Luận văn: PPNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Những yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Chương 3 trình bày hệ thống các phương pháp nghiên cứu được sử dụng nhằm kiểm định các giả thuyết và đạt được mục tiêu nghiên cứ. Trước hết, chương đề cập đến cơ sở lý thuyết hình thành nên mô hình nghiên cứu, bao gồm việc xác định các biến phụ thuộc, biến độc lập và mối quan hệ giữa chúng. Tiếp đó, chương mô tả chi tiết quy trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu, bao gồm các kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích tương quan, hồi quy và kiểm định mô hình. Những nội dung này giúp đảm bảo tính khoa học, khách quan và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, chương cũng làm rõ các bước triển khai phân tích dữ liệu thực nghiệm, công cụ hỗ trợ, cũng như tiêu chí xem xét sự phù hợp của mô hình. Nhờ đó, chương 3 đóng vai trò then chốt trong việc chuyển hóa cơ sở lý thuyết thành mô hình định lượng cụ thể, làm tiền đề cho phần kết quả và thảo luận ở chương kế tiếp.

3.1. Mô hình đề xuất

Kế thừa nghiên cứu đi trước của Đỗ Thị Hà Thương, Phạm Tuấn Phát, Đặng Thanh Phương Ngọc (2022), và kế thừa từ các lý thuyết về chính sách chi tả cổ tức. Nghiên cứu đề xuất mô hình như sau:

  • 𝐷𝑃𝑅it = 𝑓(𝐸𝑃𝑆it, 𝐹𝑂it, 𝐺𝑂𝑉it, 𝑆𝐼𝑍𝐸it, 𝐿𝐸𝑉it, 𝐺𝑅𝑂it, 𝑅𝐶it, 𝐷𝑃𝑅it–1) (9) Triển khai mô hình nghiên cứu ta được phương trình như sau:
  • 𝐷𝑃𝑅it = 𝛽0 + 𝛽1 ∗ 𝑙𝑛𝐸𝑃𝑆it + 𝛽2 ∗ 𝐹𝑂it + 𝛽3 ∗ 𝐺𝑂𝑉it + 𝛽4 ∗ 𝑆𝐼𝑍𝐸it + 𝛽5 ∗ 𝐿𝐸𝑉it + 𝛽6 ∗ 𝐺𝑅𝑂it + 𝛽7 ∗ 𝑅𝐶it + 𝛽8 ∗ 𝐷𝑃𝑅it–1 + 𝑎i + 𝑢it (10)

Trong đó:

  • 𝐷𝑃𝑅it, 𝐷𝑃𝑅it–1: Tỷ lệ chia cổ tức của doanh nghiệp i trong năm thứ t và t-1, biến đại diện cho CSCT của doanh nghiệp i trong năm thứ t
  • 𝑙𝑛𝐸𝑃𝑆it : Logarit tự nhiên của Thu nhập trên mỗi cổ phiếu của doanh nghiệp i vào năm thứ t
  • 𝐹𝑂it: Tỷ lệ sở hữu nước ngoài của doanh nghiệp i vào năm thứ t
  • 𝐺𝑂𝑉it: Tỷ lệ sở hữu nhà nước của doanh nghiệp i vào năm thứ t
  • 𝑆𝐼𝑍𝐸it: Biến đại diện cho quy mô doanh nghiệp i vào năm t được đo lường bằng lấy logarit tự nhiên tổng tài sản của doanh nghiệp i vào năm thứ t
  • 𝐿𝐸𝑉it: Tỷ lệ đòn bẩy của doanh nghiệp i vào năm thứ t được đo lường bằng tổng nợ chia vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp i năm thứ t
  • 𝐺𝑅𝑂it: Tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp i năm thứ t so với năm t-1
  • 𝑅𝐶it: Tỷ lệ thanh toán tức thời của doanh nghiệp i năm thứ t
  • 𝑎i: yếu tố có tồn tại nhưng không quan sát được
  • 𝑢it: Nhiễu
  • 𝛽i với i= 0,1,…8 : Hệ số đại diện cho tác động của các biến số độc lâp tương ứng tới biến phụ thuộc.

3.2. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

  • H1: Thu nhập trên mỗi cổ phiếu có mối quan hệ ngược chiều với TLCTCT của doanh nghiệp.

Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) phản ánh khả năng sản sinh lợi nhuận ròng trên một đơn vị cổ phiếu đang lưu hành, được xem là chỉ tiêu cốt lõi trong phân tích hiệu quả kinh doanh (Gitman & Zutter, 2015). Theo Lý thuyết Thứ tự Ưu tiên (Pecking Order Theory – Myers & Majluf, 1984), khi lợi nhuận tăng lên, doanh nghiệp thường ưu tiên giữ lại phần lớn nguồn vốn nội bộ để tài trợ cho các dự án đầu tư, hạn chế phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài. Lý thuyết Chi phí Đại diện (Agency Cost Theory – Jensen, 1986; Rozeff, 1982) cũng cho rằng việc tích lũy lợi nhuận giúp giảm xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý thông qua việc duy trì quyền kiểm soát dòng tiền. Đồng thời, theo mô hình điều chỉnh cổ tức (Dividend Smoothing Model – Lintner, 1956), các công ty thường hướng tới duy trì mức chi trả cổ tức ổn định, tránh biến động lớn theo lợi nhuận ngắn hạn. Vì vậy, có thể dự đoán rằng EPS và TLCTCT của doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết trên HOSE có mối quan hệ nghịch biến.

  • H2: Sở hữu nước ngoài có tác động thuận chiều đến TLCTCT của doanh nghiệp.

Tỷ lệ sở hữu nước ngoài phản ánh mức độ tham gia của NĐT quốc tế vào cơ cấu cổ đông. Theo Kim & Woo (2018), sự hiện diện của các cổ đông nước ngoài làm tăng cường tính minh bạch, cải thiện cơ chế giám sát và gia tăng yêu cầu về hiệu quả quản trị. La Porta et al. (2000) chỉ ra các doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao thường duy trì mức cổ tức lớn hơn, nhằm giảm thiểu bất cân xứng thông tin và tạo niềm tin đối với NĐT quốc tế. Dưới góc nhìn của Lý thuyết Đại diện (Jensen & Meckling, 1976), chi trả cổ tức trở thành một công cụ kiểm soát hành vi quản trị, giúp cổ đông giảm thiểu chi phí giám sát. Do đó, dự kiến sở hữu nước ngoài có tác động tích cực tới CSCT của doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết trên HOSE.

  • H3: Sở hữu nhà nước có tác động cùng chiều đến TLCTCT của doanh nghiệp.

Tỷ lệ sở hữu nhà nước thể hiện mức độ chi phối của Chính phủ trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Theo Megginson & Netter (2001), các công ty có vốn nhà nước thường theo đuổi mục tiêu kép – vừa cân bằng hiệu quả kinh doanh, vừa phục vụ mục tiêu ngân sách công. Wei et al. (2005) chứng minh rằng các doanh nghiệp có tỷ lệ vốn nhà nước cao thường có xu hướng duy trì mức cổ tức lớn hơn, nhằm tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách và đáp ứng yêu cầu chính sách của Nhà nước. Từ đó, có thể kỳ vọng sở hữu nhà nước có mối quan hệ thuận chiều với TLCTCT trong các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết.

  • H4: Quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực đến TLCTCT. Luận văn: PPNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Quy mô doanh nghiệp phản ánh khả năng tài chính và mức độ ổn định của hoạt động sản xuất kinh doanh. Fama & French (2001) cho rằng các doanh nghiệp có quy mô lớn thường có dòng tiền ổn định, khả năng tiếp cận vốn bên ngoài dễ dàng hơn, từ đó có khả năng chi trả cổ tức cao hơn. Theo Lý thuyết Vòng đời (Life Cycle Theory – DeAngelo et al., 2006), các doanh nghiệp trưởng thành với ít cơ hội đầu tư mới có xu hướng ưu tiên phân phối lợi nhuận thay vì giữ lại. Các bằng chứng thực nghiệm từ Holder et al. (1998) cũng chỉ ra rằng quy mô lớn đi kèm với tính minh bạch cao, làm gia tăng áp lực từ cổ đông trong việc duy trì CSCT đều đặn. Vì thế, dự đoán quy mô doanh nghiệp và TLCTCT có mối quan hệ cùng chiều.

  • H5: Tăng trưởng doanh thu có mối quan hệ ngược chiều với TLCTCT.

Tốc độ tăng trưởng doanh thu thể hiện tiềm năng mở rộng hoạt động và nhu cầu đầu tư dài hạn của doanh nghiệp. Theo Lý thuyết Vòng đời (DeAngelo et al., 2006), các công ty trong giai đoạn tăng trưởng thường giữ lại lợi nhuận tham gia vào các dự án sinh lời thay cho việc chia sẻ cho cổ đông. Smith & Watts (1992) lập luận rằng doanh nghiệp có có tiềm năng tăng trưởng thường có thách thức về chi phí vốn cao hơn, dẫn đến việc giảm TLCTCT để hạn chế phụ thuộc vào vốn vay. Kết quả từ Rozeff (1982) và Jensen (1986) cũng củng cố nhận định rằng tăng trưởng doanh thu thường làm giảm xu hướng trả cổ tức. Do đó, có cơ sở để giả định sự tương quan ngược giữa hai biến số này.

  • H6: Đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều đến TLCTCT.

Đòn bẩy tài chính thể hiện mức độ sử dụng nợ vay trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Theo Lý thuyết Cân bằng (Trade-off Theory – Kraus & Litzenberger, 1973), các công ty có tỷ lệ nợ cao thường phải ưu tiên trả lãi và gốc vay, từ đó làm giảm khả năng chi trả cổ tức. Jensen et al. (1992) lập luận rằng đòn bẩy cao đồng nghĩa với rủi ro tài chính lớn, buộc doanh nghiệp phải giữ lại lợi nhuận nhằm tăng cường dự phòng thanh khoản. Các nghiên cứu thực nghiệm của Rozeff (1982) và Holder et al. (1998) đều xác nhận mối quan hệ âm giữa mức độ vay nợ và TLCTCT. Vì vậy, dự kiến đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều đến CSCT của doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết. Luận văn: PPNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

  • H7: Khả năng thanh khoản tức thời có mối quan hệ ngược chiều với TLCTCT.

Khả năng thanh khoản phản ánh mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn. Jensen (1986) cho rằng các doanh nghiệp có khả năng thanh khoản cao có xu hướng giữ lại tiền mặt để tái đầu tư hoặc phòng ngừa rủi ro, thay vì chi trả cổ tức. Dưới góc nhìn của Lý thuyết Thứ tự Ưu tiên (Myers & Majluf, 1984), khả năng thanh khoản mạnh giúp doanh nghiệp giảm áp lực huy động vốn, do đó ít cần dùng cổ tức như tín hiệu tích cực ra thị trường. Do vậy, kỳ vọng rằng khả năng thanh khoản có mối quan hệ nghịch chiều với TLCTCT.

  • H8: Tỷ lệ cổ tức của kỳ trước có ảnh hưởng ngược chiều đến TLCTCT của kỳ hiện tại.

Cổ tức của kỳ trước là thước đo phản ánh xu hướng chi trả trong quá khứ. Theo mô hình điều chỉnh cổ tức của Lintner (1956), các doanh nghiệp thường duy trì mức cổ tức ổn định qua thời gian nhằm tránh gây ra tín hiệu tiêu cực cho thị trường. Tuy nhiên, khi lợi nhuận sụt giảm hoặc môi trường kinh doanh biến động, doanh nghiệp có thể giảm tỷ lệ chi trả để giữ lại vốn cho hoạt động đầu tư. Brav et al. (2005) cũng chỉ ra rằng nhà quản trị thường thận trọng khi tăng cổ tức, bởi việc cắt giảm sau đó có thể làm giảm giá cổ phiếu và uy tín công ty. Từ đó, có thể giả định rằng tỷ lệ cổ tức của kỳ trước có tác động nghịch chiều đến TLCTCT kỳ hiện tại của doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết trên HOSE.

3.3. Biến số và số liệu nghiên cứu Luận văn: PPNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

3.3.1 Biến phụ thuộc

  • TLCTCT (DPR)

TLCTCT cho thấy, cứ một đồng thu nhập sau thuế từ hoạt động kinh doanh, thì cổ đông nhân với bao nhiêu đồng cổ tức, tính trên mỗi cổ phần phổ thông. Tỷ lệ này càng cao thì cổ tức nhận được càng nhiều. Chứng minh rằng công ty đang hoạt động hiệu quả và các NĐT và chủ sở hữu là những người được hưởng lợi nhiều nhất. Nếu TLCTCT gần bằng 0 thì tình hình kinh doanh không mấy khả quan. Hoạt động sản xuất kinh doanh không đem lại lợi nhuận đáng kể, từ đó đến nay Công ty không chia cổ tức cho cổ đông phổ thông. TLCTCT được tính bằng cách lấy tổng cổ tức chia trả trong năm ( Total Dividend ) chia cho lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp (EAT). TLCTCT được tính theo công thức sau:

Trong đó: DPRit = TDit EATit (11)

  • DPRit : TLCTCT của công ty thứ i trong năm t
  • 𝐷𝑖𝑡 : Tổng cổ tức chi trả của công ty thứ i trong năm t
  • E𝐴𝑇𝑖𝑡 : Lợi nhuận sau thuế của công ty thứ i trong năm t

3.3.2 Nhóm biến độc lập Luận văn: PPNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

  • Thu nhập mỗi cổ phần (EPS)

EPS là một thước đo có thể đóng vai trò như một đại diện cho tình trạng tài chính của một công ty. EPS thường được các nhà phân tích và thương nhân sử dụng để đánh giá sức mạnh tài chính của một công ty. EPS là phần lợi nhuận sau thuế trên mỗi cổ phiếu thường của các cổ đông, sau khi đã trừ đi cổ tức ưu đãi. Chỉ số EPS được các nhà phân tích sử dụng như một chỉ báo về khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.

Các giả thuyết nghiên cứu được đặt ra dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm trước đây và những lý thuyết được xây dựng về giá độc lập hay sự liên quan của CSCT. Thu nhập mỗi cổ phần (EPS) được xác định theo công thức sau đây:

  • Quy mô công ty (SIZE)

Quy mô công ty (Size) được đo lường theo nhiều khía cạnh như là tổng doanh thu, vốn hóa thị trường, hay tổng tài sản   Trong mô hình nghiên cứu sẽ sử dụng quy

mô tài sản để đo lượng quy mô công ty vì nó thể hiện chính xác nhất quy mô công ty. Đối doanh thu cũng sẽ không phù hợp với mô hình nghiên cứu, vì tùy vào chu kỳ kinh doanh, ngành nghề hoặc những khoảng doanh thu không thường xuyên cũng sẽ làm doanh thu của công ty biến động liên tục dẫn đến quy mô công ty cũng thay đổi liên tục. Biến quy mô công ty trong bài nghiên cứu được tính bằng Logarit tự nhiên của tổng tài sản: SIZE = Ln(Tổng tài sản) (13)

  • Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu (Growth)

Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu (Growth) được xem là biến đại diện cho mô hình thể hiện sự tăng trưởng của công ty, được tính toán bằng cách lấy biến động của doanh thu công ty trong năm đó chia cho daonh thu công ty năm trước. Được tính theo công thức sau:

  • Tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (LEV)

Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu là một chỉ số tài chính đo lường năng lực sử dụng và quản lý nợ của doanh nghiệp. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu cho biết tỉ lệ giữa hai nguồn vốn cơ bản (vốn nợ và vốn chủ sở hữu) mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho hoạt động của mình. Hai nguồn vốn này có những đặc tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được sử dụng rộng rãi để đánh giá cấu trúc tài chính của doanh nghiệp. Công thức tính như sau:

  • Khả năng thanh toán hiện hành (RC) Luận văn: PPNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Tỷ số thanh toán hiện hành là Tỷ số cho thấy công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Tỷ số này đo lường khả năng trả nợ của công ty trong ngắn hạn. Công thức tính Tỷ số thanh toán hiện hành được xác định theo công thức sau:

  • Tỷ lệ cổ phần do nhà nước nắm giữ (GOV)

Tỷ lệ cổ phần do nhà nước nắm giữ (GOV) được xác định theo theo Số lượng cổ phần nhà nước nắm giữ chia cho tổng số cổ phần đang lưu hành:

  • Tỷ lệ cổ phần do cổ đông nước ngoài nắm giữ (FO)

Tỷ lệ cổ phần do cổ đông nước ngoài nắm giữ (FO) được xác định theo Số lượng cổ phần cổ đông nước ngoài nắm giữ chia cho tổng số cổ phần đang lưu hành:

Các biến số được sử dụng trong mô hình nghiên cứu được mô tả chi tiết dưới bảng sau:

  • Bảng 3-1: Bảng mô tả biến số trong mô hình nghiên cứu

3.4. Phương pháp phân tích

Trong nghiên cứu này, tác giả thực hiện hồi quy dữ liệu bảng bằng việc áp dụng lần lượt ba mô hình: Mô hình Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Tác giả nghiên cứu mẫu 52 doanh nghiệp ngành sản xuất niêm yết trong giai đoạn 10 năm từ 2015-2024 với số mẫu nghiên là 520 – mẫu cân bằng thông qua phần mềm sử dụng là STATA15.

3.4.1 Thống kê mô tả Luận văn: PPNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Sau khi mã hóa các biến để loại bỏ các giá trị ngoại lai tồn tại trong mô hình, phương pháp phân tích thống kê mô tả được tiến hành nhằm tóm tắt và trình bày sơ bộ các đặc điểm của dữ liệu nghiên cứu thu thập được bao gồm tổng số quan sát, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất và xu hướng trung tâm.

3.4.2 Phân tích tương quan

Tác giả tiến hành đánh giá sự tương quan để xem xét bao quát mối quan hệ giữa các cặp biến trong mô hình, từ đó nhận thấy sự tồn tại của các tác động mạnh hay yếu, cùng chiều hay ngược chiều giữa các biến giải thích tới biến phụ thuộc. Đồng thời, quá trình phân tích này cũng giúp phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến khi giá trị hệ số tương quan trong mô hình > 0.8 (Bùi Kim Phương và cộng sự, 2021).

3.4.3 Kiểm định mô hình nghiên cứu

3.4.3.1 Kiểm định lựa chọn mô hình

  • Lựa chọn giữa Pooled OLS và REM

Kiểm định LM (Breusch-Pagan Lagrange Multiplier test) của Trevor Breusch và Adrian Pagan được áp dụng để xác định mô hình phù hợp giữa Pooled OLS và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM). Nếu giá trị p-value nhỏ hơn 5%, giả thuyết H0 bị bác bỏ, cho thấy sự tồn tại của sai số thành phần đặc thù và do đó mô hình REM được ưu tiên lựa chọn. Ngược lại, khi p-value lớn hơn 5%, không đủ bằng chứng thống kê để bác bỏ H0, vì vậy mô hình Pooled OLS được xem là phù hợp hơn so với REM.

  • Lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM Luận văn: PPNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Kiểm định F được sử dụng nhằm xác định mô hình phù hợp giữa Pooled OLS và mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effects – FEM). Khi kết quả kiểm định cho thấy p-value < 5%, giả thuyết H0 bị bác bỏ, hàm ý rằng tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các đơn vị quan sát, do đó mô hình FEM được ưu tiên lựa chọn thay cho Pooled OLS. Ngược lại, nếu p-value > 5%, không đủ cơ sở để bác bỏ H0, và mô hình Pooled OLS được xem là phù hợp hơn so với FEM.

  • Lựa chọn giữa FEM và REM

Kiểm định Hausman nhằm lựa chọn giữa mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Khi p-value < 5%, giả thuyết H0 bị bác bỏ, cho thấy ước lượng REM không còn hiệu quả và nhất quán, vì vậy mô hình FEM được ưu tiên lựa chọn. Ngược lại, nếu p-value > 5%, không có đủ bằng chứng để bác bỏ H0, do đó mô hình REM được xem là phù hợp hơn so với FEM.

3.4.3.2 Kiểm định khuyết tật mô hình

  • Khuyết tật đa cộng tuyến

Tác giả sử dụng hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor – VIF) nhằm kiểm tra mức độ đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình hồi quy. Khi giá trị VIF của các biến nhỏ hơn 10, có thể kết luận rằng mô hình không xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.

  • Khuyết tật phương sai sai số thay đổi

Tác giả sử dụng kiểm định Breush – Pagan để kiểm định khuyết tật phương sai sai số thay đổi. Nếu giá trị p-value < 5%, giả thuyết H0 bị bác bỏ, tức là mô hình có mắc phải khuyết tật phương sai sai số thay đổi và ngược lại. Trong các mô hình hồi quy, đặc biệt là mô hình dữ liệu bảng, hiện tượng nội sinh (Endogeneity) có thể xảy ra khi biến giải thích có mối tương quan với sai số ngẫu nhiên trong mô hình. Hiện tượng này khiến ước lượng OLS hoặc FEM, REM trở nên thiên lệch (biased) và không nhất quán (inconsistent), từ đó làm sai lệch kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Để phát hiện hiện tượng nội sinh, nghiên cứu có thể sử dụng kiểm định Hausman nhằm so sánh tính nhất quán giữa mô hình tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM). Nếu kết quả kiểm định cho giá trị p-value nhỏ hơn 0,05, điều đó cho thấy có khả năng tồn tại hiện tượng nội sinh, và mô hình FEM thường được lựa chọn.

  • Khuyết tật tự tương quan

Tác giả áp dụng kiểm định Wooldridge nhằm kiểm tra hiện tượng tự tương quan trong mô hình hồi quy tuyến tính với dữ liệu bảng. Khi kết quả cho thấy p-value < 5%, giả thuyết H0 bị bác bỏ, hàm ý rằng mô hình tồn tại hiện tượng tự tương quan. Ngược lại, nếu p-value > 5%, không có đủ bằng chứng để bác bỏ H0, cho thấy mô hình không xuất hiện tự tương quan.

3.4.4 Phân tích hồi quy Luận văn: PPNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

Trong phạm vi khóa luận, tác giả lựa chọn phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến (Multiple Linear Regression – MLR) làm công cụ phân tích chủ đạo để làm rõ mối quan hệ và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc. Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến được thể hiện dưới dạng sau:

Trong đó Xi đóng vai trò là các biến độc lập, Bi là các hệ số góc, Y là biến phụ thuộc và ui là sai số ngẫu nhiên.

Mô hình hồi quy tuyến tính được ước lượng theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Squares – OLS) dựa trên một số giả định nền tảng, bao gồm: không có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập, phương sai của sai số giữ nguyên không đổi (đồng nhất phương sai), và các sai số không có sự tương quan theo thời gianKhông tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến giải thích.

  • Tiểu kết chương 3

Chương này nghiên cứu trình bày quả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu được kế thừa từ các nghiên cứu đi trước và dựa trên cơ sở lý thuyết cũng như khoảng trống nghiên cứu ở chương 1. Mô hình nghiên cứu xây dựng gồm 8 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc. Đồng thời nghiên cứu trình bày dữ liệu nghiên cứu và các biến số được sử dụng trong nghiên cứu. Cuối cùng nghiên cứu trình bày phương pháp phân tích định lượng gồm 4 phần như thống kê mô tả, phân tích tương quan, kiểm định lựa chọn mô hình và phân tích hồi quy. Luận văn: PPNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: KQNC tác động đến chính sách chi trả cổ tức của DN

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x