Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phân tích và đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty cổ phần May IV – Dệt May Nam Định dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Cơ sở khoa học
Trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam đối với khu vực và thế giới. Trong bối cảnh đó đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam không ngừng phấn đấu trong tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh. Một trong các hoạt động đó là hoạt động tiêu thụ nó có vai trò quyết định đối với sự thành bại của mỗi doanh nghiệp bởi vì tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình tái sản xuất có vai trò quyết định đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, tiêu thụ sản phẩm không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật, kỹ thuật mang tính tổng hợp. Bởi vậy để sản xuất ra sản phẩm đã khó nhưng tiêu thụ sản phẩm còn khó hơn, đòi hỏi các doanh nghiệp phải suy nghĩ, trăn trở để hoạch định chiến lược khả thi nhằm tiêu thụ sản phẩm được nhiều nhất đạt doanh thu cao nhất và cuối cùng là thu được lợi nhuận tối đa. Để tiêu thụ được hàng hóa trong điều kiện có nhiều doanh nghiệp cùng bán các sản phẩm tương tự đòi hỏi doanh nghiệp phải kinh doanh những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng, chất lượng tốt và giá cả cạnh tranh.
Tiêu thụ sản phẩm là một khâu quan trọng và không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần May IV- Dệt May Nam Định nói riêng. Mọi nỗ lực của công ty đều hướng tới mục tiêu sản phẩm của công ty được tiêu thụ ngày một tốt hơn trên thị trường. Trong điều kiện hiện nay, ngành may mặc nước ta là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn, phát triển nhanh nhưng sự cạnh tranh gay gắt và khốc liệt. Chính vì vậy, hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty cổ phần May IV- Dệt May Nam Định hiện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Làm thế nào để có thể thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm là một trong những vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay của công ty.
Trước tầm quan trọng có tính quyết định của hoạt động tiêu thụ sản phẩm, tôi đã chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty cổ phần May IV – Dệt May Nam Định.” cho luận văn tốt nghiệp của mình. Thông qua đề tài này tôi muốn củng cố và hoàn thiện kiến thức về hoạt động tiêu thụ sản phẩm nói chung, nghiên cứu một số giải pháp để khắc phục và nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Tập hợp lý luận về hoạt động marketing và hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp.
- Phân tích thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Cổ phần May IV- Dệt May Nam Định.
- Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần May IV- Dệt May Nam Định.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài. Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Cổ phần May IV- Dệt May Nam Định.
- Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung: Đề tài nghiên cứu chỉ dừng lại ở Công ty Cổ phần May IV- Dệt May Nam Định với hai vấn đề chính: Phân tích thực trạng tiêu thụ sản phẩm và nghiên cứu một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Thời gian: Số liệu phân tích chủ yếu từ năm 2022 đến năm 2024.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Để đảm bảo tính khả thi, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Điều tra, khảo sát thực tiễn, thu thập và xử lý những thông tin liên quan đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Cổ phần May IV- Dệt May Nam Định.
- Thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
- Chương 2: Phân tích thực trạng tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Cổ phần May IV- Dệt May Nam Định
- Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Cổ phần May IV- Dệt May Nam Định.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm về hoạt động tiêu thụ sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định ba vấn đề trung tâm cốt lõi trong hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: sản xuất và kinh doanh cái gì? Sản xuất và kinh doanh như thế nào? Và cho ai? Cho nên việc tiêu thụ hàng hoá là một vấn đề luôn được các doanh nghiệp quan tâm. Doanh nghiệp phải luôn luôn tìm ra câu trả lời làm sao để hàng hoá mà mình sản xuất ra không bị tồn đọng và nếu có thể thì đạt lợi nhuận tối đa. Theo hệ thống lý thuyết hiện nay, có nhiều cách giải thích thuật ngữ tiêu thụ hàng hoá (bán hàng), dưới đây là khái niệm của một số tác giả:
- Theo TS. Ngô Trần Ánh: Tiêu thụ hay bán hàng là quá trình chuyển giao quyền sở hữu từ người bán sang người mua đối với những sản phẩm hữu hình và chuyển giao quyền sử dụng hoặc quyền được hưởng thụ đối với một dịch vụ và người bán thu tiền về.
- Theo GS.TS Nguyễn Thành Độ và PGS.TS Nguyễn Ngọc Huyền: Tiêu thụ nếu hiểu theo nghĩa hẹp người ta thường đồng nghĩa tiêu thụ với bán hàng. Hiểu theo nghĩa rộng tiêu thụ bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc bán hàng và là một trong sáu chức năng hoạt động cơ bản của doanh nghiệp: tiêu thụ-sản xuất-hậu cần kinh doanh-tài chính-kế toán-quản trị doanh nghiệp. Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
- Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Quang: Tiêu thụ (bán hàng) có thể được hiểu theo 03 giác độ. Thứ nhất tiêu thụ với tư cách là một hành vi tương ứng với hành động thực hiện khi người bán đối mặt trực diện với người mua: thảo luận, thương lượng, ký kết hợp đồng và các thao tác trao đổi hàng-tiền giữa người mua và người bán. Trường hợp này còn được hiểu là tiêu thụ sản phẩm theo nghĩa hẹp. Ở đây đơn thuần chỉ là hành động trao đổi những cái cụ thể đã có của người bán và người mua. Thứ hai tiêu thụ với tư cách là một khâu của quá trình sản xuất/kinh doanh trong trường hợp này bán hàng chỉ là một tác nghiệp cụ thể của tiêu thụ sản phẩm.
Các nội dung của tiêu thụ sản phẩm trải rộng từ: nghiên cứu thị trường, xây dựng kế hoạch sản xuất/mua hàng, chuẩn bị hàng hoá và các điều kiện bán hàng khác và kết thúc ở khâu bán hàng. Thứ ba, tiêu thụ với tư cách là một quá trình thực chất đây là mở rộng nội dung của tiêu thụ sản phẩm với tư cách là một khâu theo quan điểm hệ thống của tư tưởng định hướng marketing.
Theo TS. Phạm Văn Dược và Đặng Thị Kim Cương: Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ. Qua tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển vốn của doanh nghiệp được hoàn thành.
Có thể nói, tiêu thụ hàng hoá là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Kết quả của hoạt động tiêu thụ là những số liệu về doanh số bán hàng, lượng tồn kho,.. trong chu kỳ khi sản phẩm đã được tiêu thụ.
1.2. Vai trò, ý nghĩa và mục đích của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
1.2.1. Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
- Tiêu thụ sản phẩm là hoạt động quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh
Bởi vì, nhờ tiêu thụ được sản phẩm, hàng hoá, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới diễn ra thường xuyên, liên tục. Tiêu thụ sản phẩm giúp doanh nghiệp bù đắp được những chi phí, có lợi nhuận đảm bảo cho quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng.
- Tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển mở rộng thị trường
Khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ trên thị trường hiện tại, doanh nghiệp có điều kiện đưa sản phẩm xâm nhập thị trường mới, tiếp cận thị trường tiềm năng. Từ đó, khối lượng sản phẩm tiêu thụ được nhiều hơn, doanh nghiệp có điều kiện để mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh.
Mở rộng thị trường là một trong những điều kiện để doanh nghiệp tăng lượng tiêu thụ và mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Tiêu thụ sản phẩm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tổ chức tốt hoạt động tiêu thụ sản phẩm góp phần giảm chi phí lưu thông, giảm thời gian dữ trữ hàng hoá, tăng vòng quay của vốn, rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng doanh thu và đem lại lợi nhuận cao.
- Tiêu thụ sản phẩm mang lại vị thế và độ an toàn cho doanh nghiệp
Vị thế của doanh nghiệp trên thị trường có thể được đánh giá thông qua phần trăm doanh số hàng hoá, sản phẩm bán ra của doanh nghiệp so với tổng giá trị hàng hoá, sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường. Tỷ trọng này càng lớn thì vị thế của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại.
1.2.2. Ý nghĩa và nhiệm vụ của hoạt động tiêu thụ Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
1.2.2.1. Ý nghĩa của hoạt động tiêu thụ
Qua tiêu thụ, tính chất hữu hình của sản phẩm mới được xác định một cách hoàn toàn. Có tiêu thụ được sản phẩm mới chứng tỏ năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện kết quả của công tác nghiên cứu thị trường,…
Qua quá trình tiêu thụ, doanh nghiệp thu hồi được tổng số chi phí có liên quan đến việc chế tạo và tiêu thụ sản phẩm, thực hiện được giá trị lao động thặng dư vào ngân sách, vào các quỹ doanh nghiệp nhằm mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên.
1.2.2.2. Nhiệm vụ của hoạt động tiêu thụ
Đánh giá đúng tình hình tiêu thụ về mặt số lượng, chất lượng và mặt hàng, đánh giá tính kịp thời của tiêu thụ.
Tìm ra những nguyên nhân và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tiêu thụ.
Đề ra các biện pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng tiêu thụ cả về mặt chất lượng lẫn số lượng.
1.3 Nghiên cứu thị trườn
1.3.1. Nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu
Nghiên cứu thị trường là bước khởi đầu quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào, nó quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp xác định chính xác nhu cầu thị trường thì sẽ có những quyết định sản xuất kinh doanh hợp lý, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Điều này cũng có nghĩa là “Chúng ta phải bán những thứ mà thị trường cần, chứ không phải bán những thứ mà chúng ta có”. Muốn biết thị trường cần cái gì thì các nhà quản trị phải tiến hành thu thập, xử lý thông tin. Qua điều tra nghiên cứu thị trường, các nhà quản trị ra quyết định chính xác hơn. Ngoài ra nó còn được dùng vào việc xác định hoặc giải đáp một vấn đề cụ thể nào đó, như việc tìm hiểu thái độ của người tiêu dùng đối với một nhãn hiệu hàng hoá nào đó,…
Sơ đồ 1.1. Quá trình nghiên cứu thị trường Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
Việc điều tra nghiên cứu thị trường còn có tác dụng khác như tìm hiểu được một số thông tin về đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp, những vấn đề còn tồn tại trong khâu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, những vấn đề cần cải tiến trong sản phẩm của doanh nghiệp…Qua việc điều tra nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sẽ tiến hành phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu theo để đáp ứng các mục tiêu marketing đã định.
Sơ đồ 1.2. Quá trình phân khúc và lựa chọn thị trường mục tiêu
Để lựa chọn thị trường mục tiêu, thông thường các doanh nghiệp dựa trên ba tiêu chí đánh giá để lựa chọn:
- Quy mô và sự phát triển của đoạn thị trường
- Khả năng sinh lời và độ rủi ro của đoạn thị trường
- Mục tiêu và nguồn lực của công ty
1.3.2. Phân tích chính sách marketing – mix
1.3.2.1. Chính sách sản phẩm
Thông qua hoạt động điều tra nghiên cứu và phân tích thị trường, doanh nghiệp sẽ xác định được nhu cầu của khách hàng về sản phẩm như tính năng kỹ thuật, công dụng, mẫu mã, mầu sắc, kiểu dáng, kích cỡ,… Như vậy có thể nói, chính sách sản phẩm là phương thức kinh doanh hiệu quả, dựa trên cơ sở bảo đảm thoả mãn nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách hàng trong từng thời kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
- a. Chính sách chất lượng sản phẩm
Khi cuộc sống ngày càng đầy đủ hơn thì con người càng quan tâm hơn đến sự hưởng thụ và sức khỏe của mình. Chất lượng sản phẩm là một trong những yếu tố quyết định trực tiếp đến sức khỏe và mức độ thỏa mãn của người tiêu dùng nên nó ngày càng được coi trọng. Tùy từng giai đoạn mà con người quan niệm về chất lượng sản phẩm khác nhau, chất lượng sản phẩm nó cũng thay đổi theo sự thay đổi của khoa học kỹ thuật và công nghệ. Ngày xưa, khi khoa học kĩ thuật chưa phát triển, cung nhỏ hơn cầu thì khách hàng không đòi hỏi nhiều về hình thức của sản phẩm, các dịch vụ kèm theo nó, hay thương hiệu của sản phẩm…. Cái mà họ quan tâm là độ bền của sản phẩm, càng bền càng tốt. Nhưng ngày nay khi cung lớn hơn cầu, chất lượng sản phẩm không chỉ phụ thuộc vào đặc tính nội tại của sản phẩm mà còn là chất lượng của các dịch vụ kèm theo nó, hình dáng có tiện lợi, bắt mắt hay không?, có đảm bảo sức khỏe của người tiêu dùng không?…..
Tuy nhiên, tùy từng loại khách hàng mà yêu cầu về chất lượng sản phẩm khác nhau chứ không phải sản phẩm phải có chất lượng cao mới là tốt. Mặt khác, chất lượng sản phẩm thường tỉ lệ thuận với chi phí sản xuất nên ảnh hưởng tới giá thành, thường thì sản phẩm chất lượng cao thường đi với giá cao. Do đó, trước khi đưa ra chính sách về chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp cần phải xem xét đến tiềm lực của mình, nhóm khách hàng mà doanh nghiệp định hướng tới, chất lượng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh rồi mới quyết định. Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
- b. Chính sách nhãn hiệu sản phẩm
Ngày nay, người tiêu dùng bị tràn ngập trong một thế giới thông tin hỗn tạp, do đó họ chỉ nhớ được những gì gây cho họ một ấn tượng mạnh mẽ và khác biệt. Nhãn hiệu sản phẩm là tên, biểu tượng, dấu hiệu hay một kiểu thiết kế được kết hợp bởi nhiều yếu tố nhằm phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp so với các sản phẩm khác. Do đó nhãn hiệu cũng là một trong những phương tiện để truyền đạt thông tin và tạo ấn tượng với người tiêu dùng. Một nhãn hiệu tốt đi kèm với một sản phẩm có chất lượng, và một thương hiệu có uy tín sẽ là một nguồn lực vô hình lôi kéo khách hàng và sự trung thành của họ.
Tuy nhiên, chi phí để gắn nhãn hiệu cho sản phẩm không phải là nhỏ và không phải sản phẩm nào cũng cần gắn nhãn hiệu. Do đó, doanh nghiệp cần xem xét kĩ vấn đề này để quyết định có nên gắn nhãn hiệu cho sản phẩm hay không và gắn như thế nào: cho riêng từng sản phẩm, cho một nhóm sản phẩm hay cho toàn bộ sản phẩm của doanh nghiệp…
- c. Chính sách về chủng loại sản phẩm
Chủng loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có liên quan chặt chẽ với nhau do giống nhau về chức năng hay do bán chung cho cùng một nhóm khách hàng, hay thông qua cùng những kiểu tổ chức thương mại, hay trong khuôn khổ cùng một dãy giá.
Một vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là vấn đề lựa chọn các quyết định về chủng loại sản phẩm. Doanh nghiệp có hai hướng để lựa chọn:
- Một là, phát triển chủng loại. Phát triển chủng loại có thể được thực hiện bằng các cách thức khác nhau.
- Hai là, bổ sung mặt hàng cho chủng loại sản phẩm. Điều đó có nghĩa là theo bề rộng mà doanh nghiệp đã lựa chọn, doanh nghiệp cố gắng đưa thêm mặt hàng mới trong khuôn khổ đó.
1.3.2.2. Chính sách giá
Giá là một trong những đặc trưng cơ bản của hàng hoá mà người tiêu dùng nhận thấy một cách trực tiếp nhất. Nó thể hiện ở ba đặc trưng: Thứ nhất, về mặt kinh tế: cần trả bao nhiêu tiền để có được hàng hoá đó; Thứ hai, về mặt tâm lý xã hội: thể hiện những giá trị thu được khi tiêu dùng hàng hoá; Thứ ba, giá cả thể hiện chất lượng giả định của hàng hoá.
Mức giá mà doanh nghiệp đưa ra phải đảm bảo tối đa hoá lợi nhuận nhưng lại phù hợp với người tiêu dùng và người tiêu dùng chấp nhận được. Mức giá đó sẽ thay đổi theo chu kỳ sống của sản phẩm, vì thế doanh nghiệp cần nhận thức một cách chính xác để có thể thay đổi hợp lý nhất.
Để định giá cho sản phẩm của mình, các doanh nghiệp có thể sử dụng một số phương pháp định giá.
- a. Định giá dựa vào chi phí
Phương pháp định giá cộng lãi vào giá thành: Theo phương pháp này giá bán sản phẩm được ấn định như sau:
- Giá bán sản phẩm = Giá thành sản phẩm (1 + mức lãi dự kiến)
Mức lãi dự kiến cho sản phẩm có thể thay đổi rất nhiều tuỳ thuộc vào các loại hàng hoá cũng như mục tiêu chính sách giá của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
- Định giá theo phương pháp hoà vốn
Khi định giá các doanh nghiệp cần xác định được mối quan hệ giữa giá ban với khối lượng tiêu thụ và điểm hoà vốn trong kinh doanh. Vì vậy phân tích hoà vốn để có những quyết định sáng suốt về giá là một vấn đề quan trong đối với các nhà quản trị marketing. Điểm hòa vốn của doanh nghiệp được xác định như sau:
Trong đó: QHV là sản lượng bán ra tại điểm hòa vốn P là giá bán sản phẩm dự kiến
- F là tổng chi phí cố định
- B là chi phí biến đổi bình quân cho một đơn vị sản phẩm
Định giá theo tỷ suất lợi nhuận mục tiêu: Theo phương pháp này doanh nghiệp xác định giá trên cơ sở đảm bảo tỷ suất lợi nhuận mục tiêu trên vốn đầu tư(ROI).
Công thức xác định giá theo lợi nhuận mục tiêu: P = C + ROI * IQ
Trong đó:
- P: Giá (đảm bảo lợi nhuận mục tiêu) C: Chi phí đơn vị
- ROI*I: Lợi nhuận mong muốn tính trên vốn đầu tư
- Q: Số lượng sản phẩm tiêu thụ
- b. Định giá theo hướng thị trường
Định giá theo giá trị cảm nhận: Với phương pháp này, các doanh nghiệp định giá bán của mình căn cứ vào cảm nhận của người mua về giá trị sản phẩm. Điều cốt lõi của phương pháp này là: Doanh nghiệp phải xác định đúng nhận thức của khách hàng về giá trị sản phẩm.
Định giá theo mức giá hiện hành hay định giá cạnh tranh: Khi xác định giá theo mức giá hiện hành, các doanh nghiệp sẽ lấy giá của đối thủ cạnh tranh làm cơ sở. Họ ít quan tâm đến chi phí sản xuất sản phẩm và cầu thị trường. Giá bán sản phẩm của doanh nghiệp có thể định cao hơn, thấp hơn, hoặc ngang bằng với giá của đối thủ cạnh tranh.
Định giá đấu thầu: Áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp tham gia dự thầu. Giá đấu thầu thuộc loại giá cạnh tranh. Các doanh nghiệp tham gia đấu thầu định giá dựa trên cơ sở dự đoán mức giá đấu thầu của các đối thủ cạnh tranh.
1.3.2.3. Chính sách phân phối
Phân phối là toàn bộ các công việc để đưa một sản phẩm, dịch vụ từ nơi sản xuất đến tận tay người tiêu dùng có nhu cầu, đảm bảo về chất lượng, thời gian, số lượng, chủng loại, kiểu dáng, màu sắc… mà người tiêu dùng mong muốn. Kênh phân phối (kênh marketing) là tập hợp các tổ chức, cá nhân có quan hệ với nhau, tham gia vào quá trình mua bán và chuyển quyền sở hữu đối với sản phẩm hữu hình hay chuyển quyền sử dụng đối với dịch vụ từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng.
- a. Phân loại kênh phân phối Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
Xét theo chiều dài của kênh có 2 loại kênh phân phối:
Kênh trực tiếp (Kênh 0 cấp): Người tiêu dùng mua hàng trực tiếp của nhà sản xuất, giữa sản xuất và tiêu dùng không có một khâu trung gian nào.
Kênh gián tiếp (Kênh nhiều cấp): Giữa người sản xuất và người tiêu dùng có một hoặc nhiều khâu trung gian.
- b. Nội dung của chiến lược phân phối
Xác định mục tiêu của chiến lược phân phối
Chiến lược phân phối có nhiều mục tiêu khác nhau nhưng có bốn mục tiêu chính là: bảo đảm phân phối nhanh chóng, tiêu thụ được khối lượng lớn sản phẩm dịch vụ, đảm bảo chất lượng hàng hoá, chi phí thấp.
Lựa chọn kiểu kênh phân phối
Các yếu tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn kiểu kênh phân phối
- Đặc điểm của thị trường
- Đặc điểm của sản phẩm
- Đặc điểm của nhà trung gian
- Đặc điểm cạnh tranh
- Đặc điểm của công ty
- Đặc điểm của môi trường
Sơ đồ 1.3. Các kênh phân phối hàng tiêu dùng
- Xác định cường độ phân phối
Phân phối rộng rãi: Là hình thức phân phối thông qua mọi nhà trung gian có nhu cầu phân phối sản phẩm của doanh nghiệp.
Phân phối chọn lọc: Là hình thức phân phối thông qua một số lượng hạn chế các nhà trung gian.
Phân phối độc quyền: Là hình thức phân phối thông qua một nhà trung gian duy nhất, thường gọi là nhà phân phối độc quyền hay đại lý độc quyền.
- Lựa chọn các thành viên của kênh
Để quản trị xung đột thành viên trong kênh phân phối, doanh nghiệp cần có
những chính sách rõ ràng và đúng đắn như:
- Xây dựng chính sách phân phối rõ ràng.
- Giáo dục các nhà trung gian chấp nhận những mục tiêu chung: cùng hợp sức cho sự sống còn, phát triển thị phần, chất lượng sản phẩm cao, thoả mãn khách hàng cao.
- Phát triển hệ thống marketing dọc để tạo nên sự gắn bó giữa các thành viên của kênh.
- Từ chối bán hàng cho những thành viên không chịu hợp tác.
- Xây dựng thương hiệu mạnh. Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
Khi xung đột lên đến mức cao, doanh nghiệp có thể áp dụng một trong ba cách sau: đàm phán trực tiếp, hoà giải thông qua người trung lập, đưa ra trọng tài phân xử.
1.3.2.4. Chính sách xúc tiến bán
Mỗi sản phẩm/ dịch vụ cụ thể trên những thị trường cụ thể trong những thời kỳ nhất định cần phải sử dụng những công cụ truyền thông phù hợp.
Mỗi doanh nghiệp có thể sử dụng những hỗn hợp truyền thông rất khác nhau. Các doanh nghiệp luôn tìm những phương cách mới để phối hợp giữa quảng cáo, quan hệ công chúng, khuyến mãi, bán hàng cá nhân, marketing trực tiếp có hiệu quả.
Doanh nghiệp thường áp dụng các công cụ xúc tiến sau để hỗ trợ cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm:
- a. Quảng cáo
Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện truyền tin để truyền các thông tin về hàng hóa, dịch vụ, về doanh nghiệp tới đối tượng người nhận tin là các khách hàng mà doanh nghiệp hướng tới. Mục đích của quảng cáo là nhằm thu hút sự chú ý, quan tâm của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp từ đó kích thích trí tò mò muốn được mua và sử dụng sản phẩm.
Sau đây là một số đặc tính nổi bật của một số phương tiện quảng cáo mà các doanh nghiệp thường sử dụng:
Bảng 1.1: Ưu- nhược điểm của một số phương tiện quảng cáo.
- b. Khuyến mại
Khuyến mại là nhóm công cụ truyền thông sử dụng hỗn hợp các công cụ cổ động, kích thích khách hàng nhằm tăng nhanh nhu cầu về sản phẩm tại chỗ, tức thì. Khuyến mại có tác động trực tiếp và tích cực tới việc tăng doanh số bằng những lợi ích vật chất bổ sung cho người mua.
- c. Marketing trực tiếp
Bản chất của Marketing trực tiếp là cố gắng kết hợp cả 3 yếu tố: quảng cáo, xúc tiến bán và bán hàng cá nhân để đi đến bán hàng trực tiếp mà không qua trung gian.
Những công cụ chủ yếu của Marketing trực tiếp là:
- Marketing bằng Catalog
- Marketing bằng thư trực tiếp
- Marketing qua điện thoại
Marketing trực tiếp trên truyền hình (phát các chương trình truyền hình giới thiệu về sản phẩm và cho khách hàng số điện thoại miễn phí để đặt hàng hoặc sử dụng toàn bộ chương trình truyền hình cho việc bán sản phẩm và dịch vụ).
Computermarketing: thực hiện các hoạt động Marketing và bán hàng thông qua hệ thống máy tính có nối mạng.
- d. Quan hệ công chúng và tuyên truyền Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
Quan hệ công chúng và tuyên truyên bao gồm nhiều hình thức truyền thông nhằm tạo nên thái độ thân thiện đối với doanh nghiệp và những sản phẩm của doanh nghiệp mà thường không nói rõ một thông điệp bán hàng cụ thể nào. Khán giả mục tiêu có thể là khách hàng, cổ đông, cơ quan nhà nước hay các nhóm dân cư có mối quan tâm riêng.
Một số mục đích của quan hệ công chúng và tuyên truyền:
- Quan hệ với báo chí
- Truyền thông của doanh nghiệp
- Vận động hành lang
- Tư vấn
e. Bán hàng trực tiếp
Bán hàng trực tiếp là hình thức thuyết trình sản phẩm do nhân viên của doanh nghiệp thực hiện trước khách hàng, cụ thể là mặt đối mặt hoặc qua điện thoai. Địa điểm thuyết trình có thể tại nhà riêng, tại công sở hoặc những nơi tập trung những người mua triển vọng.
1.3.3. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm
Tổ chức tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp trước khi hoạt động sản xuất kinh doanh, họ đều nghiên cứu, lập kế hoạch cho bộ máy tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Bộ máy tiêu thụ chính là nơi thực hiện nhiệm vụ kế hoạch cho việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tiêu thụ được nhiều hay ít, nhanh hay chậm đều nhờ vào hoạt động của bộ máy tổ chức tiêu thụ sản phẩm.
Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động tiêu thụ trong doanh nghiệp. Bộ máy này có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường và nhu cầu của thị trường đối với các loại sản phẩm của doanh nghiệp. Thông qua nhu cầu của khách hàng, bộ máy này sẽ có kế hoạch cụ thể liên quan đến sản phẩm của doanh nghiệp như giá, phân phối, khuyến mãi, khuyến mại,…
1.3.4. Phân tích kết quả công tác tiêu thụ sản phẩm Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
Phân tích, đánh giá kết quả công tác tiêu thụ sản phẩm là nhiệm vụ cần thiết phải làm đối với mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải định kỳ đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm nhằm hiểu được tiến trình, quá trình tiêu thụ sản phẩm của công ty. Thông qua kết quả phân tích công ty có những đối sách hợp lý trong từng thời điểm để kích thích quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Đồng thời cũng biết được những tồn tại hạn chế của doanh nghiệp trong khâu tiêu thụ sản phẩm, những vấn đề gì còn phải giải quyết, những vấn đề gì cần phải thay đổi để nâng cao kết quả tiêu thụ sản phẩm. Để đánh giá được kết quả tiêu thụ sản phẩm chúng ta cần phải thực hiện các bước sau:
- Lập biểu tiêu thụ, các chỉ tiêu có liên quan
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng
- Biện pháp khắc phục trở ngại, vướng mắc để đẩy mạnh tiêu thụ
1.3.4.1. Phân tích tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp
- a. Nhiệm vụ phân tích tình hình tiêu thụ
Đánh giá quá trình tiêu thụ về số lượng sản phẩm hàng hoá, mặt hàng, đánh giá tính kịp thời của tiêu thụ.
Chỉ ra những nguyên nhân, vướng mắc trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, những nguyên nhân, vướng mắc đó có thể khắc phục bằng cách nào? Bằng cách nào để khắc phục và đẩy mạnh quá trình tiêu thụ.
Đưa ra biện pháp, cơ chế khuyến khích nhằm thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm. Hạn chế các nguyên nhân do chủ quan gây ra trong quá trình tiêu thụ sản phẩm.
- b. Phân tích chung tình hình tiêu thụ
Phân tích chung tình hình tiêu thụ là phân tích hoạt động tiêu thụ toàn doanh nghiệp đối với mỗi mặt hàng. Qua đó xem xét mối quan hệ giữa dự trữ, đặt hàng và tiêu thụ nhằm xác định ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ.
Phân tích nhu cầu thị trường đối với sản phẩm nhằm biết được nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm, chất lượng và giá cả…Qua đây biết được khả năng của doanh nghiệp đối với việc cung cấp sản phẩm cho khách hàng. Doanh nghiệp có thể đáp ứng được với những yêu cầu của khách hàng không? Đáp ứng được bao nhiêu phần trăm và cần phải cải thiện vấn đề gì?
Phân tích thị phần nhằm xác định được thị phần của doanh nghiệp, của đối thủ cạnh tranh, qua đó biết được tình hình và vị trí cũng như biết được mức độ ảnh hưởng của doanh nghiệp đối với khách hàng.
- c. Phân tích cụ thể với từng mặt hàng tiêu thụ tại doanh nghiệp
Qua phân tích cụ thể chúng ta biết được loại hàng hoá nào đang được khách hàng sử dụng nhiều, ít, lý do dẫn tới việc tiêu thụ nhiều ít, nhanh chậm của các mặt hàng. Do giá cả, chất lượng, mẫu mã,… những yếu tố nào ảnh hưởng tới kết quả tiêu thụ sản phẩm, mặt hàng đó. Nhờ đó doanh nghiệp có hướng giải quyết và đề xuất biện pháp giải quyết.
1.3.4.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
- a. Những nguyên nhân nội tại (doanh nghiệp)
Doanh nghiệp có những hoạt động làm giảm, tăng kết quả tiêu thụ sản phẩm của mình. Những nguyên nhân bên trong đó là nguyên nhân nội tại như:
Có thể doanh nghiệp tiêu thụ hàng hoá không tốt vì hoạt động dữ trữ không tốt. Mỗi khi khách hàng đến lấy hàng thì trong kho không còn hàng hoá phải chờ đợi. Mỗi khi khách hàng đến hỏi mua hàng thì nhân viên giao hàng không có tại doanh nghiệp… Những nguyên nhân như vậy có thể làm giảm nhiệt tình của khách hàng khi sử dụng hàng hoá của doanh nghiệp. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần phải tổ chức tốt bộ máy nhân lực bên trong nhằm giảm tổi thiểu những tác động nội tại, từ đó làm giảm kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp.
Nguyên nhân về chất lượng hàng hoá của doanh nghiệp có vấn đề khi sử dụng dẫn tới khách hàng không tin tưởng vào tên tuổi, thương hiệu của doanh nghiệp. Do vậy, hoạt động tiêu thụ giảm. Để đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp đều phải quan tâm tới chất lượng hàng hoá của doanh nghiệp để thoả mãn nhu cầu của khách hàng với giá cả hợp lý nhất và mang lại lợi ích ngày càng nhiều cho khách hàng. Chỉ có nâng cao chất lượng sản phẩm và nâng cao thương hiệu, tên tuổi sản phẩm trên thị trường thì doanh nghiệp mới có cơ hội đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường.
- c. Nguyên nhân về khách hàng
Mỗi giai đoạn khác nhau nhu cầu của khách hàng về hàng hoá, chất lượng là khác nhau. Xã hội càng phát triển, kinh tế càng phát triển, thu nhập của khách hàng càng cao thì nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm càng thay đổi. Thu nhập của khách hàng có tác động trực tiếp đến việc mua bán sản phẩm hàng hoá do đó tác động trực tiếp đến kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp. Nắm bắt được thay đổi này thì doanh nghiệp cần có biện pháp tác động tích cực tới sản phẩm nhằm thay đổi kịp thời nhu cầu của khách hàng.
- d. Những nguyên nhân về đối thủ cạnh tranh
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường luôn phải cạnh tranh với các đối thủ của mình. Có thể là cạnh tranh để giữ vững thị phần, cạnh tranh để gia tăng thị phần, hay cũng có thể là cạnh tranh để mở cửa tham gia vào thị trường. Sản phẩm của doanh nghiệp có thể cạnh tranh với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh không thì tuỳ thuộc vào chất lượng, giá cả và công dụng của sản phẩm. Sản phẩm của doanh nghiệp sẽ đứng vững được trên thị trường nếu những yếu tố trên thoả mãn được nhu cầu của khách hàng. Khi doanh nghiệp đứng trong thị trường thì cần phải hiểu được đối thủ cạnh tranh của mình. Đối thủ cạnh tranh của mình có những điểm mạnh, điểm yếu gì? Qua đó doanh nghiêp xây dựng chiến lược cạnh tranh với các đối thủ của mình thông qua hoạt động marketing.
- d. Các nguyên nhân thuộc về nhà nước
Các chính sách về pháp luật, thuế, chính sách về bảo hộ,…làm ảnh hưởng tới khả năng tiêu thụ của doanh nghiệp. Thông qua các công cụ pháp luật về đầu tư sản xuất kinh doanh, nhà nước sẽ hạn chế hay thúc đẩy các ngành sản xuất kinh doanh. Nếu những ngành được khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh thì các doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi, và ngược lại các doanh nghiệp không thuộc hình thức khuyến khích sản xuất kinh doanh sẽ không có được lợi thế đó và sẽ dẫn tới kìm hãm sản xuất kinh doanh.
1.4. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tiêu thụ tại doanh nghiệp Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
1.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả tiêu thụ
Việc đánh giá kết quả tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp được dựa trên một số chỉ tiêu sau:
- a. Hệ số tiêu thụ
Trong đó:
- Htt: Hệ số tiêu thụ
- Qtt: Số lượng hàng hoá tiêu thụ trong kỳ
- Qsx : Số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ
b. Doanh thu tiêu thụ trong kỳ
Trong đó:
- DT: Doanh thu tiêu thụ trong kỳ.
- Qi: Số lượng sản phẩm i tiêu thụ trong kỳ
- Pi: Giá bán sản phẩm i.
c. Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch tiêu thụ
- T = P1 * Q1 *100% P0 * Q0
Trong đó:
- Q1: Sản lượng tiêu thụ thực tế.
- Q0: Sản lượng tiêu thụ kế hoạch.
- P0: Giá bán đơn vị sản phẩm ở kỳ kế hoạch
e. Tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm
Chỉ tiêu này cho biết mức độ hoàn thành kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong một kỳ (thường là một năm). Hệ số này càng tiến đến 1 thì quá trình tiêu thụ càng hiệu quả.
1.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tiêu thụ Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
a. Tỷ lệ chi phí hoạt động tiêu thụ trên tổng doanh thu
Doanh nghiệp cần đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ dựa trên tỷ lệ phần trăm tổng chi phí bỏ ra cho hoạt động tiêu thụ so với tổng doanh thu bán hàng thu về. Các chỉ số cần theo dõi và phân tích là: chi phí cho nhân công, quảng cáo, kích thích tiêu thụ, nghiên cứu thị trường.
Thông thường tổng chi phí này chiếm không quá 30% tổng doanh thu bán hàng trong kỳ hạch toán.
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu trong kỳ thì doanh nghiệp phải chi phí hết bao nhiêu đồng. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ việc tiêu thụ sản phẩm càng hiệu quả.
- b. Chỉ tiêu doanh thu trên một đồng vốn sản xuất (Sức sản xuất của vốn)
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp, một đồng vốn kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Do đó nó có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp trong việc quản lý vốn chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả đồng vốn kinh doanh.
- a. Chỉ tiêu doanh lợi theo chi phí
Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
- d. Vòng quay hàng tồn kho
Hệ số vòng quay hàng tồn kho đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua hiệu qủa sử dụng vốn lưu động.
Giá trị vòng quay hàng tồn kho càng lớn cho biết doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng hiệu quả, góp phần nâng cao tính năng động trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vòng quay thấp, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp lưu trữ quá nhiều hàng tồn kho, dòng tiền sẽ giảm đi, vốn hoạt động kém, gánh nặng trả lãi tăng lên, tốn kém chi phí lưu giữ và rủi ro khó tiêu thụ do không phù hợp với nhu cầu tiêu dùng hay thị trường. Vòng quay hàng tồn kho của các doanh nghiệp có quy mô lớn có xu hướng cao hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Riêng doanh nghiệp thuộc lĩnh vực thương mại dịch vụ thì vòng hàng tồn kho có xu hướng càng lớn khi doanh nghiệp có quy mô càng nhỏ.
1.5. Các phương hướng đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm
1.5.1. Hoàn thiện hoạt động tiêu thụ Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
Thay đổi thị trường: Nếu thị trường hiện tại không phù hợp với những điểm mạnh của doanh nghiệp, và quy mô tương lai kém phần hấp dẫn, đối thủ cạnh tranh nhiều hay có đối thủ rất mạnh, thì doanh nghiệp cần tìm cho mình khúc thị trường mới phù hợp hơn.
Hoàn thiện sản phẩm: Đưa ra sản phẩm mới với tính năng mới hoàn toàn, nâng cao chất lượng, thay đổi kiểu dáng, bao bì mẫu mã.
Hoàn thiện chính sách giá bán: Mức giá bán cho người tiêu dùng, mức giá cho nhà trung gian (mức giá, tỷ lệ chiết khấu, hình thức thanh toán).
Hoàn thiện kênh phân phối: Mở điểm phân phối mới, điểm bán mới, nâng cao hiệu quả của những điểm bán hiện tại.
Hoàn thiện xúc tiến bán: Tăng cường quảng cáo, khuyến mãi, thay đổi cơ cấu xúc tiến bán cho phù hợp hơn với tình hình thực tế.
1.5.2. Hoàn thiện hoạt động khác
Hoàn thiện sản xuất: Thay mới các máy móc cũ bằng các máy móc mới, chuyên môn hoá sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm.
Hoàn thiện về nhân sự: Tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ công nhân viên nhằm nâng cao tay nghề cho cán bộ công nhân viên, tập trung đào tạo các kỹ sư có tay nghề cao làm cán bộ nòng cốt cho công ty.
Hoàn thiện về tài chính: Hoàn thiện về thủ tục thanh toán, hỗ trợ tài chính cho nhà phân phối, tăng thêm chính sách phân bổ ngân sách cho xúc tiến bán của doanh nghiệp.
1.6. Dữ liệu và phương pháp phân tích
- Dữ liệu phục vụ phân tích
Để phục vụ phân tích kết quả tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp có thể có hai loại dữ liệu: Dữ liệu bên trong và dữ liệu bên ngoài doanh nghiệp.
Dữ liệu bên trong doanh nghiệp: Lượng sản xuất và tiêu thụ, doanh thu và lợi nhuận, lượng tồn kho, giá thành và giá bán. Nguồn dữ liệu được thu thập từ các phòng ban của doanh nghiệp.
Dữ liệu bên ngoài doanh nghiệp: Khách hàng (tổng nhu cầu, thị hiếu,..) đối thủ cạnh tranh (đặc điểm sản xuất, năng lực sản xuất, chiến lược cạnh tranh…) môi trường vĩ mô (môi trường văn hoá xã hội, chính trị – pháp luật, khoa học – công nghệ).
Nguồn dữ liệu bên ngoài này được thu thập từ số liệu điều tra của doanh nghiệp, của ngành, tạp chí, của nhân viên thị trường, hay qua các catalog, bảng báo giá của đối thủ, qua website, diễn đàn,…
1.6.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Dùng phương pháp so sánh giản đơn để phân tích kết quả tiêu thụ. Phương pháp so sánh có hai dạng so sánh là so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối.
So sánh tuyệt đối: DC = C1 – C0
- C1: là số liệu kỳ phân tích
- So sánh tương đối: DC% = êéC1 – C0
- C0: là số liệu kỳ gốc
1.7. Trình tự phân tích kết quả tiêu thụ sản phẩm Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
Bước 1: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ sản phẩm
Nhân tố bên trong doanh nghiệp: Gồm nhân tố thuộc về hoạt động tiêu thụ: nghiên cứu thị trường, chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến, và nhân tố không thuộc hoạt động tiêu thụ: sản xuất, nhân sự, tài chính, chiến lược kinh doanh chung.
Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp: Khách hàng, môi trường văn hoá – xã hội, môi trường chính trị – pháp luật, môi trường kinh tế và công nghệ, môi trường cạnh tranh, môi trường địa lý, sinh thái.
Bước 2: Phân tích sự biến động của kết quả tiêu thụ sản phẩm
Phân tích khái quát kết quả tiêu thụ sản phẩm: tổng lượng bán, doanh thu.
Phân tích chi tiết kết quả tiêu thụ: theo khu vực địa lý, theo sản phẩm, theo phân phối, theo khách hàng, theo mùa.
Bước 3: Phân tích kết quả điều tra thị trường
Bước 4: Nhận xét và đánh giá chung về kết quả tiêu thụ và yếu tố ảnh hưởng.
Tóm tắt chương 1
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp.Tiêu thụ sản phẩm là một hoạt động trực tiếp ảnh hưởng đến kết qủa sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu hoạt động tiêu thụ sản phẩm tốt, nhanh sẽ giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, trang trải chi phí, tạo cơ sở tăng lợi nhuận, thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu hoạt động tiêu thụ sản phẩm không tốt sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn, tăng rủi ro về tài chính, làm gián đoạn quá trình sản xuất sau đó của doanh nghiệp.
Vì vậy, trong nội dung chương 1 đề cập cơ sở lý thuyết về hoạt động tiêu thụ sản phẩm như các chỉ tiêu đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm; các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, vấn đề Marketing mix về tiêu thụ sản phẩm…Từ đó làm cơ sở phân tích thực trạng tiêu thụ sản phẩm ở chương 2 và đề ra được các giải pháp tiêu thụ sản phẩm ở chương 3.
Bên cạnh đó, nội dung chương 1, cũng đề cập đến phương pháp nghiên cứu và phân tích các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài và môi trường bên trong của doanh nghiệp. Từ đó giúp ta thấy những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi khó khăn về hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Trên cơ sở đó giúp cho các nhà lãnh đạo của doanh nghiệp có những nhận định chính xác về tiêu thụ sản phẩm tư đó đưa ra các giải pháp phù hợp trong tương lai. Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng tiêu thụ sản phẩm tại Công ty May

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty May […]