Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi xác định thu nhập chịu thuế theo luật thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT ĐỀ ÁN

Việc pháp luật Thuế thu nhập cá nhân ghi nhận về Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nhằm tạo nên một chính sách hỗ trợ người nộp thuế cá nhân trong việc chi trả các chi phí sinh hoạt cơ bản cho bản thân và người phụ thuộc giúp giảm bớt gánh nặng thuế thu nhập cá nhân phải nộp, mà việc giảm trừ gia cảnh đó cũng là một chính sách hỗ trợ những người có trách nhiệm chăm sóc người không có khả năng lao động, người có thu nhập thấp, người già và người khuyết tật trong gia đình.

Mặc dù giảm trừ gia cảnh là một chính sách quan trọng, nhưng vẫn còn tồn tại một số điểm lạc hậu và thiếu sót trong quy định về người phụ thuộc, đặc biệt là:

Mức giảm trừ chưa tương xứng với thực tế, một số quy định về người phụ thuộc chưa được đề cập đến, mức lương tối đa của người phụ thuộc được tính giảm trừ gia cảnh chưa hợp lý đối với những vùng phát triển kinh tế và có mức sống cao như Thành phố Hồ Chí Minh.

Qua bài viết này, tác giả nêu lên những bất cập và định hướng hoàn thiện đối với quy định pháp luật về “Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi xác định thu nhập chịu thuế theo luật thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh” góp phần đóng góp ý kiến để hoàn thiện chính sách hơn.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề án

Thuế thu nhập cá nhân được thiết lập nhằm đảm bảo sự phân phối thu nhập công bằng hơn trong xã hội. Bằng cách đánh vào thu nhập cá nhân, loại thuế này góp phần giảm thiểu bất bình đẳng. Tuy thuế TNCN đánh vào thu nhập cá nhân của NNT nhưng Thuế TNCN vẫn cân nhắc đến các khoản thu chi của NNT, do đó chính sách giảm trừ gia cảnh ra đời nhằm giảm bớt gánh nặng thuế cho người nộp thuế dựa trên hoàn cảnh gia đình của họ. Cụ thể, đây là số tiền được trừ trực tiếp vào thu nhập tính thuế từ đó xác định được nghĩa vụ thuế phải thực hiện. Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

Mặc dù giảm trừ gia cảnh có ý nghĩa tích cực, nhưng vẫn còn nhiều bất cập liên quan đến việc áp dụng pháp luật về xác định giảm trừ gia cảnh, ngoài ra trong thực tiễn còn xuất hiện những khó khăn vướng mắc cho cán bộ thuế hoặc người nộp thuế khi thi hành pháp luật về xác định giảm trừ gia cảnh cho giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi xác định thu nhập chịu thuế theo luật thuế thu nhập cá nhân. Và trong Đề án này, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh, do nơi đây là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, mức sống tại TP.HCM cao hơn hẳn so với các địa phương khác, kéo theo chi phí sinh hoạt, dịch vụ, thương mại, y tế, giáo dục khi nuôi dưỡng người phụ thuộc cũng cao hơn, đòi hỏi mức giảm trừ phù hợp. Bên cạnh các chi phí, các quy định về điều kiện, hồ sơ áp dụng giảm trừ gia cảnh cũng gây nên một số khó khăn trong việc xác định đối tượng là người phụ thuộc được áp dụng GTGC.

Nghiên cứu này sẽ giúp đánh giá tác động của chính sách thuế lên nhóm đối tượng này, từ đó điều chỉnh để hỗ trợ họ ổn định cuộc sống. Và với tính đại diện về kinh tế – xã hội, TP.HCM có thể xem là một mô hình thu nhỏ của cả nước. Do đó Việc tập trung nghiên cứu giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong tính thuế TNCN tại TP.HCM có thể thấy được cái nhìn bao quát nên có thể dùng để tham khảo, điều chỉnh và áp dụng cho các địa phương khác.

Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi xác định thu nhập chịu thuế theo luật thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu Đề án thạc sĩ Luật kinh tế theo định hướng ứng dụng của mình nhằm nghiên cứu kĩ hơn các quy định pháp luật liên quan về vấn đề giảm trừ gia cảnh, từ đó nêu lên những thuận lợi và khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật về giảm trừ gia cảnh trong thực tiễn.

2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung phân tích các bất cập trong quy định pháp luật khi áp dụng để xác định đối tượng người phụ thuộc tính giảm trừ gia cảnh. Ngoài ra còn đánh giá những khó khăn của cán bộ thuế và người nộp thuế trong thực tiễn khi thi hành pháp luật giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi xác định thu nhập chịu thuế theo luật thuế thu nhập cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh.

2.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Về phạm vi không gian:

Đề án tập trung phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc áp dụng giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi tính thuế Thu nhập cá nhân trong Luật Thuế Thu nhập cá nhân 2007 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đề án tập trung nghiên cứu những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn khi thi hành chính sách giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc tại Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Về phạm vi thời gian:

Đề án phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng chính sách giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi tính thuế Thu nhập cá nhân được ban hành kể từ khi Luật Thuế Thu nhập cá nhân năm 2007, qua các lần điều chỉnh về mức giảm trừ năm 2020 và đến nay.

3. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu đề án làm rõ những bất cập trong quy định pháp luật và khó khăn trong thực tiễn khi thi hành giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi xác định thu nhập chịu thuế theo luật thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh,. Từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm triển khai thực hiện hiệu quả quy định về giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

  • Các phương pháp nghiên cứu được dùng trong Đề án:

Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tác giả dùng phương pháp phân tích tổng hợp để đánh giá và làm rõ các vấn đề lý luận trong quy định pháp luật khi thi hành giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi xác định thu nhập chịu thuế theo luật thuế thu nhập cá nhân, từ đó liên hệ để phân tích thực tiễn những bất cập trong thi hành chính sách tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tác giả dùng phương pháp so sánh, đối chiếu kết hợp phương pháp phân tích và tổng hợp nhằm nêu lên thực trạng, hạn chế của việc áp dụng pháp luật về GTGC trong thuế TNCN, đồng thời qua đó nêu lên những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quy định GTGC.

5. Bố cục của Đề án tốt nghiệp

Đề án tốt nghiệp ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì Đề án có kết cấu 2 chương, bao gồm:

  • Chương 1. Một số vấn đề lý luận và quy định pháp luật về giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi xác định thu nhập chịu thuế
  • Chương 2. Thực tiễn thi hành pháp luật về giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi xác định thu nhập chịu thuế tại thành phố Hồ Chí Minh

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢM TRỪ GIA CẢNH CHO NGƯỜI PHỤ THUỘC KHI XÁC ĐỊNH THU NHẬP CHỊU THUẾ

1.1. Tổng quan về giảm trừ gia cảnh và giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc

1.1.1. Khái quát về giảm trừ gia cảnh và giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc

Chủ đề giảm trừ gia cảnh đã được cộng đồng nghiên cứu quan tâm trong một thời gian dài. Các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề này, từ tác động của GTGC đến hành vi tiêu dùng, đến mối quan hệ giữa GTGC và phân phối thu nhập, và cả những gợi ý về việc cải thiện chính sách GTGC.

Tác giả Đặng Thị Phụng cho rằng: GTGC là việc loại trừ thu nhập chịu thuế những chi phí sức lao động, tái tạo sức lao động và chi phí cho nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của cá nhân nộp thuế và gia đình của NNT.

Tác giả Lê Thị Kiều Diễm cũng nêu lên GTGC là “việc Nhà nước xem xét hoàn cảnh gia đình NNT để làm căn cứ giảm trừ trước khi tính thuế theo mức quy định của pháp luật đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương tiền công.

Đối với tác giả Phan Thị Tố Như cho rằng các khoản khấu trừ cá nhân là các khoản chi phí cá nhân mà Nhà Nước hỗ trợ nhằm phục hồi sức lao động cho cá nhân và chi phí nuôi dưỡng gia đình. Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

Qua tham luận các đề tài nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng thuật ngữ “giảm trừ gia cảnh” không được đề cập phổ biến trên toàn cầu nhưng vẫn được nhiều quốc gia áp dụng theo các hình thức tương tự để giảm bớt gánh nặng thuế cho người dân, dựa trên hoàn cảnh và mức chi tiêu của họ. Dẫn chứng đến Đạo luật về thuế thu nhập 1947 của Singapore thì thu nhập tính thuế của một người trong năm đánh giá thuế là phần còn lại của TNCT trong năm đó sau khi đã được giảm trừ và khấu trừ. Trong Đạo luật còn đề cập khấu trừ 1.000 đô la cho mỗi cá nhân nộp thuế. Bên cạnh đó người dân còn được khấu trừ các khoản tiền khác như vợ hoặc chồng bị tàn tật, khấu trừ cho việc nuôi con,… Hoặc đối với các quốc gia như Hoa Kỳ hay Nhật Bản. Hai quốc gia này không sử dụng khái niệm giảm trừ gia cảnh nhưng lại sử dụng thuật ngữ “Standard deduction” được hiểu là một mức giảm trừ tiêu chuẩn bao gồm số tiền khấu trừ cơ bản và khoản khấu trừ tiêu chuẩn bổ sung theo độ tuổi, khuyết tật. Theo quy định của Đạo luật thuế thu nhập 1965 của Nhật Bản, người dân có thể được áp dụng giảm trừ 380.000 JPY như một khoản khấu trừ tiêu chuẩn cho cá nhân từ thu nhập của mình. Điều này cho thấy, mặc dù không sử dụng định nghĩa thống nhất về “giảm trừ gia cảnh” trên thế giới, nhưng nguyên tắc xem xét đến hoàn cảnh của người nộp thuế khi tính thuế đã được áp dụng rộng rãi. Tại Việt Nam, khái niệm “giảm trừ gia cảnh” chính thức xuất hiện tại Khoản 1 Điều 19 Luật Thuế Thu nhập Cá nhân năm 2007: “Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú.

Dựa trên các bài nghiên cứu khoa học được tham luận, bản chất và cách ứng dụng về GTGC của các quốc gia trên thế giới, có thể hiểu được khái niệm của việc GTGC là sự hỗ trợ từ Nhà nước một phần chi phí cho người nộp thuế cân nhắc trên hoàn cảnh của họ khi tính thuế.

Giảm trừ gia cảnh tại Việt Nam có những đặc điểm rõ ràng, được thiết kế nhằm đảm bảo tính công bằng, hiệu quả trong chính sách thuế và phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội. Trước hết, GTGC chỉ áp dụng cho cá nhân cư trú tại Việt Nam. Việc xác định tình trạng cư trú không phụ thuộc vào quốc tịch hay tính hợp pháp của cư trú mà dựa trên sự hiện diện dài hạn và đóng góp của cá nhân đó vào nền kinh tế – xã hội Việt Nam. Cá nhân cư trú có kỳ tính thuế theo năm và áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần, trong khi cá nhân không cư trú có kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh thu nhập với thuế suất cố định. Điều này khiến cá nhân cư trú có lợi hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Hơn nữa, cá nhân cư trú là những người sinh sống, làm việc lâu dài tại Việt Nam, có đóng góp trực tiếp vào sự phát triển của quốc gia, nên việc áp dụng GTGC cho họ vừa đảm bảo công bằng, vừa dung hòa lợi ích giữa người nộp thuế và Nhà nước. Ngược lại, cá nhân không cư trú không có mặt thường xuyên tại Việt Nam, khó kiểm soát nguồn thu nhập cũng như xác minh hoàn cảnh cụ thể, do đó không được hưởng GTGC.

GTGC tại Việt Nam cũng chỉ áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công, điều này xuất phát từ bản chất và tính chất nguồn thu nhập. Tiền lương, tiền công là nguồn thu nhập phổ biến, ổn định, thường xuyên và đóng vai trò chính yếu trong việc duy trì cuộc sống, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cá nhân và gia đình. Đây cũng là nguồn thu nhập có thể tạo ra sự bất bình đẳng xã hội nếu không được điều tiết hợp lý. Trước đây, GTGC từng áp dụng cho thu nhập từ kinh doanh, nhưng quy định này đã bị bãi bỏ do các cá nhân kinh doanh thường không tuân thủ chế độ kế toán, hóa đơn, dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý thuế. Ngoài ra, các khoản thu nhập không thường xuyên như đầu tư vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, bản quyền, thừa kế, quà tặng cũng không được áp dụng GTGC. Những khoản thu nhập này mang tính chất ngẫu nhiên, không ổn định và không phải nguồn thu nhập chính để duy trì cuộc sống, đồng thời cách tính thuế với các khoản thu nhập này khác biệt so với thu nhập từ tiền lương, tiền công, nên nếu áp dụng GTGC sẽ gây phức tạp trong quá trình tính thuế.

Trong khi một số quốc gia như Hoa Kỳ hay Bồ Đào Nha áp dụng GTGC cho nhiều loại thu nhập khác nhau, Việt Nam chỉ giới hạn GTGC cho tiền lương, tiền công để đảm bảo sự đơn giản, minh bạch và phù hợp với điều kiện thực tế. Quy định này phản ánh sự ưu tiên của chính sách thuế trong việc hỗ trợ các cá nhân lao động ổn định, đóng góp lâu dài vào nền kinh tế quốc gia, đồng thời đơn giản hóa công tác quản lý thuế, tăng cường hiệu quả và tính tuân thủ.

GTGC được chia thành hai loại chính: thứ nhất là giảm trừ dành cho bản thân người nộp thuế, là một khoản tiền được trừ trực tiếp vào tổng thu nhập chịu thuế của bạn trước khi tính thuế thu nhập cá nhân. Nói cách khác, đây là số tiền mà Nhà nước cho phép bạn được miễn thuế. Thứ hai là giảm trừ dành cho người phụ thuộc, đúng theo định nghĩa về GTGC, thì GTGC đối với người phụ thuộc mang ý nghĩa giảm một phần gánh nặng thuế từ tiền công, tiền lương, từ thu nhập kinh doanh của người nộp thuế đang phải thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng bao gồm con, vợ, chồng, cha, mẹ hoặc người phụ thuộc khác được liệt kê trong thông tư hướng dẫn tính người phụ thuộc mà đáp ứng được các điều kiện mà luật định.

Xây dựng trên nền tảng của các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này giới hạn phạm vi nghiên cứu cụ thể hơn đối với trường hợp GTGC cho người phụ thuộc khi xác định thu nhập chịu thuế trong một đề án riêng biệt, tác giả cho rằng việc giới hạn phạm vi nghiên cứu sẽ phân tích được GTGC cho người phụ thuộc dưới góc độ chi tiết hơn.

1.1.2. Nguyên tắc để được giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi tính thuế thu nhập cá nhân Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

Việc xác định đối tượng giảm trừ gia cảnh (GTGC) là bước đầu tiên và đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình áp dụng quy định GTGC. Nếu đối tượng GTGC không được xác định đúng và đầy đủ, điều này không chỉ gây ra sai sót trong việc tính thuế mà còn dẫn đến những khó khăn trong quá trình thực thi pháp luật. Hơn nữa, việc xác định chính xác đối tượng GTGC là nền tảng để đảm bảo sự công bằng trong việc áp dụng Luật Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) vào thực tế đời sống.

Theo quy định hiện hành, đối tượng được hưởng GTGC bao gồm hai chủ thể chính: người nộp thuế (NNT) và người phụ thuộc (NPT). Trong đó, việc xác định người được giảm trừ là NNT khá đơn giản và rõ ràng, vì họ là người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Tuy nhiên, việc xác định NPT lại phức tạp hơn do liên quan đến nhiều tiêu chí như hôn nhân, huyết thống, và trách nhiệm nuôi dưỡng.

Khi xác định NPT theo mối quan hệ hôn nhân, NPT có thể là vợ hoặc chồng của NNT. Nếu dựa trên quan hệ huyết thống, NPT bao gồm ít nhất ba thế hệ: ông bà, cha mẹ, và con cái. Ngoài ra, thế hệ thứ hai có thể mở rộng ra các mối quan hệ như cô, dì, chú, bác, cậu… của NNT. Phạm vi rộng lớn này khiến việc xác định NPT trở nên khó khăn và phức tạp trong thực tiễn. Do vậy, để đảm bảo công bằng và hiệu quả trong quản lý thuế, mặt khác phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng nộp thuế thì việc áp dụng GTGC cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, mỗi người nộp thuế chỉ được tính GTGC cho người phụ thuộc nếu người nộp thuế đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế. Theo quy định tại Điều 19 Luật Thuế thu nhập cá nhân; khoản 4, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân; Điều 12 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, Khoản 1 Điều 9 thông tư 111/2013/NĐ-CP việc giảm trừ gia cảnh được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú. Do đó, về nguyên tắc, để được tính GTGC, NNT phải đã được cấp MST.

Thứ hai, nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính GTGC một lần với một NNT. Đối với một người phụ thuộc cụ thể (ví dụ: con cái, bố mẹ, ông bà), chỉ có một người nộp thuế được quyền sử dụng thông tin về người phụ thuộc đó để giảm trừ thu nhập khi tính thuế. Nếu có nhiều người (ví dụ: ông bà, bố mẹ, anh chị em) cùng nuôi dưỡng một người phụ thuộc, thì những người này phải tự thỏa thuận với nhau để quyết định ai sẽ được quyền đăng ký GTGC cho người phụ thuộc đó. Khi người nộp thuế đăng ký GTGC cho người phụ thuộc sẽ được cơ quan thuế cấp mã số thuế cho người phụ thuộc và được tạm GTGC trong năm kể từ khi đăng ký. Mã số thuế này được cấp để xác định rõ ràng người phụ thuộc của người nộp thuế, từ đó cơ quan thuế có cơ sở để tính toán và GTGC một cách chính xác. Trong trường hợp người phụ thuộc đã được đăng ký trước thời điểm thông tư số 111/2013/TT-BTC có hiệu lực, họ vẫn tiếp tục được giảm trừ cho đến khi được cấp mã số thuế mới.

Thứ ba, NPT phải đáp ứng đủ điều kiện quy định về người phụ thuộc thuộc trường hợp được áp dụng GTGC theo quy định tại Khoản 3 Điều 19 Luật Thuế TNCN 2007 và điểm d Khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC. NNT có trách nhiệm kê khai số người phụ thuộc được giảm trừ và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của kê khai.

1.2. Nội dung pháp luật về giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

1.2.1. Đối tượng giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc

Giảm trừ cho người phụ thuộc là một khoản ưu đãi thuế được thiết kế để hỗ trợ những người có trách nhiệm tài chính đối với người khác, chẳng hạn như con cái hoặc bố mẹ già. Điều này được coi là một chính sách hợp lý và công bằng, vì nó giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho những người đang hỗ trợ người khác. Tuy nhiên, để đảm bảo rằng lợi ích này được phân phối công bằng và tránh lạm dụng, mỗi người phụ thuộc chỉ có thể được tính vào khoản giảm trừ một lần và chỉ bởi một người nộp thuế duy nhất. Điều này có nghĩa là nếu một đứa trẻ được cả cha và mẹ hỗ trợ, chỉ một trong hai người có thể yêu cầu giảm trừ cho đứa trẻ đó. Để xác định đối tượng được áp dụng GTGC cho người phụ thuộc, cần tham khảo kỹ các quy định trong Thông tư 111/2013/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 15/8/2012. Thông tư này hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân, các sửa đổi, bổ sung của Luật, cùng với Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều liên quan. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 9 của Thông tư 111/2013/TT-BTC, người phụ thuộc bao gồm con cái, vợ hoặc chồng, bố mẹ, và các cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp chăm lo, nuôi dưỡng.

Nhưng trong quy định không chỉ đơn giản chỉ như vậy, mà đối với từng loại đối tượng đều có điều kiện áp dụng kèm theo. Đối với người phụ thuộc là con của người nộp thuế, bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú, con riêng của vợ hoặc chồng, thuộc một trong các trường hợp sau: Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

  • Con dưới 18 tuổi, tính theo tháng đủ.
  • Con từ 18 tuổi trở lên nhưng bị khuyết tật, mất khả năng lao động.
  • Con đã trưởng thành nhưng đang theo học tại các cấp học như đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề hoặc trung học phổ thông, dù trong nước hay nước ngoài, và không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng từ tất cả các nguồn không vượt quá 1.000.000 đồng.

Bên cạnh con cái, vợ hoặc chồng cũng được xem là đối tượng người phụ thuộc đủ điều kiện GTGC, tuy nhiên, điều này chỉ áp dụng khi họ đáp ứng những điều kiện đặc thù về sức khỏe và khả năng lao động.

Chính sách GTGC không chỉ giới hạn trong phạm vi vợ/chồng và con cái, mà còn mở rộng đến các bậc bố mẹ và những người có vai trò tương tự, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của pháp luật. Theo quy định, bố mẹ ruột; bố mẹ vợ (hoặc chồng); cha dượng, mẹ kế; bố mẹ nuôi hợp pháp của người nộp thuế đều có thể được công nhận là người phụ thuộc.

Phạm vi người phụ thuộc còn được mở rộng, không chỉ giới hạn trong các quan hệ gia đình trực hệ mà còn bao gồm những cá nhân không nơi nương tựa đang được người nộp thuế trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Quy định này phản ánh tinh thần nhân văn và trách nhiệm xã hội của pháp luật, nhằm đảm bảo sự hỗ trợ cần thiết cho những người có hoàn cảnh khó khăn trong cộng đồng. Các đối tượng cụ thể:

  • Anh chị em ruột: Mở rộng hỗ trợ cho các thành viên trong gia đình ruột thịt, không chỉ giới hạn ở bố mẹ và con cái.
  • Ông bà, cô dì chú bác: Đảm bảo sự chăm sóc cho những người lớn tuổi trong họ hàng, đặc biệt khi họ không có khả năng tự lo cho bản thân.
  • Cháu ruột: Hỗ trợ người nộp thuế khi họ phải gánh vác trách nhiệm chăm sóc con cái của anh chị em ruột.

Ngoại trừ đối tượng là con của NNT thì các đối tượng còn lại đã nêu trên đều phải đáp ứng điều kiện tại điểm đ, khoản 1, Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC, nghĩa là họ phải là người khuyết tật, không có khả năng lao động hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khiến họ không thể tự mình kiếm sống và thu nhập tối đa từ các nguồn thu nhập không quá 1 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, cần chú ý rằng việc xác định tình trạng khuyết tật hoặc bệnh hiểm nghèo phải tuân theo các tiêu chuẩn và quy định cụ thể được hướng dẫn trong Công văn số 6383/BTC-TCT ngày 18/5/2015 của Bộ Tài chính, liên quan đến việc xét giảm thuế thu nhập cá nhân cho cá nhân mắc bệnh hiểm nghèo. Bên cạnh đó, Công văn số 3471/TCT-TNCN ngày 4/8/2016 của Tổng cục Thuế cũng quy định hồ sơ xác định người phụ thuộc được GTGC, áp dụng đối với 42 loại bệnh kể từ ngày 18/5/2015.

1.2.2. Trình tự, thủ tục giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

GTGC là một chính sách quan trọng nhằm giảm bớt gánh nặng thuế cho người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng người khác. Để được hưởng quyền lợi này, người nộp thuế cần tuân thủ nghiêm ngặt trình tự và thủ tục đăng ký người phụ thuộc theo quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể là Luật Thuế Thu nhập Cá nhân, Nghị định 126/2020/NĐ-CP, Thông tư 111/2013/TT-BTC và Thông tư 80/2021/TT-BTC.

Đầu tiên, người nộp thuế cần xác định rõ các đối tượng mình đang nuôi dưỡng có đáp ứng các tiêu chí của “người phụ thuộc” hay không. Theo quy định, người phụ thuộc có thể là vợ/chồng, con cái, bố mẹ, anh chị em ruột, ông bà, cô dì chú bác, cháu ruột, và cả những cá nhân không nơi nương tựa khác. Tuy nhiên, không phải ai thuộc các đối tượng này cũng tự động được công nhận là người phụ thuộc. Họ cần đáp ứng các điều kiện cụ thể về độ tuổi, tình trạng sức khỏe, khả năng lao động và thu nhập (nếu có). Việc xác định đúng đối tượng phụ thuộc là bước quan trọng đầu tiên để đảm bảo quyền lợi của người nộp thuế. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 9 của Thông tư 111/2013/TT-BTC, để được công nhận là người phụ thuộc theo các tiết d.2, d.3, d.4 cùng điều khoản này, cá nhân cần đáp ứng những điều kiện sau:

  • Đối với người trong độ tuổi lao động: Phải đồng thời thỏa mãn hai điều kiện: (1) Bị khuyết tật, mất khả năng lao động; và (2) Không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ mọi nguồn không vượt quá 1.000.000 đồng.
  • Đối với người ngoài độ tuổi lao động: Chỉ cần không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ mọi nguồn không vượt quá 1.000.000 đồng. Sau khi xác định đúng đối tượng phụ thuộc, người nộp thuế cần chuẩn bị hồ sơ đăng ký theo Mẫu số 07/ĐK-NPT-TNCN ban hành kèm Thông tư 80/2021/TT- BTC. Hồ sơ này phải bao gồm các giấy tờ chứng minh mối quan hệ phụ thuộc (chẳng hạn giấy khai sinh, giấy kết hôn,…) và tài liệu xác nhận tình trạng khuyết tật hoặc bệnh hiểm nghèo (nếu có). Nếu người phụ thuộc không có quan hệ gia đình với người nộp thuế, cần bổ sung xác nhận từ UBND xã/phường nơi người phụ thuộc cư trú. Việc hoàn thiện đầy đủ và chính xác hồ sơ là yếu tố quan trọng để quá trình đăng ký được thực hiện suôn sẻ. Trong hành trình hoàn thiện hồ sơ GTGC, giấy tờ chứng minh quan hệ phụ thuộc đóng vai trò như một chiếc chìa khóa quan trọng, mở ra cánh cửa để người nộp thuế tiếp cận quyền lợi chính đáng của mình. Đây không chỉ là những tờ giấy thông thường, mà còn là bằng chứng pháp lý xác thực mối liên kết giữa người nộp thuế và người phụ thuộc, tạo cơ sở vững chắc cho CQT xem xét và phê duyệt việc giảm trừ.

Tùy vào từng mối quan hệ cụ thể, người nộp thuế cần chuẩn bị những loại giấy tờ khác nhau.

Đối với con: Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

  • Con chưa thành niên dưới 18 tuổi:

Hồ sơ chứng minh là bản chụp Giấy khai sinh và bản chụp Chứng minh nhân dân (nếu có).

  • Con từ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật, không có khả năng lao động Hồ sơ chứng minh bao gồm:
  • Bản sao GKS và bản sao chứng minh nhân dân (nếu có).
  • Bản sao Giấy xác nhận khuyết tật theo quy định của pháp luật dành cho người khuyết tật.

Đối với con đang theo học các cấp học được hướng dẫn tại điểm d.1.3 khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC, hồ sơ chứng minh cần:

  • Bản sao GKS.
  • Bản sao thẻ sinh viên, giấy xác nhận của nhà trường, hoặc các giấy tờ khác chứng minh đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trung học phổ thông hoặc các cơ sở dạy nghề.

Trường hợp là con nuôi, con ngoài giá thú hoặc con riêng, ngoài các giấy tờ theo từng trường hợp nêu trên, cần bổ sung thêm tài liệu chứng minh mối quan hệ như: bản sao quyết định công nhận việc nuôi con nuôi hoặc quyết định công nhận cha, mẹ, con của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Đối với vợ hoặc chồng

Hồ sơ chứng minh gồm:

  • Bản chụp Chứng minh nhân dân.
  • Bản chụp sổ hộ khẩu (chứng minh được mối quan hệ vợ chồng) hoặc Bản chụp Giấy chứng nhận kết hôn.

Nếu vợ hoặc chồng trong độ tuổi lao động, ngoài các giấy tờ trên, cần bổ sung thêm tài liệu chứng minh người phụ thuộc không có khả năng lao động. Các giấy tờ bổ sung có thể là: bản sao Giấy xác nhận khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật đối với trường hợp người bị khuyết tật không lao động được, hoặc bản sao hồ sơ bệnh án cho các bệnh như AIDS, ung thư, suy thận mãn,… đối với người mắc bệnh không có khả năng lao động.

Đối với cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng), cha dượng, mẹ kế, cha nuôi hợp pháp, mẹ nuôi hợp pháp. Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

Hồ sơ xác minh bao gồm:

  • Bản sao Chứng minh nhân dân.
  • Các giấy tờ hợp pháp để chứng minh mối quan hệ giữa người phụ thuộc và người nộp thuế, như giấy xác nhận thông tin cư trú, phiếu cung cấp thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu căn cước, giấy khai sinh, hoặc quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con từ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Nếu người phụ thuộc trong độ tuổi lao động, hồ sơ cần bổ sung giấy tờ chứng minh tình trạng không có khả năng lao động, ví dụ:

  • Bản sao Giấy xác nhận khuyết tật theo quy định pháp luật đối với người khuyết tật.
  • Bản sao hồ sơ bệnh án đối với người mắc bệnh không thể lao động (như AIDS, ung thư, suy thận mãn,…).

Đối với các cá nhân không nơi nương tựa được người nộp thuế trực tiếp nuôi dưỡng, hồ sơ cần:

  • Bản sao Chứng minh nhân dân hoặc GKS.
  • Giấy tờ hợp pháp xác định trách nhiệm nuôi dưỡng theo quy định pháp luật. Nếu người phụ thuộc thuộc độ tuổi lao động, hồ sơ cũng cần giấy tờ chứng minh tình trạng không thể lao động, tương tự như nêu trên.

Các giấy tờ hợp pháp theo quy định tại điểm g.4.2, khoản 1, Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC có thể bao gồm:

  • Bản sao giấy tờ xác định nghĩa vụ nuôi dưỡng (nếu có).
  • Bản sao sổ hộ khẩu (nếu chung hộ khẩu).
  • Bản sao đăng ký tạm trú của người phụ thuộc (nếu không chung hộ khẩu).
  • Bản tự khai của người nộp thuế theo mẫu hướng dẫn quản lý thuế, có xác nhận của UBND xã nơi người nộp thuế cư trú, về việc người phụ thuộc đang sống cùng.
  • Bản tự khai có xác nhận của UBND xã nơi người phụ thuộc cư trú, xác nhận rằng người phụ thuộc đang sống tại địa phương và không có người chăm sóc (nếu không sống cùng người nộp thuế).

Tuy nhiên, việc chuẩn bị giấy tờ không chỉ dừng lại ở việc có đầy đủ, mà các tài liệu này cần đảm bảo hợp lệ, còn hiệu lực, và thông tin rõ ràng. Trong trường hợp giấy tờ bị mất hoặc hư hỏng, người nộp thuế cần nhanh chóng xin cấp lại hoặc chuẩn bị giấy tờ thay thế kèm xác nhận từ cơ quan có thẩm quyền.. Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

Việc chuẩn bị đầy đủ và chính xác giấy tờ chứng minh quan hệ phụ thuộc không chỉ giúp đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong việc kê khai thuế, mà còn giúp người nộp thuế tránh được các rủi ro không đáng có như bị từ chối giảm trừ hoặc bị xử phạt do khai báo sai thông tin. Hơn thế nữa, nó còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế và đảm bảo rằng mỗi người nộp thuế đều được hưởng đúng và đủ những quyền lợi mà pháp luật đã quy định.

Hồ sơ đăng ký có thể được nộp trực tiếp tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan thuế nơi người nộp thuế cư trú, hoặc qua dịch vụ thuế điện tử. Đối với người nộp thuế có thu nhập từ tiền lương, tiền công, họ cũng có thể nộp hồ sơ qua tổ chức trả thu nhập. Thời điểm nộp hồ sơ chậm nhất là trước thời hạn khai thuế thu nhập cá nhân năm đầu tiên tính giảm trừ hoặc trước khi nộp hồ sơ quyết toán thuế của tổ chức trả thu nhập. Việc nộp hồ sơ đúng thời hạn là điều kiện bắt buộc để được hưởng quyền lợi giảm trừ.

Sau khi nhận được hồ sơ, CQT sẽ tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ. Nếu hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, CQT sẽ cấp mã số thuế cho người phụ thuộc (nếu chưa có) và thông báo kết quả đăng ký cho người nộp thuế bằng văn bản hoặc qua dịch vụ thuế điện tử. Người nộp thuế cần lưu ý cập nhật thông tin về người phụ thuộc kịp thời khi có thay đổi, bởi việc khai báo sai thông tin có thể bị xử phạt hành chính. Tóm lại, việc thực hiện đúng trình tự, thủ tục GTGC cho người phụ thuộc không chỉ đảm bảo quyền lợi chính đáng của người nộp thuế mà còn góp phần vào việc quản lý thuế hiệu quả, minh bạch và công bằng. Qua đó, chính sách này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến đời sống của người dân, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn, góp phần xây dựng một xã hội công bằng và nhân ái hơn.

1.2.3. Bất cập trong áp dụng quy định pháp luật và định hướng hoàn thiện Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

Mặc dù đã có những quy định cụ thể về đối tượng người phụ thuộc và trình tự, thủ tục GTGC, song trên thực tế, việc áp dụng các quy định này vẫn còn gặp phải không ít khó khăn, trở ngại.

Trong hệ thống các điều kiện để xác định người phụ thuộc, tiêu chí về thu nhập đóng vai trò then chốt, quyết định liệu một cá nhân có đủ điều kiện nhận được sự hỗ trợ từ chính sách GTGC hay không. Tuy nhiên, quy định hiện hành về mức thu nhập tối đa 1 triệu đồng/tháng đang bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay.

Trong việc xác định nhóm NPT khác là “người ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động theo quy định pháp luật nhưng bị khuyết tật, không có khả năng lao động mà không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng/tháng là không phù hợp với quy chuẩn phát triển chung hiện nay.

Đọc hiểu quy định có thể hiểu được rằng nếu một cá nhân muốn được công nhận là một người phụ thuộc được xét GTGC thì phải đáp ứng toàn bộ các quy định rằng người này là người khuyết tật, không có khả năng lao động và vừa không có thu nhập hoặc mức thu nhập bình quân một tháng phải dưới 1.000.000 đồng một tháng.

Xét đến thực tiễn, đem so sánh nhóm đối tượng “con từ 18 tuổi trở lên, bị khuyết tật, không có khả năng lao động” mà không kèm theo điều kiện về thu nhập như nhóm đối tượng NPT khác thì điều này không thể hiện được sự đồng bộ trong quy định. Bởi, nếu xét theo nhiều khía cạnh thì cả hai nhóm đối tượng bản chất của quy định là nhắm đến người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và bị khuyết tật. Điều luật đang thể hiện kẽ hở khi không nhất quán quy định với nhau.

Ngoài ra, việc áp dụng mức thu nhập là điều kiện để trở thành người phụ thuộc, không vượt quá 1 triệu đồng/tháng là không còn phù hợp với kinh tế xã hội hiện nay. Nguyên nhân xuất phát từ định nghĩa người phụ thuộc là người mà đối tượng nộp thuế có trách nhiệm chăm sóc cho họ vì họ không có khả năng tự chăm lo đời sống cho bản thân, là nhóm đối tượng không thể thực hiện các nhu cầu sống cơ bản nếu không có sự chăm lo của NNT. Không chỉ riêng khu vực thành phố Hồ Chí Minh, xét chung tình hình cả nước, thì với mức thu nhập 1.000.000 đồng/tháng không thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt phí hằng ngày, chưa kể đến chi phí giáo dục, y tế, dịch vụ,… Lấy ví dụ từ thực tiễn để minh chứng để có thể hình dung được sự tác động trên:

Anh N.H.Đ đang nuôi con mình là M.T đang sinh viên năm nhất ngành quản trị kinh doanh của Trường Đại học Gia Định (Quận Gò Vấp) chưa có thu nhập, nên M.T được tính là NPT và anh Đ được GTGC 4,4 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, nếu M.T muốn đi làm thêm để phụ giúp cha mình và có mức thu nhập 02 triệu đồng/tháng thì anh Đ sẽ không được tính phần GTGC đối với M.T nữa. Đối với 02 triệu đồng/tháng mà M.T có được thì khoản thu nhập này cũng khó có thể đảm bảo được cuộc sống cơ bản hằng ngày đối với sinh viên trong điều kiện kinh tế, giá cả hàng hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh, chưa kể đến học phí và những chi phí phát sinh khi theo học tại trường (được biết học phí Trường đại học Gia Định hiện nay đối với ngành quản trị kinh doanh là 25 triệu đồng cho 1 học kỳ) Mặc dù là có thu nhập nhưng với mức 02 triệu đồng, nhưng đối với những chi phí phát sinh thì 02 triệu này thuộc mức thấp, không thể duy trì cuộc sống ở TP.HCM. Do đó, việc vẫn áp dụng mức thu nhập dưới 1.000.000 đồng/tháng làm điều kiện để xác định NPT là quy định khá lỗi thời và không đi kịp với xu hướng phát triển hiện tại.

Thứ hai, về việc quy định con dưới 18 tuổi không yêu cầu điều kiện đính kèm như các nhóm người phụ thuộc khác

Theo quy định tại Thông tư 111/2013/TT-BTC, đối tượng người phụ thuộc là con chưa thành niên dưới 18 tuổi được mặc nhiên coi là người phụ thuộc mà không cần đáp ứng thêm bất kỳ điều kiện nào khác. Điều này khác biệt so với các nhóm NPT khác, khi phải đáp ứng một loạt tiêu chí như tình trạng sức khỏe hay thu nhập để được công nhận. Tuy nhiên, quy định này lại không đồng nhất với định nghĩa về đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân được quy định tại Khoản 1, Điều 2, Luật Thuế TNCN năm 2007. Theo định nghĩa, mọi cá nhân có thu nhập, không phân biệt độ tuổi, đều có thể trở thành đối tượng nộp thuế. Điều này dẫn đến một mâu thuẫn rõ ràng: một cá nhân dưới 18 tuổi có thu nhập cao vẫn có thể vừa là đối tượng nộp thuế vừa được coi là người phụ thuộc. Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

Từ khi Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực, quy định độ tuổi lao động đã được mở rộng, bao gồm cả những cá nhân dưới 18 tuổi. Cụ thể, các nhóm tuổi lao động được chia thành: dưới 13 tuổi, từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi, và từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi, với danh mục công việc phù hợp cho từng nhóm tuổi. Sự thay đổi này càng làm nổi bật mâu thuẫn trong việc xác định một cá nhân vừa là người lao động có thu nhập vừa có thể là người phụ thuộc. Đặc biệt, điều này trở nên bất hợp lý trong các trường hợp cá nhân dưới 18 tuổi tham gia các ngành nghề có thu nhập cao như nghệ thuật biểu diễn, thể thao, tin học, và các lĩnh vực tương tự, khi họ có khả năng tài chính để tự nuôi sống bản thân.

Vấn đề này cho thấy sự bất cập trong việc xây dựng quy định về GTGC cho người phụ thuộc. Mặc dù các quy định này đã thể hiện tính nhân văn, hỗ trợ một phần chi phí cho các đối tượng như trẻ em, người khuyết tật, hay người cao tuổi – những nhóm người thường không có khả năng tự trang trải cuộc sống, nhưng vẫn còn những thiếu sót trong việc bao quát và dự đoán các trường hợp thực tế. Chẳng hạn, một cá nhân dưới 18 tuổi nhưng có khả năng tài chính vững chắc nhờ thu nhập cao lại vẫn được xếp vào nhóm người phụ thuộc, điều này đi ngược lại bản chất của NPT là những người không đủ năng lực tài chính để tự nuôi sống bản thân. Việc xác định người phụ thuộc dựa trên độ tuổi và không xét đến yếu tố tài chính trong một số trường hợp đặc thù đã tạo ra sự không thống nhất giữa các văn bản pháp luật liên quan. Sự thiếu đồng nhất này không chỉ gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật mà còn có thể tạo ra sự bất bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế. Đặc biệt, khi thực tiễn ngày càng phát sinh nhiều trường hợp phức tạp liên quan đến nhóm đối tượng NPT, các quy định hiện hành dường như chưa đủ linh hoạt để đáp ứng.

  • Từ đó, tác giả có những đề xuất để góp phần giải quyết các vấn đề:

Cần bổ sung điều kiện cho NPT là con, theo quy định hiện hành, nhóm NPT là con đang theo học tại các cấp bậc học theo quy định mới có áp dụng điều kiện về thu nhập, và đối tượng con dưới 18 tuổi đương nhiên là NPT mà không cần xét đến điều kiện về thu nhập hoặc về sức khỏe, hay trường hợp con đủ 18 tuổi bị khuyết tật không có khả năng lao động cũng không cần xét đến điều kiện về thu nhập. Điều này cho thấy quy định chưa theo sát với thực tiễn và chưa thể hiện được sự đồng bộ các quy định về điều kiện đối với NPT là con. Vì thế, tác giả đề xuất cần xác định đối tượng là con trên 18 tuổi cũng là đối tượng yêu cầu điều kiện xét đến điều kiện thu nhập, để thể hiện sự đồng nhất trong quy định pháp luật đối với người phụ thuộc thuộc nhóm người phụ thuộc khác. Để tạo quy chế đánh giá chung, dễ dàng áp dụng chính sách hiệu quả, không gây nên sự bất cập khi đối với những người con bị khuyết tật nhưng có khả năng lao động và kiếm thu nhập như người bình thương. Đối với điều kiện về thu nhập có thể áp dụng bảng xác định thu nhập như được đề xuất đối với mức thu nhập tối đa đối với NPT khác.

Đối với nhóm người dưới 18 tuổi tham gia thị trường lao động, đặc biệt là những cá nhân có năng khiếu trong các lĩnh vực như nghệ thuật, thể thao và có thu nhập cao, cần có quy định cụ thể về việc khai báo thu nhập. Việc này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ với cán bộ quản lý thuế để xác định rõ tiêu chuẩn và tiêu chí áp dụng cho từng trường hợp, đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Các tiêu chuẩn đánh giá này cần được thiết lập dựa trên tình hình thực tế và đặc điểm riêng của từng ngành nghề, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi chính sách thuế. Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

Quy định mức thu nhập tối đa 1.000.000 đồng trên một tháng đối với người phụ thuộc là căn cứ để được áp dụng chính sách GTGC trong thuế thu nhập cá nhân đã được ban hành từ một thời điểm trong quá khứ. Tuy nhiên, với sự phát triển của kinh tế – xã hội, đặc biệt là tốc độ lạm phát tăng cao và mức sống chung của người dân được nâng lên đáng kể, quy định này hiện đã không còn phù hợp. Mức thu nhập 1.000.000 đồng trên một tháng không còn phản ánh đúng nhu cầu sinh hoạt thực tế, khiến nhiều trường hợp đáng lẽ được xem là người phụ thuộc lại không đáp ứng được tiêu chí này, từ đó gây thiệt thòi trong việc áp dụng chính sách GTGC.

Để khắc phục bất cập trên, cần xem xét điều chỉnh mức thu nhập tối đa để xác định người phụ thuộc sao cho linh hoạt hơn. Một giải pháp khả thi là gắn mức thu nhập này với tỷ lệ tăng của mức lương tối thiểu vùng. Chính phủ thường xuyên điều chỉnh MLTTV dựa trên điều kiện kinh tế – xã hội và tỷ lệ lạm phát. Do đó, việc quy định mức thu nhập tối đa của người phụ thuộc tương ứng với MLTTV sẽ giúp chính sách này phản ánh sát thực hơn thực trạng kinh tế và mức sống của người dân tại từng thời điểm, thay vì áp dụng một con số cố định là 1.000.000 đồng trên một tháng như hiện nay.

Bên cạnh đó, cần xây dựng một bộ quy chuẩn đánh giá mới để xác định mức thu nhập tối đa cho người phụ thuộc. Quy chuẩn này nên bao gồm các tiêu chí rõ ràng hơn, gắn với điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể, đồng thời cân nhắc mức sống tối thiểu phù hợp với từng vùng miền. Một đề xuất khả thi là mức thu nhập tối đa của người phụ thuộc nên được thiết lập tối thiểu ngang bằng hoặc cao hơn mức tính GTGC đang áp dụng, tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế – xã hội tại thời điểm đó.

Việc áp dụng phương án này không chỉ giúp chính sách GTGC trở nên linh hoạt, mà còn đảm bảo tính công bằng, minh bạch và phù hợp hơn với diễn biến của nền kinh tế, từ đó góp phần bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế và người phụ thuộc một cách hiệu quả hơn.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

Trong Chương 1, tác giả đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về khái niệm GTGC và GTGC cho người phụ thuộc, đồng thời tiến hành phân tích chi tiết những bất cập hiện tại trong hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề này. Những bất cập này không chỉ gây khó khăn trong việc áp dụng chính sách mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của người nộp thuế và người phụ thuộc, từ đó làm giảm tính công bằng và hiệu quả của hệ thống thuế.

Một trong những bất cập lớn được chỉ ra là mức thu nhập tối đa 1.000.000 đồng một người trên một tháng, hiện đang được sử dụng làm căn cứ xác định người phụ thuộc. Con số này không còn phản ánh đúng thực tế nhu cầu sinh hoạt của người dân trong bối cảnh kinh tế – xã hội ngày càng phát triển và chi phí sinh hoạt ngày một tăng cao. Với mức sống hiện tại, ngưỡng thu nhập này không đủ để xác định chính xác ai là người cần được hỗ trợ, từ đó làm mất đi ý nghĩa và tính công bằng của chính sách GTGC.

Bên cạnh đó, các quy định về điều kiện trở thành người phụ thuộc cũng tồn tại sự thiếu đồng nhất, đặc biệt là đối với nhóm đối tượng người phụ thuộc là con. Mặc dù con cái dưới 18 tuổi được xem là người phụ thuộc, nhưng đối với những trường hợp đủ 15 tuổi tham gia quan hệ lao động, cá nhân đó lại vừa là người nộp thuế vừa có thể được xem là người phụ thuộc. Sự thiếu thống nhất này gây ra những bất cập trong việc xác định đối tượng được GTGC, làm giảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.

Để giải quyết các vấn đề nêu trên, tác giả đã đề xuất một số định hướng hoàn thiện. Đầu tiên, mức thu nhập tối đa để xác định người phụ thuộc cần được điều chỉnh tăng lên, thay vì giữ cố định ở ngưỡng 1 triệu đồng/người/tháng. Con số này nên được điều chỉnh linh hoạt theo tỷ lệ mức lương tối thiểu vùng hoặc các chỉ số kinh tế quan trọng như CPI, nhằm phản ánh đúng hơn sự biến động của chi phí sinh hoạt và đảm bảo tính thực tiễn. Điều này không chỉ giúp xác định chính xác hơn những đối tượng cần được hỗ trợ mà còn góp phần nâng cao đời sống của người dân, đặc biệt là những gia đình có thu nhập thấp.

Ngoài ra, cần thiết lập các tiêu chí nhất quán và minh bạch hơn trong việc xác định điều kiện trở thành người phụ thuộc. Đối với nhóm đối tượng là con cái, các quy định cần được xem xét và điều chỉnh để đảm bảo tính đồng nhất giữa các đối tượng phụ thuộc, tránh tình trạng mâu thuẫn trong thực tiễn áp dụng.

Những đề xuất này không chỉ giúp hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến GTGC mà còn đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người nộp thuế và người phụ thuộc. Đồng thời, việc cải thiện các chính sách này cũng sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống thuế, đảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập và tăng cường niềm tin của người dân vào chính sách tài chính quốc gia.. Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Thực tiễn giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc chịu thuế

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chịu thuế […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993