Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS thành phố Thái Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về các trường THCS thành phố Thái Nguyên

Thành phố Thái Nguyên là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Thái Nguyên, là một trong những thành phố lớn nhất về dân số ở miền Bắc (xếp sau Hà Nội, Hải Phòng). Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên (trước kia thuộc tỉnh Bắc Thái), trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học – kỹ thuật, y tế, du lịch, dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên và vùng trung du miền núi phía Bắc; trung tâm vùng trung du, miền núi Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 80 km. Tổng diện tích tự nhiên 222,93 km², phía bắc giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương, phía đông giáp thành phố Sông Công, phía tây giáp huyện Đại Từ, phía Nam giáp thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình.

Hệ thống giáo dục THCS ở thành phố Thái Nguyên bao gồm 36 trường THCS phân bố ở 21 phường, 11 xã trực thuộc thành phố. Năm học 2025 – 2026 hệ thống các trường THCS có 471 lớp, với 17.451 học sinh (Số liệu do Phòng Giáo dục và Đào tạo Thái Nguyên cung cấp). Nhận thức được trọng trách của ngành trong việc phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, ngành giáo dục thành phố Thái Nguyên không ngừng đổi mới trong công tác quản lý và đội ngũ cán bộ giáo viên, đổi mới phương pháp dạy và học, lấy học sinh làm trung tâm trong hoạt động dạy và học làm động lực phát triển nhà trường. Trong những năm qua, giáo dục Thái Nguyên có nhiều biện pháp chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học.

Những năm qua, Sở giáo dục và Đào tạo Thái Nguyên đã triển khai sâu rộng tới toàn bộ các nhà trường, các đơn vị trực thuộc cuộc vận động “Mỗi Thầy giáo,cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; Tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống trong học sinh. Thường xuyên tổ chức các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc gắn với phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể và gia đình học sinh trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự trường học và quản lý giáo dục học sinh, nên tình hình vi phạm pháp luật, bạo lực trong học sinh đã giảm rất nhiều so với các năm học trước.

Tình hình vi phạm pháp luật, bạo lực trong học sinh THCS của thành phố Thái Nguyên trong nhưng năm học gần đây có xảy ra ở các trường. Tuy nhiên, tính chất và mức độ những hành vi đã được phát hiện có chiều hướng giảm. Các vụ bạo lực trong học sinh đều diễn ra cả bên trong và bên ngoài trường học, với những vụ việc xảy ra bên ngoài nhà trường thì các nhà trường rất khó nắm bắt được thông tin, bản thân những học sinh là những người bị bắt nạt, hành hung giấu kín vụ việc, nên biết được thông tin thì vụ việc đã trôi đi một thời gian, làm giảm tác dụng của công tác giáo dục và xử lý. Tuy các vụ việc bạo lực trong học sinh xảy ra ít gây nguy hiểm đến tính mạng, nhưng nó gây bức xúc trong dư luận xã hội, gây mất trật tự an ninh nơi công cộng và gây sự lo lắng trong phụ huynh. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

Thực trạng trên được chúng tôi thu thập dữ liệu của Phòng giáo dục thành phố Thái Nguyên. Kết quả xếp loại hạnh kiểm trong 3 năm gần đây được thể hiện như sau:

  • Bảng 2.1. Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh THCS thành phố Thái Nguyên

Qua bảng số liệu chúng tôi nhận thấy số lượng học sinh có hạnh kiểm dưới trung bình có khuynh hướng giảm. Đây là kết quả đáng mừng cho công tác phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên. Tuy nhiên, số liệu trên không thể phản ánh được toàn bộ thực trạng BLHĐ vì rất nhiều vụ BLHĐ không được GV biết đến để thống kê, báo cáo. Do vậy, việc tìm ra những giải pháp hữu hiệu giúp phòng ngừa BLHĐ là việc làm cấp bách và cần thiết tại các trường THCS hiện nay.

2.2. Khái quát về mục đích, nội dung và phương pháp khảo sát

2.2.1. Mục đích khảo sát

Khảo sát nhằm phát hiện thực trạng ảnh hưởng hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS thành phố Thái Nguyên, trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại địa bàn thành phố.

2.2.2. Nội dung khảo sát

  • Thực trạng nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS thành phố Thái Nguyên.
  • Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS thành phố Thái Nguyên.

2.2.3. Phương pháp khảo sát và phương thức xử lí số liệu

  • Phương pháp khảo sát: Chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn, phương pháp chuyên gia.
  • Phương thức xử lí số liệu: Các mẫu phiếu điều tra được xây dựng theo ba phương án lựa chọn: “Thường xuyên”, “Thỉnh thoảng”, “Không bao giờ”. Số ý kiến thu được sẽ được xử lý trên Excel và được tính theo điểm trung bình và tỷ lệ phần trăm.

2.3. Thực trạng về hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

2.3.1. Nhận thức của các khách thể điều tra về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS

Để thấy rõ hơn về nhận thức của các CBQL, đội ngũ GV, HS về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ, chúng tôi tiến hành điều tra 170 khách thể (trong đó 30 CBQL và 40 GV và 100 học sinh lớp 7,8 ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên). Các chủ thể được đề nghị đánh giá theo các mức độ. Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.2. Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ

  • Nhận xét:

Qua bảng số liệu trên cho thấy, hầu hết CBQL và GV đã nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ. Phỏng vấn cô D. T. Y, với tư cách là CBQL cô cho rằng: “Giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS là hoạt động cần phải tiến hành thường xuyên và vô cùng cần thiết vì nó không những góp phần quyết định thương hiệu của một trường mà còn tạo cho học sinh động lực đến trường theo đúng khẩu hiệu: “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Đây cũng là suy nghĩ chung của các CBQL và GV khi chúng tôi tiến hành điều tra. Tuy nhiên, đối với các em học sinh, không phải học sinh nào cũng nhận thức hết được sự cần thiết của hoạt động này, có khoảng 5,0% học sinh được điều tra cho rằng hoạt động này là không cần thiết. Như vậy, một bộ phận học sinh nhận thức BLHĐ là một quy luật tất yếu, việc phòng ngừa của các nhà trường hiện nay là không cần thiết vì có phòng ngừa thì tình trạng này vẫn cứ xảy ra. Đây là những nhận thức cần được uốn nắn của học sinh THCS thành phố Thái Nguyên.

2.3.2. Thực trạng nội dung giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS

Để đánh giá về nội dung giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS, chúng tôi tiến hành điều tra trên 170 CBQL, GV và học sinh các trường THCS thành phố Thái Nguyên. Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.3. Đánh giá của các khách thể điều tra về nội dung giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở trường THCS thành phố Thái Nguyên

  • Nhận xét: 

Bảng 2.3 cho thấy: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

Có 05 nội dung điều tra được các khách thể đề cập đến. Tuy nhiên, mức độ đánh giá của các khách thể điều tra đối với các nội dung khác nhau có sự khác nhau. Cụ thể: Có 3 nội dung điều tra được các khách thể đánh giá ở mức độ tốt đó là: “Biểu hiện của các hành vi BLHĐ” (tỷ lệ tốt là 82,4%); “Nguyên nhân dẫn đến hành vi BLHĐ” (tỷ lệ tốt là 81,8%); “Giáo dục ý thức đạo đức và việc chấp hành nội quy trường lớp” (tỷ lệ tốt là 81,2%). Điều này cho thấy các nhà trường đã nhận thức và quan tâm đến nội dung phòng ngừa BLHĐ, một vấn đề không chỉ gây bức xúc trong nhà trường mà còn nhận được sự quan tâm của các gia đình học sinh và toàn xã hội. Nội dung “Biện pháp phòng ngừa BLHĐ” (tỷ lệ tốt là 29,4%). Điều đó cho thấy, rất nhiều các mâu thuẫn của các em xảy ra ở trong và ngoài trường các em không nhờ đến sự trợ giúp nhiều từ thầy cô giáo mà thường tự mình giải quyết hoặc nhờ bạn bè, người thân giải quyết. Thực tế cho thấy rất nhiều vụ BLHĐ được học sinh đăng tải trên các trang mạng xã hội các thầy cô giáo trong nhà trường không hề biết đến. Do đó, biện pháp phòng ngừa có tỷ lệ chưa đạt khá cao chiếm 11,2%.

Như vậy, kết quả phòng ngừa BLHĐ trên các nội dung được điều tra được các nhà trường thực hiện ở các mức độ khác nhau. Có những nội dung công việc được thực hiện tốt, có những nội dung còn chưa đạt. Việc giáo dục phòng ngừa BLHĐ là một công việc cần thiết nhưng nó cũng vô cùng phức tạp đòi hỏi mỗi thầy cô giáo phải không ngừng phấn đấu, lựa chọn các cách thức linh hoạt sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn.

2.3.3. Thực trạng về phương pháp giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

Để tìm hiểu về các phương pháp phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên hiện đang thực hiện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 70 CBQL và giáo viên trực tiếp giảng dạy các em học sinh THCS. Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.4. Đánh giá của các khách thể điều tra về phương pháp giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên

  • Nhận xét:

Bảng số liệu trên cho thấy có rất nhiều các biện pháp giáo dục phòng ngừa BLHĐ khác nhau được sử dụng với học sinh ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên. Mức độ và tính chất của những biện pháp này được sử dụng với mức độ khác nhau. Phương pháp có tính răn đe mạnh được sử dụng phổ biến hơn cả là: “Phương pháp kỷ luật, trách phạt” (phạt trực nhật,mời gia đình, tạm đình chỉ học tập,…) (tỷ lệ ý kiến tốt chiếm 85,7%). Chúng tôi cho rằng để giúp học sinh nhận thức rõ về những hành vi BLHĐ thì cần thiết phải sử dụng các biện pháp cứng rắn. Chính những biện pháp cứng rắn này sẽ giúp học sinh ý thức về bản thân và điều chỉnh hành vi của mình hợp lý. Tuy nhiên, đối với lứa tuổi thiếu niên khi nhân cách đang được định hình và chưa ổn định cần phải kết hợp với các biện pháp giáo dục mang tính nhân văn khác. Do đó, một số biện pháp khác có mức độ thực trạng khá cao là: “Phương pháp thuyết phục” (tỷ lệ ý kiến tốt chiếm 84,3%), “Phương pháp khen thưởng, khích lệ, động viên” (tỷ lệ ý kiến tốt chiếm 82,8%). Những biện pháp này vừa tác động về mặt nhận thức cho học sinh nhẹ nhàng để định hướng cho các em có những hành vi ứng xử đúng đắn với bạn bè, vừa là giúp kích thích thích động viên học sinh, nhằm nhân rộng lan tỏa những việc làm tốt đến các tập thể cá nhân cùng nhau thực hiện vì môi trường học tập thân thiện. Bên cạnh những biện pháp kể trên một số biện pháp được thực hiện với tần số ít hơn đó là: “Phương pháp nêu gương” (tỷ lệ ý kiến tốt chiếm 31,4%). Những biện pháp này có được thực hiện nhưng ở một bộ phận giáo viên, biện pháp này ít được quan tâm thậm chí còn chưa bao giờ thực hiện. Chúng tôi cho rằng, trong công tác giáo dục phòng ngừa BLHĐ học sinh không chỉ là những chủ thể bị động mà cần phải biến các em thành những chủ thể chủ động, các em được tham gia nhiều hơn vào công tác phòng ngừa BLHĐ, từ đó hình thành ý thức chủ động phòng ngừa BLHĐ và có phương pháp phòng ngừa BLHĐ cho bản thân mình.

2.3.4. Đánh giá của các khách thể điều tra về hình thức tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ

Để thực hiện hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ có hiệu quả cần có các hình thức tổ chức giáo dục phòng ngừa BLHĐ đa dạng, thiết thực. Chúng tôi tiến hành điều tra trên 170 cán bộ quản lý, GV và học sinh tại các trường THCS thành phố Thái Nguyên. Kết quả thu được như sau: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

Bảng 2.5. Đánh giá của các khách thể điều tra về hình thức tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên

  • Nhận xét:

Qua bảng số liệu trên cho thấy, có nhiều hình thức giáo dục phòng ngừa BLHĐ khác nhau đã được áp dụng ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên. Mức độ sử dụng các hình thức giáo dục phòng ngừa BLHĐ có sự khác nhau. Có những hình thức được sử dụng được đánh giá là phù hợp và những hình thức không phù hợp. Cụ thể: Hình thức được đánh giá phù hợp nhiều nhất là “Thông qua sinh hoạt lớp và sinh hoạt dưới cờ” (tỷ lệ ý kiến đánh giá rất phù hợp chiếm 76,5%). Trong các nhà trường THCS thành phố Thái Nguyên hiện nay, các giờ sinh hoạt lớp và sinh hoạt dưới cờ, giáo viên thường sử dụng để tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho các em về những vấn đề liên quan đến BLHĐ. Đồng thời, cũng răn đe, uốn nắn những hành vi bạo lực của các em, để tất cả học sinh ý thức và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với mong muốn của gia đình, nhà trường và xã hội. Các hình thức giáo dục phòng ngừa BLHĐ còn được sử dụng nhiều ở các “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” (tỷ lệ ý kiến đánh giá rất phù hợp chiếm 75,3%) và “Thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học cơ bản” (tỷ lệ ý kiến đánh giá rất phù hợp chiếm 70,6%). Điều này cho thấy các CBQL, GV các nhà trường đã ý thức sâu sắc việc tuyền truyền phòng ngừa BLHĐ có tầm quan trọng đặc biệt đối với học sinh. Đây là công việc cần được đôn đốc, nhắc nhở các em thường xuyên trong mỗi giờ học, mỗi hoạt động ngoại khóa.

Bên cạnh đó, một số hình thức ít được sử dụng là “Thông qua tấm gương đạo đức của thầy cô giáo” (tỷ lệ ý kiến đánh giá rất phù hợp chiếm 23,5%; không phù hợp 34,7%). Các thầy cô giáo luôn là tấm gương để các em học sinh noi theo. Tuy nhiên, ở lứa tuổi dậy thì chỉ cần một chút suy nghĩ bồng bột là có thể dẫn đến hành vi bạo lực. Do đó, hình thức sử dụng tấm gương đạo đức của thầy cô không được sử dụng phổ biến.

2.3.5. Kết quả của hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường Trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

Đối với các trường THCS ở thành phố Thái Nguyên hiện nay, tình trạng BLHĐ có nhiều diễn biến phức tạp. Các vụ BLHĐ được phát hiện chưa phản ánh đầy đủ thực trạng BLHĐ hiện nay. Bởi vì, rất nhiều vụ BLHĐ diễn ra ở ngoài trường học mà các CBQL, GV thậm chí cả gia đình không biết tới. Các mâu thuẫn trong trường học được học sinh giải quyết trên đường về nhà ở nơi vắng vẻ. Nhiều lúc có những video được đăng tải trên mạng xã hội rồi thì các CBQL, GV của nhà trường, phụ huynh học sinh mới được biết. Trước những diễn biến phức tạp như vậy, các trường THCS ở thành phố Thái Nguyên tìm nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục tình trạng BLHĐ diễn ra ngoài trường học. Với những cố gắng không mệt mỏi của các nhà trường, một số kết quả bước đầu đạt được như sau:

Số lượng các vụ HS vi phạm BLHĐ:

  • Năm học 2022 – 2023: 32 vụ
  • Năm học 2023 – 2024: 27 vụ
  • Năm học 2024 – 2025: 25 vụ

Qua bảng số liệu thống kê của các trường THCS mà phòng GD & ĐT Thái Nguyên cung cấp chúng tôi nhận thấy: số lượng học sinh có hạnh kiểm yếu kém trong 3 năm học gần đây ở các trường được giảm đi (từ 0,07% năm học 2022 – 2023 giảm xuống 0,02% năm học 2024 – 2025); số lượng học sinh THCS có hạnh kiểm tốt tăng lên (từ 68,57% năm học 2022 – 2023 tăng lên 86,51% năm 2024 – 2025). Đây là những kết quả thể hiện sự nỗ lực, cố gắng của các trường THCS tỉnh Thái Nguyên trong công tác giáo dục phòng ngừa BLHĐ. Các số liệu thống kê khá tương đồng khi các vụ bạo lực được phát hiện cũng được giảm dần trong những năm học gần đây. Tuy nhiên, tình trạng BLHĐ hiện vẫn còn ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của học sinh. Do vậy trong thời gian tới, cần có sự quan tâm thiết thực của các cấp, các ngành, của các đoàn thể cùng nhau phối hợp để có được biện pháp phù hợp nhằm quản lý, giáo dục học sinh nói chung và quản lý giáo dục phòng ngừa BLHĐ của nhà trường đạt kết quả tốt hơn.

2.4. Thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

2.4.1. Thực trạng lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS

Để nghiên cứu thực trạng lập kế hoạch phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 10 trường THCS với tổng số 30 CBQL và 10 GV tổng phụ trách. Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.6. Đánh giá của khách thể điều tra về biện pháp lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên

  • Nhận xét:

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhà trường THCS thành phố Thái Nguyên đều đã lập kế hoạch giáo dục phòng ngừa BLHĐ theo năm học khá đầy đủ, 100% các trường được khảo sát đều thực hiện tốt nhiệm vụ này. Đây không phải chỉ là nhiệm vụ mà nó còn là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi nhà trường THCS. Một nhà trường muốn nâng cao chất lượng giáo dục, khẳng định thương hiệu thì cần phải có chiến lược giáo dục phòng ngừa BLHĐ tốt. Nhận thức rõ điều này, các CBQL luôn chỉ đạo sát xao đến Tổng phụ trách Đội lập kế hoạch phòng ngừa BLHĐ đầy đủ. Tuy nhiên, nếu như việc lập kế hoạch năm về phòng ngừa bạo lực học đường đã được các cán bộ quản lý, tổng phụ trách đội rất chú, quan tâm xây dựng thì việc lập kế hoạch theo học kỳ, theo tháng, theo tuần mức độ chú ý, quan tâm bị giảm đi… Kết quả này phản ánh một thực tế: Khi xây dựng nhiệm vụ năm học, các cán bộ quản lý đã xây dựng tương đối đầy đủ các kế hoạch phải thực hiện trong năm học, tuy nhiên khi triển khai nhiệm vụ thì đã có sự buông lỏng quản lý. Hơn nữa, tình trạng BLHĐ không xảy ra thường xuyên nên với rất nhiều hoạt động khác nhau ở trường THCS cán bộ quản lý thường xao nhãng trong việc chỉ đạo giáo dục phòng ngừa BLHĐ thường xuyên.

Việc “lập kế hoạch theo chủ điểm” (tỷ lệ ý kiến thường xuyên chiếm 36,7%; không thực hiện 3,3%) hay “Lồng ghép vào hoạt động ngoại khóa” (tỷ lệ ý kiến thường xuyên chiếm 50,0%; không thực hiện 6,7%). Đây là những nội dung có tỷ lệ thực hiện thường xuyên thấp nhất. Chính sự buông lỏng quản lý ở những nội dung này là một trong những nguyên nhân mà tình trạng BLHĐ vẫn xảy ra ở trường THCS thành phố Thái Nguyên.

2.4.2. Thực trạng về tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường Trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục phòng ngừa BLHĐ là công việc cần phải có sự phối hợp của nhiều lực lượng từ gia đình, nhà trường và xã hội. Trong nhà trường đây là công việc của cả CBQL và giáo viên. Để nắm được thực trạng trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu và thu được kết quả như sau:

Bảng 2.7. Đánh giá của các khách thể diều tra về biện pháp tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở trường THCS thành phố Thái Nguyên

  • Nhận xét:

Qua bảng số liệu trên chúng tôi thấy: mức độ thường xuyên tổ chức thực hiện kế hoạch phòng ngừa BLHĐ có mức độ cao nhất là “Tổ chức tuyên truyền phòng ngừa BLHĐ” (tỷ lệ ý kiến thường xuyên chiếm 85,7 %), tiếp theo là “Thành lập Ban phòng ngừa BLHĐ” (tỷ lệ ý kiến thường xuyên chiếm 81,4 %), “Thông qua cuộc họp các GVCN” (tỷ lệ ý kiến thường xuyên chiếm 71,4 %),

Như vậy, công tác tuyên truyền để phòng ngừa BLHĐ, thành lập ban phòng ngừa nhằm ngăn chặn BLHĐ hay tổ chức phòng ngừa thông qua vai trò của giáo viên chủ nhiệm là những nội dung đã được các trường THCS thành phố Thái Nguyên quan tâm thực hiện. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

Việc thực hiện bất cứ một kế hoạch hoạt động nào cũng có tổ chức công tác sơ kết, tổng kết nhằm đánh giá những mặt thành công, đạt được các mục tiêu ban đầu đề ra và chỉ ra những hạn chế, yếu kém, những mặt tồn tại rút kinh nghiệm cho kế hoạch hành động sau này. Tuy nhiên, công tác tổ chức sơ kết, tổng kết về việc tổ chức thực hiện kế hoạch phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS lại không được chú trọng, thậm chí bỏ qua. Đây là điều đáng tiếc khiến cho cán bộ quản lý, GVCN cũng không nắm được mức độ thành công hay tồn tại của công tác giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho HS.

Bên cạnh đó, một số nội dung khi tổ chức thực hiện phòng ngừa BLHĐ chưa được quan tâm đó là: “Đưa các nội dung phòng ngừa BLHĐ vào các môn học” (tỷ lệ ý kiến thường xuyên chiếm 17,1%, không bao giờ là 25,8%); “Thành lập tổ tâm lý học đường” (tỷ lệ ý kiến thường xuyên chiếm 15,7%, không bao giờ là 27,2%)

Trong công tác giáo dục phòng ngừa BLHĐ, việc tích hợp liên môn đưa nội dung phòng ngừa BLHĐ vào nội dung các môn học là một trong những hình thức tổ chức quan trong nhất, bởi qua mỗi bài giảng của các thầy cô trên lớp các em thường xuyên được tiếp thu nội dung này. Bên cạnh đó, qua mỗi một môn học, ngoài việc các em tiếp thu kiến thức, các thầy cô giáo cũng đạt được mục tiêu yêu cầu giáo dục đạo đức cho các em. Thông qua các môn học có tích hợp nội dung phòng ngừa BLHĐ, HS cũng có ý thức tự rèn luyện ý chí phấn đấu, giác ngộ chính trị, xã hội, gương mẫu thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước, pháp luật của Nhà nước, các quy định nội quy của nhà trường, lớp. Việc các em học sinh chấp hành đúng nội quy của nhà trường sẽ loại bỏ bớt những vấn đề xấu có thể xảy ra như: Lười học, gây gổ đánh nhau,… ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục của nhà trường.

Thành lập tổ Tâm lý học đường trong các trường học đã được tổ chức thực hiện từ lâu, tuy nhiên hoạt động này chưa đem lại những hiệu quả thiết thực, chưa có những chuyên gia được đào tạo bài bản theo chuyên ngành tâm lý học hỗ trợ. Mới đây thông tư 31 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu các nhà trường cần điều chỉnh hoạt động hỗ trợ tư vấn học đường cho đúng với bản chất hơn. Tuy nhiên, để hoạt động này có hiệu quả cần có đội ngũ chuyên gia hỗ trợ và thực hiện nó theo đúng cách.

Kết quả khảo sát trên thấy rằng, các nhà trường cũng đã có tổ chức thực kế hoạch phòng ngừa BLHĐ những mức độ thường xuyên chưa cao. Một số khâu quan trọng của công tác tổ chức đã bị bỏ qua nên cũng chưa thực hiện được đầy đủ kế hoạch phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS. Nhà trường mới chỉ tập trung vào một số khâu của tổ chức, do vậy hiệu quả của công tác giáo dục phòng ngừa BLHĐ vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn.

2.4.3. Thực trạng chỉ đạo triển khai hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường

Để triển khai kế hoạch phòng ngừa BLHĐ ở trong các trường THCS cần phải có sự phối kết hợp giữa các lực lượng giáo dục. Trong đó, CBQL là người phụ trách chỉ đạo chung; giáo viên bộ môn triển khai lồng ghép, tích hợp vào các môn học; giáo viên chủ nhiệm lồng ghép vào các tiết sinh hoạt hoặc hoạt động học tập quy chế đầu năm; Tổng phụ trách tổ chức giáo dục thông qua hoạt động ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 70 CBQL và giáo viên THCS thành phố Thái Nguyên, kết quả thu được như sau: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

Bảng 2.8. Thực trạng chỉ đạo, triển khai kế hoạch giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên

  • Nhận xét:

Qua bảng số liệu trên cho thấy, ở một số nội dung trong công tác chỉ đạo, triển khai kế hoạch phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên đã được thực hiện tốt. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn khá nhiều nội dung khi triển khai thực hiện còn thể hiện sự buông lỏng quản lý chỉ đạo nên kết quả chưa tốt. Cụ thể: “Xây dựng hòm thư bí mật”, “Kết hợp giữa gia đình và nhà trường” là những nội dung các trường THCS thành phố Thái Nguyên thực hiện tốt nhất (tỷ lệ ý kiến ở mức độ thường xuyên chiếm 88,6%). Hiện trạng ở tất cả các trường THCS chúng tôi tiến hành điều tra qua quan sát thực tiễn chúng tôi đều thấy rằng các nhà trường đều xây dựng những hòm thư bí mật để học sinh có thể tố giác những bạo lực với các thầy cô giáo mà không sợ bị các bạn phát hiện hay “trả thù”. Hiện nay, tình trạng BLHĐ trên địa bàn thành phố Thái Nguyên với những diễn biến rất phức tạp. Các vụ bạo lực giáo viên phát hiện và báo cáo chưa phản ánh đầy đủ thực trạng BLHĐ của học sinh THCS. Rất nhiều vụ việc được các em học sinh che dấu và thực hiện ở ngoài trường học nơi không có sự kiểm soát của giáo viên. Chính vì vậy, thành lập các hòm thư mật sẽ giúp nhà trường phát hiện và xử lý thêm nhiều vụ việc mà giáo viên không nắm được. Việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường cũng là nội dung công việc được các nhà trường thực hiện tốt, bởi phạm vi của các vụ bạo lực không chỉ ở trong nhà trường mà cả bên ngoài xã hội. Khi các xung đột ngoài xã hội nhiều học sinh chọn cách gọi điện cho gia đình, chứ không phải thầy cô. Kết hợp giữa các lực lượng giáo dục sẽ giúp cho việc giải quyết BLHĐ đạt được kết quả tốt nhất.

Bên cạnh những nội dung đã triển khai thực hiện tốt còn khá nhiều nội dung còn chưa được quan tâm chú ý. Cụ thể: “Đổi mới các hình thức phòng ngừa BLHĐ” (tỷ lệ ý kiến ở mức độ thường xuyên 40,0%); “Nêu gương các tấm gương điển hình về công tác phòng ngừa BLHĐ” (tỷ lệ ý kiến ở mức độ thường xuyên chiếm 35,7%); “Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu” (tỷ lệ ý kiến ở mức độ thường xuyên chiếm 30,0%)…v.v. Điều này cho thấy, việc triển khai thực hiện phòng ngừa BLHĐ thường chỉ ít được đổi mới về hình thức. Chúng ta đều biết, xã hội hiện nay biến đổi rất nhanh chóng, cách thức sử dụng bạo lực của học sinh cũng có nhiều những biến đổi. Chính vì vậy, CBQL, GV cần phải nghiên cứu các cách thức phòng ngừa BLHĐ khác nhau, lựa chọn các cách thức hữu hiệu, phù hợp với thực tế của địa phương. Có như vậy, công tác phòng ngừa BLHĐ mới đạt được những hiệu quả thiết thực. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

2.4.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS

Kiểm tra là công việc rất cần thiết trong quản lý, giúp nhà quản lý biết được tiến độ thực hiện kế hoạch, đối tượng được phân công thực hiện kế hoạch, từ đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời và có hướng bồi dưỡng sử dụng cán bộ tốt hơn.

Kiểm tra thường đi liền với đánh giá, đó là những phán đoán nhận định về kết quả của công việc dựa trên mục tiêu đề ra.

Một số kết quả cụ thể về công tác giáo dục phòng ngừa BLHĐ chúng tôi đã trình bày ở bảng 2.5. Những số liệu đó, cho chúng ta thấy, công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên trong những năm qua nói chung và phòng ngừa BLHĐ nói riêng có rất nhiều tiến bộ, đó là số HS có hạnh kiểm tốt, khá hàng năm đều ở mức cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn một một bộ phận HS xếp loại hạnh kiểm yếu. Tình trạng HS đánh nhau, bắt nạt lẫn nhau trong và ngoài nhà trường vẫn còn diễn ra nhưng số vụ bạo lực có khuynh hướng giảm đi. Nguyên nhân một phần cũng là do công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ chưa được tiến hành thường xuyên. Kết quả ở bảng số liệu 2.8 cho thấy, công tác kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục phòng ngừa BLHĐ chưa thực sự được quan tâm đúng mức (tỷ lệ ý kiến thực hiện ở mức độ thường xuyên chiếm 40%; đôi khi và không bao giờ thực hiện chiếm 60%). Lý giải điều này thì vẫn là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường là dạy học, kết quả là học lực của HS, còn việc giáo dục đạo đức học sinh, giáo dục phòng ngừa BLHĐ đã giao cho các giáo viên chủ nhiệm, Tổng phụ trách Đội, theo dõi nền nếp HS có đội cờ đỏ,… nếu có xảy ra những vụ BLHĐ thì nhà trường có thể xử lý trực tiếp, mời phụ huynh đến giao về cho gia đình.

Như vậy, việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ vẫn còn nhiều hạn chế và yếu kém mà ngành giáo dục cần quan tâm và khắc phục để cùng nhau vì mục đích chung là giáo dục đạo đức toàn diện cho HS góp phần tạo ra những con người mới xã hội chủ nghĩa.

2.4.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

Tình trạng BLHĐ hiện nay vẫn đang tiếp tục được diễn ra ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên, việc quản lý giáo dục phòng ngừa BLHĐ luôn là vấn đề cần thiết. Có nhiều các yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau ảnh hưởng đến quản lý giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 70 CBQL và GV kết quả thu được như sau:

Bảng 2.9. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên

  • Nhận xét:

Từ các kết quả điều tra chúng tôi nhận thấy các yếu tố đều có sự ảnh hưởng nhất định đến quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau, có những yếu tố ảnh hưởng nhiều, có yếu tố ảnh hưởng ít. Các yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là: “Năng lực của nhà quản lý, năng lực giáo dục học sinh của giáo viên” (tỷ lệ ý kiến đồng ý chiếm 85,7%), tiếp đến là các yếu tố “Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THCS” và “Tác động từ môi trường văn hóa xã hội và các chính sách giáo dục” (tỷ lệ ý kiến đồng ý của hai yếu tố này bằng nhau đều chiếm 78,6%). Thực trạng nghiên cứu ở trên cho chúng ta thấy trong công tác quản lý ở các nhà trường thường tập chung chủ yếu vào chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh. Đối với việc quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ sự quản lý ở nhiều nội dung còn thể hiện sự buông lỏng, CBQL chưa quan tâm đến hoạt động này đúng mức. Để quản lý tốt hoạt động này không phải chỉ cần vai trò của CBQL mà cần vai trò của cả tập thể giáo viên trong nhà trường THCS và sự kết hợp của các lực lượng xã hội khác. Do đó, năng lực giáo dục học sinh của từng giáo viên có vai trò quan trọng. Nếu tập thể GV và CBQL có năng lực giáo dục tốt thì tình trạng BLHĐ sẽ được hạn chế. Mặt khác, lứa tuổi này được xem là tuổi dậy thì hay còn gọi là “tuổi khủng hoảng”, “tuổi khó bảo” các em đang trong giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn, rất nhiều các nét tính cách chưa được định hình ổn định. Những tác động giáo dục không đúng cách đó thể gây ra nhưng hậu quả tiêu cực với các em. Môi trường xã hội với rất nhiều tệ nạn xã hội sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ tới các em nếu không có sự giáo dục, kiểm soát của các lực lượng giáo dục là gia đình, nhà trường và xã hội. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố “Tác động từ môi trường giáo dục của gia đình” có mức độ ảnh hưởng thấp hơn đến quản lý giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh THCS thành phố Thái Nguyên. Yếu tố này sẽ tác động gián tiếp đến công tác quản lý giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh THCS. Gia đình hạnh phúc thì sự quan tâm đến con cái sẽ nhiều hơn so với những gia đình li tán. Đối với những gia đình bố mẹ bất hòa, mâu thuẫn tâm lý con em thường dễ chán nản, buông xuôi, dễ học theo những thói xấu trong xã hội. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cha mẹ ly hôn, ly thân có ảnh hưởng nghiêm trọng tới nét tính cách của trẻ. Đa số các em này trở nên tự ti hoặc hung hãn hơn các em khác sống trong hoàn cảnh gia đình hạnh phúc, vui vẻ. Đôi khi các em lại muốn sử dụng hình thức này để gây sự chú ý với cha mẹ như một cách phản kháng với sự thiếu hụt tình yêu thương. Xu hướng quan tâm thái quá cũng gây nhiều vấn đề phức tạp. Sự yêu thương con cái là điều kiện thuận lợi, cần thiết cho sự phát triển của các em. Tuy nhiên, ở lứa tuổi có nhu cầu tự khẳng định, độc lập trong quyết định như học sinh lứa tuổi vị thành niên THCS thì sự bao bọc, nghiêm khắc quá mức sẽ khiến các em cảm thấy mình chịu áp lực lớn và cố gò mình làm theo để cha mẹ hài lòng.

2.4.6. Đánh giá chung về quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường

  • Điểm mạnh:

Công tác quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ đã được quan tâm chú trọng hơn trước và cũng được mở rộng với nhiều hình thức tổ chức và biện pháp giáo dục khác nhau nên đã thu được những kết quả tích cực bước đầu.

CBQL các trường THCS nhận thức ngày càng rõ hơn tác động của tình trạng BLHĐ đến hình ảnh, thương hiệu của nhà trường nên việc quản lý hoạt động này được quan tâm ở nhiều khía cạnh hơn.

  • Điểm yếu:

Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa BLHĐ đã được CBQL và GV các trường THCS thành phố Thái Nguyên quan tâm nhưng nó còn tồn tại những hạn chế thiếu sót. Nhiều giáo viên khi lên lớp chỉ chú trọng đến việc truyền đạt sao cho hết nội dung kiến thức môn học mà chưa có ý thức tích hợp liên hệ thực tế giáo dục phòng ngừa BLHĐ vào các môn học cho học sinh hiểu và nhận thức hết các vấn đề. Bên cạnh đó, việc xây dựng triển khai kế hoạch phòng ngừa BLHĐ còn mang tính đối phó, thụ động. Chưa có chiến lược chủ động đối phó, phòng ngừa trước khi BLHĐ xảy ra một cách dài hạn, chiến lược. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

Hình thức, phương pháp giáo dục phòng ngừa BLHĐ còn đơn điệu, chậm đổi mới. Hình thức chủ yếu là những bài giáo huấn của GV trong giờ chào cờ, sinh hoạt lớp. Vì vậy, kết quả phòng ngừa BLHĐ chưa cao.

Việc kết hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường là gia đình, nhà trường và xã hội còn nhiều lúng túng, tính đồng bộ, nhất quán chưa cao. Hệ thống thông tin liên lạc giữa các môi trường về tình trạng BLHĐ còn nhiều hạn chế. Dẫn đến nhiều vụ việc giải quyết đơn lẻ, chỉ có học sinh biết, gia đình và nhà trường đứng ngoài cuộc.

Công tác kiểm tra đánh giá thường xuyên việc quản lý giáo dục phòng ngừa BLHĐ chưa được quan tâm đúng mức, những tấm gương phòng ngừa BLHĐ với những biện pháp phù hợp để ngăn ngừa BLHĐ chưa khen thưởng xứng đáng, noi gương nhân rộng kịp thời dẫn đến sức đấu tranh phòng ngừa BLHĐ giảm sút.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phòng ngừa BLHĐ cho học sinh THCS thành phố Thái Nguyên, trong đó có các yếu tố mang tính tất yếu do ngoại cảnh mang lại và cũng có yếu tố do chính bản thân chủ thể quản lý. Do vậy, chủ thể quản lý tìm ra những cách thức hợp lý phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và đặc điểm vùng miền mới có thể ngăn ngừa tình trạng BLHĐ hiệu quả nhất.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

Thực trạng giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh THCS thành phố Thái Nguyên những năm qua đã được các CBQL quan tâm và có nhiều cố gắng. Kết quả giáo dục đạo đức được thể hiện: đa số học sinh có đạo đức tốt, sống đúng theo những chuẩn mực đạo đức của xã hội, thực hiện nghiêm túc những quy định, nội quy, quy chế của nhà trường. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số học sinh sống buông thả, sa sút về mặt đạo đức, có những biểu hiện và những hành vi vi phạm đạo đức, đặc biệt là hành vi BLHĐ làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đạo đức nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung của nhà trường. Việc quan tâm giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục phòng ngừa BLHĐ cũng còn nhiều bất cập, yếu kém: Bộ máy tổ chức quản lí giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường chưa thật đồng bộ, thiếu sự phối hợp trong công tác; Năng lực của nhiều giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên dạy Giáo dục công dân, tổng phụ trách đội còn hạn chế, một số GV bộ môn phó mặc công tác này cho BGH, GVCN, tổng phụ trách đội; Việc xây dựng và tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch chưa thật tốt; Việc kiểm tra, đánh giá chưa được tiến hành thường xuyên, quy định không chặt chẽ; Việc tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục thiếu chặt chẽ, không thường xuyên; Chưa phát huy được vai trò tự giáo dục của học sinh; Tổ chức công tác thi đua, khen thưởng chưa được quan tâm đúng mức, kịp thời. Những hạn chế đó do những nguyên nhân mang cả tính chủ quan và khách quan.

Để khắc phục những hạn chế này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức HS nói chung và công tác quản lý giáo dục phòng ngừa BLHĐ nói riêng ở các trường THCS thành phố Thái Nguyên đòi hỏi có sự chuyển biến tích cực về nhận thức không chỉ trong đội ngũ những người làm công tác giáo dục đạo đức HS mà cần có sự đổi mới căn bản về công tác tổ chức phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong việc quản lý giáo dục phòng ngừa BLHĐ cho học sinh. Những nội dung này chúng tôi sẽ tập chung nghiên cứu ở chương sau để tìm ra những biện pháp quản lý phù hợp, hiệu quả nhất. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993