Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên Trường Đại học Hùng Vương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về Trường Đại học Hùng Vương

2.1.1. Quá trình xây dựng và phát triển Nhà trường

Trường Đại học Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ được thành lập vào ngày 29 tháng 04 năm 2011 theo Quyết định số 81/2011/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở của Trường Cao đẳng Sư phạm Phú Thọ. Đây là trường Đại học công lập nằm trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam thuộc sự quản lý trực tiếp của UBND tỉnh Phú Thọ.

Nhà trường đã xác định sứ mạng là: Trường Đại học Hùng Vương là trường đại học đa ngành, đa cấp, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao; một trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Phú Thọ và khu vực [25].

Mục tiêu của nhà trường là: Xây dựng, phát triển Trường Đại học Hùng Vương thành trường đại học đào tạo đa cấp, đa ngành, một trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực có trình độ chất lượng cao cung cấp lao động cho nền kinh tế- xã hội tỉnh Phú Thọ và các tỉnh lân cận; Xây dựng Trường Đại học Hùng Vương trở thành trường đại học đạt chuẩn Quốc gia vào năm 2028, đạt các tiêu chí hội nhập khu vực và quốc tế năm 2030 [25].

2.1.2. Cơ cấu tổ chức, bộ máy, quy mô đào tạo

Tại thời điểm năm học 2024 – 2025, cơ cấu tổ chức trường Đại học Hùng Vương gồm: Ban giám hiệu, Hội đồng trường và 33 đơn vị trực thuộc. Trong đó, có:

09 phòng chức năng gồm: phòng Tổ chức cán bộ, phòng Hành chính tổng hợp, phòng Đào tạo, phòng Khoa học công nghệ, phòng Thanh tra – Pháp chế, phòng CTCT & HSSV, Phòng Quản trị – Đời sống.

Nhà trường có 12 Khoa chuyên môn gồm: Khoa Khoa học Tự nhiên, khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Khoa Toán-Tin, Khoa Ngoại ngữ, Khoa Kỹ thuật công nghệ, khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non, Khoa Nông-Lâm- Ngư, Khoa Kinh tế & QTKD, khoa Nghệ thuật, khoa Thể dục thể thao, khoa Lý luận chính trị, khoa Tâm lý giáo dục.

Nhà trường có 09 Trung tâm: Trung tâm Đảm bảo chất lượng, Trung tâm Thông tin – Tư liệu – Thư viện, Trung tâm Đào tạo theo Nhu cầu xã hội, Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh, Trung tâm Nghiên cứu giáo dục – văn hóa và nghệ thuật, Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Khoa học và Chuyển giao công nghệ, Trung tâm Ngoại ngữ – Tin học, Trung tâm Bồi dưỡng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục, Trung tâm Phát triển Nhân lực quốc tế.

Có 02 ban gồm Ban Quản lý dự án và Ban Quản lý ký túc xá.

Có trạm Y tế phục vụ chăm sóc sức khỏe cho CB, công nhân viên, giảng viên và sinh viên trong toàn trường.

  • Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy Trường Đại học Hùng Vương

Về đội ngũ, đến 31/10/2025, Trường có 389 giảng viên, trong đó có: 05 Giáo sư, 27 Phó giáo sư, 74 Tiến sĩ, 246 Thạc sĩ và 37 Cử nhân/kỹ sư. Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ của Trường là 20,96%, giảng viên có trình độ thạc sĩ của trường là 69,16%, giảng viên trình độ đại học là 11,08%. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

2.1.3. Quá trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại trường

Trường Đại học Hùng Vương tổ chức đào tạo theo đúng quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Từ năm 2016 Nhà trường xây dựng lộ trình chuyển đổi. Đầu năm 2017, phòng Đào tạo chủ trì phối hợp với các khoa, bộ môn xây dựng thành công chương trình đào tạo của 20 ngành đại học, 6 ngành cao đẳng (bao gồm chương trình khung, chương trình chi tiết và đề cương chi tiết môn học) với tổng số 1.318 môn học, kèm theo 1.318 đề cương chi tiết học phần và trên 1.000 đề cương bài giảng phục vụ cho hoạt động dạy và học.

Thực hiện chuyển xong quy trình đào tạo theo niên chế sang Hệ thống tín chỉ vào năm học 2017-2018 áp dụng đào tạo đối với khóa tuyển sinh năm 2017. Trong thời gian này, quy định về đào tạo theo Hệ thống tín chỉ cũng được xây dựng, chương trình đào tạo được chuyển đổi,… phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường, tuân thủ đúng quy định của nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chương trình đào tạo mới được rà soát, điều chỉnh mang tính liên thông giữa các ngành học, cấp học giúp sinh viên chủ động, linh hoạt chuyển đổi phù hợp với nhu cầu bản thân.

Sau 2018, nhà trường tiếp tục thực hiện hai đợt rà soát lớn vào năm 2021 và năm 2023 nhằm điều chỉnh chương trình phù hợp với quy định của Bộ và yêu cầu của xã hội. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Từ năm 2023 đến nay, 100% các hệ đào tạo, ngành đào tạo trong trường đều thực hiện theo HCTC. Trong từng giai đoạn, Nhà trường đã có những cập nhật bổ sung CTĐT dựa trên cơ sở tham khảo chương trình đào tạo của các trường đại học trong và ngoài nước, ý kiến phản hồi từ các nhà tuyển dụng lao động, từ cựu sinh viên, các cơ sở giáo dục, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của địa phương và khu vực.

Nhà trường phấn đấu phát triển quy mô đào tạo (hệ chính quy đại học và cao đẳng) đến năm 2028 khoảng 10 – 11 nghìn sinh viên và từ 44 ngành đào tạo trở lên. Định hướng đến năm 2030, có quy mô đào tạo ổn định 15 nghìn sinh viên. Phương thức đào tạo theo HCTC tại trường ĐH Hùng Vương trong những năm gần đây đã giúp sinh viên phát huy tính tự lập, chủ động, sáng tạo, tích cực trong học tập và nghiên cứu khoa học, xác định được thời điểm tốt nghiệp phù hợp với mong muốn và năng lực học tập của bản thân.

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

2.2.1. Mục đích khảo sát

Khảo sát hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên Trường Đại học Hùng Vương (Phú Thọ), nhằm tổng hợp đánh giá hiệu quả hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng, làm cơ sở đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên Trường Đại học Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ.

2.2.2. Nội dung khảo sát

Thực trạng hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên trường Đại học Hùng Vương, trong đó gồm: Nhận thức của Cán bộ quản lý, GV, SV về vai trò của đội ngũ cố vấn học tập trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ; Thực trạng về chương trình và hình thức bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên; Thực trạng về cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên; Thực trạng về kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên; Thực trạng về bố trí, sử dụng giảng viên cố vấn học tập sau bồi dưỡng

Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên Trường Đại học Hùng Vương, gồm: Thực trạng về xây dựng kế hoạch hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên; Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên; Thực trạng chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên; Thực trạng về quản lý cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên; Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên.

2.2.3. Đối tượng và phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Đối tượng khảo sát gồm 205 cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên, trong đó có 115 sinh viên chia ngẫu nhiên về các khoa trong toàn trường, 60 giảng viên Cố vấn học tập, 15 giảng viên hiện tại không phải là Cố vấn học tập (trong năm học 2024 – 2025), 15 cán bộ quản lý, lãnh đạo các khoa, phòng.

Phương pháp khảo sát: Học viên thực hiện phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phương pháp chuyên gia, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp tọa đàm.

2.2.4. Xử lý số liệu khảo sát

Các số liệu khảo sát thu được, chúng tôi xử lý số liệu dựa trên phần mềm thống kê SPSS.

2.3. Thực trạng về hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên Trường Đại học Hùng Vương

2.3.1. Nhận thức của Cán bộ quản lý, GV, SV về vai trò của đội ngũ cố vấn học tập trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ

Qua tổng hợp phiếu điều tra khảo sát Cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên, chúng tôi thu được kết quả đánh giá vai trò của Cố vấn học tập trong đào tạo theo HCTC như sau (bảng 2.1):

  • Bảng 2.1. Mức độ cần thiết của Cố vấn học tập trong đào tạo theo HCTC

Theo đó, không ai phủ nhận vai trò của Cố vấn học tập. Có 87 ý kiến trên tổng số 90 ý kiến của Cán bộ quản lý và giảng viên được hỏi cho rằng Cố vấn học tập là cần thiết và rất cần thiết, chiếm tỉ lệ 96,67% .Trong đó 26 người (28,89%) cho rằng Cố vấn học tập đóng vai trò vô cùng cần thiết, không thể thiếu trong hoạt động đào tạo theo HCTC. Chỉ 3 Cán bộ quản lý và giảng viên, chiếm tỷ lện 3,33% cho rằng Cố vấn học tập giữ vị trí mờ nhạt trong hoạt động đào tạo này, có cũng được không có cũng không ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Sau khi nhận được kết quả nêu trên, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu với một Cố vấn học tập và nhận được trả lời: “Tại lớp tôi cố vấn, ý thức tự giác, chủ động của các em rất cao. Ngoài việc hướng dẫn các em tổ chức lớp, giới thiệu về Khoa, Trường, chỉ chỗ các tài liệu cần đọc liên quan đến Quy chế Đào tạo, Quy chế HSSV, giới thiệu website của Nhà trường cho các em từ đầu khóa, đến nay tôi chỉ phải can thiệp các công việc mang tính chất hành chính như kí các văn bản, giấy tờ. Còn lại, các em đã tự nghiên cứu qua sổ tay sinh viên, qua phương tiện thông tin và truyền thông, tự chủ động được kế hoạch học tập, nghiên cứu khoa học cũng như các hoạt động ngoại khóa, các công việc xã hội theo hướng dẫn của văn phòng Khoa, Đoàn, Hội”. Qua ý kiến này có thể thấy, một bộ phận sinh viên có nhận thức tốt và tính chủ động cao đã tự biết lập kế hoạch học tập cho riêng mình, các thầy cô Cố vấn học tập không phải quá lo lắng và bỏ quá nhiều công sức cho hoạt động này.

Khi điều tra khảo sát sinh viên về vai trò của thầy/cô Cố vấn học tập với chính các em, chúng tôi thấy: Phần lớn các em cần đến sự giúp đỡ của thầy/cô Cố vấn học tập khi gặp khó khăn, vướng mắc trong học tập hoặc trong cuộc sống sinh viên, thể hiện như sau:

  • Biểu đồ 2.1. Mong muốn về người giúp đỡ đầu tiên trong học tập của SV

Từ biểu đồ ta thấy, 76,52% sinh viên mong muốn Cố vấn học tập là người đầu tiên mà các em có thể tin tưởng giúp các em giải đáp những vướng mắc trong học tập hoặc có những hướng dẫn đúng đắn để các em giải quyết những khó khăn trong cuộc sống sinh viên xa gia đình.

Bên cạnh Cố vấn học tập đã được phân công, có đến 13,04% sinh viên mong muốn giảng viên bộ môn là người đầu tiên giúp các em tháo gỡ những vướng mắc trong học tập và cuộc sống. Điều này thể hiện các giảng viên bộ môn cụ thể cũng để lại hình ảnh tốt và sự tin tưởng của sinh viên, khiến các em mong muốn được thầy cô giúp đầu tiên.

Qua thống kê, chúng tôi cũng thấy có 10,43% sinh viên mong muốn được ngay những người bạn của mình giúp đỡ. Để lý giải điều này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn một vài sinh viên và được chia sẻ “Cô Cố vấn học tập lớp em mới sinh con nhỏ nên bận lắm, nhà cô lại xa, sóng điện thoại thì không ổn định nữa, em gọi cho cô nhiều lần không liên lạc được, có khi cả tuần em chả được gặp cô. Nhiều khi việc gấp em không biết phải làm sao, thế nên tiện ai em xin ý kiến luôn ạ“.

Tuy vậy, theo kết quả khảo sát được thống kê tại bảng 2.2, Cố vấn học tập vẫn đóng vai trò không thể thiếu, là người cung cấp nguồn tin chính thống, tin cậy đối với sinh viên. Có 100% các em sinh viên vẫn nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ từ phía Cố vấn học tập. Đồng thời 65,22% sinh viên tham khảo ý kiến từ các giảng viên bộ môn; 59,13% sinh viên tham khảo thêm ý kiến của bạn bè trong quá trình học tập. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

  • Bảng 2.2. Thống kê người giúp đỡ sinh viên trong quá trình học tập

Để đánh giá rõ hơn về vai trò của Cố vấn học tập trong hoạt động đào tạo, chúng tôi tiến hành khảo sát 115 sinh viên với nội dung câu hỏi: “Bạn có được Cố vấn học tập triển khai các nội dung dưới đây không? Nếu có, xin bạn đánh giá mức độ hài lòng của mình”, chúng tôi thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.3. Một số nội dung do giảng viên Cố vấn học tập triển khai và mức độ hài lòng của sinh viên

Đối chiếu với Quy định về công việc Cố vấn học tập của Trường Đại học Hùng Vương (Ban hành kèm theo Quyết định số 201 /QĐ-ĐHHV-ĐT ngày 17 tháng 3 năm 2018 của Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương), có thể thấy: giảng viên Cố vấn học tập cơ bản đã triển khai đầy đủ các nhiệm vụ của mình tới toàn thể sinh viên trong lớp được giao với trên 95% sinh viên được tiếp cận các nội dung. Chỉ có 3,3% sinh viên chưa được tiếp cận đến một số nội dung cụ thể. Trong đó một số nội dung có 100% sinh viên được biết đến như: Tổ chức bộ máy lớp sinh viên, hướng dẫn quy trình đăng ký môn học, hướng dẫn phương pháp học tập bậc đại học, hướng dẫn tham gia nghiên cứu khoa học, thông báo yêu cầu về chuẩn đầu ra…cũng là các nhiệm vụ bắt buộc đối với Cố vấn học tập. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Một số nội dung có tỷ lệ sinh viên chưa được tiếp cận cao trên 10% là:

  • Giúp đỡ khi gặp khó khăn trong học tập (13,04%),
  • Phân tích định hướng phát triển nghề nghiệp (14,78).

Đây là điểm yếu trong kỹ năng mềm của các giảng viên Cố vấn học tập cần được quan tâm bồi dưỡng.

Trong các nội dung đã đươc triển khai, phần lớn sinh viên đều cho kết quả đánh giá tốt (trung bình 69,39%). Có 18,46% sinh viên đánh giá cao, ở mức rất tốt với các hoạt động của giảng viên Cố vấn học tập đối với họ.

Tuy nhiên, vẫn còn 12,15% sinh viên không hài lòng với các nội dung được của giảng viên Cố vấn học tập hướng dẫn, tập trung nhiều ở các khía cạnh:

  • Giới thiệu chương trình đào tạo các ngành học có 13,16% sinh viên đánh giá không tốt. Điều này ảnh hưởng đến việc lựa chọn đăng ký học ngành 2 của sinh viên.
  • Cùng với đó là 13,27% sinh viên đánh giá hoạt động phân tích định hướng phát triển nghề nghiệp của Cố vấn học tập cho sinh viên cũng không tốt, sâu xa sẽ ảnh hưởng đến cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp.
  • Việc hướng dẫn lập kế hoạch học tập cũng có tới 19,09% sinh viên không hài lòng, đánh giá hoạt động ở mức không tốt.
  • Hướng dẫn đăng ký học phần tự chọn vẫn còn chung chung, với 14,68% sinh viên đánh giá không tốt. Do vậy ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ học tập của sinh viên.
  • Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng chưa được Cố vấn học tập quan tâm đúng mức, do vậy có 14,78% sinh viên đánh giá hoạt động ở mức không tốt.
  • 14,04% ý kiến cho rằng thầy/cô Cố vấn học tập chưa nhiệt tình giải đáp các thắc mắc trong học tập; 16% ý kiến đánh giá không tốt về việc giúp đỡ khi SV gặp khó khăn trong học tập của Cố vấn học tập.
  • Đặc biệt, 20,87% ý kiến mong muốn được Cố vấn học tập hướng dẫn phương pháp học tập bậc đại học một cách khoa học, tỉ mỉ hơn nữa.
  • Phối hợp với các đơn vị/cá nhân để giúp đỡ giải quyết các vấn đề liên quan đến sinh viên: 20,54%.

Thực hiện thống kê, tổng hợp số liệu kết quả học tập trong năm năm (từ năm học 2020 – 2021 đến năm học 2024 – 2025) (biểu đồ 2.2): Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

  • Biểu đồ 2.2. Cơ cấu xếp loại học lực của sinh viên giai đoạn 2020 – 2025

Chúng tôi thấy: trong hai năm học 2023 – 2024 và 2024 -2025, tỷ lệ sinh viên xếp loại học lực trung bình và yếu kém có xu hướng tăng và chiếm tỷ trọng tương đối lớn (xấp xỉ 40%), đây là điều đáng báo động, đòi hỏi nhà trường, Cố vấn học tập cần xem xét, tháo gỡ.

2.3.2. Thực trạng về chương trình và hình thức bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên

Chương trình bồi dưỡng nói chung muốn đạt hiệu quả cao phải đảm bảo các yêu cầu như:

  • Phải phù hợp với mục tiêu chung và đối tượng bồi dưỡng. Mỗi chương trình cần xác định rõ đối tượng để xây dựng nội dung cho phù hợp.
  • Phải đảm bảo tính khoa học, chính xác, cập nhật về nội dung, đúng với quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước.
  • Phải có tính ứng dụng cao, thiết thực, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và nhu cầu của học viên.

Tại Trường Đại học Hùng vương trong những năm qua, hoạt động của Cố vấn học tập và bồi dưỡng năng lực cho Cố vấn học tập vẫn luôn được nhà trường quan tâm.

Điều này được ghi rõ trong Quy định về công việc Cố vấn học tập (Ban hành kèm theo Quyết định số 201/QĐ-ĐHHV_ĐT ngày 17 tháng 3 năm 2018)

  • Trích lược

“Được tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng về Cố vấn học tập do khoa, nhà trường tổ chức; được cung cấp các điều kiện để làm việc như danh sách lớp sinh viên; sổ danh sách sinh viên có dán ảnh sinh viên và tóm tắt thông tin về cá nhân và hoàn cảnh gia đình sinh viên; sổ tay Cố vấn học tập; sổ công tác…” Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Trong quá trình khảo sát bằng bảng hỏi, chúng tôi thu thập được thông tin chung về đối tượng tham gia trả lời là giảng viên hiện tại không phải là Cố vấn học tập, giảng viên đang là Cố vấn học tập, Cán bộ quản lý thể hiện qua bảng tổng hợp 2.4 như sau:

  • Bảng 2.4. Thông tin chung về đối tượng khảo sát là giảng viên, Cán bộ quản lý

Như vậy, trong số 90 giảng viên, Cán bộ quản lý tham gia khảo sát thì có 12 giảng viên, Cán bộ quản lý chưa từng là Cố vấn học tập, chiếm tỷ lệ 13,33%; 100% giảng viên, Cán bộ quản lý có trình độ từ thạc sỹ trở lên, tỷ lệ nữ chiếm đại đa số (83,33%) và đang ở độ tuổi dưới 35 chiếm 57,78%.

Với các giảng viên, Cán bộ quản lý đã hoặc đang làm công tác Cố vấn học tập, chúng tôi thu được kết quả khảo sát về tỷ lệ số năm kiêm nhiệm như sau:

  • Biểu đồ 2.3. Số năm kiêm nhiệm Cố vấn học tập của giảng viên

Theo đó, gần 50% Cố vấn học tập có từ 3 đến 5 năm kiêm nhiệm, có nhiều kinh nghiệm trong công tác. Tuy nhiên cũng có tới hơn 20% Cố vấn học tập chưa quá 3 năm kiêm nhiệm, chưa đủ kết thúc một khóa học đối với trình độ đại học, nhiều công việc sẽ là trải nghiệm lần đầu, chưa thể tự rút kinh nghiệm cho bản thân.

  • Về thực trạng chương trình bồi dưỡng

Khảo sát các giảng viên, Cán bộ quản lý đã được tham gia bồi dưỡng về chất lượng của chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên, chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.5:

  • Bảng 2.5. Đánh giá chất lượng chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên

Trong các tiêu chí, tính cập nhật của thông tin được đánh giá ở mức độ cao nhất với 96.15% ý kiến cho rằng thông tin được cập nhật, đạt yêu cầu, chỉ có 3,85% ý kiến cho rằng thông tin chưa cập nhật.

59% ý kiến cho rằng chương trình được xây dựng phù hợp với đối tượng được bồi dưỡng, trong đó 15,38% cho rằng rất phù hợp, tuy nhiên vẫn còn 6,41% cho rằng chưa phù hợp với bản thân.

03% ý kiến cho rằng nội dung chương trình bồi dưỡng có tính khả thi, trong đó hơn 50% đánh giá ở mức độ tốt và rất tốt. 8,97% cho rằng chưa có tính khả thi. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Đáng lưu ý là chỉ hơn 80% giảng viên, Cán bộ quản lý được hỏi hài lòng với tính kế hoạch, và tính hiệu quả. Hơn 20% ý kiến giảng viên, Cán bộ quản lý cho rằng chương trình bồi dưỡng chưa mang lại hiệu quả thiết thực, đôi khi còn trùng lặp nhà chán, kế hoạch thực hiện chưa thực sự khoa học. Tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, chúng tôi nhận được sự chia sẻ của một đồng chí Cố vấn học tập đã có 7 năm kinh nghiệm: “Năm nào tôi cũng tham gia tập huấn, phần mở đầu bao giờ cũng là giới thiệu về nhà trường, về website… cái đó chúng tôi tự tìm hiểu được, cần gì phải nói nhiều, lãng phí thời gian quá…” hay: “Các bước hướng dẫn sinh viên tra cứu kết quả học tập, chúng tôi biết rồi mà, nhà trường chỉ cần gửi chúng tôi tài liệu là được…”

Có thể khái quá hóa mức độ đánh giá chất lượng chương trình bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên qua hình 2.3 sau đây:

  • Biểu đồ 2.4. Đánh giá chất lượng chương trình bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập của GV

Nhìn chung chương trình bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên về cơ bản là đạt yêu cầu, có chất lượng cao, tuy nhiên mới chỉ đáp ứng nhu cầu của giảng viên, Cán bộ quản lý trong Cố vấn học tập của Nhà trường.

  • Về hình thức bồi dưỡng

Thực hiện điều tra khảo sát về hình thức bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên với 78 phiếu điều tra của các giảng viên đã tham gia bồi dưỡng, chúng tôi thu được kết quả thể hiện qua bảng 2.6.

  • Bảng 2.6. Hình thức bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên Trường Đại học Hùng Vương

Như vậy, có 73/78 giảng viên, Cán bộ quản lý tham gia bồi dưỡng trực tiếp, tập trung theo lớp, đạt 93,59%.

Đồng thời với tham gia bồi dưỡng tập trung theo lớp, có 65,38% giảng viên, Cán bộ quản lý tích cực tham gia bồi dưỡng online qua mạng internet dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cán bộ phòng Đào tạo của Nhà trường. Qua hệ thống mạng được điều khiển bởi máy chủ trung tâm, học viên đồng thời có thể thực hành một số thao tác trong các quy trình đăng ký môn học, quy trình hiệu chỉnh, duyệt kết quả đăng ký môn học cho sinh viên, thao tác hay mẹo sử dụng từ khóa trong tra cứu tài liệu để có được kết quả chính xác, nhanh chóng… Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Đặc biệt, 91,15% thầy cô có ý thức tự nghiên cứu, tìm hiểu thông qua các tài liệu được cấp đầu mỗi năm học và các tài liệu có liên quan trong suốt năm học.

Riêng hình thức tham quan thực tế, chỉ có 8 thầy cô được hỏi có được tham quan mô hình và tham khảo, học tập chương trình bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập ở các trường top trên, chiếm tỷ lệ 10,26%. Các thầy cô này cũng đang là cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp. Tìm hiểu thêm về vấn đề này, chúng tôi được biết: “Phần lớn hoạt động tham quan thực tế chỉ cử đại diện nhà trường đi để học hỏi rồi về truyền đạt lại. Hơn nữa, các chuyến tham quan học hỏi cũng tích hợp nhiều nội dung, liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều đối tượng khác nhau nên không thể mở rộng, dàn trải” – Một cán bộ lãnh đạo cấp Phòng chia sẻ.

2.3.3. Thực trạng về cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên

Trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, ngoài các yếu tố về nội dung, chương trình, hình thức thì cơ sở vật chất và các điều kiện khác như chính trị – xã hội, văn hóa – kinh tế, văn bản luật, nguồn thông tin, nguồn kinh phí cũng có ảnh hưởng theo các mức độ khác nhau. Hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên cũng chịu sự tác động như vậy.

Khảo sát vấn đề này tại Trường Đại học Hùng Vương chúng tôi thu được kết quả trong bảng 2.7.

  • Bảng 2.7. Đánh giá mức độ đáp ứng của cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Theo đánh giá của 90 giảng viên được khảo sát, tất cả các yếu tố đều có sự ảnh hưởng nhất định đến hoạt động bồi dưỡng.

Trong đó, theo mặt bằng chung của đời sống xã hội hiện tại thì cơ sở vật chất của nhà trường đã được trang bị tương đối đầy đủ, đồng bộ, không ảnh hưởng nhiều tới hoạt động bồi dưỡng, 84,44% ý kiến ở mức đáp ứng tốt, 8,89% cho rằng điều kiện Cơ sở vật chất đã rất tốt, chỉ có 6,67% ý kiến cho rằng điều kiện Cơ sở vật chất trang thiết bị chưa tốt. Qua phỏng vấn, chúng tôi được biết đó chính là yếu tố hạ tầng mạng internet của nhà trường đôi khi còn gián đoạn hoặc bị nghẽn mạng tùy thời điểm.

Về nguồn kinh phí chi cho hoạt động bồi dưỡng được trích từ nguồn thu của Nhà trường. Các ý kiến đánh giá mức độ đáp ứng đưa ra không có sự phân hóa rõ ràng, đều ở mức hơn 30%, thể hiện sự mong muốn khác nhau của các thầy cô tham gia bồi dưỡng. Trong đó vẫn còn 33,33% ý kiến mong muốn được quan tâm hỗ trợ hơn nữa hay có chính sách thỏa đáng đối với cả người dạy và người học trong hoạt động bồi dưỡng. Gần 70% ý kiến của các thầy cô đánh giá ở mức đạt tốt và rất tốt.

Hệ thống văn bản pháp lý, các quy chế, quy định phục vụ hoạt động được đánh giá khá cao với 87,78% đánh giá đáp ứng tốt, 3,33% đánh giá đáp ứng rất tốt hoạt động bồi dưỡng. Về cơ bản Nhà trường đã thực hiện đúng theo chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện đúng Luật giáo dục Đại học. Quy định về tham gia bồi dưỡng năng lực cũng được thể hiện rõ trong Quy định về công việc Cố vấn học tập (Ban hành kèm theo Quyết định số 201/QĐ-ĐHHV_ĐT ngày 17 tháng 3 năm 2018 của Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương):

  • Trích lược

Quyền của Cố vấn học tập

“ Được tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng về Cố vấn học tập do khoa, nhà trường tổ chức; được cung cấp các điều kiện để làm việc như: danh sách lớp sinh viên; sổ danh sách sinh viên có dán ảnh sinh viên và tóm tắt thông tin về cá nhân và hoàn cảnh gia đình sinh viên; sổ tay cố vấn học tập; sổ công tác…” Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Tuy nhiên, vẫn còn đến 8,89% ý kiến đánh giá ở mức chưa đáp ứng ở yếu tố cung cấp văn bản pháp lý, nguồn lực thông tin. Phỏng vấn một số thầy cô giáo trẻ, có dưới 3 năm kinh nghiệm Cố vấn học tập, chúng tôi đã được các thầy cô chia sẻ: “Mình về công tác ở trường chưa lâu, lại mới đảm nhận nhiệm vụ làm Cố vấn học tập, thú thực là có nhiều văn bản quy định ban hành từ các năm trước mà đến nay mình không nắm được, rất khó khăn trong việc tư vấn, hướng dẫn sinh viên. Ví dụ như Quyết định về việc quy định chuẩn đầu ra ngoại ngữ và tin học đối với sinh viên đại học, cao đẳng hệ chính quy của Trường Đại học Hùng Vương được ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2023. Năm học 2024 – 2025, tôi nhận nhiệm vụ Cố vấn học tập các lớp ngành Việt Nam học (nằm trong khối ngành Văn hóa Du lịch), bao gồm cả các sinh viên tốt nghiệp muộn tồn đọng từ các khóa trước. Do không nắm được thông tin thay đổi trong chuẩn đầu ra dành riêng cho khối ngành Văn hóa Du lịch, tôi đã không tư vấn cho các em sinh viên tốt nghiệp muộn sau 2025 cần phải đạt cấp độ A2 tương đương bậc 2 trong Khung ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam. Điều này khiến các em không đầu tư học tập đúng mức cho ngoại ngữ, gây khó khăn trong đáp ứng chuẩn đầu ra và có thể hết thời hạn đào tạo tối đa cho phép mà vẫn chưa tốt nghiệp do chưa đạt chuẩn đầu ra trong khi đã tích lũy đủ số tín chỉ”.

Như vậy đây cũng là một hạn chế đáng lưu tâm trong việc hệ thống hóa, cung cấp văn bản, thông tin, tài liệu bồi dưỡng cho Cố vấn học tập.

2.3.4. Thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Kiểm tra đánh giá là khâu không thể thiếu nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động. Để biết thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên. Triển khai khảo sát 78 thầy cô đã được tham gia bồi dưỡng chúng tôi thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.8. Thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên

Qua điều tra, chúng tôi thấy: Gần như 100% giảng viên tham gia bồi dưỡng được kiểm tra đánh giá năng lực. Chỉ có 3/78 giảng viên không được kiểm tra đánh giá năng lực, chiếm tỷ lệ 3,85%.

Tuy nhiên, hoạt động kiểm tra mới chỉ tiến hành một cách chung chung, chưa cụ thể (83,33%). Chỉ có 12,82% giảng viên được góp ý điều chỉnh trong công tác Cố vấn học tập, như vậy sẽ không đánh giá được sự thay đổi của Cố vấn học tập sau bồi dưỡng để biết được hiệu quả hoạt động. Và đặc biệt không thầy cô nào được khen thưởng, động viên khích lệ. Đây không hẳn là do giảng viên Cố vấn học tập không thực sự cố gắng trong công tác, mà có thể là do quan điểm của Nhà trường coi đây là nhiệm vụ bình thường, bắt buộc các thầy cô đã được giao phải hoàn thành, nếu không hoàn thành sẽ bị xử lý kỷ luật. Do vậy đã không có giảng viên Cố vấn học tập nào được khen thưởng trong công tác của mình.

2.3.5. Thực trạng về bố trí, sử dụng giảng viên Cố vấn học tập sau bồi dưỡng

Theo quan sát và thu thập tài liệu thực tế thì tại Trường Đại học Hùng Vương, hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên chỉ được triển khai đến các giảng viên Cố vấn học tập với danh sách cụ thể của từng năm. Hoạt động này không phổ quát chung cho tất cả cán bộ, giảng viên của trường. Danh sách Cố vấn học tập cũng thay đổi từng năm tùy theo yêu cầu của ngành học, khóa học và số lượng sinh viên. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Khảo sát về thực trạng bố trí, sử dụng giảng viên cố vấn học tập sau bồi dưỡng chúng tôi thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.9. Bố trí, sử dụng giảng viên Cố vấn học tập sau bồi dưỡng

Nhận xét: về cơ bản việc bố trí, sử dụng giảng viên cố vấn học tập sau bồi dưỡng nâng cao năng lực cho họ là đạt yêu cầu với tổng tỷ lệ hợp lý và rất hợp lý ở mức 88.27%. Có 11,73% kết quả đánh giá ở mức chưa hợp lý.

Trong đó một số nội dung có mức chưa hợp lý cao là: Dự báo về nhu Cố vấn học tập hàng năm (12,22%), Miễn nhiệm Cố vấn học tập không đạt yêu cầu (21,11%), Kịp thời hỗ trợ Cố vấn học tập trong quá trình thực hiện nhiệm vụ (14,44%), Quan tâm đến nguyện vọng của giảng viên, động viên bằng vật chất và tinh thần cho giảng viên Cố vấn học tập hoàn thành tốt nhiệm vụ (23,33%).

  • Bên cạnh đó, một số nội dung được đánh giá hợp lý, có mức hài lòng cao như:

Đảm bảo đủ số lượng Cố vấn học tập/đầu sinh viên theo quy định; sử dụng Cố vấn học tập đảm bảo tính khách quan, khoa học, đúng nguyên tắc. Chỉ có 3,33% thầy cô được hỏi đánh giá các nội dung này ở mức chưa hợp lý.

Thầy cô Cố vấn học tập được cử đi bồi dưỡng cũng có chuyên môn phù hợp với chuyên ngành đào tạo, được phân công bố trí cố vấn cho sinh viên theo đúng chuyên ngành.

Bổ nhiệm Cố vấn học tập theo định kì hàng năm, có quy trình lựa chọn từ cấp Bộ môn đưa lên Khoa duyệt, Khoa trình Nhà trường ra quyết định phân công; tiêu chí lựa chọn phù hợp đúng theo theo Quy định về công việc Cố vấn học tập của Nhà trường ban hành năm 2018:

  • Trích lược

“CVHT được lựa chọn từ các giảng viên cơ hữu, cộng tác viên thường xuyên hoặc cán bộ quản lý đào tạo đã tốt nghiệp từ đại học trở lên thuộc khối ngành đào tạo của khoa/bộ môn chuyên ngành có ít nhất 2 năm tham gia giảng dạy, quản lý và đã tham dự các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về chức danh Cố vấn học tập”

Việc miễn nhiệm Cố vấn học tập cũng đã có quy định cụ thể, nhưng đôi khi do các điều kiện như chuyên môn không phù hợp, bộ môn không đủ người (do nghỉ thai sản ngắn hạn) nên một số giảng viên đi học NCS vẫn phải đồng thời kiêm nhiệm công tác Cố vấn học tập, dẫn tới khó khăn cho cả bộ môn, sinh viên và người được phân công. Do vậy có 21,11% ý kiến đánh giá vấn đề này còn chưa hợp lý. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

2.4. Thực trạng về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên Trường Đại học Hùng Vương

2.4.1. Thực trạng về công tác xây dựng kế hoạch hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên

Tại trường Đại học Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ, việc xây dựng kế hoạch hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên hàng năm được Hiệu trưởng Nhà trường giao cho Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn chịu trách nhiệm. Phó Hiệu trưởng giao cho Phòng Đào tạo xây dựng kế hoạch cụ thể, trình Phó Hiệu trưởng phê duyệt để triển khai.

Dựa vào đặc điểm tình hình từng năm, phòng Đào tạo phối hợp với các khoa chuyên môn có sinh viên tiến hành rà soát, báo cáo về năng lực chuyên môn, trình độ của Cố vấn học tập và các vấn đề mới phát sinh trong hoạt động đào tạo theo HCTC. Từ đó xác định nhu cầu, sự cần thiết phải bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho đội ngũ cố vấn, lập kế hoạch tổ chức bồi dưỡng. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù, hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên đã không được tiến hành thường xuyên, nếu có cũng chỉ áp dụng đối với Cố vấn học tập theo quyết định, không phổ rộng cho toàn thể giảng viên. Đây cũng là ý kiến đánh giá của 100% Cán bộ quản lý và giảng viên, giảng viên Cố vấn học tập khi chúng tôi khảo sát (thống kê kết quả khảo sát tại bảng 2.10).

  • Bảng 2.10. Tỷ lệ giảng viên tham gia bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập tại Trường Đại học Hùng Vương

Tìm hiểu kỹ hơn trong các văn bản, thông báo triệu tập, danh sách thành phần các lớp tập huấn, lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập trong các năm gần đây, chúng tôi thấy thành phần tham gia bồi dưỡng chỉ bao gồm các Cố vấn học tập của nhà trường chứ chưa phổ biến rộng rãi tới toàn thể cán bộ, giảng viên khác.

Căn cứ vào thực trạng công tác Cố vấn học tập, ý kiến phản hồi của sinh viên và kết quả xét lên lớp, xét tốt nghiệp cùng với thực tế hoạt động đào tạo, Phòng Đào tạo chủ trì xây dựng kế hoạch, kết hợp với phòng Công tác Chính trị và Học sinh sinh viên, phòng Kế hoạch tài chính trình Hiệu trưởng phê duyệt và cho phép tổ chức hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên là Cố vấn học tập. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Nội dung bồi dưỡng chủ yếu xoay quanh các vấn đề như: trao đổi, hướng dẫn thao tác trong quy trình đăng ký môn học trực tuyến, duyệt kết quả đăng ký môn học cho sinh viên, cách hướng dẫn sinh viên tra cứu kết quả học tập trực tuyến và các vấn đề mang tính chất hành chính trong mỗi học vụ; phổ biến các quy định – quy chế của bộ nói chung và của trường nói riêng; cập nhật các quy định mới trong đào tạo theo HCTC, hướng dẫn giải đáp một số tình huống hay gặp trong quá trình tư vấn, hướng dẫn sinh viên.

Qua tìm hiểu một số chương trình bồi dưỡng, chúng tôi thấy nội dung các chương trình bồi dưỡng của nhà trường mới chủ yếu tập trung vào các vấn đề mang tính chất hành chính, chưa chú ý đến bồi dưỡng phát triển kỹ năng mềm cho giảng viên Cố vấn học tập như kỹ năng nhận biết sự việc, phát hiện vấn đề để xử lý và giải quyết kịp thời; chưa có nội dung liên quan đến tư vấn hướng nghiệp, hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học; chưa bàn thảo nhiều về vấn đề hướng dẫn sinh viên tự học.

2.4.2. Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên

Hàng năm Nhà trường có tổ chức Hội nghị Cố vấn học tập với thành phần tham gia gồm: Hội đồng Cố vấn học tập cấp trường mà thành viên là lãnh đạo các phòng: Đào tạo, Công tác chính trị và HSSV, Quản lý khoa học và Quan hệ quốc tế, lãnh đạo các khoa (hoặc bộ môn trực thuộc) quản lý nội dung đào tạo và một số đơn vị liên quan đến công tác học sinh sinh viên, trong đó lãnh đạo trường là ủy viên thường trực, Hiệu trưởng (hoặc Phó Hiệu trưởng phụ trách đào tạo) là chủ tịch hội đồng [19] và các thành viên trong danh sách Cố vấn học tập. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Thời gian tổ chức được bố trí vào đầu năm học, sau khi hoàn tất công tác tuyển sinh và có Quyết định danh sách Cố vấn học tập.

Khảo sát về thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên với các giảng viên đã tham gia bồi dưỡng, chúng tôi thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.11. Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên

Như vậy, theo đánh giá của các giảng viên đã tham gia bồi dưỡng, việc quản lý tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng chưa được nhà trường quan tâm thường xuyên ở nhiều mặt, nhiều khâu như: chương trình bồi dưỡng, kế hoạch thời gian bồi dưỡng, huy động đối tượng tham gia bồi dưỡng, phối hợp giữa các lực lượng tham gia, tổ chức thực hiện tự bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên. Nhà trường mới chỉ quan tâm thường xuyên đến mục tiêu và nội dung trong tổ chức thực hiện bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên, đồng thời tổ chức tốt Cơ sở vật chất trang bị thiết bị phục vụ hoạt động .

2.4.3. Thực trạng chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên

Tiến hành khảo sát trên Cán bộ quản lý và giảng viên của trường xoay quanh vấn đề thực trạng chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên, chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.12 như sau:

  • Bảng 2.12. Thực trạng chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên

Kết quả khảo sát cho thấy: Công tác chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên đã được Lãnh đạo nhà trường quan tâm, tuy nhiên không thường xuyên ở nhiều nội dung: khảo sát nhu cầu bồi dưỡng, chỉ đạo xây dựng nội dung, biên soạn bài giảng bồi dưỡng, chỉ đạo về phương pháp bồi dưỡng, chỉ đạo về hình thức tổ chức bồi dưỡng, chỉ đạo thu thập, tổng hợp tài liệu cung cấp cho Cố vấn học tập, chỉ đạo lồng ghép bồi dưỡng nội dung Cố vấn học tập trong các hội nghị, hội thảo chuyên môn của trường, chỉ đạo về huy động nguồn lực. Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ việc Hiệu trưởng đã giao cho Phòng Đào tạo chịu trách nhiệm, đề xuất ý kiến, thể hiện trong Quy định về công việc Cố vấn học tập của nhà trường ngay từ năm 2018: Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

  • Trích lược

“Phòng Đào tạo phối hợp chặt chẽ với khoa/bộ môn, Phòng Công tác Chính trị HS – SV, Phòng Quản lý khoa học và quan hệ quốc tế và các đơn vị chức năng có liên quan để:

  • Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đội ngũ Cố vấn học tập;
  • Tổ chức các lớp bồi dưỡng Cố vấn học tập
  • Tổ chức lấy ý kiến phản hồi của sinh viên về hoạt động của Cố vấn học tập để kịp thời rút kinh nghiệm;
  • Thông báo danh sách Cố vấn học tập trên website của trường.
  • Phối hợp với khoa/bộ môn và Phòng Kế hoạch – Tài chính xác nhận thanh toán khối lượng công tác Cố vấn học tập.”

Tuy nhiên, Lãnh đạo nhà trường cũng quán triệt quan điểm giảng viên phải có ý thức tự học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, do vậy đã thường xuyên chỉ đạo giảng viên tự bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập.

Việc huy động các giảng viên không phải là Cố vấn học tập của năm đó, kì đó tham gia bồi dưỡng, tự bồi dưỡng qua các tài liệu, văn bản hướng dẫn chưa được nhà trường quan tâm, chú ý đến. Có giảng viên khi được phỏng vấn đã trả lời rất thẳng thắn: “Tồi còn bận rất nhiều việc chuyên môn. Tôi không được giao nhiệm vụ đó nên chưa thực sự quan tâm đến.”

2.4.4. Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng, tất yếu trong hoạt động quản lý, lãnh đạo. Nó giúp nhà quản lý biết hiệu quả hoạt động và có biện pháp điều chỉnh khi cần thiết.

Khảo sát tiếp theo trong khâu quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên của nhà quản lý tại Trường Đại học Hùng Vương, chúng tôi thấy, Lãnh đạo nhà trường đã kết hợp cả hình thức kiểm tra định kỳ, có kế hoạch báo trước và cả kiểm tra đột xuất hoạt động bồi dưỡng. Cụ thể:

  • Biểu đồ 2.5. Thực trạng hình thức kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập của giảng viên

Trong đó, việc kiểm tra định kỳ theo kế hoạch là chủ yếu. Trong số 78 giảng viên khảo sát có 71,8% được đánh giá theo kế hoạch định kỳ, 22,2% được đánh giá đột xuất. Việc kết hợp đồng thời cả hai hình thức kiểm tra, đánh giá sẽ có tác động tích cực đến hoạt động bồi dưỡng.

Về mức độ thực hiện các nội dung kiểm tra đánh giá của nhà quản lý, kết quả khảo sát cho thấy:

  • Bảng 2.13. Đánh giá thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên

Nhà quản lý đã tiến hành kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên. Tuy nhiên hoạt động kiểm tra diễn ra không thường xuyên ở nhiều mặt nội dung và chưa đạt hiệu quả cao. Nhiều nội dung có tỷ lệ chưa thực hiện tốt cao, chẳng hạn: việc quản lý thu thập và xử lý thông tin phản hồi từ phía sinh viên cũng như từ phía giáo viên có tỷ lệ trên 15% đánh giá chưa tốt; hay kiểm tra công tác kiểm tra hoạt động tự bồi dưỡng, có đến 34,6% giảng viên được hỏi đánh giá chưa tốt; Kiểm tra việc đánh giá năng lực Cố vấn học tập của GV sau bồi dưỡng; kiểm tra việc điều chỉnh hoạt động bồi dưỡng sau khi có kết quả bồi dưỡng cũng chưa tốt với 30,8% ý kiến đánh giá.

2.4.5. Thực trạng về quản lý cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên

Cơ sở vật chất, trang thiết bị là môi trường, là điều kiện góp phần quan trọng vào mọi hoạt động nói chung và hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên nói riêng. Đây là những vật vô tri, tuy nhiên là tài sản của Nhà trường, của xã hội. Do vậy cũng yêu cầu phải quản lý chặt chẽ, hướng tới sử dụng đạt hiệu quả tối đa.

Khảo sát thực tế quản lý sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên chúng tôi thu được kết quả khá tốt như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

  • Bảng 2.14. Thực trạng về quản lý cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên

Nhận xét: Nguồn cơ sở vật chất tối thiểu với hơn 90% ý kiến đánh giá tốt và rất tốt đã được khảo sát trong mục 2.3.3, bảng 2.8 vẫn được Nhà trường tiếp quan tâm đầu tư, cho dù ở mức không thường xuyên do nguồn kinh phí có hạn. Việc bảo trì thiết bị phục vụ lâu dài được Lãnh đạo nhà trường thường xuyên quan tâm, chỉ đạo. Phần mềm Edusoft cũng vẫn được bảo trì phục vụ công tác đào tạo nói chung. Định kỳ hàng năm Lãnh đạo nhà trường lại chỉ đạo thanh lọc các thiết bị cũ, không còn phù hợp, thay thế bằng các thiết bị mới hiện đại hơn, đáp ứng nhu cầu học tập và giảng dạy của nhà trường.

2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên Trường Đại học Hùng Vương Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

2.5.1. Những thuận lợi và kết quả đạt được

Về cơ bản giảng viên, Cán bộ quản lý và sinh viên trong trường đã nhận thức đúng đắn vai trò của Cố vấn học tập trong hoạt động đào tạo theo HCTC. Theo kết quả khảo sát thể hiện tại biểu đồ hình 2.1 thì 76.52% sinh viên mong muốn giảng viên Cố vấn học tập là người đầu tiên giúp đỡ, tư vấn trong học tập; có 100% sinh viên đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ từ Cố vấn học tập trong học tập (bảng 2.2).

CVHT đã nắm được chức năng, nhiệm vụ của bản thân, xác định được các nội dung cơ bản trong công tác Cố vấn học tập và triển khai kịp thời tới sinh viên như: Phổ biến các quy định, quy chế của nhà trường, Giới thiệu chương trình đào tạo các ngành học, Hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học tập; hướng dẫn quy trình đăng ký môn học, đăng ký học phần tự chọn, hướng dẫn quy trình đánh giá kết quả học tập, tra cứu kết quả học tập trực tuyến, hướng dẫn phương pháp học tập (tự học) ở bậc đại học, hướng dẫn tham gia nghiên cứu khoa học, tham gia hoạt động tập thể, hoạt động thực tế, thông báo yêu cầu và thay đổi về chuẩn đầu ra; phối hợp với các đơn vị chức năng giải quyết các vấn đề liên quan đến sinh viên, thường xuyên quan tâm giúp đỡ sinh viên.

Nhà trường đã có quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cố vấn học tập trong bản “Quy định về công việc Cố vấn học tập“ (Ban hành kèm theo Quyết định số 201/QĐ-ĐHHV_ĐT ngày 17 tháng 3 năm 2018).

Quyền lợi của giảng viên kiêm nhiệm Cố vấn học tập cũng được quy định cụ thể, có sự điều chỉnh cập nhật trong “Quy định chế độ làm việc đối với giảng viên trường Đại học Hùng Vương“ (Ban hành kèm theo Quyết định số: 828/QĐ-ĐHHV ngày 03/0/2023 và hợp nhất Quyết định số 418/QĐ-ĐHHV ngày 27/03/2025 của Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương).

Cơ sở vật chất, trang thiết bị được nhà trường đầu tư tương đối đầy đủ, đồng bộ, hạ tầng thông tin đảm bảo phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên.

Nhà trường đã có sự quan tâm, tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho đội ngũ giảng viên là Cố vấn học tập với đầy đủ các khâu từ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng.

Đội ngũ giảng viên trẻ chiếm tỷ lệ cao, nhanh nhạy với cái mới, nắm bắt kịp thời những thay đổi của khoa học kỹ thuật và công nghệ.

2.5.2. Những khó khăn, yếu kém Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Về bản thân giảng viên Cố vấn học tập: Năng lực Cố vấn học tập của một bộ phận giảng viên Cố vấn học tập trẻ còn yếu, thiếu kinh nghiệm, chưa nhiệt tình trong công tác, thiếu kỹ năng tư vấn, giúp đỡ khi sinh viên gặp khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống; Đôi lúc Cố vấn học tập còn tự ý đưa ra quyết định không đúng trong tư vấn, hướng dẫn sinh viên đăng ký môn học/học lại/học cải thiện điểm làm ảnh hưởng đến tiến độ học tập của sinh viên; Giảng viên Cố vấn học tập chưa có sự hướng dẫn, tư vấn xác đáng trong phân tích định hướng phát triển nghề nghiệp cho sinh viên.

Về hoạt động bồi dưỡng: Nội dung bồi dưỡng còn chung chung, mới xuất phát từ nhu cầu của nhà quản lý mà thực sự chú ý đến nhu cầu của giảng viên; chưa phân tích các tình huống cụ thể có thể phát sinh để hướng dẫn giải quyết, dẫn tới một số Cố vấn học tập hướng dẫn đăng ký môn học sai, làm lỡ thời gian học kỳ, khóa học của sinh viên. Sinh viên có thể hết thời hạn đào tạo mà chưa tích lũy đủ số TC. Chưa coi trọng phương pháp tự bồi dưỡng, tự học của học viên tham gia bồi dưỡng.

Công tác quản lý bồi dưỡng: Việc quản lý lập kế hoạch bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên tiến hành chưa thường xuyên, tính kế hoạch chưa cao; việc kiểm tra đánh giá trong hoạt động bồi dưỡng cũng mang tính chung chung, chưa cụ thể, chưa có hình thức khen thưởng kịp thời các cá nhân đạt kết quả cao. Chưa thực hiện thu thập thông tin phản hồi từ sinh viên và giảng viên về hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập.

Giảng viên không phải là Cố vấn học tập thì không được huy động tham gia bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập. Trong khi một lượng không nhỏ sinh viên vẫn mong muốn và nhận được sự giúp đỡ của giảng viên bộ môn trong quá trình học tập. Nếu giảng viên bộ môn hướng dẫn không đúng sẽ làm ảnh hưởng đến sự thành công của sinh viên.

2.6 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập cho giảng viên

  • Nguyên nhân từ các yếu tổ chủ quan: Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Trong tập huấn bồi dưỡng, giảng viên Cố vấn học tập chưa mạnh dạn trao đổi ý kiến để bàn thảo, tìm phương án giải quyết các vấn đề có thể gặp phải từ đó cùng nhau rút kinh nghiệm trong thực tế.

Trước vấn đề mới, giảng viên Cố vấn học tập chưa chia sẻ, tìm sự giúp đỡ từ cán bộ quản lý hoặc đồng nghiệp để có biện pháp phù hợp trong tư vấn, hướng dẫn sinh viên.

Giảng viên Cố vấn học tập đa phần có tuổi đời và tuổi nghề trẻ, độ tuổi dưới 35 chiếm 57,78% (bảng 2.4), chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng tư vấn nghề nghiệp.

  • Nguyên nhân từ các yếu tổ khách quan:

Các thay đổi sau rà soát điều chỉnh chương trình đào tạo không được hệ thống hóa qua các năm, gây khó khăn cho các Cố vấn học tập mới nhận nhiệm vụ.

Công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên chưa được tiến hành thường xuyên, nội dung chưa có nhiều đổi mới, còn nặng tính hình thức, rườm già, chưa thực sự thu hút được giảng viên tham gia.

Quy định quyền lợi đối với giảng viên kiêm nhiệm là Cố vấn học tập chưa thực sự tạo động lực cho hầu hết giảng viên, đôi khi còn là gánh nặng về nghĩa vụ, trách nhiệm bởi quá nhiều ràng buộc trong thi đua khen thưởng.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

Từ kết quả khảo sát và số liệu thống kê thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lý, Giảng viên và sinh viên về vai trò của Cố vấn học tập trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ, thực trạng hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên và thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên trường Đại học Hùng Vương cho thấy:

Cơ bản Cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên ghi nhận vai trò không thể thiếu của Cố vấn học tập trong hoạt động đào tạo theo HCTC. Cố vấn học tập đã trợ giúp, hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch và hoàn thành kế hoạch học tập phù hợp với khả năng và nhu cầu của bản thân, đồng thời hướng dẫn sinh viên tham gia nhiều hoạt động khác trong quá trình học tập tại nhà trường

Công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên được nhà trường quan tâm đầu tư đã giúp giảng viên, Cán bộ quản lý hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ của Cố vấn học tập. Giúp định hình được những công việc cần làm của giảng viên – Cố vấn học tập trong tư vấn, hướng dẫn sinh viên. Tuy nhiên hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng chưa cao do nguyên nhân cả từ phía học viên, báo cáo viên và Cán bộ quản lý được giao.

Việc quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên chưa có tính kế hoạch cao, nội dung còn chung chung, nhàm chán, chưa quan tâm đến đối tượng giảng viên không phải là Cố vấn học tập. Trong quá trình bồi dưỡng chưa khai thác triệt để thế mạnh từ các nguồn lực, đặc biệt là từ sự phát triển của Công nghệ thông tin và truyền thông. Khâu kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng chưa tiến hành thường xuyên, chưa tạo động lực cho các thành viên tham gia bồi dưỡng.

Từ những cơ sở lý luận đã được khảo cứu ở chương 1 và cơ sở thực tiễn, những thuận lợi và kết quả đạt được cùng những tồn tại, khó khăn yếu kém và các yếu tố ảnh hưởng nghiên cứu tại chương 2. Việc tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực Cố vấn học tập cho giảng viên là vô cùng quan trọng nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động Cố vấn học tập của giảng viên trường Đại học Hùng Vương. Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực cố vấn học tập

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993