Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề du lịch tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và dịch vụ Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về trường cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng tiền thân là Trường Trung học nghiệp vụ Du lịch Hải Phòng được thành lập ngày 23/7/2013, trực thuộc Tổng Cục Du lịch Việt Nam, bắt đầu đi vào tuyển sinh và hoạt động từ năm 2014. Năm 2016 Trường được nâng cấp thành Trường Cao đẳng nghề Du lịch Hải Phòng theo Quyết định số 1875/QĐ-BVHTTDL ngày 31 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Với mục đích đa dạng hoá ngành nghề đào tạo, đến năm 2018, Trường Cao đẳng nghề Du lịch Hải Phòng được đổi tên thành Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng theo Quyết định số 593/QĐ-BLĐTBXH ngày 12 tháng 5 năm 2018 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

  • Các giai đoạn phát triển của Nhà trường:

Từ năm 2013 đến 2016, trụ sở của Trường đặt tại số 8 Trần Phú – Ngô Quyền – Hải Phòng. Giai đoạn này Trường đào tạo hệ Trung cấp chuyên nghiệp với qui mô đào tạo bình quân là 400 học sinh/năm gồm 6 nghề trung cấp chuyên nghiệp hệ 2 năm và 3 nghề hệ 1 năm.

Từ năm 2016 đến 2019, Trường nâng cấp thành Trường Cao đẳng nghề du lịch Hải Phòng với qui mô đào tạo bình quân của giai đoạn này là 1200 học sinh/năm gồm 6 nghề cao đẳng hệ 3 năm và 3 nghề trung cấp hệ 2 năm, ngoài ra Trường còn đào tạo các lớp nghiệp vụ ngắn hạn theo nhu cầu của doanh nghiệp.

Từ năm 2019 đến 2025, Trường chuyển về trụ sở mới được xây dựng trên khuôn viên 10,8 ha tại xã Nam Sơn – huyện An Dương – thành phố Hải Phòng. Đây là trụ sở chính có cơ sở vật chất hoàn chỉnh bằng các nguồn vốn ngân sách nhà nước, nguồn viện trợ không hoàn lại của dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt nam (EU).

Tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được của các giai đoạn trước, Trường đã tận dụng tối đa mọi nguồn nội và ngoại lực để không ngừng nâng cao quy mô và chất lượng đào tạo. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Từ năm 2022, Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng được Nhà nước xác định là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực du lịch, dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế đến năm 2024. Nguồn vốn đầu tư phát triển Trường được cấp từ nguồn kinh phí thuộc dự án Đổi mới dạy nghề của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2020-2030 với tổng kinh phí khoảng 480 tỉ đồng. Nhà Trường sẽ tập trung đầu tư đào tạo bồi dưỡng năng lực chuyên môn, khả năng sử dụng ngoại ngữ (Tiếng Anh) cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nâng cấp chương trình đào tạo, giáo trình đáp ứng yêu cầu đào tạo đạt chuẩn quốc tế, đầu tư mới các trang thiết bị phục vụ đào tạo, đặc biệt sẽ xây dựng khách sạn quốc tế 3 sao để phục vụ thực hành.

  • Những thành tích đã đạt được:

Với những thành tích hoạt động trong thời gian qua, nhà Trường được tặng nhiều danh hiệu thi đua của Bộ Văn hóa -Thể thao và Du lịch:

  • Năm 2021, 04 sinh viên tham gia thi tay nghề toàn quốc trong đó 01 HSSV đạt giải nhì và 03 sinh viên đạt chứng chỉ xuất sắc; 01 sinh viên thi tay nghề ASEAN và đạt chứng chỉ xuất sắc.
  • Năm 2022, 01 sinh viên thi tay nghề thế giới tại Cộng hòa liên bang Đức, đạt chứng chỉ xuất sắc;
  • Năm 2023, Nhà trường được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen tập thể lao động xuất sắc;
  • Trong năm 2023, Nhà trường có 01 đồng chí được Chủ tịch nước tặng huân chương lao động hạng 3;
  • Năm 2023, Nhà trường có 04 sinh viên tham gia thi tay nghề quốc gia và đã đạt được chứng chỉ xuất sắc.
  • Năm 2024, Nhà trường có 01 giáo viên tham gia cuộc thi tay nghề quốc gia đạt giải khuyến khích.
  • Năm 2025, Nhà trường có 04 sinh viên thi tay nghề cấp quốc gia đã đạt giải khuyến khích của 2 chuyên ngành là Nhà hàng và Chế biến món ăn.

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ

2.1.2.1.Chức năng

Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng ( sau đây gọi tắt là Trường) là cơ sở đào tạo công lập trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (Việt Nam) ở các trình độ Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề, Trung cấp chuyên nghiệp, Sơ cấp nghề và trình độ thấp hơn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển ngành du lịch tại khu vực theo yêu cầu của Nhà nước và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

2.1.2.2. Nhiệm vụ

Đào tạo nguồn nhân lực du lịch ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề các chuyên ngành: Kỹ thuật chế biến món ăn, Quản trị nhà hàng, Quản trị lữ hành, Quản trị khách sạn, Hướng dẫn du lịch, Nghiệp vụ nhà hàng, Nghiệp vụ lễ tân, Nghiệp vụ buồng, Thuyết minh viên du lịch…. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Đào tào lại, đào tạo truyền nghề, bồi dưỡng đội ngũ nhân viên đạt tiêu chuẩn qui định của nhà nước và theo yêu cầu của cơ quan, doanh nghiệp kinh doanh khách sạn

Xây dựng chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy và học tập cho các ngành đào tạo của trường trên cơ sơ chương trình khung của Bộ Giáo dục và đào tạo và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh theo chỉ tiêu, kế hoạch hàng năm được duyệt; tổ chức đào tạo, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ các ngành học theo quy định của pháp luật.

Xây dựng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ, giảng viên, giáo viên theo tiêu chuẩn qui định của Nhà nước;

Thực hiện hoạt động dịch vụ khoa học – kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, sản xuất – kinh doanh phù hợp với ngành nghề đào tạo; tư vấn nghề nghiệp, giới thiệu việc làm. Tổ chức cho người học tham quan, thực tập tại các doanh nghiệp.

Tổ chức các hoạt động thông tin, in ấn tài liệu, giáo trình phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoc học theo qui định của pháp luật.

Thực hiện các quan hệ hợp tác quốc tế, liên kết, liên thông về đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học – công nghệ với các cơ quan, tổ chức cá nhân ở trong và ngoài nước theo qui định của pháp luật.

Quản lý sử dụng đất đai, cơ sở vật chất tài sản, các nguồn vốn theo qui định của pháp luật. Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở trong Trường; bảo vệ tài sản và thực hiện biện pháp bảo hộ, an toàn lao động.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức quản lý

Sơ đồ 2.1. Cơ cầu tổ chức trường

2.1.4. Cơ sơ vật chất của trường

Trường có trụ sở tại xã Nam Sơn – An Dương- Hải Phòng. Đây là địa điểm có vị trí thuận lợi trên mặt đường 5, sát ngay trung tâm thành phố Hải Phòng (tổng diện tích đất hơn 108.378 m2). Địa điểm trên có giao thông thuận tiện phù hợp với quy hoạch chung của khu vực và mạng lưới cơ sở dạy nghề của thành phố Hải Phòng. Trường được thiết kế xây dựng theo kiến trúc hiện đại với đầy đủ các phòng ban riêng biệt, các khối phòng học lý thuyết, xưởng thực hành,… có không gian rộng, thoáng mát tạo điều kiện thoải mái cho HSSV trong học tập. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Ngoài ra, nhà Trường còn được xây dựng thêm nhiều khối phòng chức năng khác đáp ứng được các nhu cầu của HSSV như: hội trường được bố trí 200 chỗ ngồi thuận tiện cho tổ chức hội họp, giao lưu văn nghệ; ký túc xá có thể giải quyết nhu cầu lưu trú cho HSSV của Trường. Đồng thời, để đáp ứng được nhu cầu học tập, nghiên cứu của HSSV, trường tiếp tục đầu tư xây dựng nâng cấp thư viện của trường.

Trường đặc biệt quan tâm đầu tư đến khối xưởng thực hành: có nhiều máy móc, thiết bị học tập được trang bị đồng bộ, hiện đại, HSSV sau giờ học lý thuyết sẽ được làm quen, thực hành ngay. Điều này đem lại sự hứng thú và đạt hiệu quả cao hơn trong học tập, cũng như giúp học viên nắm vững, nâng cao trình độ chuyên môn.

Bảng 2.1. Cơ sở vật chất của trường

2.1.5. Kết quả đào tạo từ năm 2019-2024

Từ năm 2019 đến nay, nhà trường chủ yếu đào tạo hệ cao đẳng tập trung, ngoài ra còn mở các lớp đào tạo ngắn hạn theo mô hình liên kết với các trung tâm, các sở ban ngành địa phương hoặc đào tạo nghề theo đơn đặt hàng (tập trung vào các doanh nghiệp). Kết quả đào tạo từ năm 2019 đến năm 2024 như sau:

  • Đối với hệ cao đẳng tập trung:

Bảng 2.2. Quy mô HSSVtốt nghiệp Hệ cao đẳng từ năm 2019-2024

Nhận xét: Nhìn vào bảng thống kê ta thấy số lượng HSSV tốt nghiệp hàng năm của trường thấp và có xu hướng giảm dần trong 5 năm qua.

Nắm bắt được vấn đề trên, hiện nay trường đã triển khai rất nhiều biện pháp quảng bá và thu hút lượng HSSV đầu vào cũng như tập trung phát triển nghề đào tạo tại trường.

  • Đối với các chương trình đào tạo khác

Bên cạnh hình thức đào tạo hệ cao đẳng tập trung, trong những năm qua trường cũng đa dạng hoá các hình thức đào tạo nghề bằng cách tăng cường công tác tuyển sinh, mở các lớp đào tạo ngắn hạn theo mô hình liên kết với các trung tâm, các sở ban ngành địa phương hoặc đào tạo nghề theo đơn đặt hàng (tập trung vào các doanh nghiệp). Các hình thức đào tạo ngắn hạn đã đem lại một nguồn thu ngân sách ổn định cho trường trong những năm qua, tuy nhiên công tác đào tạo ngắn hạn của trường hiện nay vẫn còn chưa phát triển mạnh với số lượng các lớp và các ngành nghề đào tạo vẫn còn khá hạn chế.

2.1.6. Những thuận lợi và khó khăn của Nhà trường Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

  • Thuận lợi

Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo từ Trung ương, Bộ, ngành tới địa phương, cơ sở đối với công tác đào tạo nghề.

Đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường được xây dựng và phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng.

Đội ngũ cán bộ quản lý đã từng bước được trẻ hóa và có trình độ chuyên môn cao thuận lợi để nắm bắt kịp thời sự thay đổi và phát triển của khoa học – công nghệ.

Chương trình, giáo trình đào tạo nghề đã bám sát chương trình khung đã được ban hành, cơ bản phù hợp với thực tiễn sản xuất của nghề nhằm đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

  • Khó khăn

Đội ngũ GV còn ít được tiếp xúc và tìm hiểu về tiêu chuẩn kỹ năng nghề, công nghệ, thiết bị của các nước trong khu vực và quốc tế; Trình độ ngoại ngữ, tin học còn hạn chế.

Việc tổng kết đánh giá chương trình, giáo trình đào tạo nghề còn mang tính chủ quan, chưa toàn diện chưa theo kịp được các nước trên thế giới.

Các thiết bị thực hành còn chưa đạt tiêu chuẩn về số lượng trên tổng số HSSV thực hành theo ca.

2.2. Thực trạng chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

2.2.1. Ngành nghề và hình thức đào tạo

2.2.1.1. Các ngành nghề đào tạo

  • Các ngành nghề đang đào tạo hiện nay của Trường:

Trong đó các ngành được Nhà trường xác định là trọng điểm đào tạo chất lượng cao đó là: Kỹ thuật chế biến món ăn; Quản trị khách sạn; Quản trị nhà hàng, Quản trị lữ hành, Hướng dẫn du lịch.

2.2.1.2. Hình thức đào tạo

Hàng năm công tác tuyển sinh của Trường được thực hiện theo đúng qui định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Nhà trường đã thực hiện đào tạo các hệ theo hình thức tập trung, cụ thể:

Bảng 2.3: Các hình thức đào tạo của Trường CĐN DL&DV Hải Phòng

2.2.2. Mục tiêu, chương trình đào tạo

2.2.2.1. Mục tiêu đào tạo của nhà trường

Tổ chức đào tạo nguồn nhân lực du lịch ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp; tạo điều kiện cho người học có khả năng tìm việc làm – tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn để nhằm đáp ứng thị trường lao động;

Tổ chức đào tạo nguồn nhân lực du lịch theo hợp đồng được ký kết với các tổ chức, cá nhân nhằm đáp ứng yêu cầu về lao động của các doanh nghiệp trong và ngoài nước; Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Phấn đấu trở thành cơ sở dạy nghề chất lượng cao theo quy hoạch của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Cụ thể, năm 2025 đào tạo các nghề Quản trị Hướng dẫn du lịch, Quản trị lữ hành đạt cấp độ quốc tế; năm 2026 đào tạo nghề Kỹ thuật chế biến món ăn cấp độ quốc tế. Đến năm 2030 đào tạo các nghề Quản trị khu Resort, Quản trị lễ tân, Quản trị khách sạn, Quản trị nhà hàng đạt cấp độ khu vực Đông Nam Á. Đảm bảo HSSV tốt nghiệp ra trường có năng lực quản trị, điều hành các cơ sở kinh doanh du lịch và dịch vụ, có kỹ năng nghề chuyên sâu, biết vận dụng hiểu biết về văn hóa dân tộc và thế giới trong giao tiếp, có ngoại ngữ. Đáp ứng yêu cầu thị trường, hỗ trợ nâng cao hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp; có khả năng tham gia thị trường lao động khu vực Đông Nam Á và quốc tế.

2.2.2.2. Chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo là hệ thống các môn học thể hiện mục tiêu đào tạo, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức (thái độ), phạm vi và cấu trúc nội dung đào tạo, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của bậc đào tạo. Chương trình đào tạo các nghề về du lịch được xây dựng và hoàn thiện chủ yếu dựa vào bộ tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam (VTOS) do Tổng cục Du lịch Việt Nam thực hiện với sự trợ giúp của Liên Minh châu Âu (E.U), nhằm đào tạo HSSV phát triển toàn diện cả về kiến thức chuyên môn, kỹ năng và phẩm chất đạo đức, trong đó nhấn mạnh năng lực thực hành và ý thức trách nhiệm xã hội, đảm bảo cho HSSV được học tập chủ động và trải nghiệm thực tiễn.

Để thực hiện việc xây dựng chương trình đào tạo nêu trên, Nhà trường thành lập hội đồng khoa học cùng phối hợp với các khoa, tổ bộ môn để xây dựng chương trình đào tạo (Căn cứ CTK do Bộ LĐ-TB&XH ban hành) và sau đó lập kế hoạch và tiến độ đào tạo theo từng kỳ và cả năm học đảm bảo tính logic, khoa học và có tính kế thừa các môn học. Đồng thời phân công giáo viên giảng dạy phù hợp với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho từng lớp học, từng hệ đào tạo.

Trường đã xây dựng các chương trình dạy nghề sau:

  • Trình độ cao đẳng nghề: Quản trị khách sạn; Quản trị lữ hành; Quản trị nhà hàng; Hướng dẫn du lịch; Kỹ thuật chế biến món ăn; Kế toán doanh nghiệp; Phiên dịch tiếng Anh thương mại.
  • Trình độ trung cấp nghề: Nghiệp vụ nhà hàng; Kỹ thuật chế biến món ăn; Kế toán doanh nghiệp; Hướng dẫn du lịch
  • Trình độ sơ cấp nghề: Kỹ thuật chế biến món ăn; Nghiệp vụ bàn; Nghiệp vụ buồng; Nghiệp vụ lễ tân; Thuyết minh viên du lịch; Lái xe hạng B1, B2.
  • Dạy nghề dưới 3 tháng: Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch; Kỹ thuật chế biến món ăn; Nghiệp vụ pha chế đồ uống; Nghiệp vụ bàn; Tiếng Anh giao tiếp; Kỹ năng giao tiếp; Tổ chức sự kiện; Kế toán máy; Tin học, lái xe mô tô các loại…

Tuy công tác xây dựng chương trình giáo trình đã đạt được những kết quả cụ thể và đã góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường song, do những thay đổi trong thực tiễn đào tạo, việc nâng cấp, chỉnh sửa bổ sung chương trình, giáo trình cần phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian, kinh phí và nhân lực thực hiện.

Có thể đưa ra dẫn chứng về khung chương trình đào tạo toàn khoá chuyên ngành Quản trị khách sạn.

Kế hoạch đào tạo 2024 – 2027 chi tiết như phụ lục 1 đính kèm.

Bảng 2.4. Kế hoạch đào tạo nghề

  • Quản trị khách sạn hệ Cao đẳng khoá học 2024-2027 Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Từ bảng số liệu trên cho thấy: Khối lượng kiến thức cho cả khóa là 3.750 giờ, tỷ lệ giờ thực hành, thực tập chiếm 0,58% thời lượng. Như vậy HSSVsau ra trường sẽ đỡ bỡ ngỡ khi đi xin việc. Tuy nhiên thời lượng thực hành, thực tập vẫn ít.

Mỗi năm học, phòng đào tạo đều kết hợp với các khoa chuyên môn có nhiệm vụ bổ sung, sửa đổi chương trình chi tiết các MH, MĐ đào tạo cho phù hợp với yêu cầu đào tạo của nhà trường và trình thẩm định chương trình thông qua hội đồng thẩm định của nhà trường. Qua khảo sát ý kiến của (40) cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên về công tác xây dựng mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, đã thu được kết quả trong bảng 2.5 dưới đây:

Bảng 2.5. Bảng kết quả đánh giá mục tiêu, chương trình đào tạo

  • Qua bảng kết quả phiếu điều tra, ta có thể thấy:

Chương trình đào tạo đã nêu được mục tiêu và vị trí của từng môn học, mô đun nhằm giúp giáo viên, người học định hướng mục tiêu, phương pháp giảng dạy và học tập của từng đối tượng. Nhà trường đang cân đối tỷ lệ thời gian giữa lý thuyết và thực hành trong khung chương trình. Tuy nhiên mức độ cân đối giữa lý thuyết với thực hành chưa được đánh giá cao, phần lớn ý kiến đánh giá ở mức độ bình thường. Việc xây dựng chương trình đào tạo cần phải mang tính thực tiễn, phù hợp với tình hình mới.

Các môn học, mô đun trong chương trình có sự kế thừa, hỗ trợ nhau trong toàn bộ chương trình đào tạo chuyên ngành. Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp người học có thể tiếp thu kiến thức một cách khoa học, hệ thống và logic.

Về việc chỉnh sửa và cập nhật chương trình đào tạo, nhà trường đã quan tâm thực hiện hàng năm. Công việc chủ yếu của nhà trường là: làm việc cùng với các giảng viên bộ môn để điều chỉnh khung chương trình, nhưng sự điều chỉnh này chưa thật sự đột phá nên chương trình đào tạo vẫn chưa thoát khỏi những bất cập như hiện nay. Ngoài ra, nhà trường vẫn chưa kết hợp với các doanh nghiệp trong việc xây dựng mục tiêu, chương trình đào tạo.

Để đánh giá chương trình đào tạo và kế hoạch đào tạo, tác giả thực hiện phát phiếu thăm dò trên 2 đối tượng: HSSV đang học n = 40 và HSSV đã tốt nghiệp (cựu HSSV) n = 35. Kết quả khảo sát thể hiện qua bảng 2.6 dưới đây.

  • Bảng 2.6: Đánh giá Chương trình đào tạo của Nhà trường

Qua bảng số liệu cho thấy chương trình đào tạo của Nhà trường chưa được người học đánh giá cao; chưa phù hợp với nguyện vọng, nhu cầu học tập của người học. Tỷ lệ cho rằng phù hợp chiếm 32,5% đánh giá đối với học sinh, HSSV đang học tại trường và 20,0% đối với HSSVđã tốt nghiệp. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Tiêu chí ngành nghề mà họ được đào tạo dễ xin việc được đánh giá thấp chỉ có 12,5% đánh giá nhất trí với HSSV đang học và 28,6% đánh giá cựu HSSV.

Chương trình đào tạo Nhà trường xây dựng được 45,0% HSSV và 42,8% cựu HSSV đánh giá thiên về lý thuyết; sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành được HSSV đánh giá thấp (dưới 5,0%)

Từ kết quả phân tích trên cho thấy việc xây dựng chương trình đào tạo của Trường chưa phù hợp với đối tượng là HSSV. Nhà trường cần phải có biện pháp khắc phục để đảm bảo chất lượng đầu ra.

Tóm lại, mục tiêu và chương trình đào tạo của nhà trường có những ưu nhược điểm sau đây:

  • Ưu điểm:

Chương trình đào tạo của nhà trường đã xác định được mục tiêu, vị trí, thời lượng các môn học, mô đun. Các môn học, mô đun bắt buộc được đảm bảo đúng theo qui định của Bộ Lao động TB&XH, các MH/MĐ tự chọn cũng đã được Nhà trường nghiên cứu lựa chọn đảm bảo cung cấp đủ các kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cho học sinh, HSSV sau khi tốt nghiệp. Mỗi năm học, nhà trường đều chú trọng đến công tác đánh giá nội dung chương trình đào tạo, đồng thời có điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với thị trường lao động tại địa phương.

  • Hạn chế:

Chương trình đào tạo vẫn còn thiết kế theo kinh nghiệm cũ và mang nặng tính lý thuyết. Nhà trường không năm bắt hết nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp về người lao động. Giáo viên biên soạn, sửa đổi mục tiêu, chương trình học vẫn còn theo lối mòn, không liên hệ chặt chẽ với nhu cầu của doanh nghiệp; chưa có sự tham gia của các doanh nghiệp – đối tượng sử dụng HSSV tốt nghiệp nên sự kết hợp giữa lý thuyết với thực hành chưa cao.

2.2.3. Đội ngũ giáo viên Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào nhiều nhân tố như chương trình đào tạo, mục tiêu đào tạo, chất lượng đầu vào của học sinh, giáo viên… Trong các nhân tố ảnh hưởng phải nhắc đến nhiều đó chính là nhân tố đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy. Có rất nhiều yếu tố khi đánh giá về đội ngũ giáo viên, trong đó chủ yếu phụ thuộc vào những yếu tố cơ bản như: số lượng và trình độ chuyên môn của giáo viên; tuổi đời và thâm niên công tác; trình độ chuyên môn; năng lực sư phạm; phương pháp giảng dạy và công tác nghiên cứu khoa học…

2.2.3.1. Cơ cấu, trình độ đội ngũ giáo viên

  • Về quy mô số lượng giáo viên

Từ năm 2019 đến nay, quy mô đào tạo của nhà trường có tăng lên, từ 7 khoa và tổ bộ môn năm học 2019- 2020 lên 8 khoa và tổ bộ môn năm học 2023 – 2024, nhưng số lượng giáo viên lại giảm do được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn theo nhu cầu phát triển của từng khoa. Năm học 2019-2020 toàn trường có 48 giáo viên, đến năm học 2023- 2024 tuy số khoa có tăng, nhưng số giáo viên lại giảm xuống còn 42 giáo viên. Giảm mạnh nhất là giáo viên khoa Kế toán từ 10 xuống còn 4 giáo viên, tiếp đến là khoa Nhà hàng từ 7 giáo viên năm học 2019-2020 xuống còn 5 giáo viên do lượng HSSV của các khoa này giảm mạnh.

Bảng 2.7. Bảng thống kê số liệu giáo viên theo từng khoa 2019-2024

  • Về trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên

Đội ngũ giáo viên trong Nhà trường có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo và kết quả học tập của HSSV. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề nhân lực, trong những năm qua Nhà trường đã chú ý nhiều đến biện pháp, chính sách đãi ngộ, khuyễn khích, tạo điều kiện, bắt buộc nhằm nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, giáo viên của Trường, cụ thể:

  • Nhà trường mở các lớp nghiệp vụ sư phạm. Đến nay toàn bộ giáo viên của Trường đã qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm bậc 1,2 và qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ để dạy học ở bậc cao đẳng.
  • Nhà trường tạo điều kiện về mặt thời gian để giáo viên hoàn thành việc học tập trình độ thạc sỹ và tiến sỹ.
  • Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn theo cấp phòng, khoa, hội thảo khoa học theo các chuyên đề.
  • Động viên cán bộ, giáo viên tham gia nghiên cứu khoa học cấp Trường, cấp thành phố và cấp Bộ .
  • Tổ chức các lớp bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học nâng cao phục vụ chuyên môn.
  • Tổ chức các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, các chuyên đề theo chương trình mục tiêu nâng cao chất lượng nhà giáo và nghiên cứu việc tổ chức cho nhà giáo đi học tập, nâng cao trình độ tại nước ngoài.

Kết quả bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ giáo viên trong những năm qua cho thấy: trong năm học 2019- 2020 chỉ có 10% giáo viên có trình độ thạc sỹ trở lên, 85% có trình độ đại học, đến năm học 2023- 2024 đã tăng lên 22% đạt trình độ thạc sỹ, 74% có trình độ đại học. Tỷ lệ giáo viên có trình độ đại học tiếng Anh tăng từ 4% năm học 2019-2020 lên 7% năm học 2023-2024, có chứng chỉ B tiếng Anh tăng từ 16% năm học 2019 -2020 lên 52% năm học 2023-2024.

  • Bảng 2.8. Thống kê trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên

Ngoài ra, số lượng giảng viên có chứng chỉ sư phạm dạy nghề theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng tăng dần, đạt gần 100% năm học 2023-2024. Hiện nay nhà trường đang động viên, khuyến khích và tạo điều kiện để cán bộ giáo viên nhà trường đi học sau đại học và ngoại ngữ nhằm gia tăng số lượng giáo viên đạt chuẩn và giáo viên có trình độ sau đại học. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

2.2.3.1. Về giới tính, tuổi đời và thâm niên công tác của giáo viên

Giới tính, tuổi đời và thâm niên giảng dạy cũng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng và phong cách giảng dạy của giảng viên.

Về giới tính: Tính đến thời điểm 30 tháng 12 năm 2024, toàn trường có 42 giáo viên thì có tới 37 giáo viên nữ, chiếm 88% tổng số giáo viên nhà trường, trong khi đó nam giới chỉ có 5 giáo viên nam, chiếm 12%.

Về tuổi đời: Cơ cấu theo độ tuổi của đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng nhìn chung rất trẻ, cụ thể: có tới 26,0% giáo viên có độ tuổi dưới 30; 47,0% giáo viên có độ tuổi từ 30 – 40, chỉ có 16,0% giáo viên ở độ tuổi trên 40. Tỷ lệ giáo viên có tuổi đời trẻ từ 25 đến 40 chiếm tỷ lệ rất cao, tới 73% tổng số giáo viên nhà trường. Đội ngũ này có khả năng tiếp thu ngoại ngữ tin học nhanh, thuận lợi cho việc giảng dạy các bài giáo án điện tử đáp ứng được theo phương pháp dạy học mới. Do vậy sức phấn đấu vươn lên của đội ngũ này rất lớn, ham hiểu biết, cầu tiến bộ, một trong những yếu tố để cống hiến sức trẻ, sự nhiệt tình trong sự nghiệp trồng người, là cơ sở để phát triển trường trong những năm tới.

  • Về thâm niên giảng dạy

Do tuổi đời của đội ngũ giáo viên nhà trường còn rất trẻ, nên số năm giảng dạy nhìn chung còn thấp. Số giáo viên có tuổi đời dưới 30 tuổi, tương ứng có số năm giảng dạy dưới 5 năm, ở độ tuổi từ 30 đến 40 tuổi, tương ứng cũng là mức từ 5 đến 10 năm kinh nghiệm và trên 40 tuổi có thời gian giảng dạy là trên 10 năm. Có chuyên ngành đào tạo mới như khoa Khách sạn hầu hết là giáo viên trẻ, có thâm niên giảng dạy dưới 5 năm.

  • Bảng 2.9. Bảng thống kê về tuổi đời và thâm niên giảng dạy

Có thể nói rằng, đội ngũ giáo viên nhà trường hiện nay có những ưu, hạn chế sau đây:

  • Ưu điểm:

Nhìn chung, đội ngũ giáo viên của Nhà trường tuổi đời là trẻ, ở độ tuổi từ 25 đến 40 chiếm 75% , được đào tạo chính quy, được phân công đúng chuyên môn và luôn có ý thức học tập và tư học tập để nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu đào tạo của Nhà trường. Về nhận thức, đa số giảng viên nhà trường đã xác định được yêu cầu nhiệm vụ, nên đã tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ theo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường.

Trong những năm qua, Nhà trường có chủ trương, kế hoạch và biện pháp tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên, cán bộ và nhân viên, tạo điều kiện cho họ tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ ở trong nước và ngoài nước; chú trọng đào tạo và phát triển các giáo viên trẻ. Hàng năm trường có tổ chức hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, cấp thành phố và cấp quốc gia nhằm phát hiện, bồi dưỡng các giáo viên có năng lực, đồng thời giao lưu học hỏi kinh nghiệm giảng dạy giữa các bộ môn, các khoa, các trường. Nhà trường tổ chức sinh hoạt chuyên môn, các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, tin học, ngoại ngữ cho giáo viên, cán bộ công nhân viên, Trường đã hợp tác được với nhiều tổ chức về lĩnh vực đào tạo. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

  • Hạn chế:

Số lượng giáo viên giảng viên có kinh nghiệm và trình độ cao còn ít, chưa đủ đáp ứng cho yêu cầu hiện tại cũng như tương lai của nhà trường. Một số giáo viên phải dạy nhiều môn, không có điều kiện nghiên cứu sâu nội dung bài giảng, hay những phương pháp giảng dạy phù hợp, hiệu quả cho từng bộ môn.

Đa số giáo viên nhà trường đều trẻ, thâm niên giảng dạy ít nên năng lực sư phạm còn hạn chế về kinh nghiệm, khả năng, phương pháp thu hút người học vào nội dung bài giảng chưa cao.

Khả năng tự học, tự bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên mặc dù đã có sự cố gắng nhưng vẫn còn ở mức độ thấp. Giáo viên chậm đổi mới phương pháp giảng dạy làm người học không chủ động tiếp thu kiến thức, thụ động phụ thuộc vào giáo viên, nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của hoạt động đào tạo nhà trường.

  • Nguyên nhân của những tồn tại trên là do:

Công tác quản lý nhà trường chưa đề ra những biện pháp đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tiễn để xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên nhà trường. Nội dung hoạt động chuyên môn chưa đi vào chất lượng, phương pháp chậm đổi mới, còn mang tính hình thức. Vì vậy chưa thu hút sự quan tâm đúng mức của đội ngũ giảng viên, hiệu quả tác dụng còn thấp. Cơ chế, chính sách khuyến khích động viên cán bộ giảng viên tham gia học tập, nghiên cứu khoa học còn hạn chế, chưa kịp thời, chưa đủ sức tạo động lực cho họ tích cực phấn đấu.

2.2.3. Phân tích thực trạng công tác đào tạo

2.2.3.1.Về công tác quản lý đào tạo và kiểm định chất lượng

  • Công tác quản lý đào tạo Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Trong các cơ sở đào tạo, công tác tổ chức và quản lý là điều kiện tiền đề đảm bảo cho các hoạt động của trường thực hiện được mục tiêu, kế hoạch đào tạo đề ra. Thể hiện qua các văn bản: quy định về cơ cấu tổ chức của trường, quy định trách nhiệm và quyền hạn của tập thể, cá nhân trong trường về chiến lược và kế hoạch phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội của ngành và địa phương.

Về công tác xây dựng ế hoạch đào tạo hàng năm: Để thực hiện chương trình đào tạo cả khóa học, phòng Đào tạo phối hợp cùng các phòng, khoa liên quan xây dựng kế hoạch đào tạo theo từng kỳ và cả năm học, phân công giáo viên giảng dạy phù hợp với trình độ chuyên môn, đảm bảo tính hợp lý về tỷ lệ giữa giáo viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm giỏi với giáo viên trẻ mới vào nghề cho từng lớp học, từng ngành học.

Đánh giá công tác xây dựng kế hoạch đào tạo của Trường, tác giả đã khảo sát 40 cán bộ quản lý và giáo viên, kết quả cho thấy 14% được đánh giá ở mức rất cao, 80% đánh giá ở mức cao, chỉ có 6% đánh giá ở mức trung bình và không ai đánh giá ở mức thấp.

  • Bảng 2.10. Ý kiến đánh giá kế hoạch đào tạo của Nhà trường

Các khoa chuyên môn, phòng đào tạo đã chủ động lên kế hoạch giảng dạy và học tập, chủ động điều tiết kế hoạch trên lớp, sắp xếp bố trí giáo viên hợp lý, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban với khoa, giữa các khoa này với khoa khác. Chính sự sắp xếp phối họp nhịp nhàng trong công tác quản lý nên đảm bảo được công tác giảng dạy, học tập đúng tiến độ.

  • Công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh:

Công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của HSSV được thực hiện một cách nghiêm túc và khoa học, đảm bảo tính khách quan và công bằng giữa các lớp khác nhau và giữa các chuyên ngành khác nhau. Qua đó đã hạn chế được rất nhiều những thói quen xấu của học sinh, HSSV trong thi cử như: chép bài của bạn, quay cóp; đồng thời tạo cho học sinh, HSSV sự chủ động trong việc rèn luyện kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp. Đây cũng là một nhân tố góp phần nâng cao chất lượng học sinh, HSSV trong Nhà trường. Điều tra thăm dò ý kiến của số HSSV đang theo học và HSSV đã tốt nghiệp về công tác kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo cho thấy:

Công tác kiểm tra đánh giá của trường đã được HSSV đang theo học và HSSV đã tốt nghiệp đánh giá như sau: ở mức độ phù hợp với chương trình đào tạo với tỷ lệ 74,67% đối với HSSV đang học và 85% HSSV đã tốt nghiệp.

  • Bảng 2.11. Ý kiến của HSSVvề công tác kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo

Về công tác thanh tra chuyên môn: có thực hiện thanh tra thời gian lên lớp của giáo viên, kiểm tra hồ sơ giáo án sau khi môn học giảng dạy xong, và hội đồng thanh tra chuyên môn cuối mỗi học kỳ, năm học… Tuy nhiên, việc dự giờ để đánh giá việc giảng dạy của giáo viên được phòng Đào tạo kết hợp với các khoa chuyên môn và phòng Công tác học sinh, HSSV thực hiện khá tốt.

  • Công tác kiểm định chất lượng Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Ngay từ năm 2017, thực hiện chỉ đạo của Tổng cục Dạy nghề về công tác tự kiểm định trong các trường dạy nghề, trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng đã tích cực triển khai công tác kiểm định. Trường đã cử cán bộ tham dự lớp tập huấn về kiểm định ngay khóa đầu tiên do Tổng cục Dạy nghề tổ chức năm 2017. Sau đó, Nhà trường đã chủ động tổ chức tập huấn nội dung kiểm định cho toàn thể cán bộ chủ chốt và tổ chức tự kiểm định trong nội bộ để tìm ra những chỉ số chưa đạt và hướng khắc phục.

Năm 2020, Trường chuyển về cơ sở mới xây dựng tại xã Nam Sơn, An Dương, Hải Phòng. Sau một thời gian ổn định hoạt động tại cơ sở mới, năm 2021 Trường chính thức đăng ký kiểm định với Tổng cục Dạy nghề.

Kết quả kiểm định Trường được thể hiện tại Quyết định số 653/QĐ-BLĐTBXH của Bộ Lao động –Thương binh và Xã Hội ngày 24 tháng 4 năm 2022 về việc công nhận kết quả kiểm định chất lượng dạy nghề năm 2021 đối với trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng như sau:

  • Tổng điểm: 82 (tám mươi hai)
  • Cấp độ 3 ( cấp độ cao nhất)

Và Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng dạy nghề theo Quyết định số 771/QĐ-LĐTBXH của Bộ Lao động –Thương binh và Xã Hội ngày 20 tháng 5 năm 2022.

Định kỳ hàng năm Nhà trường thực hiện việc tự kiểm định chất lượng dạy nghề và báo cáo kết quả với Sở Lao động Thương binh Xã hội, Tổng cục Dạy nghề.

2.2.3.2. Về công tác quản lý học tập đối với HSSV

Trong công tác quản lý có quản lý học tập HSSV được phòng Đào tạo kết hợp với các khoa chuyên môn và phòng Công tác HSSV quản lý. Nhiệm vụ chính trong công tác quản lý học tập của HSSV là lập kế hoạch học tập, sắp xếp lịch thi gửi đến các khoa để triển khai theo đúng tiến độ kế hoạch, tổ chức thi, chấm thi và lên điểm.

Nhà trường còn quản lý học viên bằng cách yêu cầu toàn bộ học viên phải đăng ký nơi cư trú để có thể quản lý và nắm bắt tình hình của các em khi có vấn đề quan trọng phát sinh ngoài giờ học. Điều đó cũng đảm bảo các học viên không thể giấu giếm nhà trường khi phạm tội phát sinh trong quá trình học tập tại nhà trường.

Để đánh giá công tác quản lý, tác giả đã tiến hành khảo sát lấy ý kiến và kết quả như bảng sau:

Bảng 2.12. Kết quả đánh giá công tác quản lý hoạt động học tập của HSSV

  • Từ kết quả thu được từ cuộc điều tra, tác giả có một số nhận xét sau:

Kế hoạch đào tạo nhìn chung được thông báo kịp thời cho học viên. Tuy nhiên, mọi thông tin đều được thông báo trên trang web. Do đó, học viên phải chủ động cập nhật tình hình thay đổi trên trang web. Có một số học viên nghèo không có điều kiện lắp đặt mạng internet hay mua máy tính thì việc chủ động theo dõi sẽ khó khăn, có thể sẽ bị sót thông tin.

Phòng Đào tạo đã kết hợp với phòng Công tác HSSV và giáo viên chủ nhiệm của các lớp để theo dõi việc thực hiện nội quy của nhà trường và nắm bắt tình hình ngoài giờ học của các học viên.

  • Tuy nhiên, công tác quản lý học tập HSSV vẫn tồn tại một số hạn chế sau:

Việc kiểm tra thực hiện nội quy của nhà trường mới chỉ kiểm tra được bề nổi, chưa kiểm tra được chất lượng như việc kiểm tra sỹ số của các lớp học. Giáo viên chỉ có thể đến kiểm tra đột xuất để điểm danh, còn việc ghi chép hay sự tập trung trong lớp học thì người thanh tra không thể kiểm tra được. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Những thắc mắc của học viên giải quyết còn chậm. Số lượng thầy cô có thể giành thời gian để tư vấn cho học viên bị hạn chế. Có những thầy cô trong phòng Đào tạo còn chưa nhiệt tình giúp đỡ học viên.

  • Các kỳ thi tổ chức còn thiếu kinh nghiệm.

2.2.3.3. Về công tác quản lý hoạt động giảng dạy đối với giáo viên

Giảng dạy là quá trình truyền thụ kiến thức, người thầy phải nắm vững kiến thức. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn là phải làm cho kiến thức của người thầy trở thành kiến thức của trò, có nghĩa là trò phải tiếp thu tốt kiến thức của thầy. Điều này có quan hệ mật thiết đến phương pháp giảng dạy. Ngoài kiến thức chuyên môn, giảng viên còn cần phải có khả năng sư phạm. Một người có nhiều kiến thức chuyên môn nhưng chưa chắc đã có kiến thức sư phạm tốt. Một giảng viên chuyên ngành giỏi đến đâu nhưng nếu không có phương pháp truyền đạt kiến thức thì người học cũng không thể lĩnh hội được đầy đủ, đúng những kiến thức mà giáo viên mong muốn người học tiếp thu.

Để đạt được mục đích đó, những con người khác nhau sẽ chọn những phương pháp giảng dạy khác nhau. Ngay cả khi cùng sử dụng một phương pháp thì do khả năng và trình độ giảng dạy của mỗi người cũng cho kết quả chất lượng giảng dạy khác nhau, vì thế mà trình độ sư phạm là một trong những nhóm nhân tố quan trọng đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học nói riêng và chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung.

Nhân tố quan trọng để đánh giá công tác đào tạo chính là phương pháp giảng dạy của đội ngũ giáo viên nhà trường. Chính vì vậy mà ngoài quản lý hoạt động học tập của HSSV, nhà trường còn tổ chức quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên. Công tác quản lý hoạt động giảng dạy được giao cho phòng Đào tạo và các khoa chuyên môn. Hàng năm, phòng Đào tạo xây dựng kế hoạch trong năm cho các khoa chuyên môn. Dựa vào kế hoạch đó, giáo viên thực hiện giảng dạy theo thời khóa biểu, dự giờ thăm lớp, hoàn thiện hồ sơ giáo án, tự bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm.

Ngoài ra, nhà trường còn tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Ví dụ như cử giáo viên tham gia các đợt tập huấn chuyên môn, tham gia các hoạt động dự án, bồi dưỡng chuyên môn hoặc hỗ trợ học phí cho giáo viên đi học ở các bậc cao hơn như cao học, nghiên cứu sinh. Bên cạnh đó, nhà trường có kế hoạch tuyển dụng giáo viên mới có trình độ, bậc học hoặc kinh nghiệm cao hơn. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Để tìm hiểu sâu hơn về năng lực sư phạm thực tế của đội ngũ giáo viên, tác giả đã tiến hành điều tra 40 cán bộ, giáo viên của Nhà trường và đã thu được một số kết quả đánh giá sau:

  • Bảng 2.13. Đánh giá chất lượng giáo viên

Từ bảng kết quả trên, ta thấy đội ngũ giảng viên đều nhiệt tình giảng dạy, nhiệt tình giúp đỡ học viên trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Tuy nhiên do tuổi đời và thâm niên giảng dạy ít nên chưa có nhiều kinh nghiệm lên lớp, phương pháp giảng dạy còn theo lối mòn, ít sự đầu tư, ít thay đổi theo phương pháp mới nên chất lượng hoạt động giảng dạy chưa cao. Bài giảng còn mang nặng tính lý thuyết, đã có sự kết hợp với thực hành nhưng không nhiều. Khả năng thu hút học viên thấp.

  • Nguyên nhân của những tồn tại trên là do:

Công tác quản lý nhà trường chưa đề ra những biện pháp đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tiễn để xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên nhà trường.

Nội dung hoạt động chuyên môn chưa đi vào chất lượng, phương pháp chậm đổi mới, còn mang tính hình thức. Vì vậy chưa thu hút sự quan tâm đúng mức của đội ngũ giảng viên, hiệu quả tác dụng còn thấp. Cơ chế, chính sách khuyến khích động viên cán bộ giảng viên tham gia học tập, nghiên cứu khoa học còn hạn chế, chưa kịp thời, chưa đủ sức tạo động lực cho họ tích cực phấn đấu.

Các điều kiện bảo đảm cho đội ngũ giảng viên thực hiện các hoạt động chuyên môn cũng còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cho việc đổi mới nội dung và phương pháp.

2.2.4. Thực trạng công tác tuyển sinh, chất lượng của học viên

Người học chính là kết quả của quá trình đào tạo. Để đánh giá chất lượng đào tạo hay đào tạo nghề của bất kỳ một trường nào, điều tất yếu ta phải đánh giá về học viên của trường đó. Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng cũng vậy. Tuy nhiên, đánh giá chất lượng HSSV ta cần đánh giá dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có một số yếu tố chính sau:

  • Chất lượng tuyển sinh đầu vào: Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Chất lượng đầu vào là một trong các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng đào tạo của trường. Chất lượng đầu vào tốt thì kết quả đầu ra có xu hướng cao hơn, ngược lại nếu chất lượng đầu vào thấp thì kết quả đầu ra sẽ bị hạn chế. Những năm qua, trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng thực hiện công tác tuyển sinh đầu vào không tổ chức thi, chỉ xét tuyển học bạ nên chất lượng HSSV đầu vào không cao, mặc dù nhà trường đã thực hiện theo đúng quy chế của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội như:

Thành lập Hội đồng tuyển sinh, triển khai việc thực hiện xét tuyển đầu vào dựa trên việc xét tuyển học bạ nên cũng không tránh khỏi đầu vào yếu, các em thường bị hổng kiến thức cơ bản ở phổ thông trung học, đa số không đủ điểm vào các trường đại học. Hơn nữa, việc quảng bá của trường với các trường phổ thông chưa tốt nên số lượng học viên đăng ký học của một số lớp còn ít hơn cả chỉ tiêu tuyển sinh. Nhà trường phải hạ tiêu chí tuyển sinh để gọi nhập học toàn bộ HSSV mặc dù bảng điểm, chất lượng đầu vào chưa đạt chỉ tiêu của nhà trường đề ra. Vì vậy, đây là điểm bất lợi của các trường đào tạo nghề nói chung, của trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng nói riêng.

  • Về tình hình học tập, rèn luyện của học viên:

Đầu vào là yếu tố bị động, nhà trường không thể thay đổi. Tuy nhiên, trường cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng có thể cải thiện nâng cao chất lượng trong quá trình học tập và rèn luyện của học viên.

Nhà trường đưa ra những định hướng, nội dung rèn luyện cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của trường, tạo điều kiện cho người học có môi trường học tập, rèn luyện đạo đức phấn đấu, rèn luyện. Cụ thể là: chỉ tiêu lên lớp hàng năm đạt trên 95% trong đó tỷ lệ khá, giỏi chiếm 20-30%. Tỷ lệ tốt nghiệp hàng năm của HSSV đạt trên 90% trong đó tỷ lệ khá, giỏi đạt 20-30%. HSSV tốt nghiệp ra trường có việc làm đúng chuyên ngành đào tạo sau 6 tháng đến 1 năm từ 80% trở lên.v.v…

Để đạt được mục tiêu đề ra, nhà trường đã tổ chức đánh giá kết quả rèn luyện của người học. Quy định đánh giá rèn luyện đạo đức người học được xem xét trên các mặt: ý thức học tập, chấp hành nội quy, quy chế, tham gia các hoạt động xã hội… Nhà trường đã đưa ra quy trình để các học viên tự đánh giá và nhận xét quá trình rèn luyện của chính mình và những người trong lớp để kết quả khách quan và chính xác hơn. Cụ thể:

  • HSSV tự đánh giá kết quả rèn luyện của bản thân dựa trên thang điểm nhà trường đã xây dựng.
  • Tổ trưởng thu thập kết quả tự đánh giá của cá nhân và tập hợp lại thông qua cuộc họp với cán bộ lớp và giáo viên chủ nhiệm để đưa ra nhận xét và kết quả đánh giá cuối cùng đối với từng cá nhân.
  • Sau đó, lớp trưởng tổng kết và lấy chữ ký xác nhận của giáo viên chủ nhiệm chuyển về phòng Công tác HSSV rà soát, kiểm tra.
  • Hàng tháng, phòng Công tác HSSV tổng hợp thông qua Hội đồng nhà trường, Hiệu trưởng quyết định công nhận kết quả.

Bảng 2.14. Tổng hợp kết quả rèn luyện của HSSV các năm 2021-2024

Nhìn chung, đa số người học đều có kết quả rèn luyện đạo đức từ loại Khá trở lên. Số lượng người học có kết quá rèn luyện đạo đức loại trung bình hay yếu chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Điều này nói lên ý thức của người học trong trường là khá tốt, chỉ có kết quả học tập còn chưa cao. Do chất lượng đầu vào HSSV thấp, hầu hết HSSV có học lực trung bình ở phổ thông. HSSV có động cơ ý thức học tập chưa cao, thiếu quyết tâm và không vượt khó trong học tập, chưa tự giác tự học, tự nghiên cứu chưa được quan tâm đúng mức. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

  • Chất lượng đầu ra và tình hình việc làm của HSSV sau khi tốt nghiệp

Chất lượng đào tạo không chỉ thể hiện trong kết quả học tập tại trường, mà nó còn phải thể hiện ở khả năng làm việc thực tế của người học sau khi tốt nghiệp tham gia vào thị trường lao động. Để đánh giá khía cạnh của người học sau khi tốt nghiệp, tác giả tiến hành điều tra các đối tượng có liên quan (người học sau tốt nghiệp, cơ sở sử dụng lao động) và thu được kết quả tỷ lệ học viên tốt nghiệp ra trường có việc làm sau 6 tháng như bảng tổng hợp dưới đây:

  • Bảng 2.15. Tình hình việc làm của người học sau khi tốt nghiệp năm 2024

Tỷ lệ học viên tìm được việc sau khi tốt nghiệp cao nhất là ngành kỹ thuật chế biến món ăn (75%), tiếp đến là quản trị khách sạn (70%), quản trị nhà hàng (56), thấp nhất là hướng dẫn du lịch (40%).

Tỷ lệ được làm việc đúng chuyên ngành đào tạo chưa cao. Ngành chế biến là 65%, quản trị khách sạn 425%, quản trị nhà hàng 35%, thấp nhất là ngành hướng dẫn du lịch chỉ đạt 25%.

Phần lớn, HSSV đều làm trái ngành trái nghề, công việc ban đầu thường là bán hàng, nhân viên bồi bàn, công nhân v.v…

Nguyên nhân của tình trạng trên là do kỹ năng mềm của HSSV còn kém như khả năng giao tiếp, kỹ năng tin học văn phòng hay ngoại ngữ còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ sở sử dụng lao động.

Học viên chưa chủ động trong công cuộc đi tìm việc làm. Chính lý do kỹ năng tin học văn phòng và ngoại ngữ kém đã là một nhược điểm trong tìm kiếm công việc. Ngày nay, công nghệ thông tin phát triển, có rất nhiều trang web chuyên về lĩnh vực tuyển dụng ở khắp nơi, không chỉ trong địa bàn thành phố Hải Phòng mà còn khu vực miền Bắc, trong cả nước hay đi nước ngoài. Tuy nhiên, học viên chưa được tiếp cận nên tìm việc chủ yếu thông qua báo chí, quen biết giới thiệu. Việc đó đã hạn chế rất nhiều cơ hội của học viên.

Ngoài ra, tỷ lệ học viên làm trái ngành nhiều cũng do chương trình học mang nặng tính lý thuyết, những kinh nghiệm và kỹ năng thực tế trong công việc lại ít.

2.2.5. Thực trạng về cơ sở vật chất và nguồn tài chính cho đào tạo

2.2.5.1. Thực trạng về cơ sở vật chất

Trường có trụ sở tại xã Nam Sơn – An Dương- Hải Phòng. Đây là địa điểm có vị trí thuận lợi trên mặt đường 5, sát ngay Trung tâm thành phố Hải Phòng (tổng diện tích đất hơn 108.378 m2). Địa điểm trên có giao thông thuận tiện phù hợp với quy hoạch chung của khu vực và mạng lưới cơ sở dạy nghề của thành phố Hải Phòng. Trường được thiết kế xây dựng theo kiến trúc hiện đại với đầy đủ các phòng ban riêng biệt, các khối phòng học lý thuyết, xưởng thực hành,… có không gian rộng, thoáng mát tạo điều kiện thoải mái cho HSSV trong học tập. Trong những năm qua, được sự quan tâm đầu tư của Tổng cục Dạy nghề và Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ giảng dạy của nhà trường được đầu tư khá đồng bộ, bao gồm: hệ thống phòng học, thực hành, thư viện, các thiết bị phục vụ cho giảng dạy như giáo trình, giáo án, hệ thống bảng chuyên dùng, đèn chiếu, máy chiếu đa năng, máy tính, mạng internet, các bảng biểu, mô hình, băng đĩa ghi hình… đạt các tiêu chí sau đây:

  • Đảm bảo số lượng, chất lượng phòng học và thiết bị cho học tập.
  • Có hệ thống phòng học, giảng đường, phòng học chuyên môn; các phòng học này đều được trang bị máy chiếu, bàn ghế mới đáp ứng quy mô đào tạo theo các nghề, trình độ đào tạo.
  • Có hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ làm việc và các hoạt động dạy nghề, thực nghiệm, thực hành và có mạng Internet có dây và không dây cho tất cả các phòng ban.
  • Có đủ số lượng giáo trình, tài liệu, sách báo, tạp chí phù hợp với các nghề đào tạo, đáp ứng nhu cầu sử dụng của cán bộ, giáo viên và học sinh. Thư viện tin học hóa, có các tài liệu điện tử, được nối mạng, liên kết khai thác tài liệu trong nội bộ nhà trường. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Ngoài ra, nhà Trường còn được xây dựng thêm nhiều khối phòng chức năng khác đáp ứng được các nhu cầu của HSSV như: hội trường được bố trí 200 chỗ ngồi thuận tiện cho tổ chức hội họp, giao lưu văn nghệ; ký túc xá có thể giải quyết nhu cầu lưu trú cho HSSV của Trường. Đồng thời, để đáp ứng được nhu cầu học tập, nghiên cứu của HSSV, Trường tiếp tục đầu tư xây dựng nâng cấp thư viện và đặc biệt quan tâm đầu tư đến khối xưởng thực hành: có nhiều máy móc, thiết bị học tập được trang bị đồng bộ, hiện đại. HSSV sau giờ học lý thuyết sẽ được làm quen, thực hành ngay. Điều này đem lại sự hứng thú và đạt hiệu quả cao hơn trong học tập, cũng như giúp học viên nắm vững, nâng cao trình độ chuyên môn. (Bảng 2.1. Cơ sở vật chất của Trường)

Tuy vậy, các phòng thực hành, xưởng thực hành của Trường chưa tương xứng với quy mô đào tạo. Tính đến cuối năm học 2023 – 2024, Nhà trường mới có 03 phòng thực hành Chế biến món ăn, 02 phòng thực hành Tin học, 02 phòng thực hành nhà hàng, 01 phòng thực hành nghiệp vụ lễ tân, 02 phòng thực hành nghiệp vụ buồng, 02 phòng thực hành nghiệp vụ lữ hành, hướng dẫn , 01 xe 45 chỗ cho khoa Lữ hành phục vụ cho việc rèn luyện các kỹ năng thực hành nghề nghiệp cho HSSV. Cơ sở thực hành cho khoa khác như: Nhà hàng, Khách sạn, Lễ tân, Chế biến… còn thiếu, Nhà trường đã lập dự án xây dựng Trung tâm thực hành nghề để giải quyết cơ sở thực hành, dự án đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phê duyệt.

2.2.5.2. Thực trạng công tác quản lý sử dụng nguồn tài chính cho đào tạo

Nhà trường đã huy động tối đa các nguồn tài chính phục vụ hoạt động của Nhà trường, đồng thời Nhà trường luôn thực hiện nghiêm chỉnh các quy định hiện hành của Nhà nước về quản lý tài chính.

Nguồn tài chính

  • Nguồn chi thường xuyên;
  • Nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia;
  • Nguồn thu học phí, lệ phí…;
  • Nguồn tài trợ của các dự án nước ngoài;

Chi tài chính

  • Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo, quản lý;
  • Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, giáo viên;
  • Biên soạn chương trình, giáo trình;
  • Chi cá nhân (lương và các khoảng theo lương…);
  • Chi phúc lợi xã hội. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Hàng năm, nhà trường xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ dựa vào các quy định của Nhà nước, của ngành Du lịch và tình hình thực tế của nhà trường, để làm căn cứ chi cho các hoạt động nhà trường. Từ khi thực hiện theo cơ chế tự chủ tài chính nhà trường đã đạt được hiệu quả tốt hơn so với thời gian trước, đạt được một số ưu điểm sau:

Do theo cơ chế tự chủ nên nhà trường đã chủ trương tiết kiệm và đã nâng cao được hiệu quả sử dụng tài sản công, văn phòng phẩm, vật tư thực hành phục vụ cho hoạt động đào tạo.

Nhà trường đã có những chế độ khen thưởng để giúp cho cán bộ giáo viên có thêm nguồn thu nhập ngoài lương. Việc đó vừa giúp cán bộ thêm thu nhập, vừa giúp khích lệ tinh thần làm việc của công chức.

Ngoài quy định xét thưởng tháng, nhà trường còn có các quy định chi tiền thưởng cho cá nhân và tập thể trong hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo viên dạy giỏi, hoạt động đoàn thể tuy chưa nhiều nhưng đã khuyến khích được cán bộ, giáo viên và công nhân viên nhà trường tích cực thi đua lao động, sáng tạo.

  • Tuy nhiên, công tác quản lý tài chính trong trường cho đến nay vẫn còn một số hạn chế sau:

Ngoài hai nguồn thu cơ bản là từ Ngân sách Nhà nước và từ học phí, lệ phí của học sinh, nhà trường còn có các khoản thu từ hoạt động sự nghiệp khác nhưng không nhiều nên các chế độ ưu đãi về tài chính đối với cán bộ, giáo viên và HSSV còn thấp.

Mặc dù có tiết kiệm và có tạo thu nhập tăng thêm cho cán bộ, giáo viên nhưng mức thu nhập tăng thêm của mỗi cán bộ, giáo viên chưa cao. Thu nhập bình quân giáo viên trong trường trong năm 2024 là 5 triệu. Mức thu nhập này chỉ vừa đủ cho giáo viên chưa lập gia đình, chưa phải nuôi con. Đối với những cán bộ có con cái thì mức lương không đủ để chi trả cho cuộc sống hàng ngày nên cán bộ giáo viên không thể cống hiến toán bộ sức lực và tinh thần cho công việc. Họ sẽ phải tìm thêm những công việc ngoài để có thêm nguồn thu nhập.

Nói tóm lại, muốn chất lượng giáo dục nước nhà được cải thiện, nâng lên, ngang bằng với các nước trong khu vực, trong nhiều biện pháp hữu hiệu cần được triển khai, thực hiện một cách đồng bộ, triệt để thì không thể thiếu biện pháp tăng lương thỏa đáng cho đội ngũ giáo viên. Có đời sống vật chất tương đối đầy đủ, nhất định đội ngũ giáo viên – nhân tố quan trọng hàng đầu của nền giáo dục, sẽ có những chuyển biến tích cực.Bởi vậy, đảm bảo và nâng cao hơn nữa đời sống của giáo viên cả nước nói chung, và đội ngũ giáo viên Trường cao đẳng nghề du lịch và Dịch vụ Hải Phòng nói riêng là vấn đề được đặt ra cấp thiết.

2.2.6. Thực trạng mối quan hệ giữa Nhà trường với doanh nghiệp Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Vai trò của doanh nghiệp trong giáo dục đào tạo nói chung và trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nói riêng là rất quan trọng. Vai trò đó được thể hiện trong việc: tiếp nhận HSSV tham quan, thực tập; doanh nghiệp tham gia báo cáo thực tế, tham gia hội thảo về xây dựng chương trình, nội dung đào tạo; hợp tác trong việc bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ lao động của doanh nghiệp.

Khi nhà trường và doanh nghiệp đã có mối quan hệ thường xuyên, gắn bó với nhau thì cả hai bên sẽ cùng phát hiện nhu cầu đào tạo và cùng nhau giải quyết nhu cầu đó. Trong mối quan hệ này, doanh nghiệp có được đội ngũ lao động có tay nghề, thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; nhà trường có được nguồn đào tạo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.

Để đánh giá chính sách chất lượng đào tạo, không chỉ dựa vào ý kiến từ học sinh, cán bộ quản lý và giáo viên Nhà trường vì đó cũng chỉ là tự đánh giá mình, không đủ độ chính xác. Trong khi đó yêu cầu của các Doanh nghiệp nơi HSSV ra trường làm việc thì doanh nghiệp luôn phải hướng theo thị trường để tăng mức độ cạnh tranh. Vì vậy ý kiến của người sử dụng lao động nhìn nhận về học sinh, HSSV do Nhà trường đào tạo có ý nghĩa quyết định cho “đầu ra” của Nhà trường.

Đề tài đã tiến hành khảo sát 20 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kết quả khảo sát được thể hiện qua bảng dưới đây:

  • Bảng 2.16: Đánh giá doanh nghiệp về chất lượng HSSV trường

Nhìn vào bảng số liệu thống kê đánh giá mức độ hài lòng của các doanh nghiệp về kỹ năng làm việc của HSSV trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng ở trên ta có thể thấy nhìn chung chất lượng đào tạo của Nhà trường là có thể đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp kinh doanh – sản xuất nói riêng và nhu cầu của xã hội nói chung. Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại vẫn chưa thể giải quyết đó là:

Khả năng làm việc độc lập chưa cao, 65% số HSSV vẫn cần có sự giúp đỡ của người đã đi trước, người có kinh nghiệm và chưa thể tự giải quyết được công việc.

Khả năng sử dụng ngoại ngữ và vi tính của HSSV chưa được thành thạo do Nhà trường chưa có đầy đủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị thì thiếu; khả năng vận dụng thực tế cho SV thực hành thì ít mà chỉ thiên về lý thuyết điều này đã làm cho HSSV khả năng vận dụng thực tế hạn chế.

Việc sử dụng thành thạo các kỹ năng chưa cao như: các kỹ năng phân tích, tổng hợp đánh giá giải quyết một vấn đề cụ thể trong công việc chuyên môn, tính chủ động sáng tạo trong công việc và phối hợp với đồng nghiệp trong công việc… còn hạn chế; đặc biệt chất lượng công việc được giao còn chưa cao chiếm đến trên 75% ở mức độ trung bình và kém. Ngoài ra, việc xây dựng các chương trình mang tính thực tế cho người học chưa cao do vậy khả năng thích ứng với công việc có sử dụng trang thiết bị hiện đại là thấp (45% ở mức trung bình và kém) và khả năng làm việc độc lập sáng tạo không cao (50% ở mức trung bình và kém).

2.3. Đánh giá chung về chất lượng đào tạo nghề tại trường cao đẳng nghề Du lịch và dịch vụ Hải Phòng Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Từ sự phân tích các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo tại trường cao đẳng nghề du lịch và dịch vụ Hải phòng có thể rút ra những ưu nhược điểm sau:

2.3.1. Những ưu điểm về nâng cao chất lượng đào tạo

Về mục tiêu và chương trình đào tạo: Chương trình đào tạo đều được rà soát, định kỳ 2 năm 1 lần tiến hành điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng nghề nghiệp để phù hợp với nhu cầu của các cơ quan tuyển dụng.

  • Nhà trường có đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình có trình độ cao đang từng bước chuẩn hóa.
  • Phương pháp dạy lấy người học làm trung tâm đã và đang được 100% giáo viên thực hiện
  • Các điều kiện vật chất như Hội trường, phòng học, các phương tiện hiện đại phục vụ giảng dạy được nhà trường quan tâm, phục vụ kịp thời, có hiệu quả cho công tác đào tạo.
  • Rèn nghề, thực hành, thực tập, của sinh viên ngày càng được đổi mới, đã mang lại cơ hội học tập tốt cho sinh viên.

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên đang hướng tới chính xác khách quan hơn; thông qua thực hiện Ngân hàng đề thi, thi trắc nghiệm khách quan đạt gần 30%.

Công tác tuyển sinh, chất lượng của HSSV được nhà trường xem trọng, tổ chức đánh giá kết quả rèn luyện của học viên hàng năm. Quy định đánh giá rèn luyện đạo đức người học xem xét trên các mặt: ý thức học tập, chấp hành nội quy, quy chế, tham gia các hoạt động.

Cơ sở vật chất và nguồn tài chính cho đào tạo được nhà trường coi trọng. Nhà trường đã trang bị mạng Internet có dây và không dây cho tất cả các phòng ban. Các phòng học đều được trang bị bàn ghế mới, thoáng mát. Nhà trường đã chủ trương tiết kiệm và nâng cao được hiệu quả sử dụng tài sản công, văn phòng phẩm, vật tư thực hành phục vụ cho hoạt động đào tạo.

2.3.2. Những nhược điểm về nâng cao chất lượng đào tạo Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

Cán bộ giảng dạy ở một số khoa thiếu cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là giáo viên có trình độ cao, giỏi ngoại ngữ, giỏi thực hành, tâm huyết, làm việc có trách nhiệm.

Phương pháp dạy học còn chưa đổi mới. Thuyết giảng đọc thoại vẫn là chủ yếu. Khả năng phân tích, luận giải các vấn đề của giáo viên có lúc chưa sâu, nặng về trình bày theo giáo trình; thiếu ví dụ thực tiễn. Những điều đó đã làm cho sinh viên thiếu sự hăng say trong học tập, ít quan tâm đến môn học, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và kết quả giảng dạy.

Người học: Sinh viên ghi chép và học thuộc lòng là chủ yếu, không phát huy tư duy sáng tạo. Phần nhiều ý thức học tập của sinh viên còn mang nặng tính thi cử, trả nợ cho xong môn học. Ngoài ra, đầu vào sinh viên của trường thấp do nhà trường không tổ chức thi mà chỉ xét tuyển, nên kết quả học tập của học viên chưa cao. Kỹ năng mềm của học viên như khả năng giao tiếp, kỹ năng tin học văn phòng hay ngoại ngữ còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ sở sử dụng lao động và học viên chưa chủ động trong công cuộc đi tìm việc làm. Vì vậy tỷ lệ HSSV tốt nghiệp ra trường xin được việc làm và đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp còn thấp.

Về chương trình đào tạo đã được cải tiến, nhưng nội dung chương trình còn nhiều bất cập, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành. Việc rèn luyện kỹ năng và tay nghề còn hạn chế. Mặt khác, việc rà soát, điều chỉnh chương trình còn mang tính chủ quan của người dạy, chưa thật sự có sự tham gia của các đối tượng sử dụng lao động. Giáo viên biên soạn, sửa đổi mục tiêu, chương trình học còn theo lối mòn, không liên hệ chặt chẽ với nhu cầu của doanh nghiệp.

Trang thiết bị phục vụ giảng dạy và thực hành nghề nhiều khoa còn thiếu, hiệu quả sử dụng chưa cao, số lượng đầu sách trực tiếp phục vụ cho các môn học, mô đun còn chưa đủ.

Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa chặt chẽ, chỉ dừng lại là cấu nối trung gian giữa HSSV và doanh nghiệp, bằng cách giới thiệu địa chỉ để HSSV tự liên hệ thực tập, chưa có những chiến lược liên kết đào tạo tầm vĩ mô nhằm mục đích cung cấp nguồn nhân lực cho các cơ sở này. Do vậy , công việc thực tập hàng năm và thực tập cuối khóa mang tính chất hình thức, đối phó, không rút được những kinh nghiệm và bài học quí báu trong thực tiễn hoạt động du lịch. Hệ quả là sinh viên ra trường chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành du lịch nói riêng và yêu cầu xã hội nói chung.

Tiểu kết Chương 2

Chương 2 đã phân tích, đánh giá chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng thông qua các tiêu chí như: Mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo; Trình độ kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy của giáo viên; Công tác tổ chức quản lý đào tạo; Công tác tuyển sinh, chất lượng của học viên; Thực trạng về cơ sở vật chất và nguồn tài chính cho đào tạo; Thực trạng mối quan hệ giữa Nhà trường với doanh nghiệp. Đây là cơ sở để phân tích, đánh giá và đưa ra các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng đào tạo Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng sẽ trình bày ở Chương 3. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề Trường Cao đẳng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp chất lượng đào tạo tại Trường cao đẳng nghề

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993