Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, nhu về cầu nguồn nhân lực chất lượng cao có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự thành công trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước ta. Trong các kỳ họp, kỳ Đại hội Đảng ta đều dành thời gian thảo luận về đổi mới giáo dục và đào tạo. Tìm nguyên nhân của sự yếu kém, hạn chế, chưa làm được và hướng giải quyết vấn đề này. Nghị quyết số 29 – NQ/TW, Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI có nêu: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội Chủ nghĩa và hội nhập quốc tế…”[21]. Nhận thức được vấn đề này, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững…”[1]. Tuy nhiên, có thể thấy trong những năm qua chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của việc hội nhập cũng như nhu cầu của các doanh nghiệp. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) về chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước ở Châu Á tham gia xếp hạng. Chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực Việt Nam đạt 3,39/10 điểm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 73/133 nước được xếp hạng.

Trường Đại học Hùng Vương Là ngôi trường có bề dày lịch sử được thành lập ngày 29 tháng 04 năm 2011 theo Quyết định số 81/2011/QĐ – TTg của Thủ Tướng Chính phủ, trên cơ sở của Trường Cao đẳng Sư phạm Phú Thọ – có bề dày truyền thống hơn 55 năm.

Sứ mạng của Trường Đại học Hùng Vương là trường Đại học đa ngành, đa cấp đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao; một trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của Tỉnh Phú Thọ và khu vực. Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Có thể khẳng định rằng mối gắn kết bền vững giữa các trường Đại học và doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm đào tạo của trường, đồng thời là nguồn nhân lực chất lượng đầu vào của doanh nghiệp. Vì vậy, xây dựng và củng cố mối gắn kết bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp trong việc phát triển nguồn nhân lực là yêu cầu cấp bách, là nhiệm vụ bắt buộc và là đòi hỏi của xã hội. Nhà trường và doanh nghiệp cần phải có những giải pháp đồng bộ và tối ưu nhằm xây dựng và phát triển mối gắn kết bền vững.

Nhà trường luôn tăng cường mối quan hệ giao lưu, hợp tác và đào tạo gần 200 các cơ quan; doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, đây là cơ hội trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm công tác giữa Trường Đại học Hùng Vương với doanh nghiệp, tiến tới sự phối hợp trong tổ chức hoạt động của nhà trường, tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, sự phát triển của nhà trường, bên cạch đó nhà trường cũng luôn chú trọng tới việc phối hợp đào tạo cho sinh viên các khoa tới các doanh nghiệp để thực hành thực tập nâng cao tay nghề tích lũy thêm về kiến thức thực hành thực tập cho bản thân giúp các em có tay nghề tốt trước khi ra trường cũng như câu nói của: Hồ Chủ tịch “Học phải đi đôi với hành. Học mà không hành thì vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Để có kết nối nhà trường, doanh nghiệp và người học nhằm tăng cường sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực. Đổi mới và tăng cường công tác quản lý của nhà nước trong việc xây dựng mối gắn kết bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp; nhà trường gắn kết với doanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình đào tạo. Doanh nghiệp cần có kế hoạch cụ thể và lâu dài trong việc phát triển nguồn nhân lực của thông qua cử người đi học tại các trường, trung tâm, đi tu nghiệp nước ngoài, mời hoặc tuyển dụng. Đồng thời, đối với người học, khi đã chọn trường và ngành học thì cần xác định rõ tầm quan trọng của ngành nghề để có cách tiếp nhận và học tập đúng đắn.

Tuy nhiên thực trạng việc triển khai phối hợp đào tạo giữa trường đại Đại học Hùng Vương với các doanh nghiêp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ chưa đạt kết quả mong muốn. Vì vậy, tôi thực hiện nghiên cứu: “Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”.

Với những đề xuất quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiêp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và những mong muốn chất lượng Giáo dục quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiêp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ càng tốt hơn.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học và thực trạng phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiêp tỉnh Phú Thọ tác giả đề xuất quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiêp tỉnh Phú Thọ cho phù hợp với yêu cầu phát triển giáo dục toàn diện sinh viên, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và đất nước.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Hoạt động phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiêp.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiêp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

4.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu trong phạm vi tìm hiểu thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiêp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

4.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiêp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Bao gồm các doanh nghiệp: Công ty CP Viễn Thông FPT, Công ty Trách nhiệm hữu hạn ĐTK Phú Thọ, Viettel chi nhánh Phú Thọ, Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi CP, Công ty giống vật tư nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam, Công ty CP Tập đoàn Hòa Bình Minh, Trung tâm Phát triển Việc làm và Xuất khẩu Lao động (VIRASIMEX), Ngân Hàng Vpbank FC- Smanet, Trung tâm Dịch vụ Việc làm Phú Thọ, Trung tâm tiệc cưới và sự kiện Văn Lang, Công ty CP Kim Quy, …

Nhưng do điều kiện về thời gian nghiên cứu tôi xin tập trung vào Giới hạn khách thể điều tra: Tổng – số 270 người (50 cán bộ quản lý, chuyên gia các doanh nghiệp; 50 cán bộ quản lý, giảng viên trường ĐHHV; 170 sinh viên đang học, sinh viên đã ra trường và đang làm ở các doanh nghiệp).

5. Giả thuyết khoa học Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Trong những năm qua, công tác quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã đạt được nhiều kết quả. Tuy nhiên, trong quá trình quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp còn một số tồn tại, chưa đạt kết quả như mong muốn. Nếu áp dụng một cách đồng bộ các biện pháp: : Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ như tác giả luận văn đề xuất, có khả năng nâng cao chất lượng phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiêp nói riêng và góp phần phát triển ngồn nhân lực cho tỉnh Phú Thọ và đất nước nói chung.

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ.
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ.
  • Đề xuất một số biện pháp quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
  • Khảo sát ý kiến về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập và đọc các tài liệu lý luận, các văn bản pháp qui, các công trình nghiên cứu khoa học về quản lý giáo dục, quản lý phối hợp đào tạo với các doanh nghiệp. Từ đó phân tích và tổng hợp các vấn đề lý luận liên quan đến luận văn.

Phân tích và tổng hợp các quan niệm về quản lý giáo dục, quản lý phối hợp đào tạo với các doanh nghiệp; công tác quản lý của Ban giám hiệu đối với việc phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ.

7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Bảng hỏi sinh viên về các địa điểm thực hành thực tập, tại nơi nhà trường liên hệ phối hợp liên kết đào tạo thông qua quá trình sinh viên được trải nghiệm thực tế sau mỗi nội dung thực hành thực tập các kỳ học.

Bảng hỏi giảng viên về những công việc phối hợp đào tạo với các danh nghiệp liên kết đào tạo; những biện pháp quản lý phối hợp đào tạo.

Bảng hỏi Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng về công tác quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiêp và những biện pháp quản lý có hiệu quả đối với việc phối hợp đào tạo giữa trường và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Bảng hỏi sinh viên về việc phối hợp đào tạo

  • Phương pháp quan sát

Quan sát đào tạo sinh viên trong thời gian thực tập rèn nghề và công tác quản lý đối với phối hợp đào tạo trong các doanh nghiệp sinh viên được thực hành, thực tập.

  • Phương pháp phỏng vấn:

Phỏng vấn sinh viên, doanh nghiệp liên kết để làm rõ thực trạng quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp của Hiệu trưởng. Phỏng vấn giảng viên và cán bộ quản lý đế làm rõ thực trạng quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp

  • Phương pháp chuyên gia

Xin tư vấn thêm từ các chuyên gia có kinh nghiệm về phối hợp đào tạo và cán bộ quản lý có kinh nghiệm quản lý đào tạo liên kết giữa trường và doanh nghiệp.

  • Nghiên cứu sản phẩm: Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Phân tích những sáng kiến về quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp và kế hoạch quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học với các doanh nghiệp của một số Hiệu trưởng.

7.3. Phương pháp xử lý thông tin

Phương pháp thống kê trong toán: Sử dụng phương pháp thống kê trong toán đế xử lý và phân tích các số liệu từ các bảng hỏi thu thập được.

8. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục; luận văn được cấu trúc thành ba chương như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học với các doanh nghiệp.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
  • Chương 3: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học Hùng Vương với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHỐI HỢP ĐÀO TẠO GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VỚI CÁC DOANH NGHIỆP

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới hiện nay, việc quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học và các Doanh nghiệp là xu thế tất yếu và là quá trình tương hỗ mật thiết với nhau vì lợi ích của cả hai phía và lợi ích chung của toàn xã hội. Đào tạo theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp đã được áp dụng từ rất lâu ở các nước có nền giáo dục phát triển, như Mô hình kép của Đức và các quốc gia nói tiếng Đức như: Áo và Thụy Sỹ. Theo mô hình này, việc đào tạo nghề được tiến hành song song giữa nhà trường với doanh nghiệp. Người học được trang bị các kiến thức và kĩ năng cơ bản tại các trường nghề, sau đó họ được rèn luyện và phát triển kĩ năng nghề nghiệp tại các cơ sở sản xuất. Doanh nghiệp được phép tham gia rộng rãi vào hoạt động đào tạo nghề thông qua các quy định của nhà nước được thể hiện cụ thể trong luật dạy nghề. Mô hình đào tạo kép đã khẳng định được tính ưu việt của nó, bởi người học được rèn luyện kỉ luật LĐ, tác phong công nghiệp và năng lực nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp. Vì vậy, trong những năm gần đây có rất nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng mô hình này cho đào tạo nghề, như: Phần Lan, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ… [5]; Mô hình đào tạo linh hoạt của Na Uy. Theo đó, thời gian học nghề của người học là 2 năm. Sau khi tốt nghiệp, họ phải trải qua 2 năm học việc tại doanh nghiệp trước khi chính thức tham gia vào thị trường LĐ. Trong 2 năm đầu học nghề, người học có 50% thời gian học ở trường và 50% thời gian học ở doanh nghiệp [25] Mô hình đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp địa phương của Nhật. Theo đó việc đào tạo tạo nguồn nhân lực có sự tham gia của ba bên, bao gồm: nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan chức năng làm cầu nối [11] Ngay từ những năm 1980, khi đạo luật Bayh-Dole được thông, đạo luật đã tạo ra một mô hình chính sách quốc gia khuyến khích các trường đại học và các tổ chức phi lợi nhuận liên kết với giới doanh nghiệp – dịch vụ trong vấn đề chuyển giao tri thức và khoa học công nghệ. Đạo luật này đã góp chuyển biến mạnh mẽ trong các trường đại học ở Mỹ, thúc đấy sự hợp tác với giới công nghiệp – doanh nghiệp – dịch vụ, đóng góp 40 tỷ USD và tạo ra trên 260.000 việc làm [11]. Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Ở các nước phát triển, sự tham gia của các trường Đại học trong ngành công nghiệp đã trở thành hoạt động quan trọng.

Ở Cộng hòa Liên bang Đức, với nền giáo dục phát triển của thế giới, Đức là một trong những quốc gia đi đầu về các mô hình liên kết giữa các TĐH&DN, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Điển hình như mô hình liên kết từ Trường Đại học (TĐH) Khoa học tự nhiên FH Mainz (Đức) với thành viên của Chương trình đối tác Đại học SAP. Trường FH Mainz có mối quan hệ liên kết với hơn 500 doanh nghiệp (DN) lớn, vừa và nhỏ trong hoạt động đào tạo nhân lực tại nhiều quốc gia trên thế giới, tạo uy tín lớn cho các đơn vị sử dụng lao động [5]. Chương trình đối tác Đại học SAP là một sáng kiến có tính chất toàn cầu, được sự chia sẻ và tài trợ chính từ SAP – một DN hàng đầu trong cung cấp giải pháp và phần mềm quản trị DN. Chương trình đã phát triển mở rộng và có tính toàn cầu, thu hút hơn 800 TĐH tại 36 quốc gia, hơn 2.200 giảng viên và 150.000 sinh viên tham gia, như: Đức, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan… Mô hình này đã kết nối cộng đồng các TĐH&DN, đạt được nhiều thành công trong hoạt động xây dựng chương trình đào tạo; phát triển năng lực giảng viên, sinh viên; cung cấp những công cụ và tài nguyên phục vụ giảng dạy, học tập cho sinh viên ngành công nghệ…

Tại Vương quốc Anh, trong liên kết giữa TĐH&DN về lĩnh vực nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, Anh là quốc gia có nhiều thành công ấn tượng: tỷ lệ vốn mà DN tài trợ cho hoạt động này (so với tổng số vốn tương ứng trong các TĐH) chiếm khoảng 11% (tỷ lệ này ở Thụy Điển là 4% và ở Đức là 8%). Hầu hết các TĐH ở Anh đều có bộ phận chuyên trách với vai trò liên lạc, kết nối, thỏa thuận giữa TĐH&DN trong nghiên cứu và khai thác giá trị thương mại từ các nghiên cứu. Nhiều TĐH thành lập các công ty (sở hữu một phần hoặc toàn bộ) để đầu tư nghiên cứu, thực hiện thí nghiệm, sản xuất thử, khai thác quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích từ việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu [20].

Tại Trung Quốc, những năm gần đây, Trung Quốc đã có nhiều thành công trong hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ thông qua cơ chế hợp tác giữa TĐH&DN. Mô hình này thành công nhờ 3 cơ chế quan trọng, gồm: xây dựng các công viên khoa học, vườn ươm công nghệ và thành lập các công ty đóng vai trò kết nối [20].

1.1.2. Những nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Thời gian qua, giáo dục đại học của nước ta đã phát triển nhanh về quy mô, đa dạng về loại hình đào tạo, ngành đào tạo. Để sinh viên sau khi được đào tạo đáp ứng được yêu cầu của tổ chức, DN, Nhà nước đã có chủ trương khuyến khích các trường ĐH liên kết với DN ngay từ khâu đào tạo, nghiên cứu khoa học. Có thể kể đến một số mô hình liên kết như:

Mô hình của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN): Nhà trường đã triển khai hiệu quả 3 mô hình liên kết: Liên kết trường – viện thuộc hệ thống ĐHQGHN; liên kết giữa các trường của ĐHQGHN với các viện nghiên cứu, DN ngoài ĐHQGHN; mô hình đơn vị phối hợp thuộc liên kết giữa ĐHQGHN với viện nghiên cứu bên ngoài. Trong mô hình liên kết với DN phải kể đến những đối tác tiêu biểu, như: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Ươm tạo DN Công nghệ .. Hiện nay, ĐHQGHN và các đơn vị thành viên đang triển khai hàng chục đề tài, dự án bắt nguồn từ sự hợp tác với DN, các bộ, ngành và địa phương.

Mô hình của TĐH Bách khoa Hà Nội: Một trong những thành công nổi bật của Trường thể hiện qua sự hợp tác với Công ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông trong hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ. Quan hệ hợp tác này đã mang lại nhiều đề tài, dự án và tăng cường năng lực nghiên cứu cho Trường; đồng thời, góp phần tạo nên sự tăng trưởng vượt bậc của Rạng Đông. Hiện nay, hai bên đã có nhiều dự án chung, trong đó có dự án xây dựng hai phòng thí nghiệm chung (01 đặt tại Rạng Đông và 01 tại TĐH Bách khoa Hà Nội), mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả hai bên.

Mô hình của TĐH Nông Lâm – Đại học Huế: Là một trong những TĐH đầu tiên được chọn thí điểm mô hình đào tạo theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE) từ năm 2013. Trường đã nỗ lực hợp tác với DN để đổi mới chương trình đào tạo, giúp sinh viên tiếp cận nhiều hơn với thực tế, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Sinh viên được đào tạo theo Dự án POHE có nhiều cơ hội trực tiếp tham gia các hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh của các cơ quan, DN trong và ngoài nước, như: Lào, Campuchia, Thái Lan… Đến nay, Trường đã có quan hệ hợp tác với gần 500 DN, mang lại cơ hội rất lớn cho người học. Chính điều này giúp sinh viên tự tin, năng động và tìm kiếm được việc làm đúng với sở trường và ngành nghề đào tạo sau khi tốt nghiệp. Theo số liệu khảo sát năm 2021 của TĐH Nông Lâm – Đại học Huế, có 100% sinh viên được đào tạo theo Dự án POHE khi ra trường tìm được việc làm đúng với nghề nghiệp, được các nhà sử dụng lao động đánh giá cao về năng lực nghề nghiệp [13].

Tuy nhiên, xét về tổng thể, việc phối hợp giữa trường ĐH với các DN ở Việt Nam còn hạn chế về số lượng, chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ còn nhiều bất cập, chưa theo kịp sự thay đổi của nền kinh tế. Trong khi đó, sự thiếu hụt thông tin từ cả hai phía, thiếu đầu mối liên lạc trong việc hợp tác là rào cản không nhỏ của việc liên kết này.

Theo số liệu từ Vụ Giáo dục Đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), kết quả nghiên cứu ở 08 trường tham gia dự án giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng do Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai cho thấy, việc phối hợp giữa trường ĐH với các DN là chưa nhiều. Phần lớn các trường chủ yếu thiết lập mạng lưới khoảng 10 DN đối tác chiến lược. Duy nhất TĐH Nông lâm TP. Hồ Chí Minh thiết lập được 120 DN có hợp tác lâu dài và chiến lược. Số lượng DN hợp tác ngắn hạn, không thường xuyên có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm trường, như: TĐH Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam thuộc nhóm có hơn 100 đối tác; nhóm trung bình, như: TĐH Nông Lâm (Đại học Huế), TĐH Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, có 20-40 đối tác; nhóm ít như TĐH Vinh, chỉ có 04 đối tác. Đáng chú ý, việc hợp tác TĐH&DN có vai trò quan trọng đối với việc làm của sinh viên sau khi ra trường. Khảo sát gần 1.400 cựu sinh viên từng tham gia học tập theo Chương trình POHE, cho thấy: có 72,8% cho rằng có thể đáp ứng được các nhu cầu của nhà tuyển dụng; 75,5% cho rằng “công việc thực tập thật sự có ích cho công việc đang làm”; 71,3% đánh giá “công việc thực tập có liên quan nhiều đến công việc thực tế đang làm” [13].

Một số công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học có đề cập trực tiếp về vấn đề quản lý phối hợp đào tạo giữa các cơ sở đào tạo Đại học với các doanh nghiệp nhằm mục đích là nâng cao kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên để sau khi ra trường có thể bắt tay làm ngay tại các doanh nghiệp.

Trên đây là tổng quan một số nét cơ bản về tình hình nghiên cứu, các công trình nghiên cứu khoa học điển hình, các bài báo khoa học, hội thảo liên quan đến phối hợp đào tạo giữa nhà trường ĐH với các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay. Những thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước là những tri thức làm tiền đề cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn của tác giả luận văn.

Với thực tiễn của giáo dục Đại học ở Việt Nam hiện nay là đào tạo ra những con người có những kỹ năng, tư duy, kiến thức mà thị trường lao động sẽ cần trong tường lai gần, cụ thể là đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp. Với quy mô, chất lượng đào tạo…ngày càng tăng của một trường Đại học thuộc địa phương như trường Đại học Hùng Vương đã đáp ứng phần nào nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, nhà trường cũng cần phải liên kết phối hợp đào tạo giữa nhà trường với các doanh nghiệp thiết thực hơn để nâng cao kỹ năng, thái độ nghề nghiệp, để đáp ứng trong giai đoạn nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

1.2. Một số khái niệm Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

1.2.1. Quản lý

Quản lý là gì? Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, tùy thuộc vào cách tiếp cận khác nhau nên ta xem xét các khái niệm của một số tác giả và các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:

Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng – NXB Giáo dục – 1998 thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”[28].

Tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [2]

Paul Hersey và Ken Blanc Hard: “Quản lý là quá trình cùng làm việc thông qua cá nhân, trong nhóm cũng như các nguồn nhân lực khác để hình thành các mục tiêu tổ chức” [22].

F.W Taylor: “Quản lý là biết được các điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất” [7].

Xét từ các khái niệm trên, ta thấy, quá trình tác động của chủ thể quản lý lên khách thể nhằm hướng khách thể đến các mục đích mà chủ thể đã định trước thông qua các biện pháp, cách thức phù hợp với quy luật vận động, phát triển của ý thức, của vật chất, của xã hội. Vậy, ta có thể hiểu quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý để điều khiển, hướng dẫn các hành vi, hoạt động của họ, nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức”.

Theo Henry Fayol (1841-1925) là một kỹ nghệ gia người Pháp, cống hiến lớn nhất của Fayol là xuất phát từ các loại hình “hoạt động quản lý”, ông là người đầu tiên phân biệt chúng thành 5 chức năng cơ bản: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra [9]. Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Theo tác giả Mary Parker Follett thì quản lý là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại. Bà đã đề xuất 4 nguyên tắc phối hợp mà người quản lý cần phối hợp [dẫn theo 15].

Các Mác đã từng viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó. Một người độc lập vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc chỉ cần có nhạc trưởng.” [6, tr.22].

Các Mác đã nói lên được bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển quá trình lao động. Đây là một trong những lĩnh vực hoạt động của trí tuệ, một trong những công việc khó khăn phức tạp nhất trong các lĩnh vực hoạt động của con người. Quản lý đúng đắn dẫn đến sự thành công, tồn tại vững chắc, phát triển. Quản lý sai có thể dẫn đến sự thất bại, suy thoái, biến chất, yếu hèn và đổ vỡ. Mục tiêu cuối cùng là quản lý là “tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi ích của con người”. Thực chất của quản lý là quản lý con người, vì con người, do con người và nhờ con người.

Các tác giả Việt Nam cũng đưa ra nhiều định nghĩa về khái niệm quản lý: Theo Trần Kiểm: “Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hình thành công việc qua nỗ lực của người khác. Hoặc: Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cũng chung một tổ chức” [12]. Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì quan niệm rằng: “Quản lý là một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [10, tr.13]. Các tác giả của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thì cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”. Tác giả Trần Quốc Thành quan niệm: “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt được mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý phù hợp với quy luật khách quan” [23, tr.33]. Trong các bài giảng của mình, Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản” là giữ gìn, “lý” là chỉnh sửa. “Quản lý” là quá trình chủ thể tác động vào khách thể nhằm giữ cho hệ không bị lạc hậu (trì trệ) và rối ren (phát triển không bền vững)” [3].

Tổng hợp các khái niệm và các cách tiếp cận khác nhau về quản lý, cho ta thấy: Quản lý vừa là một nghệ thuật, vừa là một khoa học và quản lý cũng là một hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý nhằm điều khiển, tác động lên đối tượng, khách thể quản lý để đạt được mục tiêu quản lý. Có thể biểu thị sơ đồ khái niệm quản lý như sau:

  • Sơ đồ 1.1. Sơ đồ về khái niệm quản lý

1.2.2. Đào tạo Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách hệ thống nhằm chuẩn bị thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người [31].

Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, đào tạo thường đề cập đến giai đoạn sau sau khi một người đạt đến một độ tuối nhất định, có một trình độ nhất định. Đào tạo là một quá trình có hệ thống nhằm nuôi dưỡng việc tích lũy các kỹ năng, những quy tắc, hành vi hay thái độ dẫn đến sự tương xứng tốt hơn giữa những đặc điểm của người lao động và yêu cầu của công việc.

Luật Giáo dục nghề nghiệp định nghĩa: “Đào tạo nghề nghiệp là một hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được một việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [19, tr.11].

Vậy khái niệm đào tạo không chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến thức về lý luận và thực tiễn cho người học mà còn đề cập đến việc tiếp thu của người học về những kiến thức lý thuyết và thực hành để có được một trình độ kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo thành thục nhất định về nghề nghiệp được học và có thể hiểu đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức kỹ năng nghề, nhằm đắp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, đáp ứng yêu cầu của xã hội về nghề nghiệp được học.

1.2.3. Cơ sở đào tạo

Cơ sở đào tạo là nơi diễn ra hoạt động dạy và hoạt động học, nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học. Một cơ sở đào tạo gồm có: cơ sở vật chất, tài chính phục vụ cho đào tạo, đội ngũ giảng viên, sinh viên, mục tiêu giáo dục, chương trình giáo dục…

  • Cơ sở vật chất, tài chính Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Với một trường Đại học thì vấn đề về thiết bị, phương tiện dạy học và cơ sở vật chất tài chính phục vụ cho đào tạo là rất quan trọng, có vai trò tích cực trong việc hỗ trợ thầy trò để nâng cao chất lượng đào tạo đó cũng là yêu cầu cấp thiết trong công tác giảng dạy và đào tạo hiện nay.

Cơ sở vật chất bao gồm: Phòng học, Phòng thực hành, trung tâm thực nghiện, xưởng thực tập, Phòng thí nghiệp, thư viện, thiết bị phục vụ công tác đào tạo.

Điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học càng tốt, hiện đại, cập nhật công nghệ mới càng nhanh đáp ứng nhu cầu của người học cũng như yêu cầu của xã hội. Do đó, cơ sở vật chất, thiết bị phục cho đào tạo phải theo kịp sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước.

Tài chính cũng là yếu tố quan trong đảm bảo chất lượng đào tạo.Nguồn tài chính gồm thuộc ngân sách nhà nước, đóng góp của doanh nghiệp, các nguồn xã hội hóa trong đào tạo ngành nghề. Vì vậy, nhà trường cần đẩy mạnh công tác xã hội sự nghiệp giáo dục đại học.

  • Mục tiêu đào tạo

Mục tiêu chung của giáo dục đại học theo Luật giáo dục Đại học đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2020: Là đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân [18].

Ở các trường đại học chủ yếu là đào tạo trình độ đại học. Do vậy, mục tiêu cụ thể cho đào tạo trình độ đại học là sinh viên có kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành thành thạo, hiểu biết được tác động của các nguyên lý, quy luật tự nhiên – xã hội trong thực tiễn và có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc ngành được đào tạo.

Phát triển chiến lược giáo dục 2019-2028 theo quyết định số 711/QĐ – TTg ngày 13/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ: Đến năm 2028, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập [4].

  • Chương trình, giáo trình đào tạo Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Chương trình đào tạo là điều kiện không thể thiếu trong quản lý nhà nước đối với hoạt động của các cơ sở đào tạo, được các cấp có thẩm quyền phê duyệt và là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo. Bao gồm hệ thống kiến thức lý thuyết và thực hành được thiết kế đồng bộ với phương pháp giảng dạy, học tập và đánh giá kết quả học tập để đảm bảo người học tích luỹ được kiến thức và đạt được năng lực cần thiết đối với mỗi trình độ của giáo dục đại học.

Chương trình đào tạo được xây dựng trên chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chương trình gồm phần kiến thức bắt buộc theo quy định và phần kiến thức tự chọn tùy theo từng trường, đặc thù của ngành. Trình độ đại học, thời gian đào tạo 4 năm lượng kiến thức tích lũy tương ứng 130 tín chỉ, có những ngành thời gian đào tạo 5 năm thì khối lượng kiến thức tích lũy tối thiểu tường ứng là 150 tín chỉ.

Giáo trình đào tạo cũng tương tự như chương trình đào tạo là những qui định cụ thể, chi tiết của chương trình trong từng môn học. Nội dung giáo trình đào tạo phải thường xuyên được cập nhật kiến thức và công nghệ mới của thời đại thì việc đào tạo nghề mới sát với thực tiễn mà doanh nghiệp và xã hội đề ra.

Xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo hợp lý, sát với thực tiễn sản xuất kinh doanh của nghề đào tạo thì người học dễ dàng nắm vững nghề sau khi tốt nghiệp, là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề hiện nay.

1.2.4. Thị trường lao động

Thị trường lao động là một khái niệm được hình thành khi có sự xuất hiện của sản xuất hàng hóa. Vì vậy, họ tiến hàng các hoạt động mua bán trao đổi được gọi là thị trường. Các nhà kinh tế học cổ điển là người đầu tiên đã nghiên cứu lôgic về thị trường và đã đưa ra khái niệm đầu tiên đó là khái niệm thị trường.

Theo AD. Smith thị trường là không gian trao đổi trong đó người mua và người bán gặp nhau thỏa thuận và trao đổi hàng hóa dịch vụ nào đó, với sự phát triển từ nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ sang nền kinh tế thị trường [dẫn theo 24].

Khái niệm thị trường của AD. Smith chưa bao quát được các vấn đề cơ bản của một thị trường là tập hợp những sự thảo thuận, trong đó người mua và người bán trao đổi với nhau loại hàng hóa, dịch vụ nào đó. Như vậy, khái niệm thị trường của DVBegg là thị trường không có bó hẹp bởi không gian nhất định mà bất cứ đâu có sự trao đổi, thỏa thuận mua bán hàng hóa, dịch vụ thì ở đó có thị trường tồn tại.

Thị trường lao động được hình thành sau thị trường hàng hóa, dịch vụ. Theo C.Mac hàng hóa sức lao động chỉ hình thành sau khi chủ nghĩa tư bản tiến hành cuộc cách mạng về công nghệ sản xuất, nhằm xây dựng một nền sản cuất đại công nghiệp chủ nghĩa tư bản đã thực hiện quá trình tích lũy nguyên thủy tư bản. Vậy thị trường lao động là thị trường dùng để mua bán hàng hóa sức lao động, thị trường lao động là một thị trường cấu thành của thị trường đầu vào đối với quá trình sản xuất kinh doanh, của nền kinh tế thị trường chịu sự tác động của hệ thống các quy luật của nền kinh tế thị trường quy định cung cầu, quy luật giá cả cạnh tranh…

Theo ILO thị trường lao động là thị trường dịch vụ lao động được mua bán thông qua một quá trình mà quá trình này xác định mức độ có việc làm của người lao động cũng như mức độ tiền công và tiền lương.

Tóm lại, thị trường lao động là tập hợp những quan hệ kinh tế, pháp lý, xuất hiện giữa người sở hữu sức lao động (người lao động) và người sử dụng nó (người thuê lao động) về vấn đề chỗ làm việc cụ thể, nơi và hàng hóa và dịch vụ sẽ được làm ra.

1.2.5. Doanh nghiệp Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh các sản phẩm phục vụ đời sống xã hội.

Ở Việt Nam có rất nhiều loại hình doanh nghiệp với các hình thức kinh doanh khác nhau (Luật Doanh nghiệp 2022): Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp nhà nước, nhóm công ty.

Doanh nghiệp nhà nước: là doanh nghiệp do nhà nước quản lý, có vốn đầu tư là 100% của nhà nước, hoạt động phát triển kinh tế nhằm mục tiêu của xã hội.

Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân quản lý. Cá nhân đó đứng ra tổ chức thành lập, quản lý và chịu trách nhiệm về pháp lý thuộc nhóm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Doanh nghiệp chung vốn hay công ty: là doanh nghiệp hay công ty do nhiều thành viên chung vốn để kinh doanh, cùng chia sẻ lợi nhuận và cùng chịu thua lỗ thuộc nhóm Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên, công ty hợp danh.

1.2.6. Chất lượng đào tạo

Chất lượng đào tạo là mối quan tâm hàng đầu của mọi loại hình doanh nghiệp, các hệ thồng kinh tế xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Đối với các doanh nghiệp chất lượng là chìa khóa và sự đảm bảo thắng lợi trong các cuộc cạnh tranh, chiến lĩnh thị trường. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo hiện nay cũng cạnh, tranh gay gắt, thu hút người học và cung ứng sản phẩm sau đào tạo cho thì trường lao động trong và nước ngoài.

Theo quan niệm tuyệt đối và theo quan niệm tương đối.

  • Chất lượng theo quan niệm tuyệt đối:

Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông: “Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [27].

Giáo sư người Mỹ J.Juran đưa ra khái niệm: “Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu”[8].

Theo Từ điển Learners Poket Dictationary: “Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản của một sự việc, sự vật nào đó”[29].

Theo các định nghĩa trên, chất lượng là cái vốn có của mỗi sự vật, nó tồn tại khách quan và mọi người phải thừa nhận nó. Tuy nhiên, trong thực tế không phải lúc nào cũng như vậy. Nhiều khi một sự vật được coi là có chất lượng đối với người này nhưng lại là không có chất lượng đối với người khác, bởi lẽ chất lượng của sự vật chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được sử dụng như thế nào. Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

  • Chất lượng theo quan niệm tương đối:

Theo tiêu chuẩn của Cộng Hòa Pháp NFX 50-109: “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng”.

Có nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng. Tuy nhiên, khái niệm về chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế. Theo điều 3.1.1 của tiêu chuẩn ISO 9000-2000, chất lượng có khái niệm là: “Mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”.

Với khái niệm trên, chất lượng vừa mang tính chủ quan của người đánh giá, vừa thay đổi theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng.

Với quan điểm hiện nay về chất lượng đào tạo có thể được hiểu theo quan niệm tương đối với khái niệm sau đây: “Chất lượng đào tạo là mức độ đạt được so với mục tiêu đào tạo được đề ra nhằm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng”.

Chính vì thế khái niệm chất lượng đào tạo là: Chất lượng đào tạo là mức độ đạt được so với mục tiêu đào tạo được đề ra nhằm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng. Hay hệ thống đào tạo như hiện nay phải mềm dẻo, linh hoạt, có độ thích ứng cao so với mục tiêu đào tạo.

1.2.7. Phối hợp đào tạo

Trong thực tế, phối hợp đào tạo giữa nhà trường với các doanh nghiệp để cùng nhau thực hiện những công việc nào đó, có nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc và yêu cầu vào khả năng của mỗi bên quá trình phối hợp đào tạo nhằm góp phần phát triển sự nghiệp đào tạo nhân lực cho địa phương ấy và cho đất nước đồng thời mang lại lợi ích cho mỗi bên. Do vậy, quan hệ giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp là quan hệ cung – cầu, là quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nhân lực.

Các mức độ phố hợp đào tạo là: Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

  • Phối hợp toàn diện là sự phối hợp trong mọi lĩnh vực, mọi khâu của quá trình đào tạo giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp.
  • Phối hợp có giới hạn là sự phối hợp chỉ thực hiện trong một số lĩnh vực hoặc trong một số khâu của quá trình đào tạo vì hai bên chưa có điều kiện hoặc chưa có nhu cầu phối hợp toàn diện.
  • Phối hợp rời rạc là sự phối hợp chỉ được thực hiện ở một số lĩnh vực, thực hiện không được thường xuyên mà chỉ thực hiện khi có điều kiện.

1.2.8. Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học với các doanh nghiệp

Bước vào thế kỷ XXI, Nhà trường không chỉ còn là thiết chế sư phạm đơn thuần mà trở thành thiết chế hiện thực hóa sứ mệnh của nền giáo dục trong đời sống kinh tế – xã hội. Do vậy biện pháp quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học với các doanh nghiệp có tác dụng quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực nói chung và đội ngũ cán bộ cho tỉnh Phú Thọ nói riêng. Theo đó, Hiệu trưởng nhà trường trong công tác quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học với doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay chính là quản lý các thành tố cấu trúc nên quá trình phối hơp. Cụ thể là:

Phối hợp trong tuyển sinh: Các hình thức phối hợp trong tuyển sinh giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp. Nhà trường đào tạo theo đơn đặt hàng từ cơ sở sản xuất, gửi đơn hàng tới nhà trường yêu cầu đào tạo lực lượng lao động có trình độ, kỹ năng nghề đáp ứng vị trí làm việc sau tốt nghiệp. Căn cứ vào “đơn hàng” nhà trường chủ động thực hiện kế hoạch tuyển sinh có sự tham gia từ phía cơ sở sản xuất. Cơ sở sản xuất cử cản bộ tư vấn nghề nghiệp cùng cán bộ nhà trường tới các trường THPT, THCS tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trong quá trình tuyển sinh đầu vào.

Bên cạnh đó, để đảm bảo chất lượng đào tạo, Nhà trường và cơ sở sản xuất cùng phối hợp xây dựng chuẩn đầu ra cho các ngành đào tạo. Đây được coi là thước đo đánh giá chất lượng đào tạo. Chuẩn đầu ra phải bao quát được chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng, thái độ nghề nghiệp và kỹ năng mềm cần thiết.

  • Phối hợp xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo theo hướng đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp.

Mục tiêu đào tạo chính là sản phẩm, kết quả của quá trình đào tạo. Mục tiêu đào tạo là “nhân cách người học sinh tốt nghiệp đã được thay đổi, cải biến thông qua quá trình đào tạo”. Mục tiêu đào tạo đại học cần được xác định rõ ràng theo hướng “đào tạo ra nguồn năng lực có tay nghề kỹ thuật cao trong thực hành”. Do vậy, mục tiêu phải được xác định trên cơ sở đào tạo nguồn nhân lực có đạo đức nghề nghiệp, kiến thức, kỹ năng nghề, sức khỏe, năng lực và kỹ năng sống cần thiết đáp ứng yêu cầu xã hội về nhân lực có trình độ. Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Nội dung chương trình đào tạo được xây dựng dựa trên yêu cầu thực tế về ngành nghề, cơ sở sản xuất cần, với đinh hướng “đào tạo thật tốt những NLTH cốt yếu cho người học để đáp ứng yêu cầu sử dụng của họ”. Căn cứ vào khung chương trình, vào chuẩn đầu ra của nghề đào tạo, xác định nội dung cụ thể cần được đào tạo theo từng ngành, môn học, thống nhất phân bổ nội dung chương trình theo hướng: tiếp cận thị trường, tiếp cận mục tiêu. Hướng tiếp cận này đòi hỏi phải có sự tham gia của cơ sở sản xuất với tư cách người sử dụng lao động, đồng thời cho phép kế hoạch chương trình đào tạo gắn kết với yêu cầu sử dụng, tạo điều kiện cho người học phát triển NLTH, thuận lợi trong tìm việc sau tốt nghiệp.

Phối hợp trong đảm bảo nguồn nhân lực

  • Phối hợp đảm bảo nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực trong phối hợp đào tạo giữa cơ sở đào tạo với cơ sở sản xuất gồm: GV, CBQL phía nhà trường với các doanh nghiệp. Đây là đội ngũ trực tiếp tham gia vào hoạt động phối hợp đào tạo, quyết định mức độ thành công của phối hợp đào tạo.
  • Phối hợp đảm bảo tài chính, các điều kiện cơ sở vật chất: Tài chính đảm bảo hoạt động phối hợp đào tạo gồm: Ngân sách nhà nước, học phí, các nguồn thu và hỗ trợ khác. Ngoài ra, cơ sở sản xuất có trách nhiệm đầu tư, đóng góp một phần tài chính
  • phí hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực. CSVC, thiết bị nhà xưởng, doanh trại, phòng thực hành….

Theo quan niệm của tác giả luận án, cơ sở sản xuất có thể hỗ trợ nhà trường CSVC phục vụ trực tiếp đào tạo (thiết bị dạy học), khắc phục tình trạng thiếu thiết bị dạy học, tình trạng thiết bị dạy học lạc hậu, lỗi thời không theo kịp bước tiến của khoa học công nghệ. Tuy nhiên để cơ sở sản xuất sẵn sàng hỗ trợ máy móc, thiết bị sản xuất làm công cụ thực tập cho SV, rất cần có chính sách huy động CSVC, thiết bị nhà xưởng phục vụ cho phối hợp đào tạo và chính sách miễn trừ khoản thuế dạy thực hành rèn nghề cho các cơ sở sản xuất.

Phối hợp đào tạo giữa nhà trường với danh nghiệp cho phép người học tiếp cận sự đa dạng trong phương pháp dạy lý thuyết tại nhà trường, thực hành tại cơ sở sản xuất, tiếp cận những trải nghiệm công việc thực tế ở cơ sở sản xuất, phân tích, lựa chọn các học hiệu quả, phát triển năng lực thực hành, học trong thực tế và từ thực tế. Đảm bảo người học có thể làm được “một cái gì đó” và có khả năng làm tốt “cái gì đó” sau thời gian học. Yêu cầu này đòi hỏi người học phải được coi trọng và được coi là trung tâm của hoạt động phối hợp đào tạo.

Phối hợp đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá theo yêu cầu của doanh nghiệp: Kiểm tra, đánh giá không chỉ nhằm thẩm định chất lượng hoạt động mà xem xét hoạt động của nhà trường và doanh nghiệp có phù hợp với mục tiêu đã định hay không; Về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân để kịp thời điều chỉnh; Đổi mới nội dung kiểm tra, bổ sung tiêu chí đánh giá trên để đảm bảo yêu cầu công việc thực tế tại DN.

Kết quả việc làm sau tốt nghiệp cho phép đánh giá hiệu quả phối hợp đào tạo giữa trường ĐH với các DN. Bởi vậy, thiết lập mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo giáo dục đại học và các doanh nghiệp kinh doanh nhằm mục đích hai bên cùng phối hợp, gắn bó để hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau phát triển để đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực đạt chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xã hội.

1.3. Đào tạo nguồn nhân lực và việc làm trong cơ chế thị trường Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

1.3.1. Xác định nhu cầu về nhân lực – xuất phát điểm của đào tạo nguồn nhân lực trong cơ chế thị trường

Để đào tạo gắn được với yêu cầu của sản xuất, của thị trường lao động, điều quan trọng là phải xác định được nhu cầu về nhân lực hàng năm cũng như trong từng kế hoạch 5 năm của ngành. Xác định nhu cầu về nhân lực là một nhiệm vụ rất quan trọng để kế hoạch hóa đào tạo.

Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), xác định nhu cầu về nhân lực nhằm mục đích biết được các nhu cầu ngắn hạn và trung hạn của các cơ sở sản xuất, của thị trường về lao động kỹ thuật để có thể chuyển thành nhu cầu đào tạo.

Xác định nhu cầu đào tạo là một trong những điều kiện để xây dựng các chương trình, kế hoạch đào tạo công nhân kỹ thuật các ngành nghề và trình độ khác nhau một cách có cơ sở khoa học, thực tiễn nhằm đáp ứng tối đa nguồn lao động kỹ thuật cho nhu cầu của các cơ sở sản xuất có hiệu quả trong việc phối hợp đào tạo giữa nhà trường với các cơ sở sản xuất.

Với cơ sở đào tạo nghề xác định nhu cầu đào tạo công nhân kỹ thuật của các cơ sở sản xuất là một trong những tiền đề quan trọng để xây dựng kế hoạch đào tạo và triển khai các chương trình đào tạo một cách có cơ sở khoa học và thực tiễn, nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, của thị trường lao động về chất và góp phần giải quyết hài hòa mâu thuẫn giữa nhu cầu của khách hàng, khả năng của mình bằng cách xác định các ưu tiên trong việc mở các khóa đào tạo theo các trình độ và ngành nghề khác nhau.

1.3.2. Các phương pháp xác định nhu cầu về nguồn nhân lực Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

  • Phương pháp điều tra, phỏng vấn các đơn vị trong ngành

Trong phạm vi hoạt động của mình, các công ty, xí nghiệp, đội sản xuất đều sử dụng học sinh tốt nghiệp của trường hàng năm. Do vậy tổ chức điều tra, phỏng vấn họ để có được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành trước mắt cũng như kế hoạch phát triển nhân lực của các đơn vị trong tương lai gần là điều cần thiết cho việc tổ chức các khóa đào tạo các năm tiếp theo của trường.

Hình thức điều tra về nhu cầu nguồn nhân lực thực hiện bằng cách gửi phiếu đăng ký nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực các hệ hoặc có thể tiến hành hội nghị khách hàng.

  • Phương pháp điều tra theo dấu vết học sinh sinh viên tốt nghiệp ở các doanh nghiệp.

Trên cơ sở đó hoàn thiện hơn về cơ cấu ngành nghề và trình độ nhằm mục đích điều chỉnh các chương trình đào tạo cũng như số lượng tuyển sinh của các ngành nghề và trình độ trong tương lai cho phù hợp với nhu cầu về nhân lực của các cơ sở sản xuất là đối tác của mình để có thể tổ chức các khóa đào tạo cho phù hợp. Ngược lại, các nhà sản xuất cũng hoạch định được kế hoạch phát triển nhân lực để đáp ứng các mục tiêu của sản xuất qua các giai đoạn phát triển.

1.3.3. Đào tạo nguồn nhân lực phải tuân thủ các quy luật của thị trường

Để đào tạo gắn được với việc làm của học sinh tốt nghiệp, cơ sở đào tạo cần quan tâm đến một số vấn đề sau đây:

  • Quy luật cung – cầu

Trong cơ chế thị trường với nền kinh tế nhiều thành phần, xác định nhu cầu đào tạo là bước khởi đầu quan trọng để phát triển đào tạo bởi lẽ nhiệm vụ cơ bản của hệ thống đào tạo là cung cấp nhân lực cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho nhu cầu của thị trường lao động. Thị trường lao động tuy có những nét rất đặc thù, tuy nhiên nó cũng tuân theo những quy luật tất yếu của thị trường, trước hết là quy luật cung – cầu. Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Đào tạo giữ một vai trò quan trọng trong việc cung cấp CNKT cho thị trường lao động. Theo quy luật cung – cầu, nếu đào tạo nguồn nhân lực cho một số ngành nghề và trình độ nào đó đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động về chất cũng như về lượng thì một mặt sẽ tạo điều kiện để sản xuất phát triển mặt khác cũng kích thích thị trường lao động phát triển. Nhưng nếu đào tạo không đủ nguồn nhân lực cho một số ngành nghề nào đó, cung không đủ cho cầu thì sản xuất sẽ không phát triển được và một số doanh nghiệp phải nhập khẩu lao động kỹ thuật. Ngược lại, nếu đào tạo quá nhiều, cung vượt quá cầu thì một số nhân lực được đào tạo ra sẽ không tìm được việc làm và sẽ phải thất nghiệp. Do vậy, đào tạo nhân lực phải gắn với nhu cầu của thị trường lao động luôn biến động.

1.4. Phối hợp đào tạo giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp

1.4.1. Mối liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành”

“Học đi đôi với hành, thực tập kết hợp với lao động sản xuất, đào tạo gắn với sử dụng” đã trở thành một nguyên lý giáo dục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đào tạo nghề. Nguyên lý này đã được các tác giả kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định từ lâu và lịch sử tiến hóa của loài người cũng đã chứng minh rằng loài người muốn tồn tại và phát triển phải thông qua lao động sản xuất. Thế hệ trước truyền thụ lại kinh nghiệm đã có được cho thế hệ sau và giáo dục ra đời. Do vậy, chỉ có học tập gắn với lao động sản xuất thì giáo dục mới phát triển và cũng do vậy nhà trường gắn với doanh nghiệp (cơ sở sản xuất) đã thể hiện nguyên lý “Học đi đôi với hành, học tập kết hợp với lao động sản xuất”.

Mục tiêu đào tạo của bậc giáo dục đại học, chủ yếu là đào tạo trình độ đại học, đào tạo nhân lực, có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý; có kỹ năng thực hành cơ bản, khả năng làm việc độc lập, sáng tạo; có khả năng giải quyết vấn đề thuôc ngành đào tạo; phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Do đó thời gian đào tạo chuyên ngành, trong đó thời gian dành cho học thực hành về chuyên ngành đó cũng phải thực hiện theo quy định của luật Giáo dục. Căn cứ luật Giáo dục năm 2013 và nghị định số 85/2011/NĐ – CP Bộ Giáo dục và Đào tạo ra QĐ số 25/ 2014/QĐ – BGDĐT: 1 học phần là 2 – 5 đơn vị học trình, 1 đơn vị học trình bằng 15 tiết lý thuyết; bằng 30 – 45 tiết thực hành, thí nghiệm, thảo luận; bằng 40 – 90 giờ thực tập tại cơ sở; hoặc bằng 45 – 60 giờ làm tiểu luận, đồ án, khóa luận tốt nghiệp; những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được 1 đơn vị học trình sinh viên dành ít nhất 15 giờ chuẩn bị cá nhân và còn tùy thuộc vào đặc điểm của từng trường mà Hiệu trưởng quy định số giờ, số tiết cho từng học phần. Có thể thấy thời gian cho thực hành, thực tập của sinh viên tại cơ sở là nhiều hơn. Do vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng, thực tập tại cơ sở doanh nghiệp sản xuất đều mang lại hiệu quả thực tiễn cao cho sinh viên về chuyên ngành đào tạo, kỹ năng nghề nghiệp, thái độ và tác phong trong công việc mà khi học trong nhà trường không thể có được. Học đi đôi với hành còn có một ý nghĩa là lý luận phải gắn liền với thực tiễn. Hồ Chủ tịch đã nêu: “Lý luận không có thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn không có lý luận là thực tiễn mù quáng”. Học lý luận phải được kiểm chứng bằng thực tiễn, ngược lại, thực tiễn phải được soi đường bằng lý luận, đó là triết lý của mối quan hệ giữa nhà trường với doanh nghiệp; đặc biệt trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay.

Với lý do trên, sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất là thể hiện tất yếu và hoàn thiện của nguyên lý học đi đôi với hành, thực tập kết hợp lao động sản xuất trong đào tạo nghề nghiệp.

Để thiết lập được sự phối hợp đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp một cách bền vững cần làm sáng tỏ được bản chất của mối quan hệ này. Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Quan hệ cung – cầu: Đào tạo và sử dụng nhân lực có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Đó là quan hệ cung – cầu. Nhà trường là nơi đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp và ngược lại, các doanh nghiệp tiếp nhận nguồn nhân lực từ nhà trường, cơ sở đào tạo để phát triển sản xuất theo yêu cầu của mình. Do vậy, nhà trường cần biết được nhu cầu về nguồn nhân lực của các doanh nghiệp là khách hàng của mình để lập kế hoạch và tổ chức các khóa đào tạo cho phù hợp với ngành nghề và trình độ. Ngược lại, các doanh nghiệp cần hiểu được là khả năng đào tạo của nhà trường để có đơn đặt hàng theo nhu cầu nguồn nhân lực của mình trong từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp.

Trong cơ chế thị trường, mối quan hệ giữa nhà trường và các doanh nghiệp (khách hàng) được thiết lập hình thức hoặc không được tiết lập trên quan hệ xin – cho thì tất yếu dẫn đến tình trạng vừa thừa vừa thiếu nguồn nhân lực như hiện nay, quy luật cung – cầu không được tuân thủ sẽ dẫn đến tình trạng khủng hoảng thừa hoặc thiếu về nhân lực chất lượng cao, kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp bị đình trệ, nền kinh tế chậm phát triển, nhà trường cũng không phát triển.

Quan hệ nhân – quả: Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp còn mang tính triết lý nhân – quả, cái này làm tiền đề cho cái kia và ngược lại. Doanh nghiệp làm ăn phát triển, sản xuất kinh doanh tăng thì nhu cầu về nguồn nhân lực cũng tăng, tạo điều kiện và thúc đẩy hoạt động đào tạo của nhà trường phát triển. Đào tạo càng phát triển, quy mô đào tạo càng tăng và chất lượng đào tạo càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu cả về chất và cả về lượng nguồn nhân lực cung ứng cho doanh nghiệp sản xuất; cứ như vậy bên nọ thúc đẩy và tạo điều kiện cho bên kia phát triển thuận lợi.

Ngược lại, đào tạo trong nhà trường không phát triển cả lượng và chất thì không đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp ắt uy tín và chất lượng nhà trường giảm, sinh viên ra trường không tìm được việc làm, khả năng đầu tư trở lại cho nhà trường từ các doanh nghiệp là không thể có. Bởi vậy, thiết lập mối quan hệ hữu cơ giữa cơ sở đào tạo giáo dục đại học và các doanh nghiệp kinh doanh nhằm mục đích hai bên cùng hợp tác, gắn bó để hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau phát triển.

1.4.2. Một số mô hình về sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

  • Mô hình đào tạo song hành (Dual Training Model)

Đào tạo song hành là mô hình phối hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong quá trình đào tạo nghề nghiệp được tổ chức vừa ở cơ sở đào tạo là nhà trường vừa ở cơ sở kinh doanh. Một số ngày sinh viên học ở trường, thông thường là học lý thuyết, một số ngày sinh viên xuống cơ sở sản xuất kinh doanh thực hành. Tỷ lệ số ngày học ở hai nơi phụ thuộc vào kế hoạch đào tạo, tiến độ và tổ chức quá trình đào tạo. Thời gian đầu của mỗi khóa sinh viên ở trường học lý thuyết là nhiều, càng về cuối khóa thời gian cho thực tập tại cơ sở sản xuất kinh doanh tăng lên. Mô hình này được biểu thị như ở sơ đồ 1.2.

  • Sơ đồ 1.2. Mô hình đào tạo song hành

Mô hình này có rất nhiều ưu điểm: Thứ nhất, tận dụng triệt để ưu thế của mỗi bên (cơ sở đào tạo thiên về giảng dạy lý thuyết, cơ sở sản xuất kinh doanh thiên về dạy thực hành); thứ hai, sinh viên vận dụng lý thuyết ngay vào thực tiễn và nhanh chóng lĩnh hội được những kinh nghiệm của thực tế cũng như các vấn đề nảy sinh trong các tình huống khi bắt tay vào làm mà lý thuyết không thể có được. Mô hình này ngày nay đang phát triển ở nhiều nước trên thế giới.

  • Mô hình đào tạo luân phiên (Sandwich Training Model)

Mô hình đào tạo này gần giống với mô hình đào tạo song hành, được tiến hành ở hai nơi là cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất kinh doanh, chỉ khác mô hình đào tạo song hành ở chỗ việc thay đổi địa điểm học tập không tiến hành song song mà thực hiện sau một giai đoạn học tập nào đó.

Thông thường, sinh viên học tập trong những năm đầu tiên là học lý thuyết và thực hành cơ bản hay còn gọi là kiến tập. Sau đó thời gian kiến tập, sinh viên xuống các cơ sở sản xuất kinh doanh để thực tập, bắt tay vào làm công việc thực thụ vào những năm cuối khóa học. Mô hình này được thể hiện ở sơ đồ

  • Sơ đồ 1.3.Mô hình đào tạo luân phiên

Với mô hình này, thực hành cơ bản và thực tập được xen kẽ, luân phiên tại cơ sở sản xuất kinh doanh. Thực hành cơ bản chỉ để cho sinh viên làm quen những thao tác cơ bản hoặc quan sát, học hỏi để đến khi trực tiếp bắt tay vào làm khỏi bỡ ngỡ và không ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

  • Mô hình đào tạo tuần tự (Sequential Training Model)

Mô hình này, quá trình đào tạo cũng được thực hiện vừa ở cơ sở sản xuất kinh doanh vừa ở cơ sở đào tạo và cũng được chia thành hai loại: thực hành cơ bản và thực tập như ở đào tạo luân phiên. Điểm khác biệt là toàn bộ quá trình đào tạo chia thành giai đoạn: giai đoạn đầu sinh viên học lý thuyết, giai đoạn kế tiếp học thực hành cơ bản.Và kết thúc thì sinh viên chuyển sang giai đoạn thực tập kinh doanh sản xuất theo từng công việc và tốt nghiệp thực hành được thực hiện tại đây trong một thời gian dài. Mô hình này được thể hiện ở sơ đồ 1.4.

  • Sơ đồ 1.4. Mô hình đào tạo tuần tự

1.4.3. Nội dung phối hợp đào tạo giữa trường Đại học với các doanh nghiệp trên địa bàn

Xuất phát từ những cơ sở lí luận như đã nêu phần trên về Mối liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành”, một số mô hình về sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp chúng tôi nhận thấy nội dung phối hợp đào tạo giữa trường Đại học với các doanh nghiệp bao gồm:

  • Quy mô phối hợp đào tạo

Phối hợp giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp đã trở thành mô hình đào tạo hiện nay ở nhiều quốc gia trên thế giới bởi mô hình này có nhiều ưu điểm như:

  • Đào tạo luôn xong hành với sản xuất kinh doanh, với sự phát triển kinh tế của các doanh nghiệp và xã hội.
  • Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao, phù hợp thực tiễn.
  • Chất lượng đào tạo luôn đảm bảo, được nâng cao hơn nữa tạo uy tín cho cơ sở đào tạo
  • Cơ cấu các ngành nghề trong phối hợp đào tạo giữa trường Đại học và các doanh nghiệp

Luôn đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Nhà trường phải có định hướng và lựa chọn các ngành nghề phù hợp đào tạo, cũng ngày càng tăng thêm ngành nghề khác để đáp ứng nhu cầu tất yếu đối với các doanh nghiệp trong địa bàn tỉnh phú thọ và trên cả nước.

  • Phối hợp đào tạo trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo

Phối hợp đào tạo cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng trong việc đảm bảo về chất lượng đào tạo.

Chất lượng đào tạo chính là mức độ đạt được so với mục tiêu đào tạo được đề ra. Trong nhà trường, chất lượng đào tạo phù hợp nhiều yếu tố như động lực chủ quan từ phía sinh viên, yếu tố chất lượng giảng viên, giảng dạy, nội dung học tập, phương pháp kiểm tra đánh giá… Chính vì để nâng cao chất lượng đào tạo những trường cần có những chính sách, đầu tư về kinh phí và thường xuyên cho sinh viên học lý thuyết gắn liền với thực hành, tiếp cận với thực tiễn.

Để đảm bảo các yếu tố trên nhà trường luôn tích cực cho sinh viên các khóa tham gia đi thực hành, thực tập tại cơ sở doanh nghiệp nhằm đảm bảo nội dung thực hành, thực tập và nâng cao tay nghề cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.

  • Phối hợp về đội ngũ giảng viên Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Đội ngũ giảng viên là một trong những yếu tố hết sức quan trọng quyết định quyết định việc mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo và đặc biệt là xây dựng chiến lược phát triển nâng cao trình độ cho giảng viên. Chính vì vậy nhà trường cần phải thường xuyên triển khai công tác bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên cả về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cũng như giao lưu trao đổi kiến thức với đơn vị phối hợp đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay.

  • Phối hợp về chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo của nhà trường phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của nhà trường và tuân theo quy định của BGD & ĐT. Nhà trường phải nhất quán chủ trương đa dạng hoá các loại hình đào tạo, ngoài ra đào tạo theo nhu cầu chung của thị trường và sự phát triển của xã hội. Hằng năm, Chương trình đào tạo phải được chỉnh lý, bổ sung cải tiến theo hướng tiếp cận khoa học công nghệ và gắn đào tạo với yêu cầu của doanh nghiệp.

1.5. Các loại hình tổ chức phối hợp đào tạo giữa cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp

1.5.1. Tổ chức cơ sở đào tạo nằm trong doanh nghiệp

Để đảm bảo đúng tiến độ và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cần một nguồn nhân lực chất lượng cao cung ứng kịp thời, chủ động, ở nhiều quốc gia, các công ty và doanh nghiệp lớn được cơ quan Quản lý Nhà nước về đào tạo cho phép mở các cơ sở đào tạo trực thuộc doanh nghiệp của họ. Cơ sở đào tạo này hoạt động được là nhờ sự quản lý, điều hành, chỉ đạo, đầu tư kinh phí trực tiếp của doanh nghiệp đó. Cơ sở đào tạo này cũng do một phó giám đốc doanh nghiệp điều hành. Giảng viên hầu hết là những người được doanh nghiệp cử ra làm chuyên trách về đào tạo, họ là những người có kiến thức sâu rộng, tay nghề giỏi, nhiều kinh nghiệm thực tế.

Tuyển sinh chính là nhu cầu phát triển nhân lực của doanh nghiệp, do vậy những sinh viên tốt nghiệp tại đây đều được doanh nghiệp bố trí việc làm. Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có điều kiện tối ưu để mở cơ sở đào tạo cho chính doanh nghiệp của mình nên có thể đặt hàng doanh nghiệp đã có điều kiện mở cơ sở đào tạo từ trước đấy.

Nội dung chương trình đào tạo cho dạng đào tạo này có thể được tiến hành theo các chương trình quốc gia do cơ quan nhà nước ban hành hoặc cũng có thể tổ chức theo chương trình và trình độ đào tạo quốc gia được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sau khi sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng theo hệ thống văn bằng quốc gia. Những khóa đào tạo theo yêu cầu riêng của doanh nghiệp, theo một chương trình riêng thì sinh viên tốt nghiệp sẽ được cấp một giấy chứng nhận của cơ sở đào tạo. Bằng tốt nghiệp được công nhận trong phạm vi một quốc gia, còn giấy chứng nhận được công nhận trong phạm vi doanh nghiệp. Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Với loại hình cơ sở nằm trong doanh nghiệp, doanh nghiệp là chủ thể của quá trình phối hợp đào tạo, mọi hoạt động phối hợp đào tạo này đều do doanh nghiệp điều hành.

Ưu điểm của loại hình phối hợp đào tạo này là học lý thuyết gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành, đào tạo gẵn với nhu cầu sử dụng, đáp ứng đúng với nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực của doanh nghiệp theo đúng quy luật cung cầu của cơ chế thị trường. Hơn nữa, nâng cao được chất lượng đào tạo do sinh viên được hành nghề trong khi còn chưa ra trường và còn học hỏi được nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tiếp cận được với những trang thiết bị hiện đại, có thể tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

  • Sơ đồ 1.5. Tổ chức cơ sở đào tạo nằm trong cơ sở sản xuất

Bên cạnh ưu điểm còn có những hạn chế nhất định của loại hình tổ chức phối hợp này và phải có những điều kiện nhất định mới có thể thực hiện. Điều kiện ở đây là doanh nghiệp phải đủ mạnh, có tiềm năng, có nhu cầu cao về nguồn nhân lực có chất lượng. Và điểm hạn chế là lực lượng giảng viên giảng dạy trong các doanh nghiệp chưa có nghiệp vụ sư phạm; nội dung và kế hoạch đào tạo chỉ thiên về công việc chuyên sâu mà không chú trọng đến các kĩ năng.

1.5.2. Tổ chức doanh nghiệp nằm trong cơ sở đào tạo

Với loại hình tổ chức này doanh nghiệp được thành lập ngay trong trường, mọi hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp đều chịu sự quản lý trực tiếp của nhà trường và do một Phó Hiệu trưởng hoặc một người nào đó nhà trường phân công giao nhiệm vụ chịu trách nhiệm và điều hành. Vậy, Trường là chủ thể của việc phối hợp đào tạo này.

Doanh nghiệp nằm trong nhà trường là do nhà Trường đầu tư, xây dựng và được coi là một “xưởng thực hành” của nhà trường. Xưởng thực hành này thực hiện hai nhiệm vụ: một là nơi đào tạo – sinh viên xuống đó thực hành; hai là nơi sản xuất tạo ra nguồn kinh tế cho nhà trường. Như vậy, doanh nghiệp này thực hiện kế hoạch vừa đào tạo thực hành vừa là sản xuất kinh doanh nên phải phối hợp chặt chẽ hai kế hoạch này với nhau để thực hiện tốt hai nhiệm vụ là đào tạo và sản xuất.

Ưu điểm của loại hình tổ chức này là thực hiện học đi đôi với hành, lao động kết hợp với sản xuất, chất lượng đào tạo được nâng cao.

  • Sơ đồ 1.6. Tổ chức đơn vị sản xuất nằm trong cơ sở đào tạo

Nhưng bên cạnh đó còn có những hạn chế là không phải trường Đại học nào cũng có đủ tài lực, vật lực, nhân lực cũng như kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh để mở các xí nghiệp hay doanh nghiệp nhỏ, duy trì và phát triển nó ngày một lớn mạnh, sản phẩm được làm ra có đủ sức canh tranh trên thị trường này. Hơn nữa, do phải lên kế hoạch đào tạo cho các khóa học và phải đạt mục tiêu đã đề ra nên các mặt hàng sản xuất thiếu ổn định việc làm này ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất; đến khách hàng và thương hiệu trên thị trường.

1.5.3. Cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp là những đơn vị độc lập Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Với loại hình tổ chức này, cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào nhau, có sứ mệnh và chức năng riêng của mình, nhưng tự nguyện phối hợp cùng nhau thực hiện đào tạo nghề vì lợi ích chung cả đôi bên. Loại hình tổ chức này rất linh hoạt, mỗi cơ sở đào tạo nghề có thể phối hợp với một hoặc một số doanh nghiệp là đối tác của mình trong dịch vụ đào tạo. Phối hợp giữa cơ sở đào tạo có thể thiết lập mối quan hệ toàn diện với một số doanh nghiệp nhưng cũng có thể chỉ thiết lập sự phối hợp có giới hạn hoặc phối hợp rời rạc với một số doanh nghiệp khác tùy thuộc vào khả năng và nhu cầu của mỗi bên, miễn là phối hợp mang lại hiệu quả cao trong những điều kiện cho phép. Loại hình tổ chức phối hợp này được thể hiện như ở sơ đồ 1.7.

  • Sơ đồ 1.7. Tổ chức phối hợp cơ sở đào tạo và các cơ sở sản xuất độc lập

Loại hình tổ chức này có ưu điểm là tận dụng được thế mạnh của mỗi bên, thậm chí là của từng xí nghiệp khác nhau để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nhằm phục vụ cho lợi ích của đôi bên mà không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ và kế hoạch hoạt động của mỗi bên. Chính nhờ sự mềm dẻo, linh hoạt này mà sự phối hợp có tính khả thi và mang lại hiệu quả cao. Đây cũng là mối quan hệ giữa nhà trường và các khách hàng của mình để nắm bắt được yêu cầu của từng loại khách hàng khác nhau để đáp ứng nhu cầu về nhân lực của họ trong cơ chế thị trường.

Tuy nhiên với loại hình tổ chức phối hợp này, cơ sở đào tạo cũng có những khó khăn trong việc thực hiện. Trước hết là do nhiều đầu mối nên sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý cũng như tổ chức thực hiện phối hợp. Mặt khác, do trình độ công nghệ của các doanh nghiệp có thể khác nhau với các chuẩn chất lượng khác nhau làm cho cơ sở đào tạo khó khăn trong việc xác định chuẩn đào tạo do vậy, trình độ sinh viên tốt nghiệp sẽ không đồng đều.

1.6. Nội dung quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học với doanh nghiệpLuận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

1.6.1. Quản lý phối hợp trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo

Đào tạo đại học khá tốn kém, cần nhiều đến trang thiết bị, các phòng chức năng, phòng thực hành. Nhưng trang thiết bị tại cơ sở đào tạo bao giờ cũng lạc hậu so với sản xuất, bởi lẽ trong cơ chế thị trường cạnh tranh với phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải thay đổi công nghệ và phát triển rất nhanh chóng trong khi cơ sở đào tạo thì ít nhiều vẫn mang tính ổn định.

Bên cạnh đó, việc phối hợp đào tạo này nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, cơ sở đào tạo cần tận dụng năng lực chuyên môn của những kỹ sư hoặc những người trực tiếp kinh doanh giỏi tham gia vào công tác giảng dạy, vì họ là những người thường xuyên đi thực tế, cập nhật kiến thức và kĩ năng của các công nghệ hiện đại, trong khi đó giảng viên ở trường ít có cơ hội được tiếp cận với những tiến bộ kỹ thuật cũng như kinh nghiệm thực tiễn trong công việc.

Do vậy, để đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp cần thiết phải thiết lập sự phối hợp đào tạo giữa nhà trường với các doanh nghiệp, đặc biệt là trong thời gian thực hành và thực tập. Sự phối hợp này mang lại rất nhiều lợi ích:

Với cơ sở đào tạo là nhà trường:

  • Có được những thiết bị hiện đại nhất, mới nhất và đắt tiền mà trường không thể có.
  • Những giảng viên và sinh viên có dịp được nghe, tiếp xúc, trao đổi và làm việc cùng với những con người giỏi nhất của doanh nghiệp để nâng cao chuyên môn cũng như chất lượng đào tạo của nhà trường.
  • Thường xuyên cập nhật, bổ sung và cải tiến được các chương trình đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp.

Với các doanh nghiệp là cơ sở sản xuất kinh doanh:

  • Có cơ hội để theo dõi và tuyển dụng được những sinh viên giỏi, có năng lực thực tế phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp. Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.
  • Có một lực lượng lao động phụ, tiền công rẻ để thực hiện những nhiệm vụ với sản xuất kinh doanh phù hợp.

Với người học:

  • Sinh viên có điều kiện tiếp cận và được sử dụng những phương tiện hiện đại để có thể nhanh chóng hình thành được những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết.
  • Sinh viên có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm sau khi ra trường.
  • Sinh viên có điều kiện tiếp cận với môi trường làm việc thực tế, vận hành máy móc hiện đại, nhịp độ khẩn trương, tác phong công nghiệp. Những điều trên nhà trường không có được.
  • Các doanh nghiệp góp phần kinh phí cho đào tạo và tham gia vào quá trình đào tạo là một hình thức để thể hiện xã hội hóa giáo dục.
  • Với những lợi ích nêu trên cần có sự phối hợp giữa trường – cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong việc thực hiện quá trình đào tạo.

1.6.2. Quản lý về phương pháp và hình thức phối hợp đào tạo giữa trường Đại học với các doanh nghiệp

Một nguyên tắc trong đào tạo là sinh viên cần được học và nghiên cứu càng sát với thực tiễn càng tốt. Cơ sở phối hợp đào tạo với doanh nghiệp trong đào tạo là một xu thế gần như phát triển hiện nay bởi có nhiều ưu điểm:

Gắn đào tạo với yêu cầu về nhân lực của doanh nghiệp: Sinh viên có kiến thức và kĩ năng thực tế, rèn luyện được thái độ cần thiết, nâng cao được chất lượng đào tạo.

Đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp: Sinh viên tốt nghiệp ra trường có việc làm theo đúng trình độ được đào tạo nên nâng cao hiệu quả đào tạo và nâng cao uy tín cho nhà trường.

Việc đánh giá sinh viên tốt nghiệp ngoài kỳ thi do nhà trường tổ chức còn có kỳ kiểm tra do thành viên trong doanh nghiệp đề ra nhằm đảm bảo tính khách quan và thực hiện được nguyên tắc đảm bảo chất lượng trong cơ chế thị trường là “Đáp ứng yêu cầu của khách hàng” Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Do những ưu điểm nêu trên mà là một mô hình đào tạo ở nhiều nước trên thế giới hiện nay.

1.6.3. Quản lý quy mô phối hợp đào tạo

Phối hợp hay liên kết đào tạo giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp đã trở thành mô hình đào tạo hiện nay ở nhiều quốc gia trên thế giới bởi mô hình đào tạo này có nhiều ưu điểm:

  • Đào tạo luôn song hành với sản xuất kinh doanh, với sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp và của xã hội.
  • Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao, phù hợp thực tiễn.
  • Chất lượng đào tạo luôn đảm bảo, được nâng cao hơn nữa tạo uy tín cho cơ sở đào tạo.

Đây cũng là một xu thế ngày càng phát triển rộng rãi hơn nữa trên toàn cầu.

1.6.4. Quản lý phối hợp huy động chuyên gia của doanh nghiệp tham gia đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo

Mặc dù chương trình đào tạo ở trường đại học được xây dựng theo chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định nhưng các trường cũng dựa trên đặc thù của trường mình để cho phù hợp. Hiện nay xu thế phối hợp đào tạo giữa nhà trường với các doanh nghiệp, đặc biệt là trong xây dựng chương trình đào tạo là phổ biến.

Theo cách tiếp cận mục tiêu trong đào tạo là yếu tố quan trọng nhất trong chương trình đào tạo. Nó là cơ sở để xây dựng nội dung chương trình cũng như đánh giá chất lượng đào tạo, đồng thời là định hướng cho người học trong quá trình học tập.

Mục tiêu đào tạo là những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học phải đạt được theo những chuẩn được quy định để hành nghề ngay khi học xong.

Với phương pháp tiếp cận thị trường, những chuẩn này phải xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất chứ không phải do hệ thống đào tạo tự đặt ra như hiện nay. Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Vì vậy, không thể không có sự tham gia của các doanh nghiệp. Mặt khác, nội dung chương trình đào tạo cần được thường xuyên phát triển, cập nhật, hiện đại hóa cho phù hợp với các công nghệ mà các doanh nghiệp đang ứng dụng hoặc sẽ ứng dụng trong tương lai gần. Chỉ có thiết lập được mối liên kết giữa nhà trường và các doanh nghiệp như vậy thì nhà trường mới thực sự đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của doanh nghiệp đó, sinh viên tốt nghiệp mới có cơ hội tìm được việc làm và mới nâng cao được hiệu quả đào tạo.

1.6.5. Quản lý hoạt động tư vấn và tạo việc làm cho sinh viên sau đào tạo

Làm thế nào để tạo được nhiều chỗ làm cho sinh viên mới ra trường. Đó là một nhiệm vụ quan trọng của trường Đại học. Vì vậy, việc đào tạo gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay được trường đại học đặc biệt quan tâm, nhất là tạo điều kiện cho sinh viên học tập tốt nhất, trang bị những kiến thức sát với thực tế, tiếp cận được nhiều nguồn thông tin, tìm và lựa chọn việc làm của sinh viên sau khi ra trường được thuận tiện, dễ dàng hơn. Số lượng sinh viên tốt nghiệp có được việc làm càng nhiều thì càng tạo uy tín lớn cho trường, cũng khẳng định chất lượng đào tạo của nhà trường rõ rệt hơn.

Các doanh nghiệp là những người biết về nhu cầu lao động của mình, biết những vị trí còn thiếu nhân lực, giới thiệu với sinh viên để họ có cơ hội tìm việc làm và doanh nghiệp có cơ hội để chọn được người làm việc phù hợp

1.6.6. Tăng cường quản lý phối hợp giữa nhà trường với các doanh nghiệp nhằm bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên về thực tiễn sản xuất và những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới của nghề

Quản lý phối hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp nhằm tăng cường sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ cũng như muốn nền kinh tế xã hội nước ta thay đổi theo hướng hiện đại hóa về cơ sở vật chất, đa dạng hóa về loại hình, quy mô đào tạo nhất là trong mô hình đào tạo Đại học hiện nay. Do vậy, cần thiết phải có một đội ngũ giảng viên đủ mạnh làm chủ công nghệ mới, biết cách tìm con đường ngắn nhất để dẫn dắt người học đến với tri thức, hình thành kỹ năng chuyên môn, sự thành thạo và niềm đam mê nghề nghiệp.

Vai trò của người giảng viên là rất quan trọng. Họ là những người hướng dẫn, cố vấn, khơi nguồn những điều mới trong học tập nghiên cứu của sinh viên. Năng lực của người giảng viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Việc bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực của giảng viên là cần thiết ở mọi quốc gia, mọi thời đại.

1.7. Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý phối hợp đào tạo nghề giữa trường Đại học với doanh nghiệp

1.7.1. Những nhân tố thuộc về chủ thể quản lý

Chiến lược phát triển đào tạo của nhà trường: Chiến lược phát triển đào tạo của nhà trường tác động đến quá trình đào tạo và quản lý đào tạo. Từ mục tiêu, chiến lược nhà trường sẽ yêu cầu cho công tác đào tạo lập kế hoạch huy động các nguồn lực tham gia vào sự phối hợp đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp. Thể hiện trong sơ đồ 1.8 như sau:

  • Sơ đồ 1.8. Chiến lược phát triển đào tạo của nhà trường Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Yếu tố con người: giảng viên, cán bộ nhà trường, nhân viên, lãnh đạo, doanh nghiệp và HSSV

Nhận thức của đội ngũ giảng viên về quá trình phối hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp.Giảng viên nắm chắc về lý thuyết nhưng thiếu kinh nghiệm thực tiễn, hoặc là đưa sinh viên đến doanh nghiệp chỉ mang tính hình thức, chưa nhiệt tình giảng dạy. Bên cạnh đó việc phối hợp này nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, CSĐT cần tận dụng năng lực chuyên môn của các chuyên gia trong DN tham gia công tác giảng dạy, vì họ là những người thường xuyên cập nhật các kiến thức mới, kỹ năng của các công nghệ hiện đại, trong khi giảng viên của nhà trường ít cơ hội để tiếp cận với các tiến bộ kỹ thuật cũng như kinh nghiệm làm việc. SV nhận thức được việc học tại DN là nới để các em học tập và rèn luyện khả năng thực hành. Đa số các em chăm chỉ học tập và thực hành, nhưng một số ít còn mang tính chất đối phó.

Hình thức và nội dung được triển khai tại các doanh nghiệp mang tính chất then chốt trong quá trình phối hợp đào tạo. Trong đó phải chỉ ra nhiệm vụ của giảng viên, các chuyên gia trong DN tham gia đào tạo, sinh viên một cách rỏ rành, mạch lạc tránh tình trạng giảng viên và chuyên gia của DN dạy cùng một nội dung.Vì vậy, nhà trường và doanh nghiệp cần phải trao đổi, thống nhất với nhau về nhiệm vụ của mỗi bên trong quá trình giảng dạy để tránh trường hợp dạy cùng một nội dung.

1.7.2. Những nhân tố thuộc về khách thể quản lý

  • Cơ sở vật chất và tài chính
  • Tổ chức cho sinh viên thực tập ở các doanh nghiệp
  • Chất lượng đào tạo

Để đủ sức cạnh tranh trên lĩnh vực đào tạo, khẳng định thương hiệu của nhà trường thì nhà trường cần phải có những trang thiết bị hiện đại, phù hợp nhu cầu ngành, của xã hội đặc biệt là trong dạy học chủ yếu là thực hành. Những trang thiết bị ở nhà trường thường lạc hậu so với thực tế, bởi lẽ trong cơ chế thị trường cạnh tranh với sự phát triển nhanh của khoa học và công nghệ, DN phải thay đổi nhanh chóng cập nhật kịp thời công nghệ tiên tiến trong khi đó đào tạo thì ít nhiều vẫn mang tính ổn định, chậm thay đổi hơn so với DN. Về mặt tài chính thì còn hạn chế.

1.7.3. Những nhân tố thuộc về môi trường quản lý

Cơ chế chính sách của nhà nước Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Cơ chế chính sách của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phối hợp đào tạo cả về quy mô và chất lượng, được thể hiện ở những nội dung sau:

  • Khuyến khích hoặc kím hãm sự cạnh tranh, nâng cao chất lượng, có tạo ra môi trường bình đẳng cho các CSĐT cùng phát triển và nâng cao chất lượng hay không
  • Khuyến khích hoặc hạn chế các trường về mở rộng đào tạo và hợp tác.
  • Các chính sách về đầu tư tài chính không ổn định.
  • Chính sách về chuẩn chất lượng trong phối hợp đào tạo.
  • Chính sách về việc làm cho HSSV sau khi ra trường
  • Các quy định của nhà nước về trách nhiệm giữa nghề với các đơn vị sử dụng lao động
  • Nội dung đào tạo của trường Đại học bắt buộc theo quy định của bộ giáo dục và đào tạo, thay đổi chậm chưa phù hợp với nhu cầu xã hội.

Sự phát triển của khoa học

Sự phát triển của khoa học là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình đào tạo của nhà trường. Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ của khoa học công nghệ. Khối lượng kiến thức nghề nghiệp ngày càng phong phú và đa dạng, các công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới ngày càng nhiều. Tại các DN đội ngũ kỹ thuật liên tục đào tạo chuyên sâu về kiến thức mới trong các lĩnh vực trong nước, thậm chí có nhiều doanh nghiệp còn cử đội ngũ cán bộ kỹ thuật đi học tập ở nước ngoài. Đội ngũ kỹ thuật trong các DN tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên với thiết bị mới nên khả năng thực hành nhanh và chính xác.

  • Nhu cầu của xã hội

Xã hội hiện nay đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng đào tạo trong khi đó nội dung đào tạo chưa thay đổi kịp. Bên cạnh đó nhu cầu xã hội thay đổi mỗi năm một khác về số lượng các chuyên ngành trong lĩnh vực nghề nghiệp.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

Sự ra đời của Luật giáo dục 2013 và sửa đổi năm 2017, Nghị quyết số 29 – NQ/TW, Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX điều chỉ rõ cần phải đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo. Đảng đã xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba đột phá chiến lược và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của đất nước trong giai đoạn 2024-2028.

Chính vì thế, đào tạo nghề cần phải thiết lập sự phối hợp giữa trường với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh để thực hiện được nguyên lý học đi đôi với hành, thực hành gắn với lao động sản xuất và đào tạo gắn với sử dụng phù hợp trong cơ chế thị trường hiện nay.

Tuy nhiên quá trình phối hợp này khá đa dạng và phức tạp. Yêu cầu đặt ra cho nhà trường và doanh nghiệp là phải căn cứ vào nhu cầu điều kiện của từng trường và doanh nghiệp, trong quá trình đào tạo, mới nâng cao được chất lượng đào tạo. Nội dung phối hợp đào tạo cũng rất đa dạng và phong phú, cần có sự lựa chọn phù hợp với thực tế mỗi cơ sở đào tạo để mô hình được sử dụng mang lại hiệu quả.

Những vấn đề nghiên cứu ở chương này chỉ là cơ sở lý luận để tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phối hợp đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đặc biệt giáo dục đại học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hùng Vương. Luận văn: Quản lý phối hợp đào tạo giữa trường Đại học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý phối hợp đào tạo trường Đại học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993