Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận Văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: thực tiễn và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trách nhiệm chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình chứng minh vụ án hình sự dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự

3.1.1. Những kết quả đạt được

3.1.1.1. Giai đoạn khởi tố, điều tra.

Theo báo cáo tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của VKS nhân dân tối cao ngày 19/01/ 2015, trong giai đoạn truy tố, điều tra VAHS CQTHTT đã thực hiện tốt trách nhiệm của mình. Số vụ án, số bị can được truy tố, điều tra tăng lên theo từng năm, chất lượng giải quyết vụ án của CQTHTT đã đảm bảo theo quy định của pháp luật. Công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có nhiều chuyển biến tích cực, Công an và CQĐT các cấp tổ chức trực ban (24/24h) để tiếp nhận đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, lập sổ sách để theo dõi, quản lý; tăng cường xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận. Số vụ án được khởi tố, điều tra năm sau cao hơn năm trước, chất lượng được nâng lên. Sự phối hợp giữa trinh sát và điều tra tố tụng đã góp phần nâng cao chất lượng điều tra nhiều vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp Chất lượng công tác điều tra, xử lý các loại tội phạm có chuyển biến tốt hơn, nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng, dư luận quan tâm được phát hiện, điều tra và xử lý kịp thời; tỷ lệ án kết thúc điều tra tăng lên rõ rệt, đạt trên 80% Chất lượng điều tra của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra từng bước được nâng cao, kịp thời phát hiện tội phạm trong lĩnh vực được giao quản lý Chất lượng giám định từng bước được nâng cao, góp phần giải quyết vụ án khách quan, chính xác [ 49].

Bảng 3.1. Số bị can bị khởi tố – số liệu từ năm 2010 đến 2015

Theo bảng 3.1 tổng số bị can bị khởi tố đã tăng đáng kể theo từng năm, chỉ trong khoản từ năm 2010 đến năm 2015 số bị can bị khởi tố lên tới 76.730 bị can. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

3.1.1.2.Trong giai đoạn truy tố, xét xử

Bảng 3.2. Số vụ án VKS truy tố và số vụ án TA đưa ra xét xử từ năm 2010 đến 2015

Theo bảng 3.2, có thể nhận thấy hoạt động giải quyết VAHS của CQTHTT đã có nhiều chuyển biến tích cực. Số vụ án được đề nghị truy tố đã tăng lên hàng năm, thể hiện trách nhiệm điều tra VAHS của CQĐT và VKS đã được nâng cao. Hoạt động chứng minh tội phạm của Hội đồng xét xử ngày càng có hiệu quả. Chỉ trong 6 năm từ năm 2010 đến năm 2015 số vụ án được truy tố và đưa ra xét xử đã tăng lên đáng kể. Số vụ án được VKS truy tố năm 2011 là 66.987 vụ  tăng 3,4 % so với năm 2010 là 63.602 vụ; năm 2012 truy tố là 70.765 vụ tăng 3,8% so với năm 2011; năm 2013 số vụ truy tố là 76.432 tăng 5,7% so với năm 2013; năm 2014 là 75.764 vụ giảm 0,6% so với năm 2013; năm 2015 số vụ truy tố là 82.071 tăng 6,5%. Theo đó số vụ án được TA quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng tăng theo số vụ được VKS truy tố, cụ thể: Năm 2010 số vụ án được đưa ra xét xử là 52.797 chiếm 83% số vụ truy tố là 63.602 vụ; năm 2011 số vụ án được đưa ra xét xử là 59.197 vụ chiếm 88,4% số vụ truy tố là 66.987 vụ; năm 2012 số vụ án được đưa ra xét xử là 65.276 vụ chiếm 92,3%  so với số vụ truy tố là 70.765 vụ ; năm 2013 số vụ án được đưa ra xét xử là 68.243 vụ chiếm 89,3% so với số vụ truy tố là 76.432 vụ; năm 2014 số vụ án được đưa ra xét xử là 70.098 vụ chiếm 92,8% số vụ truy tố là 75.564; năm 2015 số vụ án được đưa ra xét xử là 78.674 chiếm 95,9% số vụ truy tố là 82.071 vụ.

Công tác thực hành quyền công tố và kiểm soát hoạt động điều tra được chú trọng. VKS các cấp đề cao trách nhiệm, phối hợp chặt chẽ với CQĐT ngay từ đầu, chủ động đề ra yêu cầu điều tra đối với nhiều vụ án, bảo đảm việc điều tra có căn cứ, đúng pháp luật. Số vụ kết thúc điều tra chuyển VKS truy tố, số vụ án truy tố chuyển TA để xét xử đạt tỷ lệ cao. Công tác xét xử các VAHS cơ bản được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, chất lượng ngày càng cao. Các cơ quan tư pháp ở địa phương đã tăng cường phối hợp tổ chức các phiên tòa để rút kinh nghiệm, nâng cao kỹ năng thẩm vấn, tranh tụng tại phiên tòa. Trách nhiệm công tố của KSV tại các phiên tòa có chuyển biến tích cực; KSV đã chủ động hơn trong việc xét hỏi, tranh luận và đối đáp với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác [49]

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

3.1.2. Hạn chế về trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Bên cạnh những kết quả mà CQTHTT đạt được thì vẫn còn tồn tại những hạn chế. CQTHTT chưa thực thi hết trách nhiệm của mình trong quá trình làm sáng tỏ VAHS. thực tiễn của hoạt động điều tra cũng cho thấy bộc lộ không ít sai sót cần được khắc phục kịp thời như thiếu trách nhiệm trong việc thu thập chứng cứ vụ án, xử lý vật chứng của vụ án không đúng quy định của pháp luật, không áp dụng những biện pháp cần thiết để kiểm tra cũng như đánh giá chứng cứ toàn diện. Các vụ án gặp khó khăn khi giải quyết gây ra hậu quả oan sai chủ yếu là do những khiếm khuyết nêu trên. Trong một số trường hợp, chất lượng hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS còn chưa cao, dẫn đến trả hồ sơ để điều tra bổ sung, không đúng pháp luật, dẫn đến oan sai, bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội. TA cấp sơ thẩm đã phát hiện và khắc phục những thiếu sót trong hoạt động chứng minh ở những giai đoạn trước đó, đặc biệt là giai đoạn điều tra VAHS

Ví dụ: Điển hình như vụ án quán Café Xin Chào tại Thành phố Hồ Chí Minh truy tố ông Nguyễn Văn Tấn về tội “kinh doanh trái phép”. Cáo trạng của VKSND huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh xác định, ngày 18/8/2015, ông Tấn bị Công an huyện Bình Chánh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Kinh doanh buôn bán cà phê giải khát, ăn sáng… khi chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Ông Tấn có xuất trình giấy hẹn ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng không được chấp nhận. Sau khi bị xử phạt, đến 10/9/2015 Công an huyện Bình Chánh phát hiện ông Tấn tiếp tục kinh doanh trái phép cà phê, nước giải khát… khi chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Nửa tháng sau, thủ trưởng công an huyện đã ra quyết định khởi tố bị can đối với ông Tấn. Cáo trạng của VKS truy tố ông Tấn xác định, Sau khi bị xử phạt, đến 10/9/2015 Công an huyện Bình Chánh phát hiện ông Tấn tiếp tục kinh doanh trái phép cà phê, nước giải khát… khi chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Theo TAND huyện Bình Chánh, cùng một hành vi vi phạm kinh doanh trái phép nhưng biên bản lập ngày 13/8/2015 có nội dung xác định hành vi của ông Tấn là hoạt động kinh doanh nhưng không có giấy đăng ký kinh doanh. Còn trong biên bản ngày 17/8/2015, được lập tại trụ sở Công an huyện với các hành vi vi phạm gồm: không thực hiện khám sức khỏe định kỳ cho nhân viên thuộc diện phải khám sức khỏe, sử dụng khu vực chế biến, bảo quản không đảm bảo vệ sinh; không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm; không lưu giữ đầy đủ hồ sơ về nguồn gốc xuất xứ nguyên liệu về quá trình sản xuất kinh doanh thực phẩm.Trong khi đó, quyết định xử phạt hành chính ngày 18/8/2015 của Công an huyện lại căn cứ vào cả hai biên bản trên. TA quyết định trả hồ sơ cho VKS điều tra bổ sung, làm rõ thủ tục xử lý vi phạm hành chính đối với chủ quán cà phê về hành vi kinh doanh thuộc trường hợp phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm nhưng chưa được cấp đã tiến hành kinh doanh. Ngày 24/4/2016 VKSND huyện Bình Chánh (TP HCM) đã công bố và trao quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với ông Nguyễn Văn Tấn – chủ quán cà phê Xin Chào bị truy tố trước đó về tội Kinh doanh trái phép. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Bảng 3.3. Số vụ án bị TA trả hồ sơ điều tra bổ sung từ năm 2010 – 2015

Theo bảng số liệu trên, thực trạng TA trả hồ sơ để điều tra bổ sung tuy đã giảm theo các năm nhưng nhìn chung số vụ án vẫn ở mức cao. Lý do của việc phải trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung do: Thiếu những chứng cứ quan trọng mà ở giai đoạn điều tra chưa làm rõ như thiếu chứng cứ xác định năng lực trách nhiệm hình sự, tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội, chưa làm rõ nhân thân người phạm tội, chưa chứng minh vai trò, mục đích, động cơ phạm tội; Những chứng cứ để xác định hành vi phạm tội, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; Xác định trách nhiệm của những người có liên quan; Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội danh khác hoặc có người đồng phạm khác, trong quá trình điều tra có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, hành vi phạm tội, điều tra không chính xác cần được khởi tố bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố cho đúng với hành vi phạm tội… Như vậy, việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan THTT chủ yếu là do thiếu các chứng cứ để chứng minh các tình tiết của vụ án, điều này nhìn nhận dưới phương diện liên quan đến đối tượng chứng minh có cơ sở khẳng định rằng: Trong những vụ án này, các cơ quan THTT chưa xác định đúng phạm vi giới hạn của đối tượng chứng minh trong vụ án hoặc những tình tiết là đối tượng cần phải chứng minh trong vụ án chưa được cơ quan THTT chứng minh đầy đủ.

Theo báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Bộ luật TTHS năm 2003 của VKS nhân dân tối cao thì hạn chế chủ yếu trong giai đoạn điều tra VAHS đó là: Công tác điều tra, phát hiện tội phạm vẫn còn có điểm hạn chế, thiếu sót và vi phạm cần được khắc phục. Tỷ lệ khám phá tội phạm ở một số địa phương chưa cao. Còn có một số trường hợp các ĐTV mớm cung, bức cung, nhục hình đối với bị can, làm cho việc điều tra thiếu khách quan và không đầy đủ, là một trong nguyên nhân dẫn đến tại phiên tòa, bị cáo phản cung, không thừa nhận nội dung lời khai tại CQĐT. Việc điều tra, thu thập, đánh giá chứng cứ trong một số vụ án chưa đầy đủ, kịp thời; vật chứng bị mất, hư hỏng không thể phục hồi hoặc thu giữ tràn lan những vật không liên quan đến vụ án, làm cho việc nhận định, đánh giá khác nhau giữa các CQTHTT, dẫn đến tình trạng chậm khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc khởi tố không đúng tội danh, để lọt tội phạm, gây bức xúc trong dư luận nhân dân. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Một trong những tồn tại lớn nhất trong quá trình giải quyết VAHS ở nước ta hiện nay đó là tình trạng án oan, oan sai trong TTHS. Điều 1 Bộ luật TTHS năm 2003 xác định một trong những mục đích của Bộ luật là xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Đó cũng chính là điểm đích mà công cuộc cải cách tư pháp hướng tới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và tư pháp để bảo vệ quyền con người và công lý.

Một vụ án điển hình của cả nước trong thời gian qua đó là vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn tại Bắc Giang. Ông Chấn vướng lao lý từ tháng 8/2003 khi Công an huyện Việt Yên, Bắc Giang cho rằng ông là thủ phạm giết cô hàng xóm Nguyễn Thị Hoan tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên. Qua các cấp xét xử, tòa án xác định ông phạm tội giết người, tuyên án tù chung thân. Trong 10 năm ngồi tù, ông liên tục kêu oan và có lúc tìm cách quyên sinh nhưng được các phạm nhân khác phát hiện kịp thời. Bà Nguyễn Thị Chiến, vợ ông, cũng ròng rã “gõ cửa” nhiều cơ quan công quyền kêu oan cho ông Chấn. Tháng 7/2013, trong đơn gửi VKSND Tối cao, bà cho hay đã tự xác minh được thủ phạm là Lý Nguyễn Chung. Xem xét đơn, Cục điều tra VKSND Tối cao đã vào cuộc. ngày 4/11/2013, ông Chấn được tạm tha về nhà sau 10 năm bị bắt. Hai hôm sau, TAND Tối cao trong phiên tái thẩm đã hủy hai bản án kết tội ông Chấn giết người. Vụ án được điều tra lại. Sau đó, Lý Nguyễn Chung ra đầu thú, nhận đã giết chị Hoan để cướp 2 chiếc nhẫn cùng 59.000 đồng. Trước việc ông Chấn tố cáo nhóm cán bộ điều tra ép cung, dùng nhục hình, VKSND Tối cao đã phê chuẩn quyết định khởi tố, bắt tạm giam ông Trần Nhật Luật (nguyên thượng tá, phó công an huyện Việt Yên, Bắc Giang) và ông Đặng Thế Vinh (nguyên trưởng phòng 10, VKSND tỉnh Bắc Giang) để điều tra về hành vi Cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án.Ông Phạm Tuấn Chiêm (65 tuổi), cựu thẩm phán Toà phúc thẩm TAND Tối cao, chủ tọa phiên phúc thẩm bác đơn kêu oan của ông Chấn, cũng bị điều tra về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Tháng 3 vừa qua, ông Chấn chính thức “sạch tội” khi hai bản án dân sự tuyên buộc ông phải có trách nhiệm bồi thường, cấp dưỡng cho con chị Hoan, được huỷ. Cuối tháng 5, sau 10 tháng thương lượng, TAND Tối cao đạt được thoả thuận bồi thường 7,2 tỷ đồng trong khoảng 9,3 tỷ đồng ông yêu cầu.

Có thể thấy rằng đây mới chỉ là một vụ án điển hình thể hiện sự vi phạm trách nhiệm chứng mịnh trong vụ án hình sự của các CQTHTT, một vụ án oan để lại tổn thất về tinh thần, tình cảm đối với người bị oan. Mặt khác, đã làm thiệt hại một khối tài sản lớn của Ngân sách Nhà nước, nó đã làm giảm lòng tin của nhân dân vào pháp chế. Việc làm oan người vô tội luôn luôn là hệ quả của hành vi trái pháp luật, do sự thiếu trách nhiệm trong quá trình điều tra của một số người tiến hành tố tụng. Qua các vụ án oan, sai một đặc điểm chung rất dễ nhận thấy là luôn có những vi phạm tố tụng nghiêm trọng trong quá trình tiến hành tố tụng, kết luận vụ án luôn là kết quả của sự truy xét qua áp đặt chủ quan của người tiến hành tố tụng, có dấu hiệu mớm cung, bức cung trong quá trình điều tra (song hầu như không chứng minh được hoặc không được Hội đồng xét xử xem xét) như vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn là một ví dụ điển hình. Và trước đó TTHS Việt Nam cũng đã có những vụ án oan như vụ án Vườn Điều ở Bình Thuận, vụ trộm cắp cổ vật ở Bắc Ninh…. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến oan, sai trong TTHS. Thực tiễn vận hành hệ thống tư pháp hình sự thời gian qua cho thấy hệ thống pháp luật và việc thực thi pháp luật còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nước. Với những quy định chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ và chưa hoàn thiện, pháp luật TTHS, nhất là Bộ luật TTHS 2003 luôn bị “kết tội” là “nguyên nhân hàng đầu, cơ bản đầu tiên dẫn đến tình trạng oan, sai trong TTHS”. Bởi theo phân tích của TS.Trịnh Tiến Việt (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội), nếu những chủ thể tiến hành tố tụng cố ý “lách luật”, lợi dụng những kẽ hở trong pháp luật TTHS để bỏ lọt tội phạm hay làm oan người vô tội sẽ “rất khó phát hiện”. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm cho tình hình tội phạm ẩn và tiềm ẩn tăng lên đáng kể, nhiều tội phạm “lọt lưới luật pháp” và cũng nhiều người vô tội phải “vô phúc đáo tụng đình” [55].Ngoài những nguyên nhân khách quan, thì không ít nguyên nhân chủ quan từ chính những người tiến hành tố tụng nhiều Thẩm phán chưa thực sự có trách nhiệm, không chịu cập nhật kiến thức pháp luật để trau dồi kiến thức chuyên môn, nghiên cứu vụ án hình sự còn sơ sài hoặc do chịu những tác động “tế nhị” dẫn đến tình trạng “quên” áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ…, thậm chí áp dụng điều luật không đúng, quyết định hình phạt tùy tiện, chưa thống nhất.

Bộ luật TTHS năm 2015 được thông qua đã khắc phục những hạn chế, bất cập của Bộ luật TTHS năm 2003 về trách nhiệm của CQTHTT trong quá trình chứng minh VAHS. Bộ luật TTHS 2015 đề cao trách nhiệm chứng minh VAHS của CQTHTT cụ thể tại Điều 15 nguyên tắc xác định sự thật của vụ án. Quy định rõ trách nhiệm của chủ thể tiến hành tố tụng khi vi phạm pháp luật trong quá trình tố tụng  tại Khoản 2 Điều 17 Bộ luật TTHS năm 2015. Bộ luật TTHS năm 2015 cũng đã bổ sung thêm các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra và quy định cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan, chức danh tại Điều 35, 36, 37. Bộ luật TTHS năm 2003 chỉ quy định cụm từ ”nhiệm vụ, quyền hạn” thì nay Bộ luật TTHS năm 2015 đã bổ sung thành ”nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm” của các CQTHTT, người tiến hành tố tụng, bên cạnh nhiệm vụ, quyền hạn thì các CQTHTT, người tiến hành tố tụng còn phải thực thi trách nhiệm của mình theo luật định khi chứng minh tội phạm trong VAHS. Bộ luật TTHS năm 2015 đã đề cập đến việc TA xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ tại Điều 252 nâng cao trách nhiệm của TA trong quá trình làm sáng tỏ vụ án đánh giá một cách toàn diện quá trình điều tra vụ án của CQĐT và VKS, tránh làm oan người vô tội, xét xử đúng người đúng tội. Tuy Bộ luật TTHS năm 2015 mới được sửa đổi, bổ sung thêm những quy định mới nhằm hoàn thiện Bộ luật TTHS và đảm bảo hoạt động tố tụng đạt hiệu quả cao, thì chúng ta cần chờ đợi khi Bộ luật này được thi hành trong thực tiễn và đánh giá khả năng hoàn thiện những bất cập của Bộ luật TTHS năm 2003 ra sao.

3.1.3. Nguyên nhân của hạn chế Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

3.1.3.1. Nguyên nhân từ những quy định của pháp luật

Bộ luật TTHS năm 2003 sau quá trình thi hành đã bộc lộ nhiều khuyết điểm cần phải sửa đổi bổ sung, cụ thể:

Trong giai đoạn khởi tố, Bộ luật TTHS năm 2003 chỉ quy định trách nhiệm của CQĐT, VKS có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố mà không quy định trách nhiệm của các cơ quan tổ chức khác, đây là một trong những thiếu sót của Bộ luật 2003, dẫn đến chưa rằng buộc và phát huy đầy đủ trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong đấu tranh phòng và chống tội phạm, chỉ quy định trách nhiệm cho CQĐT, VKS sẽ dẫn đến bỏ lọt tội phạm, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm không được đảm bảo (Điều 103). Bộ luật TTHS năm 2015 đã khắc phục tình trạng trên, Bộ luật TTHS năm 2015 quy định cụ thể trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tại Điều 145 Bộ luật TTHS năm 2015.

Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm [39].

Bộ luật TTHS năm 2015 đã bổ sung thêm quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức khác mà Bộ luật TTHS năm 2003 không quy định. Với sự quy định đầy đủ như vậy đã phát huy đầy đủ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc đấu tranh, phòng chống tội phạm. Bộ luật TTHS năm 2015 cũng quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận tin báo của các cơ quan có thẩm quyền THTT, nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền THTT phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận. Nếu tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận. VKS có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền; Bộ luật cũng quy định Các cơ quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thì chuyển ngay cho CQĐT có thẩm quyền. Trường hợp khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình thức khác cho CQĐT nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản.

Bộ luật TTHS năm 2003 quy định thời điểm thực hiện chức năng quyền công tố của VKS là “từ khi khởi tố vụ án” như vậy, trong quá trình giải quyết tin báo, tin tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố trước khi khởi tố VAHS của CQĐT sẽ không được kiểm soát chặt chẽ, có thể dẫn đến lạm quyền). Để khắc phục hạn chế và nhằm tăng cường trách nhiệm cho VKS, Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định thời điểm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố sớm hơn từ khi “giải quyết nguồn tin về tội phạm” (Điều 159). Bên cạnh đó Bộ luật cũng bổ sung thêm trách nhiệm giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Điều 150). Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Trong giai đoạn điều tra VAHS, liên quan đến vấn đề trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quy định Điều 168 Bộ luật TTHS năm 2003 trong thực tế gặp nhiều khó khăn, nhất là trường hợp VKS ra quyết định trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung khi thấy “còn thiếu những chứng cứ quan trọng trong vụ án mà VKS không thể tự mình bổ sung được”, bởi nhận thức không thống nhất về “chứng cứ quan trọng”. Tình trạng này dẫn đến một số vụ án phải trả đi trả lại hồ sơ giữa CQĐT và VKS, dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 thì trách nhiệm của VKS được đề cao nhằm “tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, việc bắt, giam, giữ đảm bảo đúng pháp luật…VKS các cấp chịu trách nhiệm về những oan sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi quyền phê chuẩn của mình, tăng cường công tố hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”.Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, tăng cường hơn nữa trách nhiệm của VKS, Bộ luật TTHS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng đối với trách nhiệm của VKS trong giai đoạn điều tra VAHS: Một là, quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra (Điều 165, Điều 166). Hai là, quy định thêm trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, VKS phải phê chuẩn hoặc hủy bỏ; đồng thời bổ sung quy định trường hợp VKS yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, VKS phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can (Điều 179, Điều 180). Ba là, ngoài hai hoạt động tố tụng bắt buộc phải có sự tham gia của KSV là khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi thì Bộ luật bổ sung thêm 05 trường hợp bắt buộc phải có KSV tham gia gồm: Đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, khám xét, thực nghiệm điều tra (các Điều 189, 190, 191,193, 201, 202, 204). Năm là, nhằm  bảo đảm cho KSV nắm chắc chứng cứ, tài liệu trong giai đoạn điều tra, Bộ luật quy định cụ thể những trường hợp VKS phải trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra:  trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố (Điều 165). Sáu là, Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì VKS yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động: Tiến hành hoạt động điều tra đúng pháp luật; Kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát; Cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật trong việc điều tra.(Điều 166)….[5, tr 129-130]. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Bộ luật TTHS năm 2003 không quy định cụ thể các nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố và kiểm sát trong giai đoạn truy tố. Để phù hợp với quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật TTHS năm 2015 đã bổ sung 02 điều (Điều 236 và Điều 237) nhằm quy định đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của VKS trong giai đoạn truy tố.

Trong giai đoạn xét xử,  nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” trong giai đoạn này VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử (Điều 266 và Điều 267). Trong phiên tòa xét xử Kiểm sát viên VKS cũng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa. Đối với vụ án nghiêm tọng, phức tạp thì có thể có nhiều KSV (Điều 289). KSV sẽ trình bày bản cáo trạng của mình trước TA đối với bị cáo dựa trên quá trình điều tra thu thập chứng cứ.

Theo quy định tại Điều 27 của BLTTHS 2003  thì TA là một trong các chủ thể có nhiệm vụ tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, nếu xét dưới góc độ tội phạm học thì mục đích của việc tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội là nhằm để đấu tranh phòng ngừa tội phạm cụ thể, tuy nhiên xác định TA là một trong các cơ quan có nhiệm vụ tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, như vậy vấn đề đặt ra là nhiệm vụ này có đồng nhất với chức năng chứng minh tội phạm và chức năng buộc tội không? Bởi lẽ nếu một khi TA vừa có chức năng chứng minh tội phạm vừa trừng trị tội phạm là chưa hợp lý, nếu như vậy tính khách quan, rành mạch giữa các chức năng trong tố tụng sẽ không còn phân định rõ ràng, chồng lấn lẫn nhau,v,v…Do vậy, Bộ luật TTHS năm 2015 đã bỏ nguyên tắc phát hiện và khắc phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội ra khỏi nguyên tắc của Bộ luật TTHS năm 2015. Tuy nhiên, không còn nằm trong nguyên tắc của Bộ luật TTHS thì không có nghĩa là TA không có trách nhiệm chứng minh tội phạm. Quy định TA có trách nhiệm chứng minh tội phạm sẽ bất hợp lý với chức năng xét xử của TA, sẽ ảnh hưởng đến các phán quyết của TA khi xét xử. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

3.1.3.2. Nguyên nhân từ phía chủ thể có trách nhiệm chứng minh

Trình  độ chuyên môn, nghiệp vụ của các CQTHTT chưa đáp ứng được quá trình phát hiện và điều tra tội phạm.Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ thông tin những tội phạm công nghệ cao ngày càng phát triển mạnh trong khi trình độ của các cán bộ điều tra, các ĐTV, KSV còn nhiều hạn chế. Vì vậy đặt ra một yêu cầu với hoạt động chứng minh tội phạm là phải có sự đầu tư kỹ lưỡng về mặt nhân lực cả số lượng và chất lượng. Tuy nhiên cũng có những trường hợp do nhận thức kém, biện pháp nghiệp vụ còn non kém hoặc tư duy theo ý muốn chủ quan của người THTT dẫn tới nhưng sai lầm đáng tiếc xảy ra.

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nhận định “đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí một số cán bộ còn sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp, vẫn còn tình trạng oan sai trong điều tra, Hiện nay, đội ngũ ĐTV, KSV, cán bộ, công chức làm trong ngành tư pháp tuy đã tăng cường đáng kể nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới, vẫn còn thiếu về số lượng. Cần nhanh chóng bổ sung đủ số lượng ĐTV, KSV đáp ứng đòi hỏi yêu cầu thực tế của công tác giải quyết các VAHS. Ở giai đoạn hiện nay, khi diễn biến của tình hình tội phạm ngày càng phức tạp và gia tăng về số lượng một cách đáng lo ngại đòi hỏi đội ngũ cán bộ chuyên trách của CQĐT, VKS phải đặc biệt chú ý .

ĐTV, KSV là những chủ thể có trách nhiệm chứng minh, trực tiếp tiến hành các hoạt động chứng minh nhằm xác định sự thật của vụ án ra kết luận, quyết định phù hợp với vụ án. Do đó, trình độ năng lực, tinh thần trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của các chủ thể này là yếu tố quyết định chất lượng của hoạt động chứng minh. Một bộ phận thiếu về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, một số ít không chuyên tâm vào nghề nghiệp, suy thoái đạo đức dẫn đến những vi phạm nghiêm trọng trong quá trình chứng minh, gây mất lòng tin của nhân dân. Trình độ ĐTV, KSV còn chưa thực sự đồng đều. Số lượng cán bộ tư pháp có bằng cử nhân luật hệ chính quy còn chưa đáp ứng được yêu cầu, còn lại là bằng tại chức, đào tạo từ xa. Kỹ năng làm việc, trình độ tin học, ngoại ngữ còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, nhất là ở các huyện vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, đảm bảo đội ngũ cán bộ tư pháp đủ về mặt số lượng và chất lượng là yêu cầu thiết yếu đặt ra.

Cần kịp thời nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ pháp lý cho ĐTV, KSV. Nhân tố con người được coi là nhân tố quan trọng, chất lượng hoạt động của mọi hoạt động. Mặt khác, quá trình chứng minh ở giai đoạn điều tra còn có tính phức tạp cao. Trong quá trình này, các chủ thể THTT được pháp luật trao cho quyền tự do đánh giá chứng cứ trên cơ sở niềm tin nội tâm, ý thức pháp luật của mình. Vì vậy, chỉ khi các chủ thể có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, nắm vững pháp luật thì các quyết định tố tụng của họ mới có cơ sở thực tế, đảm bảo tính đúng đắn, tính phù hợp với pháp luật và đó là cơ sở quan trọng làm giảm tình trạng oan, sai trong TTHS. Trong thời gian tới, Nhà nước cần quan tâm không chỉ mở các lớp tập huấn ngắn hạn cho các ĐTV mà cần có kế hoạch đào tạo nghề mội cách chính quy cho các chủ thể này.

3.1.3.3. Nguyên nhân khác Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Vai trò của người bào chữa chưa được đề cao trong tố tụng

Luật sư với vai trò là người bào chữa, đây không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm pháp lý, là nghĩa vụ nghề nghiệp của họ. Muốn thực hiện được quyền và nghĩa vụ này người bào chữa phải tiến hành thu thập chứng cứ để có đủ phương tiện chứng minh. Tuy nhiên, quyền thu thập chứng cứ, tài liệu có liên quan đến vụ án còn bị hạn chế. Khi thực hiện việc bào chữa họ chỉ dựa vào các chứng cứ do bên buộc tội cung cấp, điều này đã không tạo được sự bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng; và còn nhiều bất hợp lý khác cần phải có sự nghiên cứu để sửa đổi bổ sung kịp thời [10]. Mặt khác, thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư bị gây khó dễ bởi chính CQTHTT khiến cho luật sư phải mất rất nhiều thời gian, nhiều khi không đảm bảo quyền lợi cho bị can, bị cáo.

Những người tham gia tố tụng khác:

Trình độ hiểu biết pháp luật nói chung, pháp luật hình sự và pháp luật TTHS nói riêng của người dân còn hạn chế. Các trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước hoạt động chưa sâu rộng, đặc biệt là ở miền núi và nông thôn, do lực lượng mỏng và yếu. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện quyền chứng minh của người dân khi họ tham gia tố tụng. Ngoài ra, chúng ta chưa có một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh để bảo vệ người bị hại và người làm chứng khi họ tố giác hành vi phạm tội với các cơ quan chức năng, điều này cùng với sự kém hiểu biết của người dân, dẫn tới tình trạng khá phổ biến hiện nay là người dân sợ bị trả thù mà không dám tố giác tội phạm, gián tiếp bao che cho hành vi phạm tội, không hợp tác với các cơ quan THTT, gây khó khăn rất lớn cho hoạt động chứng minh tội phạm.

Tình hình chấp hành pháp luật của Cơ quan giám định, giám định viên: Số lượng vụ, việc giám định, có sự tham gia của giám định viên không cao. Số lượng kết quả giám định có vi phạm (trong đó: vi phạm về thời hạn, vi phạm về hình thức, nội dung) vẫn còn tồn tại.

Nguyên nhân từ yếu tố cơ sở vật chất – kỹ thuật: Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước quan tâm nên cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc của ngành điều tra, kiểm sát đã được tăng cường, nhưng so với yêu cầu của cải cách tư pháp thì vẫn chưa đáp ứng được. Cơ sở vật chất – kỹ thuật và điều kiện làm việc của đội ngũ ĐTV, KSV, Luật sư chưa đáp ứng được yêu cầu công tác. Một số trụ sở còn rất chật hẹp, không đủ phòng làm việc, phòng nghiên cứu hồ sơ; phòng lấy hỏi cung bị can và lấy lời khai những người tham gia tố tụng có hạn, chưa đáp ứng đủ về số lượng và chất lượng; chưa có hệ thống âm thanh và các phương tiện ghi âm, ghi hình, máy chiếu có chất lượng tốt phục vụ công tác… Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho hoạt động của cơ quan THTT còn chưa được quan tâm, đầu tư, xây dựng đúng mức gây ảnh hưởng không nhỏ tới công tác và làm việc của những người làm công tác tư pháp, ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt đọng chứng minh.

Đời sống vật chất và tinh thần của ĐTV, KSV là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả công việc mà họ đảm nhiệm. Tuy đã được cải tiến một bước nhưng chế độ tiền lương và phụ cấp nghề nghiệp đối với ĐTV, KSV địa phương (đặc biệt ở cấp huyện) ở nước ta vẫn còn thấp so với đặc thù nghề nghiệp.

Chế độ tiền lương, chính sách đãi ngộ dành cho các cán bộ làm công tác tư pháp nói chung và chủ thể có trách nhiệm chứng minh nói riêng còn chưa thỏa đáng. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới những tồn tại, vướng mắc trên. Chính thực tế này dẫn tới sự thiếu hụt nguồn nhân sự trong ngành tư pháp, dễ phát sinh tiêu cực như tham nhũng, nhận hối lộ… Chế độ và chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng làm cho các cán bộ không yên tâm công tác, toàn tâm, toàn ý lo cho công việc, ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của hoạt động chứng minh.

Nguyên nhân từ lề lối làm việc:

 Còn một bộ phận cán bộ, ĐTV, KSV thiếu kinh nghiệm thực tiễn, còn lung túng trong công tác, một số cán bộ thiếu trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, vi phạm pháp luật, vi phạm về đạo đức, lối sống… Thực trạng này cũng là một nhân to dẫn tới thực trạng thiếu khách quan, công bằng, làm sai lệch sự thật khách quan của VAHS của các cán bộ tư pháp trong đó có các chủ thể có trách nhiệm chứng minh, ảnh hưởng tới việc giải quyết đúng đắn VAHS.

3.2. Giải pháp góp phần nâng cáo hiệu quả trách nhiệm chứng minh vụ án hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng

3.2.1. Giải pháp đối với các quy định của pháp luật

Bộ luật TTHS năm 2015 ra đời đã có những thay đổi nhằm tăng cường vị trí, chức năng và nâng cáo trách nhiệm chứng minh tội phạm của các CQTHTT. Vì là Bộ luật mới được điều chỉnh, bổ sung khá nhiều các điểm mới quy định về trình tự, thủ tục tố tụng nên để có thể áp dụng một cách có hiệu quả trong công tác điều tra và chứng minh tội phạm trong VAHS thì đòi hỏi phải có những hướng dẫn cụ thể hơn nữa để kịp thời làm sáng tỏ những tư tưởng, định hướng của Bộ luật TTHS mới. Kịp thời hướng dẫn các chủ thể có trách nhiệm khi tham gia vào quá trình tố tụng nhận thực được quyền và nghĩa vụ của mình, tránh áp dụng luật một cách tùy nghi dẫn đến những hậu quả làm ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của nhân dân. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Nhận thấy rằng, Bộ luật TTHS năm 2015 đã kịp thời sửa đổi những bất cập của Bộ luật TTHS năm 2003 về trách nhiệm chứng minh tội phạm của các CQTHTT. Các nhà làm luật cần dự liệu những bất cập có thể xảy ra trong quá trình áp dụng để kịp thời có phương hướng điều chỉnh cho phù hợp. Cải cách mạnh mẽ thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, đảm bảo sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp. Theo định hướng này, ngoài những nguyên tắc đã có về dân chủ, bình đẳng thì BLTTHS cần phải bổ sung nguyên tắc cơ bản: “Bảo đảm mọi hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án phải được công khai, minh bạch” với nội dung: 1) Mọi hoạt động TTHS từ khi áp dụng một số biện pháp ngăn chặn, biện pháp thu thập chứng cứ (trước khi có quyết định khởi tố của cơ quan có thẩm quyền); giai đoạn khởi tố; điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án đều phải được công khai. 2) Các hoạt động TTHS phải rõ ràng trên cơ sở qui định của pháp luật. 3) Chủ thể có nghĩa vụ công khai minh bạch trong hoạt động tố tụng hình sự là các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) và người THTT. 4) Đối tượng nhận được công khai từ các cơ quan THTT và người THTT là những người tham gia tố tụng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vụ án. 5) Pháp luật qui định các hình thức công khai về hoạt động tố tụng hình sự. 6) Pháp luật qui định cơ chế tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp. Với những nội dung này của nguyên tắc sẽ phải loại bỏ khá nhiều các qui định hiện hành của BLTTHS 2003, cũng như khắc phục được những khó khăn khi luật sư tiếp cận vụ án như hiện nay. Mặt khác, nội dung nguyên tắc này còn thể hiện định hướng tăng cường dân chủ trong hoạt động TTHS mà Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị đã chỉ ra [ 9, Tr.246].

Tổ chức và hoạt động của CQĐT được thể chế hóa trong pháp luật TTHS, cụ thể hơn là ở trong BLTTHS và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự hiện hành. Việc Quốc hội đưa vào Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh nhiệm kỳ 13 Dự án Luật Tổ chức điều tra hình sự đồng thời với việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS đang đặt ra vấn đề là nội dung nào về chế định điều tra thì đưa vào BLTTHS, còn nội dung nào thì đưa vào Luật Tổ chức điều tra hình sự. Theo tôi, một khi đã có đạo luật riêng về điều tra tội phạm thì phương án tối ưu là tập trung tất cả những quy định về điều tra tố tụng vào đó, theo đúng mô hình đạo luật về thi hành án hình sự. Trong trường hợp đó, BLTTHS chỉ tập trung điều chỉnh hoạt động xét xử. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp: Coi xét xử là khâu trung tâm của hoạt động tư pháp [30].

Tuy nhiên, không nên quy định trách nhiệm chứng minh VAHS đối với TA. TA cũng có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật nhưng thực hiện nhiệm vụ đó thông qua chức năng xét xử của mình, TA không phải là người truy tố bị cáo nên không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về CQTHTT thực hiện chức năng buộc tội (CQĐT, VKS), với tư cách là cơ quan ra phán quyết, TA không có nhiệm vụ chứng minh tội phạm cũng như chứng minh sự vô tội,  không nên quy định TA phải trực tiếp xác định các tình tiết vụ án, trực tiếp hỏi người tham gia tố tụng để tránh hiểu nhầm là TA làm thay chức năng buộc tội, gỡ tội; trái với yếu tố tranh tụng.

3.2.2. Giải pháp đối với các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Các CQTHTT có vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh VAHS, cho nên một VAHS có được tiến hành chứng minh đúng quy định của pháp luật hay không phụ thuộc phần lớn vào các chủ thể tiến hành tố tụng. Để nâng cao hiệu quả trách nhiệm chứng minh vụ án của CQTHTT thì cần có các giải pháp:

Thứ nhất, Xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ

Cần tiến hành các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ ĐTV, Kiểm sát đủ về số lượng, giỏi về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức tốt và tinh thần trách nhiệm cao để bổ sung nguồn lực cho CQĐT, giảm thiểu tình trạng án quá tải mà đội ngũ ĐTV, KSV không đủ hoặc yếu về chuyên môn nghiệp vụ khi điều tra án,không làm ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động chứng minh, nhất là các CQĐT cấp quận, huyện, miền núi, hải đảo xa xôi. Cần củng cố và hoàn thiện mối quan hệ của các CQĐT với các cơ quan khác hỗ trợ điều tra.

Đảm bảo về mặt chất lượng đội ngũ cán bộ có trách nhiệm chứng minh trong các cơ quan THTT. Cần thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật ngay từ khuân tuyển dụng, bổ nhiệm thật tột, đầy đủ, chính xác. Ngoài ra, cần phải có thêm yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, tin học để có thể tiếp thu và ứng dụng các cơ sở vật chất, kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài về điều tra hình sự. Chế độ tuyển chọn phải công khai, công bằng, minh bạch… Xây dựng đội ngũ ĐTV, KSV của nước ta có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp giỏi là yêu cầu cấp thiết. Nâng cao trình độ pháp lý nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của những người THTT.

Đảm bảo đủ về số lượng các chủ thể có trách nhiệm chứng minh, hạn chế tình trạng làm việc quá tải và làm tồn đọng án, chất lượng giải quyết vụ án được nâng cao. Vì vậy, cần tăng cường hơn nữa công tác tuyển dụng, bổ nhiệm các cán bộ, công chức và phân công công việc hợp lý.

Bên cạnh việc tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ theo quy định chung trong giai đoạn hiện nay thì đòi hỏi thường xuyên bồi dưỡng kiến thức pháp lý và kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động chứng minh cho những người THTT. Tăng cường công tác tổng kết, rút kinh nghiệm, phát hiện những tồn tại sai sót trong hoạt động TTHS liên quan đến đối tượng chứng minh để khắc phục, uốn nắn kịp thời. Làm rõ trách nhiệm đối với những người để xảy ra sai sót trên cơ sở đó xem xét xử lý tùy theo mức độ vi phạm. Đối với những người cố ý vi phạm thì cần nghiêm khắc xử lý để từ đó nâng cao hơn nữa ý thức trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của đội ngũ những người THTT. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng theo chuyên đề về trình độ chuyên môn và kỹ thuật kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ ĐTV để đáp ứng yêu cầu về chất lượng của ĐTV. Việc đào tạo ĐTV tương lai ở các trường, Học viện của Bộ công an cần có sự đổi mớ về nội dung chương trình theo hướng cơ bản, tòa diện, gắn với thực tiễn để khi ra trường các học viên có khả năng nhanh chóng tiếp cận thực tế, vận dụng thành thạo lý thuyết được trang bị vào công việc của mình.

Thứ hai, Nâng cao nhận thức của người tiến hành tố tụng

 Nâng cao nhận thức cho các người tiến hành tố tụng để khắc phục tình trạng buộc tội một chiều trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Để tìm ra sự thật  của vụ án thì ĐTV, KSV, Thẩm phán phải dựa trên tính khách quan của các tình tiết, tôn trọng sự thật khách quan tránh để cho tư duy nhìn nhận vụ án một chiều mà kết án.

Khuynh hướng buộc tội một chiều còn liên quan chặt chẽ đến tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của CQTHTT, người tiến hành tố tụng. Nếu CQTHTT đã khởi tố bị can, bắt bị can để tạm giam, mà sau này phái đình điều tra, đình chỉ vụ án hoặc TA tuyên bị cáo không phạm tội, thường bị đánh giá rằng, CQTHTT, người tiến hành tố tụng có liên quan hoạt động kém hiệu quả. Cách nhìn nhận vấn đề như vậy dẫn đến việc người tiến hành tố tụng không có động lực để ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án do không có sự kiện phạm tội, do hành vi không cấu thành tội phạm, do hết thời hạn điều tra không chứng minh được bị can thực hiện hành vi phạm tội. Cần phải có cách nhìn ngược lại, nếu đã khởi tố, áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, mà sau đó CQTHTT xác định được bị can không phạm tội và ra quyết định đình chỉ điều tra, VKS ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc TA tuyên bị cáo không phạm tội, thì đây phài được coi là sự chiến thắng của công lý, coi đó là sức mạnh, hiệu quả hoạt động của cơ quan tiến hành tố lụng và phải dược dư luận xã hội hoan nghênh. Những cán bộ có trách nhiệm của CQTHTT đã phát hiện ra những trường hợp oan, sai trong TTHS phải được khen thưởng xứng đáng, vì chính họ đã lấy lại niềm tin của những người bị oan, sai vào sự công minh của pháp luật.

Thứ ba, nắm vững quy định của pháp luật. NTHTT phải nắm vững quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tư cách của từng NTGTT để dễ dàng áp dụng. Từng CQTHTT cần phải quán triệt quy định về NTGTT trong BLTTHS và văn bản hướng dẫn đến tất cả những NTHTT trong cơ quan để thống nhất áp dụng. Khi có sự hiểu khác nhau về tư cách NTGTT, các CQTHTT cần phải thống nhất khi họp phối hợp ba ngành hàng tháng hoặc có thể họp bất thường để tránh việc phải trả hồ sơ điều tra bổ sung cũng như tránh bị sửa, hủy án sau khi xét xử [9]

3.2.3. Giải pháp khác Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Thứ nhất, Cần tăng cường hơn nữa sự tham gia của người bào và bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng hình sự. Quyền bào chữa không chỉ cần thiết cho bị can, bị cáo mà còn cần thiết và có lợi cho chính các cơ quan tiến hành tố tụng, cho nhiệm vụ xác định sự thật khách quan của vụ án, xét xử đúng người đúng tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội

Thứ hai, Đầu tư phương tiện kỹ thuật hình sự phục vụ hoạt động điều tra và hoạt động giám định đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu chứng minh tội phạm trong tình hình hiện nay. Thực tiễn cho thấy, trong tình hình tội phạm diễn biến phức tạp như hiện nay thì đòi hỏi quá trình điều tra, chứng minh, ĐTV, kỹ thuật viên, giám định viên phải áp dụng nhiều phương tiện kỹ thuật để phát hiện, ghi nhận, thu giữ và nghiên cứu những dấu vết, tài liệu, chứng cứ. Phạm vi những phương tiện kỹ thuật được áp dụng trong quá trình này càng mở rộng bao nhiêu thì khả năng thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ càng cao bấy nhiêu. Bởi vậy cần phải đổi mới công tác sắp xếp, bố trí hợp lý cán bộ điều tra nói chung và cán bộ kỹ thuật hình sự nói riêng và tăng cường đầu tư phương diện kỹ thuật hình sự.

Thứ ba, Cần có điều chỉnh chế độ tiền lương và phụ cấp hợp lý hơn cho đội ngũ cán bộ, Điều tra vên, KSV, Thẩm phán và Hội thẩm. Mặc dù, Nhà nước ta đã có những chính sách đãi ngộ cho những người THTT những thực sự chưa thỏa đáng so với tính chất và mức độ của công việc mà họ được giao. Đồng thời có chế độ khen thưởng kịp thời, động viên khích lệ với những cán bộ có tinh thần trách nhiệm cao và hoàn thành tốt nhiệm vụ… Cần phải có những biện pháp để đổi mới hoạt động của CQĐT, VKS cho hợp lý. Thực tế, tổ chức và hoạt động của những cơ quan THTT này còn nhiều điểm bất hợp lý như: Trong các CQĐT vẫn còn hiện tượng phân tán lực lượng, chưa đảm bảo tính chuyên sâu trong hoạt động điều tra các loại tội phạm, thiếu sự phối hợp đồng bộ để đạt hiệu quả cao trong hoạt động điều tra; Tình trạng chồng chéo, khó phân định rõ ràng được chức năng và nhiệm vụ của VKS với các CQĐT… Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết kế hạ tầng phục vụ cho các cơ quan THTT. Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện nay thì yếu tố này càng có ý nghĩa quan trọng. Vì vậy, để nâng cao hoạt động chứng minh thì cần phải có sự đầu tư cho  cho các cơ quan THTT. Kịp thời trang bị cho các cơ quan này các phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ công tác tiếp nhận, lưu trữ và xử lý thông tin về tội phạm…

Thứ tư, Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo đảm cho công dân tham gia tích cực vào việc điều tra chứng minh tội phạm. Thực tiễn cho thấy có một bộ phận dân cư do thiếu hiểu biết về pháp luật nên đôi khi còn có thái đồ tiêu cực trong đấu tranh phòng chống tội phạm do sợ mất thời gian, sợ dính lứu đến pháp luật, sợ bị trả thù… nên không tích cực tham gia vào việc tố giác tội phạm. Thậm chí có người còn vì những lý do cá nhân khác nhau mà cung cấp thông tin thiếu chính xác, sai sự thật gây khó khăn cho cơ quan THTT trong quá trình điều tra, chứng minh vụ án. Bởi vậy, công tác tuyên truyền giáo dục cho nhân dân là cần thiết và cần được thực hiện bằng nhiều hình thức như: thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua đoàn thể quần chúng, thông qua việc tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật dưới dạng sân khấu hóa và đặc biệt quan tâm hơn nữa đến công tác giáo dục pháp luật trong các trường học.

Thứ năm, Thực hiện tốt công tác tiếp nhận và xử lý tin báo tố giác tội phạm. Đảm bảo điều kiện thuận tiện cho nhân dân tham gia vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm như đa dạng hóa các hình thức tiếp nhận tin báo (nhận tin trực tiếp, qua hòm thư tố giác…) đồng thời đảm bảo an toàn cho những người tố giác tội phạm, người làm chứng. Thực hiện việc trả thù lao cho những người làm chứng theo đúng quy định của pháp luật. Đối với những người có thành tích trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm cần được khen thưởng kịp thời cả về tinh thần và vật chất. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế.

KẾT LUẬN CHƯƠNG III Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Trách nhiệm chứng minh trong VAHS của các CQTHTT có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với việc làm sáng tỏ sự thật của vụa án, làm sáng tỏ hành vi và động cơ phạm tội cũng như các tìm ra các tình tiết chứng tỏ không có sự kiện phạm tội. Nhà nước đã trao quyền và trách nhiệm tiến hành tố tụng cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhằm đề cao vao trò và trách nhiệm của các cơ quan .

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập làm ảnh hưởng tới trách nhiệm chứng minh tội phạm của các chủ thể có thẩm quyền. Việc nhận thức đúng và đầy đủ lý luận về chứng cứ và chứng minh  trong tố tụng hình sự  nói chung cũng như về trách nhiệm chứng minh trong giai đoạn TTHS của CQĐT, VKS, TA đảm bảo cho hoạt động của các cơ quan THTT, người THTT trong giai đoạn này được khách quan, chính xác.

Để  đáp  ứng  kịp  thời  yêu  cầu  và  đòi  hỏi  của  thực  tiễn  đấu  tranh phòng, chống  tội  phạm  Bộ luật TTHS  năm  2015  ra đời  cùng  với hệ  thống pháp luật  tố tụng hình sự  sự hiện hành đã tạo ra nhiều chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong ý thức cũng như trong thực  tiễn trong trách nhiệm của từng CQTHTT. Bộ luật TTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung kịp thời những khiếm khuyết của Bộ luật TTHS năm 2003 nhằm tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các chủ thể THTT.

KẾT LUẬN

Trách nhiệm chứng minh trong VAHS thuộc về các CQTHTT. Pháp luật TTHS đã quy định rõ và cụ thể trách nhiệm của từng CQTHTT, điển hình là CQĐT, VKS, TA. Mỗi cơ quan tại mỗi giai đoạn TTHS có trách nhiệm riêng biệt nhưng lại có sự kiểm soát lẫn nhau trong hoạt động TTHS. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

Giai đoạn điều tra, CQĐT và VKS giữ vai trò chủ đạo. Với tính chất là một giai đoạn độc lập của tố TTHS, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời kiến nghị các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm; Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi cơ quan, người tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố VAHS và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của CQĐT về việc đề nghị VKS truy tố bị can trước TA hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng.

Giai đoạn truy tố thể hiện quyền công tố của VKS trong hoạt động TTHS. Với tính chất là một giai đoạn độc lập của hoạt động tố tụng hình sự, giai đoạn truy tố về hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng mà CQĐT có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các quyết định của VKS được chính xác và khách quan góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự đúng tội, đúng người và đúng pháp luật. Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi VKS nhận được các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết luận điều tra và đề nghị truy tố) do CQĐT chuyển đến và kết thúc bằng việc VKS ra một trong ba loại quyết định sau: 1) Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng), 2) Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc là 3) Đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự tương ứng.

Giai đoạn xét xử, Xét xử là chức năng quan trọng nhất của TA nói riêng và của toàn bộ quá trình tố tụng hình sự nói chung nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà CQĐT và VKS đã thông qua trước khi chuyển VAHS sang TA, nhằm loại trừ các những hậu quả tiêu cực của các sơ xuất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong ba giai đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án.

Thực tiễn đã chứng minh rằng vai trò của các CQTHTT trong hoạt động chứng minh VAHS có vai trò quan trọng góp phần vào công cuộc bảo vệ pháp chế, bảo vệ an ninh trật tự xã hội và lợi ích của Nhà nước, nhân dân. Bên cạnh đó tồn tại những bất cập từ chính những CQTHTT, những bất cập từ phía Nhà nước và các chủ thể khác….Đòi hỏi cần nâng cao hơn nữa hiệu quả của Bộ luật TTHS và trách nhiệm thực thi của các chủ thể có thẩm quyền để hạn chế những tồn tại đang xảy ra. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự Việt Nam

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993