Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Năm 2024, khi cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập, lao động ở các nước thuộc khối ASEAN sẽ được tự do di chuyển trong khu vực. Điều này mang đến cho lao động Việt Nam nhiều cơ hội những cũng lắm thách thức. Là cơ sở đào tạo nguồn lực cho xã hội, Trường Cao đăng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng không trách khỏi những băn khoăn, lo lắng. Làm sao để lao động do nhà trường đào tạo có thể cạnh tranh được cơ hội việc làm với lao động nước bạn khi thị trường lao động được rộng mở? giải pháp duy nhất và vô cùng quan trọng là nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực.
“Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phân ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay nâng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể” (Trần Khánh Đức – Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục). Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo có đặc trưng sản phẩm là “Con người lao động”, có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp, tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong hệ thống đào tạo đại học, với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động. Quan niệm về chất lượng đào tạo đại học không chỉ dừng ở kết quả quá trình đào tạo trong nhà trường mà còn phải tính tới mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc cụ thể v.v… Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng chất lượng đào tạo trước hết phải là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động của người tốt nghiệp. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
Nâng cao chất lượng đào tạo chính là làm cho sản phẩm của quá trình đào tạo có giá trị cao thể hiện qua tri thức sâu, kỹ năng và kỹ xảo nghề nghiệp tốt, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Trong đó, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nghiệp để hình thành năng lực thực sự trong bản thân người lao động đang trở thành vấn đề bức thiết trong giai đoạn hiện nay. Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, thì đào tạo nghề luôn được coi là vấn đề then chốt nhằm tạo ra đội ngũ lao động lành nghề có trình độ kiến thức chuyên môn, có kỹ năng và thái độ nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng sự biến đổi cơ cấu kinh tế, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động.
Trong những năm qua, đào tạo nghề của Việt Nam đã có nhiều thành tích nhưng cũng bộc lộ những hạn chế và bất cập, chưa đáp ứng được các yêu cầu của thế giới việc làm, khoảng cách giữa đào tạo và nghề nghiệp còn lớn. Các trường chỉ tập trung vào việc hoàn thiện kỹ năng cứng cho người học trong đó kỹ năng mềm lại chưa được chú trọng; chương trình đào tạo chưa hợp lý, còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành (một số môn học chuyên ngành tỷ lệ l thuyết chiếm hoảng 70% số tiết, thực hành chiếm hoảng 30% số tiết), nên sau khi tốt nghiệp ra trường thiếu kỹ năng làm việc thực hành, chưa bắt kịp và làm quen với công việc của các doanh nghiệp. Tỷ lệ HSSV có việc làm không cao, trong đó đa số không được làm đúng chuyên ngành đào tạo mà phải làm trái ngành, trái nghề. Các doanh nghiệp nhận HSSV về làm việc hầu như họ phải tiến hành đào tạo lại hoặc đào tạo bổ sung kỹ năng thực hành từ 3 đến 6 tháng mới đáp ứng được yêu cầu công việc, mới thích nghi được với môi trường mới và phong cách làm việc mới.
Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng, một trong những trường trọng điểm của Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch,có mục tiêu quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển của Trường là tạo bước đột phá về chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Vì thế, việc nâng cao chất lượng đào tạo của trường là một yêu cầu cấp thiết hiện nay để góp phần thực hiện đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, thích ứng với yêu cầu đổi mới hoạt động của ngành. Sản phẩm của nhà trường phải là những sinh viên có phẩm chất đạo đức tốt, có khả năng làm việc độc lập và giỏi nghề, tạo thế đứng vững chắc để nhà trường xứng với tầm vóc là một trường trọng điểm.
Nhận thấy tầm quan trọng và cấp thiết của vấn đề nêu trên, trước những yêu cầu đổi mới về nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường, xuất phát từ phạm vi công tác của bản thân hiện nay tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản trị kinh doanh, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề du lịch tại trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, giáo dục Việt Nam đã có nhiều hội thảo được tổ chức nhằm đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục và tìm ra giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và tìm ra giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Hội thảo “Nhân tài với thịnh suy đất nước” do Trung ương hội khoa học phát triển nguồn nhân lực, nhân tài Việt Nam tổ chức ngày 27/9/2020. Hội thảo cũng đã tổng kết đánh giá về thực trạng chất lượng giáo dục Việt Nam là “Nhân thì có, còn tài thì ít”, ngày 27/9/2020 ban Tuyên giáo Trung ương đã tổ chức tọa đàm “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” trong đó nhiều ý kiến của các chuyên gia về giáo dục là cần phải đổi mới toàn diện và đổi mới tận gốc để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong thời gian tới. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
Thách thức trên đối với giáo dục trong thời gian tới là rất lớn. Chính phủ cũng đã thảo luận về dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam đến năm 2030 là đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao; giáo dục đạo đức kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành được chú trọng; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là lao động chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời đối với mỗi người dân.
Trong Chiến lược dạy nghề số 630/QĐ-TTg được Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 29 tháng 5 năm 2021 thì “Phát triển dạy nghề là sự nghiệp và trách nhiệm của toàn xã hội”. Chiến lược này đã cho thấy vai trò của dạy nghề trong sự phát triển của đất nước. Mục tiêu của dạy nghề được xác định trong Luật dạy nghề như sau: “đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” .
Để đạt được các mục tiêu, các giải pháp cũng đã được Chính phủ đưa ra và có sự phối hợp của các trường, các cơ sở đào tạo, của các ngành và toàn xã hội. Mặt khác đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay là phát triển nền kinh tế với nhiều thành phần kinh tế, theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh Việt Nam chịu sự cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường trong và ngoài nước về lĩnh vực đào tạo; để thắng lợi trong cạnh tranh, chất lượng đào tạo là yếu tố quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của các trường đào tạo đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề.
Cho đến nay việc nghiên cứu và đưa ra giải pháp tổng thể nhằm nâng cao chất lượng đào tạo chưa có tác giả nào thực hiện ở trường Cao đẳng nghề Du lịch và dịch vụ Hải Phòng.
3. Mục tiêu Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
Đánh giá chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng từ đó đề xuất và hoàn thiện giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và dịch vụ Hải Phòng.
- Đánh giá thực trạng đào tạo nghề du lịch tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và dịch vụ Hải Phòng.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng thông qua đối tượng khảo sát gồm:
- Những HSSV đang học tại Trường .
- Những HSSV đã tốt nghiệp.
- Nhóm cán bộ, giáo viên giảng dạy tại Trường
- Những đơn vị sử dụng lao động được đào tạo tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng
5.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
- Về không gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
- Về thời gian nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu được thu thập từ năm 2019 – 2024.
6. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã sử dụng các phương pháp để thu thập dữ liệu, phương pháp điều tra phỏng vấn và các phương pháp phân tích thống kê. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
7. Ý nghĩa khoa học của đề tài
7.1.Ý nghĩa đối với hoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng .
7.2. Ý nghĩa đối với thực tiễn: Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là một kênh tham khảo giúp Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề du lịch tại trường, nhằm đáp ứng được yêu cầu của xã hội cũng như đáp ứng được các đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
8. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường Cao đẳng nghề
- Chương 2: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề du lịch tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và dịch vụ Hải Phòng
- Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
1.1. Cơ sở lý luận về đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo
1.1.1.1. Khái niệm về đào tạo
Theo từ điển “Bách khoa toàn thư Việt Nam” thì đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển kinh tế xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người.
Theo Trần Khánh Đức, 2013, đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành một cách có hệ thống các tri thức, kỹ năng, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề có thể vào đời hành nghề, có năng suất và hiệu quả.. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
Theo Lê Đức Ngọc, 2014, đào tạo được hiểu là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình. Nói một cách cụ thể đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn.
Theo Luật giáo dục nghề nghiệp, 2023 “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”.
Bản chất của “đào tạo” là việc dạy các kỹ năng thực hành, kỹ năng nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, với mục tiêu giúp người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức một cách có hệ thống, tạo tiền đề cho người học thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Khái niệm đào tạo có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục. Thông thường, đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định. Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo…
1.1.1.2. Khái niệm về chất lượng đào tạo
- Khái niệm về chất lượng
Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng, là một phạm trù phức tạp mà con người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình. Việc phấn đấu nâng cao chất lượng được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở tham gia hoạt động nào. Vậy chất lượng là gì ? Thuật ngữ “chất lượng” có nhiều quan điểm khác nhau trong cách tiếp cận và từ đó đưa ra nhiều địnhh nghĩa khác nhau:
Chất lượng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Giáo dục 1998). Hay: Chất lượng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” (Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Khoa học xã hội, H.1987); Chất lượng là “sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất định” (Theo Philip B. Grosby người Mỹ); Chất lượng là “tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp – NFX 50 – 109); Chất lượng là “tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng làm thỏa mãn nhu cầu đã xác định hoặc tiềm ẩn” (TCVN -ISO 8402 (1994)…Chất lượng phải dựa trên căn bản là đào tạo, huấn luyện và giáo dục thường xuyên. Chính vì vậy, trách nhiệm về giáo dục phụ thuộc 80% – 85% vào ban lãnh đạo.
Hệ thống kiểm định quốc gia Việt Nam quan niệm: “Chất lượng sẽ được đánh giá bằng cách khách hàng xếp hạng tầm quan trọng của các đặc trưng phẩm chất đối nghịch với tính nhất quán và giá trị bằng tiền”. Đào tạo nguồn nhân lực sẽ đảm bảo nâng cao chất lượng nếu thực hiện tốt các yếu tố như: Đáp ứng yêu cầu của khách hàng, tập trung vào con người và mọi đóng góp xây dựng tổ chức của mình, có tầm nhìn dài hạn, quản lý sự thay đổi một cách có hiệu quả, có đổi mới, hữu hiệu, tổ chức tiếp thị tốt với thị trường. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
Trên đây là một số định nghĩa tiêu biểu về chất lượng. Mỗi định nghĩa được nêu ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chất lượng. Mặc dù vậy tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO đưa ra trong ISO 8402:1984: “chất lượng là một tập hợp các tính chất đặc trưng của một thực thể, tạo cho nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã được nêu rõ hoặc còn tiềm ẩn”. Đây là định nghĩa có ưu điểm nhất, nó được xem xét một cách toàn diện và rộng rãi hơn; phản ánh được bản chất của sự vật và nội dung để so sánh sự vật này với sự vật khác.
- Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng:
Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phầm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình.
Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng.
Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể.
Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội.
Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử dụng.
Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hàng ngày. Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình.
Khái niệm chất lượng trên đây được gọi là chất lượng theo nghĩa hẹp. Rõ ràng khi nói đến chất lượng chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố giá cả và dịch vụ sau khi bán, vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn đó là những yếu tố mà khách hàng nào cũng quan tâm sau khi thấy sản phẩm mà họ định mua thỏa mãn nhu cầu của họ.
- b) Khái niệm về chất lượng đào tạo Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
Chất lượng luôn là vấn đề rất được quan tâm và việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của tất cả các cơ sở đào tạo nói chung và cơ sở đào tạo nghề nói riêng. Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “chất lượng đào tạo” dựa trên các “góc nhìn” khác nhau:
Theo Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp (2014) – Đại học quốc gia Hà Nội thì chất lương đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo.
Theo Trần Khánh Đức (2013) – viện nghiên cứu phát triển giáo dục cho rằng, chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể. Do đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo được xem là nhiệm vụ quan trọng của các cơ sở đào tạo nói chung và các cơ sở đào tạo cao đẳng nói riêng.
Có thể nói: “Chất lượng đào tạo phải được thể hiện trong mục tiêu đào tạo và đáp ứng càng nhiều ước muốn của các bên liên quan càng tốt”.
Các quan niệm về chất lượng đào tạo:
- Chất lượng được đánh giá bằng “đầu vào”
Một số nước phương tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng các yếu tố đầu vào của cơ sở đào tạo đó”. Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là: “Nguồn lực” = “Chất lượng”.
Theo quan điểm này nếu một trường tuyển được HSSV giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có cơ sở vật chất tốt… thì được coi là trường có chất lượng đào tạo tốt. Quan điểm này đã bỏ qua quá trình tổ chức, quản lý và đào tạo diễn ra rất đa dạng và liên tục trong một khoảng thời gian. Sẽ khó giải thích trường hợp một trường đã có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng chất lượng đầu ra hạn chế hoặc ngược lại. Theo cách đánh giá này, cho rằng dựa vào chất lượng nguồn lực đầu vào có thể đánh giá được chất lượng đầu ra.
- Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”
“Đầu ra” là kết quả, là sản phẩm của quá trình đào tạo được thể hiện bằng năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, sự thành thạo trong công việc hay khả năng cung cấp các dịch vụ của cơ sở đào tạo đó. Có quan điểm cho rằng “đầu ra” của quá trình đào tạo có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào”.
Có thể hiểu là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện ở các phẩm chất, giá trị nhân cách, năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo. Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng lại ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường mà còn phải tính đến mức độ thích ứng và phù hợp của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỷ lệ có việc làm sau khi ra trường, khả năng làm chủ và vị trí của người đó trong doanh nghiệp. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
- Chất lượng được đánh giá bằng “Giá tr gia tăng”
Quan điểm này cho rằng một trường có tác động tích cực và tạo ra sự khác biệt của HSSV về trí tuệ, nhân cách… của HSSV, điều đó đã cho thấy trường đã tạo ra giá trị gia tăng cho HSSV đó. “giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào” kết quả thu được được coi là chất lượng đào tạo của trường.
Quan điểm này chỉ tồn tại về mặt lý thuyết vì trên thực tế rất khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất về mặt định lượng để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” từ đó tìm ra mức chênh lệch để đánh giá chất lượng đào tạo.
- Chất lượng được đánh giá bằng “Giá tr học thuật”
Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường học phương tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ giảng viên trong từng trường trong quá trình thẩm định, công nhận chất lượng đào tạo của trường. Điều này có nghĩa là trường nào có đội ngũ giảng viên có học vị, học hàm cao, có uy tín khoa học lớn thì được xem là trường có chất lượng cao.
Hạn chế của quan điểm này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các trường để nhận tài trợ cho các chương trình nghiên cứu trong môi trường không thuần học thuật. Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu khi có xu hướng chuyên ngành hóa ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng. Đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục hiện nay có quá nhiều các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, xu thế đa dạng hóa ngành nghề, lĩnh vực đào tạo; sự buông lỏng trong quản lý cũng như khả năng quản lý yếu kém trong giáo dục đã làm cho số lượng các học thuật mà các trường sở hữu tăng những chất lượng cũng đang báo động.
Như vậy, mặc dù khó có thể đưa ra một định nghĩa về chất lượng trong đào tạo, song các nhà nghiên cứu cũng cố gắng tìm ra những cách tiếp cận phổ biến nhất. Cơ sở của các cách tiếp cận này xem chất lượng là khái niệm đa chiều, với những người ở cương vị khác nhau có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét nó. Đối với cán bộ giảng dạy thì ưu tiên của khái niệm chất lượng đào tạo phải là ở quá trình đào tạo, còn đối với người học và những người sử dụng lao động, ưu tiên về chất lượng đào tạo của họ lại ở đầu ra, tức là trình độ, năng lực, và kiến thức của HSSV khi ra trường…
- Từ các quan điểm nêu trên, nhiều nhà nghiên cứu về giáo dục đã đưa ra khái niệm về chất lượng đào tạo như sau:
Theo Phạm Xuân Thanh (2013): Chất lượng đào tạo là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của trường học. Mục tiêu trong định nghĩa này được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm sứ mạng, các mục đích, đặc điểm của chương trình đào tạo. Mục tiêu phải phù hợp với chức năng nhiệm vụ và các nguồn lực của nhà trường nhưng đồng thời mục tiêu đào tạo phải đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế-xã hội đất nước. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
Luật dạy nghề (2015): Theo định nghĩa về mục tiêu dạy nghề, chất lượng đào tạo ở cấp độ nghề là sự đáp ứng các mục tiêu đề ra của Nhà trường. Đó là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước.
Luật Giáo dục nghề nghiệp (2023): Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.
- Quản lý chất lượng đào tạo
Trong đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo là quá trình tổ chức thực hiện có hệ thống các biện pháp quản lý toàn bộ quá trình đào tạo nhằm đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu người sử dụng lao động (từ khâu tìm hiểu nhu cầu thị trường lao động, thiết kế chương trình đào tạo đến khâu tuyển sinh, tổ chức đào tạo và kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo).
Trường học là nơi tạo ra chất lượng đào tạo, nơi đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo. Đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo là trách nhiệm của mỗi giáo viên, mỗi cán bộ, công nhân viên. Trong đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo là quá trình tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý toàn bộ quá trình đào tạo nhằm đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu trong cơ chế thị trường. Nhà trường là khâu đóng vai trò quyết định đối với việc đảm bảo và nâng cao chất lượng.
Thực hiện được mục tiêu quản lý chất lượng sẽ tạo cơ sở vững chắc để thực hiện các mục tiêu khác của Nhà trường như: Nâng cao sức cạnh tranh tạo uy tín và thương hiệu của Nhà trường, mục tiêu ổn định và phát triển. Nhà trường cần có các chức năng chủ yếu sau đây về quản lý chất lượng đào tạo.
- Hiệu trưởng hướng dẫn đôn đốc kiểm tra để đạt được mục tiêu chất lượng.
- Lập mục tiêu kế hoạch và nhiệm vụ chất lượng.
- Xác định đổi mới chương trình, giáo trình phù hợp với nhu cầu, cơ cấu cán bộ và trình độ giáo viên cần phải có để đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Phân phối hoạt động giữa các phòng, khoa một cách khoa học.
- Kiểm soát, kiểm tra chất lượng đào tạo.
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
Chất lượng giáo dục nói chung và đào tạo nghề nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Với mỗi trường đào tạo có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau, nhưng để đánh giá được chất lượng đào tạo của một trường thì cần dựa vào 02 nhóm ảnh hưởng như sau:
1.1.2.1. Nhóm các yếu tố bên ngoài
Nhóm các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề bao gồm:
- Các yếu tố về cơ chế, chính sách của nhà nước
Cơ chế chính sách của Nhà nước ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển đào tạo nghề cả về quy mô, cơ cấu và chất lượng đào tạo. Cơ chế, chính sách của Nhà nước tác động tới chất lượng đào tạo nghề thể hiện ở các khía cạnh sau:
Khuyến khích hay kìm hãm cạnh tranh nâng cao chất lượng. Có tạo ra môi trường bình đẳng cho các cơ sở đào tạo cùng phát triển nâng cao chất lượng hay không ? Khuyến khích hoặc kìm hãm huy động các nguồn lực để cải tiến nâng cao chất lượng. Khuyến khích hoặc hạn chế các cơ sở đào tạo mở rộng liên kết hợp tác quốc tế.
- Các chính sách về đầu tư, về tài chính với các cơ sở có đào tạo nghề.
- Có hay không các chuẩn mực về chất lượng đào tạo. Có hay không hệ thống đánh giá, kiểm định chất lượng đào tạo, quy định về quản lý chất lượng đào tạo và cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc kiểm định chất lượng đào tạo nghề.
- Các chính sách về lao động, việc làm và tiền lương của lao động sau đào tạo nghề. Chính sách đối với giáo viên và HSSV ở các bậc giáo dục nghề.
- Các quy định trách nhiệm và mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và người sử dụng lao động, quan hệ giữa nhà trường và các cơ sở sản xuất.
Tóm lại, cơ chế chính sách của Nhà nước tác động đến tất cả các khâu từ đầu vào, đến quá trình đào tạo và đầu ra của các cơ sở đào tạo. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
- Các yếu tố về môi trường
Các yếu tố về môi trường bao gồm:
Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tác động đến tất cả các mặt đời sống xã hội của đất nước, trong đó có các hoạt động đào tạo nghề. Toàn cầu hóa và hội nhập đòi hỏi chất lượng đào tạo nghề của Việt Nam phải được nâng lên để sản phẩm tạo ra đáp ứng yêu cầu của thị trường, của khu vực và trên thế giới. Đồng thời cũng tạo ra cơ hội cho giáo dục nghề nghiệp Việt Nam nhanh chóng tiếp cận trình độ tiên tiến.
Phát triển khoa học, công nghệ yêu cầu người lao động phải nắm bắt kịp thời và thường xuyên học tập để làm chủ công nghệ mới, đòi hỏi các trường phải đổi mới trang thiết bị cho nghiên cứu và học tập.
Kinh tế xã hội phát triển làm cho nhận thức của xã hội và công chúng về giáo dục nghề nghiệp được tăng lên, người học ngày càng khẳng định được vị thế, vai trò của mình trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Từ đó cơ hội thu hút đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp ngày càng tăng lên, các nhà trường có điều kiện hoàn thiện cơ sở vật chất để cải thiện chất lượng đào tạo. Thị trường lao động phát triển và hoàn thiện tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các cơ sở đào tạo nâng cao chất lượng.
1.1.2.2. Nhóm các yếu tố bên trong
- Mục tiêu và chương trình đào tạo
Mục tiêu đào tạo: Đó là kết quả, là sản phẩm mong đợi của quá trình dạy học. Mục tiêu đào tạo hay sản phẩm đào tạo chính là người học tốt nghiệp với nhân cách đã được phát triển, hoàn thiện thông qua quá trình dạy học. Nhân cách người học hiểu theo cấu trúc đơn giản gồm có: Phẩm chất (phẩm chất của người công dân, người lao động nói chung, lao động ở một lĩnh vực nhất định) và năng lực (hệ thống kiến thức khoa học – công nghệ, kỹ năng – kỹ xảo thực hành chung và riêng).
Chương trình đào tạo: Chương trình đào tạo là hệ thống các môn học thể hiện mục tiêu đào tạo, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức (thái độ), phạm vi và cấu trúc nội dung đào tạo, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của bậc đào tạo. Nó là chuẩn mực để đánh giá chất lượng đào tạo trong các đơn vị nhà trường.
Chương trình đào tạo phải đảm bảo mục tiêu đào tạo, phải đảm bảo thiết kế sao cho vừa cả điều kiện chung (chương trình khung) là phần cứng do cơ quan chủ quản cấp trên đã phê duyệt và thống nhất. Bên cạnh đó các nhà trường phải xây dựng phần mềm (bao gồm các giờ thảo luận, tham quan thực tế, nói chuyện theo chủ đề), nhằm đào tạo HSSV toàn diện cả về kiến thức chuyên môn, kỹ năng và phẩm chất đạo đức, trong đó nhấn mạnh năng lực thực hành và ý thức trách nhiệm xã hội, đảm bảo cho người học được học tập chủ động và trải nghiệm thực tiễn.
Để đạt mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo cần đảm bảo các tiêu chí sau đây:
- Một là, Xác định rõ mục tiêu, vị trí của từng môn học theo chương trình khung của Bộ ban hành.
- Hai là, Sự kế thừa giữa các môn học trong khung chương trình đào tạo. Hình thức đánh giá kết quả học tập của người học phù hợp. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
- Ba là, Mức độ cân đối giữa lý thuyết và thực hành, tự học, tự nghiên cứu của người học. Tạo điều kiện cho người học liên thông lên bậc cao hơn.
- Bốn là, Tạo điều kiện cho người học lập kế hoạch và đăng ký học.
- Năm là, Tạo điều kiện cho người học tích lũy được kiến thức theo năng lực và điều kiện của bản thân.
- Sáu là, Tạo điều kiện cho người học bố trí thời gian học tập tại trường và làm thêm ngoài giờ học.
Đội ngũ giáo viên
Đội ngũ giáo viên đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo của các đơn vị nhà trường. Giáo viên là người truyền thụ kiến thức, thiết kế và tổ chức các hoạt động của người học, hướng nghiệp và khơi nguồn cảm hứng, hứng thú trong quá trình học tập của học sinh. Giáo viên còn có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kích thích khả năng sáng tạo của học sinh, giúp HSSV hình thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Điều 15 Luật Giáo dục do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2014 khẳng định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để đánh giá đúng vai trò của nhà giáo trong quá trình đào tạo.
Vai trò của người giáo viên là rất quan trọng, điều này được thể hiện ở chỗ: Dạy nghề và dạy người, trang bị kiến thức, hướng dẫn kỹ năng, đạo đức, thái độ nghề nghiệp và phẩm chất giúp cho người học có thể tự tin khi ra trường nhằm đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động. Đó cũng là cơ sở để khẳng định vị thế và chất lượng đào tạo của nhà trường trong điều kiện hiện nay nếu như muốn tồn tại và phát triển.
Để làm được điều này thì đội ngũ giáo viên tối thiểu phải đạt chuẩn theo qui định (Luật giáo dục nghề nghiệp, 2023) nghĩa là:
- Nhà giáo dạy trình độ sơ cấp phải có bằng tốt nghiệp trung cấp trở lên hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề để dạy trình độ sơ cấp.
- Nhà giáo dạy lý thuyết chuyên môn trình độ trung cấp phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; nhà giáo dạy thực hành trình độ trung cấp phải có chứng chỉ kỹ năng nghề để dạy thực hành trình độ trung cấp.
- Nhà giáo dạy lý thuyết chuyên môn trình độ cao đẳng phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; nhà giáo dạy thực hành trình độ cao đẳng phải có chứng chỉ kỹ năng nghề để dạy thực hành trình độ cao đẳng.
- Nhà giáo vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng phải đạt chuẩn của nhà giáo dạy lý thuyết và chuẩn của nhà giáo dạy thực hành theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
- Nhà giáo không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc bằng tốt nghiệp đại học sư phạm, đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm.
Có thể nói chất lượng của đội ngũ giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Do vậy để nâng cao chất lượng đào tạo trước hết phải lưu ý đến việc xây dựng đội ngũ giáo viên. Đội ngũ giáo viên không những phải đủ về mặt số lượng mà còn phải có chất lượng. Trong trường hợp này các đơn vị nhà trường phải có kế hoạch cụ thể trong việc tuyển dụng, sử dụng và có kế hoạch đào tạo, bối dưỡng nhằm nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ giáo viên, xây dựng đội ngũ giáo viên một cách có hiệu quả. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
- Quá trình xây dựng đội ngũ giáo viên phải đảm bảo những yêu cầu sau:
Về mặt số lượng: Đảm bảo đủ số lượng giáo viên theo quy mô đào tạo và theo biên chế ngành nghề đào tạo (Theo Thông tư số 29/2020/TT- BLĐTBXH ngày 24/10/2020 của Bộ trưởng Bộ lao động –Thương binh Xã hội qui định về đăng ký hoạt động dạy nghề).
Về mặt chất lượng: Giáo viên phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên. Đối với giáo viên không tốt nghiệp ở các trường sư phạm thì phải có chứng chỉ sư phạm (Theo Thông tư số 30/2019/TT-BLĐTBXH ngày 29/9/2019 của Bộ trưởng Bộ lao động –Thương binh Xã hội).
Sản phẩm trong quá trình đào tạo, hay nói cách khác đầu ra trong quá trình đào tạo là người lao động. Để người lao động đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động thì các yếu tố đầu vào phải tốt. Trong đó chất lượng, năng lực và trình độ của đội ngũ giáo viên là điều kiện tiên quyết. Do vậy, các trường sẽ có biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên trên cơ sở đó sẽ nâng cao chất lượng đầu ra.
- c. Qui mô đào tạo
Qui mô đào tạo có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo. Hàng năm trên cơ sở về nhu cầu của thị trường lao động thì chỉ tiêu tuyển sinh cũng sẽ tăng theo. Bên cạnh đó, để tăng thêm thu nhập cho đội ngũ giáo viên các trường cũng sẽ tăng qui mô đào tạo . Việc tăng qui mô đào tạo sẽ dẫn đến việc lớp quá đông khi trường chưa bố trí đủ giáo viên giảng dạy, giáo viên sẽ không báo quát và không thể đánh giá kết quả học tập của mỗi thành viên trong lớp; không đủ thiết bị cho HSSV thực hành… điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo
- Cơ sở vật chất – trang thiết bị
Cơ sở vật chất – trang thiết bị giảng dạy có vai trò tích cực trong việc hỗ trợ Thầy và trò đề nâng cao chất lượng đào tạo. Việc nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật là yêu cầu cấp thiết trong công tác đào tạo ở nước ta hiện nay.
Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo trong mỗi nhà trường là một yếu tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo. Mỗi một ngành nghề đào tạo đòi hỏi hệ thống phương tiện, nhưng chung quy lại thì hệ thống cơ sở vật chất trong nhà trường gồm: hệ thống phòng học lý thuyết, phòng thực hành, thư viện, ký túc xá, các thiết bị phục vụ cho giảng dạy như giáo trình, giáo án, hệ thống bảng chuyên dùng, đèn chiếu, máy chiếu đa năng, máy tính, mạng internet, các bảng biểu, mô hình, băng đĩa ghi hình… Đây là yếu tố hết sức quan trọng, không thể thiếu và tác đông trực tiếp đến chất lượng đào tạo của nhà trường bên cạnh các điều kiện đảm bảo khác như: đội ngũ giáo viên, chương trình, tài liệu học tập, v.v…
Trong đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề nếu điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại, theo sát với công nghệ sản xuất thực tế bao nhiêu thì người học càng có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng vào trong công việc bấy nhiêu. Do đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đóng vai trò tích cực trong việc nâng cao chất lượng dạy và học, đảm bảo chất lượng đào tạo của một trường. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ giảng dạy, học tập trong nhà trường cần đạt chỉ tiêu sau:
- Đảm bảo số lượng, chất lượng phòng học thiết bị cho học tập.
- Có hệ thống phòng học, giảng đường, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, phòng học chuyên môn đáp ứng quy mô đào tạo theo các nghề, trình độ đào tạo.
- Có hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ làm việc và các hoạt động dạy nghề, thực nghiệm, thực hành.
Có đủ số lượng giáo trình, tài liệu, sách báo, tạp chí phù hợp với các nghề đào tạo, đáp ứng nhu cầu sử dụng của cán bộ, giáo viên và HSSV. Thư viện tin học hóa, có các tài liệu điện tử, được nối mạng, liên kết khai thác tài liệu trong nội bộ nhà trường.
- Tài liệu giảng dạy
Giáo trình là tài liệu môn học, thông qua bài giảng kết hợp với giáo trình môn học giúp HSSVcó thể tiếp thu bài giảng sâu hơn. Hiện nay ngoài giáo trình tham khảo thì các nhà trường còn khuyến khích tất cả giáo viên tham gia giảng dạy viết tài liệu tham khảo lưu hành nội bộ. Có thể nói giáo trình lưu hành nội bộ là tài liệu chuẩn mực vì nó là kết quả thực tiễn của trường đó được kết tinh qua nhiều năm học. Tuy nhiên giáo trình đạt chuẩn thì đòi hỏi người biên soạn phải có kinh nghiệm, có trình độ. Mặt khác trong từng năm học, tài liệu phải luôn luôn được sửa đổi, hiệu chỉnh bổ sung kịp thời để phù hợp với sự phát triển của thời đại, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.
Giáo án là kế hoạch chuẩn bị bài giảng của người Thầy. Thông qua giáo án người Thầy sẽ truyền thụ kiến thức đến với HSSV vì vậy việc chuẩn bị giáo án phải được thực hiện một cách nghiêm túc và cẩn thận nếu như muốn nâng cao chất lượng đào tạo. Thực tế cho thấy nếu như giáo án không được chuẩn bị kỹ, cũng như việc bố trí thời gian không hợp lý với nội dung cụ thể cần truyền đạt thì chắc chắn bài giảng hôm đó sẽ không đạt yêu cầu về chất lượng. Có thể nói hiện nay việc chuẩn bị giáo án của giáo viên là chưa tốt do đó ít nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nhất là đối với những giáo viên trẻ. Cho nên để nâng cao chất lượng đào tạo các trường cần phải coi trọng vấn đề này, phải luôn luôn có sự kiểm tra sát sao đối với giáo viên và có biện pháp xử lý kịp thời đối với những giáo viên không chuẩn bị kỹ giáo án cũng như không có giáo án khi lên lớp.
- Phương pháp giảng dạy Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
Dạy học là quá trình người thầy truyền đạt cho HSSV hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm phát triển năng lực trí tuệ và hình thành thế giới quan cho họ. Đối tượng của quá trình dạy học là HSSV con người với sự đa dạng về nhận thức, quan điểm, tình cảm…làm cho quá trình dạy học trở thành hoạt động rất khó khăn, phức tạp. Người thầy không thể dạy tốt nếu chỉ nắm vững kiến thức của một môn học. Có nghĩa là ngoài kiến thức của môn học đó, người thầy còn phải hiểu biết nhiều lĩnh vực khác như: kiến thức của các môn học liên quan, kiến thức về tâm lý, giao tiếp, ứng xử, xử lý các tình huống sư phạm…Vì vậy, đối với giáo viên, thời gian và kinh nghiệm giảng dạy là một vốn quý, có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo.
Giảng dạy là quá trình truyền thụ kiến thức, người thầy phải nắm vững kiến thức. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn là phải làm cho kiến thức của người thầy trở thành kiến thức của trò, có nghĩa là trò phải tiếp thu tốt kiến thức của thầy. Điều này có quan hệ mật thiết đến phương pháp giảng dạy. Để đạt được mục đích đó, những con người khác nhau sẽ chọn những phương pháp khác nhau. Ngay cả khi cùng sử dụng một phương pháp thì do khả năng và trình độ của mỗi người khác nhau nên kết quả chất lượng giảng dạy sẽ khác nhau.
Để đánh giá được tốt trình độ, kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy của giáo viên cần đạt tiêu chí sau:
- Đảm bảo tỷ lệ học sinh/giáo viên theo quy định để tất cả các môn học, mô đun nghề có đủ số lượng giáo viên đứng lớp.
- Đội ngũ giáo viên, giảng viên đạt bảo đạt chuẩn trở lên về trình độ được đào tạo và nghiệp vụ sư phạm theo quy định; giáo viên dạy thực hành đạt chuẩn về kỹ năng thực hành nghề.
- Giáo viên luôn đổi mới phương pháp dạy học để kết hợp giữa phần lý thuyết và phần thực hành để giúp người học tiếp thu ngay nội dung bài học trên lớp.
Giáo viên phải tham gia tích cực hoạt động nghiên cứu khoa học gắn với chuyên môn và cải tiến phương pháp dạy học.
- Đội ngũ học sinh, sinh viên
Trong đào tạo nói chung và đào tạo nhân lực du lịch nói riêng, nếu thiếu nhân tố người học thì mọi hoạt động liên quan đến công tác đào tạo đều không thể thực hiện. Thống nhất với quan điểm này:
Cao Văn Sâm (2019) cho rằng: Người học là nhân tố quan trọng nhất, có tính chất quyết định đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực. Trình độ văn hóa, sự hiểu biết, tâm lý cá tính, khả năng tài chính, quỹ thời gian, khả năng tự học… của bản thân người học đều ảnh hưởng sâu sắc tới quy mô và chất lượng đào tạo.
Li Qiang (2018): Người học nghề là nhân tố ảnh hưởng toàn diện tới công tác đào tạo, trình độ văn hóa cũng như khả năng tư duy của người học càng cao thì khả năng tiếp thu các kiến thức trong quá trình học càng tốt, dẫn đến chất lượng trong công tác đào tạo càng cao và việc đáp ứng nhu cầu nhân lực thị trường ngày càng hiệu quả.
Vậy nhân tố người học cũng phải đạt được những tiêu chuẩn nhất định. Quan trọng nhất là ý thức của người học phải cao, điều này đồng nghĩa với việc người học phải có sự quyết tâm trong quá trình học, đặt ra mục tiêu “học để làm gì”. Bên cạnh đó là sự quan tâm tìm hiểu của trung tâm đào tạo đối với người học. Nếu kết hợp được cả hai yếu tố trên thì chất lượng dạy và học mới đạt kết quả mong đợi. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
- Để đánh giá đội ngũ HSSVcần đảm bảo các chỉ tiêu sau:
Về tình hình học tập, rèn luyện của người học: Đánh giá chỉ tiêu lên lớp hàng năm đạt trên 95% trong đó tỷ lệ khá, giỏi chiếm 10-20%. Tỷ lệ tốt nghiệp hàng năm của HSSV đạt trên 90% trong đó tỷ lệ khá, giỏi đạt 10-20%. HSSV có việc làm sau 6 tháng đến 1 năm từ 40% trở lên.
Về tình hình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của người học: Có ý thức học tập, có ý thức trong việc chấp hành nội quy, quy chế trong nhà trường. Có ý thức và kết quả tham gia phụ trách lớp, hoạt động chính trị – xã hội, văn hóa, văn nghệ, thể thao.
- Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp
Vai trò của doanh nghiệp trong giáo dục đào tạo nói chung và trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nói riêng là rất quan trọng. Vai trò đó được thể hiện trong việc tiếp nhận HSSVtham quan, thực tập, doanh nghiệp tham gia báo cáo thực tế, tham gia hội thảo về xây dựng chương trình, nội dung đào tạo, hợp tác trong việc bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ lao động của doanh nghiệp.
Khi nhà trường và doanh nghiệp đã có mối quan hệ thường xuyên, gắn bó với nhau thì cả hai bên sẽ cùng phát hiện nhu cầu đào tạo và cùng nhau giải quyết nhu cầu đó. Trong mối quan hệ này, doanh nghiệp có được đội ngũ lao động có tay nghề, thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; nhà trường có được nguồn đào tạo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo
Đánh giá trong giáo dục đào tạo là một quá trình hoạt động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng quản lý về mục tiêu đã định. Chất lượng đào tạo như đã trình bày ở phần trên, là một khái niệm động, đa chiều và gắn với các yếu tố chủ quan thông qua quan hệ giữa người và người, do vậy không thể dùng một phép đo đơn giản để đánh giá. Việc đánh giá, đo lường chất lượng có thể được tiến hành bởi chính cán bộ giảng dạy, HSSVcủa trường nhằm mục đích tự đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo cũng như đánh giá chất lượng đào tạo của trường mình. Hoặc việc đánh giá, đo lường chất lượng cũng có thể được tiến hành từ bên ngoài do các cơ quan hữu quan thực hiện với các mục đích khác nhau (khen – chê, xếp hạng, khuyến khích tài chính, kiểm định công nhận…).
Dù đối tượng của việc đo lường, đánh giá chất lượng là gì và chủ thể của việc đo lường, đánh giá là ai thì việc đầu tiên, quan trọng nhất vẫn là xác định mục đích của việc đo lường, đánh giá. Từ đó mới xác định được việc sử dụng phương pháp cũng như các công cụ đo lường tương ứng. Mục đích của đánh giá trong giáo dục hết sức đa dạng tuỳ thuộc vào đặc thù của từng trường, sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và cả tuỳ thuộc vào quan điểm đánh giá của các chủ thể. Ví dụ, nếu mục đích của giáo dục đào tạo đại học, cao đẳng là cung cấp nguồn lao động được đào tạo cho xã hội thì chất lượng ở đây sẽ được xem là mức độ đáp ứng của HSSVtốt nghiệp đối với thị trường lao động. Còn nếu lấy chương trình, mục tiêu đào tạo làm cơ sở đánh giá thì chất lượng sẽ được xem xét trên góc độ là khối lượng kiến thức, kỹ năng mà khoá học đã cung cấp, mức độ nắm bắt và sử dụng các kiến thức và kỹ năng của HSSV sau khoá học. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
Đánh giá chất lượng đào tạo còn nhằm mục đích đảm bảo với những đối tượng tham gia vào công tác giáo dục rằng một chương trình đào tạo, hay một trường, khoa nào đó chưa đạt, đã đạt hay vượt mức những chuẩn mực nhất định về chất lượng. Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức, cơ hội đối với các cơ sở đào tạo và đề xuất các biện pháp nhằm từng bước nâng cao chất lượng đào tạo. Kiến nghị với các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong công việc hoạch định các chính sách hỗ trợ cho nhà trường không ngừng mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo của mình.
Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là “con người lao động” có thể hiểu là kết quả đầu ra của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong hệ thống đào tạo.
Chất lượng giáo dục trường cao đẳng là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục trình độ cao đẳng, của luật giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương và ngành.
Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường cao đẳng là mức độ yêu cầu và điều kiện mà trường cao đẳng phải đáp ứng để được công nhận là đạt chuẩn chất lượng giáo dục
Trần Khánh Đức (2014), quản lý và kiểm định chất lượng giáo dục nhân lực theo ISO&TQM nhà xuất bản giáo dục Hà Nội thì hề thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng giáo dục đối với từng ngành đào tạo nhất định bao gồm:
- Phẩm chất về xã hội – nghề nghiệp (đạo đức, ý thức, trách nhiệm, uy tín)
- Các chỉ số về sức khỏe, tâm lý, sinh học,…
- Trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn
- Năng lực hành nghề (cơ bản và thực tiễn)
- Khả năng thích ứng với thị trường lao động
- Năng lực nghiên cứu và tiềm năng phát triển nghề nghiệp.
Quyết định số 02/2017/QĐ-BLĐTBXH ngày 17/01/2017 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành qui định hệ thống tiêu chí tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường cao đẳng nghề bao gồm 9 tiêu chuẩn:
- Tiêu chuẩn 1: Mục tiêu và nhiệm vụ
- Tiêu chuẩn 2: Tổ chức quản lý
- Tiêu chuẩn 3: Hoạt động dạy và học
- Tiêu chuẩn 4: Giáo viên và cán bộ quản lý
- Tiêu chuẩn 5: Chương trình, giáo trình
- Tiêu chuẩn 6: Thư viện
- Tiêu chuẩn 7: Cơ sở vật chất thiết bị dạy học
- Tiêu chuẩn 8: Quản lý tài chính
- Tiêu chuẩn 9: Các dịch vụ cho người học nghề
Hiện nay Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đang Dự thảo Qui định hệ thống tiêu chí tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường cao đẳng.
1.2. Cơ sở thực tiễn nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở một số nước và Việt Nam Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
1.2.1. Trung Quốc
Đến nay Trung Quốc đã ban hành một hệ thống các luật và văn bản dưới luật liên quan đến giáo dục tương đối hoàn chỉnh, bao quát nhiều vấn đề, làm nền tảng pháp lý cho công tác quản lý giáo dục. Trong đó: “Luật Giáo dục hướng nghiệp” được ban hành năm 1996. Giáo dục hướng nghiệp bao gồm các trường cao đẳng nghề, các trường trung cấp kỹ thuật, các trường trung học hướng nghiệp, các trung tâm tìm việc làm, các cơ sở đào tạo xã hội và kỹ năng cho người lớn. Để giáo dục hướng nghiệp đáp ứng tốt hơn yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế và đô thị hóa, chính phủ đã thiết kế lại mô hình giáo dục hướng nghiệp, định hướng tìm việc làm, và tập trung vào hai dự án giáo dục hướng nghiệp lớn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng nhạy bén của xã hội về nhân công lành nghề chất lượng cao. Các dự án này nhằm: 1) tạo ra đội ngũ nhân công có tay nghề cần thiết cấp bách cho các ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ hiện đại; và 2) đào tạo cho những người lao động ở vùng nông thôn chuyển đến các thành phố làm việc.
Những cải cách giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong thời kỳ hiện đại hóa ở Trung Quốc gồm:
- Chính sách giáo dục từ những năm 1980
Trung Quốc bắt đầu sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa đất nước từ cuối thập niên 1970. Giáo dục khoa học và công nghệ được xem là trọng tâm của chính sách giáo dục; việc đào tạo đội ngũ cán bộ có kỹ năng và nâng cao kiến thức khoa học kỹ thuật được coi là ưu tiên số một. Những đổi mới chú trọng đến khoa học và công nghệ hiện đại, cùng với nhận thức về sự ưu việt của khoa học phương Tây, đã dẫn đến việc chấp nhận một chính sách hướng ngoại bắt đầu từ năm 1976, khuyến khích việc học tập và vay mượn từ nước ngoài phương thức đào tạo tiên tiến trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau.
- Cải cách cơ cấu của giáo dục trung học cuối những năm 1980
Trên cơ sở đó, từ năm 1985 đã có 3 loại trường kỹ thuật hướng nghiệp ở cấp THPT ra đời: trường trung học nghề do các phòng giáo dục quản lý, các trường công nhân lành nghề do Bộ Lao động và các cơ quan thuộc bộ ở địa phương quản lý và các trường trung học chuyên nghiệp (bao gồm các trường sư phạm do các phòng giáo dục quản lý, các trường trung học kỹ thuật do các bộ ban ngành và doanh nghiệp quản lý). Bằng việc gia tăng tuyển sinh đối với ba loại hình trường kỹ thuật hướng nghiệp nêu trên tương đương với các trường trung học phổ thông, cuộc cải cách đã thực hiện được việc đa dạng hóa giáo dục trung học. Theo chính phủ Trung Quốc, khi sự nghiệp công nghiệp hóa tăng nhanh vào đầu những năm 1980, đã có sự thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ công nhân lành nghề, công nhân bán lành nghề và các kỹ thuật viên trung cấp. Trong khi đó, giáo dục kỹ thuật hướng nghiệp là khâu yếu nhất trong hệ thống giáo dục và không tạo ra được nguồn nhân công lành nghề cần thiết. Cải cách kinh tế nhấn mạnh tính hiệu quả trong sản xuất.Việc hướng nghiệp hóa giáo dục trung học sẽ đem lại kết quả trong việc tăng sức sản xuất đối với những người tốt nghiệp trung học và vì thế tăng hiệu quả đối với các đầu tư cho giáo dục.
- Việc phát triển đội ngũ giáo viên từ cuộc cải cách năm 1985
Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, chính phủ đã khởi động “Chương trình quốc gia về mạng lưới đào tạo giáo viên”. Mục đích của chương trình là: Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
(1) hiện đại hóa việc đào tạo giáo viên thông qua thông tin giáo dục, cung cấp dịch vụ và hỗ trợ học tập suốt đời thông qua mạng lưới đào tạo giáo viên, truyền hình vệ tinh và các phương tiện thông tin truyền thông khác; (2) cải tiến mạnh mẽ chất lượng giảng dạy qua chương trình đào tạo “quy mô lớn, chất lượng cao, hiệu quả cao”. để thu hút được nhiều giáo viên hơn. Trung Quốc đã nỗ lực đưa nghề dạy học trở thành một nghề hấp dẫn và được tôn trọng hơn bằng việc tăng lương cho giáo viên, miễn phí học đại học sư phạm. Ngày 10/9 hàng năm kể từ năm 1985 đã được chọn làm Ngày nhà giáo;
- Cải cách hệ thống và quy trình thi cử đánh giá những năm 2009
Trước đây, các kỳ thi và các bài kiểm tra được xem là phương thức duy nhất để đánh giá năng lực của người học. Ngoài mục đích đánh giá và tuyển sinh, kết quả thi và kiểm tra cũng được dùng làm thước đo thành tích giảng dạy của giáo viên. Cha mẹ HSSV và xã hội cũng coi trọng kết quả thi cử và xem nó như là thước đo thành tích của các nhà trường. Do đó, giáo viên buộc phải giảng dạy theo kiểu học để thi cử. Vấn đề là các kỳ thi chỉ tập trung vào khía cạnh định lượng của kết quả học tập với các kỹ thuật thi mang tính bề ngoài bằng giấy viết và kiểm tra những mục tiêu thứ yếu của việc học, trong khi bỏ qua khía cạnh định tính, phương pháp học cũng như thái độ và giá trị thực của người học. Đầu những năm 2009, Bộ Giáo dục đã quyết định thay đổi đánh giá theo hướng “đa dạng/mềm mỏng”, đó là “hệ thống đánh giá mang mang tính phát triển” tập trung đến tất cả các khía cạnh của việc học, sử dụng nhiều kỹ thuật đánh giá và chú trọng hơn đến việc người học tiến bộ như thế nào trong quá trình học tập. Căn cứ chuẩn chương trình quốc gia, các nhà trường được phép đề ra mục tiêu phù hợp với đối tượng HSSV của trường. Hình thức đánh giá đa dạng hơn như kiểm tra viết, kiểm tra qua hoạt động, giáo viên quan sát, trao đổi giữa giáo viên và người học, người học thuyết trình, người học tự đánh giá và người học đánh giá lẫn nhau. Để giảm áp lực thi đua, Bộ Giáo dục cũng ban hành chính sách cấm việc xếp hạng học sinh, giáo viên, và nhà trường.
1.2.2. Đức và Thụy Điển Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
Hoạt động dạy nghề tại Đức và Thụy Điển dựa trên những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Sự thành công của quá trình đào tạo chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố như cơ sở vật chất, chương trình giáo dục dạy nghề, đội ngũ giáo viên, người học. Ở đây, yếu tố nhân lực để thực hiện quá trình dạy và học là quan trọng nhất. Sự tác động của chương trình và phương pháp giảng dạy giúp người học có động lực học tập và học cách học hỏi. Trường học mà không có giáo viên, người học, tài liệu học tập thì không thể thực hiện được công tác đào tạo.
Theo mô hình này, đội ngũ giáo viên dạy nghề được quan tâm hàng đầu bởi họ là nhân tố đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo. Giáo viên không những thể hiện vai trò là người hướng dẫn nội dung lý thuyết, kỹ năng thực hành mà còn góp phần giúp người học nhận thức được tầm quan trọng của nghề nghiệp, tạo ra động lực học tập và nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp.
Cũng theo quan điểm này, đội ngũ giáo viên dạy nghề trước khi thực hiện công tác giảng dạy được bồi dưỡng, huấn luyện bởi một chương trình đào tạo giáo viên theo trình tự thống nhất, căn bản. Các tiêu chí đối với giáo viên được đặt ra: Kiến thức giáo viên đối với hoạt động giảng dạy; Phương pháp giảng dạy; Sử dụng thành thạo các phương tiện hỗ trợ dạy học; Kinh nghiệm thực tế của giáo viên,…. Bên cạnh đó thì mức độ trang bị phòng học, các loại máy móc thiết bị, phương tiện dạy học cũng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo.
Đối với người học: Quan niệm này cho rằng sự đánh giá về chất lượng đầu ra đào tạo mà bỏ qua sự khác biệt ban đầu ở người học là sự sai lầm. Điều quan trọng là phải xác định sự khác nhau về trình độ, giới tính, chủng tộc, văn hóa, xã hội, tôn giáo của người học. Cần xem xét đến khả năng, kiến thức của họ trước khi đào tạo đồng thời nắm bắt được những khó khăn mà người học đối diện để từ đó đưa ra phương pháp đào tạo, giáo dục hợp lý. Mặt khác, phải đánh giá được mức kiến thức, kỹ năng mà người học đạt được sau quá trình đào tạo. Ở đây, người học được nhắc đến với các yếu tố: Chất lượng đầu vào của người học; Quyền và nghĩa vụ của người học;Ý thức của người học; Khả năng tự nghiên cứu của người học; Kiến thức, kỹ năng, vốn kinh nghiệm sau khi được đào tạo để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động,…
1.2.3. Việt Nam
1.2.3.1. Những thành tựu trong đào tạo nghề Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
Sau 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2020-2030 đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Trong đó, tuyển sinh đào tạo nghề trong 5 năm (2020 – 2024) được 9.171.371 người, đạt 95,5% so với mục tiêu Chiến lược đề ra, tăng 18% so với giai đoạn 2015-2019. Riêng đào tạo sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng có trên 2,4 triệu lao động nông thôn theo chính sách Đề án 1956. Tỷ lệ lao động qua đào tạo ở các cấp trình độ đạt 38,5%, gần đạt với mục tiêu của Chiến lược (96,2%).
Mạng lưới cơ sở dạy nghề (csdn): Số lượng CSDN tăng lên khá nhanh trong vòng 10 năm trở lại đây, đặc biệt là các trung tâm dạy nghề (TTDN). Các nhóm nghề được nhiều CSDN triển khai đào tạo là nhóm nghề Công nghệ kỹ thuật cơ khí, Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử và nhóm nghề Công nghệ thông tin… Việc quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề đã có bước chuyển và hiện có 59 tỉnh thành lập trường cao đẳng nghề, đạt 92%. Các cơ sở dạy nghề đã tự chủ về tài chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy nghề, quản lý và phát triển đội ngũ giáo viên. Tính đến năm 2024 cả nước có 1.467 cơ sở dạy nghề ( gồm 190 trường Cao đẳng nghề (CĐN), 280 trường Trung cấp nghề ( TCN) và 997 Trung tâm dạy nghề (TTDN), cùng với trên 40.615 giáo viên dạy nghề và sau 5 năm đã có 7.352 lượt giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề.
Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu và rộng với thế giới, hợp tác quốc tế về dạy nghề đã được tăng cường và được thực hiện ở cả tầm vĩ mô và ở từng CSDN.Các hình thức hợp tác về dạy nghề đa dạng và phong phú, từ việc nâng cao năng lực hoạch định chính sách, đến việc nâng cao các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề của hệ thống dạy nghề. Việt Nam đã lựa chọn một số quốc gia thành công trong phát triển dạy nghề làm đối tác Chiến lược, trong đó có Cộng hòa Liên Bang Đức. Trong thời gian qua Chính phủ Đức đã hỗ trợ tích cực và có hiệu quả cho Việt Nam thông qua một số Dự án về đào tạo nghề. Tuy nhiên, năng lực hội nhập của hệ thống dạy nghề nói chung và các CSDN nói riêng còn hạn chế; kỹ năng nghề, năng lực hành nghề của lao động Việt Nam còn “khoảng cách” khá xa so với các nước phát triển trong khu vực và thế giới.
Phương pháp xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (TCKNNQG) được tiếp cận theo phương pháp tiên tiến của thế giới, có sự tham gia của các doanh nghiệp, các chuyên gia trong lĩnh vực dạy nghề. Về cơ bản, các nghề phổ biến đã có TCKNNQG. Đã bước đầu hình thành đội ngũ đánh giá viên được đào tạo cơ bản, có thể đảm nhận được nhiệm vụ đánh giá kỹ năng nghề cho người lao động.
Đánh giá kỹ năng nghề cho người lao động tại Việt Nam vẫn còn rất mới và đang trong giai đoạn đánh giá thí điểm, nhưng đã tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và thu nhập tốt hơn, tạo cơ sở cho người sử dụng lao động trả lương cho người lao động hợp lý hơn. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
1.2.3.2. Những hạn chế trong đào tạo nghề
Mặc dù đã đạt được một số thành tựu cơ bản nhưng đào tạo nghề nước ta vẫn còn những bất cập và yếu kém:
Các CSDN vẫn chỉ tập trung vào đào tạo các nghề sẵn có của các cơ sở chứ chưa tập trung vào đào tạo các nghề theo nhu cầu của xã hội hay của doanh nghiệp. Nói cách khác, các CSDN vẫn chỉ đào tạo theo “cái mình có” chứ chưa đào tạo “cái xã hội cần”. Các nghề được xuất khẩu nhiều như khai thác dầu khí hay các nghề cần kỹ năng tốt như kỹ thuật mỏ hầm lò, khai thác than, khoáng sản vẫn chưa được tập trung phát triển do nhiều lý do khó khăn khác nhau nên vẫn có rất ít các CSDN đào tạo những nghề này.
Công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề và cán bộ quản lý dạy nghề chủ yếu tập trung vào các chương trình đào tạo bồi dưỡng về kỹ năng và nghiệp vụ, các chương trình đào tạo bồi dưỡng về tin học và ngoại ngữ chưa được chú trọng và nâng cao.
Công tác hướng nghiệp phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học chưa tốt, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào học nghề và TCCN còn rất nhỏ. Tài liệu tư vấn hướng nghiệp chưa được cập nhật thông tin mới thường xuyên; hoạt động hướng nghiệp tại các trường trung học còn mang tính hình thức, chủ yếu là lồng ghép với các nội dung khác.
Tại 45 trường được đầu tư thành trường nghề chất lượng cao, mặc dù công tác chuẩn hóa đội ngũ giáo viên đang được chú trọng song vẫn còn một tỷ lệ giáo viên chưa đạt chuẩn đặc biệt là ở các chuẩn về kỹ năng nghề và trình độ tin học, ngoại ngữ.
Chậm ban hành “quy hoạch phát triển mạng lưới trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, sơ cấp nghề đến năm 2030”. Ảnh hưởng từ việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật dạy nghề sau thành Luật Giáo dục nghề nghiệp, nhất là thay đổi hệ thống sẽ dẫn đến thay đổi mạng lưới cơ sở dạy nghề nên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tạm thời chưa ban hành quy hoạch.
Việc phân bố mạng lưới cơ sở dạy nghề cũng chưa hợp lý, nguồn lực đầu tư từ các chương trình mục tiêu cho các trường chỉ đạt 62% so với kế hoạch. Đối với đội ngũ giáo viên dạy nghề tuy tăng số lượng nhưng kỹ năng nghề đạt theo chỉ tiêu mới khoảng 60% và việc tiến hành bồi dưỡng, tổ chức đào tạo cán bộ quản lý dạy nghề còn yếu và chưa hệ thống, chuyên nghiệp…
Về cơ sở vật chất thiết bị dạy nghề: ngoại trừ các CSDN mới được đầu tư từ Chương trình mục tiêu quốc gia và các trường được thụ hưởng từ các dự án ODA, ở hầu hết các CSDN, các thiết bị dạy và học nghề còn lạc hậu, không đủ và không đồng bộ, nhất là các trường ở tỉnh nghèo.
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 đã trình bày lý luận về đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong trường cao đẳng. Một số đặc điểm nổi bật như: Nêu được khái niệm, ý nghĩa, vai trò của chất lượng đào tạo nghề. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo cũng như kinh nghiệm của một số quốc gia và Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng đào tạo làm cơ sở phân tích thực trạng của chất lượng đào tạo trong trường cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng ở các chương sau. Luận văn: Chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Du lịch.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
