Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Một số biện pháp quản lý cơ sở vật chất các trường mầm non công lập tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
Công tác quản lý CBQL còn nhiều hạn chế song cũng đạt được những kết quả nhất định giúp nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường. Vì thế các biện pháp phải mang tính kế thừa các đặc điểm, hiện trạng, những thành tựu và kết quả đã đạt được trong hoạt động quản lý CSVC tại các trường. Biện pháp phải duy trì, phát huy những thành quả đã đạt được và cải tiến, bổ sung hoàn thiện các nội dung còn hạn chế nhằm tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý CSVC của các trường.
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo thực tiễn và khả thi
Các biện pháp được đề xuất phải đảm bảo tính phù hợp với thực tiễn công tác quản lý CSVC trong các trường MNCL trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Các biện pháp phải góp phần khắc phục những hạn chế trong thực tiễn và nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại các trường MNCL tại địa bàn.
Các biện pháp được đề xuất phải đảm bảo tính khả thi, đáp ứng tất cả các điều kiện cần thiết để có thể thực hiện được biện pháp. Cụ thể như đảm bảo các điều kiện pháp lý, phù hợp với các quy định của ngành giáo dục trong lĩnh vực quản lý CSVC, các điều kiện của địa phương và nhất là khả năng thực hiện của các nhà trường MNCL trong phạm vi nghiên cứu.
3.1.3. Nguyên tắc đồng bộ
Các biện pháp được đề xuất phải có cấu trúc logic hợp lý, tiếp cận theo quan điểm hệ thống. Các biện pháp phải có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ nhau tạo nên thể thống nhất trong giúp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý CSVC của các trường MNCL.
3.2. Một số biện pháp quản lý cơ sở vật chất các trường mầm non công lập tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
3.2.1. Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên trong công tác quản lý cơ sở vật chất
- Mục tiêu
Giúp CBQL, GV tiếp tục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của CSVC và công tác quản lý CSVC trong trường học đối với việc đảm bảo chất lượng dạy học và hoàn thành mục tiêu giáo dục của nhà trường.
- Nội dung
Nhà trường thực hiện phổ biến các quy định về quản lý CSVC trong trường học. Hiện một số GV chưa nắm được các quy định cũng như danh sách số lượng, chất lượng CSVC ở nhà trường dẫn đến chưa khai thác hiệu quả CSVC hiện có ở nhà trường. Đẩy mạnh tuyên truyền vai trò, tác dụng và các ứng dụng trong thực tiễn của từng loại CSVC, trang thiết bị nhằm nâng cao hiểu biết về CSVC của nhà trường. Công tác này nhằm thúc đẩy GV đẩy mạnh sử dụng các trang thiết bị vào hoạt động dạy học, trong hoạt động dạy học và chăm sóc trẻ. Nhà trường thực hiện hướng dẫn sử dụng trang thiết bị trong dạy học theo yêu cầu đổi mới giáo dục.
Công tác này nhằm nâng cao năng lực sử dụng trang thiết bị của GV và thúc đẩy vận dụng vào hoạt động dạy học. Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức tự giác, tiết kiệm, bảo quản, bảo vệ trong quá trình sử dụng CSVC, trang thiết bị đối với các thành viên trong nhà trường. Xây dựng các quy định nhằm khuyến khích các sáng kiến hữu ích trong hoạt động sửa chửa, bảo quản CSVC. Qua đó thúc đẩy sự sáng tạo và sự tham gia của các thành viên trong nhà trường trong hoạt động chế tạo, sử dụng và bảo quản CSVC.
- Tổ chức thực hiện Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
Hiệu trưởng chỉ đạo nhà trường thực hiện phổ biến các quy định về quản lý CSVC trong trường học: Để nâng cao nhận thức của CBQL, GV trong công tác quản lý CSVC, trước hết hiệu trưởng cần chỉ đạo nhà trường thực hiện xây dựng và phổ biến các quy định về quản lý CSVC trong nhà trường. Hiện nay các trường tuy đã có nội quy sử dụng CSVC và hướng dẫn sử dụng trang thiết bị, tuy nhiên chưa sát với thực tế từng trường, chưa chặt chẽ, rõ ràng gây khó khăn và làm giảm hiệu quả trong công tác quản lý. Vì thế trong thời gian tới hiệu trưởng các trường cần tăng cường thông tin đến CBQL, GV về các quy định liên quan đến CSVC của trường MNCL hiện hành. Hiệu trưởng chỉ đạo và phối hợp với các tổ chuyên môn, bộ phận quản lý CSVC, phòng kế toán của nhà trường, căn cứ các văn bản pháp luật, quy định có liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản CSVC trường MNCL và tình hình thực tế của từng trường, ban hành quy chế quản lý và sử dụng tài sản CSVC trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi của từng trường.
Đây chính là cơ sở để các trường thực hiện thống nhất quản lý CSVC một cách khoa học và đúng các quy định của pháp luật; Khai thác và sử dụng đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm và hiệu quả kinh tế trong việc quản lý và sử dụng CSVC; Phát huy quyền làm chủ tập thể, dân chủ công khai trong việc quản lý và khai thác sử dụng CSVC trong hoạt động giáo dục và chăm sóc trẻ của nhà trường; Thường xuyên, tăng cường công tác tự kiểm tra, giám sát nội bộ trong quản lý CSVC. Từ đó tăng cường được hiệu quả quản lý, tăng tính tự giác trong thực hiện mua sắm, sử dụng và bảo quản CSVC, trang thiết bị trong nhà trường. Trong quá trình thực hiện nội quy hoặc kết thúc giai đoạn thực hiện (từng học kỳ) nhà trường tổng hợp các báo cáo từ các tổ chuyên môn, GV, CBQL các vướng mắc, hạn chế để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp nhằm tăng hiệu quả công tác quản lý CSVC trong nhà trường.
Hiệu trưởng chỉ đạo và phối hợp với ban giám hiệu, tổ chuyên môn tuyên truyền vai trò, tác dụng và các ứng dụng trong thực tiễn của từng loại CSVC: Nhà trường cần tích cực tuyên truyền vai trò, tác dụng và các ứng dụng trong thực tiễn của từng loại CSVC, trang thiết bị nhằm nâng cao hiểu biết về CSVC của nhà trường trong hoạt động dạy học và chăm sóc trẻ thông qua việc lồng ghép vào các quy định quản lý của nhà trường, các buổi họp tổng kết, các chương trình giao lưu, văn nghệ… Qua đó giúp toàn thể nhà trường hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đảm bảo CSVC, trang thiết bị dạy học trong việc góp phần nâng cao chất lượng dạy học, chăm sóc trẻ, xây dựng trường chuẩn quốc gia để nâng cao chất lượng giáo dục.
Hướng dẫn sử dụng trang thiết bị trong dạy học theo yêu cầu đổi mới giáo dục: Hiệu trưởng chỉ đạo ban giám hiệu, tổ chuyên môn cần thực hiện công tác hướng dẫn sử dụng trang thiết bị trong dạy học, giúp GV vận dụng nhiều và hiệu quả CSVC và trang thiết bị hiện có của nhà trường trong hoạt động dạy học, chăm sóc trẻ, đặc biệt là sử dụng các trang thiết bị hiện đại, công nghệ thông tin, các phần mềm tương tác. Qua đó giúp giáo viên nhận thức được cách thức sử dụng, quy mô sử dụng, các hình thức sử dụng phù hợp nhất của từng loại CSVC trong hoạt động dạy học, chăm sóc trẻ đáp ứng theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
Nâng cao ý thức tự giác, tiết kiệm trong quá trình sử dụng CSVC: Song song với đó là hiệu trưởng cần chỉ đạo nhà trường tiến hành các hoạt động tuyên truyền nâng cao ý thức tự giác, tiết kiệm, bảo quản, bảo vệ trong quá trình sử dụng CSVC, trang thiết bị đến toàn bộ CBQL, GV và nhân viên trong trường. Điều này được thực hiện song song với việc phổ biến quy chế quản lý CSVC trong nhà trường, trong đó có đề ra trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của các phòng, các bộ phận và cá nhân trong hoạt động quản lý CSVC, ngoài ra quy định còn khoán định mức cho từng nhóm lớp, lớp.
Nêu cao tinh thần trách nhiệm trong bảo quản CSVC: Hiệu trưởng cần phải đề ra các quy định về việc gắn quyền hạn với trách nhiệm, nghĩa vụ nhằm giúp tăng cường công tác quản lý, sử dụng, bảo quản hiệu quả CSVC, thiết bị dạy học nhà trường, giúp CBQL, GV cao ý thức tự giác trong xây dựng, tinh thần tiết kiệm, bảo quản, bảo vệ CSVC và thiết bị dạy học trong quá trình sử dụng phục vụ hoạt động dạy học, chăm sóc trẻ.
Khuyến khích các sáng kiến hữu ích trong sửa chửa, bảo quản CSVC: Nhà trường cũng cần xây dựng các quy định, cơ chế và hoạt động nhằm khuyến khích các sáng kiến hữu ích trong sửa chửa, bảo quản CSVC. Cụ thể khuyến khích GV tham gia các hoạt động chế tạo đồ dùng dạy học bằng những vật dụng có sẵn, tái chế phù hợp với hoạt động dạy học, đa dạng trang thiết bị, đồ chơi cho trẻ, giảm chi phí cho nhà trường phải mua sắm. Tham gia góp ý hoặc trực tiếp tham gia hoạt động sửa chửa, bảo quản CSVC trong phạm vi cho phép, phù hợp với khả năng. Sử dụng một phần ngân sách trong mua sắm chi trả, thưởng cho GV, tổ chuyên môn có thành tích trong làm đồ dùng học tập, đồ chơi cũng như công tác sửa chữa bảo quản CSVC.
Với các hoạt động cụ thể, thiết thực như trên sẽ giúp các trường MNCL trên địa bàn thị xã Dĩ An nâng cao nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của CSVC và công tác quản lý CSVC trong việc đảm bảo chất lượng dạy học, chăm sóc trẻ, từ đó giúp nhà trường nâng cao hiệu quả quản lý CSVC và hoàn thành mục tiêu giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay.
3.2.2. Đổi mới xây dựng kế hoạch trang bị, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất
- Mục tiêu:
Giúp các trường MNCL xây dựng được kế hoạch quản lý CSVC đáp ứng nhu cầu của dạy học và chăm sóc trẻ, phù hợp với yêu cầu sự đổi mới chương trình, phương pháp dạy học hiện nay và thực trạng CSVC của từng trường, đảm bảo tính khoa học, hợp lý và tính khả thi trong thực tế.
- Nội dung: Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
Hiệu trưởng nhà trường chỉ đạo ban giám hiệu, tổ chuyển môn tiến hành công tác khảo sát hiện trạng CSVC nhà trường. Qua đó nắm rõ về số lượng, chất lượng và tình hình khai thác sử dụng của CSVC, các trang thiết bị cụ thể. Xác định nhu cầu, khả năng trang bị CSVC của nhà trường. Công tác này sẽ dựa vào hiện trạng CSVC của nhà trường, xu hướng phát triển của nhà trường, khả năng tài chính để xác định về nhu cầu, khả năng trang bị CSVC của nhà trường. Lập kế hoạch mua sắm, trang bị CSVC trong từng giai đoạn. Dựa trên cơ sở xác định về nhu cầu, khả năng trang bị CSVC nhà trường lập kế hoạch chi tiết về mua sắm, trang bị CSVC trong từng giai đoạn. Lập kế hoạch sử dụng các loại CSVC. Dựa trên chi tiết kế hoạch mua sắm, trang bị CSVC trong từng giai đoạn nhà trường lập kế hoạch khai thác, sử dụng phù hợp và hiệu quả. Lập kế hoạch bảo quản các loại CSVC. Dựa trên kế hoạch mua sắm, trang bị và sử dụng CSVC trong các giai đoạn nhà trường đề ra kế hoạch và biện pháp bảo quản phù hợp đối với CSVC, các TTB của nhà trường. Tổ chức thực hiện các loại kế hoạch CSVC. Dựa trên các kế hoạch đã được xây dựng nhà trường tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo các kế hoạch được hoàn thành. Kiểm tra, đánh giá thực hiện các loại kế hoạch CSVC. Nhà trường thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch đúng tiến độ, đúng các nội dung và mục tiêu đề ra của kế hoạch.
- Tổ chức thực hiện:
Hiệu trưởng nhà trường chỉ đạo ban giám hiệu, tổ chuyển môn tiến hành khảo sát hiện trạng CSVC nhà trường: Hiện nay với cơ chế quản lý tài sản công tại các trường MNCL thì các trường còn phụ thuộc vào kế hoạch xây dựng vì thế vấn đề xây dựng, mua sắm, trang bị cơ bản với giá trị cao phụ thuộc nhiều vào cơ quan quản lý. Nhà trường chỉ được giao tự chủ trong một số nội dung mua sắm, trang bị sử dụng giá trị thấp. Chính vì thế công tác lập kế hoạch chưa được quan tâm. Chính vì vậy trong thời gian tới các trường cần phải tích cực đổi mới công tác xây dựng kế hoạch quản lý CSVC trong nhà trường.
Xác định nhu cầu, khả năng trang bị CSVC của nhà trường: Để xây dựng được kế hoạch phù hợp đầu tiên nhà trường cần tiến hành khảo sát hiện trạng CSVC nhà trường. Nhà trường giao cho bộ phận quản lý CSVC (gồm 1 hiệu phó quản lý CSVC, kế toán và một nhân viên phụ trách quản lý CSVC) thực hiện việc kiểm kê, hệ thống hồ sơ sổ sách và hiện trạng, lập bảng thống kê chi tiết từng loại về số lượng, chất lượng của từng loại CSVC, trang thiết bị dạy học, đồ chơi hiện có trong nhà trường.
Lập kế hoạch mua sắm, trang bị CSVC trong từng giai đoạn: Tiếp đến bộ phận quản lý CSVC xác định nhu cầu, khả năng trang bị CSVC của nhà trường. Căn cứ vào các quy định hiện hành về quản lý tài sản công và quyết định số 41/2000/QĐ-BGDĐT của Bộ GD&ĐT về Quy chế thiết bị giáo dục trong trường mầm non, trường phổ thông để so sánh số lượng thực tế với chỉ tiêu được cấp, phê duyệt. Từ đó đánh giá về số lượng CSVC còn thiếu và các trang thiết bị không đảm bảo về chất lượng để lên kế hoạch xây dựng, mua sắm, trang bị phù hợp. Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
Lập kế hoạch sử dụng các loại CSVC: Dựa trên những phân tích, so sánh đã nêu, bộ phận quản lý CSVC sẽ giúp hiệu trưởng trong việc tiến hành lập kế hoạch mua sắm, trang bị CSVC trong từng giai đoạn phù hợp với thực trạng, tiêu chuẩn được phân bổ của nhà trường. Đối với CSVC cần có sự đồng ý của cơ quan quản lý nhà nước thì nhà trường lập danh sách trình lên để được phê duyệt, cung cấp kinh phí hoặc phân bổ xuống để bố trí vào khai thác. Đối với các tài sản nhà trường được quyền tự chủ quyết định mua sắm từ nguồn kinh phí đã có thì nhà trường sẽ lên tự liên hệ nhà cung cấp để thực hiện mua sắm theo quy định và bố trí vào quá trình khai thác một cách hiệu quả. Bên cạnh đó nhà trường cũng đánh giá các khoản thu hoặc các tài sản từ đóng góp của phụ huynh, vận động từ xã hội khác vào kế hoạch xây dựng, mua sắm, sử dụng, sửa chữa, bảo quản phù hợp nhằm phát huy tối đa hiệu quả sử dụng CSVC của nhà trường trong hoạt động dạy học và chăm sóc trẻ.
Lập kế hoạch bảo quản các loại CSVC: Với kế hoạch mua sắm, trang bị CSVC trong từng giai đoạn được lập bộ phận quản lý CSVC cũng sẽ giúp hiệu trưởng tiến hành Lập kế hoạch sử dụng và bảo quản các loại CSVC để đảm bảo hiệu quả trong khai thác, kéo dài thời gian khai thác đối với các loại CSVC, tránh những hư hỏng trong quá trình sử dụng mà không được sửa chữa kịp thời. Lập kế hoạch sử dụng và bảo quản CSVC phải tương thích với kế hoạch xây dựng và mua sắm để gia tăng hiệu quả khai thác, mang lại chất lượng tốt nhất cho hoạt động dạy học và chăm sóc trẻ trong nhà trường.
Tổ chức thực hiện các loại kế hoạch CSVC: Hiệu trưởng sẽ phối hợp với bộ phận quản lý CSVC, ban giám hiệu và tổ chuyên môn trong việc giám sát để việc tổ chức các loại kế hoạch CSVC được thực hiện một cách nghiêm túc.
Kiểm tra, đánh giá thực hiện các loại kế hoạch CSVC: Trong quá trình thực hiện nhà trường cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá các loại kế hoạch xây dựng, mua sắm, trang bị, sử dụng và bảo quản các loại CSVC, qua đó đánh giá các khó khăn, vướng mắc để đề ra những biện pháp khắc phục phù hợp.
Với việc đổi mới xây dựng kế hoạch trang bị, sử dụng và bảo quản CSVC sẽ giúp các trường MNCL trên địa bàn thị xã Dĩ An nâng cao hiệu quả quản lý CSVC tại trường. Qua đó đảm bảo được sự đáp ứng của từng loại CSVC trong từng giai đoạn đối với quá trình dạy học và chăm sóc trẻ. Giúp các trường đáp ứng được các yêu cầu trong mới chương trình, phương pháp dạy học mà ngành giáo dục đã đề ra trong hoạt động giáo dục và chăm sóc trẻ mầm non.
3.2.3. Tổ chức bồi dưỡng năng lực sử dụng cơ sở vật chất cho cán bộ quản lý, giáo viên Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
- Mục tiêu:
Giúp bồi dưỡng cho CBQL, GV năng lực sử dụng CSVC, trang thiết bị, nhất là các trang thiết bị mới, hiện đại, các phần mềm dạy học. Qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC và giảm thiểu những hư hỏng trong quá trình sử dụng CSVC cho hoạt động dạy và chăm sóc trẻ.
- Nội dung:
Thực hiện hướng dẫn quy trình sử dụng, bảo quản CSVC. Cử cán bộ và giáo viên học tập, tham quan, dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng sử dụng CSVC. Mời chuyên gia đến trường bồi dưỡng, tập huấn sử dụng từng loại đồ dùng dạy học. Tổ chức tập huấn, hội thảo, báo cáo chuyên đề trong trường về kỹ năng sử dụng CSVC. Khuyến khích GV tự tìm hiểu mở rộng ứng dụng thiết bị dạy học trong hoạt động dạy học.
- Tổ chức thực hiện:
Thực hiện hướng dẫn quy trình sử dụng, bảo quản CSVC: Để thực hiện biện pháp này trước hết hiệu trưởng cần chỉ đạo các ban giám hiệu, bộ phận quản lý CSVC hướng dẫn quy trình sử dụng, bảo quản CSVC kèm theo quá trình phổ biến quy chế sử dụng, bảo quản CSVC đã được xây dựng đối với tổ chuyên môn và GV. Cụ thể nhà trường cần hướng dẫn quy trình sử dụng, bảo quản đối với từng loại TTB, hạng mục công trình đối với CBQL, GV và cả học sinh. Các đơn vị, cá nhân phải tuân thủ quy trình trong tiếp nhận, sử dụng và hoàn trả các thiết bị, nhất là những thiết bị có giá trị cao. Khi sử dụng xong phải hoàn trả hoàn trả đầy đủ theo đúng số lượng, chất lượng và đúng thời hạn quy định cho nhà trường. Nêu cao tinh thần ý thức và trách nhiệm trong việc sử dụng, bảo quản các tài sản, trang thiết bị của nhà trường, tuân thủ các quy định của nhà trường nhằm đảm bảo hiệu suất sử dụng CSVC đạt tỷ lệ cao nhất. Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
Cử cán bộ và giáo viên học tập, tham quan, dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng sử dụng CSVC: Nhà trường thực hiện cử cán bộ và giáo viên học tập, tham quan, dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng sử dụng CSVC. Các lớp này có thể do Sở, phòng GD&ĐT tổ chức theo định kỳ, theo chương trình hoặc do nhà cung cấp trang thiết bị, phần mềm giáo dục tổ chức để nâng cao hiệu quả khai thác vận hành CSVC, trang thiết bị, các phần mềm. Qua đó giúp CBQL, GV trong nhà trường nắm bắt và làm chủ được quá trình sử dụng, vận hành CSVC, trang thiết bị, phần mềm được trang bị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ dạy học và chăm sóc trẻ trong nhà trường. Nâng cao hiệu quả khai thác các CSVC, trang thiết bị góp phần nâng cao chất lượng dạy học và chăm sóc trẻ ở các trường trong thời gian tới.
Mời chuyên gia đến trường bồi dưỡng, tập huấn sử dụng từng loại TTB: Nếu trường hợp nhà trường xét thấy khả năng sử dụng trang thiết bị không hiệu quả, gây nhiều hư hỏng trong quá trình sử dụng, bảo quản mà không có cơ quan nào tổ chức hướng dẫn thì nhà trường có thể mời chuyên gia đến trường bồi dưỡng, tập huấn sử dụng từng loại TTB. Các trường trong địa bàn có thể kết hợp với nhau để mời các chuyên gia, các cán bộ chuyên môn tham gia bồi dưỡng trực tiếp khả năng sử dụng cho CBQL, GV để giảm chi phí.
Tổ chức tập huấn, hội thảo, báo cáo chuyên đề trong trường về kỹ năng sử dụng CSVC: Nhà trường cũng cần tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo, báo cáo chuyên đề trong trường về kỹ năng sử dụng CSVC. Tại đây GVMN cũng có thể học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm với các đồng nghiệp trong và ngoài trường, đồng thời gia tăng kiến thức vận hành trang thiết bị, phần mềm trong hoạt động dạy học và chăm sóc trẻ. Nhà trường có thể tổ chức kết hợp với một số cuộc thi thể hiện khả năng vận dụng trang thiết bị, phần mềm vào hoạt động dạy học như thiết kế bài giảng điện tử, thực hiện buổi dạy bằng máy tính kết hợp máy chiếu hoặc phần mềm tương tác… Qua đó CBQL, GV sẽ tiếp cận được những vấn đề mới, kỹ năng mới trong sử dụng và thực hành dạy học, chăm sóc trẻ bằng sự hỗ trợ của các trang thiết bị, phần mềm giáo dục, giúp tăng cường hiệu quả sử dụng CSVC trong nhà trường, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
Khuyến khích GV tự tìm hiểu mở rộng ứng dụng TTB trong hoạt động dạy học: Một biện pháp hiệu quả trong nâng cao năng lực sử dụng CSVC cho CBQL – GV là thực hiện khuyến khích CBQL, GV tự tìm hiểu mở rộng ứng dụng TTB trong hoạt động dạy học. Tự học, bồi dưỡng là phương pháp BDCM, kỹ năng sử dụng CSVC, trang thiết bị hiệu quả lâu dài đối với GV. Hiện nay có rất nhiều công cụ hỗ trợ trong hướng dẫn sử dụng, vận dụng trong hoạt động dạy học và chăm sóc trẻ của tất cả các trang thiết bị, phần mềm giáo dục được cung cấp cho các trường miễn phí hoặc có phí. CBQL, GV có thể tìm kiếm trên internet, các website bán hàng trong ngành giáo dục, của các nhà cung cấp để tự học, tự bồi dưỡng. Nhà trường cần tiến hành các hỗ trợ về thời gian, bố trí công việc, hỗ trợ một phần kinh phí và công nhận nổ lực của CBQL, GV qua hình thức tuyên dương, khen thưởng, đưa việc tự bồi dưỡng khả năng sử dụng trang thiết bị trở thành một điểm trong đánh giá GV vào cuối học kỳ, năm học. Từ đó khuyến khích tinh thần tự giác, nhiệt tình, ý thức học tập bồi BDCM, khả năng sử dụng CBQL, trang thiết bị, phần mềm dạy học của CBQL, GV trong nhà trường. Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
Với sự đổi mới trong giáo dục hiện nay thì các trường ngày càng phải tiếp nhận với những loại CSVC, trang thiết bị, phần mềm dạy học mới. Vì thế CBQL, GV cần phải tích cực tham gia bồi dưỡng hoặc tự bồi dưỡng lực sử dụng CSVC cho giúp cập nhật những kiến thức mới, kỹ năng mới, bổ sung về kỹ năng sử dụng, khai thác hiệu quả CBQL, trang thiết bị, phần mềm dạy học mới trong quá trình dạy học và chăm sóc trẻ. Khả năng sử dụng CSVC trang thiết bị của CBQL, GV có tác động trực tiếp và nhanh chóng đến chất lượng dạy học và chăm sóc trẻ trong nhà trường theo yêu cầu đổi mới của ngành giáo dục hiện nay, qua đó sẽ giúp các trường trên địa bàn thị xã Dĩ An nâng cao hiệu quả quản lý CSVC và hoàn thành mục tiêu giáo dục được giao phó.
3.2.4. Tổ chức công tác bảo quản, bảo vệ cơ sở vật chất
- Mục tiêu:
Theo kết quả phân tích khảo sát đã trình bày ở chương 2 cho thấy công tác quản lý bảo quản CSVC chưa đạt hiệu quả cao, nhất là trong tổ chức thực hiện. Chính vì vậy các trường cần phải chú trọng hơn trong nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bảo quản, bảo vệ CSVC trong thời gian tới. Mục tiêu của biện pháp là nâng cao chất lượng công tác bảo quản, bảo vệ CSVC trong nhà trường.
- Nội dung:
Tổ chức kiểm kê, sửa chữa theo định kỳ hoặc đột xuất các hạn mục trường sở, trang thiết bị trong nhà trường. Kiểm tra, đánh giá thực hiện nội quy bảo quản CSVC. Tổ chức tốt phòng thiết bị. Bố trí bộ phận bảo vệ trường học chuyên nghiệp. Phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường bảo vệ, giữ gìn CSVC. Phát huy tinh thần làm chủ của mọi thành viên trong bảo vệ, bảo quản CSVC.
- Tổ chức thực hiện: Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
Trước hết, nhà trường cần tổ chức kiểm kê, sửa chữa theo định kỳ hoặc đột xuất các hạn mục trường sở, trang thiết bị trong nhà trường. Căn cứ vào bảng thống kê tài sản, trang thiết bị nhà trường kèm theo tình hình số lượng, tình trạng sử dụng của từng loại trang thiết bị đã được lập trước đó nhà trường tiến hành các hoạt động sửa chữa định kỳ hoặc đột xuất nhằm tái đưa CSVC, TTB (trang thiết bị) vào sử dụng, khai thác trong quá trình dạy học và chăm sóc trẻ. Quá trình sửa chữa phải được lập bảng ghi chép về tình trạng sau khi sửa chữa, số lượng, chất lượng có thể hoạt động của các hạng mục trường sở, TTB, các phần mềm… và khả năng đưa vào khai thác của chúng. Qua đó báo cáo đến nhà trường để đưa vào các kế hoạch quản lý mua sắm, sử dụng và bảo quản.
Thứ hai, nhà trường tiến hành kiểm tra, đánh giá thực hiện nội quy, quy trình sử dụng và bảo quản CSVC. Bộ phận quản lý CBQL thống kê tình trạng vi phạm nội quy sử dụng và bảo quản CSVC trong nhà trường của các tổ chức, cá nhân; thống kê các trang thiết bị, công trình thường xảy ra các hỏng hóc và các hư hỏng thường xuất hiện ở các trang thiệt bị của nhà trường. Từ đó đánh giá nguyên nhân hư hỏng là do các yếu tố chủ quan hay khách quan. Nếu nguyên nhân do yếu tố chủ quan thì nhà trường cần có biện pháp xử lý cá nhân, tổ chức vi phạm để đảm bảo CSVC được sử dụng đúng mục đích, được người có khả năng khai thác tránh các hư hỏng không đáng có. Nếu nguyên nhân do yếu tố khách quan thì nhà trường sẽ xem xét điều chỉnh nhà cung cấp, điều chỉnh cách khai thác, bảo quản, sửa chữa để nâng cao hiệu quả quản lý CSVC trong nhà trường.
Thứ ba, nhà trường cần tổ chức tốt phòng thiết bị một cách hợp lý. Cụ thể phòng thiết bị cần được thông thoáng, khô ráo không ẩm mốc, mối mọt; có các kệ, tủ để chứa đồ vật dụng, trang thiết bị, máy móc sau khi sử dụng. Vận dụng quy chế bảo quản một cách nghiêm túc. Cụ thể: Tất cả các thiết bị dạy học được quản lý đều phải được ghi vào “Sổ thiết bị giáo dục”; bố trí phân loại và sắp xếp đồ dùng dạy học theo nhóm, theo môn học, theo chủ đề để dễ tìm kiếm và quản lý; Không để hóa chất chung với các thiết bị máy móc như máy vi tính, máy chiếu,…vì dễ bị oxi hóa làm hư hỏng; Khi GV cần sử dụng thiết bị nào phải ghi vào phiếu báo sử dụng thiết bị trước 1 tuần để tránh sự trùng lặp giữa các GV các lớp.
Tại phòng thiết bị bộ phận quản lý CSVC cử nhân viên quản lý (có thể kiêm nhiệm) thực hiện quá kiểm kê, giao nhận, vệ sinh phòng, bảo quản, sửa chữa và thanh lý khi được hiệu trưởng chấp nhận. Cụ thể hóa quyền hạn, trách nhiệm trong bảo quản CSVC đến từng đối tượng sử dụng, bảo quản để có thể xác định rõ người chịu trách nhiệm khi có các sai phạm xảy ra như hư hỏng, mất mát và xác định đầu mối giúp hiệu trưởng quản lý CSVC trong nhà trường. Qua đó giúp nhà trường nâng cao chất lượng công tác bảo quản, bảo vệ CSVC.
Song song đó nhà trường bố trí bộ phận bảo vệ trường học chuyên nghiệp và ban hành quy chế bảo vệ trường mầm non. Theo đó mỗi nhà trường có thể tuyển dụng từ 1 đến 2 bảo vệ để thực hiện công tác bảo vệ tài sản, cơ sở vật chất của nhà trường nhằm đảm bảo ở trạng thái phục vụ tốt đúng mục đích cho công việc quản lý, dạy học và chăm sóc trẻ. Không để xảy ra tình trạng phá hoại, mất cắp, khi tan trường cần phải tắt điện, nước để tiết kiệm, phòng ngừa cháy nổ, đảm bảo an toàn, an ninh cho nhà trường. Trong quá trình thực hiện nhà trường phải đảm bảo bảo vệ đã được đào tạo nghiệp vụ bảo vệ cơ quan hoặc sẽ được bố trí tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ bảo vệ và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn kỹ thuật thuộc lĩnh vực bảo vệ cơ quan, nghiệp vụ có liên quan. Với sự chuyên nghiệp của nhân viên bảo vệ nhà trường sẽ ngăn chặn các hành vi phá hoại bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến sự an toàn, hoạt động tốt của CSVC trong nhà trường, giúp nhà trường quản lý tốt, hiệu quả CSVC được giao. Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
Để nâng cao chất lượng phòng ngừa, tăng mức độ bảo vệ CSVC thì nhà trường cần tổ chức phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường bảo vệ, giữ gìn CSVC. Với việc đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại nhằm phục vụ dạy học và chăm sóc trẻ thì nhà trường cần phải gia tăng các biện pháp bảo vệ các tài sản, trang thiết bị, nhất là trong những thời điểm nghỉ lễ, nghỉ hè có thể bị lợi dụng để kẻ gian đột nhập thực hiện trộm cắp. Chính vì vậy bên cạnh việc phân công giáo viên thay phiên nhau trực tại các điểm trường, bố trí bảo vệ trực ban, nhà trường cần phối hợp với chính quyền địa phương, các gia đình xung quanh trường tham gia bảo quản, bảo vệ CSVC. Qua đó nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ CSVC nói riêng và quản lý CSVC trong nhà trường nói chung.
Nhà trường cần vận động CBQL, GV phát huy tinh thần làm chủ trong bảo vệ, bảo quản CSVC để đảm bảo hoạt động tốt nhất cho mục tiêu giáo dục. CBQL, GV cần phối hợp, tổ chức thay phiên nhau thường xuyên kiểm tra các lớp học, các phòng thiết bị, phòng máy để ngăn ngừa, đảm bảo an toàn, không bị mất trộm, phát hiện hư hỏng, thiệt hại do thời tiết, thiên tai để có biện pháp khắc phục kịp thời các hư hỏng, xuống cấp hay mất mát.
Với các hoạt động cụ thể trên sẽ giúp nhà trường tổ chức công tác bảo quản, bảo vệ CSVC một cách hiệu quả, qua đó nâng cao chất lượng quản lý CSVC, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay.
3.2.5. Tổ chức công tác xã hội hóa trong xây dựng, trang bị cơ sở vật chất Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
- Mục tiêu:
Khi đánh giá về các yếu tố đang tác động làm hạn chế đến hiệu quả quản lý CSVC ở các trường MNNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì công tác xã hội hóa trong vấn đề xây dựng, mua sắm, trang bị CSVC là một trong những yếu tố được các CBQL và GV đánh giá hàng đầu. Kết quả phỏng vấn, các CBQL và GV đánh giá rằng cần thiết phải thúc đẩy công tác xã hội hóa trong xây dựng, trang bị CSVC để nâng cao hiệu quả quản lý CSVC trong thời gian tới.
Mục tiêu của biện pháp là tăng cường sự tham gia của mọi lực lượng xã hội vào công tác xây dựng, trang bị CSVC cho nhà trường, giúp đảm bảo về số lượng, nâng cao chất lượng CSVC, trang thiết bị phục vụ dạy học và chăm sóc trẻ.
- Nội dung:
Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xã hội hóa trong xây dựng, trang bị CSVC. Lập kế hoạch huy động các nguồn lực xã hội hóa CSVC. Xây dựng cơ chế trong xã hội hóa CSVC trường MN. Tăng cường các mối quan hệ phối hợp trong xã hội hóa CSVC. Thống kê và công khai về hoạt động xã hội hóa CSVC của nhà trường.
- Tổ chức thực hiện:
Trước hết các trường cần thực hiện tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xã hội hóa trong xây dựng, trang bị CSVC. Các trường cần chủ động, tích cực tham mưu với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương phối hợp trong thực hiện công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xã hội hoá đối với CBQL, GV trong nhà trường và phụ huynh học sinh, các tổ chức, cá nhân trên địa bàn thị xã, địa bàn nơi trường hoạt động.
Để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền các trường MNCL, tiểu học, THCS cần phối hợp với nhau và với UBND thị xã thành lập Ban chỉ đạo xã hội hóa giáo dục (BCĐ) bao gồm CBQL, GV các trường, kết hợp với Hội phụ nữ, Trạm Y tế và hệ thống phát thanh thị xã. Phân công từng tổ chức, cá nhân trong BCĐ các nhiệm vụ như soạn tài liệu một tuyên truyền, thực hiện tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh theo định kỳ; tổ chức một số buổi tuyên truyền với Ban đại diện cha mẹ học sinh, các gia đình, tập thể trên địa bàn, khích lệ tinh thần tự giác, chủ động và tích cực của cộng đồng trong xã hội hóa xây dựng, trang bị CSVC ở các trường. Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
Chú trọng đến việc tuyên truyền trên sóng phát thanh thị xã nhằm thu hút sự chú ý của người dân đến hoạt động giáo dục tại các trường MNCL nói riêng với những hình thức đa dạng như tuyên truyền về các ngày lễ, ngày hội được tổ chức tại trường, tuyên truyền về cách phòng tránh một số bênh dịch theo mùa, hướng dẫn cho mẹ nuôi con khoa học, các gương điển hình trong công tác xã hội hóa giáo dục ở trường MNCL; công tác xây dựng, mua sắm trang bị CSVC, trang thiết bị nhà trường… Qua đó lồng ghép các vấn đề quản lý CSVC tại các trường MNCL trên địa bàn, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức và hành động của người dân đối với công tác xã hội hóa nói chung và xã hội hóa trong xây dựng, trang bị CSVC trường MNCL nói riêng. Khi người dân đã chú ý đến công tác xã hội hóa nhà trường tiến hành vận động sự đóng góp của người dân, tổ chức bằng các hình thức đóng góp vật chất cho nhà trường dưới các dạng khác nhau; Đóng góp bằng công sức lao động, dịch vụ và chuyên môn trong việc xây dựng, phát triển các hoạt động giáo dục của nhà trường.
Thứ hai, nhà trường tiến hành lập kế hoạch huy động các nguồn lực xã hội hóa CSVC. Với thực trạng CSVC các trường MNCL trên địa bàn còn nhiều hạn chế vì vậy để đảm bảo công tác XHH về CSVC các trường cần phải có kế hoạch. Các trường cần phải lên danh sách các hạng mục công trình, các trang thiết bị cần mua sắm trang bị mới, thay thế hay sửa chữa với những ưu tiên phù hợp với nhu cầu dạy học và chăm sóc trẻ theo chương trình quy định. Kế hoạch phải nêu được về thực trạng CSVC, nhu cầu đầu tư, giá trị đầu tư, giá trị mang lại cho học sinh, các lợi ích khác, thời gian đầu tư và khai thác… nêu lên tính hiệu quả của hạng mục CSVC được XHH làm cơ sở để thực hiện các bước vận động, thu hút các nguồn XHH trên địa bàn.
Thứ ba, nhà trường phải xây dựng cơ chế trong xã hội hóa CSVC trường MN làm cơ sở quản lý và thực hiện. Cơ chế trong xã hội hóa CSVC trong trường phải đảm bảo lợi ích 2 chiều giữa nhà trường và cộng đồng; Có sự đồng thuận, nhất trí, tự nguyện của người tham gia với chủ trương xã hội hóa của nhà trường, không áp đặt hoặc ép buộc; Phù hợp với khả năng của người tham gia xã hội hóa để mang lại hiệu quả cao; Và một điều quan trọng là công tác quản lý hoạt động xã hội hóa cần phải công khai, dân chủ, minh bạch các thông tin để người tham gia biết, bàn, làm và kiểm tra, tạo điều kiện xây dựng mối quan hệ nhà trường – gia đình – xã hội phát triển toàn diện. Khi người dân giám sát được hoạt động XHH nhà trường, biết được mục tiêu, lợi ích và hiệu quả của sự đóng góp sẽ tích cực tham gia và mang lại hiệu quả thiết thực cho hoạt động giáo dục và chăm sóc trẻ tại các trường MNCL.
Thứ tư, nhà trường cần tăng cường các mối quan hệ phối hợp trong xã hội hóa CSVC. Nhà trường cần xác định được các đối tác tiềm năng có thể tham gia đóng góp, thực hiện công tác XHH trong trường như cấp chính quyền địa phương, các ngành, các đoàn thể, tổ chức xã hội, tôn giáo, các cơ sở sản xuất, các gia đình, các cá nhân trong và ngoài nước, đặc biệt là cha mẹ học sinh vì đây là đối tượng có con em được thụ hưởng trực tiếp từ nguồn XHH. Nhà trường cần thiết lập các kênh trao đổi thông tin tại trường, trên các website, qua điện thoại trực tiếp, tổ chức các hoạt động giao lưu, tọa đàm để tạo mối quan hệ gắn kết giữa đối tác và nhà trường. Đối với phụ huynh nhà trường cần gửi sổ liên lạc giữa nhà trường và gia đình, tổ chức các cuộc họp phụ huynh đầu năm, giữa năm và cuối năm; sinh hoạt định kỳ với Ban đại diện hội cha mẹ học sinh. Qua các hình thức trao đổi liên lạc nhà trường sẽ thông tin công khai, minh bạch đến các đối tác, phụ huynh học sinh về tình hình CSVC, nhu cầu đầu tư xây dựng, mua sắm trang thiết bị cũng như hiệu quả mang lại cho con em. Đối với phụ huynh khó khăn nhà trường vận động hị quyên góp ngày công như vậy họ sẽ vui vẽ nhiệt tình ủng hộ. Từ đó sẽ tạo dựng được mối quan hệ thường xuyên giữa nhà trường và các đối tác, phụ huynh học sinh trong công tác xã hội hóa CSVC, giúp nhà trường nâng cao hiệu quả quản lý CSVC ở trường. Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
Thứ năm, nhà trường cần thực hiện thống kê và công khai về hoạt động xã hội hóa CSVC. Hiệu trưởng cần chỉ đạo các bộ phận liên quan tiến hành thống kê và cập nhật liên tục về tình hình quản lý các nguồn lực XHH trong nhà trường như nguồn tài chính, đóng góp vật chất, kế hoạch và tình hình thực hiện đầu tư xây dựng, mua sắm khi sử dụng nguồn lực từ XHH. Hiệu trưởng cần chỉ đạo, hướng dẫn các bộ phận liên quan trong việc trả lời những thắc mắc với các đối tác, phụ huynh học sinh về công tác sử dụng nguồn kinh phí XHH; thường xuyên đánh giá tính hiệu quả, đề cao tính tiết kiệm nhằm mang lại sự hài lòng, tin tưởng, đồng tâm, nhất trí của xã hội trong công tác XHH do nhà trường thực hiện. Qua đó đẩy mạnh hiệu quả công tác XHH của các nhà trường.
Với việc tổ chức công tác xã hội hóa trong xây dựng, trang bị CSVC cụ thể và hiệu quả sẽ giúp các trường MNCL trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương thu hút được sự vào cuộc của các đối tác tiềm năng và phụ huynh học sinh trong hoạt động XHH giáo dục nói chung và XHH cơ sở vật chất nói riêng. Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý CSVC trong nhà trường, thúc đẩy chất lượng dạy học và chăm sóc trẻ ở các trường MNCL trong thời gian tới.
3.3. Tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp
3.3.1. Mục đích, nội dung, phương pháp khảo sát
Mục đích khảo nghiệm là đánh giá tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất trong việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý CSVC tại các trường MNCL trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Tác giả sử dụng bảng câu hỏi khảo sát đối với các đối tượng khảo sát gồm 252 CBQL và GV ở các trường MNCL. Nội dung khảo sát là tóm tắt 5 biện pháp đã đề xuất và nội dung sơ lược của chúng để đối tượng khảo sát đánh giá và cho ý kiến phù hợp. Bảng gồm nội dung là đánh giá tính cần thiết và đánh giá tính khả thi của từng nội dung chính của các biện pháp, từ đó tác giả sẽ tổng hợp kết quả đánh giá đối với biện pháp đó. Bảng khảo sát sử dụng thang đo Linkert 4 mức độ để tăng mức độ chính xác cho các đánh giá. Cách tính điểm trung bình đã được nêu trong chương 2. Dữ liệu khảo sát sẽ tác giả phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0 và Excell 2021 để tính điểm trung bình, tỷ lệ % đối tượng khảo sát lựa chọn các mức đánh giá của các đối tượng khảo sát đối với từng biện pháp. Từ đó tiến hành so sánh và đánh giá về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
3.3.2. Kết quả khảo nghiệm Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
- Khảo nghiệm biện pháp nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên trong công tác quản lý cơ sở vật chất
- Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm biện pháp nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên trong công tác quản lý cơ sở vật chất
Kết quả đánh giá tính cần thiết và khả thi của biện pháp nâng cao nhận thức của CBQL, GV trong công tác quản lý CSVC được trình bày trong bảng 3.1. Theo đó các nội dung của biện pháp đều được đánh giá ở mức Rất cần thiết với mức điểm trung bình từ 3,51 đến 3,85 điểm. Chỉ riêng nội dung Nêu cao tinh thần trách nhiệm trong bảo quản CSVC được đánh giá Cần thiết với 3,35 điểm trung bình. Điểm trung bình đánh giá cần thiết của biện pháp 3,64 điểm, tương ứng với mức đánh giá Rất cần thiết.
Về tính khả thi của các nội dung biện pháp có 3 nội dung được đánh giá khả thi cao gồm Phổ biến các quy định về CSVC trong trường học; Tuyên truyền vai trò, tác dụng, các ứng dụng trong thực tiễn của từng loại CSVC; Nâng cao ý thức tự giác, tiết kiệm trong sử dụng CSVC. Bên cạnh đó 2 nội dung được đánh giá mức Khả thi gồm Hướng dẫn sử dụng trang thiết bị trong dạy học theo yêu cầu đổi mới giáo dục; Nêu cao tinh thần trách nhiệm trong bảo quản CSVC; Một nội dung đánh giá Ít khả thi là Khuyến khích các sáng kiến hữu ích trong hoạt động sửa chửa, bảo quản CSVC. Điểm trung bình tổng hợp biện pháp là 3,25 điểm trung bình, tương ứng mức đánh giá Khả thi.
Vậy biện pháp Nâng cao nhận thức của CBQL, GV trong công tác CSVC được đối tượng khảo sát đánh giá mức Rất cần thiết và mức Khả thi. Điều này cho thấy CBQL và GV ở các trường MNCL trên địa bàn đánh giá cao về sự cần thiết phải nâng cao nhận thức của CBQL, GV trong công tác quản lý CSVC. Tuy nhiên một số khó khăn về cơ chế quản lý, kinh phí, quyền tự chủ của nhà trường mà một số nội dung trong biện pháp được đánh giá mức khả thi thấp. Tuy nhiên mức đánh giá tổng hợp thì biện pháp vẫn được đánh giá ở mức Khả thi. Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
- Khảo nghiệm biện pháp đổi mới xây dựng kế hoạch trang bị, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất
- Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm biện pháp đổi mới xây dựng kế hoạch trang bị, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất
Kết quả đánh giá tính cần thiết và khả thi của biện pháp đổi mới xây dựng kế hoạch trang bị, sử dụng và bảo quản CSVC được trình bày trong bảng 3.2. Theo đó có 5 nội dung của biện pháp được đánh giá ở mức Rất cần thiết và 2 nội dung được được đánh giá ở mức cần thiết. Điểm trung bình đánh giá cần thiết của biện pháp là 3,35 điểm, tương ứng với mức đánh giá Rất cần thiết. Vậy biện pháp đổi mới xây dựng kế hoạch trang bị, sử dụng và bảo quản CSVC được CBQL và GV đánh giá là Rất cần thiết phải thực hiện nếu muốn tăng cường hiệu quả quản lý CSVC trong các trường MNCL.
Về tính khả thi có 3 nội dung được đánh giá Rất khả thi gồm Khảo sát hiện trạng CSVC nhà trường; Xác định nhu cầu, khả năng trang bị CSVC của nhà trường; Lập kế hoạch mua sắm, trang bị CSVC trong từng giai đoạn; Tổ chức thực hiện các loại kế hoạch CSVC. Bốn nội dung còn lại được đánh giá Khả thi gồm Lập kế hoạch sử dụng các loại CSVC; Lập kế hoạch bảo quản các loại CSVC; Tổ chức thực hiện các loại kế hoạch CSVC; Kiểm tra, đánh giá thực hiện các loại kế hoạch CSVC. Trung bình của biện pháp là 3,21 điểm, tương đương với đánh giá Khả thi.
Với kết quả trên cho thấy vẫn còn một số khó khăn nhất định trong thực hiện biện pháp, cần có biện pháp khắc phục hợp lý trong quá trình thực hiện nhằm nâng cao tính khả thi. Tuy nhiên kết qua cho thấy CBQL, GV vẫn đánh giá cao về tính cần thiết và Khả thi của biện pháp trong vấn đề nâng cao hiệu quả công tác quản lý CSVC ở các trường MNCL trên địa bàn trong thời gian tới.
- Khảo nghiệm biện pháp tổ chức bồi dưỡng năng lực sử dụng cơ sở vật chất cho cán bộ quản lý, giáo viên
- Bảng 3.3: Kết quả khảo nghiệm biện pháp tổ chức bồi dưỡng năng lực sử dụng cơ sở vật chất cho cán bộ quản lý, giáo viên
Phân tích bảng 3.3 cho thấy 1 nội dung được đánh giá Rất cần thiết thực hiện gồm Cử cán bộ và giáo viên học tập, tham quan, dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng sử dụng CSVC. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của CBQL và GV có trình độ trong công tác quản lý CSVC ở các trường được đề cao và cần được cải thiện thông qua đào tạo. Ba nội dung được đánh giá mức Cần thiết gồm Hướng dẫn quy trình sử dụng, bảo quản CSVC; Mời chuyên gia đến trường bồi dưỡng, tập huấn sử dụng từng loại TTB; Khuyến khích GV tự tìm hiểu mở rộng ứng dụng TTB trong hoạt động dạy học. Và một nội dung được đánh giá mức Ít cần thiết là Tổ chức tập huấn, hội thảo, báo cáo chuyên đề trong trường về kỹ năng sử dụng CSVC. Điều này cho thấy sự phân hóa trong đánh giá các nội dung khá cao. Các trường cần chú trọng thực hiện các nội dung có mức đánh giá Rất cần thiết trước và giảm dần theo thứ hạn đánh giá. Trung bình đánh giá cần thiết của biện pháp là 2,91 điểm trung bình, tương ứng với mức Cần thiết. Về mức độ khả thi điểm trung bình đó là 2,69 điểm, tương ứng với mức điểm Khả thi theo quy ước.
Kết quả cho thấy biện pháp được đánh giá với mức Khả thi và Cần thiết. Tuy nhiên so với các biện pháp khác thì mức điểm trung bình không cao. Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
- Khảo nghiệm biện pháp tổ chức công tác bảo quản, bảo vệ cơ sở vật chất
- Bảng 3.4: Kết quả khảo nghiệm biện pháp Tổ chức công tác bảo quản, bảo vệ cơ sở vật chất
Kết quả phân tích bảng 3.4 cho thấy hầu hết các nội dung được đánh giá ở mức Rất cần thiết với mức điểm từ 3,47 đến 3,85 điểm trung bình. Riêng nội dung Phát huy tinh thần làm chủ của mọi thành viên trong bảo vệ, bảo quản CSVC được đánh giá Ít cần thiết với 2,40 điểm trung bình. Điều này thể hiện mong muốn của CBQL và GV thông qua quy định, quy chế hơn là phát huy tinh thần thực giác của cá nhân trong bảo vệ, bảo quản CSVC. Trung bình tính cần thiết của biện pháp được đánh giá ở 3,44 điểm, tương ứng với mức Rất cần thiết.
Đánh giá tính khả thi có ba nội dung được đánh giá Rất khả thi gồm Tổ chức kiểm kê, sửa chữa theo định kỳ hoặc đột xuất; Tổ chức tốt phòng thiết bị; Bố trí bộ phận bảo vệ trường học chuyên nghiệp; Phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường bảo vệ, giữ gìn CSVC. Hai nội dung còn lại gồm Tổ chức tốt phòng thiết bị; Phát huy tinh thần làm chủ của mọi thành viên trong bảo vệ, bảo quản CSVC được đánh giá mức Khả thi. Trung bình tính khả thi của biện pháp được đánh giá ở 3,29 điểm, tương ứng với mức Rất khả thi.
- Khảo nghiệm biện pháp tổ chức công tác xã hội hóa trong xây dựng, trang bị cơ sở vật chất
- Bảng 3.5: Kết quả khảo nghiệm biện pháp tổ chức công tác xã hội hóa trong xây dựng, trang bị cơ sở vật chất
Kết quả phân tích bảng 3.5 cho thấy tính cần thiết của biện pháp được đánh giá cao với 3,39 điểm trung bình, tương ứng với mức đánh giá Rất cần thiết. Trong khi đó mức độ khả thi được đánh giá thấp hơn với 2,92 điểm trung bình, tương ứng với mức đánh giá Khả thi.
Kết quả tổng hợp về tính tính cần thiết và tính khả thi cho thấy có 4 biện pháp được đánh giá Rất cần thiết, một biện pháp được đánh giá Cần thiết là Tổ chức bồi dưỡng năng lực sử dụng CSVC cho CBQL – GV. Về tính khả thi thì các biện pháp được đánh giá từ Khả thi đến Rất khả thi. Vậy có thể thấy các biện pháp đều được đánh giá có tính cần thiết phải thực hiện và chúng có tính khả thi trong thực tế thực hiện ở các trường nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CSVC ở các trường MNCL trên địa bàn thị xã. Điều này cho thấy trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả quản lý CSVC ở các trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì các trường MNCL cần phải xem xét thực hiện tốt các biện pháp quản lý mà luận văn đã đề xuất trên đây.
- Bảng 3.6: Tổng hợp kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi
Tác giả thể hiện kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi qua biểu đồ (Biểu đồ 3.1) phản ánh mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất để dễ dàng nhận thấy sự đánh giá của đối tượng khảo sát đến sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp mà tác giả đề xuất. Biểu đồ cho thấy mức đánh giá ở 2 mức là Cần thiết và Rất cần thiết; Khả thi và Rất khả thi.
Biểu đồ 3.1: Mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp
3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
Để tăng tính thuyết phục cho các nhận định tác giả đi đánh giá hệ số tương quan (Pearson) giữa hai nhóm trung bình lựa chọn là nhóm Tính cần thiết và nhóm Tính khả thi để đánh giá độ mạnh của mối tương quan tuyến tính giữa hai nhóm.
- Bảng 3.7: Mối tương quan giữa hai nhóm Tính cần thiết và Tính khả thi
Qua bảng 3.7 cho thấy rằng hai nhóm Tính cần thiết và Tính khả thi không có mối tương quan về số liệu khi hệ số Sig.= 0,074 >0,05 (hệ số mức ý nghĩa đảm bảo độ tin cậy). Điều này có nghĩa là giữa hai nhóm Tính cần thiết và Tính khả thi không ảnh hưởng đến nhau khi đưa ra các đánh giá mức độ tác động của biện pháp, đảm bảo tính chính xác của dữ liệu. Điều này một lần nữa khẳng định các biện pháp mà tác giả đưa ra là cần thiết và có tính khả thi cao.
Tiểu kết Chương 3
Căn cứ vào kết quả phân tích thực trạng với những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý CSVC tác giả đã đề ra 5 biện pháp cấp thiết nhằm khắc phục những hạn chế nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý CSVC ở các trường MNCL tại địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương trong thời gian tới. Các biện pháp Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xã hội hóa trong xây dựng, trang bị CSVC; Lập kế hoạch huy động các nguồn lực xã hội hóa CSVC; Xây dựng cơ chế trong xã hội hóa CSVC trường MN; Tăng cường các mối quan hệ phối hợp trong xã hội hóa CSVC; Thống kê và công khai về hoạt động xã hội hóa CSVC của nhà trường. Các biện pháp được trình bày một cách khoa học, dễ hiểu, dễ thực hiện, phù hợp với thực trạng quản lý CSVC ở 10 trường MNCL trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương hiện nay.
Các biện pháp được tác giả đề xuất được đánh giá cao về cả tính cần thiết và khả thi. Chính vì vậy các biện pháp được đưa ra trong luận văn này sẽ là các biện pháp giúp các trường MNTT trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương nâng cao hiệu quả quản lý CSVC trong nhà trường trong thời gian tới.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
Với mục tiêu đổi mới giáo dục thì bên cạnh việc thay đổi các quan điểm, hình thức và phương pháp dạy học thì CSVC nhà trường cũng cần phải có sự thay đổi để đáp ứng yêu cầu mới. Hiện nay các trường MNCL tại thị xã Dĩ An đang có những thuận lợi khi được sự quan tâm từ nhiều phía, nhất là các cấp lãnh đạo ngành giáo dục trong tạo điều kiện cho nhà trường về nguồn quỹ đất, xây dựng các công trình kiến trúc, phòng học, phân bổ ngân sách trong mua sắm, hướng dẫn sử dụng và bảo quản CSVC phục vụ hoạt động dạy học và chăm sóc trẻ đạt chất lượng.
Bên cạnh đó các trường hiện cũng tồn tại rất nhiều hạn chế trong công tác quản lý CSVC như diện tích nhà trường còn chật hẹp, áp lực quá tải về CSVC do tỷ lệ trẻ trên mỗi lớp vượt quá quy định, diện tích khuôn viên chưa đảm bảo, nhất là các khuôn viên vui chơi ngoài trời, diện tích không gian cây xanh, sân chơi, bãi tập, chưa có phòng tập đa năng. Công tác quản lý chưa được thực hiện một cách thường xuyên, chưa đáp ứng tốt yêu cầu, năng lực quản lý và sử dụng của CBQL cơ sở vật chất còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CSVC trong các trường MNCL trên địa bàn thời gian qua.
Với những thành công và hạn chế trên tác giả đã đề ra được các biện pháp khắc phục những hạn chế và phát huy những thành công của các trường hiện nay. Những biện pháp được đề xuất một cách chi tiết, cụ thể, mang tính khoa học và dễ thực hiện, phù hợp với thực trạng quản lý CSVC ở 10 trường MNCL trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương hiện nay. Các biện pháp đã được khảo nghiệm và cho thấy chúng có tính cần thiết và khả thi cao. Chính vì vậy các trường nếu thực hiện đầy đủ, linh hoạt, mềm dẻo các biện pháp đã nêu trên sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý CSVC ở các trường trong thời gian tới.
2. Khuyến nghị
2.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
Bộ GD&ĐT cần tiếp tục hoàn thiện các quy định để làm căn cứ vững chắc trong để các trường MNCL có thể dựa vào đó để đẩy mạnh xây dựng, mua sắm, trang bị, sử dụng và bảo quản CSVC trường học.
Hoàn thiện chương trình giáo dục mới, tiến hành thúc đẩy việc trang bị cho các nhà trường trong việc xây dựng, mua sắm, trang bị, sử dụng và bảo quản CSVC phù hợp với chương trình mới, sớm đi vào ổn định công tác dạy học trong các trường MNCL trên cả nước.
Tạo điều kiện để nhà trường tự chủ trong xây dựng, mua sắm, trang bị, sử dụng và bảo quản CSVC. Cho phép các trường đẩy mạnh hoạt động XHH giáo dục trong nhà trường nói chung và vấn đề phát triển CSVC nói riêng. Tạo cơ chế xã hội hóa mạnh mẽ trong mua sắm, đầu tư CSVC trong trường mầm non.
2.2. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương
Sở GD&ĐT tỉnh Bình Dương cần khảo sát, nắm chắc thông tin về CSVC tại các trường MNCL trên địa bàn, lên kế hoạch và thực hiện các kế hoạch đầu tư cho các trường MNCL trong tỉnh trong việc xây dựng, mua sắm, trang bị, sử dụng và bảo quản trong khoản kinh phí được cho phép; thường xuyên tổ chức các khóa tập huấn, các lớp bồi dưỡng nghịêp vụ quản lý CSVC trường học cho cán bộ quản lý CSVC trong các trường MNCL.
Đề xuất với UBND tỉnh tăng cường ngân sách đầu tư cho giáo dục mầm non, tương xứng với tiềm năng phát triển, đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội trong nuôi dạy và chăm sóc trẻ.
Xây dựng quy định gán quyền đi đôi với trách nhiệm cho từng đối tượng cụ thể trong công tác xây dựng, mua sắm, trang bị, sử dụng, bảo quản và thanh lý CSVC các trường MNCL.
Biên soạn và cung cấp cho các trường tài liệu hướng dẫn, dụng cụ bảo dưỡng CSVC trường học cho các trường MNCL đối với các công trình, trang thiết bị Sở cung cấp, phân bổ nhằm tăng cường khả năng khai thác, sử dụng và bảo quản các trang thiết bị dạy học.
Sở GD&ĐT cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra quản lý CSVC trường học. Khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có ý thức bảo quản, giữ gìn, đóng góp xây dựng CSVC trường MNCL và công bố thông tin điển hình để các trường khác noi theo học tập.
2.3. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo
Hướng dẫn cụ thể công tác quản lý CSVC trong các trường MNCL như hoạt động xây dựng, mua sắm, trang bị, sử dụng, bảo quản và thanh lý CSVC.
Tham mưu cho Sở GD&ĐT, UBND thị xã trong việc đầu tư vào các nhà trường, hạn mục CSVC của từng trường cho phù hợp nhằm tăng cường tính hiệu quả trong công tác quản lý CSVC của các trường học.
Phòng GD&ĐT cũng cần thường xuyên thanh tra, kiểm tra tình hình quản lý CSVC các trường hàng tháng, quý, năm để chấn chỉnh kịp thời các đơn vị có ý thức bảo quản, giữ gìn CSVC kém.
2.4. Đối với các trường mầm non công lập
Các trường MNNCL cần tích cực đánh giá, xem xét điều kiện thực tế để thúc đẩy thực hiện các biện pháp đã đề xuất trong luận văn này. Các biện pháp bao gồm Nâng cao nhận thức của CBQL, GV trong công tác quản lý CSVC; Đổi mới xây dựng kế hoạch trang bị, sử dụng và bảo quản CSVC; Tổ chức bồi dưỡng năng lực sử dụng CSVC cho CBQL, GV; Tổ chức công tác bảo quản, bảo vệ CSVC; Tổ chức công tác xã hội hóa trong xây dựng, trang bị CSVC.
Tùy vào điều kiện thực tế của các trường mà có thể thực hiện đồng loạt hoặc theo thứ tự riêng lẻ các biện pháp, tuy nhiên cần phải đảm bảo tất cả các biện pháp được thực hiện thì mới đảm bảo nâng cao hiệu quả quản lý CSVC ở các nhà trường.
Qua nghiên cứu này cho thấy, để nâng cao hiệu quả quản lý CSVC ở các trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương trong thời gian tới các trường cần phải thực hiện đầy đủ các biện pháp mà luận văn đề xuất. Bên cạnh đó nhà trường MNCL cần phải thu hút sự hỗ trợ từ các cấp quản lý giáo dục tại địa phương để đẩy nhanh kết quả quản lý CSVC trong nhà trường trong thời gian tới. Luận văn: Biện pháp QL cơ sở vật chất các trường MN công lập.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
