Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường Trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta giai đoạn hiện nay đang đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế về kinh tế, văn hóa, xã hội mạnh mẽ, với mục tiêu đến năm 2027 trở thành một nước công nghiệp. Muốn đạt được mục tiêu ấy, trước hết phải đào tạo nguồn nhân lực, những chủ nhân tương lai của đất nước. Đối tượng của mục tiêu này chính là học sinh ở các bậc học, cấp học.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XXI khẳng định: Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng nhu cầu về chất lượng. Đề cao trách nhiệm của gia đình và xã hội, phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong giáo dục thế hệ trẻ. Tiếp tục phát triển và nâng cấp cơ sở vật chất – kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục đào tạo. Đầu tư hợp lý, có hiệu quả xây dựng một số cơ sở giáo dục, đào tạo đạt trình độ quốc tế.
Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trên các lĩnh vực, giao lưu với các nền văn hóa thế giới. Tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực trung du miền núi phía Bắc hiện cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ những biến động của văn hóa xã hội. Những ảnh hưởng này ít nhiều tác động tới học sinh ở cả mặt tích cực và tiêu cực khác nhau. Sự du nhập của những luồng văn hóa mới làm bào mòn đi những giá trị truyền thống của dân tộc, làm thay đổi những nét nhân cách của thế hệ trẻ Việt Nam. Một trong những nét văn hóa đáng lo ngại đó là những ứng xử giữa con người và con người bằng bạo lực, việc giải quyết các mâu thuẫn con người theo văn hóa “chợ búa”. Những số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo những năm qua cho thấy: hiện tượng bạo lực học đường (BLHĐ) xảy ra phổ biến ở các bậc học, cấp học với tính chất, mức độ bạo lực khác nhau. Hiện tượng này không chỉ xảy ra ở nam học sinh mà cả ở nữ, không chỉ ngoài nhà trường mà cả trong trường. Điều này gây ra nhiều bất ổn trong nhà trường, an ninh trật tự ở địa phương và những lo lắng của các bậc phụ huynh khi cho con đến trường.
Hiện tượng bạo lực học đường trong các trường Trung học cơ sở (THCS) trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay có xu hướng ngày càng phức tạp, để lại những hậu quả nặng nề về thể chất, tinh thần của học sinh, gây ra những bức xúc trong dư luận xã hội. Qua nhiều năm công tác và theo dõi quản lý các trường THCS trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên chúng tôi nhận thấy việc quản lý hoạt động giáo dục phòng chống BLHĐ ở các trường THCS trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều cố gắng và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, những cố gắng ấy chỉ dừng lại ở mức độ giải quyết các vụ việc, thiếu sự vận dụng những nghiên cứu khoa học vào thực tiễn cuộc sống. Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường Trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên” làm đề tài luận văn để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm góp phần phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên.
4. Giả thuyết khoa học
Hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên còn có những hạn chế bất cập như: nội dung, phương thức giáo dục chưa phù hợp; sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh chưa thực sự hiệu quả…. Nếu đề xuất và thực hiện một cách đồng bộ các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên phù hợp với tình hình thực tiễn thì hiệu quả của hoạt động này sẽ được nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên.
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Giới hạn về nội dung: Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp quản lí của Hiệu trưởng đối với hoạt động giáo dục Phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS Thành phố Thái Nguyên.
Giới hạn về địa bàn khảo sát: Tiến hành khảo sát 30 CBQL, 40 GV và 100 học sinh lớp 7, 8 tại 10 trường THCS ở thành phố Thái Nguyên gồm: THCS Chu Văn An, THCS Độc Lập, THCS Đồng Quang, THCS Gia Sàng, THCS Lương Ngọc Quyến, THCS Hoàng Văn Thụ, THCS Nguyễn Du, THCS Nha Trang, THCS Quang Trung, THCS Quang Vinh.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tiến hành phân tích tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hóa các tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài để xác định các khái niệm và xây dựng khung lý thuyết của đề tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Đây là phương pháp cơ bản nhất trong đề tài, được sử dụng với mục đích lấy ý kiến của các khách thể điều tra thông qua phiếu hỏi nhằm làm rõ thực trạng cần nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát các hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS để thu thập thông tin thực tiễn cho đề tài.
- Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành đàm thoại với một số CBQL, GV nhằm thu thập các dữ liệu, thông tin thực tiễn, làm rõ hơn các kết quả.
- Phương pháp chuyên gia Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Trưng cầu ý kiến chuyên gia về các nội dung nghiên cứu, đánh giá thực trạng nghiên cứu, đánh giá về tính khoa học và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất.
7.3. Các phương pháp xử lý số liêu bằng thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu thực trạng và khảo sát tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
8. Cấu trúc nghiên cứu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận và khuyến nghị; Phụ lục; Danh mục tài liệu tham tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS.
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS thành phố Thái Nguyên
- Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS thành phố Thái Nguyên.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
BLHĐ là một vấn nạn xảy ra ở hầu hết các nước trên thế giới với tính chất và mức độ khác nhau. BLHĐ không phải là một chủ đề mới, hiện nay dưới sự hỗ trợ của các thiết bị thông minh và mạng xã hội tình trạng này được biết đến ngày càng nhiều hơn thông qua việc phát tán những clip học sinh ẩu đả, hiếp đáp lẫn nhau.
Tình trạng bạo lực trong trường học được các nhà nghiên cứu phương Tây và Mỹ đặc biệt quan tâm. Theo một công bố mới đây của Hiệp hội Giáo dục quốc gia Mỹ, tình trạng bạo lực học đường với các con số đáng quan ngại: BLHĐ ảnh hưởng đến 1/3 HS từ lớp 6 đến lớp 10; 28% HS Mỹ từ lớp 6 – 9 từng chịu BLHĐ, trong khi đó HS từ lớp 10 – 12 là 20%; 30% thanh thiếu niên thừa nhận từng bắt nạt người khác; gần 70% trong số HS bị bạo hành đều nói rằng nhà trường đã không có biện pháp thiết thực đối với tình trạng này và chỉ có 20 – 30% HS bị bắt nạt thường thông báo cho người lớn về sự việc. Điều đáng buồn 9/10 thanh thiếu niên thuộc LGBT (đồng tính) bị bạo hành bằng lời nói tại trường trong năm 2020 nhằm vào giới tính của họ.
Những nghiên cứu gần đây ở Mỹ đã chỉ ra rằng cứ 7 phút lại có một trẻ em bị bắt nạt. Cứ 4 trẻ lại có một trẻ thừa nhận từng bắt nạt trẻ khác. Một cuộc thăm dò thực hiện ở trẻ có độ tuổi 12 – 17 cho kết quả các em đều thừa nhận bạo lực đang gia tăng ở trường học của mình. Mỗi tháng có 282.000 học sinh ở các trường trung học cơ sở Mỹ bị tấn công. Cũng tại Mỹ, nghiên cứu của Hội đồng phòng chống tội phạm quốc gia (NCPC) cũng khẳng định 43% học sinh cả nam lẫn nữ thuộc độ tuổi từ 13 – 17 tuổi từng bị dọa nạt hoặc chế giễu trên internet.
Theo các nghiên cứu thực hiện ở Châu Âu, bạo lực học đường xảy ra thường xuyên ở trường tiểu học, liên quan tới khoảng 15% số học sinh. Ở trung học cơ sở, tỉ lệ học sinh bị bắt nạt là từ 3% – 10%, với mức độ cao đột biến ở độ tuổi 13 – 14, khi các em học sinh bắt đầu tuổi dậy thì. Đến cấp trung học phổ thông, nạn bạo lực học đường bắt đầu có xu hướng giảm đi.
Còn tại Châu Á, theo một nghiên cứu của Chính phủ Nhật Bản nạn bắt nạt bạn trong trường học Nhật Bản tăng hơn 5% trong năm 2011 so với năm trước đó. Sách trắng về thanh thiếu niên năm 2021 thống kê 23.351 vụ bắt nạt trong các trường tiểu học và trung học công lập cùng với các trường khiếm thính, khiếm thị và khuyết tật khác. Con số này vượt hơn năm trước 1.046 vụ, tăng 5,16%. Đây là lần tăng đầu tiên trong 8 năm qua. Những vụ xâm phạm thân thể liên quan tới bắt nạt học đường cũng tăng liên tục qua hai năm liền. Các vụ bắt nạt trong trường học lên tới đỉnh điểm vào năm 1995 với 60.096 vụ [26].
Hàn Quốc cũng được coi là một trong những quốc gia có nạn bạo lực học đường nhức nhối trên thế giới. Theo kết quả khảo sát của Quỹ phòng chống bạo lực thanh thiếu niên Hàn Quốc tháng 11 và 12 năm 2017, trong số 4.073 học sinh tại 64 trường tiểu học và trung học, 20% thừa nhận từng bị bắt nạt ở trường. 63% nạn nhân phải “nếm” đòn bạo lực ngay khi mới học tiểu học. Con số này cao hơn 6 – 7% so với số liệu thống kê năm 2015 (56,1%) và năm 2016 (56,8%). tệ nạn này xảy ra nghiêm trọng đối với học sinh nữ hơn học sinh nam. Đáng lưu ý, nhiều học sinh đã không ý thức được hành vi bạo lực của mình. Khoảng 36% học sinh Hàn Quốc coi việc bắt nạt như một trò đùa, 20% thừa nhận hành vi bắt nạt bạn là không có lý do đặc biệt. Theo điều tra, số học sinh thường xuyên bắt nạt các bạn học khác thường hay xem phim bạo lực, hoặc do hoàn cảnh gia đình. 51,5% người được hỏi thừa nhận, thường xuyên chơi và xem phim, game bạo lực… Để ngăn ngừa tình trạng này, cùng với việc thi hành luật, người dân nước này cũng đã tham gia nhiều cuộc vận động nâng cao nhận thức về bạo lực học đường, tư vấn cũng như các biện pháp khác nhằm hỗ trợ các nạn nhân là học sinh [26].
Tại Nam Phi, Cao ủy Nhân quyền Nam Phi cho thấy 40% trẻ em được phỏng vấn nói rằng chúng từng là các nạn nhân của tội phạm tại trường học. Chỉ 23% học sinh cảm thấy an toàn khi đặt chân tới lớp. Hơn một phần năm số vụ tấn công tình dục vào trẻ em Nam Phi được phát hiện diễn ra tại trường học. Việc phải đương đầu với bạo lực gia đình, băng đảng và ma túy để lại dấu ấn lâu dài trong tính cách của học sinh [26].
Tóm lại, các nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn về bạo lục nói chung, bạo lực học đường nói riêng ở nước ngoài cho thấy: bạo lực học đường mang những nội dung về bản chất, nguồn gốc của nó dựa trên cơ sở sinh học, xã hội học và tâm lí học và mỗi lí thuyết khác nhau có những cách lí giải khác nhau về nguồn gốc phát sinh cũng như những phương pháp trị liệu khác nhau đối với bạo lực học đường nhưng chưa đưa ra được một phương pháp trị liệu tổng quát cho việc giảm thiểu, ngăn ngừa hành vi này một cách hiệu quả.
1.1.2. Ở Việt Nam Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Trường học là một môi trường tốt nhất không những cung cấp cho chúng ta những tri thức về khoa học mà còn là nơi rèn luyện nhân cách, đạo đức cho học sinh, sinh viên, bồi dưỡng cho tâm hồn chúng ta thanh cao hơn, trong sáng hơn, trang bị cho chúng ta một quan niệm đúng đắn về cuộc sống, một lẽ sống cao đẹp… Thế nhưng, một điều thật đau lòng, thật nhức nhối đang diễn ra, khiến nhiều người làm công tác giáo dục nói riêng, các cấp chính quyền và toàn xã hội nói chung đang lo lắng trước sự suy đồi, tha hóa về đạo đức trong nhà trường hiện nay đó là nạn bạo lực học đường.
Tại Việt Nam, số liệu được Bộ Giáo dục và đào tạo (GD- ĐT) đưa ra gần đây nhất, trong một năm học, toàn quốc xảy ra gần 1.600 vụ việc học sinh đánh nhau ở trong và ngoài trường học (khoảng 5 vụ/ngày). Cũng theo thống kê của Bộ GD-ĐT, cứ khoảng trên 5.200 học sinh (HS) thì có một vụ đánh nhau; cứ hơn 11.000 HS thì có một em bị buộc thôi học vì đánh nhau; cứ 9 trường thì có một trường có học sinh đánh nhau… Bạo lực học đường đã trở thành mối quan tâm của rất nhiều gia đình, các nhà trường và là nỗi trăn trở của toàn xã hội bởi hậu quả nghiêm trọng mà nó gây ra [26].
BLHĐ ở nước ta xảy ra ở tất cả các bậc học. Tuy nhiên, trong một thời gian dài chúng ta đã xem nhẹ những hành vi bạo lực, bạo lực học đường và coi chúng là những điều tất yếu. Thậm chí, một số cá nhân còn xem đó là một phần tự nhiên của quá trình phát triển tâm sinh lý của lứa tuổi học trò nên những nghiên cứu về vấn đề này chỉ tập trung vào việc tìm hiểu những hành vi bạo lực đối với trẻ em ở trong gia đình, ở ngoài xã hội. Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho nghiên cứu về bạo lực học đường còn mang tính ban đầu và Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Những năm gần đây, bạo lực học đường mới được tập trung nghiên cứu như là đối tượng của một bộ môn khoa học. Có thể kể đến một số tác phẩm, một số cuộc hội thảo về bạo lực học đường: Cụ thể có một số nghiên cứu sau:
- Năm 2020, tác giả Trần Thị Tú Anh với bài viết “Hành vi bạo lực học đường của học sinh THCS Thành phố Huế, Kỷ yếu Hội thảo tâm lý học đường lần 3 “Phát triển mô hình và kỹ năng hoạt động tâm lý học đường”, TP HCM.
- Tác giả Trần Thị Minh Đức với bài viết “Gây hấn học đường ở học sinh trung học phổ thông” đăng trên Tạp chí nghiên cứu con người, số 3/2018 và cuốn sách chuyên khảo “Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ tâm lí học xã hội”.
- “Bạo hành đối với trẻ em gái trong môi trường học đường” (Nguyễn Phương Thảo và cộng sự, 2013).
- “Tìm hiểu những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội của học sinh trường Phổ thông trung học dân lập Đinh Tiên Hoàng” (Nguyễn Thị Phương, 2014).
- “Hung tính ở trẻ em” (Phạm Hoàng Hà, Hoàng Gia Trang, 2010).
- “Hành vi sai lệch chuẩn mực của học sinh tại một số trường phổ thông ở Hà Nội” (Tạp chí phát triển giáo dục- Hoàng Gia Trang, 2013).
- “Ảnh hưởng của nhóm bạn không chính thức đến hành vi phạm pháp của trẻ vị thành niên” (Mã Ngọc Thể).
- “Một vài hiện tượng tiêu cực trong thanh niên hiện nay và công tác giáo dục vận động thanh niên” (Lê Ngọc Dung, Hồ Bá Thông, 2012).
- “Cách thức cha mẹ quan hệ với con cái và hành vi lệch chuẩn của trẻ”(Lưu Song Hà, 2016).
- “Bạo lực học đường ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ tâm lý học” (Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Mai Lan – 2021).
- “Bạo lực học đường ở Hà Nội: Thực trạng và giải pháp” (Đăng Doanh, Tạp chí Lao động và xã hội. Số. 412. -tr. 35-37, 2019).
Ngoài ra, có khá nhiều hội thảo khoa học liên quan đến BLHĐ như: “Thực trạng và giải pháp ngăn chặn bạo lực học đường trong trường phổ thông” tại trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, năm 2023 và hội thảo “Trường học an toàn, thân thiện và bình đẳng – Thực trạng và giải pháp” diễn ra tại Hà Nội ngày 26/11, Viện nghiên cứu Y – Xã hội phối hợp với tổ chức từ thiện Plan Việt Nam đã công bố kết quả nghiên cứu về bạo lực giới trong trường học. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 9/2022 với 3.000 học sinh của 30 trường THCS, THPT trên địa bàn Hà Nội, sử dụng phương pháp bảng hỏi và phỏng vấn sâu. Kết quả cho thấy, khoảng 80% học sinh cho biết từ trước đến nay đã bị bạo lực giới trong trường học ít nhất một lần, 71% bị bạo lực trong vòng 6 tháng qua. Trong đó, bạo lực tinh thần (mắng chửi, đe dọa, bắt phạt, đặt điều, sỉ nhục…) chiếm tỷ lệ cao nhất 73%, bạo lực thể chất (tát, đá, xô đẩy, kéo tóc, bạt tai, đánh đập…) là 41% và bạo lực tình dục chiếm 19%. Mức độ an toàn ở nhà trường được HS đánh giá rất thấp, chỉ 16% HS nữ và 19% HS nam cho rằng luôn an toàn trong khuôn viên trường học, nhà vệ sinh được coi là nơi kém an toàn nhất.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề bạo lực học đường như: những vấn đề tâm lý của trẻ có hành vi gây hấn; hậu quả của bạo lực học đường đối với gia đình, nhà trường và chính bản thân học sinh, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp… Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những công trình đi sâu nghiên cứu về hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ và quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS. Chúng tôi nhận thấy đây là một vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu một cách đầy đủ hơn.
1.2. Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
1.2.1. Khái niệm quản lý
Pall Hersey và Ken Blanc Hard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” xem xét “Quản lý như là một quá trình làm việc cùng và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích của tổ chức” [14; tr. 52].
Theo Harol Koontz trong tác phẩm “Những vấn đề cốt lõi của quản lý” đã được dịch ra tiếng Việt Nam của nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội năm 1992 thì: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức”[9].
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin: “Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống xã hội. Trên cơ sở vận dụng đúng đắn những quy luật và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”. Theo C.Mác: “Quản lý là loại lao động sẽ điều khiển mọi quá trình lao động phát triển xã hội”[10]. Theo F.W.Taylor – người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong tổng bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động. Ông cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.
Theo tác giả Hà Sỹ Hồ thì: “Quản lý là một quá trình hoạt động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [6].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [15].
Với cách hiểu quản lý là quản lý tổ chức của con người, hoạt động của con người thì có thể định nghĩa: Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường biến động.
Từ những quan niệm trên chúng tôi thấy, ở những góc độ khác nhau có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, quan niệm này phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích hoạt động của hệ thống. Nhưng chúng ta có thể hiểu một cách khái quát là: Quản lý một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan, trường học, xí nghiệp…) với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào trong thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Tuy có các cách tiếp nhận khác nhau nhưng trong quá trình nghiên cứu tác giả thấy khái niệm quản lý bao hàm một số ý nghĩa chung đó là: Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Quản lý là các hoạt động để đảm bảo mục đích chung là hoàn thành công việc qua nỗ lực của các cá thể trong tổ chức. Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một cơ thể sống gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định tồn tại trong thời gian, không gian cụ thể.
Quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết định đúng quy luật, hợp thời điểm và có hiệu quả của quản lý nhưng cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định hướng đến mục tiêu đó là đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ và ăn ý những nỗ lực của các cá thể nhằm đạt được mục đích chung của tổ chức hay nói cách khác là nguyên tắc đảm bảo phát huy cao độ năng lực của các cá nhân trong tổ chức để đạt được mục đích chung.
Hệ thống quản lý bao giờ cũng gồm 2 phân hệ là: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý (người quản lý và người bị quản lý). Tác động quản lý là tác động có định hướng, có tổ chức mang tính tổng hợp bao gồm nhiều giải pháp khác nhau thông qua cơ chế quản lý để sử dụng có hiệu quả cao nhất nguồn lực sẵn có của tổ chức trong điều kiện nhất định nhằm đảm bảo cho hệ thống ổn định phát triển và đạt được mục tiêu đã định.
Mục tiêu cuối của quản lý là chất lượng sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người. Người quản lý tựu trung lại là nghiên cứu khoa học nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ giữa con người với nhau vô cùng phức tạp không chỉ giữa chủ thể và khách thể trong hệ thống mà còn trong mối quan hệ tương tác với các hệ thống khác nhằm hướng đến mục tiêu chung của tổ chức mình.
Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý để lãnh đạo, hướng dẫn, điều khiển đối tượng quản lý thực hiện nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
1.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Quản lý giáo dục cũng như quản lý xã hội là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích nhất định của mình.
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà giáo dục cho mọi người.
Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục, vận hành nhà trường, cơ sở giáo dục phù hợp với chức năng, sứ mệnh, tính chất của nhà trường, cơ sở giáo dục.
Quản lý giáo dục được tiếp cận dưới hai góc độ đó là góc độ vĩ mô và góc độ vi mô. Ở góc độ vi mô chủ thể quản lý giáo dục là hệ thống các cơ quan quản lý giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, đối tượng của quản lý là hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống quản lý, mục tiêu của quản lý là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, vì vậy khái niệm quản lý giáo dục có thể hiểu như sau:
Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có mục đích, hợp quy luật và chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, thực hiện mục tiêu của nền giáo dục.
1.2.3. Khái niệm Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường phổ thông
Luật Giáo dục quy định đối với tất cả các giáo viên, người làm công tác quản lý giáo dục. Đối với giáo viên bộ môn, trách nhiệm của họ không chỉ truyền đạt những kiến thức chuyên môn mà còn phải giáo dục đạo đức, lối sống, hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách của người học, dạy chữ phải đi đôi với dạy người. Còn đối với chủ nhiệm lớp, họ phải nắm được chất lượng toàn diện trên tất cả các mặt, không chỉ học mà còn là sự tu dưỡng, rèn luyện của các em học sinh.
Như vậy, có thể hiểu, quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường như sau:
Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhà trường trong việc giáo dục đạo đức học sinh nhằm tăng cường phòng ngừa bạo lực học đường và thực hiện theo nguyên tắc lấy phòng ngừa, ngăn chặn là chính; thực hiện các biện pháp giáo dục, vận động và can thiệp của nhà trường, gia đình và cộng đồng, bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của học sinh, xử lý kịp thời các hành vi bạo lực học đường.
1.2.4. Bạo lực học đường
- Bạo lực
Có những cách hiểu khác nhau về bạo lực. Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
- Theo Từ điển Tiếng Việt (2010): Bạo lực là “sức mạnh dùng để chỉ sự cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ”[23; tr.31].
- Theo từ điển Anh-Việt “ Aggresion” có nghĩa là hành
- Theo Từ điển trực tuyến Bách khoa toàn thư Wikipedia: Bạo lực “là hành vi sử dụng sức mạnh thể chất với mục đích gây thương vong, tổn hại một ai đó. Bạo lực thể chất có thể là điểm tột đỉnh của các cuộc xung đột”.
Nhìn chung, các quan điểm nêu trên đã thống nhất chỉ ra khía cạnh cơ bản trong khái niệm bạo lực. Đó là những hành động mang tính chất chiếm đoạt làm tổn thương đến người khác và bị pháp luật trừng phạt. Ngày nay, quan điểm về bạo lực không chỉ giới hạn ở những hành động làm tổn thương đến thể chất mà còn xét cả ở những hành động làm tổn thương đến tinh thần của người khác trong gia đình và ngoài xã hội.
Từ những vấn đề phân tích nêu trên chúng tôi cho rằng: Bạo lực là dùng sức mạnh thể chất, quyền lực, lời nói hay các hành động để cưỡng bức, trấn áp, đe dọa, hành hung…làm tổn thương đến thể chất, tinh thần của người khác”.
- Bạo lực học đường
Có nhiều cách hiểu khác nhau về BLHĐ: Dưới góc độ khoa học giáo dục: BLHĐ là những hành vi xâm phạm có chủ ý, có ý đồ, thường gây hậu quả nghiêm trọng và xảy ra trong phạm vi nhà trường.
Nhìn từ góc độ lấy học sinh làm trung tâm: BLHĐ là sự xâm hại của học sinh đối với học sinh, sự xâm hại của học sinh đối với người bên ngoài nhà trường và ngược lại, là sự xâm hại của giáo viên với học sinh và học sinh với giáo viên. Bạo lực ấy xâm phạm đến sức khỏe hoặc danh dự của người bị hại hoặc xâm phạm đến tính mạng và nhân phẩm của người bị hại. Bạo lực ấy không chỉ xảy ra trong phạm vi nhà trường mà nhiều khi xảy ra cả bên ngoài nhà trường.
Từ sự tìm hiểu một số khái niệm trên ta có thể hiểu: Bạo lực học đường là những lời nói và hành vi thô bạo, ngang ngược bất chấp công lý, đạo đức, xúc phạm trấn áp người khác gây nên những tổn thương về tinh thần và thể xác diễn ra trong phạm vi trường học.
- Về mặt đạo đức, có hai loại BLHĐ: Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Bạo lực về thể xác: Là những hành vi thô bạo, ngang ngược bất chấp công lý, đạo đức, xúc phạm trấn áp người khác gây nên những tổn thương về thể xác diễn ra trong phạm vi trường học.
Bạo lực về tinh thần: Là những lời nói và hành vi thô bạo, ngang ngược bất chấp công lý, đạo đức, xúc phạm trấn áp người khác gây nên những tổn thương về tinh thần diễn ra trong phạm vi trường học.
Về mặt hành vi: Theo tác giả Nguyễn Văn Lượt, bạo lực học đường là một dạng hành vi lệch chuẩn. Dạng hành vi này có hai loại:
Loại thụ động: Là những hành vi của học sinh bị sai lệch do các em nhận thức không đầy đủ hoặc nhận thức sai chuẩn mực, nội quy, quy tắc của trường lớp hay bị bạn bè rủ rê…. loại hành vi này không đáng lo ngại vì có thể giáo dục, cung cấp thông tin để học sinh hiểu đúng, từ đó các em có hành vi đúng đắn.
Loại chủ động: Là những hành vi mà cá nhân mặc dù biết rõ những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của nhà trường, của xã hội nhưng vẫn cố ý làm tổn thương người khác. Đối với loại BLHĐ này, việc khắc phục gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi sự kiên trì, nhẫn nại của cha me, thầy cô, nhà trường và xã hội.
Về mặt nhân cách con người, BLHĐ gồm có 4 loại:
- Bạo lực giữa học sinh với học sinh
- Bạo lực giữa giáo viên với học sinh
- Bạo lực giữa học sinh với giáo viên
- Bạo lực giữa phụ huynh học sinh với giáo viên.
Biểu hiện của bạo lực học đường:
- Biểu hiện của bạo lực học đường có thể xảy ra dưới nhiều hình thức.
- Xúc phạm, lăng mạ, xỉ nhục, đay nghiến, trà đạp nhân phẩm làm tổn thương về mặt tinh thần thông qua lời nói.
- Đánh đập, tra tấn, hành hạ làm tổn thương về sức khỏe, xâm phạm cơ thể con người thông qua hành vi bạo lực.
Như vậy, có thể hiểu: BLHĐ là những lời nói, hành vi sai lệch chuẩn mực đạo đức của nhà trường, của xã hội ở học sinh. Những hành vi này gây nên những tổn thương về tinh thần hoặc thể chất cho người khác.
1.2.5. Hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Theo Từ điển tiếng Việt (2018) phòng ngừa là “phòng trước không để cho cái xấu, cái không hay xảy ra” [23; tr.318].
Như vậy, có thể hiểu: Phòng ngừa BLHĐ là quá trình tác động đến nhận thức của người học, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong cơ sở giáo dục, gia đình người học và cộng đồng về mối nguy hiểm và hậu quả của bạo lực học đường; về trách nhiệm phát hiện, thông báo, tố giác hành vi bạo lực học đường; ngăn ngừa trước, không để hành vi BLHĐ xảy ra.”
- Hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ:
Hoạt động giáo dục (trong nhà trường) là quá trình hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và những phẩm chất đạo đức cần thiết cho học sinh. Qúa trình này bao gồm các thành tố cơ bản như: mục đích giáo dục, nhiệm vụ giáo dục; nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức giáo dục; chủ thể giáo dục, đối tượng giáo dục…
Theo đó, có thể hiểu: Hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ là quá trình tác động của nhà giáo dục (giáo viên) đến học sinh, giúp học sinh nhận thức rõ về bản chất, nguyên nhân và tác hại của BLHĐ, những biện pháp cần thiết để phòng ngừa hành vi BLHĐ có thể xảy ra ở học sinh.
1.2.6. Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường
Từ các khái niệm: quản lý, bạo lực học đường, hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường, có thể hiểu về khái niệm quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường như sau: Quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường là quá trình tác động của nhà quản lý (Hiệu trưởng) đến hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường trong nhà trường, giúp cho hoạt động này diễn ra có hiệu quả, đáp ứng được các mục tiêu giáo dục nhất định.
1.3. Một số vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
1.3.1. Hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường Trung học cơ sở
- Trường THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trường Trung học cơ sở là một bậc học trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam (trước gọi là cấp II), bao gồm có 4 trình độ, từ lớp 6 đến lớp 9, bắt đầu từ năm 11 đến năm 14 tuổi. Đây là một cấp học bắt buộc để công dân có thể có một nghề nghiệp nhất định (tốt nghiệp Trung học cơ sở có thể học nghề hay Trung cấp chuyên nghiệp mà không cần học tiếp bậc Trung học phổ thông).
Học sinh đến trường phải học các môn sau: Toán, Vật lý, Hoá học (lớp 8 và 9), Sinh học, Công nghệ, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục Công dân, Ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nga, Trung, Nhật), Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học (máy vi tính hoặc điện toán).
Ngoài ra học sinh có thêm một số tiết bắt buộc như: giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp (lớp 9), sử ca học đường…
Hết cấp trung học cơ sở, học sinh được xét tốt nghiệp dựa trên thành tích học tập tích lũy trong bốn năm. Trước đây hết cấp Trung học cơ sở học sinh phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp, nhưng từ năm 2014 đến nay đã chính thức được bãi bỏ. Muốn theo học tiếp trình độ cao hơn (cấp Trung học phổ thông) học sinh phải tham dự các kỳ thi tuyển sinh.
Trường Trung học cơ sở được bố trí tại từng xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có một số xã không có trường Trung học cơ sở. Đó thường là các xã ở vùng sâu, vùng xa hoặc hải đảo. Theo quy định trong Luật Ngân sách Nhà nước, đầu tư xây dựng trường Trung học cơ sở cũng như trường Tiểu học thuộc trách nhiệm của chính quyền cấp quận, huyện.
- Tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS
- Đặc điểm tâm lý cơ bản của học sinh Trung học cơ sở:
Học sinh THCS là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 – 15 tuổi, các em được vào học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 – 9). Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”,… Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này.
- Sự phát triển về thể chất:
Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều về mặt cơ thể. Tầm vóc của các em lớn lên trông thấy. Trung bình một năm các em cao lên được 5, 6 cm. Các em nữ ở độ tuổi 12, 13 phát triển chiều cao nhanh hơn các em nam cùng độ tuổi, nhưng đến 18, 20 tuổi thì sự phát triển chiều cao lại dừng lại. Các em nam ở độ tuổi 15, 16 tuổi thì cao đột biến, vượt các em nữ và đến 24, 25 tuổi mới dừng lại. Sự phát triển hệ xương như các xương tay, xương chân rất nhanh, nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm. Vì vậy ở lứa tuổi này các em không mập béo, mà cao, gầy, thiếu cân đối, các em thường lóng ngóng vụng về, hay làm đổ vỡ,… Điều đó gây cho các em một biểu hiện tâm lý khó chịu.
Sự phát triển của hệ thống tim mạch cũng không cân đối. Thể tích của tim tăng rất nhanh, hoạt động của tim mạnh mẽ hơn, nhưng kích thích của mạch máu lại phát triển chậm. Do đó có một số rối loạn tạm thời của hệ tuần hoàn, tăng huyết áp, tim đập nhanh, hay nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi khi làm việc.
Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh, thường dẫn đến rối loạn hoạt động hệ thần kinh. Do đó dễ xúc động, dễ bực tức. Vì thế các em thường có những phản ứng gay gắt, mạnh mẽ và những cơn xúc động.
Hệ thần kinh của thiếu niên còn chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh kéo dài. Do tác động như thế làm cho một số em bị ức chế, uể oải, thờ ơ, lơ đễnh, số khác có những hành vi xấu, không đúng bản chất của các em. Lứa tuổi này là lứa tuổi có nghị lực dồi dào, có tính tích cực cao có nhiều dự định lớn lao.
Cần lưu ý ở lứa tuổi này, đó là thời kỳ phát dục. Sự phát dục ở lứa tuổi học sinh THCS là một hiện tượng bình thường, diễn ra theo quy luật sinh học, chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiên và xã hội.
- Sự phát triển về tâm lý:
Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động… của các em.
Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn – điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên. Hoàn cảnh đó có cả hai mặt: Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn, trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội. Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống. Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn.
Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau: Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít. Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn. Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập,… còn quan hệ với bạn gái như trẻ con.
Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này. Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên.
Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, giúp chúng ta có cách đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách toàn diện. Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
- Tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường
Giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh ở các trường THCS trước hết giúp cho môi trường giáo dục ở các trường THCS được lành mạnh. Nhà trường là địa chỉ tin cậy để thu hút học sinh vào trường. Thông qua công tác này giúp nâng cao uy tín, thương hiệu của nhà trường đối với ngành và với xã hội.
Đối với các em học sinh, việc phòng ngừa bạo lực học đường giúp cho các em yên tâm tập trung vào học tập. Môi trường học tập thân thiện giúp cho các em học sinh thêm yêu quý mái trường, bàn bè. Đây là động lực làm cho các em luôn mong muốn đến trường, không bị những lo lắng, stress về bạo lực làm ảnh hưởng đến học tập. Từ đó, các em học tập tập trung hơn và kết quả học tập sẽ tốt hơn.
Đối với mỗi gia đình việc nhà trường thực hiện tốt công tác giáo dục phòng ngừa BLHĐ làm cho các bậc cha mẹ yên tâm hoàn thành các công việc của bản thân mình. Môi trường học tập của con em lành mạnh tạo ra niềm hạnh phúc cho mỗi gia đình. Gia đình tin tưởng vào nhà trường, sẵn sàng đóng góp về tinh thần và vật chất để xây dựng mái trường ngày càng hoàn thiện, phát triển hơn.
Đối với toàn xã hội việc thực hiện tốt việc phòng ngừa BLHĐ trong các nhà trường sẽ góp phần làm giảm thiểu sự suy đồi của đạo đức xã hội, góp phần ngăn chặn nhưng hành vi sai lệch đáng báo động của một bộ phận giới trẻ hiện nay. Phòng ngừa BLHĐ còn giúp ổn định an ninh trật tự xã hội, góp phần không nhỏ đến việc phát triển nhân cách của học sinh.
- Nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS
- Nội dung phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS:
Giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường nhằm giúp học sinh tăng cường khả năng nhận diện các biểu hiện và nguyên nhân của bạo lực học đường, nhất là trong giai đoạn tiền bạo lực: bắt nạt lẫn nhau, cưỡng chế lấy đồ của nhau, dùng lời nói đe nẹt, dọa nạt,… chuẩn bị cho học sinh sự sẵn sàng về tâm lý đấu tranh chống lại bạo lực và các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn. Nhận thức đúng là cơ sở để hành động, bởi vì để ngăn chặn bạo lực, phải hiểu biết về bản chất của bạo lực và những biểu hiện của nó trong mỗi giai đoạn. Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Nâng cao nhận thức cho học sinh về nguy cơ và hậu quả của bạo lực học đường. Những tổn thương về tinh thần, sức khỏe và vật chất của học sinh, cả những em chủ mưu gây ra và những em bị hại là khôn lường. Đặc biệt, sự gia tăng bạo lực đang làm suy thoái nhân cách của một bộ phận những người trẻ tuổi, thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước. Trong cuộc đấu tranh này, không ai đứng ngoài cuộc. Việc tuyên truyền về nguy cơ và hậu quả của bạo lực học đường, nhà trường và các phương tiện truyền thông có vai trò quan trọng để giúp học sinh có ý thức phòng ngừa BLHĐ, những nội dung giáo dục có liên quan đến chuẩn mực đạo đức, phương thức ứng xử giữa học sinh với học sinh , học sinh với giáo viên và các lực lượng giáo dục khác có ý nghĩa quan trọng. BLHĐ sẽ không xảy ra khi học sinh có nhận thức đúng về các chuẩn mực đạo đức, có khả năng giao tiếp tốt, biết cách xây dựng mối quan hệ tích cực với mọi người xung quanh.
- Phương pháp giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS:
Phương pháp giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS hiện nay được thực hiện khá đa dạng, phong phú. Phòng chống bạo lực học đường ở các trường THCS phải được các cán bộ quản lý trường học, các thầy cô giáo và học sinh chủ động tham gia tích cực và thường xuyên, được thực hiện mọi nơi, mọi lúc, đồng thời được các cấp, các ngành, các bậc phụ huynh học sinh phối hợp thực hiện. Tập trung ở một số các phương pháp sau:
Phương pháp thuyết phục: Phương pháp này được sử dụng lồng ghép trong các hoạt động dạy học trên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để giúp cho học sinh nhận thức đúng, sai trong những hành vi ứng xử của bản thân đối với bạn bè xung quanh. CBQL, GV cũng có thể sử dụng phương pháp này khi gặp những xung đột bạo lực trực tiếp giữa những học sinh ở trong và ngoài trường để thuyết phục các em nhằm biến những mâu thuẫn lớn thành mâu thuẫn nhỏ, định hướng cho các em có những hành vi ứng xử đúng đắn. Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Phương pháp nêu gương: Đây là phương pháp sử dụng việc giáo dục bằng truyền thống, giáo dục bằng những tấm gương để cho học sinh noi theo. Những tấm gương được sử dụng thường là những người có uy tín đối với các em học sinh như: ông bà, bố mẹ, thầy cô giáo, anh chị khóa trước…Phương pháp này giúp các em nhìn vào những tấm gương để phấn đấu noi Cơ chế tâm lý của trẻ em là cơ chế bắt chước, nếu nhà trường xây dựng được môi trường lành mạnh với nhiều tấm gương sáng sẽ có tác dụng tích cực giúp cho học sinh học tập noi gương.
Phương pháp khen thưởng, khích lệ, động viên học sinh: Phương pháp này thường được CBQL, GV sử dụng trong các giờ chào cờ đầu tuần và các tiết sinh hoạt. CBQL, GV thực hiện việc khen thưởng những tập thể, cá nhân có việc làm tốt về phòng ngừa BLHĐ; Nêu những gương tốt về hành vi phòng, chống bạo lực học đường. Phương pháp này có tác dụng lan truyền tâm lý giúp động viên, khích lệ học sinh khá tích cực khi các em có những thành tích trong việc phòng ngừa BLHĐ.
Phương pháp kỷ luật, trách phạt học sinh: Bên cạnh những biện pháp mang tính nhân văn, việc giáo dục phòng ngừa BLHĐ cũng cần có những biện pháp mạnh để giúp cảnh tỉnh, suy nghĩ sâu sắc để điều chỉnh hành vi của mình. Biện pháp kỷ luật trách phạt được CBQL, GV thực hiện bằng nhiều cách như: phạt trực nhật, phạt dọn vệ sinh toilet, phạt tưới rau, viết bản kiểm điểm, bản cam kết, mời phụ huynh đến nhắc nhở… Thậm chí, có những trường hợp phải sử dụng những hình thức kỷ luật cao như: đình chỉ học tập; truy cứu trách nhiệm hình sự… Phương pháp này là một trong những biện pháp mạnh nhất mà các nhà trường THCS đã và đang áp dụng nó kết hợp với các phương pháp khác góp phần cho việc phòng ngừa BLHĐ hiệu quả hơn.
Ngoài các phương pháp phổ biến trên mỗi nhà trường còn sử dụng những phương pháp phòng ngừa BLHĐ chuyên biệt tùy thuộc vào tình hình thực tiễn của nhà trường và đặc điểm tâm lý của những học sinh trong trường, làm đa dạng hóa các phương pháp phòng ngừa BLHĐ một vấn đề phức tạp của xã hội.
- Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS:
Trong quá trình giáo dục thì giáo dục phòng ngừa BLHĐ là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, nó được tiến hành thông qua những hình thức tổ chức sau: Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Thông qua việc dạy học các bộ môn khoa học cơ bản làm cho người được giáo dục tự giác chiếm lĩnh một cách có hệ thống những khái niệm đạo đức, nhân cách. Các môn khoa học xã hội và nhân văn như: Văn học, Lịch sử, Giáo dục công dân,… có tiềm năng to lớn trong việc giáo dục nhân cách cho người học. Những kiến thức các bộ môn khoa học này có liên quan đến nhận thức những chuẩn mực giá trị đạo đức và liên quan đến thái độ và cách ứng xử, hành vi trong phòng, chống BLHĐ. Các môn khoa học tự nhiên cũng góp phần giáo dục nhân cách HS. Nó có tác dụng giúp người học hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, những phẩm chất xã hội như: Con đường tư duy hợp lý, tác phong làm việc, coi trọng nhân cách và ý thức nâng cao kiến thức xã hội… Các môn khoa học khác như: Giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng… tạo cơ hội để người học phát triển những xúc cảm, rèn luyện ý chí kiên cường, lòng dũng cảm, những bổn phận và nghĩa vụ của người công dân, giảm thiểu các hành vi không đúng chuẩn mực xã hội.
Thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp như các hoạt động đoàn thể và hoạt động xã hội. Dựa vào đặc điểm tâm lý của học sinh là rất thích hoạt động, năng động và hứng thú với các hoạt động phong trào, vì vậy cần phải tổ chức các hoạt động theo từng chủ đề, mang nội dung giáo dục và phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh để lôi cuốn họ tham gia, thông qua đó giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh. Các hoạt động này được tổ chức bởi các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, bao gồm: Chính quyền, Đoàn thể, các câu lạc bộ,… Mỗi tổ chức đều có vai trò quan trọng trong việc giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh.
Giáo dục thông qua sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ: Đây là một trong các hình thức các nhà trường thực hiện khá phổ biến. Các thầy cô thường lồng ghép giáo dục nhiều nội dung vào các giờ sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ vì hình thức sinh hoạt này giáo dục được đông đảo cho học sinh toàn trường đồng thời giáo dục đến từng học sinh ở các lớp học cụ thể. Nó có tác dụng lớn trong việc phát hiện và phòng ngừa BLHĐ cho học sinh.
Giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh thông qua con đường tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự giáo dục của bản thân mỗi học sinh. Mỗi học sinh từ chỗ là đối tượng của quá trình giáo dục phòng ngừa BLHĐ sẽ trở thành chủ thể của quá trình giáo dục phòng ngừa BLHĐ. Đặc biệt đối với học sinh THCS, ở các em đã có những hiểu biết nhất định về những kiến thức tự nhiên, xã hội, về mối quan hệ giữa con người với con người thì nhà giáo dục cần khơi dậy và kích thích họ tự giác, tự giáo dục bản thân là chính.
Giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh thông qua tấm gương đạo đức của thầy cô giáo. Hình ảnh của người thầy trên bục giảng, trong những buổi sinh hoạt mang tính tập thể của nhà trường hoặc ngay trong đời sống hàng ngày và những ứng xử trong các tình huống sư phạm có ý nghĩa giáo dục cho học sinh thiết thực nhất. Chính vì vậy, mỗi thầy cô giáo phải thực sự là một tấm gương sáng về đạo đức cho học sinh noi theo.
Các hình thức tổ chức giáo dục phòng ngừa BLHĐ nói trên muốn đạt kết quả phải được thực hiện với sự phối hợp hài hoà. Các lực lượng giáo dục phải thực sự quan tâm và thực hiện theo đúng chức năng và nhiệm vụ của mình. Trong đó, giáo dục cho học sinh tự giác thực hiện việc tự giáo dục là hình thức cơ bản. Có như vậy những mục tiêu của giáo dục phòng ngừa BLHĐ mới đạt kết quả cao. Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
1.3.2. Hiệu trưởng trường THCS với vai trò quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ
- Vị trí, vai trò, quyền hạn của Hiệu trưởng trường THCS
Trong Luật Giáo dục khoản 1, Điều 54 ghi rõ: “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận với nhiệm kỳ 5 năm”. Thời gian đảm nhiệm chức vụ này không quá 2 nhiệm kỳ ở một trường trung học. Với yêu cầu Hiệu trưởng phải là người giảng dạy ít nhất 5 năm ở bậc trung học hoặc bậc cao hơn, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn vững vàng, có năng lực quản lý, được bồi dưỡng lý luận và nghiệp vụ quản lý giáo dục, có sức khoẻ, được tập thể giáo viên, nhân viên tín nhiệm.
Như vậy, Hiệu trưởng là người đại diện chức trách hành chính. Điều kiện kiên quyết để thi hành chức trách của mình là việc quán triệt đây đủ các văn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước trong toàn bộ cơ quan. Việc tập hợp các văn bản pháp quy đó hết sức cần thiết:
- Làm cho bản thân Hiệu trưởng có thể đưa ra quyết định phù hợp với quy chế.
- Nâng cao trình độ nhận thức của giáo viên về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tạo điều kiện cho họ cùng tham gia quản lý nhà trường.
- Làm cho cha mẹ học sinh và các tổ chức xã hội liên quan đến nhà trường hiểu biết về đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước để họ có điều kiện cùng với nhà trường tham gia tích cực và có kết quả vào việc giáo dục của nhà trường.
Người Hiệu trưởng với vai trò vừa là nhà lãnh đạo, vừa là người quản lý nhà trường, cùng với những phẩm chất tâm lý – đạo đức cần có như: cần kiệm – liêm chính – chí công – vô tư, đòi hỏi phải có tài, tức là phải có năng lực, kỹ năng lãnh đạo.
Trong xu thế xã hội hiện nay thì vấn đề đổi mới giáo dục để đáp ứng yêu cầu của xã hội lại rất cần thiết. Do vậy người Hiệu trưởng phải luôn luôn đào sâu, suy nghĩ học hỏi để tổ chức trong nhà trường phong trào đổi mới, cải cách giáo dục phù hợp với nhu cầu đào tạo con người mới, nguồn nhân lực của nền kinh tế tri thức. Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học quy định: Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Hiệu trưởng nhà trường có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
- Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường được quy định tại khoản 2 Điều 20 của Điều lệ này;
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định.
- Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước; quản lý hồ sơ tuyển dụng giáo viên, nhân viên.
- Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học vào học bạ học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường.
- Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường.
- Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành; thực hiện công khai đối với nhà trường.
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.
Như vậy, quản lý hoạt động phòng ngừa BLHĐ là một trong nhiều nhiệm vụ mà hiệu trưởng phải đảm nhiệm, nó là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi nhà trường. Không chỉ tạo ra cơ hội và thách thức để học sinh thực hiện nghiêm túc ý thức của mình mà nó còn nâng cao chất lượng và vị thế của nhà trường, thông qua đó khẳng định trình độ năng lực quản lý của người hiệu trưởng. Để quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh đạt hiệu quả cao thì hiệu trưởng cần cụ thể hóa cách thức tổ chức hoạt động thông qua vai trò của các đoàn thể, giáo viên chủ nhiệm. Sự phân công đúng chức danh và nhiệm vụ vừa góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh vừa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học.
- Nội dung quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS
- Lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường Trung học cơ sở
QL hoạt động GD phòng ngừa BLHĐ là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ hệ thống kế hoạch các hoạt động của nhà trường. Các kế hoạch quản lý GD phòng ngừa BLHĐ phải thể hiện rõ về mặt mục tiêu, các tiêu chí đánh giá kết quả so với mục tiêu, các kế hoạch phải chỉ ra được biện pháp thực hiện, có bước đi cụ thể, dự kiến được nguồn lực (Nhân lực, tài lực, vật lực) thời gian thực hiện. Khi lập kế hoạch phải chú ý: Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
- Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GD phòng ngừa BLHĐ với mục tiêu GD trong nhà trường.
- Cần phối hợp hữu cơ, chặt chẽ với kế hoạch dạy học trên lớp.
- Lựa chọn nội dung hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực, phù hợp với hoạt động tâm sinh lý học sinh để có hiệu quả GD cao.
Trên cơ sở đó, người Hiệu trưởng cùng các bộ phận giúp việc phải xây dựng các loại kế hoạch sau:
- Kế hoạch tổng thể về GD phòng ngừa BLHĐ cho HS.
- Kế hoạch hoạt động theo chủ điểm.
- Kế hoạch GD phòng ngừa BLHĐ thông qua dạy học các môn học.
- Các kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động XH, hoạt động tập thể.
- Xây dựng kế hoạch tài chính, CSVC, phương tiện để phục vụ các công tác GD phòng ngừa BLHĐ.
- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong nhà trường -gia đình và các lực lượng giáo dục khác ngoài xã hội.
Các kế hoạch đảm bảo tính vừa phải, vừa có tính bao quát vừa cụ thể đối với sự hoạt động của nhà trường và đảm bảo tính khả thi.
- Tổ chức thực hiện giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường Trung học cơ sở
Sau chỉ đạo các bộ phận lập các kế hoạch hoạt động, Hiệu trưởng tổ chức sắp xếp xây dựng bộ máy quản lý GD phòng ngừa BLHĐ để thực hiện kế hoạch đã đề ra: Nhà trường phải thành lập ban chỉ đạo về GD phòng ngừa BLHĐ và phân công nhiệm vụ cụ thể, đúng việc. Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Thành phần của Ban gồm:
- Hiệu trưởng -Trưởng ban.
- Tổng phụ trách Đội, Bí thư Đoàn TN, hoặc Phó Hiệu trưởng: Phó ban thường trực.
- Giáo viên chủ nhiệm.
- Thường trực Ban đại diện cha mẹ học sinh.
- Mời thêm sự cộng tác của đại diện của: Đoàn cấp trên, hội Chữ thập đỏ, công an đóng trên địa bàn, đại diện của chính quyền… tùy từng đợt hoạt động theo chủ điểm.
Trên cơ sở các kế hoạch và bộ máy quản lý đã có, người quản lý thực hiện các công việc cụ thể chỉ ra những nhiệm vụ chức năng của từng thành viên, thiết lập các mối quan hệ trong mọi hoạt động, đồng thời ra có các quyết định giao việc cho các bộ phận và cá nhân thực hiện các nội dung cụ thể.
Tổ chức chỉ đạo Ban GD phòng ngừa BLHĐ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Giúp Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch quản lý các hoạt động;
- Tổ chức các hoạt động theo các kế hoạch đã định, phối hợp các lực lượng giáo dục khác trong việc GD phòng ngừa BLHĐ cho học sinh;
- Giúp chủ nhiệm lớp, chi đoàn tiến hành các hoạt động ở đơn vị mình có hiệu quả;
- Xây dựng củng cố đội ngũ GVCN thành lực lượng GD nòng cốt;
- Khai thác các lượng ngoài xã hội tham gia công tác GD phòng ngừa BLHĐ học sinh;
- Giúp Hiệu trưởng kiểm tra đánh giá các hoạt động.
- Thực hiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường.
Chỉ đạo triển khai kế hoạch giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường Trung học cơ sở
Trên cơ sở văn bản kế hoạch và công tác tổ chức đã có Hiệu trưởng thực hiện việc hướng dẫn công việc, theo dõi giám sát động viên và uốn nắn kịp thời các hoạt động của mỗi bộ phận và từng cá nhân thực hiện bản kế hoạch đã đề ra, cụ thể cần chỉ đạo:
- Chỉ đạo và yêu cầu các bộ phận và cá nhân thực hiện đầy đủ các nội dung GD phòng ngừa BLHĐ cho học sinh.
- Chỉ đạo việc giáo dục phòng ngừa BLHĐ thông qua dạy học các môn học.
- Chỉ đạo giáo dục phòng ngừa BLHĐ thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động XH, đây là việc rất quan trọng đối với học sinh, giúp các em hăng hái tham gia hoạt động tập thể hơn, tránh xa những tệ nạn xã hội.
- Chỉ đạo tốt sự phối hợp giữa GVCN với cha mẹ học sinh, thực hiện tốt sự kết hợp nhà trường, gia đình, xã hội.
- Chỉ đạo các bộ phận sử dụng linh hoạt các phương pháp GD phòng ngừa BLHĐ.
- Chỉ đạo và yêu cầu các bộ phận và cá nhân vận dụng các hình thức GD phòng ngừa BLHĐ và sử dụng triệt để các cơ sở vật chất, các phương tiện nhằm thu được kết quả cao nhất.
Trong việc chỉ đạo các hoạt động GD phòng ngừa BLHĐ thì chủ thể quản lý – Hiệu trưởng phải vận dụng linh hoạt các phương pháp quản lý như: Phương pháp tổ chức hành chính; các phương pháp kinh tế; các phương pháp tâm lý – xã hội để tác động vào các lực lượng tham gia GD phòng ngừa BLHĐ nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Ngoài ra việc chỉ đạo hoạt động giáo GD phòng ngừa BLHĐ cũng yêu cầu các bộ phận, cá nhân phải thực hiện đúng các nguyên tắc của GD phòng ngừa BLHĐ . Đó là các nguyên tắc: Phải bảo đảm tính mục đích, tính thống nhất trong toàn bộ hoạt động GD; Phải thông qua hoạt động thực tiễn; phải phù hợp với lứa tuổi giới tính và đặc điểm riêng của học sinh; phải phát huy tính tích cực, khắc phục thiếu sót; GD trong tập thể và bằng tập thể; GD gắn với thực tiễn của địa phương; tôn trọng nhân cách và yêu cầu hợp lý đối với học sinh. Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
- Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường Trung học cơ sở
Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ là thước đo mức độ hiệu quả của hoạt động quản lý giáo dục phòng ngừa BLHĐ. Bởi có quan điểm cho rằng: Quản lý mà không kiểm tra, đánh giá thì coi như chưa quản lý. Thông qua thao tác này để nhà quản lý biết các công việc có thực hiện theo Nghị quyết và Kế hoạch hay không, đối với công tác quản lý GD phòng ngừa BLHĐ tập trung vào các công việc như sau:
- Kiểm tra, đánh giá công tác tổ chức, triển khai nhiệm vụ của Ban GD phòng ngừa BLHĐ.
- Kiểm tra, đánh giá các hoạt động cụ thể theo kế hoạch.
- Kiểm tra xem xét việc đánh giá xếp loại hạnh kiểm của học sinh theo tháng, kì, năm học và so với năm học trước.
- Kiểm tra dư luận học sinh, giáo viên, CMHS, nhân dân địa phương, sự đánh giá của các cấp chính quyền, các cấp quản lý.
- Kiểm tra chính việc kiểm tra của nhà quản lý công tác GD phòng ngừa BLHĐ.
Trong công tác kiểm tra phải có nhận xét, đánh giá một cách đầy đủ, khách quan về những ưu điểm, những mặt còn hạn chế của các tổ chức, các cá nhân trong hoạt động GD phòng ngừa BLHĐ tức là có thực hiện Sơ, tổng kết đánh giá công tác thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa bạo lực học đường: có khen thưởng đối với những tập thể và cá nhân có thành tích tiêu biểu trong công tác này; rút ra bài học kinh nghiệm đưa ra những biện pháp phù hợp trong thực hiện nhiệm vụ, công tác phòng ngừa bạo lực học đường trong năm học sau.
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
- Các yếu tố chủ quan
- Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh THCS:
Lứa tuổi từ 11 đến 14 có sự phát triển nhanh chóng về thể chất lẫn tinh thần, được đánh giá là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sang làm người lớn. Lứa tuổi này về mặt thể chất các em xuất hiện hiện tượng dậy thì và nhu cầu tự ý thức, tự khẳng định mình phát triển mạnh. Do vậy, các em mong muốn khẳng định cái Tôi của bản thân. Những điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, tình cảm, hành vi của thiếu niên. Lứa tuổi này, hệ thống thần kinh chưa ổn định, hưng phấn mạnh hơn ức chế. Điều này khiến cho các em hành động và làm việc theo cảm tính, bột phát, dễ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tác động từ bên ngoài. Trong mối quan hệ với người lớn nếu người lớn không hiểu các em cũng sẽ dẫn tới hành vi chống đối, bất mãn với người lớn, tham gia các tệ nạn xã hội…v.v.
- Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về vấn đề bạo lực học đường:
Nhận thức của cán bộ quản lý: Nhà trường là môi trường học tập của các em HS, là môi trường tốt nhất để các em rèn luyện nhân cách đạo đức của mình, đồng thời cũng là nơi các em xây dựng những ước mơ tốt đẹp nhất để sau này bước vào đời. Tuy nhiên, trước thực trạng của các nhà trường hiện nay “nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người”, những tình trạng vi phạm đạo đức của HS, nhất là các hành vi BLHĐ cũng chưa được các cán bộ quản lý quan tâm đúng mức. Thậm chí, có nhiều cán bộ quản lý, vì thành tích của nhà trường, các hành vi BLHĐ đã có những biểu hiện bao che hoặc giấu diếm đối với lãnh đạo cấp trên hay dư luận xã hội. Chính thái độ nhận thức đó cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng BLHĐ.
Nhận thức của giáo viên: Đa số các giáo viên đều cho rằng, nhiệm vụ chính của người giáo viên khi đến lớp là phải có đầy đủ giáo án, thực hiện đúng nội chương trình bộ môn mình phụ trách, truyền đạt đầy đủ kiến thức trong bài giảng cho các em, chấm, trả bài, vào điểm đúng quy định,..còn các việc khác không… quan trọng. Sản phẩm của người giáo viên là có nhiều HS có học lực giỏi, đỗ nhiều trong các kỳ thi. Nếu HS có xảy ra đánh nhau thì cũng là những mâu thuẫn trẻ con, không đáng quan tâm. GV bộ môn dạy hết tiết cũng là hoàn thành nhiệm vụ. Tổng phụ trách đội có phát hiện HS có hành vi BLHĐ thì trả về cho giáo viên chủ nhiệm. GV chủ nhiệm có HS có HV BLHĐ thì cũng bắt phạt trực nhật, viết bản kiểm, nặng hơn nữa thì báo với Ban giám hiệu, mời phụ huynh đến,… Nhận thức của GV về HV BLHĐ như vậy cũng không giải quyết được tận gốc tình trạng BLHĐ trong HS. Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
- Năng lực của nhà quản lý, năng lực giáo dục học sinh của giáo viên:
Năng lực của nhà quản lý: Nhìn nhận nguyên nhân học sinh có mâu thuẫn xảy ra đánh nhau thì mâu thuẫn đó có từ lâu chứ ít khi là hành động bột phát. Khi xảy ra vụ việc thì trách nhiệm thuộc về nhiều người chứ không riêng một cá nhân nào, trong đó có trách nhiệm thuộc về nhà quản lý. Nhà quản lý đã buông lỏng công tác giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho HS, trong đó có công tác giáo dục nội dung phòng ngừa BLHĐ, các hình thức tổ chức giáo dục phòng ngừa BLHĐ, các tổ chức trong và ngoài nhà trường tham gia giáo dục phòng ngừa BLHĐ (Tổ tư vấn, Ban giám thị, Đội thiếu niên, các đoàn thể chính trị – xã hội,…).
Năng lực giáo dục học sinh của giáo viên: Giáo viên là người luôn theo sát tình hình học tập và đạo đức của các em và phát hiện ra những thay đổi, những mẫu thuẫn của trẻ. Tuy nhiên, khi phát hiện ra các HV BLHĐ của HS thì cũng thường thi hành những hình thức kỷ luật, một là quá nghiêm khắc hoặc là hời hợt, chiếu lệ thay vì tìm hiểu nguyên nhân, giảng giải nhỏ nhẹ, tìm hiểu tâm sự của các em. Các hình thức kỷ luật nếu không có sự khoan dung, tạo cơ hội cho các em sửa chữa khuyết điểm sẽ làm cho các em tự ti hơn hoặc sẽ là ngọn lửa châm mồi cho trẻ sớm trở thành những thành phần bất hảo của xã hội. Lúc đó, các em không còn thuộc tổ chức nào nữa, sẽ càng có những hành động sai trái, lôi kéo, dụ dỗ các trẻ khác trong trường. Hiệu ứng Domino sẽ gây ra những hệ lụy tiêu cực cho trẻ. Do đó, dù các em có mắc phải những sai phạm, nhà trường và giáo viên cũng cần thực hiện tốt việc giáo dục nhân cách, đào tạo kiến thức và kĩ năng sống cho trẻ chứ đừng khiến trẻ trở nên mất phương hướng và càng ngập sâu trong tội lỗi của mình.
- Các yếu tố khách quan
- Tác động từ môi trường giáo dục gia đình:
Sự buông lỏng trong quản lý và giáo dục con cái của gia đình: Có những gia đình bố mẹ do quá bận nên đã thả lỏng con cái, không hỏi han và quan tâm đến con hay thỏa mãn tất cả mọi yêu cầu của con, nuông chiều con, con muốn làm gì thì làm. Bố mẹ không hiểu được con cần gì hay làm gì, không kịp thời phát hiện, giáo dục cũng như sửa những lỗi sai cho con. Về phía con cái, do không kịp thời nhận được sự quan tâm, chăm sóc và giáo dục hay nhận được sự chiều chuộng quá mức của gia đình, con kết thân với những bạn bè xấu, bị ảnh hưởng xấu từ bạn bè, đi từ sai lầm nhỏ đến sai lầm lớn, và có những hành vi không tốt.
- Mức độ hạnh phúc của gia đình: Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
Mức độ hạnh phúc của gia đình có ảnh hưởng tốt hay xấu đến nhân cách của mỗi cá nhân con người. Thông thường, môi trường gia đình tốt tỷ lệ thuận với những nhân cách mà xã hội yêu cầu, và ngược lại, môi trường gia đình không tốt hình thành nên những nhân cách đi ngược lại với yêu cầu của xã hội. Ví dụ, trong gia đình, bố mẹ hay mâu thuẫn, xảy ra cái lộn, thậm chí xảy ra bạo lực gia đình,… Sống trong một gia đình như vậy dễ hình thành ở các em những tính nết lì lợm, ương bướng, bạo hành.
- Tác động từ môi trường văn hóa xã hội và các chính sách giáo dục:
Môi trường văn hóa xã hội: Ở nước ta hiện nay có rất nhiều những vấn đề “ô nhiễm văn hóa” ảnh hưởng đến học sinh. Đó chính là sự xuống cấp của môi trường văn hóa xã hội. Có không ít những dấu hiệu không lành mạnh từ môi trường văn hóa xã hội đã và đang từng ngày ảnh hưởng đến thiếu niên như: những tệ nạn xã hội (hút trích, cờ bạc, lừa đảo…); sách báo, phim ảnh, băng đĩa, games mang tính bạo lực, không có sự kiểm soát chặt chẽ xuất hiện tràn lan ở nước ta…Tất cả những yếu tố này ít nhiều ảnh hưởng đễn bạo lực tới đầu óc của các em, khi mà gần như ngày nào cũng tiếp xúc với chúng. Tuổi trẻ có xu hướng bắt trước và thử nghiệm việc các em làm theo những hình ảnh, hình tượng đó là hoàn toàn dể hiểu.
Công tác quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh vì thế cũng gặp rất nhiều khó khăn. Thầy cô chỉ có thể theo sát và giảng giải cho các em hiểu vấn đề trong thời gian tiếp xúc ở trên lớp, ngoài thời gian đó ra các em bị chi phối quá nhiều bởi các hoạt động vui chơi ngoài xã hội. Nhận thức của học sinh về nhiều vấn đề, trong đó có bạo lực học đường dễ bị tác động và thay đổi bởi thông tin truyền thông. Để các em có được nhận thức đúng đắn và nhận thức đó ăn sâu vào suy nghĩ là một việc làm cần rất nhiều thời gian, tâm huyết và sự phối hợp của nhiều yếu tố.
Kết luận chương 1
BLHĐ là một trong những vấn đề luôn được dư luận xã hội quan tâm. Nó không chỉ ảnh hưởng đến mỗi học sinh mà còn ảnh hưởng đến cả gia đình, nhà trường và xã hội. Đối với lứa tuổi học sinh THCS đang có sự phát triển mạnh mẽ về mặt thể chất, tâm lý, xã hội thì BLHĐ là một hành vi thường mà xuyên xảy ra và mức độ khó lường sẽ khiến cho các bậc phụ huynh, các nhà giáo hết sức lo ngại về tính chất cũng như về mức độ của nó.
Bạo lực của con người nói chung và BLHĐ của học sinh lứa tuổi THCS nói riêng chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố sinh học, tâm lý, môi trường. Việc nhận thức và hiểu biết về những yếu tố ảnh hưởng này làm cơ sở đề xuất những biện pháp quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS.
Công tác quản lý giáo dục phòng ngừa BLHĐ có một vai trò quan trọng và là nền tảng thiết yếu của việc giảng dạy và giáo dục đạo đức nhân cách học sinh. Các hoạt động này là một dịch vụ đặc biệt giúp học sinh tuổi THCS giải quyết những khó khăn về tâm lý, khai thác những điểm mạnh của các em để các em có thể tham gia một cách hiệu quả vào quá trình học tập, giúp các em phát triển tốt tiềm năng và những kỹ năng sống sau này. Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường […]