Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – Chi Nhánh Cần Thơ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1 Giới thiệu khái quát về Vietcombank Cần Thơ
Vietcombank chi nhánh Cần Thơ là một trong những chi nhánh điển hình, có vai trò quan trọng trong hệ thống Vietcombank tại khu vực Tây Nam Bộ, mang đến các giải pháp tài chính hiện đại và đa dạng cho cá nhân và doanh nghiệp. Chi nhánh chính đặt tại Số 3-5-7 Hòa Bình, phường Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ, bên cạnh đó là nhiều phòng giao dịch khác nhau trên địa bàn thành phố.
Trải qua hơn 35 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ luôn là ngân hàng gương mẫu đi đầu trong việc quán triệt và triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và phát triển kinh tế xã hội tại Thành phố Cần Thơ.
Nhắc tới miền Tây, ai cũng nghĩ tới Cần Thơ – thành phố được mệnh danh là “thủ phủ” của khu vực. Cách đây hơn 35 năm, ngày 01/10/1989, Vietcombank đã ghi dấu sự hiện diện của mình bằng việc thành lập chi nhánh thứ 11 trong hệ thống mang tên Vietcombank Cần Thơ tại miền đất này. Trải qua hơn 35 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ luôn là ngân hàng gương mẫu đi đầu trong việc quán triệt và triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và phát triển kinh tế xã hội tại Thành phố Cần Thơ. Đối với hệ thống Vietcombank, Chi nhánh Cần Thơ luôn là một trong những chi nhánh điển hình tiên tiến, hoạt động kinh doanh hiệu quả nhất tại khu vực Tây Nam Bộ.
Hiện nay, Vietcombank Cần Thơ có tất cả 229 cán bộ nhân viên, trong đó có 01 chi nhánh và 06 Phòng giao dịch, tại chi nhánh bao gồm Ban Giám đốc và 07 Phòng nghiệp vụ. Trong đó:
- Ban Giám đốc: 04 người, bao gồm Giám đốc và 03 Phó Giám đốc
Giám đốc: là người điều hành cao nhất, trực tiếp chỉ đạo, điều hành hoặc phân công, ủy quyền cho Phó Giám đốc để thực hiện công tác nghiệp vụ chuyên môn theo quy định. Đồng thời triển khai các chủ trương, chính sách của Nhà nước có liên quan đến hoạt động của ngân hàng và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của ngân hàng, chịu trách nhiệm phân công công việc cho các phòng ban một cách hợp lý. Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Phó Giám đốc: được Giám đốc phân công phụ trách trong một số mảng công tác, đó là bộ phận kho quỹ, phòng dịch vụ khách hàng, mảng tín dụng tại các phòng khách hàng và Phòng giao dịch tại chi nhánh.
Phòng Khách hàng Bán lẻ: 23 người Với chức năng của phòng là tham mưu cho Giám đốc, trực tiếp thẩm định kinh tế kỹ thuật, kinh tế đầu tư và cho vay theo các kì hạn ngắn, trung và dài hạn bằng đồng Việt Đồng thời, cũng chịu trách nhiệm quản lý chi tiêu của các dự án và kinh doanh của các dịch vụ ngân hàng, thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn và cho vay đối với các khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp SME với nhiều loại khoản vay như: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn…ngoài ra bộ phận này còn quản lý dịch vụ thẻ ATM, thẻ tín dụng quốc tế….
Phòng Khách hàng doanh nghiệp: 14 người cũng thực hiện các nghiệp vụ như Phòng Khách hàng Bán lẻ nhưng với đối tượng khách hàng là doanh nghiệp, bao gồm khách hàng là doanh nghiệp lớn. Ngoài ra bộ phận này còn quản lý thêm một số nghiệp vụ khác như thanh toán quốc tế, bảo lãnh, L/C….
Phòng Dịch vụ khách hàng cá nhân: 25 người, thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi, tiết kiệm, thu lãi vay, giải ngân, thanh toán và chuyển tiền tại quầy đối với những khách hàng cá nhân và doanh nghiệp SME, đảm bảo lợi ích và làm hài lòng khách hàng khi sử dụng sản phẩm và dịch vụ tại đơn vị.
Phòng Dịch vụ khách hàng tổ chức: 18 người, thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi, tiết kiệm, thu lãi vay, giải ngân, thanh toán và chuyển tiền tại quầy trong nước và thanh toán quốc tế, nộp Ngân sách nhà nước,. đối với những khách hàng doanh nghiệp lớn, đảm bảo lợi ích và làm hài lòng khách hàng khi sử dụng sản phẩm và dịch vụ tại đơn vị.
Phòng Kế toán: 09 người, thực hiện các hoạt động liên quan đến tài chính, kế toán và thanh toán của Chi nhánh. Đảm bảo chi nhánh chấp hành đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ tài chính đối với Ngân sách nhà nước và các quy định về nghĩa vụ tài chính trong hệ thống. Lưu trữ và quản lý chứng từ giao dịch của cả chi nhánh.
Phòng Quản lý nợ: 25 người, thực hiện các hoạt động liên quan đến tác nghiệp, quản lý và kiểm tra đối với hồ sơ tín dụng của các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, thực hiện định giá tài sản của khách hàng và soạn hồ sơ tín dụng gửi khách hàng.
Phòng Ngân quỹ: 14 người, thực hiện việc tiếp quỹ cho các giao dịch viên và nhận hoàn quỹ về cuối ngày, đảm bảo cân quỹ, trực tiếp thu những khoản tiền lớn, thực hiện việc đóng bó tiền và hoàn thành kịp thời nghĩa vụ tài chính đối với Ngân hàng nhà nước.
Phòng Hành chính Nhân sự: 19 người, thực hiện chức năng hành chính, thực hiện công tác văn thư, hành chính, tuyên truyền, tiếp thị lễ tân, tiếp khách, tuyển dụng nhân sự, lên kế hoạch chi tiêu mua sắm quà tặng, làm sự kiện nhằm mục tiêu xây dựng chi nhánh văn minh, lịch sự. Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Giữa các phòng ban luôn có mối quan hệ phối hợp cho nên có sự liên kết chặt chẽ, hỗ trợ nhau trong việc thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng cho hoạt động chi nhánh được tiến hành một cách liên tục có hệ thống để đạt được hiệu quả kinh doanh cao.
- Bảng 4.1: Kết quả khách hàng sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank chi nhánh Cần Thơ từ năm 2020 đến năm 2024
Bảng số liệu phản ánh tình hình phát hành thẻ tín dụng của Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ và các phòng giao dịch trực thuộc trong giai đoạn 5 năm, từ 2020 đến 2024. Qua đó có thể nhận thấy xu hướng tăng trưởng ổn định và liên tục, thể hiện nỗ lực mở rộng tệp khách hàng cá nhân của ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường thẻ tín dụng. Tổng số lượng thẻ tín dụng phát hành toàn chi nhánh tăng từ 7.659 thẻ năm 2020 lên 10.344 thẻ năm 2024, tương ứng mức tăng hơn 1,35 lần, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 11%/năm. Đây là một kết quả tích cực, phản ánh chiến lược phát triển bán lẻ của Vietcombank Cần Thơ đang phát huy hiệu quả.
Gần đây, nhân tố rủi ro về bảo mật thông tin có tác động tiêu cực đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ. Mặc dù các ngân hàng nói chung và Vietcombank nói riêng đã triển khai nhiều biện pháp bảo mật như mã hóa giao dịch, xác thực hai lớp, và cảnh báo giao dịch bất thường, song tâm lý e ngại rủi ro gian lận, lộ thông tin cá nhân hay bị chiếm đoạt tài khoản vẫn còn tồn tại trong một bộ phận khách hàng. Điều này đặc biệt đúng với nhóm khách hàng lớn tuổi hoặc ít tiếp cận công nghệ, khiến họ có xu hướng hạn chế mở và sử dụng thẻ tín dụng. Vì thế, khi mức độ lo ngại rủi ro bảo mật tăng lên, khả năng quyết định sử dụng thẻ tín dụng giảm xuống tương ứng, phản ánh tầm quan trọng của việc củng cố niềm tin và an toàn trong giao dịch tài chính điện tử.
4.2 Mô tả mẫu nghiên cứu Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Tác giả thực hiện khảo sát với khách hàng, đã đang và có ý định sử dụng Thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ. Tổng số phiếu phát đi là 234 phiếu khảo sát và thu lại 234 phiếu hợp lệ được làm dữ liệu để nghiên cứu. Vậy kích thức mẫu dùng làm nghiên cứu là 234 quan sát.
- Giới tính
Kết quả khảo sát từ bảng 4.1 cho thấy, trong tổng số 234 người được khảo sát, tỷ lệ nữ cao hơn nam, chênh lệch khoảng 11,96%. Trong đó có 131 nữ (chiếm 55,98%), còn lại là 103 nam chiếm (44,02%). Mẫu nghiên cứu có sự phân bổ giới tính tương đối cân đối, nhưng nữ chiếm ưu thế. Tỷ lệ này cho thấy tỉ lệ nữ giới quan tâm đến thẻ tín dụng nhiều hơn tại VCB Cần Thơ.
Bảng 4.1: Bảng mô tả mẫu về giới tính
- Độ tuổi
Nhóm 18 – 25 tuổi (5,98%), đây là nhóm trẻ, mới đi làm hoặc còn đang học, thu nhập chưa ổn định quyết định sử dụng thẻ tín dụng có thể bị hạn chế do khả năng chứng minh thu nhập thấp. Nhóm 26 – 35 tuổi (51,71%), đây là nhóm chủ lực trong quyết định sử dụng thẻ tín dụng (chiếm hơn một nửa mẫu), nhóm tuổi này bắt đầu có thu nhập ổn định, có nhu cầu tiêu dùng, mua sắm, du lịch, mua hàng trả góp, yếu tố ảnh hưởng đến quyết định: ưu đãi hoàn tiền, tích điểm, tiện lợi trong thanh toán online. Đây là nhóm tiềm năng nhất để phát triển thị trường thẻ tín dụng. Nhóm 36 – 55 tuổi (30,34%), nhóm trung niên, thu nhập cao hơn, tài chính ổn định, họ thường dùng thẻ tín dụng cho thanh toán chi tiêu gia đình, du lịch, dịch vụ cao cấp. Tuy nhiên, quyết định sử dụng có thể chịu ảnh hưởng bởi thói quen dùng tiền mặt. Nhóm trên 55 tuổi (11,97%), nhóm cao tuổi, ít nhu cầu dùng thẻ tín dụng thường ưu tiên tiền mặt hoặc thẻ ghi nợ. Nếu sử dụng, họ quan tâm đến sự an toàn, dễ sử dụng, phí thấp hơn là ưu đãi tiêu dùng. Khả năng tác động đến tăng trưởng thị trường thẻ tín dụng thấp.
Bảng 4.2: Bảng mô tả mẫu về độ tuổi
- Thu nhập Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Kết quả khảo sát khách hàng từ bảng 4.3 cho thấy rằng, trong số khách hàng được khảo sát, phân bổ thu nhập khá đồng đều và ở mức khá. Cụ thể, nhóm thu nhập từ 5 triệu đến 15 triệu có 77 khách hàng (chiếm 32,91%), nhóm có thu nhập từ 15 triệu đến 30 triệu có 64 khách hàng (chiếm 27,35%), nhóm có thu nhập từ 30 triệu đến 50 triệu có 41 khách hàng (chiếm 17,52%), còn lại là nhóm thu nhập trên 50 triệu đồng có 52 khách hàng (chiếm 22,22%).
Bảng 4.3: Bảng mô tả mẫu về thu nhập
- Nghề nghiệp
Bảng số liệu cho thấy cơ cấu nghề nghiệp của 234 đối tượng khảo sát trong nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng. Trong đó, nhóm nhân viên văn phòng chiếm tỷ lệ cao nhất (36,75%), tiếp theo là nhóm kinh doanh tự do (23,08%), nhóm khác (28,63%), và cuối cùng là nhóm học sinh/sinh viên với tỷ lệ thấp nhất (11,54%). Cơ cấu nghề nghiệp trong mẫu khảo sát phản ánh sự đa dạng trong sự khác biệt trong các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng. Trong đó, nhóm nhân viên văn phòng và kinh doanh tự do là hai phân khúc chính cần được các ngân hàng chú trọng.
Bảng 4.4: Bảng mô tả mẫu về nghề nghiệp
- Thâm niên công tác
Kết quả khảo sát khách hàng từ bảng 4.4 cho thấy rằng phần lớn người tham gia khảo sát tập trung ở nhóm 1–3 năm ( chiếm 41,45%). Có 38 khách hàng (chiếm 16,24%) có thâm niên dưới 1 năm, có 58 khách hàng (chiếm 24,79%) có thâm niên từ 3 đến 5 năm và có 41 khách hàng 17,52%) có niên trên 5 (chiếm thâm năm.
- Bảng 4.5: Bảng mô tả mẫu về thâm niên công tác
4.3 Thống kê cho biến định lượng Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
- Bảng 4.6: Thống kê mô tả cho biến định lượng
Kết quả phân tích thể hiện mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng, xoay quanh kết quả Bình thường –3, không có biến quan sát < 3. Biến có giá trị trung bình cao nhất là UD1 = 4,077. Do đó, số liệu thống kê mô tả cho biến định lượng có kết quả tốt và cho phép tiếp tục nghiên cứu ở các bước tiếp theo.
4.4 Kiểm định Cronbach’s Alpha đối với các biến quan sát
Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha là phương pháp đo lường tính nhất quán nội tại của thang đo bằng cách đánh giá mức độ tương quan giữa các câu hỏi (biến quan sát) trong cùng một thang đo. Hệ số này cho biết các biến quan sát có cùng đo lường một khái niệm tiềm ẩn hay không, với hệ số càng cao thì thang đo càng có độ tin cậy cao. Nếu hệ số Cronbach’s Alpha cao cho thấy các biến quan sát có sự tương quan chặt chẽ, đồng nghĩa với việc thang đo có độ tin cậy cao, ngược lại nếu hệ số thấp chỉ ra các biến quan sát ít liên quan với nhau và có thể không đo lường chung một khái niệm. Ngưỡng chấp nhận là 0.60 trở lên: Thang đo chấp nhận được về độ tin cậy, đặc biệt trong các nghiên cứu khám phá ban đầu, hệ số từ 0.70 trở lên: Thang đo có độ tin cậy tốt và hệ số từ 0.80 đến 0.95: Thang đo có độ tin cậy rất tốt.
- Bảng 4.7: Kết quả kiểm định Crounbach’s Alpha
Từ kết quả kiểm định hệ số tin cậy Crounbach’s Alpha của bảng 4.6 cho thấy thang đo đủ đạt độ tin cậy, Cụ thể:
Thang đo Thái độ (TD): Tất cả các biến đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3, cho thấy các biến quan sát có mối liên hệ chặt chẽ với thang đo tổng thể. Với Cronbach’s Alpha = 0.939, thang đo “Thái độ” đạt độ tin cậy rất cao (vì > 0.9). Các biến quan sát đều đóng góp tích cực vào việc đo lường khái niệm “Thái độ của khách hàng đối với việc sử dụng thẻ tín dụng”. Thang đo “Thái độ” có độ tin cậy cao và tính nhất quán nội tại tốt, đủ điều kiện đưa vào phân tích nhân tố khám phá (EFA) ở bước tiếp theo. Các biến TD1–TD4 đều được giữ lại trong mô hình nghiên cứu. Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Thang đo Hữu ích (HI): Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3, cho thấy chúng có mối quan hệ chặt chẽ với thang đo tổng. Điều này chứng tỏ các biến HI1–HI4 có độ nhất quán nội tại rất tốt, cùng đo lường hiệu quả khái niệm “mức độ cảm nhận hữu ích” của khách hàng khi sử dụng thẻ tín dụng. Thang đo “Hữu ích” đạt độ tin cậy rất cao, chứng tỏ người trả lời có phản ứng thống nhất khi đánh giá mức độ hữu ích của thẻ tín dụng. Tất cả các biến HI1, HI2, HI3 và HI4 đều được giữ lại cho bước phân tích nhân tố khám phá (EFA).
Thang đo Chuẩn chủ quan (CCQ): Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3, chứng tỏ chúng có mối liên hệ chặt chẽ với thang đo tổng. Với Cronbach’s Alpha = 0.948, thang đo “Ưu đãi” đạt độ tin cậy rất cao (> 0.9). Các biến UD1–UD4 thể hiện sự nhất quán nội tại mạnh mẽ, cùng đo lường tốt mức độ cảm nhận của khách hàng về những ưu đãi khi sử dụng thẻ tín dụng (như hoàn tiền, tích điểm, giảm giá,…). Thang đo “Ưu đãi” có độ tin cậy cao, phản ánh sự đồng nhất trong cảm nhận của khách hàng về lợi ích ưu đãi của thẻ tín dụng. Do đó, các biến UD1, UD2, UD3 và UD4 đều được giữ lại để sử dụng trong bước phân tích nhân tố khám phá (EFA).
Thang đo Chi phí (CP): Tất cả các biến đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa các biến quan sát với tổng thể thang đo. Hệ số Cronbach’s Alpha = 0.924 thể hiện độ tin cậy rất cao của thang đo “Chi phí”. Các biến CP1–CP4 có sự nhất quán nội tại tốt, phản ánh đồng nhất nhận thức của người dùng về các chi phí khi sử dụng thẻ tín dụng (ví dụ: phí thường niên, phí rút tiền, lãi suất,…). Thang đo “Chi phí” có độ tin cậy rất cao, chứng tỏ các biến quan sát trong nhóm này đều đo lường cùng một khái niệm và có tính ổn định cao. Do đó, tất cả các biến CP1, CP2, CP3 và CP4 đều được giữ lại để phân tích nhân tố khám phá (EFA). Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Thang đo Nhận thức (NT): Các hệ số tương quan biến tổng của tất cả biến đều lớn hơn 0.3, cho thấy mức độ liên hệ chặt chẽ giữa từng biến quan sát với tổng thể thang đo. Ngoài ra, giá trị “Cronbach’s Alpha nếu loại biến” đều nhỏ hơn hệ số Cronbach’s Alpha chung (0.935), chứng tỏ không có biến nào cần bị loại bỏ. Hệ số Cronbach’s Alpha = 0.935 vượt xa ngưỡng 0.7, thể hiện mức độ tin cậy rất cao của thang đo. Các biến NT1 – NT4 có tính nhất quán nội tại tốt, phản ánh thống nhất nhận thức của khách hàng về lợi ích, tính cần thiết và hiệu quả của việc sử dụng thẻ tín dụng. Vì vậy, cả bốn biến NT1, NT2, NT3 và NT4 đều được giữ lại để phân tích nhân tố khám phá (EFA) ở bước tiếp theo.
Thang đo Quyết định (QD): Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3, cho thấy các biến có mối liên hệ chặt chẽ với thang đo tổng. Hệ số Cronbach’s Alpha = 0.885 đạt mức rất tốt (từ 0.8–0.9), chứng tỏ thang đo có độ tin cậy cao. Các biến QD1–QD4 có mức độ nhất quán nội tại tốt, cùng đo lường khái niệm “Quyết định sử dụng thẻ tín dụng” của khách hàng. Tất cả bốn biến quan sát đều đáp ứng yêu cầu về tương quan biến tổng và được giữ lại để thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA).
4.5. Phân tích yếu tố khám phá (EFA)
4.5.1. Thực hiện phân tích yếu tố khám phá cho biến độc lập
Theo kết quả ma trận xoay như bảng sau:
- Bảng 4.8: Kết quả phân tích EFA các biến độc lập
Theo kết quả trong bảng trên, không có biến nào tải lên trên 1 yếu tố, do đó không có vi phạm tính phân biệt trong phân tích thành phần chính của 24 biến quan sát được gom thành 06 yếu tố. Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải yếu tố (Factor Loading) lớn hơn 0.5.
- Bảng 4.9: Kết quả kiểm định KMO và bartlet của biến độc lập
Hệ số Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) = 0.874 cho thấy mức độ thích hợp của dữ liệu đối với phân tích nhân tố là rất tốt, vì giá trị này nằm trong khoảng 0.8 ≤ KMO < 0.9, thể hiện mẫu đủ lớn và các biến quan sát có mối tương quan chặt chẽ trong cùng một tập hợp. Kiểm định Bartlett’s Test of Sphericity cho giá trị Chi-Square xấp xỉ = 5835.257, với mức ý nghĩa Sig. = 0.000 < 0.05, chứng tỏ các biến quan sát có tương quan tuyến tính với nhau trong tổng thể, thỏa mãn điều kiện để tiến hành phân tích nhân tố khám phá (EFA). Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
- Bảng 4.10: Kết quả phân tích EFA về giá trị riêng ban đầu và tổng phương sai trích của biến độc lập
Phân tích nhân tố khám phá (EFA) được thực hiện bằng phương pháp trích Principal Component và phép xoay Varimax. Kết quả cho thấy hệ số KMO = 0.874 (> 0.5) và kiểm định Bartlett’s Test có Sig. = 0.000 < 0.05, chứng tỏ dữ liệu phù hợp để tiến hành EFA. Sáu nhân tố được rút trích có giá trị Eigenvalues lớn hơn 1, giải thích được 83.198% tổng phương sai của bộ dữ liệu – vượt ngưỡng 50% theo yêu cầu của Hair và cộng sự (2010). Các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố đạt yêu cầu (> 0.5) và tập trung rõ vào từng nhóm nhân tố, chứng tỏ thang đo có tính hội tụ và phân biệt tốt. Như vậy, kết quả EFA khẳng định các thang đo trong mô hình nghiên cứu về “các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương – Chi nhánh Cần Thơ” đạt yêu cầu về giá trị và độ tin cậy để tiếp tục thực hiện phân tích hồi quy đa biến ở các bước tiếp theo.
4.5.2. Thực hiện phân tích yếu tố khám phá cho biến phụ thuộc
- Bảng 4.11: Kết quả kiểm định KMO và bartlet của biến phụ thuộc
Đối với biến phụ thuộc “Quyết định sử dụng thẻ tín dụng”, hệ số KMO đạt 0.687 (> 0.5), thể hiện mức độ thích hợp của dữ liệu ở mức chấp nhận được cho phân tích nhân tố. Kiểm định Bartlett’s Test có giá trị Chi-Square = 1223.887 với Sig. = 0.000 < 0.05, chứng tỏ các biến quan sát có mối tương quan tuyến tính trong tổng thể. Do đó, dữ liệu thỏa mãn điều kiện để thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA) đối với biến phụ thuộc.
- Bảng 4.12: Kết quả phân tích EFA về giá trị riêng ban đầu và tổng phương sai trích của biến phụ thuộc tổng phương sai trích của biến phụ thuộc Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Kết quả phân tích EFA đối với biến phụ thuộc “Quyết định sử dụng thẻ tín dụng” cho thấy chỉ có một nhân tố được trích với giá trị Eigenvalue là 2.989 (>1), tổng phương sai trích đạt 74.735%, vượt ngưỡng 50% theo tiêu chuẩn của Hair và cộng sự (2010). Điều này cho thấy các biến quan sát trong thang đo có khả năng giải thích tốt cho khái niệm “Quyết định sử dụng thẻ tín dụng” và đạt được giá trị hội tụ. Do đó, thang đo biến phụ thuộc được chấp nhận và sử dụng trong các phân tích tiếp theo, bao gồm hồi quy tuyến tính đa biến.
- Bảng 4.13: Tổng hợp kết quả các biến Kết quả thực hiện phân tích yếu tố khám phá
Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho cả các biến độc lập và phụ thuộc cho thấy dữ liệu đạt yêu cầu về độ tin cậy, tính hội tụ và giá trị phân biệt của thang đo. Tổng cộng, mô hình nghiên cứu bao gồm 06 nhân tố độc lập và 01 nhân tố phụ thuộc, với tổng phương sai trích đạt 83.198% đối với biến độc lập và 74.735% đối với biến phụ thuộc. Do đó, tất cả các thang đo trong mô hình đều đảm bảo tính vững chắc và được sử dụng cho các phân tích tiếp theo, bao gồm phân tích tương quan và hồi quy đa biến.
4.6. Phân tích tương quan Pearson Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
- Bảng 4.14: Phân tích tương quan Pearson
Kết quả phân tích cho thấy, tất cả các hệ số tương quan giữa biến QD và các biến độc lập đều dương và có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0.05). Điều này chứng tỏ rằng các nhân tố trong mô hình đều có tương quan tuyến tính với quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng. Cụ thể như sau:
- Chuẩn chủ quan (CCQ) có mức tương quan cao nhất với QD (r = 0.648), thể hiện rằng khi khách hàng cảm nhận chất lượng dịch vụ thẻ tín dụng tốt hơn, họ có xu hướng đưa ra quyết định sử dụng thẻ nhiều hơn.
- Hữu ích (HI) và Thái độ (TD) cũng có mức tương quan mạnh với QD, lần lượt là r = 0.570 và r = 0.551. Điều này cho thấy sự tiện lợi, hữu ích và thái độ tích cực của khách hàng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi sử dụng thẻ tín dụng.
- Chi phí (CP) có mối tương quan trung bình với QD (r = 0.484), hàm ý rằng chi phí hợp lý có thể gia tăng khả năng chấp nhận sử dụng thẻ của khách hàng.
- Ưu đãi (UD) và Nhận thức (NT) có hệ số tương quan thấp hơn (r = 0.350 và 0.282), nhưng vẫn có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, cho thấy các yếu tố này vẫn góp phần nhất định vào quyết định sử dụng thẻ tín dụng.
Tóm lại, kết quả phân tích tương quan Pearson cho thấy tất cả các nhân tố trong mô hình đều có tương quan tuyến tính và có ý nghĩa thống kê với quyết định sử dụng thẻ tín dụng. Trong đó, Chuẩn chủ quan, Hữu ích và Thái độ là những nhân tố có mối liên hệ mạnh nhất với quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ.
4.7. Phân tích mô hình hồi quy đa biến
4.7.1. Đánh giá sự phù hợp của mô hình hồi quy
- Bảng 4.15. Kết quả phân tích mô hình hồi quy đa biến
Bảng 4.15 cho thấy rằng, các giá trị Sig. của các biến độc lập đều nhỏ hơn 0,05, cho thấy các nhân tố đều có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng. Như vậy, mô hình hồi quy là phù hợp và có ý nghĩa trong việc giải thích hành vi của khách hàng. Hàm hồi quy tuyến tính được biểu diễn như sau:
- QD = -0,704 + 0,227TD + 0,221HI + 0,327CCQ + 0,130CP + 0,112NT + 0,139UD
Các giá trị VIF < 2 và độ chấp nhận (Tolerance) > 0,1 cho thấy mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến, tức là các biến độc lập không có mối quan hệ tuyến tính mạnh với nhau. Điều này khẳng định các biến được đưa vào mô hình là độc lập tương đối và đáng tin cậy. Kết quả hồi quy tuyến tính đa biến khẳng định rằng tất cả sáu nhân tố: Thái độ, Hữu ích, Chuẩn chủ quan, Chi phí, Nhận thức và Ưu đãi đều có ảnh hưởng cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng. Trong đó, Chuẩn chủ quan (0,327) là yếu tố có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp theo là Hữu ích (0,221) và Thái độ (0,227).
- Bảng 4.16: Tóm tắt mô hình Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Giá trị R bình phương hiệu chỉnh (Adjusted R²) = 0,611 cho thấy mô hình hồi quy giải thích được 61,1% sự biến thiên của biến phụ thuộc (quyết định sử dụng thẻ tín dụng – QD) được giải thích bởi các biến độc lập. Điều này chứng tỏ mô hình có mức độ phù hợp tương đối cao, vì hơn 60% sự thay đổi trong hành vi quyết định sử dụng thẻ được lý giải bởi các nhân tố trong mô hình. Phần còn lại (38,9%) có thể được giải thích bởi các yếu tố khác chưa được xem xét trong nghiên cứu (như thu nhập, thói quen tiêu dùng, ảnh hưởng xã hội…).
Giá trị Durbin – Watson = 1,964, nằm trong khoảng từ 1,5 đến 2,5, cho thấy không có hiện tượng tự tương quan phần dư trong mô hình. Điều này chứng tỏ các sai số trong mô hình là độc lập với nhau, thỏa mãn một trong những giả định cơ bản của hồi quy tuyến tính.
4.7.2. Kiểm định sự phù hợp của mô hình
- Bảng 4.17: Bảng phân tích phương sai
Bảng trên cho thấy giá trị mức ý nghĩa của thống kê F rất nhỏ (0,000), điều này ngụ ý rằng sự kết hợp giữa các biến trong mô hình có thể giải thích được sự biến thiên của biến phụ thuộc, cho thấy mô hình mà chúng ta xây dựng phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng hiệu quả Giá trị Sig = 0,000 cho biết xác suất để mô hình không phù hợp là 0,0% (xấp xỉ bằng 0). Điều này nghĩa là không có bằng chứng thống kê nào để bác bỏ mô hình; ngược lại, mô hình hoàn toàn có ý nghĩa trong việc giải thích mối quan hệ giữa các biến. Khi Sig. = 0,000 < 0,05 mô hình hồi quy có ý nghĩa thống kê. Các biến độc lập trong mô hình giải thích được sự biến thiên của biến phụ thuộc – Quyết định sử dụng thẻ tín dụng.
Từ kết quả kiểm định F và giá trị Sig có thể kết luận rằng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến phù hợp với dữ liệu khảo sát, đồng thời các nhân tố được đưa vào có ảnh hưởng thống kê đáng kể đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng.
4.7.3 Kiểm tra vi phạm giả định phân phối chuẩn của phần dư Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
- Hình 4.1 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn
- Hình 4.2. Biểu đồ cung cấp của phần dư
Hình 4.2 cho thấy độ lệch chuẩn là 0,987 gần bằng 1, cho thấy phân phối của phần dư có xu hướng xấp xỉ chuẩn. Do đó, có thể kết luận rằng giả định phân phối chuẩn của phần dư không bị vi phạm. Các điểm phân vị trong phân phối của phần dư tập trung thành 1 đường chéo, điều này cũng được minh họa trong hình 4.1.
4.7.4 Kiểm tra vi phạm giả định liên hệ tuyến tính
- Hình 4.3. Biểu đồ phân tán
Theo hình 4.3 tác giả thấy rằng hầu như các biến quan sát phân tán đều. Cho nên giả định phương sai không đổi của mô hình hồi quy được chấp nhận. Đồng thời cũng có thể kết luận rằng các biến độc lập và biến phụ thuộc có liên hệ tuyến tính
4.8 Kiểm định sự khác biệt của các biến định tính
4.8.1 Giới tính
- Bảng 4.18: Kiểm định sự khác biệt theo giới tính
Kiểm định Independent Samples T-test được sử dụng để xác định xem có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong quyết định sử dụng thẻ tín dụng giữa hai nhóm đối tượng khảo sát hay không. Trước khi thực hiện T-test, cần kiểm tra điều kiện về phương sai của hai nhóm thông qua kiểm định Levene nhằm xác định xem phương sai của hai nhóm có bằng nhau hay không. Trong kiểm định Independent Samples T-test, ta luôn có hai giả thuyết:
- H₀: Không có sự khác biệt trong quyết định sử dụng thẻ tín dụng (QD) giữa hai nhóm (ví dụ: nam và nữ, hoặc nhóm thu nhập cao và thấp, …). Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
- H₁: Có sự khác biệt trong quyết định sử dụng thẻ tín dụng (QD) giữa hai nhóm (ví dụ: nam và nữ).
Kết quả kiểm định Levene cho thấy giá trị F = 0,192 và Sig. = 0,546 > 0,05, ta chấp nhận giả thuyết H₀, nghĩa là quyết định sử dụng thẻ tín dụng không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm. Do đó, khi xây dựng chiến lược marketing hoặc chính sách phát hành thẻ, ngân hàng có thể không cần phân biệt quá rõ ràng giữa hai nhóm này, mà nên tập trung vào cải thiện chất lượng dịch vụ, tăng tiện ích và các chương trình ưu đãi – những yếu tố được chứng minh là ảnh hưởng mạnh đến quyết định sử dụng thẻ trong mô hình hồi quy.
4.8.2 Độ tuổi
- Bảng 4.19: Kiểm định sự khác biệt theo độ tuổi
Kiểm định ANOVA được sử dụng nhằm xác định xem quyết định sử dụng thẻ tín dụng (QD) của khách hàng có sự khác biệt giữa các nhóm độ tuổi khác nhau hay không. Kiểm định giả thuyết gồm:
- Giả thuyết H₀ : Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về quyết định sử dụng thẻ tín dụng giữa các nhóm độ tuổi.
- Giả thuyết H₁ : Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về quyết định sử dụng thẻ tín dụng giữa ít nhất hai nhóm độ tuổi.
Kết quả kiểm định Levene giá trị Sig. = 0,368 > 0,05, cho thấy phương sai giữa các nhóm là đồng nhất, điều kiện để sử dụng kiểm định ANOVA được đảm bảo.
Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy giá trị Sig. = 0,225 > 0,05, do đó ta chấp nhận giả thuyết H₀ .
Như vậy, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong quyết định sử dụng thẻ tín dụng giữa các nhóm khách hàng thuộc độ tuổi khác nhau. Điều này cho thấy, độ tuổi không phải là yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương – Chi nhánh Cần Thơ. Mặc dù nhóm khách hàng từ 26–35 tuổi có mức trung bình cao nhất (3,700), nhưng sự chênh lệch giữa các nhóm không đủ lớn để được xem là có ý nghĩa thống kê.
4.8.3 Thu nhập Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
- Bảng 4.20: Kiểm định sự khác biệt theo thu nhập
Giá trị Sig. = 0,536 > 0,05, cho thấy phương sai giữa các nhóm thu nhập là đồng nhất, điều kiện để sử dụng kiểm định ANOVA được đảm bảo. Điều này có nghĩa là không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về quyết định sử dụng thẻ tín dụng giữa các nhóm khách hàng có mức thu nhập khác nhau. Mặc dù nhóm khách hàng có thu nhập từ 15 triệu – dưới 30 triệu đồng có điểm trung bình cao nhất (3,712), cho thấy mức độ đồng ý cao hơn đối với việc sử dụng thẻ tín dụng, tuy nhiên sự chênh lệch này không đủ lớn để có ý nghĩa thống kê. Kết quả này cho thấy thu nhập không phải là yếu tố tạo ra sự khác biệt đáng kể trong quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương – Chi nhánh Cần Thơ.
4.8.4 Nghề nghiệp
- Bảng 4.21: Kiểm định sự khác biệt theo nghề nghiệp
Giá trị Sig. = 0,958 > 0,05 cho thấy phương sai giữa các nhóm nghề nghiệp là đồng nhất, điều kiện để thực hiện kiểm định ANOVA được đảm bảo. Kết quả kiểm định cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong quyết định sử dụng thẻ tín dụng giữa các nhóm khách hàng có nghề nghiệp khác nhau. Mặc dù nhóm nhân viên văn phòng có mức trung bình cao nhất (Mean = 3,684) và nhóm “Khác” có mức trung bình thấp nhất (Mean = 3,486), song sự chênh lệch này không có ý nghĩa thống kê. Điều này cho thấy yếu tố nghề nghiệp không ảnh hưởng đáng kể đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương – Chi nhánh Cần Thơ.
4.8.5 Thâm niên
- Bảng 4.22. Kiểm định sự khác biệt theo thâm niên
Giá trị Sig. = 0,707 > 0,05, chứng tỏ phương sai giữa các nhóm là đồng nhất, điều kiện để thực hiện kiểm định ANOVA được đáp ứng đầy đủ. Kết quả kiểm định cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong quyết định sử dụng thẻ tín dụng giữa các nhóm khách hàng có thời gian sử dụng thẻ khác nhau. Tuy nhiên, xét về giá trị trung bình, nhóm khách hàng sử dụng thẻ từ 1 đến 3 năm có mức độ quyết định sử dụng cao nhất (Mean = 3,771) so với các nhóm còn lại. Điều này cho thấy khách hàng trong giai đoạn này có mức độ hài lòng và gắn bó cao hơn, song sự khác biệt chưa đạt mức ý nghĩa thống kê.
4.9 Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Kết quả hồi quy cho thấy cả sáu biến độc lập trong mô hình đều có ảnh hưởng cùng chiều và có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0,05) đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng. Trong đó, Chuẩn chủ quan (CCQ) là yếu tố có tác động mạnh nhất, tiếp theo là Nhận thức hữu ích (HI) và Thái độ (TD). Các yếu tố Chi phí (CP), Ưu đãi (UD) và Nhận thức (NT) tuy có mức ảnh hưởng thấp hơn nhưng vẫn thể hiện vai trò đáng kể trong mô hình nghiên cứu.
- Chuẩn chủ quan (CCQ)
Yếu tố chuẩn chủ quan có hệ số Beta chuẩn hóa = 0,302, cao nhất trong các biến độc lập, cho thấy ảnh hưởng xã hội có vai trò quyết định đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng. Kết quả này phản ánh rằng ý kiến, lời khuyên của người thân, bạn bè, đồng nghiệp và thông tin truyền thông có thể tác động mạnh đến quyết định của khách hàng trong việc mở và sử dụng thẻ tín dụng.
Kết quả này phù hợp với mô hình hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991), khẳng định rằng chuẩn chủ quan là yếu tố thúc đẩy ý định hành vi thông qua áp lực xã hội. Đồng thời, kết quả cũng tương đồng với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Hiền (2022) và Lưu Phước Vẹn & Lê Thị Kim Chi (2023), khi cho rằng chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi sử dụng các dịch vụ ngân hàng.
- Nhận thức hữu ích (HI)
Yếu tố nhận thức hữu ích có hệ số Beta = 0,260, cho thấy mức độ tiện lợi và giá trị sử dụng của thẻ tín dụng ảnh hưởng mạnh đến quyết định của khách hàng. Khi khách hàng cảm nhận được thẻ tín dụng giúp chi tiêu an toàn, linh hoạt, tiết kiệm thời gian và dễ kiểm soát tài chính, họ sẽ có xu hướng sử dụng thẻ thường xuyên hơn.
Kết quả này phù hợp với thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis (1989), trong đó nhận thức hữu ích là yếu tố tiên quyết ảnh hưởng đến thái độ và hành vi sử dụng công nghệ. Điều này cũng đồng nhất với nghiên cứu của Đặng Lâm Quỳnh Như (2018), cho rằng nhận thức về sự tiện ích của sản phẩm tài chính là yếu tố quan trọng trong việc hình thành hành vi tiêu dùng
- Thái độ (TD) Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Thái độ có hệ số Beta = 0,232, thể hiện mức ảnh hưởng trung bình nhưng có ý nghĩa. Kết quả cho thấy khi khách hàng có thái độ tích cực đối với việc sử dụng thẻ tín dụng, họ sẽ có xu hướng sử dụng thẻ nhiều hơn.
Điều này chứng minh yếu tố tâm lý và cảm xúc có ảnh hưởng đến hành vi, phù hợp với nghiên cứu của Ajzen & Fishbein (1980), trong đó thái độ là thành phần cơ bản hình thành ý định hành vi.
Thực tế, tại Vietcombank Cần Thơ, phần lớn khách hàng có thái độ tích cực đối với thẻ tín dụng, xem đây là công cụ chi tiêu tiện lợi, thể hiện sự hiện đại trong thanh toán.
- Ưu đãi (UD)
Yếu tố ưu đãi có hệ số Beta = 0,142, cho thấy các chương trình khuyến mãi, hoàn tiền, tích điểm và trả góp 0% vẫn đóng vai trò khuyến khích hành vi sử dụng thẻ. Tuy nhiên, mức ảnh hưởng không cao, phản ánh thực tế rằng chính sách ưu đãi giữa các ngân hàng hiện nay khá tương đồng, khiến khách hàng không xem đây là yếu tố quyết định hàng đầu.
Kết quả này hàm ý rằng Vietcombank cần đa dạng hóa và cá nhân hóa chương trình ưu đãi để nâng cao sức cạnh tranh, hướng tới từng phân khúc khách hàng cụ thể.
- Chi phí (CP)
Chi phí có hệ số Beta = 0,126, thể hiện mức tác động thấp nhưng có ý nghĩa. Điều này cho thấy mức phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí chậm thanh toán tuy được khách hàng quan tâm, nhưng không phải là rào cản lớn trong quyết định sử dụng thẻ.
Kết quả này phù hợp với bối cảnh thực tế khi khách hàng sẵn sàng chấp nhận chi phí nếu dịch vụ thẻ mang lại giá trị sử dụng cao và uy tín thương hiệu tốt. Tuy nhiên, Vietcombank cần đảm bảo tính minh bạch và hợp lý trong chính sách phí, vì đây vẫn là yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng và duy trì sử dụng lâu dài.
- Nhận thức (NT)
Yếu tố nhận thức có hệ số Beta = 0,119, là biến có tác động yếu nhất nhưng vẫn có ý nghĩa thống kê. Kết quả này cho thấy mức độ hiểu biết và khả năng kiểm soát tài chính cá nhân có ảnh hưởng nhất định đến việc sử dụng thẻ.
Những khách hàng có kiến thức về tín dụng, khả năng quản lý chi tiêu và thanh toán đúng hạn sẽ có xu hướng sử dụng thẻ tích cực hơn. Điều này hàm ý rằng Vietcombank nên tăng cường truyền thông giáo dục tài chính để nâng cao nhận thức và niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm thẻ. Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
4.9.1 Thảo luận theo các yếu tố nhân khẩu học
Kết quả kiểm định Levene và ANOVA cho thấy các đặc điểm nhân khẩu học như giới tính, độ tuổi, thu nhập, nghề nghiệp và thời gian sử dụng thẻ đều không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với quyết định sử dụng thẻ tín dụng (Sig. > 0,05).
Điều này phản ánh rằng việc sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank Cần Thơ đã trở nên phổ biến và đồng đều giữa các nhóm khách hàng, không phụ thuộc mạnh vào đặc điểm cá nhân.
Tuy nhiên, xét về giá trị trung bình, nhóm khách hàng có mức độ quyết định sử dụng cao hơn so với các nhóm khác.
Kết quả này cho thấy nhóm khách hàng trẻ, thu nhập ổn định và có trải nghiệm dịch vụ ngân hàng tốt là đối tượng tiềm năng nhất cho hoạt động phát triển thẻ tín dụng của Vietcombank Cần Thơ.
4.9.2 Tổng kết thảo luận
- Từ kết quả nghiên cứu có thể kết luận rằng:
Tất cả sáu nhân tố trong mô hình đều tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng.
Chuẩn chủ quan, nhận thức hữu ích và thái độ là ba yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất, cho thấy hành vi sử dụng thẻ chịu tác động lớn từ môi trường xã hội và nhận thức giá trị sản phẩm.
Các yếu tố chi phí, ưu đãi và nhận thức cá nhân có ảnh hưởng nhỏ hơn nhưng vẫn đóng vai trò hỗ trợ quan trọng trong việc duy trì và mở rộng tập khách hàng thẻ tín dụng.
Các yếu tố nhân khẩu học không tạo ra sự khác biệt đáng kể, phản ánh tính phổ cập và linh hoạt của dịch vụ thẻ tín dụng trong đời sống hiện đại. Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Như vậy, kết quả nghiên cứu đã xác nhận mô hình lý thuyết đề xuất là phù hợp với thực tiễn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng để xây dựng các giải pháp quản trị nhằm gia tăng quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng trong giai đoạn tới.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
5.1 Kết luận
Nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ ” được thực hiện với mục tiêu nhận diện, đo lường và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân.
Trên cơ sở tổng hợp lý thuyết về hành vi người tiêu dùng, thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và thuyết chấp nhận công nghệ (TAM), mô hình nghiên cứu được xây dựng gồm sáu nhân tố độc lập: Thái độ (TD), Hữu ích (HI), Chuẩn chủ quan (CCQ), Chi phí (CP), Nhận thức (NT) và Ưu đãi (UD), với biến phụ thuộc là Quyết định sử dụng thẻ tín dụng (QD). Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 234 khách hàng đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank Cần Thơ, và được xử lý bằng các phương pháp thống kê hiện đại gồm phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), tương quan Pearson và Hồi quy tuyến tính đa biến.
Kết quả kiểm định cho thấy mô hình nghiên cứu phù hợp và có ý nghĩa thống kê, với hệ số xác định hiệu chỉnh R² = 0,611, cho phép khẳng định các nhân tố trong mô hình giải thích được 61,1% sự biến thiên trong quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng. Các kết quả phân tích chỉ ra rằng cả sáu nhân tố đều tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0,05) đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng, trong đó Chuẩn chủ quan (CCQ) là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất, kế đến là Nhận thức hữu ích (HI) và Thái độ (TD). Điều này cho thấy ảnh hưởng xã hội, nhận thức về lợi ích và thái độ tích cực đối với sản phẩm là những yếu tố đóng vai trò trung tâm trong việc hình thành hành vi sử dụng thẻ tín dụng.
Các nhân tố còn lại như Ưu đãi (UD), Chi phí (CP) và Nhận thức (NT) tuy có mức độ tác động thấp hơn nhưng vẫn mang ý nghĩa quản trị quan trọng, thể hiện qua sự nhạy cảm của khách hàng đối với giá trị sử dụng, chính sách phí và khả năng tự kiểm soát tài chính. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các đặc điểm nhân khẩu học như giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập và thời gian sử dụng thẻ không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong quyết định sử dụng thẻ tín dụng (Sig. > 0,05). Điều này phản ánh rằng việc sử dụng thẻ tín dụng đã trở thành hành vi tiêu dùng phổ biến, không còn bị giới hạn bởi yếu tố nhân khẩu học, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và xu hướng thanh toán không tiền mặt ngày càng lan rộng tại Việt Nam.
Từ các phát hiện trên, luận văn đã đề xuất một hệ thống hàm ý quản trị cụ thể nhằm hỗ trợ Vietcombank Cần Thơ trong việc tăng cường ảnh hưởng xã hội, gia tăng tiện ích và giá trị cảm nhận của thẻ, đồng thời hoàn thiện chính sách ưu đãi, chi phí và truyền thông giáo dục tài chính cho khách hàng. Những giải pháp này không chỉ góp phần thúc đẩy quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng hiện hữu, mà còn giúp mở rộng tệp khách hàng tiềm năng và nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank trên thị trường dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Về mặt học thuật, nghiên cứu đã củng cố và mở rộng mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) trong bối cảnh sử dụng dịch vụ ngân hàng hiện đại, đồng thời bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm cho các nghiên cứu về hành vi tiêu dùng dịch vụ tài chính tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu có giá trị giúp các nhà quản trị ngân hàng hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến hành vi khách hàng, từ đó hoạch định chính sách marketing, quản trị rủi ro và phát triển sản phẩm một cách hiệu quả và bền vững hơn.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng tồn tại một số hạn chế nhất định, như phạm vi khảo sát chỉ giới hạn tại một chi nhánh, mẫu nghiên cứu chủ yếu là khách hàng cá nhân tại khu vực thành thị, và chưa xét đến các yếu tố công nghệ mới như ví điện tử hoặc ngân hàng số. Do đó, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi khảo sát, tăng kích thước mẫu hoặc tích hợp thêm các biến về trải nghiệm số và niềm tin công nghệ, nhằm nâng cao khả năng khái quát và tính toàn diện của mô hình.
Tổng kết lại, luận văn đã đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, góp phần bổ sung giá trị lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu hành vi khách hàng đối với sản phẩm thẻ tín dụng. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp Vietcombank Cần Thơ có thêm căn cứ hoạch định chiến lược kinh doanh phù hợp, mà còn gợi mở định hướng cho các ngân hàng thương mại khác trong việc thúc đẩy phát triển dịch vụ thẻ tín dụng – một trong những công cụ quan trọng của nền kinh tế số và tài chính toàn diện hiện nay.
5.2 Hàm ý quản trị Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Từ kết quả nghiên cứu, có thể rút ra một số hàm ý quản trị quan trọng giúp Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ nâng cao quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng như sau:
5.2.1 Gia tăng ảnh hưởng xã hội và uy tín thương hiệu (Chuẩn chủ quan – CCQ)
Kết quả cho thấy chuẩn chủ quan là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng với hệ số hồi quy chuẩn hóa β= 0,302 và giá trị trung bình các biến quan sát (CCQ1–CCQ4) đạt Mean =3,768, phản ánh mức độ đồng thuận khá cao của khách hàng về tác động xã hội và ý kiến tham khảo. Điều này phản ánh rằng yếu tố xã hội và ảnh hưởng từ môi trường xung quanh đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành ý định và hành vi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng.
- Tăng cường truyền thông định vị thương hiệu, nhấn mạnh hình ảnh “ngân hàng hàng đầu về chất lượng dịch vụ và độ tin cậy”, qua đó củng cố niềm tin xã hội đối với sản phẩm thẻ tín dụng.
- Phát huy sức ảnh hưởng của khách hàng hiện hữu thông qua chương trình “giới thiệu bạn bè”, “khách hàng thân thiết”, hoặc “người dùng tiêu biểu”, khuyến khích khách hàng chia sẻ trải nghiệm tích cực.
- Hợp tác với doanh nghiệp, trường học, tổ chức tài chính nhằm mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ, tăng cường sự hiện diện của Vietcombank trong cộng đồng.
- Tận dụng truyền thông mạng xã hội (Facebook, Zalo, TikTok) và người có tầm ảnh hưởng (KOLs) để lan tỏa hình ảnh thương hiệu hiện đại, uy tín.
Bảng 5.1 Thống kê trung bình của thang đo Chuẩn chủ quan
Những kết quả này cho thấy yếu tố “chuẩn chủ quan” không chỉ phản ánh áp lực xã hội trực tiếp, mà còn thể hiện tác động lan tỏa của hành vi tiêu dùng tài chính trong cộng đồng. Theo Thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – Ajzen, 1991), chuẩn chủ quan là yếu tố định hình “ý định hành vi” thông qua nhận thức về kỳ vọng của người khác và mong muốn đáp ứng kỳ vọng đó. Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Do vậy, việc tác động đến yếu tố này không chỉ dừng ở truyền thông quảng bá, mà cần xây dựng niềm tin xã hội, uy tín thương hiệu và giá trị chuẩn mực của hành vi sử dụng thẻ tín dụng.
Như vậy, nhân tố “Chuẩn chủ quan” đã khẳng định ảnh hưởng của các yếu tố xã hội và truyền thông đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank Cần Thơ. Về mặt học thuật, kết quả này củng cố cho mô hình TPB (Ajzen, 1991) và khẳng định rằng trong bối cảnh ngân hàng Việt Nam, áp lực xã hội và sự đồng thuận cộng đồng vẫn là động lực hành vi quan trọng. Về mặt thực tiễn, Vietcombank cần chuyển hóa ảnh hưởng xã hội thành niềm tin thương hiệu, lan tỏa hình ảnh ngân hàng hiện đại, minh bạch và gần gũi với cộng đồng, từ đó thúc đẩy mạnh mẽ quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân.
5.2.2 Nâng cao nhận thức hữu ích của khách hàng
Yếu tố nhận thức hữu ích (HI) là nhân tố có ảnh hưởng mạnh thứ hai với β = 0,260, Sig. = 0,000, và Mean = 3,460, cho thấy khách hàng đánh giá cao giá trị tiện ích mà thẻ tín dụng mang lại. Điều này hàm ý rằng Vietcombank cần tập trung nâng cao trải nghiệm sử dụng thẻ thông qua việc tối ưu hóa các tính năng và dịch vụ liên quan.
Các hàm ý cụ thể bao gồm:
- Đa dạng hóa tiện ích sử dụng thẻ, mở rộng phạm vi thanh toán không tiếp xúc, giao dịch trực tuyến và trả góp linh hoạt.
- Phát triển các công cụ quản lý chi tiêu thông minh trên ứng dụng VCB Digibank (ví dụ: thông báo chi tiêu theo danh mục, thống kê tiêu dùng định kỳ).
- Tăng cường tính an toàn trong giao dịch, tích hợp xác thực đa lớp, bảo hiểm gian lận thẻ, và cơ chế khóa/mở thẻ nhanh.
- Đẩy mạnh truyền thông về giá trị sử dụng, giúp khách hàng hiểu rõ lợi ích tài chính khi thanh toán qua thẻ so với tiền mặt.
Kết quả này tương thích với thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis (1989), khẳng định nhận thức hữu ích là yếu tố trung gian ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ và hành vi sử dụng công nghệ tài chính.
- Bảng 5.2 Thống kê trung bình của thang đo Hữu ích
Nhận thức về tính hữu ích là yếu tố nền tảng trong việc hình thành ý định và hành vi sử dụng thẻ tín dụng. Đối với người tiêu dùng Việt Nam nói chung và tại khu vực Cần Thơ nói riêng, thói quen chi tiêu bằng tiền mặt vẫn còn phổ biến, nên việc truyền thông về lợi ích thực tế của thẻ tín dụng là vô cùng quan trọng. Vietcombank cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá trên các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội, và đặc biệt là tại các điểm giao dịch – nơi khách hàng dễ dàng quan sát, trải nghiệm trực tiếp. Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Ngoài ra, việc tích hợp thêm các tiện ích công nghệ hiện đại như thanh toán không tiếp xúc (contactless), quét mã QR, hoặc liên kết với ví điện tử (Momo, ZaloPay, ShopeePay…) sẽ giúp thẻ tín dụng trở nên gần gũi và dễ sử dụng hơn trong đời sống hằng ngày. Điều này không chỉ gia tăng giá trị cảm nhận của khách hàng mà còn góp phần thúc đẩy mục tiêu quốc gia về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt – một xu hướng tất yếu trong thời đại chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Đặc biệt, Vietcombank nên nhấn mạnh vai trò của thẻ tín dụng trong việc xây dựng phong cách sống tài chính thông minh và thân thiện với môi trường: giảm thiểu việc in ấn, lưu trữ giấy tờ, hạn chế lưu thông tiền mặt (vốn tiêu tốn nhiều năng lượng trong khâu sản xuất, vận chuyển, kiểm đếm). Đây cũng là bước đi cụ thể thể hiện cam kết “ngân hàng xanh” và phát triển bền vững của Vietcombank trong kỷ nguyên kinh tế tuần hoàn.
5.2.3. Tăng cường thái độ tích cực đối với thẻ tín dụng
Với β = 0,232 và Mean = 3,647, yếu tố thái độ (TD) thể hiện sự đánh giá cảm xúc và nhận thức tích cực của khách hàng về việc sử dụng thẻ. Điều này cho thấy khi khách hàng có niềm tin và cảm xúc tốt về sản phẩm, họ dễ dàng chuyển hóa thái độ thành hành vi sử dụng thực tế. Do đó, Vietcombank cần tập trung vào chiến lược xây dựng hình ảnh thương hiệu thân thiện, chuyên nghiệp và hiện đại, thông qua:
- Đào tạo đội ngũ nhân viên tư vấn thẻ chuyên nghiệp, có kỹ năng chăm sóc và thuyết phục khách hàng dựa trên lợi ích thực tế.
- Thiết kế trải nghiệm khách hàng tích cực, từ khâu đăng ký phát hành, hướng dẫn sử dụng đến chăm sóc sau bán.
- Truyền thông hình ảnh “sử dụng thẻ là phong cách sống hiện đại”, gắn với thông điệp tiện lợi – an toàn – văn minh.
- Tổ chức các chương trình tri ân, hội nghị khách hàng nhằm củng cố niềm tin và tạo thái độ tích cực lâu dài đối với ngân hàng.
Bảng 5.3 Thống kê trung bình của thang đo Thái độ
Thái độ của khách hàng được hình thành từ nhận thức, trải nghiệm cá nhân và ảnh hưởng xã hội. Để nuôi dưỡng thái độ tích cực, Vietcombank cần xây dựng hình ảnh thẻ tín dụng như một biểu tượng của tiêu dùng hiện đại, an toàn và văn minh. Điều này có thể được thực hiện thông qua các chiến dịch truyền thông kết hợp yếu tố cảm xúc và giá trị cộng đồng.
Bên cạnh đó, thái độ tích cực còn được củng cố bằng trải nghiệm dịch vụ. Ngân hàng cần đào tạo đội ngũ nhân viên có kỹ năng giao tiếp, tư vấn tận tâm và hỗ trợ khách hàng nhanh chóng trong mọi tình huống, đặc biệt khi xảy ra sự cố như mất thẻ, giao dịch gian lận, hoặc khiếu nại phí. Một quy trình dịch vụ chuyên nghiệp, minh bạch và lấy khách hàng làm trung tâm sẽ giúp khách hàng cảm thấy an tâm, tin tưởng và có xu hướng gắn bó lâu dài.
Từ góc độ xã hội, việc hình thành thái độ tích cực với thẻ tín dụng cũng đồng nghĩa với việc nâng cao văn hóa tài chính cá nhân, giúp người dân biết cách quản lý chi tiêu, lập kế hoạch tài chính và sử dụng công cụ tín dụng có trách nhiệm – điều này mang lại lợi ích không chỉ cho ngân hàng mà cho cả sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế tiêu dùng.
5.2.4. Hoàn thiện chính sách ưu đãi và khuyến mãi Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Yếu tố ưu đãi (UD) có β = 0,142 và Mean = 4,007, thể hiện mức ảnh hưởng trung bình nhưng có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,002). Điều này chứng tỏ các chương trình khuyến mãi, hoàn tiền, tích điểm vẫn là động lực phụ nhưng quan trọng trong việc khuyến khích hành vi sử dụng thẻ. Các hàm ý quản trị bao gồm:
- Cá nhân hóa ưu đãi dựa trên lịch sử chi tiêu của từng khách hàng, thay vì áp dụng chương trình đồng loạt.
- Mở rộng hợp tác với các đối tác chiến lược (siêu thị, nhà hàng, hãng hàng không, nền tảng thương mại điện tử) để tăng sức hấp dẫn
- Tăng tần suất truyền thông về ưu đãi qua các kênh số như ứng dụng, email marketing, và mạng xã hội.
- Đánh giá định kỳ hiệu quả từng chương trình (qua tỷ lệ sử dụng thẻ, doanh số chi tiêu) để điều chỉnh chính sách khuyến mãi phù hợp.
Bảng 5.4 Thống kê trung bình của thang đo Ưu đãi
Chính sách ưu đãi là công cụ cạnh tranh quan trọng trong thị trường thẻ. Tuy nhiên, để tạo hiệu quả dài hạn, Vietcombank cần hướng tới các chương trình ưu đãi có giá trị thực tiễn, mang tính cá nhân hóa và bền vững. Thay vì dàn trải các chương trình ngắn hạn, ngân hàng nên tập trung vào những ưu đãi gắn với nhu cầu thiết yếu của khách hàng như chi tiêu giáo dục, du lịch, chăm sóc sức khỏe, hay mua sắm trực tuyến.
Việc hợp tác với các doanh nghiệp địa phương trong lĩnh vực ẩm thực, du lịch, thương mại điện tử tại Cần Thơ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ giúp mở rộng hệ sinh thái tiêu dùng mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực. Mỗi giao dịch thẻ tín dụng không chỉ là một hành vi tiêu dùng mà còn là mắt xích kết nối giữa ngân hàng, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương.
Ngoài ra, Vietcombank có thể triển khai các ưu đãi “xanh” – ví dụ: hoàn tiền khi mua sắm sản phẩm thân thiện môi trường, hay tích điểm thưởng cho các hoạt động không dùng tiền mặt – qua đó gắn lợi ích cá nhân với mục tiêu phát triển bền vững của xã hội. Chính sách ưu đãi vì thế vừa mang tính kinh tế, vừa mang giá trị nhân văn và môi trường.
5.2.5 Quản trị chi phí sử dụng thẻ minh bạch và hợp lý Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Với β = 0,126 và Mean = 3,848, yếu tố chi phí (CP) cho thấy mức độ ảnh hưởng thấp hơn nhưng vẫn có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,010). Điều này chứng minh khách hàng quan tâm đến chính sách phí, nhưng sẵn sàng chấp nhận mức phí hợp lý nếu cảm nhận được giá trị sử dụng tương xứng, vì vậy chúng ta cần:
- Công khai và chuẩn hóa biểu phí, đảm bảo tính minh bạch trong mọi giao dịch
- Xây dựng chính sách miễn giảm phí linh hoạt, như miễn phí năm đầu, miễn phí thường niên nếu đạt hạn mức chi tiêu.
- Đưa ra các gói thẻ đa dạng với mức phí – hạn mức tín dụng khác nhau để khách hàng dễ lựa chọn.
- So sánh lợi ích – chi phí rõ ràng trong tài liệu truyền thông, giúp khách hàng nhận thấy “giá trị ròng” mà thẻ mang lại.
Việc quản trị chi phí hợp lý sẽ tăng niềm tin và tính trung thành của khách hàng, đồng thời cải thiện hiệu quả cạnh tranh trên thị trường thẻ tín dụng.
- Bảng 5.5 Thống kê trung bình của thang đo Chi phí
Chi phí là yếu tố nhạy cảm, tác động mạnh đến cảm nhận công bằng và niềm tin của khách hàng. Vì vậy, Vietcombank cần duy trì chính sách phí công khai, minh bạch, dễ tiếp cận, giúp khách hàng hiểu rõ các loại phí như phí thường niên, phí chậm thanh toán, hoặc lãi suất khi trả góp. Khi thông tin rõ ràng, khách hàng sẽ dễ dàng so sánh và đánh giá giá trị mà sản phẩm mang lại.
Để tăng sức cạnh tranh, ngân hàng có thể áp dụng các chính sách phí linh hoạt như miễn phí năm đầu, giảm phí thường niên khi đạt hạn mức chi tiêu, hoặc hoàn phí cho khách hàng thân thiết. Việc áp dụng các gói sản phẩm theo phân khúc (thẻ sinh viên, thẻ doanh nhân, thẻ nữ giới, thẻ xanh – eco card…) cũng là cách để vừa đáp ứng nhu cầu đa dạng, vừa tạo giá trị khác biệt.
Bên cạnh đó, cần minh bạch hóa toàn bộ chi phí liên quan đến giao dịch quốc tế, bảo hiểm thẻ, và các dịch vụ gia tăng khác – điều này giúp hạn chế hiểu lầm, củng cố hình ảnh Vietcombank là ngân hàng tiên phong về đạo đức và minh bạch tài chính, đồng thời thúc đẩy hành vi tiêu dùng có trách nhiệm trong cộng đồng.
5.2.6 Nâng cao nhận thức và kỹ năng tài chính của khách hàng Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Yếu tố nhận thức (NT) có β = 0,119 – là nhân tố có tác động yếu nhất, với Mean = 3,846 và Sig. = 0,005.Tuy mức độ ảnh hưởng không cao, nhưng đây là biến có khả năng gia tăng bền vững hành vi sử dụng thẻ, đặc biệt trong nhóm khách hàng trẻ và mới tham gia dịch vụ.Vietcombank cần chú trọng đến giáo dục tài chính và truyền thông hiểu biết thẻ thông qua:
- Tổ chức workshop hoặc chuyên đề trực tuyến về kỹ năng sử dụng thẻ tín dụng an toàn, quản lý chi tiêu và tránh nợ xấu.
- Cung cấp công cụ cảnh báo và nhắc nợ tự động, giúp khách hàng chủ động trong việc thanh toán đúng hạn.
- Thiết kế nội dung truyền thông đơn giản, dễ hiểu, minh họa trực quan về lợi ích sử dụng thẻ.
- Tăng cường vai trò tư vấn của nhân viên giao dịch, đảm bảo khách hàng được hướng dẫn chi tiết ngay khi đăng ký mở thẻ.
Bảng 5.6 Thống kê trung bình của thang đo Chi phí
Kết quả này gợi ý rằng, khi trình độ hiểu biết tài chính của khách hàng tăng lên, họ sẽ tự tin và chủ động hơn trong hành vi sử dụng thẻ, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng.
Việc thiếu kiến thức tài chính cá nhân vẫn là một rào cản lớn trong việc phổ cập thẻ tín dụng tại Việt Nam. Do đó, Vietcombank cần chủ động đóng vai trò ngân hàng giáo dục tài chính thông qua các chương trình truyền thông, hội thảo, và chuyên mục “hiểu đúng – dùng đúng” về thẻ tín dụng. Các nội dung này nên hướng dẫn người dân về cách quản lý chi tiêu, tránh nợ quá hạn, tận dụng ưu đãi hợp lý và bảo mật giao dịch an toàn.
Song song với đó, ngân hàng có thể hợp tác với trường học, doanh nghiệp, và tổ chức xã hội để đưa kiến thức tài chính cơ bản vào đời sống – giúp sinh viên, nhân viên văn phòng và người lao động hiểu rõ lợi ích của công cụ tín dụng. Khi kỹ năng tài chính được nâng cao, hành vi sử dụng thẻ của khách hàng sẽ trở nên tự tin, chủ động và bền vững hơn.
Ở góc độ xã hội, việc nâng cao năng lực tài chính cá nhân không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro nợ xấu và rối loạn chi tiêu, mà còn góp phần hình thành một cộng đồng tiêu dùng văn minh, ổn định tài chính, gắn với mục tiêu phát triển bền vững của nền kinh tế.
5.2.7. Nâng cao quản trị rủi ro về bảo mật thông tin
Ngân hàng cần chú trọng nâng cao an toàn bảo mật và niềm tin của khách hàng trong quá trình phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Cụ thể, chi nhánh cần: Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
- Đầu tư nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, áp dụng các giải pháp bảo mật tiên tiến như nhận diện sinh trắc học, xác thực đa yếu tố và mã hóa dữ liệu toàn diện trong mọi giao dịch.
- Tăng cường công tác truyền thông và giáo dục tài chính, giúp khách hàng hiểu rõ cách bảo vệ thông tin cá nhân, nhận diện hành vi gian lận, và cách phản ứng khi gặp rủi ro.
- Thiết lập cơ chế cảnh báo và xử lý nhanh các giao dịch bất thường, đồng thời công khai quy trình hỗ trợ khi xảy ra sự cố, nhằm tạo cảm giác an tâm cho người dùng.
- Phát triển chính sách bảo hiểm rủi ro hoặc cam kết hoàn tiền trong trường hợp bị gian lận, từ đó củng cố lòng tin của khách hàng và nâng cao uy tín thương hiệu.
Như vậy, việc kiểm soát và giảm thiểu rủi ro bảo mật không chỉ giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng mà còn là yếu tố chiến lược trong việc duy trì tăng trưởng bền vững và củng cố vị thế cạnh tranh của Vietcombank Cần Thơ trên thị trường dịch vụ tài chính – ngân hàng.
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu
Mặc dù đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ” đã đạt được những kết quả nhất định cả về mặt lý luận và thực tiễn, tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định cần được nhìn nhận một cách khách quan như sau:
- Thứ nhất, về phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu chỉ được thực hiện tại một chi nhánh duy nhất của Vietcombank (Chi nhánh Cần Thơ), nên tính khái quát hóa của kết quả còn hạn chế. Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Đặc điểm nhân khẩu học, thói quen chi tiêu và mức độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng của khách hàng tại Cần Thơ có thể khác biệt so với các địa bàn khác như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội hay các tỉnh miền núi. Do đó, kết quả nghiên cứu phản ánh đặc thù địa phương nhiều hơn là bức tranh chung của toàn hệ thống Vietcombank.
- Thứ hai, về phương pháp thu thập dữ liệu:
Dữ liệu được thu thập thông qua phương pháp khảo sát định lượng bằng bảng hỏi, dựa vào đánh giá chủ quan của người trả lời.
Điều này có thể dẫn đến thiên lệch nhận thức (perception bias) hoặc thiên lệch xã hội (social desirability bias) – khi người trả lời có xu hướng đưa ra câu trả lời “đẹp” hơn so với thực tế. Ngoài ra, phương pháp chọn mẫu thuận tiện (convenience sampling) có thể ảnh hưởng đến độ đại diện của mẫu nghiên cứu.
- Thứ ba, về mô hình và thang đo:
Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và thuyết chấp nhận công nghệ (TAM), tuy nhiên chưa xem xét đến các biến mới trong bối cảnh số hóa, chẳng hạn như niềm tin công nghệ (trust in technology), trải nghiệm người dùng (user experience) hay nhận thức rủi ro (perceived risk).
Việc chưa đưa các biến này vào mô hình có thể khiến khả năng giải thích hành vi sử dụng thẻ tín dụng trong môi trường ngân hàng số còn hạn chế.
- Thứ tư, về yếu tố thời gian: Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Dữ liệu được thu thập trong một giai đoạn nhất định, trong khi hành vi tài chính của khách hàng thay đổi nhanh do ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô, xu hướng tiêu dùng và công nghệ thanh toán mới. Do đó, nghiên cứu này mang tính cắt ngang (cross-sectional), chưa đánh giá được sự biến động hành vi khách hàng theo thời gian (longitudinal effect).
- Thứ năm, về cách tiếp cận phân tích:
Nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (Multiple Linear Regression) để đánh giá mức độ tác động giữa các biến, tuy nhiên phương pháp này chưa xem xét được các mối quan hệ trung gian (mediating) hoặc điều tiết (moderating) giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc. Điều này hạn chế khả năng khám phá cơ chế tác động phức tạp giữa các yếu tố tâm lý – xã hội và hành vi sử dụng thẻ tín dụng.
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo
Từ những hạn chế nêu trên, các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng và hoàn thiện hơn theo các hướng sau:
- Mở rộng phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng khảo sát trên nhiều chi nhánh Vietcombank khác nhau, hoặc so sánh giữa các ngân hàng thương mại có quy mô tương tự (như BIDV, ACB, Techcombank). Điều này giúp kiểm định tính ổn định và khả năng khái quát hóa của mô hình, đồng thời cung cấp bức tranh toàn diện hơn về hành vi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng Việt Nam.
- Ứng dụng mô hình nghiên cứu nâng cao:
Các nhà nghiên cứu sau có thể áp dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) hoặc Partial Least Squares (PLS-SEM) để đánh giá đồng thời các quan hệ trực tiếp, gián tiếp và điều tiết giữa các biến. Việc sử dụng SEM không chỉ giúp kiểm định độ phù hợp tổng thể của mô hình, mà còn cho phép đo lường các hiệu ứng trung gian (mediating effects) của các yếu tố như niềm tin, rủi ro nhận thức hoặc sự hài lòng.
- Bổ sung các biến nghiên cứu mới phù hợp với bối cảnh ngân hàng số:
Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, các yếu tố như “nhận thức rủi ro”, “niềm tin công nghệ”, “trải nghiệm người dùng”, “tính bảo mật”, “dễ sử dụng ứng dụng” có thể ảnh hưởng đáng kể đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng. Do đó, việc bổ sung và kiểm định các biến này trong mô hình sẽ giúp mở rộng giá trị lý thuyết và thực tiễn của nghiên cứu.
- Kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng: Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
Để hiểu sâu hơn về động cơ và rào cản trong hành vi sử dụng thẻ tín dụng, các nghiên cứu tương lai có thể kết hợp phỏng vấn sâu (in-depth interview) hoặc thảo luận nhóm (focus group) với khảo sát định lượng. Phương pháp này giúp lý giải sâu nguyên nhân đằng sau các con số thống kê, đồng thời xây dựng thang đo phù hợp hơn với đặc điểm văn hóa – xã hội của Việt Nam.
- Nghiên cứu so sánh theo đặc điểm nhân khẩu học hoặc vùng địa lý:
Các yếu tố như tuổi, giới tính, thu nhập, trình độ học vấn, khu vực sinh sống có thể tạo ra sự khác biệt trong nhận thức và hành vi tài chính. Do đó, việc thực hiện nghiên cứu so sánh giữa các nhóm khách hàng hoặc các vùng địa lý khác nhau (thành thị – nông thôn, miền Nam – miền Bắc) sẽ giúp ngân hàng có cái nhìn đa chiều hơn trong hoạch định chiến lược khách hàng
- Tiếp cận nghiên cứu theo thời gian (Longitudinal study):
Các nghiên cứu trong tương lai nên theo dõi biến động hành vi khách hàng qua các giai đoạn, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng số và ví điện tử phát triển mạnh mẽ. Cách tiếp cận này sẽ giúp đánh giá sự thay đổi trong hành vi tài chính và xu hướng chấp nhận công nghệ của người tiêu dùng Việt Nam theo thời gian.
- Kết luận tiểu mục
Tóm lại, mặc dù còn tồn tại một số hạn chế về phạm vi, phương pháp và mô hình, luận văn vẫn đóng góp giá trị thực tiễn đáng kể cho Vietcombank – Chi nhánh Cần Thơ trong việc hiểu rõ hơn các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân.
Những hướng nghiên cứu đề xuất trên không chỉ giúp mở rộng giá trị học thuật của đề tài, mà còn là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về hành vi tài chính trong kỷ nguyên ngân hàng số, góp phần vào phát triển bền vững và chuyển đổi số của ngành ngân hàng Việt Nam. Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: KQNC Quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Vietcombank […]