Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam – Thực tiễn thực thi tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Luận văn Thạc sĩ “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam – Thực tiễn thực thi tại Thành phố Hồ Chí Minh” nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam.

Trong đó, Luận văn đi vào nghiên cứu thực trạng quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử trong các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Thương mại điện tử, Luật Công nghệ thông tin và các văn bản pháp luật liên quan. Luận văn đánh giá quá trình thực tiễn thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử của các cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành.

Từ đó, Luận văn đưa ra những định hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ khóa: người tiêu dùng dễ bị tổn thương, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương, người tiêu dùng, thương mại điện tử, giao dịch thương mại điện tử.

ABSTRACT

The Master’s thesis titled “Protecting the rights of vulnerable users in e- Commerce Transactions Under Vietnamese Law – Practical Enforcement in Ho Chi Minh City” examines the fundamental theoretical aspects of protecting the rights of vulnerable consumers in e-commerce transactions under Vietnamese law.

The thesis analyzes the current legal framework governing the protection of vulnerable consumers in e-commerce transactions, including key legislation such as the Law on Protection of Consumer Rights, the E-commerce Law, the Information Technology Law and related legal documents. It also evaluates the practical enforcement of these laws by authorized agencies and organizations in Ho Chi Minh City, identifying existing challenges and limitations within the legal system.

Based on this analysis, the thesis provides recommendations for improving the legal framework for protecting vulnerable consumers in e-commerce transactions and suggests measures to enhance enforcement effectiveness in Ho Chi Minh City.

Keywords: vulnerable consumers, consumer rights protection, consumers, e- commerce, e-commerce transactions.

LỜI MỞ ĐẦU

1. GIỚI THIỆU

1.1. Đặt vấn đề Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Thương mại điện tử (TMĐT) là một ngành công nghiệp trẻ tại Việt Nam đang trên đà phát triển đầy lý tưởng. Với điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hội nhập quốc tế thì Việt Nam cũng bắt đầu chú trọng hình thức mua bán hàng hóa qua TMĐT. Đặc biệt, sau hơn 02 năm dịch Covid đã thay đổi thói quen mua sắm của đa số người tiêu dùng (NTD) từ mua sắm trực tiếp sang mua sắm online. Đây là một trong những đòn bẩy tạo ra những con số phát triển đáng kinh ngạc của ngành TMĐT Việt Nam trong những năm gần đây. Đi đôi với đó là những bất cập của NTD khi tham gia TMĐT, bao gồm những khó khăn trong kiểm định chất lượng sản phẩm, không đủ thông tin để ra quyết định,… đặc biệt là nhóm đối tượng NTD dễ bị tổn thương. Đây là đối tượng chưa được quy định trong pháp luật trước đây và chỉ mới được bổ sung vào văn bản pháp luật Bảo vệ quyền lợi NTD hiện hành.

Hoạt động TMĐT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) những năm trở lại đây cũng gây chú ý nhờ sự phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng, chiều sâu và có xu hướng tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ với lượng người dùng sử dụng thiết bị di động kết nối internet ngày càng nhiều. Các kênh phân phối TMĐT thời gian qua cũng được triển khai đa dạng theo mô hình website bán hàng, sàn giao dịch TMĐT, mạng xã hội ở cả nền tảng web và nền tảng di động. Các ứng dụng thanh toán điện tử đã được triển khai rộng khắp, hỗ trợ hiệu quả cho giao dịch TMĐT gồm thanh toán thông qua thẻ (ứng dụng quản lý bán hàng Point of Sale (POS), thẻ ATM,…), thanh toán trên internet (thông qua tài khoản mở tại ngân hàng); thanh toán trực tiếp qua điện thoại di động. TMĐT càng được ưa chuộng thì lại càng đầy rẫy những rủi ro xảy ra đối với NTD, đặc biệt là NTD dễ bị tổn thương. Khi nhắc đến đối tượng NTD dễ bị tổn thương, ta nghĩ ngay đến đối tượng người mua hàng mang những yếu tố, hoàn cảnh, đặc tính bất lợi riêng và phải chịu những bất lợi khác như về khả năng tiếp cận thông tin, sức khỏe, tài sản,… tại thời điểm mua hoặc sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, dẫn đến tình trạng xảy ra nhiều bất cập, có khả năng phải chịu nhiều tác động bất lợi về tiếp cận thông tin sức khỏe, tài sản và giải quyết tranh chấp.

Trong luận văn này, học viên đề cập đến việc bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT theo pháp luật Việt Nam, thực tiễn thực thi tại TP.HCM. Qua đó đánh giá những ưu điểm, những tồn tại, hạn chế và bất cập trong bảo vệ NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số giải pháp mang tính khoa học góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT tại TP.HCM trong thời gian tới.

1.2. Tính cấp thiết của đề tài Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

TMĐT trên thế giới đang có sự tăng vọt cả về chất và lượng, những hiệu ứng tăng trưởng rõ rệt nêu trên cho thấy một thị trường sôi động và tiềm năng phát triển mạnh mẽ của TMĐT. Theo thống kê của Bộ Công Thương trong Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam năm 2017 thì 92% số người được khảo sát cho biết họ sử dụng internet hàng ngày và 30% thời gian sử dụng internet được dùng cho mua bán cá nhân. Theo trang VNETWORK – Trung Tâm Ứng Cứu & Bảo Mật An Ninh Mạng hàng đầu tại Việt Nam & Châu Á, đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng Internet, chiếm 79,1% tổng dân số. Theo phân tích của Kepios, số lượng người dùng Internet tại Việt Nam đã tăng thêm 5,3 triệu (+7,3%) so với năm 2022. Số liệu này là một tín hiệu tích cực về tiềm năng thị trường và cơ hội phát triển kinh doanh trực tuyến cho các doanh nghiệp. Điển hình như trong hai năm 2020 và 2021, mặc dù nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19 nhưng doanh số từ thị trường TMĐT vẫn đóng góp 17,8% trong ngành bán lẻ. Năm 2022, con số này là 22% và theo các chuyên gia dự đoán, ngành TMĐT có thể nâng tầm đến 24,5% doanh số bán thẻ vào năm 2025. Theo Bộ Công Thương thì năm 2022, quy mô thị trường TMĐT bán lẻ Việt Nam ước đạt 16,4 tỷ USD, chiếm 7,5% doanh thu hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng của cả nước. Với tốc độ tăng trưởng 20%/năm, Việt Nam được eMarketer xếp vào nhóm 5 quốc gia có tốc độ tăng trưởng TMĐT hàng đầu thế giới. Cũng theo Bộ Công Thương, đến năm 2023, quy mô thị trường TMĐT bán lẻ Việt Nam dự kiến đạt 20,5 tỷ USD, tăng khoảng 4 tỷ USD (tương đương 25%) so với năm 2022. Tốc độ tăng trưởng TMĐT của Việt Nam được xếp vào nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng TMĐT hàng đầu thế giới (tính đến tháng 12/2023 theo Statista).

TMĐT Việt Nam trong những năm gần đây đã có bước chuyển biến khá mạnh mẽ. Việc đầu tư về hạ tầng công nghệ, hành lang pháp lý cũng như nhận thức của các doanh nghiệp về ứng dụng TMĐT được nâng cao rõ rệt. Tuy vậy, doanh số từ hoạt động TMĐT, đặc biệt là hoạt động mua bán trực tuyến vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, bởi NTD nói chung và NTD dễ bị tổn thương nói riêng vẫn còn e dè và tâm lý chưa sẵn sàng trong việc mua sắm trực tuyến do có nhiều bất cập về chất lượng hàng hóa như hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không đúng niêm yết cũng như sự khiếm khuyết trong tiếp nhận thông tin của NTD dễ bị tổn thương. Bất chấp tiềm năng lớn, tăng trưởng TMĐT ở Việt Nam đang bị kiềm chế bởi nhiều lý do chẳng hạn như thói quen và niềm tin mua bán hàng trực tuyến đã trở thành thách thức chính khiến TMĐT Việt Nam vẫn chưa đạt được như kỳ vọng. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Những năm trở lại đây, vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương đang được quan tâm hơn cả vì tầm ảnh hưởng và tác động của nó đến đời sống xã hội. Trong nhóm đối tượng NTD nói chung thì NTD dễ bị tổn thương là đối tượng bị yếu thế và dễ gặp nhiều bất lợi nhất trong các giao dịch TMĐT. Họ không có đủ thông tin, kiến thức cũng như điều kiện như những người khác nên cần sự bảo vệ cao từ các quy định pháp luật đặc thù. Theo khảo sát của Cục trẻ em, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cho thấy trong quý 3 năm 2022 có 89% trẻ em sử dụng Internet, trong đó 87% sử dụng hàng ngày, thời gian từ 5 đến 7 tiếng/ngày. Tuy nhiên chỉ có 36% trẻ em được giáo dục về an toàn mạng, nghĩa là việc sử dụng Internet, có thể phát sinh giao dịch TMĐT ở trẻ em. Không chỉ trẻ em mà còn có nhiều đối tượng nằm trong đối tượng NTD dễ bị tổn thương như người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ có thai, người bị bệnh hiểm nghèo, thành viên hộ nghèo, người dân tộc thiểu số,… Một số NTD dễ bị tổn thương như phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng hoặc thành viên hộ nghèo khó nhận biết bằng mắt thường nên gây khó khăn trong việc đưa ra những biện pháp bảo vệ kịp thời. Hiện nay, hầu hết các thống kê chưa tổng hợp được số liệu các trường hợp vi phạm đối với NTD dễ bị tổn thương do từ trước đến nay pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể ở bất kỳ điều khoản luật nào, chưa phân chia nhóm đối tượng này thành đối tượng riêng biệt. Cụ thể là Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 chưa có điều khoản nào đề cập đến NTD dễ bị tổn thương và quyền lợi của họ. Đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin, việc trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ đã được nâng lên một hình thức mới cao hơn, chủ yếu giao dịch qua các sàn TMĐT. Đây là con dao hai lưỡi vừa giúp cho việc mua hàng trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn, nhưng cũng mang lại nhiều rủi ro cho NTD. Đó là lý do Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023 bổ sung thêm quyền cho đối tượng NTD dễ bị tổn thương.

Trên thực tế, việc bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT còn rất nhiều khó khăn do mức độ hiểu biết thông tin của NTD dễ bị tổn thương, do lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh và đặc biệt là thiếu cơ sở pháp lý. Bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng, đa chiều, nhất là trong bối cảnh hiện nay, đối tượng này dễ bị xâm phạm về lợi ích, đồng thời quy mô và số lượng thiệt hại ngày một gia tăng bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và phi truyền thống. Tuy đã có nhiều văn bản điều chỉnh về việc giao kết hợp đồng điện tử nhưng chưa có văn bản nào quy định cụ thể về bảo vệ NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT, quyền và nghĩa vụ của NTD dễ bị tổn thương, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh khi tham gia TMĐT cũng như các phương thức giải quyết khi phát sinh tranh chấp. Thực trạng này đòi hỏi phải xây dựng một cơ chế pháp lý đầy đủ và hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT ở Việt Nam hiện nay. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Từ các vấn đề pháp lý còn tồn tại và thực trạng của việc bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong TMĐT, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này là một nhu cầu cấp thiết và có tính thời sự. Đồng thời, lĩnh vực TMĐT đang ngày cảng mở rộng với nhiều mô hình, đặc biệt là sự gia tăng mạnh mẽ số lượng NTD dễ bị tổn thương sử dụng thiết bị di động kết nối Internet để giao dịch ở những thành phố lớn như TP.HCM – Thành phố được xem là đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía nam và cả nước. TP.HCM là địa phương có vị trí, vai trò quan trọng trong hoạt động TMĐT của Việt Nam, được đánh giá là địa phương có thị trường hoạt động TMĐT sôi động, thuộc loại lớn nhất nước với 47,7% tổng số tổ chức, cá nhân bán hàng trực tuyến của cả nước. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập trong quy định về cơ chế quản lý, kiểm soát và chế tài xử phạt dẫn đến môi trường giao dịch TMĐT diễn ra nhiều hạn chế và khó kiểm soát, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của NTD dễ bị tổn thương khi tham gia các giao dịch TMĐT nói riêng và tác động xấu đến hoạt động phát triển kinh tế – xã hội nói chung.

Với những lý do trên, học viên lựa chọn đề tài “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam – Thực tiễn thực thi tại Thành phố Hồ Chí Minh” để làm đề tài tốt nghiệp luận văn thạc sĩ Luật học của mình, chỉ ra những bất cập nhằm đóng góp về mặt khoa học pháp lý và giá trị thực tiễn, góp phần bảo vệ quyền lợi của NTD dễ bị tổn thương cũng như thúc đẩy sự phát triển của TMĐT lành mạnh ở Việt Nam.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT và các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT ở Việt Nam hiện nay. Từ việc nghiên cứu các đối tượng trên, luận văn đánh giá hiệu quả thực thi những quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT từ thực tiễn tại TP.HCM.

2.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp lý liên quan đến các giao dịch TMĐT của NTD dễ bị tổn thương, chủ yếu thông qua giao kết qua mạng interner và được thực hiện bởi các phương tiện điện tử.

Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu tập trung vào các giao dịch điện tử của NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT từ thực tiễn tại TP.HCM theo pháp luật Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT từ khi ngành TMĐT ra đời và được quan tâm. Các số liệu khảo cứu được thu thập từ năm 2019 đến năm 2023.

3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Câu hỏi 1: Bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT theo Pháp luật Việt Nam hiện hành được quy định như thế nào?

Câu hỏi 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo về quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT tại TP.HCM hiện nay đang đặt ra những vấn đề gì cần giải quyết?

Câu hỏi 3: Kiến nghị những giải pháp gì nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc và bất cập trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT qua thực tiễn tại TP.HCM hiện nay? giải pháp pháp lý nào cho việc hoàn thiện pháp luật về …..?

4. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

4.1. Mục tiêu tổng quát

Luận văn phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT theo pháp luật Việt Nam. Qua đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT tại TP.HCM. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo về quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi tại TP.HCM trong thời gian tới.

4.2. Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu ở trên, đề tài đặt ra các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể như sau:

  • Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về TMĐT và bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.
  • Phân tích và đánh giá những nội dung cơ bản về bảo vệ NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT theo pháp luật Việt Nam hiện hành thông qua thực tiễn thực thi tại TP.HCM.
  • Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tại TP.HCM.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1. Phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Bên cạnh đó, luận văn vận dụng quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò chủ đạo phát triển bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, học viên đã sử dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

Phương pháp phân tích: đây là phương pháp quan trọng được áp dụng xuyên suốt trong nội dung luận văn, được áp dụng để phân tích các quy phạm pháp luật có liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT.

Phương pháp tổng hợp: Từ những vấn đề được phân tích, phương pháp tổng hợp được dùng trong tất cả các chương của luận văn để tổng hợp các quan điểm khác nhau về nhận thức khoa học xung quanh các khái niệm, quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT.

Phương pháp so sánh: Nhằm góp phần và việc đánh giá được những điểm tiến bộ của pháp luật cũng như sự phù hợp của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT hiện nay, học viên sử dụng phương pháp so sánh từ việc đưa ra các tiêu chí để làm rõ những điểm giống và khác của pháp luật qua các thời kỳ, đồng thời so sánh sự phát triển của các giao dịch TMĐT trong những năm gần đây, đặc biệt sau dịch bệnh Covid-19.

Phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp: Các phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 1 và 2 của đề tài. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích thực trạng bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong giao dịch TMĐT theo pháp luật Việt Nam tại TPHCM, học viên đưa ra nhận xét, đánh giá về những ưu điểm, hạn chế, những bất cập trong các quy định cũng như quá trình áp dụng pháp luật của bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT từ thực tiễn tại TP.HCM hiện nay. Từ đó làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật ở chương 3 của luận văn.

6. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Theo đó, về lý luận, đề tài phân tích, luận giải làm rõ các khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về TMĐT, quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT, bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT. Về thực tiễn, đề tài phân tích và đánh giá những nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về bảo vệ NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT thông qua thực tiễn thực thi tại TP.HCM. Về giải pháp, đề tài đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT, đồng thời đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tại TP.HCM trong thời gian tới.

7. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

7.1. Về mặt khoa học

Đề tài góp phần làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT bao gồm khái niệm, đặc điểm của NTD dễ bị tổn thương và TMĐT, những lợi ích và rủi ro TMĐT đem đến cho NTD dễ bị tổn thương, từ đó đưa ra những đặc điểm và nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT một cách khái quát và hệ thống nhất có thể.

Đánh giá các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT trong bối cảnh các yêu cầu đặt ra của sự phát triển công nghệ cũng như tình hình thực thi các quy định này. Trên cơ sở đó, luận văn chỉ ra những bất cập còn tồn tại, khẳng định tính tất yếu khách quan của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo vệ NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT.

Những nghiên cứu, đề xuất của đề tài không chỉ góp phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT mà còn nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

7.2.  Về thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên, học viên chuyên ngành luật khi nghiên cứu về lĩnh vực này. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

8. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

8.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

TMĐT từ lâu đã rất phổ biến với lượng truy cập cao trên khắp thế giới, do đó có rất nhiều công trình nghiên cứu lý luận về ngành TMĐT và bảo vệ NTD trong TMĐT.

Thứ nhất, về lý luận bảo vệ quyền lợi NTD trong các giao dịch TMĐT theo pháp luật Việt Nam, có rất nhiều nghiên cứu về khía cạnh này mà đầu tiên phải tìm hiểu về khái niệm “Thương mại điện tử”. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng chủ yếu đi theo hai hướng nghĩa rộng và nghĩa hẹp dựa trên phương thức thực hiện TMĐT. Theo nghĩa rộng, TMĐT được hiểu là việc thực hiện các hoạt động thương mại thông qua các phương tiện điện tử như điện thoại, internet, fax,… Nguyễn Hoài Anh và Ao Thu Hoài (2011), Thương mại điện tử, Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông, Hà Nội đã viết “Thương mại điện tử là hình thức thực hiện, quản lý và điều hành kinh doanh thương mại của các thành viên trên thị trường đang được phát triển mạnh trên thế giới thông qua và với sự trợ giúp của các phương tiện điện tử, vi tính, công nghệ thông tin và mạng truyền thông”. Còn định nghĩa TMĐT theo nghĩa hẹp là TMĐT được thực hiện thông qua duy nhất mạng internet. OECD là tổ chức quốc tế đi theo cách định nghĩa này. Tuy nhiên, tại Việt Nam, hầu hết các công trình nghiên cứu lại không bó hẹp khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp mà mở rộng ra theo hướng TMĐT là hoạt động thương mại được thực hiện bằng rất nhiều phương tiện điện tử khác nhau.

Tiếp theo đó là đặc điểm của TMĐT giữa NTD với thương nhân và những rủi ro do NTD gặp phải để nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi NTD khi tham gia giao dịch này. Phải kể đến các công trình nghiên cứu của Zheng Sophia Tang (2013), Electronic Consumer Contracts in the Conflict of Laws, Nhà xuất bản Bloomsbury đi sâu khai thác khía cạnh bảo vệ NTD trong TMĐT dưới góc độ pháp luật quốc tế. Đặc trưng của hợp đồng điện tử giao kết không cần gặp mặt trực tiếp, giao kết giữa các tổ chức, cá nhân ở nhiều quốc gia khác nhau một cách dễ dàng, nhanh chóng, tức thời đã tạo cơ hội cho NTD mua bán hàng hoá, dịch vụ ở nhiều địa điểm khác nhau và với các thương nhân khác nhau. Đây cũng chính là đặc trưng khiến cho rủi ro của NTD khi giao kết hợp đồng điện tử cao hơn nếu có xảy ra tranh chấp, gây khó khăn trong việc đòi quyền lợi từ thương nhân.

Sutatip Yuthayotin (2014), Access to Justice in Transnational B2C E- Commerce, Nhà xuất bản Springer lại tập trung vào việc phân tích các yếu tố pháp lý về các giao dịch thương mại điện tử B2C (Business to Consumer – Thương nhân với người tiêu dùng). Tác giả phân tích vấn đề bảo vệ NTD trong TMĐT qua việc tăng cường sự chủ động của NTD trong giao kết hợp đồng điện tử bằng cách trang bị các kiến thức về công nghệ thông tin, cân bằng sự yếu thế về mặt thông tin, hợp đồng theo mẫu hay giải quyết tranh chấp trong các giao dịch B2C. Tác giả còn đưa ra các mục tiêu cho việc bảo vệ NTD trong TMĐT, hướng tới cân bằng được lợi ích của NTD với thương nhân về giá cả, chất lượng hàng hoá, việc đảm bảo thông tin cá nhân.

Ngoài ra, Lê Văn Thiệp (2016), Phòng tránh rủi ro trong giao kết, thực hiện hợp đồng thương mại điện tử, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Hà Nội số 03/2016 phân tích những rủi ro xuất phát từ các đặc điểm của giao dịch điện tử như các bên không trực tiếp gặp mặt, khó xác định sự tồn tại của thoả thuận; xác định thời điểm được coi là thời điểm giao kết hợp đồng; chất lượng của sản phẩm; cơ quan giải quyết tranh chấp để đưa ra các giải pháp nhằm phòng tránh rủi ro, tập trung vào các chủ thể của giao dịch đều là thương nhân chứ không phải là giao dịch có một bên là NTD. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Thứ hai, về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi bảo vệ quyền lợi NTD nói chung trong các giao dịch TMĐT theo pháp luật Việt Nam, nhiều tác giả cũng nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề này. Cụ thể, Vũ Hải Việt (2014), Bảo vệ người tiêu dùng khi tham gia giao dịch qua mạng điện tử, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Hà Nội số 01/2014 cũng đã nêu khái quát vai trò, đặc điểm của bảo vệ NTD khi thực hiện giao dịch điện tử, phân tích thực trạng xâm hại quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện nay và đưa ra các giải pháp khắc phục tình trạng này, chủ yếu trên góc độ quản lý nhà nước như xây dựng các quy định pháp luật chi tiết hơn về trách nhiệm của doanh nghiệp khi giao dịch điện tử với NTD, tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình thực thi pháp luật, tuyên truyền, phổ biến pháp luật,…

Đinh Thị Lan Anh (2015), Bảo vệ thông tin cá nhân trong thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Hà Nội số 7/2015 lại đi sâu vào phân tích vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân của NTD dựa trên quy định tại Nghị định 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi NTD về khái niệm Bí mật cá nhân của NTD và quy định về bảo vệ thông tin cá nhân của NTD tại Điều 6 của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010. Ngoài ra, bài viết còn đưa ra một số ý kiến cho Dự thảo Luật an toàn thông tin như trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi thu thập, sử dụng thông tin cá nhân; quyền cập nhật, sửa đổi hay huỷ bỏ thông tin cá nhân cũng như trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo vệ thông tin cá nhân trên mạng.

Thứ ba, về giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD trong các giao dịch TMĐT, một số công trình nghiên cứu hoàn thiện pháp luật có thể kể đến là cuốn sách của hai tác giả PGS,TS. Tào Thị Quyên và ThS. Lương Tuấn Nghĩa (2016), Hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội đã phân tích tương đối toàn diện những luận cứ khoa học hoàn thiện pháp luật TMĐT ở Việt Nam, đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về TMĐT thời gian qua và luận giải một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về TMĐT. Trong đó, có những quy định liên quan tới vấn đề quyền lợi của NTD trong TMĐT.

Lê Văn Thiệp (2016), Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp trong thương mại điện tử. Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Hà Nội số 03/2016 đưa ra các phương thức giải quyết tranh chấp trong TMĐT, tuy nhiên phần lớn đều là những phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại truyền thống nhưng được thực hiện khi có tranh chấp về giao dịch điện tử giữa các chủ thể. Từ đó tác giả đưa ra một số phương thức giải quyết tranh chấp đặc thù và phù hợp hơn với môi trường sử dụng phương tiện điện tử hay còn gọi là các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế. Những phương thức này cũng có thể áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa NTD và doanh nghiệp khi giao kết hợp đồng điện tử. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Liên quan đến hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD, bài viết TS. Trần Thị Bích Nga (2022). “Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”. Hồ Chí Minh Tập san chuyên đề của Thư viện Quốc hội đã đề cấp đến những bất cập trong việc áp dụng chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quyền lợi NTD, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực này.

Từ việc hệ thống hoá các công trình nghiên cứu khoa học khác nhau có liên quan đến đề tài luận văn, có thể thấy được các nghiên cứu chủ yếu nhằm vào đối tượng NTD, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu, phân tích sâu về đối tượng NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT. Điều này cũng dễ hiểu vì đây là một đề tài còn rất mới, chỉ mới được quan tâm thời gian gần đây và mới được bổ sung vào một điều khoản riêng trong Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023.

8.2. Đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Thứ nhất, về phương pháp nghiên cứu của các đề tài có liên quan đến luận văn, hầu hết các tác giả đều sử dụng một số phương pháp nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi NTD và TMĐT theo hướng tiếp cận các phương pháp như phương pháp luận khoa học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; phương pháp thu thập, phân tích số liệu, xử lý thông tin, chắt lọc thông tin từ thông tin xã hội đến thông tin các bài báo, bài viết, các văn bản quy phạm pháp luật,…; phương pháp tổng hợp, phân tích, bình luận, thống kê cũng được áp dụng với tần suất khá nhiều để đưa ra những đánh giá về quan điểm, cách tiếp cận, nhìn nhận vấn đề cần nghiên cứu làm rõ của từng tác giả đã thực hiện các công trình nghiên cứu, đề tài, bài báo, bài viết. Đây được coi là ba phương pháp chính được nhiều tác giả sử dụng nhất khi nghiên cứu các vấn đề về bảo vệ NTD và TMĐT nói chung và vấn đề về bảo vệ quyền lợi NTD trong TMĐT nói riêng.

Thứ hai, về nội dung nghiên cứu, những công trình, bài viết của các tác giả đều thể hiện sắc sảo quan điểm cá nhân về vấn đề cần nghiên cứu, bình luận. Nhiều bài viết, công trình đã đưa ra được những kiến nghị, đề xuất phù hợp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoàn thiện pháp luật trên thực tế. Tuy nhiên ở góc độ lý luận, nhiều công trình, bài viết mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những định nghĩa, khái niệm riêng biệt về bảo vệ NTD và TMĐT trên cơ sở tiếp cận quy phạm pháp luật và thực tiễn diễn ra. Theo đó, với riêng định nghĩa về bảo vệ NTD trong TMĐT chưa thực sự được các tác giả nghiên cứu, phân tích rõ, đồng thời khía cạnh bảo về quyền lợi NTD dễ bị tổn thương cũng chưa được khai thác. Do đó, thực sự cần thiết để ra đời một công trình liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong giao dich TMĐT tiếp cận trên cả phương diện lý luận và thực tiễn là điều cần thiết và đáng luận bàn.

Thứ ba, hiện nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn liên quan trực tiếp đến bảo vệ quyền lợi NTD trong các giao dịch TMĐT theo pháp luật Việt Nam qua thực tiễn thực thi tại TP.HCM. Hầu hết, các nội dung này vẫn nằm rải rác, chưa được tổng hợp lại trong một chỉnh thể thống nhất. Do vậy, nếu được sắp xếp thống nhất, bao quát và toàn diện thì các nội dung này sẽ có ý nghĩa hơn trong việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đế đề tài. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Nhìn chung, nhiều các công trình nêu trên nghiên cứu về vấn đề bảo vệ NTD trong TMĐT ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. Những công trình, bài viết nêu trên có mối liên hệ tương đồng, mật thiết, đặc biệt đến đề tài luận văn này và có ý nghĩa đặc biệt quan trong, làm cơ sở để luận văn tham khảo và phát triển những kiến nghị mới, đầy đủ, toàn diện và xác đáng hơn. Các công trình nghiên cứu hiện tại là cơ sở để học viên đánh giá, tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn xoay quanh nội dung, vấn đề của luận văn. Đặc biệt, những nội dung bỏ ngỏ sẽ là những gợi mở quan trọng để học viên định hướng cho những vấn đề nghiên cứu tiếp theo mà tác giả sẽ thực hiện để giải quyết các mục tiêu đặt ra đối với luận văn. Học viên nhận thấy hầu hết các công trình, luận văn, đề tài khoa học, sách chuyên khảo, sách tham khảo, các bài viết khác nhau đều là những tài liệu tham khảo hữu ích, có giá trị khoa học cho luận văn. Từ đó, với góc độ nghiên cứu học viên sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến bảo vệ NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT về cả khía cạnh lý luận cũng như thực tiễn.

9. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các từ viết tắt, Mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu với nội dung 3 chương như sau:

  • Chương 1. Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử
  • Chương 2. Thực trạng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử và thực tiễn thực thi tại thành phố Hồ Chí Minh
  • Chương 3. Định hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TRONG CÁC GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1. Khái quát chung về người tiêu dùng dễ bị tổn thương và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử

1.1.1. Khái niệm về giao dịch thương mại điện tử, người tiêu dùng dễ bị tổn thương và bảo vệ người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử.

Thứ nhất, về khái niệm TMĐT, khái niệm này có tên tiếng Anh là Electronic Commerce, là một lĩnh vực đã xuất hiện và tồn tại rất lâu trên thế giới, từ khi việc sử dụng Internet còn là một điều xa xỉ đối với Việt Nam. Sự phát triển và bùng nổ của hệ thống mạng Internet và công nghệ thông tin đã tạo nền tảng cơ sở cho sự ra đời của TMĐT, đánh dấu những thay đổi đáng kinh ngạc trong hoạt động thương mại trên toàn cầu. Từ những năm 1960, ứng dụng thương mại đầu tiên của máy tính đã được thực hiện với hình thức là máy ghi và thanh toán điện tử, các hệ thống điện tử xuất hiện để xử lý các giao dịch tài chính. Đến thập niên 1970 – 1980, hệ thống mạng và tiêu chuẩn truyền thông như TCP/IP được hình thành tạo cơ sở hạ tầng cho TMĐT, mạng Internet từ đó dần phổ biến, cho phép các doanh nghiệp thiết lập trang web và giao tiếp với khách hàng, mở rộng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất kinh doanh. TMĐT bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào những năm 1990 sau khi Internet ra đời. Những năm gần đây, nhờ tích hợp các tính năng như thanh toán trực tuyến, theo dõi đơn hàng và khuyến mãi cá nhân hóa, NTD có thể tận hưởng trải nghiệm mua sắm linh hoạt và tiện ích hơn bao giờ hết khi đến với giao dịch TMĐT.

TMĐT đã trải qua sự hình thành và phát triển ở nhiều giai đoạn nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này. Nhìn chung, bản chất của TMĐT là sự kết hợp của hai yếu tố “thương mại” (commerce) và điện tử (electronic). Nói cụ thể hơn, TMĐT được hiểu là một lĩnh vực mà các hoạt động thương mại được hỗ trợ bởi các phương tiện, công cụ điện tử. Tuy nhiên, ngay chính định nghĩa của hai yếu tố này không hoàn toàn thống nhất do những quan niệm khác nhau về phạm vi và quy mô của chúng. Đó là lý do chưa có một khái niệm chung nào trên toàn thế giới về TMĐT.

Theo cách hiểu thông thường, TMĐT là những hoạt động thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử nói chung như fax, điện thoại, các hệ thống máy tính kết nối với nhau thông qua mạng lưới Internet. Định nghĩa này được ghi nhận tiêu biểu trong Luật mẫu về thương mại điện tử năm 1996 của Ủy ban Luật Thương mại Quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) và Sáng kiến của Châu Âu về Thương mại Điện tử. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Trong Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử, “thương mại điện tử là tất cả các hoạt động thương mại mà việc giao dịch, thông tin được thực hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu”. Theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu trong “Sáng kiến của Châu Âu về Thương mại Điện tử”, Phần I – Cuộc cách mạng Thương mại Điện tử thì TMĐT là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Cụ thể, thương mại trong TMĐT gồm nhiều hành vi bao gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, vận đơn điện tử, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp NTD và các dịch vụ bán hàng khác.

Trong khi đó, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa TMĐT theo nghĩa hẹp hơn là bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet. “TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng internet”. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cũng nêu ra định nghĩa: “Giao dịch thương mại điện tử là việc bán hoặc mua hàng hoá hoặc dịch vụ, được thực hiện qua mạng máy tính bằng các phương pháp được thiết kế đặc biệt để nhận hoặc đặt hàng” “Thương mại điện tử là việc bán hoặc mua hàng hóa, dịch vụ giữa thương nhân, hộ gia đình, cá nhân, chính phủ, các tổ chức công cộng hoặc tổ chức tư nhân, được thực hiện thông qua mạng máy tính. Hàng hóa, dịch vụ được đặt hàng trên mạng, nhưng việc thanh toán và giao hàng có thể được thực hiện trên mạng hoặc được thực hiện trực tiếp”. Như vậy, theo OECD, giao dịch TMĐT trước hết là giao dịch mua bán và có thể diễn ra giữa thương nhân với thương nhân, thương nhân với NTD hoặc thương nhân với chính phủ, nhưng nó phải được thực hiện thông qua mạng Internet chứ không phải là loại giao dịch truyền thống thông qua hợp đồng trên giấy. Khái niệm này đã giới hạn phạm vi của phương tiện được sử dụng trong TMĐT chỉ bao gồm có mạng Internet thay vì các phương tiện khác như điện thoại, truyền hình, fax,… Do đó, có thể thấy TMĐT không chỉ gói gọn trong những giao dịch qua mạng Internet mà còn được thực hiện qua các loại phương tiện điện tử rộng hơn nữa.

Bên cạnh đó, Khoản 1, Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử có đề cập “hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”. Khoản 10 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005 đã quy định “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”, đồng thời Khoản 2 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử 2023 có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 đưa ra khái niệm “Phương tiện điện tử là phần cứng, phần mềm, hệ thống thông tin hoặc phương tiện khác hoạt động dựa trên công nghệ thông tin, công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ khác tương tự”. Có thể nhận thấy, quy định của pháp luật Việt Nam có những điểm tương đồng với định nghĩa rộng của TMĐT khi không giới hạn phạm vi của các hoạt động thương mại, chỉ tập trung vào nền tảng Internet, phù hợp với tình hình của Việt Nam hiện nay. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Thứ hai, về NTD dễ bị tổn thương, đây là đối tượng được quan tâm khá nhiều trong thời gian gần đây. Chưa có bất kỳ khái niệm nào về đối tượng này trước đây cho đến khi nó được nghiên cứu và quy định trong Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023. NTD dễ bị tổn thương là một khía cạnh nhỏ nằm trong NTD nói chung, trước khi có sự phân biệt độc lập này thì NTD dễ bị tổn thương vẫn đươc coi là NTD và được hưởng những quyền lợi và nghĩa vụ của NTD. Khái niệm NTD đã xuất hiện trong các quy định của pháp luật, trở thành một hệ thống quy định pháp luật riêng biệt là “pháp luật bảo vệ NTD”. “Người tiêu dùng, theo định nghĩa, bao gồm tất cả chúng ta” là lời mở đầu trong một thông điệp đặc biệt của Tổng thống Hoa Kỳ Kennedy gửi Quốc hội Hoa Kỳ vào năm 1962 với 04 quyền cơ bản của NTD. Tiếp bước cùng với phát biểu của tổng thống Kennedy, đến năm 1975 thì Hội đồng Liên minh châu Âu đã ban hành ở một chương trình sơ bộ về bảo vệ NTD và chính sách bảo mật thông tin bao gồm 05 quyền cơ bản của NTD là quyền được bảo vệ sức khỏe và an toàn; quyền được bảo vệ lợi ích kinh tế; quyền được bồi thường; quyền được thông tin và giáo dục; quyền được lắng nghe. Chương trình này đã trở thành nền tảng cho sự ra đời các Chỉ thị và Quy định của Liên minh Châu Âu về vấn đề bảo vệ NTD. Xuyên suốt các Chỉ thị có liên quan đến NTD của Liên minh Châu Âu, “người tiêu dùng được định nghĩa là một con người tự nhiên, hành động ngoài mục đích thương mại, kinh doanh, thủ công hoặc nghề nghiệp chuyên nghiệp. Tuy nhiên trong trường hợp có hợp đồng hai mục đích, gồm cả mục đích thương mại và phi thương mại thì nếu mục đích thương mại bị giới hạn đến mức không thể trở thành chủ chốt trong nội dung của hợp đồng thì người đó cũng có thể được coi là người tiêu dùng”. Lí do NTD bắt buộc phải là cá nhân vì sự yếu thế của họ trong mối quan hệ với thương nhân, họ hạn chế khả năng nắm bắt thông tin, khả năng thương lượng, gánh chịu hậu quả,… trong các giao dịch. Pháp nhân không được coi là NTD kể cả khi họ tham gia giao dịch với mục đích nằm ngoài mục đích thương mại và hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp, không loại trừ các tổ chức hoạt động phi lợi nhuận. Mặc dù vậy, vẫn có một số quan điểm cho rằng pháp nhân cũng có thể là NTD, chẳng hạn như trường hợp các Hiệp hội thiếu khả năng và kinh nghiệm nên cũng được coi là NTD. Pháp luật một số quốc gia như Áo, Cộng hoà Séc quy định pháp nhân cũng là NTD khi họ mua hàng hoá, dịch vụ cho mục đích cá nhân hoặc khi pháp nhân là người dùng cuối cùng theo quy định của Tây Ban Nha hay Hi Lạp. Hiện nay, việc xác định tổ chức có được coi là NTD hay không còn có nhiều ý kiến khác nhau. Theo cách hiểu của học viên, pháp luật bảo vệ NTD quy định NTD được hưởng sự ưu tiên hơn so với chủ thể luật dân sự khác trong các giao dịch với thương nhân bán hàng hóa, dịch vụ, xuất phát từ sự yếu thế của NTD như thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, hạn chế trong khả năng đàm phán khi giao kết hợp đồng, khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá trình tiêu dùng, những hạn chế này thể hiện rõ ở các cá nhân đơn lẻ hơn so với tổ chức; đồng thời, pháp luật bảo vệ NTD dùng để hỗ trợ luật dân sự và thương mại, khắc phục những hạn chế của quyền tự do khế ước khi không có sự cân xứng về điều kiện kinh tế, trình độ hiểu biết giữa các bên trong giao dịch chứ nó không thay thế luật dân sự và thương mại. Đó là lý do học viên đồng tình với quan điểm xác định khái niệm NTD chỉ gồm cá nhân mà không coi tổ chức là NTD.

Yếu tố tiếp theo để xác định NTD là NTD hành động ngoài mục đích thương mại và hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp. Việc đưa ra mục đích trong các định nghĩa về NTD là hết sức quan trọng vì nó là cơ sở để phân biệt ai là NTD và cần thiết được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD. Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010 quy định “người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”, được sửa đổi là “người mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và không vì mục đích thương mại” theo Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023. Ở đây, định nghĩa về NTD đưa ra điều kiện về mục đích là mục đích sinh hoạt, tiêu dùng. Tuy nhiên, so với pháp luật của nhiều nước trên thế giới thì đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD của Việt Nam có sự mở rộng hơn. Theo tinh thần của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 và mới nhất là Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2023 thì ngoài đối tượng là các cá nhân, pháp luật Việt Nam còn coi các tổ chức cũng là NTD khi tổ chức đó mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng mà không vì mục đích thương mại. Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2023 đã có hướng đi phát triển hơn khi tiếp cận mục đích theo hướng loại trừ là “không nhằm mục đích thương mại”, điều này tạo thuận lợi hơn trong việc áp dụng vào thực tiễn thực thi pháp luật và mở rộng phạm vi bảo vệ NTD hơn.

Điểm b Khoản 3 Điều 26 Nghị định 52/2013/NĐ-CP đề cập tới nguyên tắc xác định NTD trong TMĐT: “Khách hàng trên website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử là người tiêu dùng dịch vụ thương mại điện tử và là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ do người bán trên website này cung cấp”. Cách định nghĩa như trên quy định dẫn tới hai trường hợp, một là NTD là khách hàng sử dụng dịch vụ TMĐT của website cung cấp dịch vụ TMĐT và hai là NTD là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ do người bán trên các website này cung cấp. Hiểu một cách khái quát là tất cả khách hàng trên website TMĐT đều là NTD, bất kể họ có mua hay sử dụng sản phẩm cho mục đích nào đi chăng nữa. Do đó, nên hiểu NTD trong TMĐT là cá nhân mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác cho các mục đích không phải thương mại, nghề nghiệp. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Vậy thì so với NTD, NTD dễ bị tổn thương nhìn chung cũng được hiểu như vậy, khác ở chỗ nhấn mạnh và tập trung thêm vào yếu tố “dễ bị tổn thương”. Trong lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam, cụm từ “dễ bị tổn thương” chưa từng xuất hiện, nhưng hiểu theo cách hiểu truyền thống thì cụm từ được sử dụng như một cách nhấn mạnh cho nhóm NTD yếu thế trong các mối quan hệ mua bán. Nhóm NTD này có thể bị khiếm khuyết về một khía cạnh nào đó, tạo thành một điểm yếu, lỗ hổng khiến họ gặp bất lợi và khó khăn trong quá trình giao dịch. Theo Khoản 1 Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023: “Người tiêu dùng dễ bị tổn thương là người tiêu dùng có khả năng chịu nhiều tác động bất lợi về tiếp cận thông tin, sức khỏe, tài sản, giải quyết tranh chấp tại thời điểm mua hoặc sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ”. Lần đầu tiên, khái niệm xác định thế nào là NTD dễ bị tổn thương được quy định và cụ thể hóa trong luật, bao gồm 07 đối tượng được quy định cụ thể tại Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023. Pháp luật quốc tế chưa có quy định cụ thể cho đối tượng này, do đó học viên sẽ chỉ bám sát định nghĩa này để phân tích và làm rõ. Thêm vào đó, định nghĩa NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT sẽ đi sâu khoanh vùng đối tượng rõ hơn. Ta có thể hiểu đây là nhóm đối tượng có khả năng chịu các tác động bất lợi về thông tin, sức khỏe, tài sản cũng như giải quyết tranh chấp trong quá trình mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ trên các sàn giao dịch điện tử thông qua Internet và các phương tiện điện tử.

Thứ ba, về bảo vệ NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT, tức là đảm bảo quyền lợi của họ không bị xâm hại, tránh được những rủi ro khi tham gia vào các giao dịch TMĐT. Có thể thấy đây là một khái niệm dễ hiểu và dễ nhận biết nên pháp luật không quy định cụ thể về vấn đề này. Bảo vệ NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT là cần thiết bởi đây là đối tượng dễ gặp bất lợi nhất khi phát sinh vấn đề trong giao dịch TMĐT, chẳng hạn như các hành vi thương mại gian lận và lừa đảo, NTD dễ bị tổn thương thiếu sự hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của mình khi mua hàng thông qua điện thoại di động, ví điện tử,… Do đó, cần có những biện pháp bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương và phải đặt tâm thế đây luôn là vấn đề trọng tâm hàng đầu.

1.1.2. Đặc điểm người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

NTD thông thường vốn được xác định là bên yếu thế trong mối quan hệ giao dịch TMĐT với tổ chức, cá nhân kinh doanh. Trong khi đó, ngoài những khía cạnh yếu thế của NTD thông thường thì có một nhóm đối tượng trong đó mang những yếu tố, hoàn cảnh và đặc tính bất lợi riêng như khả năng tiếp cận thông tin, sức khỏe, tài sản,… khi tham gia vào các giao dịch TMĐT. Đây là những NTD đặc thù được pháp luật gọi tên là NTD dễ bị tổn thương. Những đặc điểm của NTD dễ bị tổn thương được thể hiện rõ ngay từ khái niệm đầu tiên được nêu trong Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023. Luật đã liệt kê các đối tượng là NTD dễ bị tổn thương là Người cao tuổi theo quy định của pháp luật về người cao tuổi; Người khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật; Trẻ em theo quy định của pháp luật về trẻ em; Người dân tộc thiểu số; người sinh sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; Phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi; Người bị bệnh hiểm nghèo theo quy định của pháp luật; Thành viên hộ nghèo theo quy định của pháp luật. Tất cả những đối tượng này đều có điểm chung là những người yếu thế về sức mạnh kinh tế, về nhận biết thông tin, về khả năng gánh chịu rủi ro,… xét trên nhiều phương diện như tuổi tác, hoàn cảnh sống và những bất lợi khác so với NTD thông thường trong xã hội. Như vậy, nhóm NTD dễ bị tổn thương được nhận dạng theo ba đặc điểm nổi bật: (1) có khả năng chịu nhiều tác động bất lợi; (2) khía cạnh chịu bất lợi bao gồm tiếp cận thông tin; sức khỏe; tài sản và giải quyết tranh chấp; (3) tính dễ bị tổn thương được xác định tại thời điểm mua hoặc sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.

1.1.3. Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử

Thứ nhất, khi giao dịch TMĐT với tổ chức, cá nhân kinh doanh, NTD dễ bị tổn thương phải đối mặt với những rủi ro rất lớn. Do đó, đòi hỏi phải có sự can thiệp của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD.

Sự có mặt của các phương tiện điện tử như điện thoại, máy tính và mạng Internet đã khiến cho giao dịch điện tử có được những lợi thế đáng kể so với hình thức giao dịch truyền thống. Dù có nhiều tiện ích nhưng cũng giống với giao dịch truyền thống, khi giao dịch TMĐT, NTD dễ bị tổn thương luôn ở vị trí yếu thế hơn bởi tính đặc thù của giao dịch TMĐT là các bên không trực tiếp tiếp xúc với nhau. Mặc dù phải đối mặt với nhiều bất lợi tiềm ẩn, nhưng không thể phủ nhận rằng NTD dễ bị tổn thương vẫn có xu hướng tin tưởng vào các giao dịch TMĐT, họ buộc phải lựa chọn tin tưởng dù có thể biết rất ít về người bán. Như đã đề cập ở phần khái niệm NTD, theo các nguyên tắc của Tổng thống John F. Kennedy, quyền của NTD có bốn yếu tố chính là bảo vệ, thông tin, lựa chọn và khắc phục. Do đó, NTD dễ bị tổn thương cần được bảo vệ hơn nữa trước những nguy cơ khi giao dịch TMĐT.

Thứ hai, giao dịch TMĐT đã và đang phát triển nhanh chóng và trở thành một phương thức giao dịch thuận tiện và tiết kiệm. Đương nhiên không thể tránh khỏi tình trạng nhiều tổ chức, cá nhân kinh doanh lợi dụng sự yếu thế của NTD dễ bị tổn thương trên môi trường TMĐT để thực hiện các hành vi xâm phạm quyền, lợi ích tinh vi. Các hành vi này có thể là giao hàng không đúng thỏa thuận, hàng hóa có chất lượng kém, thông tin về hàng hóa, dịch vụ cung cấp không đầy đủ,… Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Thứ ba, bảo vệ NTD dễ bị tổn thương trong giao dịch điện tử có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp và pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất. Luật giao dịch điện tử 2005 ra đời là khung pháp lý cơ bản đầu tiên cho toàn bộ các giao dịch điện tử trong xã hội. Các văn bản hướng dẫn thi hành luật tiếp tục được ban hành là Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về TMĐT, Nghị định số 26/2007/NĐ-CP về Chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số. Sau này, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT được ban hành thay thế cho Nghị định 57/2006/NĐ-CP đã thiết lập cơ chế đảm bảo an toàn, tin cậy của các giao dịch điện tử, thúc đẩy giao dịch điện tử phát triển mạnh mẽ. Sau một thời gian áp dụng, Nghị định 52/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung một số quy định cho phù hợp hơn với tình hình phát triển công nghệ tại Nghị định 85/2021/NĐ-CP, đến nay Luật giao dịch điện tử 2005 cũng được thay thế bằng Luật giao dịch điện tử 2023 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024. Đây là tín hiệu chỉ ra rằng cần có một chế định cụ thể quy định, cơ chế pháp lý đầy đủ về NTD dễ bị tổn thương nhằm đảm bảo cho công tác bảo vệ quyền lợi của họ được thực thi trên thực tế và đáp ứng được nhu cầu thay đổi trong giao dịch TMĐT của Việt Nam hiện nay.

1.2. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử

Có nhiều lý do cho sự ra đời của pháp luật về bảo vệ NTD dễ bị tổn thương. NTD dễ bị tổn thương cần được trao thêm quyền để đưa ra lựa chọn sáng suốt về hàng hóa và dịch vụ. Lợi ích của họ cần được bảo vệ trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh. Mối quan hệ này không phải lúc nào cũng được bảo vệ bởi các hệ thống pháp luật khác nhau. Trong Luật La Mã, là nguồn chính của phần lớn các hệ thống luật dân sự hiện hành, người mua đã có một số hành động pháp lý chống lại người bán trong các trường hợp cụ thể, bao gồm: Hoàn trả giá đã thanh toán khi hàng hóa bán ra không phù hợp với chất lượng khai báo (Actio Redhibitoria); Giảm giá (Quanti Minoris); Đòi bồi thường từ người bán khi bên thứ ba tuyên bố quyền sở hữu đối với hàng hóa được bán (Eviction).

Pháp luật về bảo vệ NTD dễ bị tổn thương là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa họ với các tổ chức, cá nhân kinh doanh khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, quy định những quyền của NTD dễ bị tổn thương và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong các giao dịch. Trong đó, pháp luật về bảo vệ NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT là một bộ phận của pháp luật về bảo vệ NTD dễ bị tổn thương, nằm trong pháp luật về bảo vệ NTD. Vì vậy có thể định nghĩa pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT là một lĩnh vực pháp luật bao gồm hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành, quy định các biện pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của NTD dễ bị tổn thương khi tham gia các hoạt động giao dịch TMĐT với tổ chức, cá nhân kinh doanh.

1.2.2. Vai trò điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử

Thứ nhất, pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT trao thêm quyền cho NTD dễ bị tổn thương, đồng thời bổ sung các trách nhiệm đặc thù cho tổ chức, cá nhân kinh doanh nhằm bảo vệ NTD dễ bị tổn thương khỏi các rủi ro mà TMĐT mang lại. Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023 có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong việc định nghĩa khái niệm NTD dễ bị tổn thương, đồng thời quy định các biện pháp nhằm cân bằng quyền lợi giữa NTD dễ bị tổn thương với tổ chức, cá nhân kinh doanh trong các giao dịch TMĐT và bảo đảm khả năng thực thi các quy định này. Đồng thời cho phép nhà nước kiểm soát các tổ chức, cá nhân kinh doanh tham gia thị trường thông qua thủ tục đăng ký và cấp phép nhằm tăng mức độ bảo vệ cho NTD dễ bị tổn thương. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Thứ hai, pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng thêm cả các bên trung gian, hỗ trợ giao dịch điện tử giữa NTD dễ bị tổn thương và tổ chức, cá nhân kinh doanh. Quan hệ trong một giao dịch TMĐT thường bao gồm ít nhất ba chủ thể: NTD dễ bị tổn thương, tổ chức, cá nhân kinh doanh và bên thứ ba – nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực giao dịch TMĐT. Bên thứ ba này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường cho các giao dịch TMĐT, có nhiệm vụ chuyển và lưu giữ thông tin giữa các bên. Do đó, họ cũng là chủ thể phải chịu trách nhiệm trong việc bảo vệ NTD dễ bị tổn thương cùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh. Hiện nay trong các giao dịch TMĐT có sự xuất hiện của nhiều bên như bên trung gian thanh toán qua ví điện tử, thẻ tín dụng,… hay các bên cung cấp dịch vụ giao hàng, kho vận,… Đây là cơ sở để pháp luật bảo vệ tối ưu quyền lợi cho NTD dễ bị tổn thương.

Thứ ba, pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT hỗ trợ sự tăng trưởng mạnh cho thị trường TMĐT. Bảo vệ NTD dễ bị tổn thương có thể được coi là một yếu tố mới nhưng quan trọng trong các cơ sở pháp lý để phát triển TMĐT. Để TMĐT thật sự phát triển đúng tiềm năng của nó đòi hỏi NTD dễ bị tổn thương khi tham gia giao dịch phải có sự tin tưởng về quyền lợi của mình được đảm bảo bởi pháp luật, như vậy mới thúc đẩy NTD dễ bị tổn thương sử dụng phương tiện điện tử cho mục đích mua bán hàng hoá, dịch vụ, gia tăng tỷ lệ giao dịch TMĐT trên các sàn thương mại.

1.2.3. Nội dung pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các giao dịch thương mại điện tử

Trước khi có những chế định cụ thể về bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT theo pháp luật Việt Nam thì vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD trong các giao dịch TMĐT đã được quốc tế quan tâm. Đầu tiên là Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về bảo vệ NTD (UNGCP) được đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua trong nghị quyết 39/248 ngày 16/04/1985, về sau được bổ sung thêm một phần mới về tiêu dùng bền vững tại Nghị quyết E/1999/INF/2/Add.2 ngày 26/7/1999. Năm 2015, Hướng dẫn sửa đổi của Liên hợp quốc về bảo vệ NTD (UNGCP) được thông qua. Hướng dẫn này đưa ra các đặc điểm chính của pháp luật bảo vệ NTD một cách hiệu quả, các tổ chức thực thi và hệ thống yêu cầu bồi thường. Hướng dẫn số 64 yêu cầu các quốc gia thành viên “đáp ứng các tính năng đặc biệt của thương mại điện tử”, nhấn mạnh nhận thức về quyền và nghĩa vụ của NTD và thương nhân trong môi trường kỹ thuật số. UNGCP được chấp nhận rộng rãi như một chuẩn mực quốc tế về những hành vi chuẩn mực trong bảo vệ NTD mặc dù không ràng buộc về mặt pháp lý.

Bản hướng dẫn về Bảo vệ NTD trong Bối cảnh TMĐT được OECD thông qua vào ngày 09 tháng 12 năm 1999 cũng xây dựng nguyên tắc chung xuyên suốt là NTD tham gia TMĐT sẽ nhận được sự bảo vệ. Bản hướng dẫn của OECD cũng đưa ra các quy định về nguyên tắc trong thông tin trong TMĐT, xác nhận giao dịch, thanh toán và giải quyết tranh chấp và bồi thường, góp phần giúp cho giao dịch TMĐT của NTD với doanh nghiệp diễn ra suôn sẻ, NTD sẽ không phải chịu những thiệt thòi không đáng có trong quá trình giao dịch. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Pháp luật của Liên minh Châu Âu (EU) cũng rất quan tâm đến bảo vệ quyền lợi NTD trong TMĐT, tổ chức này có khá nhiều văn bản luật quy định về vấn đề này và hầu hết đều ở dạng Chỉ thị EU – là văn bản pháp lý mang tính bắt buộc chung với các quốc gia thành viên được xác định trong đó. Các văn bản quan trọng bao gồm Chỉ thị 2011/83/EU về Quyền của NTD, Chỉ thị 2000/31/EC về TMĐT, Chỉ thị 2013/11/EU về các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế ADR đối với NTD, Quy định số 524/2013 về phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến ODR, bên cạnh đó Chỉ thị về Bảo mật và truyền thông điện tử 2002 và Quy định bảo vệ dữ liệu chung 2016 đang là hai trụ cột chính của khung pháp lý bảo vệ dữ liệu của EU.

Chỉ thị 2011/83/EU thể hiện quy định nền tảng của các hợp đồng tiêu dùng liên quan đến TMĐT. Đặc biệt, nó quy định nghĩa vụ thông tin trước hợp đồng và quyền của NTD về việc rút khỏi hợp đồng từ xa. Hợp đồng từ xa được định nghĩa là bất kỳ hợp đồng nào được ký kết giữa thương nhân và NTD trong giao dịch từ xa với việc sử dụng một hoặc nhiều phương tiện liên lạc từ, do đó tất cả các hợp đồng được ký kết trực tuyến đều được coi là hợp đồng từ xa. Liên quan đến vấn đề bảo vệ NTD trong TMĐT, Chỉ thị đưa ra các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin, quyền rút khỏi hợp đồng, việc thực hiện nghĩa vụ của bên cung cấp, vấn đề thanh toán, cơ chế khiếu nại,… và những điểm đáng chú ý nhất nằm ở nghĩa vụ về thông tin và quyền rút khỏi hợp đồng của NTD được quy định tại khoản 1 Điều 6 và Điều 9 Chỉ thị 2011/83/EU. Chỉ thị 2011/83/EU đã tạo ra khung pháp lý đầu tiên đối với vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD trong TMĐT ở Châu Âu, giúp các quốc gia thành viên của EU bước đầu hình dung được về việc bảo vệ NTD trong hoạt động này. Về Chỉ thị 2000/31/EC, mặc dù không trực tiếp đề cập tới việc bảo vệ NTD trong TMĐT nhưng nó vẫn được đánh giá là một bước hoàn thiện về pháp luật của EU trong lĩnh vực này khi tập trung vào hai mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển của TMĐT và củng cố lòng tin của NTD khi tham gia các hoạt động của TMĐT.

Học hỏi những văn bản quy phạm quốc tế ở trên, pháp luật Việt Nam cũng đang từng ngày nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD, thể hiện qua việc Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc xây dựng pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD ở khu vực Đông Nam Á, và hiện nay là nước đi đầu trong quy định về NTD dễ bị tổn thương. Tuy NTD dễ bị tổn thương có sự riêng biệt về khái niệm và đặc điểm, được hưởng các quyền và chính sách ưu tiên riêng nhưng nhìn chung họ vẫn được bảo đảm các quyền của NTD theo quy định của pháp luật. Pháp luật Việt Nam chưa có một văn bản cụ thể bảo vệ quyền lợi NTD và NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT nhưng lại có khá nhiều văn bản điều chỉnh nội dung này. Hệ thống văn bản điều chính bao gồm các văn bản về pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD và các văn bản điều chỉnh về TMĐT.

Trước hết là Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023 được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 5, Quốc hội khóa XV ngày 20 tháng 6 năm 2023 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2024, thay thế cho Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010. Nếu Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010 thay thế cho Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 và đánh dấu sự phát triển mới trong công cuộc bảo vệ quyền lợi NTD thì Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023 được coi là một bước ngoặt lớn khi bổ sung thêm cơ chế bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương thu hút nhiều sự quan tâm. Đồng thời, luật cũng sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện thêm một số nội dung mới nhằm đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của NTD. Những điều này thể hiện rõ nét chính sách nhân văn, nhân ái và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với nhóm NTD dễ bị tổn thương. Luật Bảo vệ quyền lợi NTD ra đời đã cụ thể hóa và bổ sung thêm nhiều các quyền cũng như nghĩa vụ của NTD dễ bị tổn thương. Bên cạnh đó, để bảo đảm cho những quyền của NTD dễ bị tổn thương được thực hiện, Luật đã quy định cụ thể trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh cũng như các cơ quan, tổ chức chính trị – xã hội và tổ chức xã hội trong việc bảo vệ quyền lợi NTD. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Thứ nhất, về đối tượng, theo Khoản 1 Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023, NTD dễ bị tổn thương bao gồm:

  1. “a) Người cao tuổi theo quy định của pháp luật về người cao tuổi;
  2. Người khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật;
  3. Trẻ em theo quy định của pháp luật về trẻ em;
  4. Người dân tộc thiểu số; người sinh sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;
  5. đ) Phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
  6. Người bị bệnh hiểm nghèo theo quy định của pháp luật;
  7. g) Thành viên hộ nghèo theo quy định của pháp luật.”

Việc cụ thể hóa 07 nhóm NTD dễ bị tổn thương trên là kết quả của quá trình đóng góp ý kiến, nghiên cứu và rà soát nghiêm túc của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình xây dựng Dự án Luật. Trong đó, quy định: “Phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi” đã được sửa thành: “Phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi” trên cơ sở tiếp thu ý kiến của Đại biểu Quốc hội. Theo quy định này, có 03 đối tượng NTD dễ bị tổn thương là người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em được quy định tại những văn bản luật riêng là Luật người cao tuổi 2009, Văn bản hợp nhất số 35/VBHN-VPQH về Luật người khuyết tật, Luật trẻ em 2016. Tuy các văn bản luật này không quy định về quyền lợi khi ba đối tượng tham gia các giao dịch TMĐT nhưng đều hướng đến mục đích bảo đảm thực hiện quyền, bổn phận và nghĩa vụ của họ một cách hiệu quả. Các đối tượng trên đều có đặc điểm là yếu thế về tuổi tác, sức mạnh kinh tế, về nhận thức, thông tin và khả năng gánh chịu rủi ro, đồng thời họ cũng mang những yếu tố và đặc tính bất lợi riêng như khả năng tiếp cận thông tin, sức khỏe, tài sản,…

Thứ hai, việc bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023, theo đó, cũng giống như NTD thì “người tiêu dùng dễ bị tổn thương được bảo đảm các quyền của người tiêu dùng theo quy định của Luật này và các quyền, chính sách ưu tiên theo quy định khác của pháp luật có liên quan”. Tức là NTD được hưởng quyền lợi gì thì NTD dễ bị tổn thương sẽ có những quyền lợi đó ngoài những ưu tiên được quy định riêng, do đó khi phân tích quyền của NTD, học viên sẽ ứng chiếu sang NTD dễ bị tổn thương. Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của NTD theo Quốc tế NTD (CI) và Bản hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về bảo vệ NTD là: Quyền được an toàn; Quyền được thông tin; Quyền được lựa chọn; Quyền được lắng nghe ý kiến; Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; Quyền được đền bù; Quyền được giáo dục và Quyền được sống trong môi trường trong lành. Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023 đã quy định các quyền của NTD khi tiến hành giao dịch truyền thống cũng như giao dịch TMĐT. Trong đó, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023 bổ sung một số quyền mới của NTD tại Điều 4 như: Được quyền tạo điều kiện lựa chọn môi trường tiêu dùng lành mạnh và bền vững; Quyền yêu cầu tổ chức hoặc hỗ trợ thương lượng để giải quyết tranh chấp phát sinh; Được bảo vệ khi sử dụng dịch vụ công theo quy định. Điều này giúp cho quyền của NTD và NTD dễ bị tổn thương được đảm bảo toàn diện, hạn chế những rủi ro trong quá trình giao dịch. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Để làm rõ một số quy định, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 có kèm theo một số văn bản hướng dẫn như Nghị định 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD. Nghị định này quy định về bảo vệ quyền lợi NTD trong giao dịch với cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh; hợp đồng giao kết với NTD và điều kiện giao dịch chung; giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi NTD; tổ chức xã hội tham gia hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD; tổ chức hòa giải các tranh chấp giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh và quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD. Liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong TMĐT, Điều 17 của Nghị định này có quy định về giao kết hợp đồng từ xa – hợp đồng được ký kết giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ thông qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại. Theo đó khi giao kết với NTD và NTD dễ bị tổn thương, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải cung cấp một số thông tin bắt buộc quy định tại Khoản 1 Điều 17 Nghị định 99/2011/NĐ-CP. Ngoài ra, Điều luật này còn quy định nếu như thương nhân không cung cấp đầy đủ những thông tin đã yêu cầu thì NTD có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng nếu các bên không có thỏa thuận khác theo Khoản 3 Điều 17 Nghị định 99/2011/NĐ-CP. Bên cạnh đó, Nghị định 185/2013/NĐ-CP cũng quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, sau này được thay thế bởi Nghị định 124/2015/NĐ-CP, quy định về hành vi vi phạm, hình thức, mức xử phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD. Trong Nghị định 185/2013/NĐ-CP, bàn về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT, Điều 65 có quy định hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân NTD, Điều 72 quy định xử phạt vi phạm trong giao kết hợp đồng từ xa, Điều 77 quy định về việc xử phạt hành vi vi phạm về cung cấp bằng chứng giao dịch. Đồng thời, Nghị định này đã dành ra hẳn mục 11 để quy định về các hành vi vi phạm về TMĐT.

Để có cơ sở cụ thể trong việc bảo vệ NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT bên cạnh Luật Bảo vệ quyền lợi NTD, pháp luật Việt Nam còn đưa ra những chế định tại Luật Giao dịch điện tử 2005, được thay thế bởi Luật Giao dịch điện tử 2023 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2024. Ở những điều khoản đầu từ Điều 7 đến Điều 21, Luật đưa ra những quy định liên quan đến thông điệp dữ liệu, đây là thông tin được tạo ra, được gửi, được nhận, được lưu trữ bằng phương tiện điện tử, bao gồm hình thức, giá trị, sự gửi, nhận thông điệp. Những yếu tố này làm nền tảng cho các bên thiết lập các giao dịch và khi có tranh chấp, thông điệp dữ liệu sẽ là chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của các bên, đặc biệt là NTD dễ bị tổn thương.

Ngoài những quyền lợi NTD dễ bị tổn thương hiển nhiên được hưởng như NTD thì họ còn được hưởng những quyền lợi được quy định riêng, cụ thể tại điểm c Khoản 2 Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023, khi NTD dễ bị tổn thương có yêu cầu được bảo vệ kèm theo chứng cứ, tài liệu chứng minh mình là NTD dễ bị tổn thương và quyền lợi của mình bị xâm phạm, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải ưu tiên tiếp nhận, xử lý và không chuyển yêu cầu của NTD cho bên thứ ba giải quyết khi bên thứ ba không có nghĩa vụ liên quan, nếu từ chối giải quyết yêu cầu của NTD dễ bị tổn thương, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải trả lời bằng văn bản, trong đó nêu rõ căn cứ pháp lý và sự không phù hợp với nội dung chính sách đã công bố theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 Luật này. Điều khoản này có ý nghĩa lớn trong việc trao thêm quyền để NTD dễ bị tổn thương tự bảo vệ cho chính mình khi lợi ích bị xâm phạm, tạo khung pháp lý để các tổ chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm khắc phục những rủi ro phát sinh trong quá trình giao dịch. Ngoài ra, Điều 8 cũng quy đinh thêm một số điều khoản đối với trường hợp chậm, từ chối ưu tiên hoặc từ chối tiếp nhận, xử lý yêu cầu của NTD thì tổ chức, cá nhân kinh doanh phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự cho NTD dễ bị tổn thương; Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội bảo đảm ưu tiên tiếp nhận, xử lý yêu cầu của NTD dễ bị tổn thương và hướng dẫn họ cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan đến quyền lợi của mình bị xâm phạm, đồng thời có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh trong quá trình tổ chức thực hiện trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Thứ ba, về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT, tương ứng với cơ chế ưu tiên bảo vệ quyền lợi đối với NTD dễ bị tổn thương, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023 cũng quy định cụ thể trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với riêng nhóm đối tượng này. Ngoài các trách nhiệm chung đối với NTD theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan, Khoản 3 Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2023 có quy định trách nhiệm cụ thể của tổ chức, cá nhân khi giao dịch với NTD dễ bị tổn thương. Có thể thấy quy định này hết sức rõ ràng và chặt chẽ, từ việc nắm bắt được tâm lý, vị trí của NTD dễ bị tổn thương đến việc xây dựng một chế định cụ thể, cho thấy sự nghiêm túc cũng như quan tâm sâu sắc của pháp luật Việt Nam đối với đối tượng này. So với quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010, tinh thần của nhà lập pháp đã mở rộng hơn trách nhiệm chung, để mọi tổ chức xã hội, cơ quan, cá nhân đều có thể thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ và phát huy sự chủ động trong hoạt động bảo vệ quyền lợi của chính họ – những người tham gia vào quan hệ tiêu dùng trong bối cảnh hội nhập. Theo định hướng này, Nhà nước khuyến khích, tôn vinh người tiêu dùng, tổ chức, cá nhân khác tham gia bảo vệ quyền lợi NTD.

Bên cạnh quy định riêng về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong Luật Bảo vệ quyền lợi NTD, pháp luật có liên quan cũng có quy định chung về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, cụ thể là trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể ứng dụng công nghệ thông tin được quy định trong Luật Công nghệ thông tin 2006. Điều 9 Luật Luật Công nghệ thông tin 2006 quy định các tổ chức, cá nhân sẽ phải chịu trách nhiệm về những nội dung của mình trên môi trường mạng, những chủ thể kinh doanh trên môi trường này cũng phải đảm bảo một số thông tin cho NTD khi tham gia kinh doanh. Trong Nghị định 52/2013/NĐ-CP về TMĐT, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định 85/2021/NĐ-CP cũng điều chỉnh các vấn đề mang tính nguyên tắc trong giao dịch TMĐT và mở rộng các hoạt động thực tiễn về ứng dụng TMĐT, trong đó tập trung vào những vấn đề mang tính đặc thù được phát sinh trong môi trường điện tử. Nghị định đã dành một chương quy định về an ninh, an toàn trong TMĐT, làm rõ trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân NTD của các tổ chức, cá nhân thu thập thông tin NTD, chính sách bảo vệ thông tin đã thu thập, các nguyên tắc sử dụng thông tin, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin cá nhân cũng như quy định về an toàn thanh toán trong giao dịch TMĐT.

Một số quy định trong Luật An toàn thông tin mạng 2015 và Luật An ninh mạng 2018 cũng có chức năng điều chỉnh một cách tương đối chi tiết vấn đề bảo vệ an toàn thông tin trên mạng nói chung và đã trở thành cơ sở quan trọng trong thực thi việc bảo vệ thông tin cá nhân NTD trong TMĐT. Điều đó chứng tỏ những quy định về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương theo pháp luật Việt Nam nằm rải rác ở nhiều văn bản, phần nào cho thấy tính đa dạng và phức tạp của hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT. Dù nội dung bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương là quy định mới nhưng đã thể hiện rõ nét chủ trương, chính sách nhân văn của Nhà nước và Chính phủ trong việc bảo vệ toàn diện, công bằng, bình đẳng quyền lợi chính đáng của người dân. Về cơ bản, quy định tại Điều 8 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2023 vẫn là chế định trọng tâm, có ý nghĩa pháp lý quan trọng để tham chiếu sang các quy định khác của pháp luật có liên quan.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

Ngành TMĐT toàn cầu nói chung và tại Việt Nam nói riêng gần đây đã có những bước nhảy vọt đáng chú ý và đang có chiều hướng gia tăng cả về hình thức thực hiện cũng như số lượng giao dịch. Đi đôi với những lợi ích mà TMĐT đem lại thì cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nhóm đối tượng NTD dễ bị tổn thương khi tham gia vào loại hình thương mại này. NTD dễ bị tổn thương là NTD dễ gặp phải nhiều bất lợi hơn so với NTD thông thường về tiếp cận thông tin, sức khỏe, tài sản và khó khăn trong giải quyết tranh chấp trong quá trình giao dịch. Do đó, đòi hỏi phải có sự can thiệp của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD dễ bị tổn thương, nhất là khi họ tham gia vào các giao dịch TMĐT. Bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT theo pháp luật Việt Nam là một chế định hoàn toàn mới, tạo bước ngoặt đáng kể trong hệ thống pháp luật nước nhà. Bên cạnh những quy định về quyền lợi NTD mà NTD dễ bị tổn thương đương nhiên được hưởng thì pháp luật còn quy định một số điều khoản ưu tiên và dành ra một khoản riêng về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD dễ bị tổn thương để đảm bảo quyền lợi của họ được thực hiện một cách hiệu quả nhất.

Đồng thời, khi phân tích về vấn đề bảo vệ quyền lợi của NTD dễ bị tổn thương, học viên đã phân tích những quy định của pháp luật quốc tế tại một số nước trên thế giới về bảo vệ quyền lợi NTD nói chung cũng như các văn bản luật của pháp luật Việt Nam liên quan đến TMĐT và NTD trong giao dịch TMĐT để làm cơ sở nghiên cứu quy định bảo vệ quyền lợi NTD dễ bị tổn thương. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về bảo vệ NTD trong các giao dịch TMĐT theo pháp luật Việt Nam là bước tiên quyết để tiếp tục nghiên cứu về thực trạng và đưa ra những định hướng, kiến nghị, góp phần hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam và đảm bảo quyền lợi NTD dễ bị tổn thương trong các giao dịch TMĐT. Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Thực trạng bảo vệ người tiêu dùng trong các giao dịch

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993