của công tác bạn đọc, của HĐTV nhà trường. Người CBTV phải là “người thầy giáo thứ 2” trong nhà trường.
Trong xu thế phát triển như hiện nay, CNTT đã, đang và sẽ chi phối mọi hoạt động dịch vụ thông tin TV. Chính điều này làm cho TV trở thành cầu nối giữa thông tin và người sử dụng. TV là trái tim luôn nóng bỏng, luôn đồng hành và không thể tách rời hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của bất kỳ trường nào.
1.2.3. Quản lý hoạt động thư viện trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Quản lý HĐTV trường THCS được hiểu là quá trình tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý nhà trường đến quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến tài liệu trong thư viện, đáp ứng nhu cầu của bạn đọc nhằm thực hiện được mục tiêu, kế hoạch giáo dục của nhà trường. Quản lý HĐTV trường THCS là thực hiện tác động thông qua các chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để thư viện hoạt động hiệu quả, phục vụ tốt nhất nhu cầu của độc giả; bảo quản và phát huy tác dụng tốt nhất vốn tài liệu và các trang thiết bị nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động.
Quản lý HĐTV bao gồm những nội dung: QL mục tiêu HĐTV, QL cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật, QL cán bộ thư viện, QL vốn tài liệu, QL việc phục vụ bạn đọc, QL ứng dụng CNTT vào HĐTV và kiểm tra HĐTV. Trong những nội dung quản lý trên thì việc tổ chức quản lý cán bộ thư viện là quan trọng nhất vì đây chính là đối tượng để thực hiện mục tiêu đảm bảo việc phục vụ thông tin, tư liệu hiệu quả nhất cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường.
Để quản lý HĐTV trong trường THCS đạt hiệu quả hiệu trưởng nhà trường cần có trách nhiệm làm cho mọi thành viên trong nhà trường hiểu được tầm quan trọng của TV đối với việc nâng cao hiệu quả GD toàn diện trong nhà trường để từ đó có được sự ủng hộ của các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường, đồng thời cần phải thiết lập một cơ cấu tổ chức phù hợp đảm bảo khai thác vốn tài liệu TV một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất phù hợp với điều kiện thực tế của từng trường.
1.3. Hoạt động thư viện trường trung học cơ sở
1.3.1. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của hoạt động thư viện trường trung học cơ sở
- Vị trí, vai trò của hoạt động thư viện trường trung học cơ sở
Thư viện là thành tố cơ bản không thể thiếu được của quá trình GD, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng GD và đào tạo. Trong nhà trường phổ thông, hoạt động chủ yếu của GV và HS là giảng dạy và học tập. Cả hai hoạt động này đều phải sử dụng công cụ sách, báo. Sách, báo chỉ có thể được QL tốt và phát huy được tác dụng tích cực của nó trên cơ sở tổ chức công tác TV. Vì vậy, tổ chức TV trong nhà trường nhằm thỏa mãn nhu cầu về sách, báo cho GV và HS là một yêu cầu khách quan không thể thiếu được.
Chính vì TV có vị trí và vai trò rất quan trọng trong nhà trường nên Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những chủ trương đúng đắn và biện pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh công tác xây dựng TV trong các trường học. Cụ thể: Quyết định số 10/2014/QĐ – BVHTT ngày 04 tháng 5 năm 2014 về phê duyệt quy hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam đến năm 2017 và định hướng đến năm 2030; Quyết định số 01/2010/QĐ-BGD&ĐT ngày 02 tháng 01 năm 2010 về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn TV trường phổ thông; Thông tư 30/TT-LB và nhiều văn bản, chỉ thị khác đã được ban hành, chẳng những đánh dấu sự phát triển của sự nghiệp TV trong các trường học mà còn khẳng định vị trí quan trọng và tác dụng lớn lao của TV đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Theo Quy chế về tổ chức hoạt động Thư viện trường phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 61/1998/QĐ-BGD&ĐT ngày 06 tháng 11 năm 1998, Điều 1 đã quy định rõ: “Thư viện trường phổ thông là một bộ phận cơ sở vật chất trọng yếu, trung tâm sinh hoạt văn hóa và khoa học của nhà trường. Thư viện góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về khoa học thư viện và xây dụng thói quen tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, tạo cơ sở từng bước thay đổi phương pháp giảng dạy và học, đồng thời thư viện tham gia tích cực vào việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị, xây dựng nếp sống văn hóa mới cho các thành viên của nhà truờng. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 1998).
Như vậy, TV là trung tâm học tập, sinh hoạt văn hóa và hoạt động khoa học của nhà trường. TV đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích sáng tạo đổi mới, khơi gợi trí tò mò và khả năng giải quyết vấn đề. TV là chất xúc tác cho việc dạy và học, hình thành thói quen đọc sách cũng như tạo nền tảng cho phương pháp học tập chủ động. Ngoài ra, TV còn là nơi bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ GV và nhân viên trong nhà trường, xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu, khả năng tìm tòi và sáng tạo cho HS; giúp HS xây dựng được phương pháp học tập và phong cách làm việc khoa học, biết sử dụng sách, báo TV. Từ đó từng bước thay đổi phương pháp dạy và học theo hướng gợi mở, thúc đẩy sự chủ động và tích cực trong việc tiếp thu kiến thức của HS, tạo không khí sôi nổi trong các giờ học. TV không chỉ là nguồn lực cơ bản để hỗ trợ việc học của HS mà còn là nguồn hỗ trợ chính cho đội ngũ GV trong việc giảng dạy.
Khi nói đến vai trò của TV, nhà giáo dục người Nga V.P.Golov đã nêu rõ: “Phương tiện dạy học là một trong những điều quan trọng nhất để thực hiện nội dung giáo dưỡng, giáo dục và phát triển học sinh trong quá trình dạy-học”.
Thư viện có ý nghĩa nhất định trong toàn bộ quá trình dạy học, tuy nhiên không phải tự thân nó có toàn bộ ý nghĩa đó. Nói cách khác là không phải cứ sử dụng thư viện là có tác dụng dạy học – giáo dục, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc người GV sử dụng nó như thế nào trong cách nghiên cứu, cách chế biến tài liệu dạy học mà người GV sẽ tiến hành.
Thư viện là phương tiện quan trọng góp phần nâng cao khả năng sư phạm của GV trong quá trình dạy học.
Thư viện hỗ trợ quá trình giảng dạy của GV trong nhà trường và thúc đẩy sự phát triển của HS bằng cách tăng cường mối liên kết giữa lớp học, TV và cộng đồng trong việc kiến tạo một nền văn hóa đọc để giải trí, cũng như tìm kiếm thông tin.
Mục tiêu của TV là đảm bảo mọi thành viên trong cộng đồng nhà trường có quyền tiếp cận “sách và văn hóa đọc, thông tin, và công nghệ thông tin”. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Tác giả Lê Ngọc Oánh quan niệm: “những thư viện trên thế giới ngày nay đã thoát khỏi khía cạnh tĩnh của những kho chứa sách để trở nên năng động hơn với ba vai trò chính yếu sau đây:
- Thư viện là một cơ quan truyền thông đại chúng;
- Thư viện là một trung tâm phát triển văn hóa;
- Thư viện là một động lực đóng góp vào việc đổi mới giáo dục.” (Lê Ngọc Oánh, 2009, p. 92).
Thư viện ngày nay không chỉ là nơi lưu giữ, bảo quản sách mà nó còn đóng vai trò là cơ quan truyền thông quan trọng trong việc hỗ trợ công tác học tập và giảng dạy góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng GD trong nhà trường.
Mặc dù thư viện có vị trí rất quan trọng trong nhà trường, có vai trò tích cực góp phần vào công tác giáo dục toàn diện nhưng không phải ở trường học nào công tác thư viện cũng được coi trọng, được trợ giúp, thúc đẩy phát triển nhằm phát huy vị thế của mình. “Hệ thống thư viện trường học ở nước ta hiện nay đang đứng bên lề của sự phát triển chung của ngành Thư viện Việt Nam đang dần dần chuẩn hóa và hội nhập với thư viện thế giới. Thư viện trường học hiện nay hầu như chỉ là kho để tiêu thụ sách và kiểm tra việc tiêu thụ đó bằng những phương thức lạc hậu về chuyên môn nghiệp vụ và coi trọng thủ tục hành chính hơn là hiệu quả phục vụ”. (Lê Ngọc Oánh, 2017, p. 5).
Ngày nay, phương pháp giảng dạy “lấy người học làm trung tâm” là vấn đề được các trường học quan tâm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xã hội. Để giúp cho thư viện phát huy tối ưu vai trò của mình, đồng thời đáp ứng được nhu cầu đào tạo của nhà trường thì công tác tổ chức và hoạt động một cách hợp lý, khoa học là điều rất quan trọng.
- Nhiệm vụ của hoạt động thư viện trường trung học cơ sở
Nhiệm vụ của thư viện trường học là phục vụ cho việc giảng dạy và học tập, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục. Nó phải gắn liền với chương trình, nội dung học tập của mỗi loại trường, mỗi cấp học, đồng thời gắn liền với nội dung đào tạo con người mới – con người toàn diện, theo mục tiêu của các cấp học, bậc học.
Theo Quy chế về tổ chức hoạt động Thư viện trường phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 61/1998/QĐ-BGD&ĐT ngày 06 tháng 11 năm 1998, nhiệm vụ của thư viện trường phổ thông được quy định tại Điều 2 như sau:
- Cung ứng cho giáo viên và học sinh đầy đủ các loại sách giáo khoa, sách tham khảo, sách nghiệp vụ, các loại từ điển, tác phẩm kinh điển để tra cứu, và các sách báo cần thiết khác, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và tự bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên và học sinh. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Sưu tầm và giới thiệu rộng rãi trong cán bộ, giáo viên và học sinh những sách báo cần thiết của Đảng, Nhà nước và của Ngành Giáo dục và Đào tạo, phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học giáo dục, bổ sung kiến thức của các bộ môn khoa học, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
- Tổ chức thu hút toàn thể giáo viên và học sinh tham gia sinh hoạt thư viện thông quan các hoạt động phù hợp với chương trình và kế hoạch dạy học, tìm hiểu nhu cầu của giáo viên và học sinh, giúp họ chọn sách, đọc sách có hệ thống, biết cách sử dụng bộ máy tra cứu sách, tra cứu thư mục nhằm sử dụng triệt để kho sách, nhất là các sách nghiệp vụ và sách tham khảo.
- Phối hợp hoạt động với các thư viện trong ngành và các thư viện địa phương để chủ động khai thác, sử dụng vốn sách báo, trang thiết bị chuyên dùng, giúp đỡ kinh nghiệm, tổ chức hoạt động đào tạo và bồi dưỡng về nghiệp vụ; liên hệ với các cơ quan phát hành trong và ngoài ngành, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, các nhà tài trợ… nhằm huy động các nguốn vốn kinh phí ngoài ngân sách và các loại sách báo, tạp chí, tư liệu để đảm bảo nguồn vốn bổ sung, làm phong phú nội dung kho sách và tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật thư viện.
- Tổ chức QL theo đúng nghiệp vụ TV, có sổ sách QL chặt chẽ, bảo quản giữ gìn sách báo tránh hư hỏng, mất mát, thường xuyên thanh lọc sách báo cũ, rách nát, lạc hậu, kịp thời bổ sung các loại sách, tài liệu mới; sử dụng và QL chặt chẽ kinh phí TV thu được theo đúng mục đích; có kế hoạch chủ động đón đầu tiếp thu sự phát triển của mạng lưới thông tin – thư viện điện tử, từng bước đưa các trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác QL thư viện phục vụ bạn đọc.
Nhiệm vụ của TV là thu thập và tích lũy các nguồn tài liệu phù hợp với bậc học; là động lực thúc đẩy GV, HS tích cực đổi mới phương pháp dạy – học trong nhà trường. Để thu hút bạn đọc đến TV, TV cần phải tuyển chọn, bổ sung sách, báo, những tài liệu phù hợp chương trình giảng dạy một cách thường xuyên.
Như vậy, nhiệm vụ cơ bản của thư viện trường học là đảm bảo việc thỏa mãn những yêu cầu về sách báo, tạp chí phục vụ cho giảng dạy và học tập, phù hợp với nội dung chương trình dạy và học của GV và HS, đáp ứng được yêu cầu giáo dục toàn diện của nhà trường.
1.3.2. Mục tiêu hoạt động thư viện trường trung học cơ sở
Hoạt động của thư viện trường học phải kích thích sự tò mò, khuyến khích đổi mới và nâng cao khả năng giải quyết vấn đề cho độc giả. Thư viện không thể thiếu cho đời sống văn hóa và xã hội của nhà trường. Thư viện trường học là điểm trung tâm cho tất cả các loại đọc, hoạt động văn hóa, tiếp cận thông tin, xây dựng kiến thức, tư duy sâu và thảo luận sôi nổi phù hợp với sự thay đổi và phát triển không ngừng trong xã hội hiện nay. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Theo Quyết định số 10/2014/QĐ-BVHTT ngày 04 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin về phê duyệt quy hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam đến năm 2017 và định hướng đến năm 2030, mục tiêu phát triển chủ yếu của thư viện trường phổ thông là:
- Xây dựng và phát triển TV trường học, tủ sách gắn với quy mô phát triển giáo dục ở từng trường, từng cấp học, từng địa phương và từng khu vực.
- Thư viện trường học phải thực sự trở thành nguồn lực trung tâm của trường học.
- Thư viện trường học phải đảm bảo thông tin tài liệu cho chương trình học tập, giúp mở rộng kiến thức mọi mặt của các em, hình thành ở các em tính độc lập trong việc đọc, việc học; biết cách thu nhận, phân tích thông tin để hình thành kiến thức mới. Học ở lớp sẽ được củng cố bằng việc đọc (học) ở thư viện trường học.
- Từng bước đổi mới kho sách, căn cứ vào bản quy định các loại sách thiết yếu trang bị cho thư viện do Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành, trong đó ưu tiên sách bồi dưỡng nghiệp vụ cho GV và các sách tham khảo do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản và phát hành theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục – Đào tạo. Củng cố tủ sách giáo khoa để đáp ứng yêu cầu thuê, mượn của GV và HS.
- Từng bước hiện đại hóa, tin học hóa thư viện trường học; trước hết tin học hóa thư viện ở thư viện các trường phổ thông trung học; giáo dục kiến thức tin học cho các em.
- Đảm bảo đội ngũ CBTV tin học đủ về số lượng biên chế đã quy định (phấn đấu mỗi thư viện trường học có 1 cán bộ chuyên trách), có trình độ chuyên môn, nắm vững nghiệp vụ thư viện, biết ứng dụng sáng tạo và hoạt động thư viện trong trường học; thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ hợp lý đối với CBTV trường học.
Theo tuyên ngôn của Hiệp hội Thư viện Quốc tế (IFLA) (2015): “thư viện trường học cung cấp thông tin và ý tưởng là nền tảng để hoạt động thành công trong xã hội dựa trên tri thức và thông tin ngày nay. Thư viện trường học trang bị cho sinh viên các kỹ năng học tập suốt đời và phát triển trí tưởng tượng, giúp họ sống như những công dân có trách nhiệm”.
Các tác giả Valenza & Johnston (2016) đã phát biểu: “Chúng tôi hy vọng rằng các thư viện sẽ luôn luôn tồn tại như những nơi để người học tìm kiếm thông tin, tài nguyên, dịch vụ và hướng dẫn. Nhưng định dạng, công nghệ, nhu cầu học tập và trường học của chúng tôi đang phát triển. Và chính bản thân chúng cũng vậy. Thay đổi – và sự thay đổi này sẽ chỉ tiếp tục”.
Thư viện hỗ trợ tích cực cho HS và GV sử dụng các nguồn tài liệu của TV, làm thay đổi cách học tập và giảng dạy trong nhà trường. Ngoài ra, TV còn là kho tàng truyện kể dành cho HS giải trí trong những lúc rảnh rỗi, giúp HS phát triển tư duy, rèn luyện các kỹ năng đọc, viết nhất là khi trong các thư viện trường học hiện nay các truyện tranh, tài liệu tham khảo được viết bằng hai ngôn ngữ rất nhiều. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Thư viện trường học là nơi để học và suy nghĩ. Nó đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và phát triển đọc viết và hưởng thụ đọc sách. Tác giả Joy Cowley đã phát biểu: “Một nơi tôn nghiêm, một kho báu, một ngôi nhà của bản đồ để bí mật cuộc sống trong thế giới bí mật … – thư viện đã trở thành ngôi nhà khác của tôi”.
Thực hiện Chỉ thị số 40/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2015 -2020. Mỗi nhà trường phải là một môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng yêu cầu xã hội để giáo dục thế hệ trẻ thành những con người phát triển toàn diện. Vì thế, vị thế của các TV ngày càng được nâng cao. Cùng với phong trào xây dựng trường học thiện, các trường THCS rất quan tâm và tập trung xây dựng thư viện thân thiện. Thư viện trường học thân thiện được hiểu với nghĩa mở về các hình thức tổ chức phong phú và đa dạng để đáp ứng các hoàn cảnh, đáp ứng yếu tố vùng miền, điều kiện cơ sở vật chất khác nhau. Thư viện với các tài liệu học tập và môi trường học tập thân thiện hướng tới mục tiêu đảm bảo sự phát triển toàn diện của HS. Thư viện trường học thân thiện là một không gian học tập mở với các đặc điểm:
- Tạo điều kiện, cơ hội cho HS tiếp cận thông tin, xây dựng thói quen đọc sách cho các em;
- Khuyến khích các em tích cực tham gia các hoạt động của thư viện;
- Đến với bạn đọc thư viện một cách linh hoạt, hiệu quả;
- Hỗ trợ cho việc đổi mới phương pháp dạy và học tích cực;
- Phát triển mối quan hệ thân ái, cởi mở, tích cực giữa CBTV và HS, GV và HS, HS và HS, GV và GV, CBTV và GV;
- Tăng cường sự tham gia xây dựng thư viện của các cấp lãnh đạo, GV, cha mẹ HS và thành viên cộng đồng.
Thư viện trường học thân thiện theo hướng tiếp cận mô hình trường học thân thiện lấy quyền trẻ em là nền tảng cho mọi hoạt động. Cụ thể:
- Thư viện trường học thân thiện góp phần đáp ứng quyền tiếp cận thông tin bổ ích của các em trong nhà trường nhằm đảm bảo các em được hưởng một nền giáo dục phù hợp (Điều 17, điều 28, điều 29, điều 31 – Quyền trẻ em)
- Góp phần thực hiện quyền tham gia của trẻ em trong các hoạt động trong thư viện (Điều 12, điều 13, điều 14 – Quyền trẻ em)
- Đảm bảo quyền phát triển với môi truờng học tập tích cực, tạo điều kiện cho các em có cơ hội khám phá mọi tiềm năng của mình. (Điều 20, điều 23, điều 27 – Quyền trẻ em). (Liên Hợp Quốc, 1989)
1.3.3. Nội dung hoạt động thư viện trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Theo Điều 12, chương IV – Quy định về tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông (Ban hành kèm theo Quyết định số 01/2010/QĐ-BGDĐT ngày 02/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã quy định rõ:
- Thư viện nhà trường phải có nội dung hoạt động phù hợp với giáo dục toàn diện, với công việc của GV và tâm lý của lứa tuổi HS. Thư viện cần phục vụ tốt các hoạt động ngoại khóa của nhà trường và tổ chức những hình thức hoạt động phù hợp với điều kiện của từng trường như: giới thiệu sách, điểm sách, thông báo sách mới nhập, triển lãm trưng bày sách mới, tranh ảnh…, phối hợp với các bộ phận liên quan để tổ chức thi kể chuyện theo sách, thi nghiệp vụ thư viện, vận động HS làm theo sách dưới sự chỉ đạo của Hiệu trưởng nhà trường và các cấp QLGD.
- Cho thuê, mượn sách giáo khoa theo đúng chế độ chính sách hiện hành của Nhà nước, của ngành, của địa phương và phù hợp với khả năng và nhu cầu của HS. Phối hợp với các đơn vị khác ngoài trường để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện dưới sự chỉ đạo của Hiệu trưởng nhà trường. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010)
Như vậy theo quy định nêu trên người CBTV phải thực hiện các hoạt động song song: vừa hoạt động nghiệp vụ và vừa hoạt động phục vụ bạn đọc.
- Hoạt động nghiệp vụ thư viện
Trong công tác thư viện, hoạt động nghiệp vụ là khâu quan trọng đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của thư viện. Thư viện các trường THCS luôn quan tâm đến chất lượng vốn tài liệu, lựa chọn bổ sung những loại tài liệu có giá trị nội dung cao, phù hợp với quy mô và đối tượng người sử dụng. Các hoạt động nghiệp vụ thư viện bao gồm:
Bổ sung vốn tài liệu: Bổ sung vốn tài liệu là quá trình sưu tầm, nghiên cứu và lựa chọn những tài liệu có nội dung tư tưởng tốt, có giá trị khoa học, thực tiễn, nghệ thuật cao để đáp ứng các nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của người sử dụng.
Xây dựng vốn tài liệu là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của thư viện vì tài liệu là cơ sở vật chất đảm bảo mọi hoạt động nghiệp vụ của thư viện. Các phương pháp xây dựng, bổ sung vốn tài liệu phải có cơ sở khoa học để đảm bảo cho thư viện trường học thực hiện tốt nhiệm vụ, thỏa mãn các yêu cầu về tài liệu phục vụ cho giảng dạy và học tập, phù hợp nội dung chương trình và trình độ GV, HS, đáp ứng được yêu cầu giáo dục toàn diện của nhà trường. Mặt khác, tài liệu là cơ sở vật chất, là tài sản quý giá của thư viện và là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng phục vụ, hiệu quả hoạt động của thư viện nên việc bổ sung vốn tài liệu, thực hiện thanh lọc tài liệu thường xuyên đóng vai trò hết sức quan trọng.
Xử lý tài liệu: Tài liệu bổ sung vào TV được xử lý theo quy tắc, quy trình của nghiệp vụ thư viện để phục vụ cho việc quản lý, tra cứu và sử dụng. Việc xử lý tài liệu bao gồm: Xử lý kỹ thuật (đăng ký tài liệu vào sổ tài sản của TV; đóng dấu; tạo lập ký hiệu xếp giá; dán nhãn, chỉ từ, mã vạch, nhận dạng tần số, hoặc một số dạng thức khác); xử lý hình thức (biên mục mô tả tài liệu); xử lý nội dung (định chỉ số phân loại; định chủ đề, từ khoá; chú giải; tóm tắt nội dung tài liệu).
Các quá trình trong chu trình trên đều có liên quan với nhau. Kết quả của quá trình trước là cơ sở để tiến hành các quá trình sau và các quá trình sau kế thừa các kết quả của quá trình trước nó. Mối quan hệ này tạo nên sự thống nhất, liên hoàn nhằm đạt mục tiêu là xử lý các tài liệu và phục vụ bạn đọc một cách hiệu quả nhất. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Tổ chức bộ máy tra cứu: Bộ máy tra cứu của thư viện giúp bạn đọc tra cứu, tìm thông tin, tài liệu có ở trong hoặc ngoài thư viện. Bộ máy tra cứu bao gồm: hệ thống tra cứu mục lục truyền thống; hệ thống tra cứu điện tử; kho tài liệu tra cứu. Bộ máy tra cứu phải được tổ chức khoa học, chính xác, thống nhất, phản ánh đầy đủ các tài liệu có trong thư viện, cập nhật kịp thời các tài liệu mới bổ sung vào thư viện; tiếp cận được với nguồn thông tin, tài liệu bên ngoài thư viện; đồng thời dễ tra cứu đối với người sử dụng.
Muốn thư viện trường học hoạt động có hiệu quả, người CBTV không chỉ thực hiện tốt các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ của thư viện mà còn phải am hiểu và làm tốt công tác quản lý thư viện. Trong quá trình quản lý hoạt động thư viện của mình, người CBTV phải lập kế hoạch công tác – đây là nhiệm vụ quan trọng vì khi lập kế hoạch, người CBTV mới liệt kê đầy đủ các công việc cần làm trong một khoảng thời gian nhất định. Đồng thời, việc xây dựng kế hoạch công tác giúp cho CBTV chủ động hơn trong việc tổ chức các hoạt động, từ đó nâng cao hiệu suất làm việc, phát huy được vai trò của thư viện.
- Hoạt động phục vụ bạn đọc
Phục vụ bạn đọc là công tác quan trọng nhất của thư viện, là thước đo hiệu quả hoạt động của thư viện. Thông qua công tác phục vụ bạn đọc, thư viện mới phát huy được tác dụng của mình. Thông qua công tác phục vụ bạn đọc vốn tài liệu của thư viện được khai thác, sử dụng và cũng thông qua công tác phục vụ bạn đọc, CBTV có thể tìm hiểu và nắm bắt được nhu cầu đọc, nhu cầu tìm hiểu thông tin của bạn đọc và đây là cơ sở của các hoạt động khác trong thư viện.
Để công tác phục vụ bạn đọc trong các trường học có hiệu quả, phục vụ tốt cho việc dạy và học, thư viện phải thường xuyên đổi mới các hoạt động của mình để thu hút bạn đọc là GV và HS cũng như sự quan tâm của Hội đồng Giáo dục và các thành viên khác trong nhà trường. Thư viện là nơi chứa đựng một phần tri thức của nhân loại và CBTV phải là người trực tiếp khai thác và đưa kho tàng tri thức đó đến với GV, HS để hỗ trợ đắc lực cho phong trào thi đua hai tốt trong nhà trường.
Để làm được yêu cầu đó, CBTV phải tạo nhịp cầu đưa người đọc đến với sách, tiếp cận với sách, để họ tự khám phá ra những lĩnh vực mới, tri thức mới phục vụ cho quá trình học tập, rèn luyện của mình. Cần có biện pháp tháo gỡ và khắc phục để tìm ra những phương cách hoạt động tốt, đem lại hiệu quả trong phục vụ GV và HS. Bằng những việc làm thiết thực và cụ thể để thu hút HS đến với mình, ngoài việc thư viện thường xuyên bổ sung vốn tài liệu, thư viện cần tổ chức nhiều hình thức hoạt động khác nhau như: tuyên truyền, giới thiệu sách (tuyên truyền trực quan, tuyên truyền miệng), thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thi kể chuyện theo sách, …
Như đã đề cập, công tác phục vụ bạn đọc là khâu trọng yếu của công tác thư viện, là chiếc cầu nối giữa kho sách đến với bạn đọc. Đây cũng là một hoạt động thường xuyên của thư viện nhằm thúc đẩy, phát triển và thỏa mãn nhu cầu, hứng thú đọc tài liệu thông qua việc tuyên truyền, hướng dẫn và cung cấp tài liệu dưới nhiều hình thức. Với ý nghĩa đó “Công tác phục vụ bạn đọc luôn được coi là công tác quan trọng nhất của thư viện. Bởi vì, thông qua công tác này vốn tài liệu quý giá của thư viện mới được sử dụng có hiệu quả, mới phát huy được tác dụng trong phát triển mọi mặt của đất nước, từ đó vị trí, vai trò xã hội của thư viện mới được khẳng định” (Phạm Thế Khang, 2010, p. 12). Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
1.3.4. Hình thức tổ chức hoạt động thư viện trường trung học cơ sở
- Hình thức phục vụ bạn đọc trong thư viện
Hình thức phục vụ bạn đọc trong thư viện là phòng mượn và phòng đọc:
- Phòng mượn là trung tâm hoạt động của tất cả các loại hình thư viện.
Nhiệm vụ của cán bộ thư viện phòng mượn là:
- Nhận đăng ký bạn đọc mới vào thư viện, nhận sách bạn đọc trả, ghi phiếu cho độc giả mượn sách.
- Tọa đàm với độc giả về những cuốn sách đã đọc và giới thiệu sách mới.
- Cung cấp sách theo phiếu yêu cầu.
Phòng đọc: phục vụ bạn đọc trong phòng đọc có đặc điểm riêng của nó. Độc giả không chỉ có quyền sử dụng kho sách của phòng đọc mà còn sử dụng tất cả các loại sách trong kho sách của TV. Phòng đọc áp dụng kho mở tự chọn, do đó độc giả phải làm quen với hệ thống sắp xếp kho sách. Điều đó có thể đạt được bằng phương pháp xây dựng sơ đồ sắp xếp kho, hướng dẫn cho độc giả sử dụng kho sách mở tự chọn tài liệu trong kho. Với hình thức phục vụ bằng kho mở, bạn đọc có thể xem xét một cách tỉ mỉ về nội dung, chủ đề của tài liệu và lựa chọn ra những tài liệu phù hợp với yêu cầu. Kho tài liệu được tổ chức sắp xếp theo một trật tự nhất định và khoa học. Hình thức phục vụ này phát huy tính độc lập, tự chủ thông qua việc để bạn đọc được tiếp xúc trực tiếp với nguồn tài liệu của TV; Giảm đáng kể thời gian phải chờ đợi tài liệu qua các khâu trung gian (như tra tìm trên hệ thống mục lục, viết phiếu yêu cầu, chờ cán bộ thư viện đi lấy sách từ trong kho ra v.v…); Tiết kiệm được biên chế và công lao động.
- Hình thức phục vụ bạn đọc ngoài thư viện (thư viện lưu động)
Mục đích của việc phục vụ bạn đọc ngoài thư viện là phát huy cao nhất tác dụng của sách báo đối với chất lượng giáo dục của nhà trường, tạo điều kiện cho mỗi HS đều có cơ hội tốt nhất tiếp cận sách của thư viện trong điều kiện cơ sở vật chất còn khó khăn, đồng thời động viên, khơi dậy phong trào đọc sách trong GV, HS, tận dụng vòng quay của sách. Các hình thức phục vụ ngoài thư viện như: Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Thư viện chuyền tay: Thực hiện công việc này CBTV chuyển sách đến HS từng lớp, các em đều được đọc. Lớp này xong thì chuyển sang lớp khác.
Thư viện di động: Thư viện di động dưới hình thức là tủ sách 2 mặt có bánh xe, di chuyển từ nơi này đến nơi khác trên sân trường. Thực tế ý tưởng này nhằm đáp ứng khả năng tiếp cận TV công bằng giữa các HS.
- Hình thức phục vụ bạn đọc thông qua thư viện điện tử
Thư viện điện tử là việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào trong hoạt động thư viện. Việc ứng dụng CNTT sẽ giúp CBTV và bạn đọc tìm thông tin, xử lý tài liệu, … hiệu quả hơn, và chỉ có ứng dụng CNTT thư viện mới có thể bảo quản tài liệu nhanh gọn đồng thời việc giới thiệu, phổ biến rộng rãi các nguồn tài liệu sẽ được thực hiện một cách hiệu quả nhất.
Ngày nay, khi internet ngày càng phát triển thì việc tiếp cận thông tin càng trở nên dễ dàng. Chỉ cần click chuột là có thể tìm được thông tin mình cần một cách nhanh chóng. Và lẽ dĩ nhiên nhiều người sẽ chọn cách này hơn là đến TV, làm thẻ, tra cứu sách, … Đây là một trong những nguyên nhân HS ngày càng thờ ơ với TV, không thích cách đọc sách báo, tìm kiếm thông tin theo cách truyền thống mà khi muốn truy cập thông tin cần thiết, HS chỉ việc tra cứu thông qua mạng internet.
Mặc dù hiện nay nhiều nơi đã đầu tư cho thư viện trường học về máy tính có kết nối mạng, nhưng có trường cũng không đầu tư sâu cho thư viện của mình. Nhất là các nhà trường ở vùng nông thôn, vùng khó khăn. Trong thời gian tới, các thư viện cần dự trù kế hoạch trang bị máy tính có kết nối mạng để cùng nhau chia sẻ dữ liệu giữa các thư viện và cơ quan thông tin khác thông qua mạng Internet.
1.4. Lý luận về quản lý hoạt động thư viện trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
1.4.1. Tầm quan trọng của quản lý hoạt động thư viện trường trung học cơ sở
Hoạt động của thư viện trường học giúp mọi thành viên trong nhà trường đạt được kiến thức, kỹ năng có ích cho việc học và phát triển các kỹ năng cần thiết của mỗi cá nhân mà họ sẽ sử dụng trong suốt cuộc đời. Đối với HS, được trang bị kiến thức ở trường là cần nhưng chưa đủ, việc học và làm các bài tập ở nhà là đủ nhưng chưa sâu. Muốn cho kiến thức sâu thì các em HS cần tìm đến thư viện trường học để được trang bị, mở rộng sự hiểu biết nhiều hơn. Có thể ví TV trường học như cánh tay phải của nền giáo dục, khi cánh tay ấy yếu thì làm mọi việc đều trở nên khó khăn. Chính vì thế, quản lý hoạt động thư viện có hiệu quả là một vấn đề rất quan trọng trong việc nâng cao sự hiểu biết, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
Thư viện góp phần rất lớn vào việc phát triển tri thức của con người. Thư viện có một tầm quan trọng được xác nhận trong đời sống xã hội. Con người muốn có sự hiểu biết sâu rộng thì phải không ngừng học tập nâng cao trình độ. Trong đó việc học, việc tìm hiểu thông tin, kiến thức thông qua sách báo là một yếu tố gia tăng trình độ tri thức cho mỗi con người. Thư viện trường học là một phần không thể thiếu trong quá trình giáo dục. Quản lý tốt hoạt động thư viện trường học sẽ:
- Hỗ trợ và nâng cao các mục tiêu giáo dục của nhà trường;
- Phát triển và duy trì ở trẻ em thói quen và thích thú đọc và học, và sử dụng thư viện trong suốt cuộc đời của chúng;
- Hỗ trợ tất cả HS trong việc học và thực hành các kỹ năng đánh giá và sử dụng thông tin, bất kể hình thức, định dạng hoặc phương tiện, bao gồm độ nhạy cảm với các phương thức giao tiếp trong cộng đồng;
- Cung cấp quyền truy cập vào các tài nguyên và cơ hội của địa phương, khu vực, quốc gia và toàn cầu, giúp người học tiếp cận với các ý tưởng, kinh nghiệm và ý kiến khác nhau.
Các yếu tố hình thành một thư viện gồm có vốn tài liệu, cán bộ thư viện, bạn đọc và cơ sở vật chất kỹ thuật. Các yếu tố này tác động lẫn nhau, hỗ trợ nhau để có thể tổ chức các HĐTV phục vụ bạn đọc tốt nhất. Có thể nói vai trò của công tác quản lý đối với một thư viện quyết định phần lớn chất lượng hoạt động của thư viện đó. Quản lý tốt HĐTV sẽ phát huy được các yếu tố vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật và phát huy tinh thần làm việc cũng như năng lực của người CBTV nhằm đạt hiệu quả cao các mục tiêu mà hoạt động thư viện đề ra. Quản lý thư viện trường phổ thông đóng vai trò quan trọng, định hướng cho thư viện phát triển theo chiều sâu để góp phần tích cực vào đổi mới toàn diện giáo dục trong nhà trường.
1.4.2. Chức năng quản lý hoạt động thư viện trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Lập kế hoạch hoạt động thư viện
Lập kế hoạch hoạt động thư viện là việc rất quan trọng quyết định sự thành công của thư viện. Người hiệu trưởng cần quan tâm đến việc xây dựng kế hoạch cho công tác thư viện trường học một cách thường xuyên, xác định mục tiêu, nhận diện các nguồn lực tham gia để đạt được mục tiêu đó. Phải tạo sự tham gia và phối hợp chặt chẽ giữa CBTV với đội ngũ GV chủ nhiệm, GV bộ môn, với hoạt động của tổ nhóm chuyên môn trong các hoạt động thư viện. Kế hoạch được lập ra càng cụ thể thì hiệu quả đạt được càng cao. Khi xây dựng kế hoạch cần hướng tới mục tiêu cụ thể và tình hình thực tế của đơn vị. Căn cứ kế hoạch, CBTV chủ động triển khai cụ thể công việc theo từng tuần, tháng, học kỳ và phải tiến hành tổ chức theo từng thời điểm thích hợp với những yêu cầu giáo dục cụ thể của nhà trường. Có thể tổ chức theo chủ đề của tháng hoặc theo chủ đề mà các bộ môn cần triển khai… Cần có kế hoạch lâu dài cho nhiều năm tiếp theo, bên cạnh đó cần cập nhật sự phát triển của xã hội và học hỏi kinh nghiệm của các nước đang phát triển. Đối với các trường THCS, kế hoạch cần chú ý xây dựng thói quen đọc và nghiên cứu sách, xây dựng văn hóa đọc trong nhà trường, tổ chức nhiều hoạt động cho HS tham gia, đầu tư cơ sở vật chất – kỹ thuật, tăng cường bổ sung đầu sách hằng năm để thư viện thật sự là “trái tim của nhà trường”.
- Tổ chức, chỉ đạo hoạt động thư viện
Người hiệu trưởng cần tổ chức, chỉ đạo các hoạt động tăng cường bổ sung nguồn lực sách báo, thiết bị thư viện như: bổ sung thường xuyên các loại sách tham khảo, báo và tạp chí chuyên ngành cho GV và HS qua nhiều hình thức: mua thêm (kinh phí theo quy định của nhà nước); tổ chức các hình thức quyên góp trong GV và HS; cần duy trì việc xây dựng tủ sách dùng chung đối với những nơi còn khó khăn; nơi có điều kiện thuận lợi có thể khai thác các nguồn xã hội hóa (XHH). Bên cạnh đó, đẩy mạnh việc khai thác nguồn kinh phí để xây dựng CSVC tối thiểu cho công tác TV như kho sách, phòng đọc và các trang thiết bị khác, những nơi có điều kiện có thể trang bị các phương tiện CNTT… Trong đó, cần chú ý vai trò của CBQL, vấn đề kế hoạch hóa, kiểm tra giám sát và đánh giá thi đua của ngành.
- Hiện nay, trong các trường THCS, việc khai thác sách, báo và tạp chí đang hoạt động rất đa dạng và phong phú như:
Thường xuyên tổ chức hoạt động đọc sách cho GV và HS tại phòng đọc (nếu có) hoặc cho mượn về nhà. Hoạt động này vừa đáp ứng yêu cầu, sở thích của GV, HS lại vừa tạo nên môi trường tiếp xúc, làm việc với sách nghiên cứu sâu rộng trong nhà trường. Đây là cơ sở nền tảng hình thành thói quen đọc sách trong HS, xây dựng văn hóa đọc trong nhà trường, đây cũng là dấu ấn rất đặc trưng của nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Tổ chức hoạt động kể chuyện theo sách. Đây là hoạt động có ý nghĩa tuyên truyền, giáo dục rất sâu sắc bởi nội dung được chọn kể thường tập trung vào các chủ đề, chủ điểm trong năm học. Nếu tổ chức tốt và thường xuyên, hoạt động này sẽ có ý nghĩa giáo dục rất hiệu quả. Ngoài ra, thường xuyên tổ chức hoạt động tuyên truyền, giới thiệu sách (thông qua ngày họp hội đồng sư phạm, thông qua sinh hoạt dưới cờ) gồm việc giới thiệu, phân tích, bình luận những cuốn sách hay, bổ ích, có giá trị cả về nội dung và hình thức. Đây là hoạt động ngoại khóa bổ trợ tích cực cho chương trình chính khóa. Thực tế có những cuốn sách cần thiết yêu cầu HS tìm đọc để mở rộng, củng cố kiến thức, nếu được GV giới thiệu chu đáo, định hướng rõ ràng và khuyến khích tìm đọc, HS sẽ tìm và đọc với hiệu quả cao hơn hẳn. Nếu kết hợp chặt chẽ với các tổ chuyên môn, với các tổ chức Đoàn, Đội trong nhà trường và có sự tham gia của GV, của HS giỏi, hoạt động trên sẽ có chất lượng và hiệu quả tốt.
Đối với đội ngũ GV, việc được giới thiệu và cung cấp sách, báo, tạp chí tham khảo thường xuyên là con đường rất phù hợp giúp GV tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ. Chẳng hạn, hiện nay trong quá trình đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp dạy học, nếu thư viện nhà trường cập nhật kịp thời và đầy đủ các loại báo ngành, tạp chí chuyên ngành hay các ấn phẩm giới thiệu về các quan điểm đổi mới chương trình, sách giáo khoa và định hướng đổi mới phương pháp dạy học cũng như những kinh nghiệm thực tế của các nhà trường, các địa phương thì đó sẽ là nguồn trợ lực rất hữu ích với đội ngũ GV trước sự thay đổi lớn này.
- Kiểm tra, đánh giá hoạt động thư viện
Là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho hoạt động thư viện đạt tới mục tiêu theo kế hoạch đã đề ra. Kiểm tra hoạt động thư viện là một nội dung quan trọng trong đánh giá để công nhận trường đạt chuẩn quốc gia (theo tiêu chuẩn thư viện trường học của Bộ GDĐT ban hành) và danh hiệu thi đua hàng năm. Việc kiểm tra phải được tiến hành tường xuyên, liên tục để có sự điều chỉnh kịp thời các nội dung và hình thức tổ chức HĐTV sao cho hiệu quả nhất. Đi liền với đánh giá thi đua là kịp thời khen thưởng, khuyến khích bằng vật chất và tinh thần cho những cá nhân và tập thể GV, HS tham gia các hoạt động thư viện trường học với chất lượng tốt. Việc huy động mọi nguồn lực để tăng cường, tạo điều kiện cho công tác TV trường học hoạt động là vấn đề cần được quan tâm trong công tác quản lý hoạt động thư viện trường học của người hiệu trưởng. Ở cấp vĩ mô, cần tăng cường quản lý nhà nước trong công tác kế hoạch hóa nguồn sách báo cung cấp cho thư viện trường học; thường xuyên tổ chức các cuộc thi GV thư viện giỏi để tạo điều kiện nâng tay nghề cho đội ngũ CBTV; cải tiến các chế độ chính sách về công tác thư viện hoặc về chuẩn thư viện trường học cho phù hợp với tình hình mới…
1.4.3. Nội dung quản lý hoạt động thư viện trường trung học cơ sở
- Quản lý mục tiêu hoạt động thư viện Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Thư viện góp phần rất lớn vào việc phát triển tri thức của con người. Để quản lý mục tiêu hoạt động thư viện, đồng hành cùng chủ đề mà Bộ GDĐT đã chọn là “Chung tay xây dựng thư viện, cùng nhau đọc nhiều sách hay”. Người hiệu trưởng cần phải thực hiện các công việc:
- Phân tích thực trạng HĐTV nhà trường để thấy được điểm mạnh cần phát huy, điểm yếu cần khắc phục, cũng như những cơ hội, thách thức của thư viện nhà trường để từ đó xây dựng kế hoạch hoạt động với mục tiêu phù hợp.
- Xác định mục tiêu hoạt động thư viện trường học là góp phần tạo ra môi trường học tập tích cực cho HS, nâng cao dần văn hóa đọc trong GV và HS góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
- Tổ chức, chỉ đạo GV và HS thường xuyên đọc nhiều sách hay, hướng tới đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo, chuyển từ trang bị kiến thức kĩ năng cho người học sang phát triển phẩm chất và năng lực người học, coi trọng việc dạy cách học, dạy cách tự học thông qua việc đọc sách.
- Chỉ đạo, động viên văn hóa đọc trong nhà trường. Hướng đến xã hội học tập thường xuyên và học tập suốt đời. (Sở GDĐT Bình Dương, 2024)
- Chỉ đạo CBTV bảo quản, tìm, xử lý và phổ biến thông tin, cung cấp thông tin cho độc giả. (Hiện nay thư viện có thể truy cập, kết nối với các mạng thông tin khác nên chúng có thể cung cấp nhanh và đầy đủ nhất những thông tin chính xác, có chất lượng cao đến độc giả).
- Tổ chức, chỉ đạo CBTV xây dựng thư viện thân thiện và lôi cuốn mọi người tham gia vào các hoạt động sáng tạo.
- Chỉ đạo CBTV cung cấp sách và các phương tiện cho bạn đọc giải trí trong thời gian nhàn rỗi. Trang bị các phương tiện nghe nhìn, các tài liệu đa phương tiện để phục vụ độc giả.
Như vậy, quản lý mục tiêu HĐTV ở trường THCS là quản lý để đạt mục tiêu kép: Vừa nâng cao được chất lượng giáo dục trong nhà trường, vừa xây dựng văn hóa đọc hướng đến xây dựng xã hội học tập thường xuyên và học tập suốt đời.
- Quản lý cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện
Cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật (TBKT) thư viện là một trong 4 yếu tố cấu thành thư viện. Việc quản lý CSVC – TBKT của thư viện là tổ chức, chỉ đạo thực hiện quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, trách nhiệm, quyền hạn và các nguồn lực cho CBTV để đạt được mục tiêu quản lý sử dụng CSVC – TBKT của thư viện một cách có hiệu quả nhất. Để quản lý CSVC – TBKT của thư viện trong trường THCS một cách có hiệu quả, người hiệu trưởng nhà trường cần phải:
- Có kế hoạch xây dựng, mua sắm, sửa chữa cơ sở vật chất – thiết bị của thư viện (phòng đọc và cho mượn; kho sách; trang thiết bị chuyên dùng) Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Xây dựng các qui định, các quy trình QL, sử dụng và bảo quản CSVC của thư viện;
- Tập huấn việc sử dụng các trang thiết bị trong thư viện;
- Tổ chức việc phân công người thực hiện các kế hoạch về cơ sở vật chất;
- Quy định sổ sách, báo cáo định kỳ, thường xuyên về tình trạng thư viện.
- Tổ chức bảo quản, lưu giữ, hồ sơ thư viện khoa học, hợp lí.
- Tiến hành kiểm kê thường xuyên, định kỳ.
Quản lý cán bộ thư viện
Cán bộ thư viện là linh hồn của thư viện, là người có trình độ chuyên môn chịu trách nhiệm lập kế hoạch và quản lý thư viện của trường, làm việc cùng với tất cả các thành viên của cộng đồng nhà trường.
Vì CBTV có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động thư viện, là người quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động của thư viện nên việc quản lý CBTV là rất quan trọng. Con người chính là “cái gốc” của mọi vấn đề, mọi đối tượng để thực hiện đạt các mục tiêu quản lý đề ra. Nếu người quản lý tổ chức và quản lý tốt CBTV thì thư viện sẽ hoạt động tốt, mang lại hiệu quả cao và ngược lại. Để quản lý tốt CBTV, người quản lý không chỉ dựa vào các qui định của pháp luật mà đòi hỏi người quản lý còn phải có nghệ thuật quản lý, có khả năng sư phạm, am hiểu tâm lý nhân viên để có những quyết định đúng đắn, hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất. Một số nội dung cần quan tâm khi quản lý CBTV:
- Lựa chọn, sắp xếp, bố trí cán bộ vào các vị trí cho phù hợp với năng lực và trình độ chuyên môn;
- Tổ chức tốt môi trường và điều kiện làm việc;
- Phân công lao động hợp lý, làm tốt công tác điều chuyển cán bộ cũng như thực hiện chế độ đãi ngộ để cán bộ “tận tâm, tận lực” với công việc được giao;
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho cán bộ thư viện thi CBTV giỏi;
Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ và tin học nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục như hiện nay.
- Quản lý vốn tài liệu
Theo khoản 3, Điều 2, Pháp lệnh thư viện: “Vốn tài liệu thư viện là những tài liệu được sưu tầm, tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định, được xử lý theo quy tắc, quy trình khoa học của nghiệp vụ thư viện để tổ chức phục vụ người đọc đạt hiệu quả cao và được bảo quản”. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Vì vậy, quản lý vốn tài liệu và quá trình thực hiện kế hoạch xây dựng vốn tài liệu; bổ sung vốn tài liệu một cách đầy đủ, đúng quy định; xử lý tài liệu; tổ chức tài liệu phục vụ kịp thời, tiện lợi và bảo quản tài liệu lâu dài. Quản lý tốt vốn tài liệu là điều kiện cơ bản giúp cho hoạt động dạy – học và nghiên cứu được thuận lợi và đạt hiệu quả cao. Không có tài liệu, hoạt động dạy – học và nghiên cứu sẽ gặp nhiều khó khăn nhưng nếu có tài liệu mà không bảo quản tốt, sử dụng không có hiệu quả thì vai trò của vốn tài liệu cũng không được phát huy. Do vậy, công tác quản lý vốn tài liệu với hoạt động dạy – học và nghiên cứu có mối quan hệ mật thiết với nhau, là điều kiện, động lực để thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục. Trong quá trình quản lý vốn tài liệu người hiệu trưởng nhà trường cần lưu ý:
- Có kế hoạch bổ sung vốn tài liệu đảm bảo các nguyên tắc bổ sung vốn tài liệu. Cụ thể phải đảm bảo nguyên tắc tính Đảng; nguyên tắc bổ sung phải phù hợp với những đặc điểm, tính chất và nhiệm vụ của từng thư viện; nguyên tắc bổ sung phải thường xuyên và có kế hoạch;
- Xây dựng vốn tài liệu nhằm tạo lập, tăng cường và nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin của thư viện đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của người sử dụng;
- Bổ sung vốn tài liệu chuyên ngành (vốn tài liệu được bổ sung phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quy mô, loại hình thư viện cấp THCS và nhu cầu của người sử dụng ở bậc THCS);
- Bổ sung vốn tài liệu dưới dạng tài liệu điện tử (bao gồm: báo, tạp chí điện tử, sách điện tử, tài liệu tham khảo dưới dạng trực tuyến hoặc đĩa (CD- ROM), tài liệu sáng kiến kinh nghiệm, đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng);
- Chỉ đạo việc bảo quản tài liệu để có thể sử dụng lâu dài, góp phần tiết kiệm ngân sách nhà nước;
- Tổ chức sử dụng vốn tài liệu thông qua hoạt động phục vụ bạn đọc.
Quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc
Quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc là cách thức tổ chức cung cấp tài liệu và các nguồn thông tin khác đến với bạn đọc một cách thuận lợi và hiệu quả nhất, đáp ứng yêu cầu bạn đọc. Đây là khâu quan trọng nhất, là thước đo hiệu quả hoạt động của thư viện. Tùy điều kiện, đặc điểm, vốn tài liệu của mỗi thư viện mà tổ chức cách phục vụ bạn đọc sao cho phù hợp và hiệu quả. Một số nội dung cần thực hiện khi quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc:
- Có kế hoạch công tác phục vụ bạn đọc;
- Tổ chức cấp thẻ bạn đọc, đổi thẻ bạn đọc;
- Tổ chức tài liệu khoa học, phục vụ bạn đọc nhanh chóng, dễ dàng, thuận tiện;
- Tổ chức thống kê số lượng vốn tài liệu (đầu sách/bản sách; đầu báo, tạp chí; số lượng tài liệu theo nội dung, dạng thức của tài liệu; số đầu tài liệu/cơ sở dữ liệu); Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Tổ chức thống kê số lượng bạn đọc, thống kê lượt bạn đọc;
- Tổ chức thống kê số lượng tài liệu cho mượn;
- Chỉ đạo CBTV hướng dẫn bạn đọc sử dụng có hiệu quả nguồn tài liệu;
- Chỉ đạo CBTV tổ chức các hoạt động: giới thiệu sách mới, thi kể chuyện theo sách, thu hút bạn đọc đến với thư viện, …;
- Chỉ đạo CBTV thực hiện công tác thống kê phân loại nhu cầu bạn đọc;
- Giải quyết các xung đột giữa CBTV với bạn đọc;
- Đánh giá hoạt động phục vụ bạn đọc.
Quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thư viện
Việc ứng dụng các thành tựu CNTT đã làm thay đổi căn bản nhiều quy trình nghiệp vụ, quy trình xử lý công việc trong HĐTV theo hướng tự động hóa. Khởi đầu của việc ứng dụng CNTT trong HĐTV là việc lưu trữ, tìm kiếm thông tin và tạo ra các sản phẩm thông tin thư mục. Tiếp theo là việc quản lý lưu thông tài liệu và dịch vụ phổ biến thông tin. Ngày nay người ta thường ứng dụng CNTT vào các công việc như: bổ sung, biên mục, đánh chỉ số, lập các bộ phiếu, tạo ra các sản phẩm thông tin, các hoạt động tìm và khai thác dữ liệu, các hoạt động kiểm tra và quản lý hành chính thông thường.
Việc ứng dụng CNTT vào HĐTV đã dẫn đến sự thay đổi quan trọng trong việc xử lý tài liệu cũng như việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thư viện. Để không bị tụt hậu, người CBTV phải là người có trình độ tin học, có khả năng ứng dụng CNTT vào công tác thư viện; làm chủ được những công nghệ mới, các phương tiện kỹ thuật hiện đại; có khả năng đánh giá, sử dụng các phần mềm thư viện; xây dựng, sử dụng và kiểm tra việc áp dụng tiêu chuẩn mô tả thư mục, sử dụng các thư mục tự động hóa; sử dụng thành thạo mạng máy tính để khai thác thông tin; sử dụng công nghệ mới để quản lý và chuyển giao dịch vụ thông tin, quản lý, bảo trì và khai thác các nguồn tài liệu điện tử; vận hành sáng tạo và cải tiến môi trường thông tin dựa trên nền tảng web; giải quyết tốt các vấn đề kinh tế và công nghệ trong hoạt động thông tin.
Để thực hiện được điều đó vai trò người QL thư viện sẽ phải thay đổi để QL công nghệ biến thông tin thành tri thức và công nghệ giúp độc giả hình thành tri thức – người QL thông tin trở thành người QL tri thức.
Quản lý việc ứng dụng CNTT vào hoạt động thư viện bao gồm:
- Cải tiến tổ chức kho tài liệu;
- Ứng dụng CNTT trong việc quản lý vốn tài liệu, quản lý bạn đọc;
- Ứng dụng CNTT vào công tác biên mục.
- Ứng dụng CNTT để QL, lưu thông tài liệu, tra cứu trực tuyến hiệu quả hơn;
- Ứng dụng phần mềm quản lý hoạt động thư viện;
- Nâng cấp phần mềm quản lý thư viện.
Kiểm tra hoạt động của thư viện Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Kiểm tra là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích cái tốt, phát hiện những sai phạm và điều chỉnh nhằm đạt tới những mục tiêu đã đặt ra và góp phần đưa toàn bộ hệ thống quản lý lên một trình độ cao hơn.
Trong quá trình tổ chức các hoạt động, nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp. Việc kiểm tra phải được tiến hành tường xuyên, liên tục để có sự điều chỉnh kịp thời các nội dung và hình thức tổ chức HĐTV sao cho hiệu quả nhất.
Công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động của thư viện bao gồm:
- Kiểm tra đánh giá CBQL thư viện dựa vào kế hoạch cá nhân, các loại hồ sơ, sổ sách;
- Kiểm tra kế hoạch công tác và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ;
- Kiểm tra việc bổ sung vốn tài liệu;
- Kiểm tra kinh phí phục vụ cho công tác thư viện;
- Kiểm tra phòng đọc, kho sách và các trang thiết bị, phương tiện phục vụ thư viện;
- Theo dõi, kiểm tra kế hoạch mua sắm, bảo quản tài liệu.
- Kiểm tra việc bố trí kho sách: tính khoa học, dễ tìm, dễ lấy;
- Kiểm tra việc thanh lọc tài liệu;
- Kiểm tra định kỳ, thường xuyên hồ sơ, việc bảo quản thư viện.
Hàng năm phải tiến hành kiểm kê định kỳ theo đúng qui định của Nhà nước và nhà trường về công tác quản lý tài sản. Việc điều chỉnh, thanh lý phải có hội đồng có thẩm quyền và tiến hành các thủ tục theo qui định. Việc đánh giá theo chuẩn thư viện và theo yêu cầu, nhiệm vụ của từng bộ phận, từng cá nhân để có kế hoạch tiếp theo.
1.4.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động thư viện trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Các yếu tố khách quan
- Chính sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước và của ngành
Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay, vấn đề đổi mới phương pháp dạy – học, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp ngành QLGD quan tâm. Tại Thông báo Kết luận số 242 – TB/TW, ngày 15/4/2016 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương pháp phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2030, Bộ chính trị đã đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp để đổi mới căn bản, toàn diện, mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo Việt Nam, trong đó có giải pháp “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều. Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên; gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống”.
Thực hiện các Nghị quyết số 29-NQ/TW, Nghị quyết số 44/NQ-CP về đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 88/2021/QH13 ngày 28/11/2021 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2023 của Bộ Chính trị “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; chú trọng giáo dục đạo đức lối sống, kỹ năng sống, ý thức trách nhiệm cho HS. Tích cực triển khai thực hiện tủ sách lớp học, phát động tuần lễ “Hưởng ứng học tập suốt đời” và phát triển văn hóa đọc gắn với xây dựng câu lạc bộ khoa học trong nhà trường theo chỉ đạo tại công văn số 1564/SGDĐT-GDTrHTX ngày 07/9/2024 của Sở GDĐT Bình Dương. Thực hiện Quyết định số: 329/QĐ-TTg ngày 15/3/2024 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2030, định hướng đến năm 2040.
- Điều kiện tài lực, vật lực thực tế của trường THCS
Trong những năm qua, được sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, Bộ GDĐT, hoạt động thư viện của các trường học đã có nhiều đổi mới và chuyển biến mạnh mẽ, phục vụ đắc lực cho việc đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục và đào tạo. Bên cạnh những thành quả đạt được, hệ thống thư viện của các trường THCS hiện nay còn gặp nhiều khó khăn như: nguồn lực thông tin vẫn chưa đáp ứng với nhu cầu ngày càng đa dạng của người sử dụng; CBTV chủ yếu là GV dạy lớp được phân công phụ trách công tác thư viện nên thiếu nghiệp vụ thư viện, thiếu kỹ năng quản lý công tác thư viện. Một số thư viện trường học hiện nay chưa đáp ứng được về CSVC, còn sử dụng phòng học để làm phòng thư viện.
Thực trạng nói trên đòi hỏi HĐTV ở các trường học, cần phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa các mặt hoạt động từ tư duy lãnh đạo quản lý đến chuyên môn nghiệp vụ, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đáp ứng yêu cầu phục vụ thông tin – tri thức, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
- Các yếu tố chủ quan
- Phẩm chất, năng lực của cán bộ quản lý (CBQL)
Cán bộ quản lý là người chịu trách nhiệm trước nhà trường về chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhà trường. Chất lượng và hiệu quả hoạt động cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào phẩm chất, trình độ tổ chức, năng lực triển khai thực hiện kế hoạch, chiến lược công tác thư viện.
Các phẩm chất của CBQL bao gồm: Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp. Năng lực của CBQL được biểu hiện trong kỹ năng quản lý như kỹ năng nhận thức, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng quản lý nhân sự.
Kỹ năng nhận thức thể hiện bằng việc nắm bắt chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục. Ngoài ra, nếu người CBQL nhận thức đúng đắn về vai trò và mục đích của thư viện trong hoạt động chung của nhà trường sẽ phối hợp các nguồn lực trong nhà trường cùng thực hiện kế hoạch hoạt động thư viện, thường xuyên kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch và hỗ trợ, tạo điều kiện cần thiết để thư viện hoạt động hiệu quả nhất như: Đầu tư về con người, về cơ sở vật chất, về lập kế hoạch hoạt động, tổ chức hoạt động.
Kỹ năng chuyên môn thể hiện trong việc thực hiện các chức năng quản lý như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra. Kỹ năng quản lý nhân sự giúp nhà quản lý sử dụng, sắp xếp, quản lý, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ phù hợp với từng vị trí công việc, phân công “đúng người, đúng việc”.
- Phẩm chất, năng lực cán bộ phụ trách thư viện
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, người CBTV cần phải có những năng lực và phẩm chất:
Về năng lực: là người có tư tưởng tiên tiến, có hiểu biết về chuyên môn, thành thạo các khâu nghiệp vụ; linh hoạt, có khả năng kết hợp tổ chức và quản lý; có vốn tri thức sâu, rộng để hiểu được nội dung sách, đánh giá được sách để chọn lọc bổ sung; biết lắng nghe; có kỹ năng tuyên truyền giới thiệu sách với bạn đọc, hướng dẫn người đọc sử dụng sách báo, giúp bạn đọc lĩnh hội nội dung tri thức và giá trị nghệ thuật; biết tổ chức các HĐTV, thu hút đông đảo bạn đọc đến thư viện đọc sách. Nhạy bén trong xử lý tình huống. Có khả năng nắm bắt, thích nghi với tiến bộ khoa học và công nghệ để thu thập, xử lý, tổ chức, khai thác nguồn tài nguyên thông tin, khả năng sử dụng công nghệ mới để định hướng trong việc thu thập, phân tích và tổ chức thông tin; đánh giá và chọn những thông tin cần thiết; khả năng tra cứu thông tin và lấy tin bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, cấu trúc, hệ thống hóa. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
Về phẩm chất: có lòng yêu nghề; yêu sách, ham đọc sách, nhiệt tình, tâm huyết với nghề, tận tâm với công việc; có văn hóa trong giao tiếp ứng xử, phải thể hiện vẻ đẹp về tình cảm và tâm hồn, phải là tấm gương về tác phong, lối sống văn hóa trước bạn đọc; nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của công tác thư viện; chủ động, sáng tạo, phối hợp, hợp tác với đồng nghiệp trong công việc để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; ý thức tổ chức kỷ luật cao; tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, dám chịu trách nhiệm về công việc của mình, khi phạm sai lầm không đỗ lỗi cho người khác; trung thực, không thổi phồng thành tích, không che giấu khuyết điểm.
Ngày nay, với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, GV phụ trách công tác thư viện hay nhân viên thư viện còn phải có khả năng ứng dụng CNTT trong QL kho dữ liệu của thư viện, phải biết QL thư viện bằng phần mềm QL thư viện, hỗ trợ GV và HS ứng dụng CNTT trong soạn giảng và học tập.
Tiểu kết chương 1
Thư viện có vai trò rất quan trọng trong giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục THCS nói riêng. Thư viện hoạt động hiệu quả sẽ phát huy tối đa các tiện ích của thư viện, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của GV, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về khoa học thư viện và xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu cho GV và HS, tạo cơ sở từng bước thay đổi phương pháp giảng dạy và học tập, đồng thời thư viện cũng tham gia tích cực vào việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị, xây dựng nếp sống văn hóa mới cho các thành viên của nhà trường.
Quản lý HĐTV trường trung học cơ sở quá trình tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý nhà trường đến quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến tài liệu trong TV, đáp ứng nhu cầu của bạn đọc nhằm thực hiện được mục tiêu, kế hoạch giáo dục của nhà trường. Quản lý HĐTV là một hoạt động quan trọng trong công tác quản lý của hiệu trưởng trường THCS. Quản lý HĐTV bao gồm những nội dung: quản lý CBTV, quản lý CSVC – TBKT, QL vốn tài liệu, QL việc phục vụ bạn đọc và QL ứng dụng CNTT vào HĐTV. Trong những nội dung QL trên thì việc tổ chức QL CBTV là quan trọng nhất vì đây chính là đối tượng để thực hiện mục tiêu đảm bảo việc phục vụ thông tin, tư liệu hiệu quả nhất cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường.
Để quản lý HĐTVcó hiệu quả thì cần phải đánh giá đúng thực trạng HĐTV, thực trạng quản lý HĐTV; xác định đúng các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý HĐTV ở trường THCS trên địa bàn để đề ra các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý HĐTV ở các trường THCS theo hướng đổi mới tích cực hơn, phát huy được sự năng động, sáng tạo của người CBQL. Đây là những vấn đề cơ bản, cần thiết để Hiệu trưởng căn cứ quản lý HĐTV trong các trường THCS. Những vấn đề lý luận được đề cập trong chương 1 là cơ sở để chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng quản lý nhằm nâng cao chất lượng HĐTV trong trường THCS góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong trường THCS và hoàn thiện nhân cách cho HS, hướng đến xây dựng xã hội học tập thường xuyên và học tập suốt đời. Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
