Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về giáo dục Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương
2.1.1. Khái quát chung
Thành phố Thủ Dầu Một là trung tâm kinh tế, hành chính của tỉnh Bình Dương và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Thành phố Thủ Dầu Một nằm trên trục đường hướng tâm đối ngoại của TP.HCM với tuyến cao tốc Hồ Chí Minh – Thủ Dầu Một – Chơn Thành. Thành phố này được xác định là đô thị vệ tinh độc lập của đô thị hạt nhân vùng bao gồm các chức năng khu công nghệ cao, công nghiệp sạch có hàm lượng kỹ thuật cao. Có các tuyến, điểm du lịch quốc gia – quốc tế, trung tâm đào tạo của vùng và là trung tâm dịch vụ cấp quốc gia, cấp vùng. Thủ Dầu Một cũng là thành phố trọng điểm trong tam giác tăng trưởng TP.HCM – Thủ Dầu Một – Vũng Tàu với vai trò là động lực phát triển ở phía bắc của vùng. Thành phố được đánh giá là đô thị đóng vai trò lớn trong liên kết, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh. Thủ Dầu Một có nhiều chuyển biến tích cực, tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp trong cơ cấu kinh tế. Thực hiện theo Quyết định số 1959/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, ngày 2/2/2026 thành phố Thủ Dầu Một đã được công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Bình Dương. (Nguyễn Hồng Sáng, 2026)
Với bề dày truyền thống lịch sử 300 năm xây dựng và phát triển, từ một đô thị nhỏ, chưa được quy hoạch, hạ tầng thiếu thốn, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân còn khó khăn, nhưng bằng những nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn thách thức, Thủ Dầu Một liên tục phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Cùng với chú trọng đầu tư phát triển kinh tế, các lĩnh vực y tế, giáo dục của thành phố cũng được đặc biệt quan tâm. Đến nay, 100% số trạm đạt chuẩn y tế phường xã; hơn 50% số trường đạt chuẩn Quốc gia; từ lúc chưa có trường đại học, nay thành phố có 7 trường đại học, 3 trường cao đẳng và 7 trường trung cấp, mỗi năm đào tạo hàng chục nghìn sinh viên, cung cấp nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thủ Dầu Một là thành phố vừa đậm nét truyền thống, vừa hiện đại, có môi trường sinh thái tốt. (Nguyễn Hồng Sáng, 2026)
Từ năm học 2023-2024 đến năm học 2025-2026, ngành giáo dục TP. Thủ Dầu Một đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ từng năm học. Toàn ngành đã dấy lên phong trào thi đua sôi nổi đều khắp, phát huy nội lực của từng nhà trường, tập hợp được sức mạnh của tập thể, đảm bảo dân chủ trong trường học từng bước xây dựng xã hội hoá giáo dục. Do đó, các chỉ tiêu đều triển khai thực hiện đạt kết quả tốt so với kế hoạch đề ra. Toàn ngành đã quán triệt nghiêm túc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước, các chủ trương lớn của ngành giáo dục, sự nghiệp giáo dục được phát triển theo hướng vững chắc. Mạng lưới trường lớp được huy hoạch phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, chất lượng giáo dục chuyển biến đáng kể phục vụ cho mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học cà các cấp học cao hơn.
Mặc dù gặp không ít khó khăn nhưng toàn ngành vẫn triển khai và thực hiện có hiệu quả chương trình đổi mới giáo dục phổ thông và chương trình sách giáo khoa mới. Chú trọng đầu tư xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Tiếp tục củng cố và nâng cao hiệu quả công tác quản lý, xây dựng đội ngũ. Quá trình thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục có hiệu quả giúp ngành thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong từng năm học. Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
Bên cạnh một số thành công trên, ngành giáo dục thành phố Thủ Dầu Một còn một số tồn tại cần khắc phục đó là:
Tỷ lệ huy động hàng năm trẻ vào nhà trẻ, mẫu giáo chưa tuyệt đối. Tỷ lệ học sinh lưu ban bình quân hàng năm 1,2% đến 1,5 %, tỷ lệ học sinh bậc THCS bỏ học hàng năm trong toàn huyện còn cao, chiếm tỉ lệ 2,0%.
Tuy đội ngũ giáo viên đã được chuẩn hoá, nhưng một bộ phận giáo viên có chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế. Chất lượng giáo dục toàn diện được chú trọng, tình trạng học sinh bỏ học trong hè, trong năm có giảm nhưng vẫn còn cao. Phổ cập giáo dục THCS ngoài nhà trường đạt hiệu quả thấp, xã hội hoá giáo dục chuyển biến chưa đều.
Công tác quản lý từ sở giáo dục đến trường được tăng cường nhưng năng lực quản lý của cán bộ, hiệu trưởng các trường còn bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục địa phương, hiệu quả đào tạo và chất lượng giáo dục ở các trường chưa đồng đều. (Phòng GD&ĐT TP Thủ Dầu Một, 2026)
2.1.2. Quy mô, cơ cấu, chất lượng giáo dục Tiểu học TP. Thủ Dầu Một
Hiện tại trong toàn Thành phố có 23 trường Tiểu học công lập và 4 trường Tiểu học ngoài công lập với 23 956 học sinh được phàn bổ đều khắp các phường trong Thành phố, Số lượng cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đủ đáp ứng cho các hoạt động giáo dục ở mỗi trường.
Về chất lượng giáo dục tiểu học ở TP. Thủ Dầu Một nhìn chung trong 2 năm gần đây đều phát triển theo chiều hướng tích cực, số học sinh đủ tuổi đến lớp đạt 100%, Hiệu quả đào tạo đạt trên 98%.
Kết quả đánh giá về học lực và năng lực phẩm chất học sinh ở các trường tiểu học TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong 2 năm gần đây như sau (đánh giá theo Thông tư số 22/2024/TT-BGDĐT, số liệu thống kê của Phòng GD & ĐT thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương):
- Bảng 2.1. Kết quả đánh giá học lực của HS trong các năm gần đây
- Bảng 2.2. Kết quả đánh giá năng lực, phẩm chất HS trong các năm gần đây
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường tiểu học TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
2.2.1 Mẫu khảo sát
Nghiên cứu được thực hiện chủ yếu qua phương pháp thu thập ý kiến bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS. Trong đó, việc thu thập ý kiến bằng bảng hỏi được tiến hành trên 295 giáo viên và cán bộ quản lý (CBQL) cùng 305 HS khối 4,5 ở các trường tiểu học Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương.
- Bảng 2.3. Số liệu về đối tượng nghiên cứu
- Bảng 2.4. Trình độ, thâm niên công tác
Trong 295 GV và CBQL được tiến hành khảo sát thì 97 người có trình độ Cao đẳng chiếm 32.9%, 198 người có trình độ Đại học khác chiếm 66.4% , 2 người có trình độ thạc sĩ chiếm 0.7%. Số liệu cho thấy, độ ngũ giáo viên ở các trường tiểu học ở Thành phố Thủ Dầu Một có trình độ học vấn khá cao, đáp ứng chuẩn nghề nghiệp của giáo viên tiểu về trình độ công tác.
Đối với thâm niên công tác trong ngành giáo dục thì trong 295 giáo viên có 54 giáo viên thâm niên dưới 5 năm chiếm 13.3%, 215 giáo viên có thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm chiếm 53%, 137 giáo viên có thâm niên công tác trên 10 năm chiếm 33.8%. Trong 44 cán bộ quản lí thì tất cả đều có thâm niên công tác trên 5 năm. Số liệu cho thấy đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí ở các trường tiểu học tại Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương đều đã có những kinh nghiệm công tác khá lâu năm.
Để tìm hiểu nhận thức của HS về HĐTN, chúng tôi tiến hành khảo sát 305 em HS ở khối 4 và khối 5 tại các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Chúng tôi lựa chọn khảo sát HS ở hai khối lớp này vì những lí do như sau:
- Ở giai đoạn 2 (tức lớp 4 và lớp 5) của bậc tiểu học, các em đã có sự phát triển tương đối đầy đủ về nhận thức, ngôn ngữ và các kĩ năng cơ bản cần thiết.
- Đây là hai khối lớp cần được tổ chức HĐTN nhiều nhất để chuẩn bị cho các cấp học trên.
2.2.2. Nội dung và cách thức khảo sát Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
Nội dung khảo sát bằng bảng hỏi tập trung vào các yếu tố của HĐTN cho học sinh và các chức năng quản lý HĐTN ở các trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương như sau: Sự cần thiết trong việc tổ chức và quản lí HĐTN cho HS ở trường tiểu học; Kế hoạch, nội dung, hình thức, phương pháp và các điều kiện hỗ trợ trong việc tổ chức HĐTN cho học sinh; Thực trạng quản lý HĐTN cho học sinh; các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý HĐTN cho học sinh; Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lí HĐTN cho học sinh ở các trường tiểu học (Phụ lục 3). Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiến hành khảo sát ý kiến của HS về các nội dung sau: tầm quan trọng của HĐTN trong học tập, các loại hình HĐTN các em đã tham gia, những hình thức HĐTN yêu thích và lí do thúc đẩy các em tham gia HĐTN.
Sau khi xây dựng khung lí thuyết, người nghiên cứu tiến hành xây dựng bảng khảo sát, lựa chọn đối tượng nghiên cứu là GV, CBQL và HS ở các trường tiểu học ở Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương bằng việc lập danh sách các trường tiểu học ở Thành phố Thủ Dầu Một, sau đó chọn ra 5 trường: 2 trường nằm trong trung tâm thành phố và là trường đạt chuẩn quốc gia, 3 trường nằm ở vùng ven thành phố trong đó có 1 trường đạt chuẩn quốc gia để tiến hành khảo sát. Việc điều tra được thực hiện bằng cách trực tiếp phát phiếu đến các đối tượng nghiên cứu.
Nội dung phỏng vấn (Phụ lục 3). Đối tượng phỏng vấn gồm: một số GV, CBQL và HS ở các trường tiểu học trên địa bàn TP. Thủ Dầu Một.
2.2.3. Quy ước xử lý số liệu
Để xử lý số liệu và đánh giá các nội dung khảo sát từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, quy ước thang thứ bậc và thang định khoảng theo 4 mức độ tương ứng từ 1 – 4 như sau:
Mức điểm 4 tương ứng với các mức độ: Rất quan trọng; Rất thường xuyên; Rất nhiều; Rất cần thiết và Rất khả thi. Khoảng điểm trung bình từ 3.26 đến 4.0;
Mức điểm 3 tương ứng với các mức độ: Quan trọng; Thường xuyên; Nhiều; Cần thiết và khả thi. Khoảng điểm trung bình từ 2.51 đến 3.25; Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
Mức điểm 2 tương ứng với các mức độ: Ít quan trong; Ít thường xuyên; Ít ảnh hưởng; Ít cần thiết và ít khả thi. Khoảng điểm trung bình từ 1.76 đến 2.50;
Mức điểm 1 tương ứng với các mức độ: Không quan trong; Không thực hiện; Không ảnh hưởng; Không cần thiết và không khả thi. Khoảng điểm trung bình từ 1.0 đến 1.75.
2.3. Thực trạng hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học Thành Phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương
2.3.1. Thực trạng nhận thức của CBQL, GV và HS về HĐTN ở trường tiểu học
- Bảng 2.5. Nhận thức của CBQL, GV và HS về tầm quan trọng của HĐTN
Kết quả khảo sát từ bảng 2.5 cho thấy cả CBQL, GV và HS đều có nhận thức tích cực về tầm quan trọng của HĐTN trong nhà trường tiểu học. Cụ thể: CBQL & GV đánh giá mức độ “Rất quan trọng” là 45.1% , “Quan trọng” là 49.5% (ĐTB: 3.40). Chúng tôi đã ghi nhận được một số ý kiến như sau: “ Đối với trẻ tiểu học, những HĐTN thú vị, bổ ích luôn giúp các em hình thành và phát triển các giá trị và KNS phù hợp. HĐTN như một trò chơi khám phá thế giới, càng đào sâu càng say mê hơn.” (GV001), “ Là một GV trực tiếp đứng lớp, tôi nhận thấy khi được học tập dưới dạng HĐTN, các em rất tích cực tham gia. Nhiều em tỏ ra có năng lực thực sự khi thể hiện các hoạt động, đó là điều GV chúng tôi rất mừng.” (GV002), “Hoạt động trải nghiệm sẽ tạo cơ hội cho học sinh huy động, tổng hợp kiến thức, kỹ năng của các môn học, các lĩnh vực giáo dục khác nhau để có thể trải nghiệm thực tiễn trong nhà trường, gia đình và xã hội. Đồng thời giúp các em có cơ hội để tham gia các hoạt động phục vụ cộng đồng và hoạt động hướng nghiệp” (GV005).
Riêng HS đánh giá mức độ “Rất quan trọng” là 55.1% (ĐTB: 3.53), “Quan trọng” là 43.6%, không có HS nào đánh giá là “Không quan trọng”. Điều đó chứng tỏ các em có nhận thức rất tích cực về sự cần thiết và những lợi ích mà HĐTN mang lại. Theo các em, HĐTN đã giúp HS mở rộng thêm kiến thức, phát triển năng lực và rèn luyện các kĩ năng cần thiết. Bên cạnh đó, khi tham gia các HĐTN các em còn được thỏa sức sáng tạo, có cơ hội giao lưu học hỏi lẫn nhau, đoàn kết và cảm thấy hứng thú với các môn học hơn, đúng với tiêu chí “Học mà chơi, chơi mà học”. Các ý kiến ghi nhận được: “Theo em thì HĐTN là rất cần thiết và quan trọng bởi vì chúng em được thực hành những gì chúng em đã học, được thỏa sức sáng tạo và đặc biệt là các hoạt động trải nghiệm rất vui và thú vị nên em rất thích.” (HS002), “Em rất thích mỗi khi thầy, cô tổ chức các HĐTN cho tụi em. Vì nó làm cho tiết học sôi động hơn. Tụi em được sáng tạo và rèn luyện tính khéo léo nữa. Em nghĩ hoạt động này là cần thiết và nên tổ chức nhiều hơn nữa.”(HS005), “Em luôn chờ đợi được tham gia các HĐTN vì khi tham gia em cảm thấy rất hào hứng và thú vị. Em được sinh hoạt trong những câu lạc bộ, được tham gia những cuộc thi bổ ích và quen thêm được rất nhiều bạn mới.”(HS007)
Chính vì vậy, trong thời gian tới nhà trường cần đẩy mạnh việc tổ chức HĐTN để nâng cao chất lượng dạy học. ĐLC của 2 đối tượng này là .591 và .519 cho thấy ý kiến của các đối tượng được khảo sát là đồng nhất với nhau, không có sự phân tán.
2.3.2 Thực trạng nhận thức về mức độ cần thiết và mức độ đạt được của các mục tiêu tổ chức HĐTN cho HS Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
Bảng 2.6. Nhận thức về mức độ cần thiết của các mục tiêu tổ chức HĐTN
- Qua khảo sát cho thấy:
Về mức độ cần thiết: Số liệu khảo sát cho thấy sự phân tán không nhiều của các đánh giá (ĐLC từ 0.573 đến 0.660) với độ tin cậy trung bình khá cao là 0.904. Điều đó chứng tỏ nhận thức của CBQL và GV về mức độ cần thiết của các mục tiêu tổ chức HĐTN cho HS khá đồng đều. CBQL & GV đã đánh giá cao mức độ cần thiết của các mục tiêu tổ chức HĐTN, điểm trung bình chung là 3.18. Nó không chỉ tác động tới học tập mà còn tác động tới nhiều mặt của quá trình giáo dục, trong đó 5 mục tiêu tổ chức HĐTN được đánh giá cần thiết hơn cả là:
- Giúp HS phát huy sự sáng tạo trong các hoạt động (ĐTB: 3.38)
- Phát hiện năng khiếu của HS (ĐTB: 3.29)
- Giáo dục tư tưởng, tình cảm cho HS (ĐTB: 3.25)
- Tạo sự hứng thú học tập cho HS (ĐTB: 3.24)
- Nâng cao hiểu biết, rèn kĩ năng thực hành (ĐTB: 3.23)
Các mục tiêu còn lại đều được đánh giá ở mức độ “Cần thiết” với điểm trung bình từ 3.04 đến 3.38. Như vậy có thể thấy CBQL và GV đều nhận thức được tầm quan trọng và tác dụng thiết thực mà HĐTN mang lại cho HS. Ý kiến của các GV như sau: “Theo tôi, khi việc tổ chức HĐTN nhằm những mục tiêu như sau: Giúp HS mở rộng kiến thức, Tạo được sự hứng thú trong học tập cho các em, Phát triển tư duy sáng tạo, Rèn luyện KNS.”(GV001), “Việc tổ chức HĐTN nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, theo tôi những mục tiêu cơ bản là: rèn kĩ năng thực hành, nâng cao tính sáng tạo, phát triển năng khiếu và tăng sự hấp dẫn cho mỗi tiết học.”(GV003), “Hoạt động trải nghiệm ở cấp tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành các kĩ năng sống cơ bản, thói quen sinh hoạt tích cực trong cuộc sống hằng ngày, nền nếp học tập ở nhà cũng như ở trường; biết tuân thủ các nội quy, quy định; bắt đầu có định hướng tự đánh giá và tự điều chỉnh bản thân; hình thành những hành vi giao tiếp, ứng xử có văn hóa; có ý thức làm việc nhóm, ý thức tham gia hoạt động lao động, hoạt động xã hội, hoạt động phục vụ cộng đồng; bước đầu biết cách tổ chức một số hoạt động đơn giản, làm quen và hình thành hứng thú với một số nghề gần gũi với cuộc sống của học sinh.”(GV004)
- Bảng 2.7. Nhận thức về mức độ đạt được của các mục tiêu tổ chức HĐTN
Về mức độ đạt được: Mặc dù có nhận thức rất cao về tính cần thiết của các mục tiêu tổ chức HĐTN trong nhà trường tiểu học nhưng mức độ đạt được của các mục tiêu này là khá thấp, chủ yếu ở mức trung bình, điểm trung bình chung là 2.38. Cụ thể các mục tiêu có mức độ đạt được thấp hơn cả là: Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
- Phát hiện năng khiếu của HS (ĐTB: 2.29)
- Giáo dục tư tưởng, tình cảm cho HS (ĐTB: 2.31)
- Nâng cao hiểu biết, rèn kĩ năng thực hành (ĐTB: 2.32)
- Tạo sự hứng thú học tập cho HS (ĐTB: 2.32)
- Giúp HS làm việc có kế hoạch (ĐTB: 2.35)
Các đánh giá của CBQL và GV cũng có sự phân tán (ĐLC từ 0.670 đến 0.765) giữa các trường thuộc trung tâm thành phố và vùng ven. Trên thực tế, việc tổ chức HĐTN còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là ở các trường ven thành phố, chưa có sự đầu tư đúng mức cho hoạt động này. Về vấn đề này, QL005 có ý kiến như sau: “Thực tế cho thấy, dù nhà trường đặt ra khá nhiều mục tiêu nhưng kết quả đạt được thì không cao như mong đợi. Bởi GV còn thiếu kĩ năng tổ chức, cơ sở vật chất nhà trường không đáp ứng được việc tổ chức thực hiện nhiều HĐTN”. Chính vì vậy, dù mục tiêu đặt ra là khá cao nhưng mức độ đạt được thì lại thấp.
2.3.3 Thực trạng về mức độ thực hiện các hình thức tổ chức HĐTN cho học sinh
- Bảng 2.8. Thực trạng về mức độ thực hiện các hình thức tổ chức HĐTN
Qua khảo sát cho thấy, mặc dù có nhận thức rất cao về tầm quan trọng của HĐTN trong nhà trường tiểu học nhưng mức độ thực hiện các hình thức tổ chức HĐTN lại khá thấp, điểm trung bình chung là 2.45. Độ lệch chuẩn khi đánh giá các hình thức tổ chức HĐTN cho học sinh từ 0.591 đến 0.755, chứng tỏ các đánh giá có sự phân tán và không có sự tương đồng trong các mức độ đánh giá của cán bộ quản lí và giáo viên Cụ thể, các hình thức được các thầy cô đánh giá là thường xuyên thực hiện là: “Sinh hoạt tập thể” (ĐTB: 2.79) và “Tổ chức trò chơi” (ĐTB: 2.71), qua quan sát và trao đổi trực tiếp chúng tôi nhận thấy các hình thức này được tỏ chức thường xuyên vì đây là hai hình thức nằm trong yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và giáo viên có thể linh động tổ chức trong các tiết dạy chính khóa và ngoại khóa. Còn các hình thức số 3, 5, 9, 11 được các thầy cô đánh giá là ít thực hiện (ĐTB từ 2.22 đến 2.30), trong đó, hai hình thức có điểm trung bình thấp nhất là “Hoạt động chiến dịch”, “Tham quan dã ngoại”. Ý kiến của GV về vấn đề này như sau: “Hiện nay nhà trường đã có những hình thức khác nhau để tổ chức HĐTN cho HS, chẳng hạn như: Tổ chức trò chơi cho các em; Thành lập các câu lạc bộ như: cờ vua, bóng bàn, Aerobic, viết chữ đẹp; Các hoạt động giao lưu văn nghệ; Các hội thi, cuộc thi vào những ngày lễ lớn; Mỗi năm đều tổ chức cho HS đi tham quan, dã ngoại 1 lần như “Nông trại tree”, “Đường chạy khạp”,…” (GV001), “Những nội dung sẽ được triển khai thực hiện thông qua 4 loại hình hoạt động trải nghiệm trong nhà trường là sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, hoạt động giáo dục theo chủ đề và hoạt động những câu lạc bộ. Các loại hình này khá quen thuộc vì thường xuyên thực hiện.” (GV004), “Có nhiều hình thức khác nhau để tổ chức một HĐTN, ở trường chúng tôi, những hình thức được sử dụng nhiều là: sinh hoạt tập thể, giao lưu văn nghệ, trò chơi học tập, hoạt động ngoại khóa.”(GV007). Thực tế cho thấy, để tổ chức các hoạt động này thì phải có kinh phí tổ chức và thời gian tổ chức, tuy nhiên hiện nay các trường tiểu học nói chung và các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một nói riêng thì vấn đề về kinh phí tổ chức các hoạt động ngoại khóa còn hạn hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu cho các nhà trường tổ chức các HĐTN nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Điều này đặt ra cho ngành giáo dục nói chung và các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một nói riêng trong thời gian tới cần đầu tư nhiều hơn nữa kinh phí và làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục nhằm tăng cường nguồn kinh phí cho các hoạt động của nhà trường đặc biệt là các HĐTN.
2.3.4. Thực trạng về hình thức kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động trải nghiệm cho học sinh Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
Kiểm tra đánh giá giúp nhà trường có được những thông tin cần thiết qua đó kịp thời phát huy, áp dụng những hoạt động tốt, hiệu quả. Đồng thời điều chỉnh những hoạt động không hiệu quả, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động trải nghiệm cho học sinh.
- Bảng 2.9. Hình thức kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động trải nghiệm cho HS
Kết quả phân tích từ Bảng 2.9 cho thấy có sự tương đồng ý kiến giữa GV và CBQL về các hình thức tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả HĐTN của HS (ĐLC trung bình là 0.622). Số liệu cho thấy nhà trường thực hiện hoạt động này ở mức độ “Ít thường xuyên” (ĐTB: 2.08). Có những hình thức kiểm tra đánh giá mà nhà trường rất ít thực hiện như: “Đánh giá năng lực xã hội của HS thông qua các bài trắc nghiệm” (ĐTB: 1.90), “Đánh giá năng lực HS thông qua các tình huống giả định” (ĐTB: 1.89), “Đánh giá thông qua các hoạt động thực tế trong cuộc sống” (ĐTB: 2.08). Còn lại là những hình thức kiểm tra đánh giá nhà trường có sử dụng nhưng đa số cũng chỉ ở mức độ ít thường xuyên. Ghi nhận ý kiến của GV như sau: “Theo tôi, nhà trường cần phải đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá trên từng em HS bằng các hoạt động, sản phẩm cụ thể. Cách thức đánh giá sẽ khác với đánh giá môn học, thay vì đánh giá kiến thức, kĩ năng rồi cho điểm thì ở hoạt động này sẽ đưa ra các nhận xét về mục tiêu, kĩ năng của các HS phát triển đến đâu để có hướng giáo dục cho các em.”(GV001), “Hiện nay nhà trường vẫn chưa đưa ra những qui định cụ thể về hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả HĐTN của HS. Theo tôi, cần xác định cách thức và công cụ thu thập thông tin. Thông tin được thu thập từ nhiều nguồn, nhiều hình thức và bằng nhiều phương pháp khác nhau (quan sát trong hoạt động, bài viết thu hoạch, sản phẩm học tập, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau). Cần tổ chức thu thập thông tin chính xác và trung thực.”(GV002), “HĐTN thông thường được tổ chức như một hoạt động tập thể, chính vì vậy việc đánh giá kết quả hoạt động thường là đánh giá chung của cả tập thể chứ không riêng 1 HS nào. Tuy nhiên, điều đó dễ dẫn đến việc đánh giá không chính xác năng lực của từng em. Vì vậy, tôi nghĩ rằng cần có thêm nhiều cách thức đánh giá khác nhau, cả tập thể và cá nhân để kết quả kiểm tra đánh giá có ý nghĩa hơn.”(GV005)
Kết quả phân tích về hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả HĐTN của HS cho thấy việc kiểm tra đánh giá kết quả HĐTN của HS chưa được các trường quan tâm. Đây có thể xem là một trong những hạn chế lớn trong quá trình tổ chức hoạt động này cho HS ở các trường tiểu học ở Thành phố Thủ Dầu Một. Đặc biệt là việc sử dụng các đánh giá khách quan từ các hoạt động thực tế trong cuộc sống cũng như sự phối hợp các nhận xét đánh giá của GV, gia đình và xã hội vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra đánh giá HĐTN cho HS là cần thiết.
2.3.5. Thực trạng về hình thức tham gia các HĐTN của HS
- Bảng 2.10. Thực trạng về hình thức tham gia các HĐTN Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
Qua khảo sát cho thấy, hầu hết các em HS các trường tiểu học trên địa bàn đều yêu thích các HĐTN, tuy nhiên các hình thức tổ chức mà các em được tham gia lại rất ít, chủ yếu là các hình thức quen thuộc như: “Sinh hoạt tập thể” (ĐTB: 2.96), “Tổ chức trò chơi” (ĐTB: 2.96), “Hoạt động câu lạc bộ” (ĐTB: 2.69), còn lại là các hình thức các em ít khi được tham gia. Độ lệch chuẩn cũng cho thấy có sự phân tán và không có sự tương đồng trong các đánh giá của HS (ĐLC từ 0.613 đến 0.799). Về vấn đề này, chúng tôi đã tìm hiểu thực tế và nhận thấy rằng, nhu cầu tham gia các HĐTN của HS là rất cao, các em luôn hứng thú với những hình thức hoạt động khác nhau, đặc biệt là tham quan, dã ngoại và các hoạt động mang tính chất tương tác cao. Cụ thể như sau: “Ở trường em thường tham gia các trò chơi học tập, các buổi sinh hoạt tập thể. Ngoài ra em còn được đi tham quan Nông trại Tree, được tự tay hái rau, bắt cá, làm bánh,… em rất thích và em muốn trường tổ chức nhiều lần đi như vậy nữa”(HS001), “Em đã được tham gia một số hoạt động như: sinh hoạt theo chủ điểm, các cuộc thi, hội diễn văn nghệ và các trò chơi khám phá ở lớp.”(HS002), “Em đã từng tham gia vào các hoạt động như là đóng vai diễn kịch, trò chơi, sinh hoạt ngoại khóa, hoạt động nhân đạo giúp đỡ những bạn có hoàn cảnh khó khăn…”(HS007). Tuy nhiên, việc thường xuyên tổ chức các hoạt động trên lại gây nhiều khó khăn cho nhà trường như: nguồn kinh phí, thời gian phù hợp, công tác tổ chức, mời chuyên gia có uy tín,… Đặc biệt, ở các trường có quy mô nhỏ, còn thiếu thốn cơ sở vật chất thì việc tổ chức nhiều hình thức HĐTN cho HS còn gặp nhiều trở ngại. Đây cũng là một vấn đề quan trọng đặt ra cho CBQL nhà trường, làm thế nào để luôn luôn đổi mới, đa dạng hóa các hình thức tổ chức để thu hút và tạo điều kiện cho HS tham gia hoạt động.
2.3.6. Lí do thúc đẩy HS tham gia các HĐTN ở nhà trường Bảng 2.11. Lí do thúc đẩy HS tham gia các HĐTN
Kết quả khảo sát cho thấy, các em HS đã ý thức được những lợi ích mà HĐTN mang lại (ĐTB chung là 2.31). Điều đó chứng minh qua những lí do thúc đẩy các em tham gia các hoạt động này đa số đều được đánh giá ở mức “Quan trọng”. Các đánh giá của HS cũng có sự phân tán nhiều (ĐLC từ 0.623 đến 0.795) với độ tin cậy khá cao (ĐTC từ 0.874 đến 0.914). Các em không chỉ tham gia vì thích hay để làm hài lòng thầy cô, cha mẹ mà các em còn hiểu được việc tham gia HĐTN còn mang lại rất nhiều lợi ích khác nữa. Cụ thể như sau:
- Thỏa mãn nhu cầu hiểu biết cuộc sống thực tiễn của bản than (ĐTB: 50)
- Rèn luyện cá nhân trong phong trào hoạt động tập thể (ĐTB: 46)
- Gắn kết tri thức sách vở với kiến thức cuộc sống (ĐTB: 41)
- Để có kiến thức, kinh nghiệm sống vững vàng phục vụ cho bản thân sau này (ĐTB: 2.38)
Qua phỏng vấn các em HS, chúng tôi nhận được nhiều ý kiến về lí do các em tham gia HĐTN. Em HS001 chia sẻ: “Em rất thích tham gia các hoạt động trải nghiệm, vì nó giúp em áp dụng được những kiến thức đã học vào thực tế và rèn cho em những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống”. Em HS002 nói: “Mỗi khi thầy cô tổ chức hoạt động trải nghiệm, em và các bạn ai cũng muốn tham gia, vì nó rất bổ ích, giúp em có thêm những kiến thức mới xung quanh mình và làm cho những giờ học trở nên sinh động hơn”. Em HS007: “Em thích được đi tham quan nhất. Em đã từng đi tham quan viện bảo tàng Bình Dương, nhà tù Phú Lợi, nông trai Tree,… Em cảm thấy mình biết được nhiều điều bổ ích sau khi được tham gia các hoạt động này.”
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở các trường tiểu học ở Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
Khảo sát thực trạng quản lí HĐTN cho HS tại các trường tiểu học ở Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương được tiến hành theo các chức năng quản lý như sau:
2.4.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở các trường tiểu học
Xây dựng kế hoạch công tác giáo dục, trong đó có HĐTN là việc làm quan trọng của người làm công tác quản lí. Kế hoạch tổ chức HĐTN cho HS là bản thiết kế chi tiết các mục tiêu, nội dung, cách thức thực hiện, các điều kiện hỗ trợ để kế hoạch khi triển khai đạt được mục tiêu đề ra.
Xây dựng kế hoạch HĐTN phải căn cứ vào nhiệm vụ năm học, điều kiện cụ thể của nhà trường đó là cơ sở để xây dựng kế hoạch một cách khoa học và có chất lượng. Song trên thực tế, việc xây dựng kế hoạch HĐTN cho HS chưa được quan tâm đúng mức. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi trên 295 CBQL và GV, kết quả cụ thể như sau:
- Bảng 2.12. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoat động trải nghiệm
Kết quả nghiên cứu từ Bảng 2.12 cho thấy cả CBQL và GV đều đánh giá công tác xây dựng kế hoạch ở mức độ thực hiện “Ít thường xuyên”, điểm trung bình chung là 2.48. Độ lệch chuẩn từ 0.570 đến 0.693 với độ tin cậy khá cao (ĐTC > 0.811) cho thấy không có sự phân tán trong các mức độ đánh giá của CBQL và GV. Việc đánh giá thực trạng xây dựng kế hoạch được xếp theo thứ hạng từ cao đến thấp, cụ thể như sau:
- Xây dựng kế hoạch HĐTN gắn với nội dung học tập ngoài giờ lên lớp (ĐTB: 2.69)
- Xây dựng kế hoạch gắn liền với rèn luyện đạo đức, lối sống (ĐTB: 58)
- Hướng dẫn GV xây dựng kế hoạch hoạt động cho từng đơn vị lớp. (2.52)
- Xây dựng kế hoạch HĐTN chung cho toàn trường (ĐTB: 46)
- Xây dựng kế hoạch HĐTN cho từng khối lớp (ĐTB: 17)
Trong các nội dung về công tác xây dựng kế hoạch thì nội dung “Xây dựng kế hoạch HĐTN gắn với nội dung học tập ngoài giờ lên lớp” được đánh giá ở mức độ “Thường xuyên” (ĐTB: 2.69) và xếp ở thứ hạng cao nhất.
Qua tìm hiểu thực tế cho thấy, kế hoạch HĐTN của trường được xây dựng từ đầu năm học, tuy nhiên chưa có sự chỉ đạo cụ thể về hoạt động một cách thường xuyên liên tục mà chỉ theo từng đợt hoạt động kèm theo chuyên đề hoặc những khi có đoàn kiểm tra của phòng, sở. Thậm chí kế hoạch chỉ là hình thức, vì vậy rất khó khăn cho việc triển khai các hoạt động dẫn đến hiệu quả của HĐTN không cao. Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
Khi trao đổi trực tiếp với các thầy cô tổ trưởng chuyên môn, Tổng phụ trách Đội, Bí thư Đoàn TN họ đều có ý kiến rằng: họ là người trực tiếp lập kế hoạch, báo cáo với lãnh đạo nhà trường. Từ việc biên soạn kế hoạch, nhà quản lí nắm được thời gian và các điều kiện khác cần cho việc tổ chức, cân nhắc tính khả thi và những ưu tiên cần thiết cho các HĐTN. Từ đó, nhà quản lí ấn định thời gian và duyệt kinh phí, điều kiện tổ chức. Ý kiến của CBQL về vấn đề này như sau: “Việc xây dựng kế hoạch HĐTN được thực hiện ngay từ đầu năm học, chúng tôi xây dựng kế hoạch theo từng chủ điểm và triển khai đến GV toàn trường.”(QL002), “Khi xây dựng kế hoạch HĐTN, chúng tôi dựa vào kế hoạch và chỉ đạo của Phòng GD để thực hiện.”(QL004), “Để xây dựng kế hoạch HĐTN, chúng tôi dựa vào kế hoạch chung của Phòng GD, tùy tình hình và điều kiện thực tế của nhà trường chúng tôi sẽ linh hoạt thay đổi cho phù hợp. Kế hoạch hoạt động phải gắn với các chủ điểm và giúp các em rèn luyện các kĩ năng sống cần thiết.”(QL005)
Tuy nhiên, khi trao đổi với GV trực tiếp được phân công nhiệm vụ tổ chức HĐTN tôi nhận được ý kiến như sau: không phải mọi HĐTN đều có kế hoạch đúng quy định như vậy. Cụ thể, CBQL chưa ý thức được đầy đủ tầm quan trọng của việc xây dựng kế hoạch, có khi một tháng có vài ba hoạt động, có tháng thì bị lãng quên, có khi kế hoạch được xây dựng gấp rút, chắp vá, không có sự bàn bạc thống nhất khi thực hiện nên khó đạt được mục tiêu đề ra. Ngoài ra, cấu trúc nội dung của kế hoạch chưa đầy đủ, mới chỉ mang tính hình thức, chưa có sự phân công công việc rõ ràng, chưa xác định cụ thể thời gian, hình thức, điều kiện tổ chức… điều đó khiến cho việc thực hiện trở nên khó khăn hơn.
2.4.2. Thực trạng về tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động trải nghiệm cho học sinh
Tổ chức thực hiện kế hoạch HĐTN cho HS được xem là quá trình phân công nhiệm vụ cho các đơn vị, cá nhân, hướng dẫn chi tiết các nội dung thực hiện trong từng giai đoạn tổ chức hoạt động, tạo cơ chế phối hợp giữa các bộ phận nhằm giúp cho HĐTN đạt được hiệu quả cao nhất. Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
- Bảng 2.13. Thực trạng về tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động trải nghiệm
Kết quả khảo sát cho thấy việc tổ chức thực hiện HĐTN được đánh giá ở mức “Ít thường xuyên”‟ „(ĐTB chung là 2.51). Độ lệch chuẩn từ 0.753 đến 0.828 với độ tin cậy khá cao (ĐTC > 0.858) cho thấy có sự phân tán và không có sự tương đồng trong các mức đánh giá của CBQL và GV. Trong đó có 2 nội dung được đánh giá thực hiện thường xuyên là: “Phân công cụ thể công việc cho từng tổ, nhóm, cá nhân CBQL” (ĐTB: 2.78) và “Tạo điều kiện thuận lợi để CBGV thực hiện nhiệm vụ” (ĐTB: 2.62).
Những nội dung bị đánh giá là thực hiện “Ít thường xuyên” và xếp thứ hạng thấp nhất lần lượt là: “Có cơ chế phối hợp cụ thể giữa GV và các lực lượng khác” (ĐTB: 2.30); “Chuẩn bị mọi nguồn lực để thực hiện” (ĐTB: 2.29); “Thường xuyên giám sát, đôn đốc, nhắc nhở” (ĐTB: 2.46); “Khen thưởng, xử lí kịp thời, công bằng, chính xác” (ĐTB: 2.47); “Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho GV về HĐTN” (ĐTB: 2.51).
Những đánh giá trên cho thấy công tác tổ chức thực hiện kế hoạch HĐTN cho HS ở các trường còn hạn chế trong việc phối hợp cụ thể giữa các lực lượng tham gia và đặc biệt là chưa thực hiện tốt việc kiểm tra giám sát cũng như chưa có cơ chế khen thưởng kịp thời khiến cho công tác tổ chức thực hiện HĐTN cho HS chưa thực sự hiệu quả. Ý kiến của QL003: “Để thực hiện tốt một HĐTN cần phải có sự hỗ trợ từ nhiều phía. Trước hết, BGH cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để GV và HS thực hiện tốt hoạt động. Ngoài ra, BGH cần làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục bởi HĐTN cần có sự đầu tư đúng mức thì hiệu quả mang lại càng cao.” QL005: “Việc tổ chức và chỉ đạo thực hiện HĐTN được BGH thực hiện thường xuyên trong suốt năm học. Sau khi triển khai kế hoạch chung, các tổ sẽ xây dựng kế hoạch cụ thể cho tổ mình và từng lớp thực hiện. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn gì thì BGH sẽ giúp đỡ để mọi GV đều hoàn thành tốt kế hoạch đề ra. Bên cạnh đó, nhà trường còn kết hợp với các lực lượng khác như Hội cha mẹ HS, các cơ quan đoàn thể, các cấp chính quyền,…để hỗ trợ trong việc thực hiện HĐTN cho HS.”
Từ những hạn chế trên, các trường cần nhận thức lại vai trò của công tác quản lí trong việc tổ chức HĐTN cho HS, xác định các nhiệm vụ cho từng bộ phận, quy chế phối hợp giữa các lực lượng để tạo sự thống nhất, tính trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc nâng cao công tác giáo dục thế hệ trẻ tương lai của đất nước.
2.4.3. Thực trạng về chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động trải nghiệm cho học sinh Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
Để HĐTN cho HS đạt hiệu quả cao thì việc tập huấn chuyên môn cho GV về lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ, chuẩn bị cơ sở vật chất, kinh phí, xây dựng chương trình, tổ chức thực hiện,…là rất cần thiết. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch HĐTN cho HS được tiến hành khảo sát theo các nội dung sau.
- Bảng 2.14. Thực trạng về chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động trải nghiệm
Kết quả từ Bảng 2.14 cho thấy phần lớn CBQl và GV đánh giá nội dung chỉ đạo thực hiện kế hoạch HĐTN cho HS ở mức “Ít thường xuyên” với điểm trung bình chung là 2.34. Độ lệch chuẩn từ 0.443 đến 0.696 (ĐTC > 0.887) cho thấy không có sự phân tán nhiều trong các mức đánh giá của CBQL và GV. Cụ thể, các nội dung được xếp theo thứ tự thực hiện từ cao đến thấp như sau:
- Đa dạng hóa các hình thức tổ chức HĐTN (ĐTB: 65)
- Chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực GV đáp ứng yêu cầu tổ chức HĐTN (ĐTB: 2.40)
- Chỉ đạo thực hiện nội dung HĐTN theo chủ đề tích hợp các nội dung giáo dục (ĐTB: 2.37)
- Chỉ đạo thực hiện nội dung HĐTN theo chủ đề rèn luyện KNS (ĐTB: 2.27)
- Chỉ đạo thực hiện nội dung HĐTN theo chủ đề giáo dục đạo đức, lối sống (ĐTB: 2.25)
- Chỉ đạo thực hiện nội dung HĐTN theo chủ đề môn học (ĐTB: 23)
- Phối hợp các lực lượng giáo dục trong tổ chức HĐTN (ĐTB: 23)
- Chỉ đạo tăng cường các điều kiện đáp ứng yêu cầu HĐTN (ĐTB: 22)
- Chỉ đạo GV xây dựng tiêu chuẩn đánh giá HĐTN (ĐTB: 21)
Ở các trường tiểu học tại thành phố Thủ Dầu Một, ngay từ đầu năm học, BGH nhà trường đã triển khai nhiệm vụ năm học, trong đó nêu rõ nhiệm vụ trọng tâm của năm học, sau đó BGH yêu cầu các tổ, nhóm chuyên môn thảo luận, lựa chọn, thống nhất các chủ đề, các HĐTN cần tổ chức cho HS trong năm học. BGH sẽ tổng hợp các bản kế hoạch đó và dán công khai ngay tại bảng thông báo của nhà trường đồng thời đưa vào kế hoạch chuyên môn hàng tháng. Tuy nhiên, nhìn vào kết quả trên cho thấy các nội dung chỉ đạo chưa được quan tâm tiến hành thường xuyên, vì vậy đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới việc GV chưa đầu tư nhiều thời gian và công sức cho các HĐTN.
Dựa vào những phân tích ở trên chúng tôi cho rằng, các nhà quản lí cần có những chỉ đạo mạnh mẽ, quyết liệt hơn nữa đối với việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, giữa các ban, ngành, đoàn thể trong công tác tổ chức HĐTN cho trẻ. Tạo điều kiện để các tổ chức Đoàn, Đội trong trường học phát huy vai trò, ảnh hưởng và tích cực tham gia quá trình giáo dục toàn diện học sinh. Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
2.4.4. Thực trạng quản lí kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động trải nghiệm
Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch HĐGD ĐĐ được tiến hành xuyên suốt trong quá trình tổ chức HĐTN cho học sinh. Thực hiện tốt chức năng kiểm tra giúp nhà quản lí đánh giá đúng chất lượng hoạt động, có tác dụng thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của đối tượng quản lí. Trong quản lí HĐTN cho HS cũng vậy, nếu nhà quản lí không tổ chức kiểm tra sẽ dẫn đến tình trạng làm ít báo cáo nhiều, tạo hình thức đối phó trong việc tổ chức hoạt động.
- Bảng 2.15. Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện HĐTN
Kết quả từ Bảng 2.15 cho thấy công tác quản lí trong kiểm tra đánh giá HĐTN cho HS được CBQL và GV đánh giá thực hiện ở mức độ “Ít thường xuyên” với điểm trung bình chung là 2.31. Có sự phân tán rất rõ trong các mức đánh giá của CBQL và GV (ĐLC: 0.717 – 0.852; ĐTC > 0.911). Một số nội dung có sự đánh giá khác nhau giữa các mức độ thực hiện. Những nội dung được CBQL và GV đánh giá ở mức độ thực hiện “Ít thường xuyên” nhất là:
- Xây dựng, hoàn thiện các tiêu chí và định ra mức độ của từng tiêu chí đánh giá (ĐTB: 2.14);
- Tiến hành đánh giá và so sánh kết quả đánh giá với từng mức độ trong các tiêu chí để có thể đưa ra các quyết định quản lí cần thiết (ĐTB: 2.22);
Nghiên cứu các quy định đánh giá kết quả HĐTN trong dạy học (ĐTB: 2.24) Ghi nhận về vấn đề này như sau: “BGH đã xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả HĐTN từ đầu năm học. Mặc dù chưa có những hướng dẫn rõ ràng nhưng chúng tôi đã cố gắng đưa ra một số tiêu chí cơ bản để nhận xét và đánh giá. Trong quá trình triển khai kế hoạch, chúng tôi cũng triển khai các tiêu chí đánh giá để GV nắm rõ”.(QL001), “Nhà trường chúng tôi tập trung xoáy sâu vào chất lượng dạy và học của GV và HS. Chính vì vậy, việc kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục diễn ra thường xuyên, trong đó có việc đánh giá chất lượng HĐTN. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có văn bản nào cụ thể quy định về cách thức cũng như tiêu chí đánh giá HĐTN. Để làm tốt công tác này, chúng tôi đã nghiên cứu và đưa ra các mục tiêu và yêu cầu cần đạt khi thực hiện một HĐTN cho GV và những người có liên quan nắm rõ. Từ đó, họ sẽ có hướng đi đúng đắn để đạt được kết quả tốt nhất trong việc thực hiện hoạt động này.”(QL005).
Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện HĐTN giúp Hiệu trưởng kịp thời phát hiện và điều chỉnh những lệch lạc, sai sót trong quá trình thực hiện kế hoạch, từ đó đưa ra những uốn nắn, sữa chữa cần thiết. Để làm tốt công tác này Hiệu trưởng cần:
- Xây dựng được các tiêu chí đánh giá HĐTN sát với mục tiêu yêu cầu từng hoạt động, trong từng thời điểm.
- Xây dựng lực lượng đánh giá có uy tín đối với từng hoạt động, việc đánh giá phải được thực hiện thường xuyên, liên tục trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Sử dụng nhiều hình thức đánh giá như: Sử dụng phiếu khảo sát, quan sát thực tế, trao đổi trực tiếp, hỏi ý kiến GV, HS, PH hoặc chuyên gia.
Kiểm tra hoạt động học tập của HS về các nội dung HĐTN để biết được mức độ thu nhận và vận dụng kiến thức đã học trong quá trình trải nghiệm của HS, từ đó cung cấp cho HS những phản hồi thong tin, giúp cho HS điều chỉnh hoạt động của mình.
Kiểm tra hoạt động dạy học, giáo dục của GV đối với việc thực hiện các mục tiêu môn học. Đồng thời Hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra, xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của GV để đảm bảo hiệu quả công việc đã đề ra, từng bước nâng cao chất lượng HĐTN trong nhà trường.
Sau khi kiểm tra đánh giá phải tổ chức rút kinh nghiệm, chỉ ra được những mặt đạt được và chưa đạt được của hoạt động, qua đó công nhận những giá trị và những đóng góp của các tập thể và cá nhân đối với HĐTN. Do vậy , việc kiểm tra, đánh giá HĐTN phải khách quan, chính xác, toàn diện, hệ thống, công khai, kịp thời, vừa sức và bám sát vào yêu cầu của từng hoạt động.
2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học ở thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lí HĐTN bao gồm các yếu tố chủ quan và khách quan.
- Bảng 2.16. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động trải nghiệm cho HS
Qua khảo sát cho thấy, các yếu tố mà chúng tôi đưa ra có ảnh hưởng nhiều đến công tác quản lí HĐTN cho HS trong nhà trường (ĐTB: 2.87 – 3.41), độ lệch chuẩn từ 0.614 đến 0.885 (ĐTC > 0.784) cho thấy có sự phân tán trong các đánh giá của CBQL và GV. Cụ thể như sau:
Yếu tố chủ quan:
- Nhà quản lí nắm vững nguyên tắc tổ chức HĐTN cho HS tiểu học (ĐTB: 3.57)
- Trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm của GV (ĐTB: 3.55)
- Nhà quản lí nắm vững các phương pháp tổ chức HĐTN (ĐTB: 3.54)
- Phẩm chất trí tuệ và năng lực HĐTN của HS (ĐTB: 3.45)
- Sự tích cực, chủ động trong HĐTN của HS (ĐTB: 3.16)
- Nhà quản lí có trình độ chuyên môn cao (ĐTB: 3.10)
Yếu tố khách quan:
- Các điều kiện, phương tiện phục vụ HĐTN còn thiếu thốn (ĐTB: 3.41)
- Các cấp chính quyền chỉ đạo và hỗ trợ về cơ sở vật chất, thiết bị tổ chức HĐTN cho nhà trường (ĐTB: 3.34)
- Chưa có cơ chế, chính sách động viên các lực lượng giáo dục tham gia HĐTN (ĐTB: 3.28)
- Thời gian dành cho HĐTN còn ít, chưa hợp lí (ĐTB: 3.15)
- Các nghị quyết, văn bản, chỉ thị của ngành hướng dẫn thực hiện một cách rõ ràng, cụ thể (ĐTB: 3.13)
Ý kiến của các CBQL như sau: “Theo tôi, những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến công tác quản lí HĐTN cho HS chủ yếu xuất phát từ phía GV và HS. Hiện nay, rất nhiều GV còn thiếu phương pháp và kĩ năng tổ chức các HĐTN, đặc biệt là những GV lớn tuổi. Mặc dù đã được học bồi dưỡng nhưng thời gian học khá ít nên cũng không đạt được kết quả như mong đợi.”(QL001), “Theo tôi, những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến công tác quản lí HĐTN cho HS chủ yếu xuất phát từ phía GV và HS. Hiện nay, rất nhiều GV còn thiếu phương pháp và kĩ năng tổ chức các HĐTN, đặc biệt là những GV lớn tuổi. Mặc dù đã được học bồi dưỡng nhưng thời gian học khá ít nên cũng không đạt được kết quả như mong đợi.”(QL002), “Trong công tác quản lí HĐTN tôi nhận thấy có những yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng quản lí. Chẳng hạn như: CBQL có nắm vững kiến thức và hiểu rõ về tầm quan trọng của HĐTN không? Những người tổ chức thực hiện HĐTN (như GV) có đủ kĩ năng và phương tiện phục vụ HĐTN chưa? Người tham gia hoạt động (như HS) có tích cực và hứng thú không?”(QL004), “Trong công tác quản lí HĐTN, tôi nhận thấy sự nhất quán trong chỉ đạo từ trên xuống, tức là từ cấp Sở, Phòng đến trường học là rất quan trọng. Ngoài ra, để tạo động lực thúc đẩy các lực lượng tham gia thực hiện tốt hoạt động thì cần phải có cơ chế, chính sách động viên kịp thời và hiệu quả.”(QL005). Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
2.6. Đánh giá chung và nguyên nhân của thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
2.6.1. Ưu điểm
Hầu hết các CBQL, GV và HS có nhận thức đúng đắn về vai trò , mục tiêu, ý nghĩa của HĐTN đối với việc giáo dục toàn diện cho HS. Sự nhận thức này là cơ sở cho việc đẩy mạnh những hình thức tổ chức khác nhau, góp phần thực hiện chủ trương giáo dục toàn diện trong nhà trường, khích lệ GV và HS nỗ lực thi đua dạy tốt, học tốt.
Lãnh đạo nhà trường cơ bản đã quan tâm đến HĐTN và hoạt động này cũng đã mang lại một số kết quả tốt. Nó chứng tỏ sự thay đổi tích cực trong nhận thức của CBQL, GV và HS.
HS có nguyện vọng và tích cực tham gia các HĐTN đáp ứng nhu cầu và phù hợp với tâm lí HS.
Đã có kế hoạch tổ chức HĐTN: Nhà trường đã có kế hoạch tổ chức và dự kiến xu hướng phát triển của các hình thức HĐTN, đưa hoạt động này đi vào nề nếp, sắp xếp có tính chuyên môn hóa, tạo sự tự giác chấp hành các chủ trương của nhà trường.
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ GV cơ bản đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, trong đó có HĐTN. Nhà trường còn có đội ngũ CBQL sâu sát về chuyên môn, HĐTN được tổ chức ở các trường thực sự tạo ra bước chuyển biến về chất lượng. Nếu có những biện pháp động viên, khích lệ phù hợp thì chắc chắn kết quả thu được còn cao hơn, số HS tham gia còn nhiều hơn.
Đã tranh thủ được sự quan tâm, tạo điều kiện, chỉ đạo sát sao của chính quyền địa phương, của Sở, Phòng GD&ĐT, của UBND và phụ huynh đến hoạt động giáo dục nói chung và HĐTN nói riêng.
2.6.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
Năng lực quản lí, tổ chức HĐTN của đội ngũ CBQL và GV còn có những hạn chế, đặc biệt là kĩ năng tổ chức hoạt động và năng lực điều phối hoạt động của HS.
Vẫn còn một bộ phận nhỏ GV vẫn chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của HĐTN đối với HS tiểu học. GV vẫn chỉ chú trọng đến truyền thụ kiến thức khoa học mà bỏ qua việc tổ chức HĐTN, một số khác lại ngại khó nên không đầu tư cho việc tổ chức HĐTN và chỉ đối phó khi BGH kiểm tra.
Việc xây dựng kế hoạch HĐTN đã có nhiều cố gắng nhưng thực chất chưa bài bản và chưa đạt yêu cầu về mặt chất lượng. Kế hoạch tổ chức còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào nghiên cứu hứng thú của HS đối với các vấn đề liên quan, xây dựng chương trình còn chưa thể hiện tính sáng tạo, cập nhật thông tin của xã hội chưa cao.
Việc quản lí nội dung chương trình của CBQL còn nhiều yếu kém, nên GV chỉ soạn giáo án mang tính đối phó.
Hình thức và nội dung chưa phong phú, còn đơn điệu nên hiệu quả chưa cao và chưa thu hút được nhiều HS tham Các trường cũng chưa sắp xếp thời gian tổ chức phù hợp, cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động thiếu thốn nên chất lượng, hiệu quả của hoạt động chưa cao.
Việc bồi dưỡng năng lực tổ chức, năng lực chuyên môn của GV và HS còn bị xem nhẹ, chưa được đầu tư đúng mức. Chính vì vậy, kĩ năng tổ chức của GV bị hạn chế, họ thường chỉ bám sát nội dung hướng dẫn của sách mà không sáng tạo thêm các ý tưởng cho các hoạt động. HS thì bị động không có khả năng tự thiết kế, điều chỉnh theo ý bản thân.
Nguồn lực phục vụ cho HĐTN còn hạn chế, nhà quản lí chưa huy động được các nguồn lực từ cha mẹ HS và các tổ chức xã hội. Nguồn kinh phí còn ít nên việc khen thưởng còn chưa kịp thời.
Hạn chế trong công tác tổ chức, chỉ đạo hoạt động chưa đồng bộ. Tổ chức, quản lí chỉ đạo còn chưa chặt chẽ, việc kiểm tra, đánh giá chưa thường xuyên, công tác tổng kết, rút kinh nghiệm chưa được quan tâm đúng mức.
2.6.3. Nguyên nhân thực trạng
Đánh giá nguyên nhân thực trạng thông qua đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố thuận lợi và khó khăn tới quản lí HĐTN, giúp người quản lí đề xuất các biện pháp đề điều chỉnh quá trình quản lí phù hợp với thực tế ở các trường.
- Nhà quản lí cần nắm vững các phương pháp và nguyên tắc tổ chức HĐTN cho HS tiểu học
- Trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm của GV. GV thiếu năng lực, kĩ năng tổ chức, hướng dẫn sinh hoạt tập thể, một số còn có nhận thức coi nhẹ vai trò, tầm quan trọng của HĐTN.
- Cơ chế tài chính không đi đôi với yêu cầu giáo dục như hiện nay, thiếu thốn cơ sở vật chất gây khó khăn rất nhiều cho Hiệu trưởng trong quá trình quản lí điều hành nhà trường, đặc biệt là tổ chức các HĐTN.
- Do tác động mặt trái của cơ chế thị trường, xu thế hội nhập và toàn cầu hóa; Do cách đánh giá nhà trường, đánh giá CBQL, GV, HS của ngành, của xã hội chủ yếu căn cứ vào kết quả hoạt động dạy – học văn hóa trên lớp, đã khiến các trường chỉ tập trung vào hoạt động này, ít quan tâm đến các HĐTN.
- Hầu hết cha mẹ HS đều rất quan tâm đến việc học hành của con cái, nhưng do áp lực về thi cử, điểm số nên họ thường quan tâm đến các môn văn hóa và dành nhiều thời gian cho việc học kiến thức hơn là tham gia vào các HĐTN.
- Chưa có cơ chế, chính sách động viên các lực lượng giáo dục tham gia HĐTN.
- Việc đánh giá kết quả HĐTN của HS còn khó khăn do chưa xác định được các tiêu chí đánh giá.
2.6.4. Những vấn đề cần giải quyết: Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
Qua việc phân tích những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng, chúng tôi nhận thấy có những vấn đề cần giải quyết như sau:
- Phải nâng cao hơn nữa nhận thức của GV, HS về tầm quan trọng của HĐTN trong nhà trường.
- Tăng cường chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch HĐTN
- Nâng cao vai trò chủ thể của HS trong các HĐTN
- Việc tổ chức các HĐTN phải đảm bảo các điều kiện, phương tiện phù hợp với mục tiêu và yêu cầu của HĐTN.
- Có sự phối hợp trong việc tổ chức và chỉ đạo GVCN, GVBM, cán bộ Đoàn, Đội cùng tham gia thực hiện kế hoạch HĐTN.
- Phải tạo dựng được sự phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục: gia đình – nhà trường – xã hội. Tăng cường phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường cùng tham gia tổ chức HĐTN.
- Hình thức, nội dung của các HĐTN phải phong phú, đa dạng, phù hợp với nhu cầu tâm sinh lí lứa tuổi của HS, yêu cầu đổi mới của xã hội và đổi mới phương pháp dạy học. Nâng cao chất lượng của đội ngũ GV.
- Giải quyết được vấn đề kiểm tra, đánh giá HĐTN và cơ chế khen thưởng, động viên kịp thời.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Qua nghiên cứu thực trạng tổ chức, quản lí HĐTN cho HS trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương, chúng tôi có một số kết luận như sau:
Các trường tiểu học đã tổ chức được HĐTN theo một số hình thức và phương pháp nhất định. CBQL, GV và HS đã có nhận thức tích cực về tầm quan trọng của các HĐTN trong giáo dục. Trong quản lí đã tiến hành lập kế hoạch hoạt động, có sự phân công và phối hợp các lực lượng trong việc thực hiện. Thường xuyên đôn đốc, động viên, bước đầu tạo điều kiện cho GV trong việc tổ chức HĐTN.
Tuy nhiên, so với yêu cầu thực hiện các hoạt động giáo dục trong nhà trường, HĐTN ở các trường tiểu học vẫn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Nội dung và hình thức tổ chức HĐTN cho HS còn nghèo nàn, đơn điệu. Việc quản lí HĐTN của đội ngũ CBQL, GV còn chưa đi vào nề nếp và có chiều sâu, chưa thực sự đóng góp nhiều cho việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. HĐTN chưa được thực hiện một cách toàn diện và khoa học, từ việc xây dựng chương trình kế hoạch, bồi dưỡng đội ngũ CBQL, GV, huy động các lực lượng giáo dục đến việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng và hiệu quả HĐTN và ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến thực trạng trên, trong đó quan trọng nhất vẫn là nhận thức của CBQL và GV, năng lực tổ chức HĐTN và các điều kiện để tổ chức thực hiện hoạt động này trong nhà trường. Ngoài ra, có một số nguyên nhân thuộc về cơ chế, chính sách quản lí và biện pháp quản lí. Những hạn chế và nguyên nhân về mặt cơ chế, chính sách và biện pháp quản lí cần phải có sự nhìn nhận, đánh giá một cách chính xác, làm cơ sở để đổi mới các biện pháp quản lí HĐTN đạt kết quả tốt hơn, khắc phục những hạn chế, yếu kém hiện nay. Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
